intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

BÀI TẬP LỚN MÔN: HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÀ MÁY ĐIỆN

Chia sẻ: Nguyễn Mạnh Tuấn | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:15

0
274
lượt xem
117
download

BÀI TẬP LỚN MÔN: HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÀ MÁY ĐIỆN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Câu 1: Công nghệ sản xuất điện năng trong nhà máy thủy điện. Nhà máy thủy điện dùng năng lượng dòng chảy của sông, suối để sản xuất điện năng. Công suất của thủy điện phụ thuộc vào lưu lượng nước Q(m3/s) và chiều cao hiệu dụng cột nước H(m) của dòng nước nơi đặt tại nhà máy. Trong đó η-hiệu suất, Nhà máy thủy điện được chia làm hai phần, lấy cao trình sàn máy phát làm ranh giới phân chia: phần dưới nước và phần trên khô. Phần trên là kết cấu nhà công nghiệp thông thường chứa hệ thống cầu trục, các phần trên...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÀI TẬP LỚN MÔN: HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÀ MÁY ĐIỆN

  1. BÀI TẬP LỚN MÔN: HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÀ MÁY ĐIỆN Câu 1: Công nghệ sản xuất điện năng trong nhà máy thủy điện. Nhà máy thủy điện dùng năng lượng dòng chảy của sông, suối để sản xuất điện năng. Công suất của thủy điện phụ thuộc vào lưu lượng nước Q(m 3/s) và chiều cao hiệu dụng cột nước H(m) của dòng nước nơi đặt tại nhà máy. Trong đó η-hiệu suất, Nhà máy thủy điện được chia làm hai phần, lấy cao trình sàn máy phát làm ranh giới phân chia: phần dưới nước và phần trên khô. Phần trên là kết cấu nhà công nghiệp thông thường chứa hệ thống cầu trục, các phần trên của máy phát điện, t ủ điều khiển tổ máy và thiết bị điều tốc... Phần dưới nước chủ yếu chứa các bộ phận dưới của máy phát, ống áp lực, buồng turbine, BXCT, ống xả và bố trí hệ thống thiết bị thiết bị phụ cơ điện. Hình bên là mặt cắt ngang nhà máy thủy điện ngang đập, mô tả các bộ phận chính và vị trí đặt các thiết bị của một nhà máy thuỷ điện Hình 1.1 Mặt cắt ngang nhà máy thủy điện kiểu đập ngang Trong nhà máy, ngoài các tổ máy phát điện còn có cầu trục dùng đ ể l ắp ráp và vận chuyển các cụm lớn của turbine máy phát điện, máy biến áp động lực và các thiết bị phụ trong nhà máy, trong gian máy thường dùng cầu trục cầu. Ngoài gian máy chính SV: Vũ Thị Ngọc 1
  2. thường dùng cần trục chữ môn hoặc các loại máy trục khác như tời, máy nâng kích thủy lực... đặt tại chỗ. Cửa lấy nước và ống xả còn được trang bị lưới chắn rác, các cửa van và trang thiết bị cơ khí thuỷ công khác. Trạm Máy biến áp đặt song song ở thượng hoặc hạ lưu các tổ máy để rút ngắn chiều dài các thanh cái máy phát, trong điều kiện nhà máy ngang đập có ống xả dài đặt trạm biến áp phía hạ lưu nhà máy rất thuận tiện và kinh tế. Theo Biện pháp khai thác thủy năng thì nhà máy thủy điện có thể chia thành 3 loại: kiểu đập ngăn, kiểu ống dẫn và kiểu kết hợp. a. Dùng đập để tạo thành cột nước. Xây dựng đập tại một tuyến thích hợp nơi cân khai thác. Đập tạo ra cột nước do sự chênh lệch mực nước thượng hạ lưu đập. Đồng thời tạo nên hồ chứa có tác dụng tập trung và điều tiết lưu lượng làm tăng khả năng phát điện trong mùa kiệt, nâng cao hiệu quả lợi dụng tổng hợp nguồn nước như cắt lũ chống lụt, cung cấp nước, nuôi cá, vận tải thuỷ… Sơ đồ khai thác kiểu đập thường thích ứng với các vùng trung du của các sông nói có độ dốc lòng sông tương đối nhỏ, địa hình địa thế thuận lợi cho việc tạo nên hồ chứa có dung tích lớn là tổn thất ngập lụt tương đối nhỏ. Ngược lại ở vùng thượng l ưu, do lòng sông hẹp, độ dốc lòng sông lớn nên dù có làm đập cao cũng khó tạo thành hồ chứa có dung tích lớn. Ở hạ lưu, độ dốc lòng sông nhỏ, xây đập cao dẫn đến ngập lụt l ớn thiệt hại nhiều. Cho nên ở vùng này ít có điều kiện khai thác kiểu đập Ưu điểm: vừa tập trung được cột nước vừa tập trung và điều tiết lưu lượng phục vụ cho việc lợi dụng tổng hợp nguồn nước Nhược điểm: đập càng cao, khối lượng xây lắp càng nhiều, kinh phí lớn, ngập lụt và thiệt hại nhiều SV: Vũ Thị Ngọc 2
  3. Hình 1.2 Sơ đồ khai thác kiểu đập b. Dùng đường dẫn để tạo thành cột nước. Ở những đoạn sông thượng lưu, độ dốc lòng sông thường lớn, lòng sông hẹp, dùng đập để tạo nên cột nước thường không có lợi cả về tập trung cột nước, tập trung và điều tiết lưu lượng. Trong trường hợp này cách tốt nhất là dùng đ ường d ẫn để tạo thành cột nước. Đặc điểm của phương thức này là cột nước do đường dẫn tạo thành. Đường dẫn có thể là kênh máng, ống dẫn hay đường hầm có áp hoặc không áp. Đường dẫn có độ dốc nhỏ hơn sông suối, nên dẫn càng đi xa độ chênh lệch gi ữa đường dẫn và sông suối càng lớn, ta được cột nước càng lớn. Hay nói cách khác, đường dẫn dài chủ yếu để tăng thêm cột nước cho trạm thủy điện. Đập ở đây thấp và ch ỉ có tác dụng ngăn nước lại để lấy nước vào đường dẫn. Do đập thấp nên nói chung t ổn thất do ngập lụt nhỏ. Đối với sơ đồ khai thác này tuỳ tình hình và yêu cầu cụ thể mà có thêm các công trình phụ khác như: cầu máng, xi phông, bể áp lực, tháp điều áp, bể điều tiết ngày.vv… Cách tập trung cột nước bằng đường dẫn được ứng dụng rộng rãi ở các sông suối miền núi có độ dốc lớn và lưu lượng nhỏ. SV: Vũ Thị Ngọc 3
  4. Hình 1.3 Sơ đồ khai thác theo kiểu ống dẫn. c. Dùng hỗn hợp cả đập và đường dẫn để tạo thành cột nước. Khi vừa có điều kiện xây dựng hồ để tạo ra một phần cột nước và điều tiết lưu lượng lại vừa có thể lui tuyến nhà máy ra xa đập một đoạn nữa đ ể tận dụng độ dốc lòng sông làm tăng cột nước, thì cách tốt nhất là dùng phương pháp tập trung cột nước bằng đập và đường dẫn. Với phương thức này, cột nước của trạm thuỷ điện do đập và đường dẫn tạo thành đập thường đặt ở chỗ thay đổi độ dốc của lòng sông nơi khai thác Hình 1.4 Sơ đồ khai thác hỗn hợp. SV: Vũ Thị Ngọc 4
  5. Câu 2: Phân tích cấu hình hệ thống DCS. Cấu hình cơ bản của một hệ thống điều khiển phân tán đựơc minh hoạ trên hình vẽ bao gồm các thành phần sau: • Các trạm điều khiển cục bộ(LCS-Local Control Station), đôi khi còn được gọi là các khối điều khiển cục bộ (LCU-Local Control Unit) hoặc các trạm quá trình (PS-Process Station). • Các trạm vận hành (OS - Operator Station) • Các trạm kỹ thuật (ES – Engineering Station) và các công cụ phát triển • Hệ thống truyền thông. Hình 2.1 Sơ đồ cấu hình cơ bản của một hệ thống DCS. a. Trạm điều khiển cục bộ: Thông thường, các trạm điều khiển cục bộ được xây dưng theo cấu trúc module. + Các thành phần của chúng bao gồm: - Bộ cung cấp nguồn. - Khối xử lý trung tâm (CPU). - Giao diện với bus hệ thống. - Giao diện với bus trường, nếu sử dụng cấu trúc vào/ra phân tán. SV: Vũ Thị Ngọc 5
  6. - Các module vào/ra số cũng như tương tự, các module vào ra an toàn cháy nổ. + Các chức năng do trạm điều khiển cục bộ đảm nhiệm bao gồm: - Điều khiển quá trình: Điều khiển các mạch vòng kín (nhiệt độ, áp suất, l ưu lượng, độ PH, độ đậm đặc....) Hầu hết các mạch vòng đơn được điều khiển trên cơ sở luật PID, giải quyết bài toán điều khiển điều chỉnh, điều khiển tỉ lệ. Các hệ thống hiện đại cho phép điều khiển mờ điều khiển dựa theo mô hình, điều khiển thích nghi.... - Điều khiển trình tự (Sequential Control) - Điều khiển Logic - Điều khiển theo công thức (Recipe Control) - Đặt các tín hiệu đầu ra về trạng thái an toàn trong trường hợp có sự cố hệ thống. - Lưu trữ tạm thời các tín hiệu quá trình trong trường hợp mất liên lạc với trạm vận hành. - Nhận biết các trường hợp quá ngưỡng giới hạn và đưa ra các cảnh báo, báo động. Chính vì đây là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống, đ ại đa s ố các trạm điều khiển cục bộ có tính năng kiểm tra và sửa lỗi, cũng như cho phép l ựa chọn c ấu hình dự phòng. Một điều quan trọng là một trạm điều khiển cục bộ phải có khả năng đảm bảo tiếp tục thực hiện các chức năng nói trên trong trường hợp trạm vận hành hoặc đường truyền bus gặp sự cố. Các máy tính điều khiển có thể là máy tính đ ặc chủng của nhà cung cấp, PLC hoặc máy tính cá nhân công nghiệp. Dựa trên cơ sở này có thể phân loại các hệ thống điều khiển phân tán hiện nay: Các hệ trên nền PLC (PLC Base DCS) và các hệ trên nền PC (Computer Base DCS). Bất kể chủng loại thiết bị nào được sử dụng, các yêu cầu quan trọng nhất về mặt kỹ thuật được đặt ra cho một trạm điều khiển cục bộ là: - Tính năng thời gian thực - Độ tin cậy và tính sẵn sàng - Lập trình thuận tiện cho phép sử dụng/ cài đặt các thuật toán cao cấp. - Khả năng điều khiển lai (liên tục, trình tự và logic) b. Bus trường và các trạm vào ra từ xa : Khi sử dụng cấu trúc vào ra phân tán, các trạm điều khiển cục bộ sẽ đ ược b ổ sung các module giao diện bus để nối với các trạm vào ra phân tán và một s ố thi ết b ị trường thông minh. Các yêu cầu chung đặt ra với bus trường là: tính năng thời gian thực, mức độ đơn giản và giá thành thấp. Bên cạnh đó với môi trường dễ cháy nổ còn có các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt khác về truyền dẫn, tính năng điện học của các linh kiện mạng, cáp truyền.... Các bus trường thông dụng là : Profibus-DP, Foundation FieldBus, DeviceNet và AS-I. Trong môi trường dễ cháy nổ thì Profibus-PA và Foundation FieldBus H1 là hai hệ được sử dụng phổ biến nhất. SV: Vũ Thị Ngọc 6
  7. Một trạm vào/ra từ xa thực chất có cấu trúc không khác lắm so với một trạm điều khiển cục bộ, duy chỉ thiếu khối xử lý trung tâm cho chức năng điều khiển. Thông thường, các trạm vào/ra từ xa được đặt rất gần với quá trình kỹ thuật, vì thế tiết kiệm nhiều cáp truyền và đơn giản hoá cấu trúc hệ thống. Trạm vào/ra từ xa cũng có thể đặt cùng vị trí với trạm điều khiển cục bộ, tuy nhiên như vậy không sử dụng được ưu điểm của cấu trúc này. Khác với cấu trúc vào ra tập trung, cấu trúc vào ra phân tán cho phép sử dụng các trạm vào ra từ xa của các nhà cung cấp khác nhau với điều kiện có hỗ trợ loại bus trường qui định. Bên cạnh phương pháp ghép nối thiết bị điều khiển với quá trình kỹ thuật thông qua các module vào/ra, ta có thể sử dụng các cảm biến hoặc cơ cấu chấp hành có giao diện