intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bài thảo luận: Nhận dạng rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán

Chia sẻ: Mai Mai | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:21

0
388
lượt xem
197
download

Bài thảo luận: Nhận dạng rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong hoạt động kinh doanh chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều rủi ro , rủi ro là những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta tiến hành, nó có những ảnh hưởng tiêu cực và tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại hoặc đã gây ra các thiệt hại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận: Nhận dạng rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán

  1. Đề tài thảo luận : Nhận dạng các rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán Lời mở đầu Trong hoạt động kinh doanh chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều rủi ro , rủi ro là những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta tiến hành, nó có những ảnh hưởng tiêu cực và tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại hoặc đã gây ra các thiệt hại. Dù muốn hay không, hầu hết những điều chúng ta làm đều chứa đựng rủi ro , hoạt động đầu tư cũng không thể tránh khỏi . Trong kinh tế thị trường, dường như không có hoạt động đầu tư kinh doanh nào lại không có nguy cơ gặp rủi ro. Lợi nhuận càng cao, rủi ro càng lớn, nhưng điều ngược lại thì chưa hẳn đã đúng: lợi nhuận có thể thấp, song rủi ro chưa chắc đã nhỏ đi . Đầu tư tài chính , chứng khoán cũng không nằm ngoài quy luật này, thậm chí, ở mức sâu đậm và đa diện hơn . Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải tìm hiểu các loại rủi ro, bản chất và đặc điểm của mỗi loại để có thể xác định được mức độ
  2. rủi ro của công cụ mà chúng ta muốn đầu tư, từ đó quyết định có nên chấp nhận hay không và tổ chức các phương thức quản lý thích hợp . Từ thực tiễn thị trường chứng khoán quốc tế nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng trong thời gian qua, có thể nhận dạng một số rủi ro chủ yếu trong đầu tư tài chính và chứng khoán. Một số khái niệm I) 1. Khái niệm rủi ro Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những khái niêm rủi ro khác nhau. Những khái niệm này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn:  Theo trường phái truyền thống : rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm.Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến.Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người  Theo trường phái hiện đại : rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. 2. Rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán Rủi ro trong đầu tư tài chính , chứng khoán là sự biến động tiềm ẩn trong kết quả đầu tư tài chính chứng khoán , lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư . Nó là nguyên nhân gây nên sự bất định của họ về kết quả đầu tư . Một số loại rủi ro :  Rủi ro thuần thúy ( Pure risks ) tồn tại khi một nguy cơ tổn thất đe dọa lợi ích nhà đầu tư mà không đi với cơ hội kiếm lời từ hoạt động đầu tư .  Rủi ro suy đoán ( Speculative risks ) tồn tại khi cơ hội sinh lời trong đầu tư đi với nguy cơ tổn thất chính từ cơ hội cơ hội đầu tư đang theo đuổi .
  3.  Rủi ro cá biệt , có thể đa dạng hóa ( Driversifiable risks ) là những rủi ro gắn với từng cơ hội đầu tư cá biệt và nhà đầu tư có thể hy vọng giảm thiểu tổn thất thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư .  Rủi ro hệ thống , không thể đa dạng hóa ( Nondriversifiable ) là rủi ro tác động tới hầu hết các tài sản đầu tư do đó việc đa dạng hóa danh mục đầu tư không có ( hoặc hầu như không có ) tác dụng giảm thiểu tổn thất . 3. Nhận dạng rủi ro trong đầu tư tài chính , chứng khoán  Nhận dạng rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán là quá trình xác định liên tục và có hệ thống về rủi ro .  Mục tiêu nhận dạng rủi ro nhằm xác định thông tin về nguồn hình thành rủi ro , các hiểm họa , các nhân tố cấu thành rủi ro tài chính , chứng khoán .  Quá trình nhận dạng rủi ro còn bao gồm nhiệm vụ suy rộng liên kết các rủi ro và tìm kiếm , nhận dạng , dự đoán các rủi ro mới mà nhà đầu tư quan tâm đến trong tương lai .  Một số phương pháp nhận dạng rủi ro : • Sử dụng bảng liệt kê ( check list ) và biến thể • Phân tích báo cáo tài chính • Sử dụng lưu đồ ( Flow – Chart ) • Giao tiếp trong nội bộ tổ chức • Giao tiếp với các tổ chức chuyên nghiệp • Phân tích hợp đồng • Nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ • Phân tích hiểm họa ( Hazard Analysis ) Các loại rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán II) Trước khi lựa chọn kênh đầu tư phù hợp, nhà đâu tư yếu tố rủi ro nhằm đưa ra ̀ chiến lược kinh doanh hiệu quả. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, nhà đâu tư ̀ chấp nhận mức rủi ro cao (risk takers) có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn , nhà đâu tư chấp nhận mức độ rủi ro thấp (risk averse). Tuy nhiên, không phải r ủi ro nào, ̀ nhà đâu tư cũng có thể kiểm soát được. Rủi ro hệ thống không phân tán được, trong khi ̀
  4. rủi ro không hệ thống có thể giảm thiểu bằng cách tái cơ cấu và đa dạng hoá danh mục đầu tư. 1. Rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống , không thể đa dạng hóa ( Nondriversifiable ) là rủi ro tác động tới hầu hết các tài sản đầu tư do đó việc đa dạng hóa danh mục đầu tư không có ( hoặc hầu như không có ) tác dụng giảm thiểu tổn thất . Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết tài chính ,chứng khoán. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như GDP sụt giảm, lãi suất biến động, tốc độ lạm phát thay đổi... là những ví dụ về rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến sự dao động giá của các chứng khoán trên thị trường , rủi ro hệ thống được chia làm 4 loại . 1.1 Rủi ro thị trường Một biểu hiện của rủi ro thị trường là việc giá cổ phiếu của doanh nghiệp có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn, mặc dù thu nhập của công ty không thay đổi . Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau, nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung, hay về một nhóm cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu chủ yếu là do kỳ vọng của nhà đầu tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của nhà đầu tư đối với các sự kiện hữu hình hay vô hình. Sự chờ đợi đối với chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của các công ty có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn cổ phiếu giảm giá. Nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình, như sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, còn các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây nên nỗi sợ hãi cho các nhà đầu tư và có thể dẫn tới hiện tượng tháo chạy, tạo nên phản ứng dây chuyền, làm tăng vọt số lượng bán khiến giá chứng khoán rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp nhà đầu tư mua vào nhiều khi có những sự kiện bất thường xảy ra, lúc đó giá chứng khoán sẽ tăng lên. Tiêu biểu trong thời gian qua là việc sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán Châu Á nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng sau khi Nhật Bản gặp phải thảm họa động đất , sóng thần và hạt nhân . Thị trường lao dốc mạnh nhiều phiên khi các tin xấu được đưa ra và rất nhiều cổ phiếu đã giảm tới mức dưới mệnh giá mặc dù tình hình hoạt động kinh doanh của công ty khá tốt trong năm vừa qua . Động thái giảm mạnh của thị trường được nhiều nhà đầu tư cho rằng xuất phát từ 2 lý do chính :  Một là, do ảnh hưởng tiêu cực từ thảm họa từ Nhật Bản, nhà đầu tư lo ngại nhiều khả năng Nhật Bản sẽ cắt giảm viện trợ ODA, FDI đối với Việt Nam và doanh số đối với các doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản cũng giảm đáng kể
  5.  Hai là, lo ngại của nhà đầu tư về mức lạm phát cao khi có những thông tin dự báo chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 có thể tăng lên tới 3%. Giải pháp Để ổn định lại thị trường chứng khoán, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về quản lý, kiểm soát tín dụng và thông tin, trong đó có việc hỗ trợ sức cầu và tăng cường hiệu quả cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn.  Các giải pháp kiểm soát lạm phát hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cần có "độ trễ" để phát huy tác dụng, tránh gây "sốc" với doanh nghiệp và nền kinh tế. Đối với vấn đề tỷ giá, cần tiếp tục cho đồng Việt Nam lên giá hơn so với hiện nay để giảm sức ép mua ngoại tệ và kích thích nhập khẩu, từ đó giảm sức ép lạm phát và thúc đẩy cải cách hoạt động xuất khẩu.  Ngân hàng Nhà nước cần đẩy mạnh hơn việc mua vào ngoại tệ trong thời hạn ít nhất một tháng, trong đó ưu tiên mua ngoại tệ là kiều hối, vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư chiến lược và đầu tư vào thị trường chứng khoán, ông Vũ Bằng nhấn mạnh.  Phát huy chính sách kiểm soát tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhưng cho rằng cần có sự điều chỉnh trong tổng mức tín dụng cho phép để nới lỏng kênh cho vay chứng khoán, từ đó hỗ trợ cho thị trường chứng khoán không bị "tổn thương" quá mức.  Đặc biệt, ổn định tâm lý cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, vì tâm lý là yếu tố tác động mạnh đối với sự đi xuống của thị trường chứng khoán trong thời gian vừa qua. 1.2 Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk ) Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không phân tán được khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Rủi ro lãi suất là loại rủi ro nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, như các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại chứng khoán có rủi ro. Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là không rủi ro. Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn không rủi ro. Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất. Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường. Ví dụ, khi ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát hành thêm chứng khoán đế bù đắp, như
  6. vậy sẽ làm tăng mức cung chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ mua các trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại chứng khoán khác đang được lưu hành. Nếu giả sử, lãi suất trái phiếu chính phủ tăng từ 12 lên 12,5% thì những người đang nắm giữ trái phiếu có lãi suất 12% sẽ bị thiệt hại do giá chứng khoán giảm xuống. Vì lãi suất đã cố định là 12% ngay từ lúc phát hành nên những người nắm giữ chứng khoán chỉ có thể bán được nếu họ chịu giảm giá xuống tới mức đảm bảo cho lãi suất đáo hạn của những trái phiếu này đạt được mức 12,5%. Do lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở nên hấp dẫn hơn và các loại chứng khoán khác sẽ bị kém hấp dẫn đi. Hệ quả là, những nhà đầu tư sẽ mua trái phiếu Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, và do vậy lãi suất trái phiếu công ty cũng phải tăng lên. Lãi suất trái phiếu công ty tăng sẽ dẫn đến giá của các loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi giảm xuống như một phản ứng dây chuyền. Như vậy, ta thấy có một cơ cấu hợp lý về lãi suất do các loại công cụ có liên hệ với nhau. Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Hệ quả trực tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống; tương tự, lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của các loại chứng khoán tăng lên. Ngoài hệ quả trực tiếp đối với giá chứng khoán, lãi suất chuẩn còn có ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu thường. Thứ nhất, lãi suất chuẩn tăng hay giảm sẽ làm cho các giao dịch ký quỹ kém hấp dẫn đi hay hấp dẫn hơn. Thứ hai, rất nhiều công ty kinh doanh chủ yếu bằng vốn đi vay. Nhiều công ty khác, ví dụ các tổ chức tài chính, tham gia vào các hoạt động cho vay khi lãi suất tăng, các công ty vay nợ nhiều sẽ phải trích từ thu nhập của mình nhiều hơn để trả lãi, dẫn đến sự sút giảm thu nhập, cổ tức và giá cổ phiếu. Việc tăng lãi suất lại mang đến thu nhập cao hơn cho những người cho vay do nguồn thu chính của họ là lãi thu được từ các khoản cho vay. Đối với những công ty này thu nhập tăng lại làm cho cổ tức và giá cổ phiếu của nó tăng . Giải pháp  Kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua thời lượng • Điều chỉnh doanh mục đầu tư nhằm tạo ra thời lượng giúp kiểm soát tác động của lãi suất tới giá tài sản tài chính, đang nắm giữ , qua đó ổn định thu nhập kì vọng của danh mục đầu tư . • Xây dựng bối cảnh biến động lãi suất , có ứng xử tương ứng để khai thác mô hình thời lượng trong kiểm soát rủi ro .  Thực thi chiến thuật đầu tư năng động • Xuất phát từ cá chiến thuật căn bản : phân tích lãi suất đối sánh (benchmark ) , khai thác các cơ hội arbitrage , đánh cược với rủi ro – lãi suất . • Kết hợp các phân tích giá với DV01 , thời lượng và các phân tích khác • Dự đoán bối cảnh lãi suất • Xây dựng kịch bản • Điều chỉnh năng động danh mục đầu tư • Tìm kiếm và tận dụng các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi , vay vốn với lãi suất thấp, ổn định và loại trừ được rủi ro biến động tăng lãi suất 1.3 Rủi ro sức mua (Purchasing Power Risk )
  7. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư tài chính , chứng khoán , biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng, nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng. Nói cách khác, lợi tức thực tế của chứng khoán đem lại là kết quả giữa lợi tức danh nghĩa sau khi khấu trừ lạm phát. Như vậy, khi có tình trạng lạm phát thì lợi tức thực tế giảm. Nếu chúng ta coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó. Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua. Giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng gọi là lạm phát, giá cả hàng hoá giảm gọi là giảm phát, cả đều liên quan đến khái niệm rủi ro sức mua. Nguyên nhân chính của lạm phát là do giá thành sản phẩm và nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ tăng so với mức cung. Thứ nhất lạm phát tăng là do nhu cầu tăng lên khi nền kinh tế có nhiều công ăn việc làm hơn. Tại lúc này, mức cung không tăng kịp so với nhu cầu nhiều lên, các loại hàng hoá và dịch vụ sẽ phải được phân bổ theo một mức giá nào đó tăng lên mà làm cho cung cầu cân bằng tại đó. Thứ hai, lạm phát do tăng giá thành phẩm: Giá nguyên vật liệu và tiền công tăng lên, các nhà sản xuất cố gắng bù đắp lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá. Trong một môi trường kinh tế có nhiều công ăn việc làm, tiền công được trả cao thì giá cả hàng hoá sẽ tăng, ngược lại giá cả hàng hoá tăng cũng đòi hỏi tiền công tăng lên, chu trình này cứ lặp đi lặp lại. Như đã nói rủi ro sức mua thường đi kèm với sự thay đổi giá hàng hoá, dịch vụ thì câu hỏi đặt ra là sự thay đổi giá những hàng hoá cụ thể nào sẽ được coi là thước đo tính lạm phát. Thước đo thông dụng nhất sử dụng để xác định mức thay đổi giá cả hàng hoá, dịch vụ là chỉ số giá hàng tiêu dùng. Chỉ số này sử dụng một số loại hàng hoá và dịch vụ đại biểu để tính toán, gồm thức ăn, đồ dùng và rất nhiều các loại dịch vụ, từ y tế đến tiền học để tính toán. Xuất phát từ rủi ro sức mua, khi mua chứng khoán nhà đầu tư cần phải tính kèm cả lạm phát vào thu nhập kỳ vòng để bù đắp rủi ro sức mua, mức này được đo bằng % biến động giá. Sự cần thiết phải điều chỉnh thu nhập kỳ vọng theo những biến động giá cả có thể chứng minh bằng ví dụ đơn giản sau: giả sử bạn cho vay 100 đồng ngày hôm nay và được hứa trả 105 đồng vào cuối năm, lãi suất là 5%. Tuy nhiên nếu giá cả trong năm tăng lên tới 6%, khi đó 105 đồng nhận được vào cuối năm sẽ chỉ có sức mua bằng khoảng 98 đồng so với đầu năm. Như vậy, bạn phải cộng thêm tỷ lệ lạm phát vào lãi suất, tức là thành 11% để cuối năm bạn nhận được lãi suất thực là 5%. Cũng giống như lãi suất có ảnh hưởng đến giá của tất cả các loại chứng khoán (rủi ro lãi suất), sự thay đổi sức mua cũng làm ảnh hưởng đến chúng. Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng dự kiến vào năm sau tăng lên thì mức thu nhập đối với chứng khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên tương ứng. Điều đó sẽ tác động đến giá của các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu công ty, nếu lãi suất hay tỷ suất cổ tức từ những loại giấy tờ có giá này tăng theo mong đợi thì giá của chúng sẽ cao và thu hút càng nhiều nhà đầu tư. Giải pháp
  8. Áp dụng các biện pháp hạn chế lạm phát của thi trường 1.4 Rủi ro về tỷ giá hối đoái Trong thời gian gần đây, chúng ta đã mở cửa nền kinh tế thị trường đẩy mạnh giao lưu kinh tế với thế giới. Trong công cuộc này, hệ thống ngân hàng luôn là chiếc cầu nối quan trọng nhất cho mọi hoạt động kinh tế với bên ngoài.. Hoạt động tài chính quốc tế và các nghiệp vụ liên quan tới ngoại hối do vậy ngày càng chiếm vị trí quan trọng . Từ lâu, người ta nhận định rằng ngoại hối là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất , nó chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng . Điều đáng lưu ý ở đây là những hoạt động liên quan tới ngoại hối bản thân nó đã tiềm ẩn vô số những rủi ro cho bất kỳ ai tham gia. Rủi ro ngoại hối trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro ngoại hối cũng ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn , có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp . Sự sụp đổ của ngân hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống- kinh tế- chính trị và xã hội của một nước. Rủi ro hối đoái trong đầu tư tài chính là rủi ro đe dọa lợi tức đầu tư vào tài sản tài chính , bắt nguồn từ biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền thể hiện trên tài sản đầu tư với đồng tiền được nhà đầu tư lựa chọn tính toán lợi ích và lưu giữ giá trị . Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá. Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng.Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc gia (multinational corporations) hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư đa dạng hoá trên bình diện quốc tế. Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằng các loại đồng tiền khác nhau. Trong điều kiện tỷ giá hối đoái không được dự báo chắc chắn về chiều hướng biến động , thì rủi ro hối đoái thể hiện đặc trưng rõ ràng của rủi ro suy đoán. Giải pháp  Né tránh mua và / hoặc bán khống các tài sản tài chính ghi bằng các đồng tiền dự báo biến động bất lợi  Quan hệ mật thiết với các tổ chức kinh doanh ngoại hối  Tái cấu trúc danh mục đầu tư triệt tiêu tác động của tỉ giá tới RET bình quân của danh mục đầu tư  Bán tài sản nhằm hạn chế tổn thất do rủi ro hối đoái  Đa dạnh hóa danh mục đầu tư  Sử dụng hoán đổi SWAP tiền tệ 2. Rủi ro phi hệ thống (Nonsystematic Risks ) Rủi ro phân tán được, tức rủi ro phi hệ thống là một phần rủi ro đầu tư mà nhà đầu tư có thể loại bỏ được nếu nắm giữ một số loại chứng khoán đủ lớn. Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó. Các yếu tố này có thể là
  9. những biến động về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chính phủ. Vì hầu hết các nhà đầu tư có hiểu biết tối thiểu đều có thể loại bỏ rủi ro có thể phân tán được bằng cách nắm giữ một danh mục đầu tư đủ lớn từ vài chục đến vài trăm. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu lựa chọn chứng khoán một cách cẩn thận thì chỉ cần khoảng 15 chứng khoán là có thể làm nên một danh mục đầu tư loại bỏ được hầu hết rủi ro có thể phân tán được. 2.1 Rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro xuất phát từ tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức. VD : nếu lợi nhuận dự kiến tăng 10% hàng năm trong những năm tiếp theo, rủi ro kinh doanh sẽ cao hơn nếu như lợi nhuận tăng tới 14% hay giảm xuống 6% so với lợi nhuận nằm trong khoảng 9-11%. Rủi ro kinh doanh có thể được chia làm hai loại cơ bản: Bên ngoài và nội tại :  Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty. Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể hiện qua hiệu quả hoạt động. rủi ro nội tại được giảm xuống do sự trải rộng về sản phẩm hay loại sản phẩm. Phạm vi của những thay đổi lên xuống trong tổng thu nhập dẫn đến sự thay đổi trong lợi nhuận có thể được gọi là rủi ro nội tại. Nếu có một sự sụt giảm trong thu nhập từ một loại sản phẩm có thể được bù đắp bằng một loại sản phẩm khác, làm cho tổng thu nhập không thay đổi thì có thể coi là công ty đã sử dụng việc đa dạng hoá sản phẩm để bảo vệ mình chống lại rủi ro kinh doanh. Sự sút giảm về thu nhập có thể giảm thiểu trong tác động vào lợi nhuận thông qua sự cắt giảm chi phí và sản xuất.  Mỗi công ty có một kiểu rủi ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu tố môi trường kinh doanh cụ thể của công ty. Các yếu tố bên ngoài, từ chi phí tiền vay đến sự cắt giảm ngân sách, từ mức thuế nhập khẩu tăng đến sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh. .., và có lẽ yếu tố quan trọng nhất là chu kỳ kinh doanh. Doanh số của một số ngành công nghiệp thép, ô tô có xu hướng bám sát chu kỳ kinh doanh trong khi doanh số của một số ngành khác lại có xu hướng đi ngược lại. Các chính sách chính trị cũng là một phần của rủi ro bên ngoài, các chính sách tiền tệ và tài khoá có thể làm ảnh hưởng đến thu nhập thông qua tác động về chi phí và nguồn vốn. Giải pháp Áp dụng một số công cụ phái sinh tiền,lãi suất và tín dụng để phòng ngừa rủi ro ổn định kinh doanh của doanh nghiệp 2.2 Rủi ro tài chính Rủi ro tài chính là một loại rủi ro không hệ thống liên quan đến đòn bẩy tài chính, lên quan đến việc công ty tài trợ vốn cho hoạt động của mình . Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty. S ự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi phải được thanh toán cho chủ nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông nên nó có tác động
  10. lớn đến thu nhập của họ. Công ty phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gồm tr ả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến giá cả cổ phiêu cua công ty. ́ ̉ Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếu thường. Cụ thể là, việc sử dụng tỷ lệ vay nợ gây những hệ quả quan trọng đ ối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến động trong thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và làm tăng rủi ro của họ. Cách đơn giản và trực tiếp nhất để nhân dang rui ro tai chinh là liệt kê từng nhân ̣ ̣ ̉ ̀ ́ tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro. Rủi ro tài chính thường bắt nguồn từ việc th ực hiện các giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính như: mua bán, đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác; nhưng cũng có thể là hệ quả gián tiếp của sự thay đ ổi các chính sách của Chính phủ, các biến cố chính trị trong nước và quốc tế, hoặc có thể do tác động của thiên tai,... Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó. Các yếu tố này có thể là những biến động về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chính phủ. VD : Giả sử chúng ta có hai công ty có hoạt động kinh doanh như nhau, chỉ khác nhau về cơ cấu vốn: Công ty C, nguồn vốn hoàn toàn từ 1 triệu cổ phiếu thường, bán với giá 20 đôla/1cổ phiếu. Công ty khác, công ty D, có nguồn một nửa là t ừ cổ phi ếu thường 500.000 cổ phiếu, bán với giá 20 đô la/ cổ phiếu và một nửa là từ vay n ợ 10 triệu USD với lãi vay là 5%. Như vậy, tài sản có của mỗi công ty là 20 triệu USD, d ự kiến sẽ có lợi nhuận 1 triệu USD, hay là 5% trên tổng tài sản. Chúng ta gi ả s ử r ằng không có thuế thu nhập công ty. Thu nhập 1 triệu USD có thể dễ dàng chuyển đổi sang thu nhập cho mỗi cổ phiếu. Công ty C sẽ có lãi 1 đô la/1 cổ phiếu. Công ty D ph ải tr ả lãi 500.000 đô la và phần còn lại chia cho cổ phiếu cũng được lãi 1 đô la/1cổ phiếu. Tại điểm này, cả hai công ty đều có mức thu nhập trên cổ phiếu là 1 đô la. Như vậy ta không thấy có hệ quả của việc vay nợ đối với thu nhập của cổ đông. Nhưng nếu năm tiếp sau đó, lợi nhuận cả hai công ty tăng thêm 50%, vậy trong trường hợp của công ty D, cổ đông được hưởng thêm 1 đôla/cổ phiếu nhiều hơn cổ đông của công ty C chỉ được hưởng thêm 0,5 đôla/cổ phiếu, vì lợi nhuận D lúc đó là 1,5 triệu USD mà vẫn chỉ phải trả lãi suất 5% trên số tiền cho vay. Ngược lại, nếu lợi nhuận giảm 50% sẽ làm cho lợi nhuận trên 1 cổ phiếu của công ty C giảm xuống 50% từ 1 đô la xuống 0.5 đô la nhưng lợi nhuận trên một cổ phiếu của Công ty D sẽ giảm từ 1 xuống 0. Qua đó chúng ta thấy được những hậu quả trực tiếp mà rủi ro tài chính gây ra cho thu nhập của nhà đầu tư chứng khoán. Giải pháp Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay. Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công ty không vay nợ chút nào. Nhà đâu tư nên chọn lựa cổ phiếu của cách doanh nghiệp đang mạnh và tương đối ít ̀ rủi ro, loại khỏi danh mục đầu tư những doanh nghiệp có nhiều nguy cơ suy yếu hay phá sản ví dụ như nợ quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém, công nghệ lỗi thời...
  11. 2.3 Rủi ro tín dụng Tín dụng có thể hiểu là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định từ chủ thể này sang chủ thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả . Không ai trong chúng ta có thể phủ nhận vai trò , chức năng mà tín dụng đem lại , có ảnh hưởng lớn tới vĩ mô . Chức năng của tín dụng  Tập trung , phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả , giúp cho phần lớn nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được sử dụng vào sản xuất , kinh doanh , đ ời sống , tăng hiệu quả sử dụng .  Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội thông qua những vi ệc nh ư : sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt ; thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng như chuyển khoản hoặc thanh toán bù trừ ; huy động nguồn vốn nhàn rỗi sử dụng cho các nhu cầu vốn trong sản xuất , l ưu thông hàng hóa , ti ết kiêm chi phí huy động vốn cho doanh nghiệp .  Phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp thông qua sự gắn liền giữa sự vận động của vốn tín dụng với sự vận động của hàng hóa , vật tư , chi phí … đ ồng thời kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua quá trình thẩm định trước , trong khi cho vay và kiểm tra sau khi cho vay Vai trò tín dụng : Thúc đẩy sản xuất , lưu thông hàng hóa ; ổn đinh tiền tệ , giá cả ; ổn định đời sống , xã hội ; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế … Tuy nhiên rủi ro cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro không bên nào mong muốn, rủi ro có thể xảy ra trong cả tín dụng nhà nước, tín dụng thương mại cũng như tín dụng ngân hàng . Rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính . Đó là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán . Thường thì người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng , cho vay tín dụng có thể là mua bán chịu hàng hóa trong tín dụng thương mại , cho vay tiền tệ trong tín dụng ngân hàng , hoặc việc cho vay hoặc đi vay của nhà nước để thực hiện chức năng và quản lí kinh tế vĩ mô trong tín dụng Nhà nước. Nói chung , bất kì một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng . Đối với người cho vay , rủi ro tín dụng thể hiện khả năng tổn thất do người đi vay không hoàn trả đúng hạn số tiền vay và / hoặc lãi vay theo thỏa thuận , Đối với nhà đầu tư vào chứng khoán nợ , rủi ro tín dụng thể hiện khả năng tổn thất do người phát hành ( hoặc người bảo lãnh ) chứng khoán nợ mất một phần hoặc toàn bộ khả năng thanh toán lãi và / hoặc gốc khi chứng khoán đến nợ thanh toán . Giải pháp  Từ chối tham gia đầu tư vào tài sản tài chính của các đôi tác nằm dưới tiêu chuẩn tín dụng  Từ bỏ các tài sản tài chính của các đối tác được dự báo suy giảm chất lượng  Tái cơ cấu danh mục đầu tư định hướn ưu tiên an toàn
  12. Thoái vốn trong kịch bản thảm họa  Đa dạng hóa danh mục đầu tư  Tận dụng trợ giúp chính phủ sửa đổi hiểm họa rủi ro tín dụng  Tận dụng các chính sách ưu đãi chia tách tương tác hiểm họa và môi trường  rủi ro tín dụng 2.4 Rủi ro do tính thanh khoản thấp (Liquidity risk) Rui ro tính thanh khoản thấp của chứng khoán mà nhà đầu tư đang sở hữu là ̉ rui ro xay ta khi chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được, hoặc không ̉ ̉ được phép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư. Thật không may cho nhà đầu tư chứng khoán, khi vì một lý do nào đó, chứng khoán đã mua là của một công ty có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển vọng cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm thiếu hiệu quả vững chắc. Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu...có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu. Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy của ngân hàng. Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, nhà đâu tư dứt khoát phải xem xét đến khả năng bán lại trước khi chúng đáo hạn để ̀ tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu. Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, khó khăn trong viêc đôi chứng khoan thanh tiên măt , ̣ ̉ ́ ̀ ̀ ̣ nhà đâu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn. Rủi ro về thanh khoan thường ̀ ̉ được giải nghĩa theo tỉ lệ khả năng thanh khoan có sẵn và số yêu cầu về ngân quỹ. ̉ Đi vào chi tiết hơn, nhà đâu tư kinh doanh chứng khoán thường gặp phải rủi ro ̀ về thanh khoản khi thị trường có biến động mạnh hoặc do bản thân cổ phiếu không thể mua hoặc bán. Chúng ta đã chứng kiến những phiên giao dịch mà nhà đâu tư bán cổ ̀ phiếu với giá sàn không ai mua hay chào mua giá trần mà không ai bán. Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư. Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính lỏng chứng khoán, nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu, nhà đầu tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là những cổ phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường (được đánh giá cao hơn các cổ phiếu có cùng lợi tức). Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chia tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới. Nhân dang thông qua viêc xem xet nhân tố gây ra rui ro tinh thanh khoan thâp cho ̣ ̣ ̣ ́ ̉ ́ ̉ ́ nhà đâu tư ̀ Nhà đầu tư chứng khoán cũng có thể chịu rủi ro do bỏ hết trứng vào một giỏ.
  13. Thậm chí, việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5 năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro, nhất là khi cần tiền để trả lãi vay ngân hàng hoặc muốn rút vốn về để đầu tư vào chỗ khác. Thậm chí, chỉ cần một sự thay đổi nhân sự cấp cao trong công ty cũng có thể khiến giá chứng khoán đó sụt giảm. Và rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty phát hành chứng khoán bị phá sản và biến mất trên thị trường . Sự biên đông liên tuc cua thị trường là môt nhân tố anh hưởng lớn đên tinh thanh ́ ̣ ̣ ̉ ̣ ̉ ́ khoan cua chứng khoan. Ngay cả những chứng khoán tốt nhất cũng có thể không giữ ̉ ̉ ́ vững được vị thế lâu dài trước sự biến động của thị trường. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán này có thể phải hứng chịu cả hai thiệt hại dạng khấu hao hữu hình và khấu hao vô hình giá trị và tính thanh khoản của các chứng khoán đang nắm giữ. *Ví dụ Trên Shocknews có nhận định của công ty Cổ phần Chứng khoán ACB - ACBS về khả năng diễn biến thị trường ngày 14/4/2011: Rủi ro thanh khoản vẫn duy trì như sau: “Trong thời điểm này, nhà đầu tư đang hết sức thận trọng với thị trường. Trong đó có nhiều nhà đầu chọn giải pháp đứng ngoài thị trường và đ ầu t ư vào những sản phẩm ít rủi ro hơn như là gửi tiết kiệm. Có một vài lý do giải thích cho xu hướng tâm lý này: (1) những yếu yếu tố bất ổn từ kinh tế vĩ mô vẫn còn rình rập (2) ngân hàng nhà nước đang tiếp tục chính sách tiền tệ thắt chặt làm tăng lãi suất và giảm cung ti ền (3) sự kì vọng của nhà đầu tư với thị trường chứng khoán sẽ còn rất thấp trong thời gian sắp tới (4) các cổ phiếu blue chip đang đi vào sóng điều chỉnh và có khả năng đẩy thị trường xuống sâu. Thêm vào đó, rủi ro thanh khoản vẫn tiếp tục duy trì trên cả hai sàn. Vào cuối phiên giao dịch, khối lượng giao dịch trên VN-Index tăng 27,8%. Tuy nhiên, đây là một mức tăng không bền vững vì lực tăng này chủ yếu dựa vào các giao d ịch thỏa thuận. Thêm vào đó, mặc dù tăng 27,8%, thanh khoản của sàn HSX vẫn duy trì ở mức th ấp. Trong khi đó, giao dịch khớp lệnh trên sàn HNX chỉ tăng 6,700 cổ phiếu, một mức rất thấp”. Giải pháp  Né tránh các tài sản tính thanh khoản thấp  Quản trị thông tin hoạt động của tổ chức phát hành , bảo lãnh , thông tin giao dịch thị trường  Sử dụng công cụ phái sinh thiết lập giao dịch trước thời điểm đóng băng giao dịch  Chú ý tới rủi ro thanh khoản đối với trái phiếu khả hoán , cổ phiếu chưa niêm yết  Chú ý khả năng tích hợp rủi ro thanh khoản với rủi ro lãi suất , rủi ro tín dụng và rủi ro khác 2.5 Rủi ro thông tin Là những rui ro xay ra khi nhà đâu tư năm băt thông tin sai lêch, không kip ̉ ̉ ̀ ́ ́ ̣ ̣ thời từ phia thị trường, công ty phat hanh cổ phiêu, công ty chứng khoan ... ́ ́ ̀ ́ ́
  14. Thật hiếm có hoạt động kinh doanh nào mà sự thành bại của nhà đầu tư lại đòi hỏi và gắn liền với yêu cầu về tính đa dạng, tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác của các thông tin có liên quan trực tiếp và gián tiếp như đầu tư chứng khoán Chân dung nhà đầu tư chứng khoán điển hình là người luôn háo hức trước mọi tin đồn và hăng hái góp phần vào tin đồn, luôn cảnh giác đ ề phòng và cũng r ất nh ẹ dạ, cả tin và nhạy cảm; quen biết nhiều, nhưng không kết bạn thân với ai trong làng chứng khoán. Và trong số họ, ai nắm được thông tin tốt hơn cả thì sẽ dễ dàn chiến thắng và giảm thiểu được nhiều rủi ro . Nói cách khác, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có nguồn gốc rất sâu đậm từ số lượng và chất lượng thông tin mà nhà đầu tư cần để làm cơ sở đưa ra các quyết định đầu tư. Rủi ro luôn rình rập ở mọi nơi và nhà đầu tư sẽ phải trả giá sớm hay muộn, đắt hay rẻ, khi không nắm được các thông tin chính xác nhất, đầy đủ và kịp thời nhất liên quan đến môi trường đầu tư, chất lượng chứng khoán và tình hình thị trường... Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên cùng sân chơi, hoặc đơn giản là về tình hình thời tiết hay dịch bệnh nào đó... đều có thể gây ra thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư chứng khoán. Các cơ quan chính phủ có thể ban hành nhiều loại chính sách khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà đầu tư, ví dụ như: mức thuế cho lợi nhuận từ đầu tư, các qui định về việc được mua bán những gì hay không được mua bán những gì, có được giữ ngoại tệ hay chuyển tiền ra nước ngoài không... Các chính sách đó có thể khiến cho các nhà đầu tư không thực hiện được các chiến lược đầu tư mà đáng nhẽ có thể thực hiện được. Đặc biệt là khi chính sách đột ngột thay đổi, thì nhà đầu t ư không năm băt thông ́ ́ tin kip thời có thể bị mắc kẹt trong các đầu tư, thậm chí trở nên phạm pháp nếu không ̣ kịp thời thay đổi theo chính sách. Nguyên nhân gây ra rui ro thông tin từ thị trường và từ công ty phat hanh chứng ̉ ́ ̀ ́ khoan - Làm giả các số liệu tài chính, đánh bóng công ty - Che giấu không cho các nhà đầu tư biết các rủi ro hay các tin xấu - Rút ruột công ty - Trò Ponzi: hút tiền của các nhà đầu tư mới để trả cho các nhà đầu tư cũ và một phần đút túi, chứ doanh nghiệp không tạo lợi nhuận thật sự - Lũng đoạn giá chứng khoán trên thị trường - Giao dịch nội gián - Cò mồi kích động các nhà đầu tư mua bán bằng các tin đồn, phân tích rởm, Trong tất cả các vụ lừa đảo như vậy, thì người bị thiệt hại là các nhà đ ầu tư. Một khi các nhà đầu tư đã bị lừa đảo mất tiền, thì rất ít khả năng đòi lại đ ược số ti ền bị mất đó. *Ví dụ về rui ro thông tin ̉ Giao dich mua ban cổ phiêu quỹ cua chinh tổ chức niêm yêt là môt thông tin quan ̣ ́ ́ ̉ ́ ́ ̣ trong bởi thông tin nay liên quan trực tiêp đên hoat đông kinh doanh cua tổ chức và giá cổ ̣ ̀ ́ ́ ̣ ̣ ̉
  15. phiêu trên thị trường.Tuy nhiên, viêc công bố thông tin nay cua trung tâm giao dich chứng ́ ̣ ̀ ̉ ̣ khoan con chưa đây đu.Chăng han trong ban cao bach niêm yêt chứng khoan cua công ty ́ ̀ ̀ ̉ ̉ ̣ ̉ ́ ̣ ́ ́ ̉ Cổ phân chế biên hang xuât khâu Long An (LAFOOCO) ghi rõ cơ câu sở hữu cổ phân cua ̀ ́ ̀ ́ ̉ ́ ̀ ̉ công ty như sau: - Nhà nươc: 30% ́ - Can bộ công nhân viên trong công ty: 16,43% ́ - Cổ đông ngoai công ty:23,57% ̀ - Cổ đông nươc ngoai: 30% ́ ̀ Trong cơ câu sở hữu nay không có công ty cổ phân chế biên hang xuât khâu Long ́ ̀ ̀ ́ ̀ ́ ̉ An, như vây LAFOOCO không có cổ phiêu quy.Tuy nhiên, LAFOOCO lai đăng ký và đã ̣ ́ ̃ ̣ thực hiên ban lai 30.470 cổ phiêu quỹ và thông tin nay được đăng trên tờ ban tin thị ̣ ́ ̣ ́ ̀ ̉ trường cua Trung tâm giao dich chứng khoan ngay 12/12/2000. ̉ ̣ ́ ̀ Giải pháp Nhà đâu tư nên tránh xa các cổ phiếu nhỏ, ít thông tin, ít người quan tâm, tr ừ khi ti ếp ̀ cận được với các giám đốc điều hành đang tin cậy của các công ty đó vì chứng khoan ́ cua công ty càng nhỏ, càng ít thông tin hoăc thông tin không chinh xac. ̉ ̣ ́ ́ Khi cổ phiếu đang giữ là của doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo, thì loại nó khỏi danh mục đầu tư, kiểm tra lại cẩn thận trước khi quyết định có nên đầu tư vào lại cổ phiếu đó không. Đi theo một cách hợp lý những trào lưu trên thị trường trên cơ sở bạn có thông tin thật sự, chứ không phải chỉ là “a dua”, chỉ ngừng đi theo thị trường khi bạn chắc chắn rằng xu hướng đó đã qua đi. Nhà đâu tư nên biết mình đang làm gì, tin tưởng vào vi ệc mình ̀ làm, không để người ngoài kích động Xây dựng khả năng tự phân tích và thu thập thông tin, tự xác định được giá trị của các cổ phiếu, để khỏi bị các cò mồi kích động. Xây dựng trước các tình huống có thể xảy ra, và tính trước là nếu gặp tình huống nào thì xử lý thế nào, để khỏi hoang mang thụ động Kỷ luật trong đầu tư: có chiến lược và qui trình rõ ràng, và tuân thủ theo nó, không đầu tư theo cảm tính, theo tham lam hay sợ hãi. Có kiểm soát: cần có người kiểm soát nếu một mình đầu tư thì không có ai kiểm soát, làm bậy cũng không ai ngăn chặn, dễ xảy ra các hành động điên rồ gây thiệt hại. Những người phân tích đầu tư phải giữ được khách quan trong phân tích, không bị cái trạng thái đầu tư làm mất khách quan, trở nên wishful thinking. Để tăng tính khách quan, thì người phân tích và người thực hiện đầu tư phải là hai người khác nhau. 2.6 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của các sàn, trung tâm giao dịch và công ty chứng khoán Vì yêu cầu đặc thù đòi hỏi bắt buộc phải thông qua các tổ chức trung gian, môi giới trong kinh doanh chứng khoán, nên các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải chịu những rủi ro liên quan đến các quy định, quy trình nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ của các tổ chức trung gian này, điển hình là các rủi ro liên quan đến việc tổ chức khớp lệnh và phân lô giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có tổ chức.
  16. - Hình thức khớp lệnh định kỳ gây rủi ro cho nhà đầu tư vì họ không thể hủy ngang lệnh đã đặt mua hàng bán trước khi kết thúc phiên khớp lệnh, bất chấp nh ững biến động mới bất lợi trên thị trường cho họ, nếu họ không muốn chịu phạt về sự thay đổi quyết định này. Khớp lệnh định kỳ cũng có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư vì dễ gây tình trạng cung – cầu ảo trên thị trường và cả tình trạng nghẽn mạch, quá tải hoặc phân biệt đối xử theo kiểu bỏ rơi nhà đầu tư nhỏ ở các sàn, trung tâm và công ty ch ứng khoán. Tuy vậy, việc khớp lệnh định kỳ có thể tạo cơ hội để nhà đầu tư giảm bớt thiệt hại khi hủy lệnh đã đặt sau khi khớp lệnh đối với các chứng khoán còn d ư ch ưa x ử lý hết trong phiên giao dịch gần nhất mà họ tham dự. - Khớp lệnh liên tục là giao dịch trên cơ sở khớp liên tục các lệnh mua – bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch, không phải chờ đến thời điểm định kỳ như kiểu khớp lệnh định kỳ. Trong nguyên tắc xử lý khớp lệnh liên tục này thì quyền ưu tiên luôn dành cho các lệnh mua có mức giá cao hơn và các lệnh bán có mức giá thấp hơn. Trường hợp các lệnh mua và bán có đồng mức giá thì quyền ưu tiên sẽ dành cho lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước. Việc tổ chức khớp lệnh liên tục cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh thận trọng, chính xác hơn, được giải quyết nhu cầu mua – bán nhiều hơn, nhanh chóng, bình đẳng hơn và giảm thiểu tình trạng cung – c ầu ảo trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh những ưu điểm trên, việc khớp lệnh liên tục có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư theo 2 cách: hoặc rủi ro vì lệnh mua – bán của họ bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác có lệnh tương tự nên không thực hiện đ ược s ớm hoặc hết các lệnh đã đặt (thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh khi khớp lệnh định kỳ thường chỉ khớp được khoảng 60% số lệnh đã được nhập vào hệ thống); hoặc rủi ro vì họ buộc phải mua – bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị tr ường thời điểm hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức l ệnh đã đặt. Sở dĩ có sự rủi ro này là vì trong quy trình khớp lệnh liên tục sử dụng loại “lệnh thị trường” – gọi tắt là MP. Lệnh này có nghĩa là lệnh mua tại mức giá thấp nhất (sàn) hoặc lệnh bán tại mức giá cao nhất (trần) trên thị trường. Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc trên mà khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa thực hiện hết, thì MP sẽ được xem là lệnh bán tại mức giá thấp hơn tiếp theo hiện hành trên thị trường. Do thực hiện nguyên tắc ưu tiên khi khớp lệnh là: bán ở mức giá thấp, mua ở mức giá cao, nên thiệt hại cho nhà đầu tư đặt lệnh bán sẽ càng lớn nếu giá bán được ngày một giảm trong quá trình khớp lệnh này vì lệnh mua sẽ khớp số lượng bán với bất kỳ giá nào cho đến khi đủ số lượng. Khi đó, nhà đầu tư dễ bị lâm vào tình trạng mua vào ở giá trần và bán ra ở giá sàn. Trong khớp lệnh liên tục, hiệu lực lệnh của nhà đầu tư trong nước được tính từ khi lệnh được nhập vào hệ thống cho đến khi kết thúc ngày giao dịch, hoặc bị hủy bỏ. Riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài, nếu lệnh mua nhập vào hệ thống không đ ược khớp, hoặc chỉ được khớp một phần vào thời điểm, thì sẽ bị hủy, sau đó nhà đ ầu t ư muốn mua thì phải tiếp tục đặt lệnh trở lại.
  17. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán còn có thể phải đối diện với các rủi ro gắn với sự điều chỉnh quy định về số lượng giao dịch cổ phiếu thực hiện, cụ thể từ mức 10 cổ phiếu trước đây, đã nâng lên tối thiểu 100 cổ phiếu mỗi lô giao d ịch trong quá trình khớp lệnh liên tục ở Thành phố Hồ Chí Minh. Các rủi ro đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ có thể gồm: - Không thể xé nhỏ các khoản đầu tư như trước, vì đã “bỏ hết trứng vào một giỏ”. - Không có cơ hội mua các hàng - chứng khoán tốt vì chúng chỉ đ ược giao dịch theo lô lớn. - Chịu thiệt hại do phải là người “bán lẻ”, “mua lẻ” với giá thấp hơn (tới 10%) so với các nhà đầu tư có số lượng cổ phiếu đủ lô quy định, trong khi đó họ cũng không có cơ hội mua lẻ thêm cổ phiếu (giả sử đã có 90) để làm tròn 100 cổ phiếu cho đ ủ lô theo quy định. - Chịu nhiều cảnh phân biệt đối xử khác khi thụ hưởng các dịch vụ chứng khoán nếu vẫn muốn là người trực tiếp đầu tư, không muốn thông qua các quỹ đ ầu t ư đ ại chúng, quỹ tín thác và các công ty chứng khoán… 2.7 Rủi ro đến từ các trấn động thị trường trong và ngoài nước Các nhà đầu tư chứng khoán (nhất là các nhà đầu tư nhỏ, lẻ) có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro liên quan đến các chấn động thị trường trong nước hoặc n ước ngoài, bởi: - Các trào lưu mua, bán chứng khoán theo tâm lý đám đông, đầy cảm tính và xúc cảm, làm phá vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường. - Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và t ự “đánh bóng”, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của một số nhà đầu tư chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh khác đủ tạo nên động thái thăng, trầm của thị trường để trục lợi. - Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài (cuộc khủng hoảng tài chính – tiền lệ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở châu Á là một thí dụ điển hình). Ngoài ra, các nhà đầu tư còn chịu các rủi ro liên quan đến động thái chính sách c ủa Chính phủ, chẳng hạn như: chính sách 2 giá trong phát hành cổ phiếu (giảm giá từ 20- 40% cho các nhà đầu tư chiến lược hoặc cán bộ, công nhân viên của công ty cổ phần hóa lần đầu); những thay đổi trong chính sách tỷ giá, lạm phát, tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong công ty cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư nước ngoài; chính sách xuất – nhập khẩu, độc quyền hoặc các quan hệ quốc tế song phương - đa phương v.v.. Một số biện pháp phòng ngừa III) Dù không được mong đợi, nhưng rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định đầu tư hay giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp và có thể biến những "giấc mơ ngọt ngào"
  18. của các ông chủ doanh nghiệp trở thành "quả đắng". Tùy theo mức độ, rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khánh kiệt, thậm chí phá sản. Vì vậy, trong hoạt động của mình, một điều hết sức quan trọng mà mọi doanh nghiệp cần phải luôn quan tâm, đó là: Quản trị rủi ro. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp doanh nghiệp , các nhà đầu tư triệt tiêu hoặc giảm thiểu những thiệt hại mà rủi ro có thể gây ra Giải pháp từ cơ quan quản lý  Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng cường giám sát thị trường • nâng cấp hiện đâị hóa hệ thống giao dịch và giám sát thị trường • tổ chức và hoàn thiện các hoạt động theo dõi kiểm tra thanh tra • xử lý hành vi vi phạm pháp luật  Thực hiện các giải pháp tăng cung kích cầu • mở rộng quy mô vốn , phạm vi hoạt động và loại hình nghiệp vụ • tăng cường vai trò của các tổ chức trung gian tài chính và các nhà đầu tư có tổ chức Giải pháp từ phía các nhà đầu tư  nhận diện rủi ro  tìm hiểu về thị trường chứng khoán  thuê tư vấn quản trị rủi ro  xây dựng chiến lược đầu tư hiệu quả • chiến lược đầu tư ngắn hạn • chiến lược đấu tư dài hạn • chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư: đa dạng hóa chứng khoán, đa dạng hóa tổ chức phát hành • chiến lược sử dụng đòn bẩy tài chính để đầu tư: tuân thủ việc cắt lỗ,  phân tích đánh giá tính rủi ro của sản phẩm đầu tư: các hệ số P/E, ROA, ROE, EPS… Giải pháp từ doanh nghiệp  Khai thác tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ tài chính của chính phủ cho doanh nghiệp Đứng trước các rủi ro lãi suất, rủi ro biến động tỷ giá, hay giá cả các loại hàng hoá,... doanh nghiệp phải tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi rủi ro xảy ra; điều kiện và khả năng tính toán mức thu lợi có thể đạt được,
  19. tính toán mức tổn thất có thể chấp nhận được trong trường hợp xảy ra biến động xấu trên thị trường. Tìm kiếm và tận dụng các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi. Hiện nay Chính phủ và các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức tài chính đều có các cơ chế hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thông qua hoạt động của: Ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ đầu tư do nhà nước thành lập, quỹ đầu tư của các địa phương, các chương trình mục tiêu của Nhà nước... Tại các tổ chức này, DNNVV có thể vay vốn với lãi suất thấp, ổn định và loại trừ được rủi ro biến động tăng lãi suất Thuê, mua tài chính từ các công ty cho thuê tài chính. Đây là một loại hoạt động tín dụng trung - dài hạn, tài trợ vốn thích hợp cho các DNNVV, với những ưu điểm cơ bản: Không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp, có thể được tài tr ợ đ ến 100% v ốn đầu tư, lãi suất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên, bên đi thuê không chịu rủi ro nếu lãi suất thị trường tăng... Khi kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản với giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài s ản t ại th ời điểm mua lại. Tuy hiện nay, cho thuê tài chính là một lĩnh vực còn mới mẻ ở nước ta (đến nay mới chỉ có 12 công ty cho thuê tài chính đăng ký hoạt động, gồm 8 doanh nghiệp Việt Nam và 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), nhưng trong tương lai, theo cam kết WTO, việc mở cửa, hội nhập trong lĩnh vực cho thuê tài chính sẽ dẫn đến nhiều công ty và tập đoàn kinh tế nước ngoài tham gia thị trường này tại Việt Nam. Vì vậy, đây sẽ là thị trường có điều kiện phát triển nhanh chóng và có thể là một sự lựa chọn tốt cho các DNNVV. Ngoài các cơ chế hỗ trợ tài chính trên, trong giai đoạn khởi sự, các DNNVV có thể tìm kiếm nguồn tài trợ từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Đến nay có gần 30 quỹ đ ầu t ư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với tổng vốn rót vào nội đ ịa khoảng 2 t ỷ USD, trong đó có một số công ty quản lý quỹ đầu tư tập chung chính vào thị tr ường Việt Nam như Vina Capital, Mekong Capital, Dragon Capital. Khi nhận được sự tài trợ từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, DNNNV còn nhận được sự hỗ trợ xây dựng bộ máy quản lý chuyên nghiệp. Tuy nhiên, để có thể huy động vốn thông qua hình thức này điều kiện đầu tiên và quan trọng đối với các DNNVV khởi s ự là phải chứng tỏ được sản phẩm của mình có hiệu quả, tiềm năng về thị trường sản phẩm, triển  Nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và phát huy sự trợ giúp của chuyên gia Trường hợp doanh nghiệp phải vay vốn, huy động vốn đầu tư với lãi suất thả nổi, điều DNNVV phải luôn chú ý đó là: kiểm tra các khoản nợ, duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn. Để phòng ngừa rủi ro, DNNVV cũng cần xây dựng cho mình một cơ cấu tài chính hợp lý, đảm bảo cân đối về tỷ lệ giữa vốn vay trên vốn chủ sở hữu, để luôn bảo đảm khả năng trả nợ.
  20. Trước khi quyết định vay vốn cần phải có sự nghiên cứu kỹ, đánh giá khả năng trả nợ, phải hoạch định được nguồn trả nợ, thời gian trả nợ và lãi suất hợp lý, tránh tình trạng vay mượn bằng mọi giá. Khi có điều kiện, hãy thanh toán sớm các khoản nợ, bởi vì lãi suất đi vay thường khá cao, việc thanh toán bớt các khoản nợ, sẽ giảm được chi phí, đồng thời có điều kiện quản lý tốt các khoản nợ còn lại , giảm thiểu rủi ro Hãy luôn luôn ghi nhớ "chữ tín là vàng". Trong các quan hệ giao dịch vay nợ cũng như mua, bán hàng hóa, góp vốn đầu tư… cần giữ "chữ tín”, để khi gặp rủi ro, doanh nghiệp sẽ vẫn có thể tìm kiếm được sự hỗ trợ của bạn hàng, đối tác… Đối với doanh nghiệp c ó phát minh, có sản phẩm mới, tạo dựng được thương hiệu uy tín cần đăng ký bảo hộ bản quyền và chú trọng duy trì thương hiệu của mình. Đối với các rủi ro phát sinh từ các giao dịch với các nhà cung cấp, khách hàng hoặc trong các liên doanh góp vốn đầu tư, để phòng ngừa rủi ro, trước khi ký kết các hợp đồng giao dịch, DNNVV nên tham vấn ý kiến của các chuyên gia, của các hội, hiệp hội để hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. DNNVV cũng có thể tìm đến các văn phòng luật sư để nhận sự trợ giúp pháp lý cho từng giao dịch. Chi phí luật sư tư vấn theo vụ việc chắc chắn sẽ thấp hơn chi phí thuê luật sư dài hạn và thấp hơn tổn thất có thể xảy ra trong trong trường hợp xảy ra rủi ro  Liên kết các DNNVV để tạo sức mạnh chống lại các rủi ro  Xác định quy mô hoạt động phù hợp với năng lực quản trị và xây dựng mô hình quản lý chuyên nghiệp Lời kết IV) Tài liệu tham khảo V) Http://www.dautuchungkhoan.com  http://vneconomy.vn/  http://vietbao.vn/  http://www.saga.vn/  

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản