
43
với chi phí tương ứng, nhưng thu cho Ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 10% trong tổng thuế
GTGT. Vì vậy chỉ nên áp dụng một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế.
Các hộ kinh doanh nếu không đủ điều kiện áp dụng phương pháp tính thuế này thì áp dụng
phương pháp kê khai trực tiếp hoặc khoán thuế. Nếu hộ kinh doanh quá nhỏ thì miễn thuế.
Để tiến tới chỉ sử dụng một phương pháp tính thuế, cần từng bước triển khai công tác kế
toán, hoá đơn chứng từ đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh để phân loại các cơ sở này
vào 3 nhóm nói trên.
2. Về thuế suất GTGT.
Chuyển 11 mức thuế suất thuế doanh thu xuống còn 4 mức thuế suất thuế GTGT đó là giải
pháp trước mắt, bước đệm để tiến tới chỉ dùng 2 mức thuế suất (trong đó thuế suất 0% áp
dụng đối với hàng hoá xuất khẩu). Với 4 mức thuế suất như hiện nay, ngành thuế liên tục
nhận được đơn xin giảm thuế và đã điều chỉnh giảm thuế đối với nhiều nhóm hàng. Nhưng
điều chỉnh giảm thuế tạo ra những phản ứng dây truyền, lan rộng, gây nhiều tiêu cực. Kinh
nghiệm các nước trong khu vực và trên thế giới chỉ áp dụng một mức thuế suất thuế GTGT
(không tính mức thuế suất 0%). Tuy nhiên để giảm số lượng thuế suất còn 2 mức, thì phải
bảo đảm các yêu cầu sau:.
Một là: Xác định mức thuế suất phải bảo đảm không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu của
Ngân sách Nhà nước, đồng thời phải nuôi dưỡng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Hai là: Mức thuế suất phải bảo hộ được sản xuất trong nước, do phải giảm thuế nhập khẩu
vào năm 2006 theo hiệp định AFTA.

44
Ba là: Mức thuế suất phải bảo đảm công bằng quyền lợi và nghĩa vụ giữa các doanh nghiệp,
đảm bảo ổn định thị trường trong nước, không có biến động lớn về giá cả và không ảnh
hưởng đến đời sống nhân dân.
3. Về quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ.
Trong quản lý và sử dụng hoá đơn chứng tà đ• phát sinh những tồn tại vướng mắc sau. In và
sử dụng hoá đơn bất hợp pháp (hoá đơn không theo qui định của luật thuế, hoá đơn thật
nhưng ký hiệu và m• số trên hoá đơn là giả, hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hoá không khớp
giữa các liên...), buôn bán hoá đơn thật và hoá đơn giả, xuất hoá đơn khống, taoh điều kiện
cho các đơn vị khác trốn thuế, bán hàng xuất hoá đơn nhưng không kê khai nộp thuế, báo
mất hoá đơn nhưng trên thực chất là bán hoặc sử dụng hoá đơn của đơn vị khác báo mất.
Giải pháp cho vấn đề này, Bộ tài chính nên nghiên cứu lại giấy in hoá đơn, chứng từ và ký
hiệu, m• hiệu của từng loại hoá đơn, chứng từ để chống in giả, nối mạng về quản lý và sử
dụng hoá đơn của đối tượng nộp thuế trên máy vi tính trong toàn quốc. Mặt khác, Bộ tài
chính cần phải phối hợp với các cơ quan pháp luật để kiểm tra, phát hiện và xử lý, nghiêm
các trường hợp vi phạm về chế độ quản lý ,sử dụng hoá đơn, yêu cầu các doanh nghiệp phải
tự kiểm tra nội bộ, mua bán hàng hoá, dịch vụ phải ghi rõ tên, địa chỉ, m• số thuế của người
bán. Đồng thời mở rộng khuyến khích các doanh nghiệp tự in hoá đơn GTGT theo mẫu qui
định của Bộ tài chính.
4. Về khấu trừ thuế.
Hầu hết các nước áp dụng phương pháp khấu trừ thuế đều sử dụng phương pháp lấy thuế
đầu ra trừ thuế đầu vao. Nếu hoá đơn đầu vào không ghi số thuế GTGT thì không được khấu

45
trừ. ậ nước ta trong các văn bản luật mới ban hành đã qui định cho khấu trừ thuế GTGT đầu
vào (1% đến 5%) nhưng chỉ áp dụng đối với hàng hoá nông, lâm hải sản mua trực tiếp của
người sản xuất không có hoá đơn, nhưng có bản kê. Sau gần 9 tháng thực hiện, Chính phủ
ban hành Nghị định 78/1999 - NĐ - CP cho phép khấu trừ thuế đầu vào đôi với cả phế liệu
(3% đến 5%), đối với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đầu vào (4%) và tất cả hàng hoá, dịch
vụ đầu vào khác có hoá đơn hàng hoá thông thường được khấu trừ 3%. Việc cho khấu trừ
thuế đầu vào lại phát sinh những vướng mắc như: Có nhiều tỷ lệ khấu trừ khác nhau nên rất
phức tạp trong quá trình thực hiện và không khuyến khích sử dụng hoá đơn chứng từ. Đối
với hàng hoá nông, lâm, hải sản không cần hoá đơn, chỉ cần bản kê dẫn tới có trường hợp cơ
sở sản xuất mua của người kinh doanh buôn chuyến, người thu gom trốn thuế, các doanh
nghiệp không lấy hoá đơn bán hàng, tạo kẽ hở để cơ sở kinh doanh buôn chuyến, người thu
gom trốn thuế. Các doanh nghiệp mua nông, lâm, hải sản sau đó sơ chế bán hàng trong nước
thì được khấu trừ thuế nhưng nếu xuất khẩu lại không được trừ thuế đầu vào.
Giải pháp trước mắt khi vẫn còn sử dụng 2 phương pháp tính thuế và các mức thuế suất như
hiện nay:
Đối với hàng hoá, dịch vụ đầu vào mua của người trực tiếp sản xuất kinh doanh không có
hoá đơn, chỉ có bản kê, được khấu trừ 3% trên giá trị hàng hoá, dịch vụ, kể cả mua để xuất
khẩu và chế biến hàng xuất khẩu.
Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT mua của người kinh doanh có hoá đơn bán hàng
thông thương, kể cà hàng hoá của cơ sở sản xuất thuộc diện tính thuế tiêu thụ đặc biệt, thì
được khấu trừ 4% trên giá trị hàng hoá mua vào.

46
Cho phép khấu trừ hoặc hoàn lại thuế GTGT trong trường hợp giao hàng hoặc cung ứng dịch
vụ bị huỷ bỏ, sau khi đ• chấp nhận trả tiền của người mua hoặc trường hợp giảm giá, các
khoản thu không đòi, được xử lý có đầy đủ chứng tà hợp lệ.
Giải pháp lâu dài: Khi d• áp dụng một phương pháp tính thuế và 2 mức thuế suất như kiến
nghị ở trên thì toàn bộ giá trị hàng hoá, dịch vụ đầu vào không thuộc diện tính thuế GTGT
mà đầu ra tính thuế GTGT thì sẽ được khấu trừ 4% giá trị trên bản kê hoặc hoá đơn thông
thường tính cho cả những hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, xuất khẩu hoặc chế biến hàng
xuất khẩu.
5. Vấn đề hoàn thuế GTGT.
Trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT, thủ tục hoàn thuế rất phức tạp nên tiến độ hoàn
thuế chậm, gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu tư,
mua sắm tài sản cố định với khối lượng lớn. Nguyên nhân của tình hình trên một phần do
doanh nghiệp chưa làm đúng thủ tục, một phần do cơ quan thuế chưa quen, văn bản hướng
dẫn lại chưa rõ ràng. Trước tình hình đó, Bộ tài chính đã có các văn bản bổ xung là hoàn
thuế trước kiểm tra sau và phải xử lý nghiêm những trường hợp vi pham. Các văn bản này
đề cao trách nhiệm và quyền lợi của các doanh nghiệp, của người nộp thuế trong việc hoàn
thuế GTGT.
Tuy nhiên vấn đề hoàn thuế vẫn còn nhiều bấp cập về thủ tục cũng như thời gian hoàn thuế.
Cần đề cao hơn nữa trách nhiệm của cơ sở trước những hồ sơ xin được hoàn thuế cà tăng
cường kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế.
6. Việc ban hành hệ thống văn bản pháp lý.

47
Qua gần 2 năm thực hiện luật thuế GTGT, Bộ tài chính đ• có hàng trăm văn bản hướng dẫn
thi hành luật thuế, phần lớn các văn bản ban hành sau khi điều chỉnh bổ xung hoặc sửa đổi
một số nội dung của văn banr trước. Do vậy, hàng trăm văn bản đều có hiệu lực thi hành.
Việc làm này gây nhiều khó khăn, phức tạp trong điều hành tổ chức và quản lý thu thuế,
chưa nói đến giữa các văn bản lại phát sinh mâu thuẫn, không nhất quán. Do đó trong lần cải
cách thuế II chỉ nên có một luật thuế, một Nghị định Chính phủ, 1 đến 2 văn bản hướng dẫn
của Bộ tài chính.
7. Hình thành và phát triển nhóm tư vấn thuế.
Hình thành nhóm tư vấn thuế là một nhu cầu cần thiết đối với các đối tượng chịu thuế, nộp
thuế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều nước trên thế giơi coi
dịch vụ tư vấn thuế là một nghề, đây là dịch vụ cung cấp các thông tin, kiến thức, kinh
nghiệm và sự hiểu biết về lĩnh vực thuế. Vì vậy nên sớm hình thành nhóm tư vấn thuế trong
cơ cấu tổ chức bộ máy nghành thuế. Bộ phận này có tính độc lập tương đối với bộ phận trực
tiếp quản lý thu thuế. Đồng thời để khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tư vấn
thuế, đề nghị có qui định chấp nhận chi phí tư vấn thuế là một loại chi phí hợp lý để tính thu
nhập chịu thuế.
8. Cải cách hành chính thuế.
Mục tiêu của cải cách hành chính thuế phải đảm bảo yêu cầu đơn giản hoá thủ tục, các văn
bản thuế phải đảm bảo nguyên tắc, đơn giản, dễ hiều, dễ làm, dễ kiểm tra. Để đẩy mạnh
công tác cải cách hành chính thuế, Bộ tài chính và ngành thuế nên chú ý những vấn đề sau:
Rà soát lại toàn bộ những văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế, nghiên cứu, xem xét làm rõ