bus trường. Qua đó có thể đơn giản hoá cấu trúc hệ thống hơn nữa, tiết kiệm chỗ trong tủ điều khiển và nâng cao tính năng thời gian thực của hệ thống do tận dụng được khả năng xử lý thông tin của các thiết bị trường. c. Trạm vận hành: Trạm vận hành và trạm kỹ thuật được đặt tại phòng điều khiển trung tâm. Các trạm vận hành có thể hoạt động song song, độc lập với nhau. Để tiện cho việc vận hành hệ thống, người ta thường sắp xếp mỗi trạm vận hành tương ứng với một phận đoạn hoặc một phân xưởng. Tuy nhiên, các phần mềm chạy trên tất cả các trạm hoàn toàn giống nhau, vì thế trong trường hợp cần thiết mỗi trạm đ ều có thể chạy thay th ết chức năng của các trạm khác. Các chức năng tiêu biểu của một trạm vận hành gồm có: - Hiển thị hình ảnh quá trình (hình ảnh tổng quan, hình ảnh nhóm, hình ảnh từng mạch vòng, hình ảnh điều khiển trình tự, các đồ thị thời gian thực và quá khứ. - Hiển thị hình ảnh đồ hoạ tự do: Lưu đồ công nghệ, các phím điều khiển - Hỗ trợ vận hành hệ thống qua các công cụ thao tác tiêu biểu, các hệ thống hướng dẫn chỉ đạo và hướng dẫn trợ giúp. - Tạo và quản lý các công thức điều khiển - Xử lý các sự kiện sự cố - Xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu - Chẩn đoán hệ thống, hỗ trợ người vận hành và bảo trì hệ thống - Hỗ trợ lập báo cáo tự động Khác với các trạm điều khiển, hầu hêt các hệ DCS hiện đại đều sử dụng các sản phẩm thương mại thông dụng như máy tính cá nhân (công nghiệp) chạy trên nền Windows NT/2000, hoặc các máy tính chạy trên nền UNIX. Cùng vơi các màn hình màu lớn với độ phân giải cao để theo dõi quá trình sản xuất, một trạm vận hành hiện đại bao giờ cũng có các thiết bị thao tác chuẩn như bàn phím, chuột. Một trạm vận hành có th ể bố trí theo kiểu một người sử dụng hoặc nhiều người sử dụng với nhiều Terminal. Các phần mềm trên trạm vận hành bao giờ cũng đi kèm đồng bộ với hệ thống, song thường hỗ trợ các chuẩn phần mềm và chuẩn giao tiếp công nghiệp. d. Trạm kỹ thuật và các công cụ phát triển: SV: Vũ Thị Ngọc 7
  8. Trạm kỹ thuật là nơi cài đặt các công cụ phát triển, cho phép đặt cấu hình cho h ệ thống, tạo và theo dõi các chương trình ứng dụng điều khiển và giao diện người máy,đặt cấu hình và tham số hoá các các thiết bị trường. Việc tạo ứng dụng điều khiển hầu hết được thực hiện theo phương pháp khai báo, đặt tham số và ghép nối các khối chức năng có sẵn trong thư viện. Cũng như các trạm vận hành, thiết bị sử dụng thông thường là các máy tính cá nhân (công nghiệp) chạy trên nền Windows 95 – 98 - 2000 – NT hoặc UNIX. + Một số đặc tính tiêu biểu của các công cụ phát triển trạm kỹ thuật là: - Các công cụ phát triển được tích hợp sẵn trong hệ thống - Công việc phát triển không yêu cầu có phần cứng DCS tại chỗ. - Các ngôn ngữ lập trình thông dụng là: FBD, CFC, SFC. - Một dự án có thể do nhiều người cùng phối hợp phát triển song song. Để việc phát triển hệ thống phần mềm được thuận lợi, các nhà sản xuất cung cấp các thư viện khối chuyên dụng. Bên cạnh đó, nhiều nhà sản xuất cũng cung c ấp nhi ều phần mềm mô phỏng để người phát triển hệ thống có thể tạo các đầu vào/ra mô phỏng, giúp cho việc phát triển phần mềm được chắc chắn, an toàn hơn. Trong một hệ thống người ta không phân biệt giữa trạm vận hành và trạm kỹ thuật, mà sử dụng một bàn phím có khoá chuyển qua lại giữa hai chế độ vận hành và phát triển. e. BUS hệ thống: Bus hệ thống có chức năng nối mạng các trạm điều khiển cục bộ với nhau và với trạm vận hành và trạm kỹ thuật. Trong đa số các hệ thống ứng dụng, người ta lựa chọn cấu hình dự phòng cho Bus hệ thống. Thêm nữa, để cải thiện tính năng thời gian thực, nhiều khi một mạng riêng biệt dùng để ghép nối các trạm điều khiển cục bộ. Các hệ thống mạng được sử dụng phổ biến là Ethernet, Profibus-FMS và ControlNet. Đặc điểm của việc trao đổi thông tin qua bus hệ thống là lưu lượng thông tin lớn, vì vậy tốc đ ộ đường truyền phải tương đối cao. Tính năng thời gian thực ra cũng là một yêu cầu được đặt ra (nhất là đối với bus điều khiển), tuy nhiên không nghiêm ngặt như đối với bus trường. Số lượng trạm tham gia thường không lớn và nhu cầu trao đổi dữ liệu không có đột biến lớn. Câu 3. Các đặc điểm cơ bản của chuẩn truyền thông PROFIBUS. SV: Vũ Thị Ngọc 8
  9. PROFIBUS - Process Field Bus. Đây là một chuẩn truyền thông được SIEMENS phát triển từ năm 1987 trong DIN 19245. PROFIBUS được thiết lập theo phương pháp hệ truyền thông mở, không phụ thuộc vào nhà chế tạo (Open Communication Network) phục vụ cho các cấp phân xưởng và cấp trường. Mạng PROFIBUS tuân theo chuẩn EN 50170 cho phép kết nối các bộ điều khiển PLC, các thiết bị vào/ra phân tán, các bộ l ập trình PC/PG, các cơ cấu chấp hành, các thiết bị hãng khác. a. PROFIBUS định nghĩa 3 loại giao thức: • PROFIBUS – DP (Distributed Peripheral) phục vụ cho việc trao đổi thông tin nhỏ nhưng đòi hỏi tốc độ truyền nhanh. PROFIBUS – DP được xây dựng tối ưu cho việc kết nối các thiết bị trường với máy tính điều khiển. PROFIBUS – DP phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu cao về tính năng thời gian trong trao đổi dữ liệu, giữa cấp điều khiển cũng như các bộ PLC hoặc các máy tính công nghiệp với các ngoại vi phân tán ở cấp tr ường như các thiết bị đo, truyền động và van. Việc trao đổi chủ yếu được thực hiện tuần hoàn theo cơ chế Master/Slave. Với số trạm tối đa trong một mạng là 126, PROFIBUS – DP cho phép sử dụng cấu hình một trạm chủ (Mono Master) hoặc nhiều trạm chủ (Multi Master). Một đặc trưng nữa của PROFIBUS – DP là tốc độ truyền cao, có thể lên tới 12 Mbit/s. • PROFIBUS – FMS (Fieldbus Message Specification) trao đổi lượng thông tin trung bình giữa các thành viên bình đẳng với nhau trong mạng. SV: Vũ Thị Ngọc 9
  10. • PROFIBUS – FMS được dùng chủ yếu cho việc nối mạng các máy tính điều khiển và giám sát. Mạng này chỉ thực hiện ở các lớp 1, 2, 7 theo mô hình quy chiếu OSI. Do đặc điểm của các ứng dụng trên cấp điều khiển và điều khiển giám sát, dữ liệu chủ yếu được trao đổi với tính chất không định kỳ. • PROFIBUS – PA (Process Automation) được thiết kế riêng cho những khu vực nguy hiểm. PROFIBUS – PA là sự mở rộng của PROFIBUS – DP về phương pháp truyền dẫn an toàn trong môi trường dễ cháy nổ theo chuẩn IEC 61158-2. PROFIBUS – PA là loại bus trường thích hợp cho các hệ thống điều khiển phân tán trong các ngành công nghiệp hoá chất và hoá dầu. Thiết bị chuyển đổi (DP/PA-Link) được sử dụng để tích hợp đường mạng PA với mạng PROFIBUS DP. Điều này đảm bảo cho toàn bộ thông tin có thể được truyền liên tục trên hệ thống mạng PROFIBUS bao gồm cả DP và PA. b. Kiến trúc giao thức: PROFIBUS chỉ thực hiện các lớp 1, 2 và 7 theo mô hình quy chuẩn OSI. c. Các đặc điểm nổi bật của mạng Profibus: • Kiểu mạng: - DP: bus thiết bị - PA: mạng điều khiển quá trình - FMS: mạng điều khiển cấp ô (cell level) • Phương tiện truyền thông vật lý: cáp xoắn đôi, cáp sợi quang • Cấu trúc liên kết mạng (network topology): • Cấu trúc tuyến (bus) - Cấu trúc mạch vòng (ring) - Cấu trúc hình sao (star) • Số thiết bị tối đa: - DP: 126 trạm/bus (tối đa 244 byte dữ liệu đầu vào/đầu ra cho mỗi slave) - PA: 32 điểm (node)/phân đoạn SV: Vũ Thị Ngọc 10
  11. • Khoảng cách tối đa: - DP: 93,75 Kbp — 1.200m; 500Kbp — 400m; 1,5Mbps — 200m - PA: 1.900m; khoảng cách tối đa có sử dụng bộ lặp (tối đa là 9 bộ lặp): 9.500m • Phương thức truyền thông: - DP: đồng đẳng (peer-to-peer), multicast hay master-slave theo chu kì (sử dụng kỹ thuật token passing) - PA: khách/chủ (client/server), Publisher/subscriber, sự kiện (event). Truyền thông theo lịch biểu và không theo lịch biểu. • Công suất và truyền thông: - DP: Nguồn điện được cấp tách biệt với bus truyền thông - PA: đòi hỏi cấp nguồn PA để bảo vệ truyền thông số d. Ưu điểm: - Được sử dụng rộng rãi với 1.100 công ty thành viên trên toàn thế giới. - Hỗ trợ mạng tại các cấp độ thiết bị, điều khiển quá trình và Ethernet. - Sẵn có giao diện cho các ứng dụng varialb speed drive và trung tâm điều khiển động cơ (Profibus DP) - Ứng dụng trên toàn doanh nghiệp với PROFInet - Sử dụng trong môi trường an toàn (Intrinsically Safe) (đối với các thiết bị Profibus PA) - Các cổng nối (gateway) cho phép tích hợp Profibus PA trực tiếp với mạng Profibus DP. - Giao diện chủ (host) sẵn có cho hầu hết PLC, DCS và các hệ thống máy tính - Thiết bị gateway hỗ trợ trực tiếp các mạng bus sensor chi phí thấp hơn, đặc biệt là AS-Interface - Sẵn có hơn 2.000 sản phẩm e. Nhược điểm: - Profibus DP không hỗ trợ ứng dụng Intrinsically Safe. - Những yêu cầu về hệ thống dây, điện, tiếp đất, bọc và đầu cuối phải được tính đến trong quá trình thiết kế và lắp đặt. f. Các hệ DCS thông dụng SV: Vũ Thị Ngọc 11
  12. SV: Vũ Thị Ngọc 12
  13. Hệ thống điều khiển PCS-7 của Siemens Câu 4: Cấu trúc của hệ thống cung cấp và lưu thông nước trong lò hơi. SV: Vũ Thị Ngọc 13
  14. Hệ thống thực hiện nhiệm vụ cung cấp nước vào bao hơi đảm bảo quá trình tạo lượng hơi nước theo yêu cầu và có thể điều khiển được. Hơi nước sau khi phun vào turbin được ngưng tụ thành nước tại bình ngưng và được đưa trở lại hệ thống cấp nước. Nước từ bộ ngưng hơi sẽ được đưa vào bộ lọc khí,sau đó được chứa trong bình chứa bình chứa này được nối với đầu vào của bơm nước,và đầu ra của bơm cấp được nối với bao hơi. Tại đầu ra của bơm có đặt van hồi tiếp giữa bơm và bình chứa để đảm bảo bơm không chạy không tải khi có sự c ố( bình không có nước) và có van kiểm tra là van một chiều đảm bảo áp l ực của nước đ ủ l ớn để dòng nước không thể quay trở lại bơm cấp. Yêu cầu đối với hệ thống điều khiển cấp nước: - Điều khiển mức nước ngang bằng với điểm đặt - Giảm thiểu tương tác hệ thống điều khiển cháy - Thay đổi mức nước bám nhanh theo sự thay đổi của tải - Cân bằng lượng hơi và lượng nước cấp vào bao hơi - Bù thay đổi áp suất nước cấp không đảo lộn tuần hoàn nước và dịch điểm đặt Đặc tính điều khiển cấp nước sử dụng bộ điều khiển on – off: SV: Vũ Thị Ngọc 14
  15. SV: Vũ Thị Ngọc 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản