TP. Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
BÀI NGHIÊN CỨU:
CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA,
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HỘI NHẬP
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
Tác gi: Joshua Aizenman và Reuven Glick
GVHD: GSTS.Trần Ngọc Thơ
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 –Nhóm2
Danh sách nhóm:
Nguy฀n Minh Thu฀n
Đ฀ng Sĩ Ti฀n
Phan ThDi฀u Trang
Th Bích Trâm
Đinh Phan Toàn Trung
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨ U VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.......................... 1
1. Tổng quan nghiên cứu ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................. 1
3. Thay đổi cơ cấu b ba bất khả thi .............................................................................. 2
II. LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA ...... 3
1. thuyết bộ ba bất khả thi ........................................................................................ 3
2. Các thướt đo bộ ba bất khả thi ................................................................................... 5
3. Chính sách vô hiệu hóa ............................................................................................. 6
III. PHƯƠNG PHÁP, MÔ HÌNH VÀ DLIỆU NGHIÊN CỨU ............................ 8
1. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 8
2. Mô hình .................................................................................................................... 8
3. Dữ liệu nghiên cu .................................................................................................... 8
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................................... 8
1. Tích lũy dự trữ và phản ứng vô hiệu hóa ................................................................... 8
2. Chi phí, lợi ích và khản năng chịu đựng của chính sách vô hiệu hóa ....................... 28
V. KẾT LUẬN ........................................................................................................... 30
1
I. TỔNG QUAN NGHIÊN CU VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CU
1. Tng quan nghiên cứu
Trong những năm cuối 1980 đu 1990, các quốc gia có nền kinh tế mới nổi đã đi theo
hướng mở cửa và tdo hóa tài chính. Tuy nhiên, Vi sự cố gắng duy trì sn định về t ghi
đoái chính sách tiền tệ độc lập một mức độ nào đó, nhưng một số nước vẫn phải trải qua vài
cuc khủng hoảng tài chính. Sau hậu qucủa các cuộc khng hoảng tài chính y, nhiều quốc gia
mới nổi đã thông qua một dạng chính sách gồm t giá hi đoái linh hoạt hơn nhưng vẫn chịu sự
quản cùng vi việc tiếp tục hội nhập tài chính mt vài độc lập trong chính sách tiền tệ trong
nước một mức độ nào đó. Sự tích y các khoản dphòng quốc tế đã tr thành một thành phn
chđo trong việc ng cao đn định của mô hình mới này.Squan tâm về chi phí của việc duy
trì n định tiền tệ với chính sách hỗn hợp mới này cho thy scần thiết cần phải tích y dự trữ
ngoại hối với việc hiệu hóa ngày càng gia tăng.Sự nắm bắt các hội về chi phí tích y dtrữ
chi phiệu hóa tài chính tài khóa ln ợt đưa ra các câu hỏi về tính khthi về lâu dài của
hỗn hợp chính sách mới này, đặc biệt là tính hiệu quả của chính sách vô hiệu hóa.
Các tài liệu nghiên cứu gần đây đã phân tích nhng khía cạnh khác nhau của những sự phát
triển mới đây, chẳng hạn như là bản chất quyca t giá hối đoái linh hoạt hơn, sự tự do hóa tiền
t và hi nhập tài chính bởi các th trường mới nổi ( dụ như nghiên cứu của Fischer, 2001;
Aizenman Lee, 2008). Trong bài nghiên cứu này, chúng i tp trung vào các mi quan tâm về
phạm vi của sự hiệu hóa bằng cách ước tính xu hướng cận biên để làm vô hiu việc tích lũy tài
sản ngoại tệ theo thời gian ở các quốc gia được chn tại châu Á và châu M La Tinh.
Kết quả của chúng tôi xác nhận rằng việc tích y ngày càng lớn các khoản dự trngoại tệ
trong những năm gần liên quan đến sự hiệu hóa ngày càng mnh thông qua các nước đang
phát triển cu Á ng như châu M La. Đặc biệt, chúng tôi chỉ ra rằng có mt sự gia ng đáng
ktrong hệ số hiệu hóa những năm gần đây. Vì vy, cnh sách tích y dtrữ ngoại hối và vô
hiệu hóa tác động của lạm phát tiềm n đã b trợ cho nhau trong sut những năm gần đây. Thêm
vào đó, chúngi phát hin ra rằng việc vô hiệu hóa các dòng vn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
tiêu biểu thì thấp hơn trong thặng dư cán cân vãng lai và dòng vốn đầu không trực tiếp (non-
FDI), điều này làm ny sinh những lo ngại rằng tính khôngn định của chính sách tiền tệ phụ thuộc
vào thành phần các dòng vốn trongnn thanh toán.
Chúng tôi cũng bàn luận v lợi ích và chi phí ca chính sách vô hiệu hóa.Đối với nhiều quốc
gia tchi pvô hiệu hóa xuất hiện ít hơn so với lợi ích nhận được kết hợp với chính sách n định
tiền tệ và tích lũy dtrữ.Tuy nhiên, chúng tôi đưa ra bằng chứng nói lên rằng những lợi ích liên
quan đến Trung Quc và các quc gia khác đã giảm xuống trong những quý vừa qua.Điều này hàm
ý các giới hạn đối với sức chịu đựng của dạng chính sách mới chỉ trong thời gian ngn.
Cuối cùng, chúng i phác thảo ra một hình (đưc trình bày trong phần Phụ lục) giải
thích khng để vô hiệu hóa phụ thuộc như thế nào vào khnăng thay thế không hoàn toàn ca tài
sản trên thế giới, nơi chi pgiao dịch tài sản thay đổi có hthống giữa các tác nhân (vì các tác
động quy hợp lý) và giữa các loại tài sản (bởi vì nh chất thanh khoản và ri ro khác
nhau).Chúng i chra rằng những chính ch thúc đẩy sự hạn chế tài chính quc gia lớn n làm
giảm chi pvô hiệu hóa, đưa ra quy mà một quốc gia thể hiệu hóa phụ thuộc vào mức độ
sẵn sàng chịu đựng sự hạn chế tài chính và sbóp méo kinh tế khác.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bằng phương pháp ước lượng xu hướng biên để vô hiệu hóa sự tíchy tài sản nước ngoài
thông qua đó để thấy được qua phm vi của sự vô hiệu vô hiệu hóa dòng thu dtrữ ngoại hối tăng
2
lên trong những năm gn đây với các mức độ khác nhau ở Châu Á cũng như ở các nước Châu M
Latinh, phù hợp với sự lo lắng ngày ng ln về ảnh hưởng của lạm phát tiềm ẩn tới các dòng thu
dtrữ
Đồng thời nghiên cứu về li ích và chi phí của sự vô hiệu hóa mà mỗi quôc gia khi thực hiện
chính sách vô hiệu hóa gặp phải trong việc thực hiện hội nhập tài chính.
3. Thay đi cơ cấu bộ ba bất khả thi
Bài học lớn của một thập k qua là ri roi kết hợp giữa hội nhập tài chính quốc tế với các
chế đô neo t giá hi đoái cố định kiểu linh hoạt. Mỗi cuộc khng hoảng liên quan chyếu đến th
trường tài cnh quc tế từ năm 1994 Mexico năm 1994, Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc
năm 1997, Nga Brazil năm 1998, Argentina Thổ Nhĩ K năm 2000 mt số khía cạnh
nào đó liên quan đến một chế t giá hối đoái cố định hay được neo chặt. ng lúc đó, những
quc gia không tỷ giá neo cố đnh gia các quốc gia đó, Israel, Mexico Nam Phi năm 1998
đã tránh được các cuộc khng hoảng mà các quốc gia thị trường mới nổi t giá neo cố đinh
phải hoang mang1. Kết quả là, nhiều quốc gia thị trường mới nổi đã thông qua chính sách phối hợp
các t giá hối đoái quản trong khi vẫn cố gắng duy trì mức đkiểm soát chính sách tiền tệ
quc gia cùng với việc tang cường hội nhập tài chính. Hđã đạt được điều này bằng chính sách
phi hợp việc tích trữ dự trữ lớn và chính sách vô hiệu hóa.
Việc áp dụng khuôn kh lý thuyết bba bất khthi hữu ích trong việc giải thích sự thay đổi
cấu trúc chính sách tiền tệ bởi các nước đang phát triển — the Trilemma. B ba bất kh thi nói rng
một quốc gia có thể chọn cùng lúc bất kỳ hai (nhưng không phải cả ba) trong số ba mc tiêu sau: s
độc lập tiền tệ, sự n định t giá hi đoái, và s tự do hóa tài chính (xem Obstfeld những nhà
nghiên cứu khác, 2005, để có thêm thông tin tham khảo và các thảo luận về bộ ba bất khả thi).
Với những thtrường vốn đóng cửa, một quốc gia thể kiểm soát chính sách tiền tệ và
t giá hối đoái cố đnh nhưng không tự do hóa i chính. Điều y đã chn lựa ưa thích của
hầu hết các quốc gia đang phát triển trong khoảng từ giữa cuối những năm 1980 vì h duy trì skết
hợp chính sách ổn đnh t giá hối đoái và độc lập tiền tệ với tài khoản vn gần như đóng cửa.
Trong những năm cuối 1980 và đầu 1990, nhng quốc gia như là Mexico, Hàn Quốc và vài
nền kinh tế châu Á khác, đã đi theo xu hướng mở cửa và tự do hóa tài chính. Tuy nhiên, khi hmở
cửa thị trường tài chính nhiều hơn, họ thấy rằng c mục tiêu hội nhập tài chính ln hơn, ổn định t
giá hối đoái và độc lập tiền tệ không thể đồng thời cùng đạt được.
Những mục tiêu chính sách không nhất quán này đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính
nghiêm trng ở Mexico trong suốt 1994-1995, và Đông Á trong sut nhng năm 1997-19982. Các
cuc khủng hoảng này đã xác nhận rằng việc đánh đi cùng với bba bất khthi: một quốc gia
chọn hi nhập tài chính lớn hơn phải từ bỏ sự ổn định t giá hối đoái nếu như muốn giữ một mức độ
n định tiền tệ. Thất bại đối vi những cuc khủng hoảng xảy ra như thế, sau đó, Mexico, Hàn
Quc và nhng quốc gia khác đã chọn một cơ cấu chính sách mới. Cơ cấu bộ ba bất khả thi mới ni
1Thông điệp này đã được truyn ti trong nhng nghiên cu ni tiếng ca Obstfeld và Rogoff (1995) và Fischer (2001).
Nhng nghiên cu liên quan đã xây dng nhng kh năng mà t giá hối đoái ổn định có th to ra “cái by” trong khu
vc hi nhp tài chính toàn cu, nh đó chế đ ban đầu mang li nhng li ích trong s tin tưởng chng lm phát,
nhưng rút cục nhng kết qu trong s đi ra từ s n định gây ra bi sc bt lợi đủ ln thc s to ra nhng thit
hi phúc li ln cho nến kinh tế (xem Eichengreen,1999; Frankel, 1999; Edwards
2 Danh sách các quc gia vi nhng kinh nghiệm tương tự ngày càng dài thêm (ví d: Russia, Brazil, và các nước
khác). đây chúng ta tham khảo Mexico và các nước Đông Nam Á hầu như bởi thời điểm khng hong của các nước
đó, mỗi quốc gia là đầu tiên trong vùng tương ng trải qua đoạn dng đt ngt”, đưc sp xếp bi s đảo nợc đột
ngt ca nhng dòng tài chính ngn hn (“tin nóng”).
3
dường như bao hàm sự hội nhập tài chính lớn hơn và t giá hối đi linh hoạt quản tốt hơn,
đánh đổi sự ổn định t giá hối đoái với nh linh hoạt ca vốn trong khi vẫn duy trì một mức độ độc
lập tiền tệ3. Trong những m đầu 1990, Argentina đã thông qua cơ cấu bộ ba bất khả thi khác liên
quan đến cố đnh t g hối đoái và hội nhập tài chính hoàn toàn được y ban tiền tệ đ ra.
Argentina cũng đã trải qua một cuộc khủng hoảng trong những năm đầu 2000 khi từ bỏ sự độc lập
trong chính sách tin tệ đã không còn có thể thực hin được nữa.
Sau khủng hoảng, nhiều thị trường mới nổi đã chọn cho mình một cấu chính sách liên
quan đến t giá hi đoái linh hoạt n, chính sách tiền tệ quốc gia độc lập và tăng cường hội nhập
tài chính.Nhưng họ vẫn đang cam kết về việc quản t giá hối đoái một mức đnào đó.Vì thế,
khi đối mặt vi áp lực làm cho đồng tiền của mình được đánh giá cao, họ đã đang tích y và vô
hiệu hóa các khoản dtrữ. Trung Quốc đã mạnh mẽ đưa ra một hỗn hợp chính sách cho phép hội
nhập tài chính tốt hơn trên thực tế, và thông qua chính sách t giá hối đoái linh hoạt quản vào
giữa năm 2005 trong khi vẫn tích lũy và vô hiệu hóa lưng tiền vốn vào dự trữ ngoại tệ khổng lồ.
Phân tích toán kinh tế đưa ra những thay đổi mang tính cấu trúc trong mô hình tích lũy d
trcủa các quốc gia đang phát triển (xem Aizenman Marion, năm 2003; Aizenman và Lee, năm
2008; Cheung Ito, 2008). Một sự thay đổi đã diễn ra vào đầu những năm 1990, một xu hướng
tăng vọt trong ngắn hạn sau cuộc khng hoảng Đông Nam Á m 1997-1998 nhưng lại giảm
xung vào năm 2000 nđược phn ánh trong sgia tăng tlệ dtrự ngoại tệ/GDP. Sự thay đi
cấu trúc thứ hai ờng như ng đã xy ra trong những năm đầu 2000, sự thay đi này do Trung
Quc đưa ra bằng cách gia tăng ca từng thấy việc tích lũy dự tr ngoại tệ.
Việc tích y dự trngoại tệ khổng lồ này thdo nhiều nhân tố. Đầu tiên, một vài quốc
gia đã giành được các khoản dtrữ đđáp ứng nhu cầu phòng nga.Theo cách này, các khoản d
trcung cấp bảo hiểm trước việc dừng đột ngột của các dòng vốn ngoại tệ vào, và bù đắp cho ri ro
dòng vn đảo chiều khi hội nhập tài cnh lớn n.Thhai, các khoản dtrữ thể đưc ng đ
làm giảm bớt ảnh hưởng ca các sốc thương mại lên t giá hi đoái và việc xuất khẩu của quốc
gia, tháo gỡ khó khăn trong vic điều chỉnhnn vãng lai.Ngoài ra, chúng còn cho phép các quốc
gia tránh dựa vào IMF (Qu tin tệ quốc tế), Ngân hàng thế giới, và c t chức tài chính quc tế
khác, v.v… vviệc bảo hiểm ẩn phía sau.Sau cùng, tích lũy dtrthể xy ra như là một sản
phẩm phụ của việc quản lý tỷ giá hi đi để khuyến khích xuất khẩu bng cách hạ thấp giá trị đồng
nội tệ4.
II. LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA
1. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Bba bất khthi là thuyết rất phbiến trong kinh tế được phát triển bởi Robert Mundell và
Marcus Fleming vào thp niên 1960. Bộ ba bất khả thi có thể phát biểu như một định đề: một quốc gia
không thđồng thời đạt được t giá cố định, hội nhập tài chính độc lập tiền thay nói cách kc
một quốc gia ch thể lựa chọn cùng một lúc đồng thi hai trong ba mục tiêu là độc lập tiền tệ, ổn
định tỷ giá và hội nhp tài chính.
3Lưu ý rng s ổn định t giá hối đoái có th duy tmc tiêu chính sách gi m. S th nổi đưc qun lý cht cho phép
các quc gia ổn định t giá hối đoái, trong khi gi li s la chn điều chnh t giá hối đoái trong sự hin din ca
nhngsc ln mà không tri qua s cân bng khng khoảng thanh toán. ơng tự, nhng quc gia có th chnt giá
hối đoái cố định, mc ti mức độc lp tin tệít hơn (xem nhng kinh nghim của Estonia, Hong Kong các nước
khác). Vì thế, trên 1 dòng vi “B ba bt kh thi” (Trilemma), xu hướng hướng đến s hòa nhp tài chính toàn cu ln
hơn bởi các nước đang phát triển m ý rng h phi đánh đổi nhng li ích ca hi nhp tài chính vi cái giá ca s
độc lp chính sách độc lp gim và/hoc t giá hi đoái linh hoạt hơn.
4Cho nhng lý do này, nhng quc gia duy tt giá hi đoái cố định, như Trung Quốc cho đến giữa năm 2005, đã chn
cng c s ổn định ca h bng cách tích lũy 1 số khá ln d tr ngoi hi.