intTypePromotion=1

Báo cáo " Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tự do báo chí (1919-1956) "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
110
lượt xem
24
download

Báo cáo " Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tự do báo chí (1919-1956) "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tự do báo chí, tự do ngôn luận là một trong những vấn đề được trình bày sớm nhất và nổi bật nhất trong hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về báo chí. Vì coi tự do báo chí, tự do ngôn luận là quyền thiêng liêng của mỗi con người nhưng đã bị thực dân Pháp tước đoạt, nên liên tục từ các bài báo đầu tiên (năm 1919) và những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã lên án một cách mãnh liệt tình trạng mất tự do báo chí dưới chế độ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo " Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tự do báo chí (1919-1956) "

  1. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tự do báo chí (1919-1956) Nguyễn Thị Thúy Hằng* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 336 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam Nhận ngày 26 tháng 12 năm 2007 Tóm tắt. Tự do báo chí, tự do ngôn luận là một trong những vấn đề được trình bày sớm nhất và nổi bật nhất trong hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về báo chí. Vì coi tự do báo chí, tự do ngôn luận là quyền thiêng liêng của mỗi con người nhưng đã bị thực dân Pháp tước đoạt, nên liên tục từ các bài báo đầu tiên (năm 1919) và những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã lên án một cách mãnh liệt tình trạng mất tự do báo chí dưới chế độ thực dân và đấu tranh mạnh mẽ để đòi lại quyền lợi tinh thần to lớn này. Sau năm 1945, với tư cách Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh cho ban hành ngay những sắc lệnh, trong đó khẳng định về quyền tự do ngôn luận của nhân dân, từ Sắc lệnh số 41/SL ngày 29-3-1946 đến Sắc lệnh số 282/SL ngày 14-12-1956. Nghiên cứu cuộc đấu tranh đòi tự do báo chí của Nguyễn Ái Quốc trước năm 1945 cũng như những sắc lệnh quy định về chế độ báo chí của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bài viết đã chỉ ra sự vượt trội về phương diện tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc so với những nhà yêu nước Việt Nam đương thời và ý chí mãnh liệt của một con người suốt cả cuộc đời đã đấu tranh và giành lại được những quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. * Suốt cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí hưởng. Tự do báo chí trở thành vấn đề xuyên Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột suốt được Người bàn đến từ năm 1919 cho bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn đến những năm sau thành lập Việt Nam Dân độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng chủ Cộng hòa. Vì coi tự do báo chí, tự do ngôn bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được luận là quyền thiêng liêng của mỗi con người, học hành. Người cũng từng nói “nếu nước Hồ Chí Minh đã phê phán một cách gay gắt được độc lập mà dân không hưởng hạnh tình trạng mất tự do báo chí dưới chế độ thực phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa dân Pháp, và ban hành ngay những điều lý gì”[1]. Hồ Chí Minh luôn cho rằng, trong khoản về tự do báo chí dưới chế độ Việt Nam những quyền tự do dân chủ của mỗi người Dân chủ Cộng hòa. dân, tự do báo chí, tự do ngôn luận là một Có thể nói rằng, tự do báo chí và tự ngôn trong những quyền lợi tinh thần mà mỗi luận là một trong những vấn đề được đề cập người dân, mỗi người làm báo phải được một cách trực tiếp, quyết liệt và có hệ thống trong các bài viết của Người trước năm 1945. Đặc biệt, ngay từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc ________ đã thay mặt những người Việt Nam yêu nước * ĐT: 84-4-8588173 E-mail: ngthuyhangna@yahoo.com 239
  2. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 240 gửi đến Chính phủ Pháp và các chính phủ cùng nhau tận tâm tận lực hoạt động để giải trong Đồng minh tại Hội nghị Véc-xây Bản phóng dân tộc An Nam” [3, tr.233]. yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, Đó là thái độ ủng hộ và đồng tình trước trong đó có đòi tự do báo chí và tự do ngôn luận. những hoạt động đấu tranh đòi quyền tự do Vấn đề tự do báo chí tiếp tục được Người nhắc báo chí, quyền lợi tinh thần tất yếu của Việt lại trong các bài viết “Tâm địa thực dân”, “Vấn Nam, của các nước trên bán đảo Đông đề dân bản xứ” (Báo L’ Humanité, ngày 2-8- Dương. Bởi báo chí là một trong những 1919), “Đông Dương và Triều Tiên” (Báo Le phương tiện hành động và học tập, cùng với Populaire, ngày 4-9-1919), “Thư gửi ông hội họp, lập hội, đi lại v.v.. Nhưng tất cả Utơrây” (Báo Le Populaire, ngày 14-10-1919), là những phương tiện ấy, người Đông Dương những bài báo đầu tiên trong cuộc đời đầy đều bị cấm. Không chỉ người dân bản xứ căm duyên nợ với báo chí của Người. phẫn vì tình trạng bị áp bức của mình; không Vấn đề tự do báo chí còn được Nguyễn Ái phải chỉ có những người cộng sản mới nổi lên Quốc nêu lên trong bài phát biểu tại Đại hội chống lại sự bóc lột thuộc địa một cách quá toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp: mức mà cả báo chí và các diễn giả tư sản cũng “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và phản đối sự khắc nghiệt mà người bản xứ tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp phải chịu đựng; phản đối sự vô sỉ luôn bao và lập hội cũng không có” [2, tr.22-23] và trùm bộ máy cai trị thuộc địa; phản đối tình ngày càng được viết một cách quyết liệt hơn trạng thiếu hẳn một chính sách thuộc địa trong những bài báo về sau của mình. Trong nghiêm chỉnh. Chính ngay trong vấn đề này, tác phẩm “Đông Dương”, Người viết: “Sự thật Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự đồng cảm là người Đông Dương không có một phương của những người cộng sản và những người tiện hành động và học tập nào hết. Báo chí, yêu chuộng tự do và hòa bình trên thế giới. hội họp, lập hội, đi lại đều bị cấm... Việc có Người khẳng định ngay rằng: “Cái mà chúng những báo hoặc tạp chí mang tư tưởng tiến tôi thiếu để trở thành cộng sản, là những điều bộ một chút hoặc có một tờ báo của giai cấp kiện cơ bản nhất để hành động: công nhân Pháp là một tội nặng. Rượu cồn và Tự do báo chí thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn Tự do du lịch cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu Tự do dạy và học dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm Tự do hội họp (tất cả những cái này đều bị những kẻ khai hóa thuộc địa ngăn cấm nốt phần còn lại [2, tr. 27-28]. Hay trong bài chúng tôi một cách dã man)”[2, tr. 36]. Phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Chính bởi tự do báo chí, tự do ngôn luận Ái Quốc đã thể hiện khá rõ quan điểm của là những quyền lợi tối thiểu của mỗi người mình trong việc thuật lại cuộc mít tinh của làm báo, mỗi công dân nhưng đã bị thực dân nhóm “Thanh niên An Nam”: “Trước cuộc Pháp tước đoạt, nên liên tục trong các bài viết mít tinh, người ta đã rải truyền đơn, cuối từ năm 1919 cho đến những năm 20 của thế truyền đơn có câu: “Nếu Chính phủ không kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã lên án một cách chịu trả lại cho chúng tôi những quyền tự do mãnh liệt tình trạng mất tự do báo chí dưới cần thiết nói trên (quyền tự do báo chí v.v..) chế độ thực dân Pháp. Mặc dù nền báo chí thì chúng tôi không còn chút tin tưởng nào ở Việt Nam đã được hình thành cùng với việc thiện ý của Chính phủ và chúng tôi nguyện
  3. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 241 du nhập nền văn minh phương Tây, nhưng một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn không thể nói mục đích của Pháp là để “khai học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu hóa” và “truyền bá văn minh” cho người dân Á khác, chứ không phải một tờ do chính bản xứ như luận điệu của họ. quyền thành lập và giao cho bọn tay chân Với các Hiệp ước Harmand (25-8-1883) và điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán Patenôtre (6-6-1884), Nam Kỳ là xứ thuộc địa dương những kẻ quyền thế đương thời, kể trực trị, một “hạt” của nước Pháp ở Viễn chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai Đông, Bắc Kỳ và Trung Kỳ hợp lại được gọi hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người là Vương quốc An Nam (Empire d’Annam) ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba hay đặt dưới chế độ bảo hộ của Pháp. Như vậy, bốn tờ đấy” [2, tr.403]. đáng lẽ ra, ít nhất xứ Nam Kỳ phải được Báo chí là diễn đàn để nhân dân biểu hiện hưởng Luật báo chí 29-7-1881 (“Loi du 29 Juillet ý chí và nguyện vọng của mình, là thước đo 1881, sur la liberté de la Presse”), luật thừa nhận về tinh thần và trình độ dân chủ của một xã “tự do báo chí” vì luật này cho phép áp dụng hội, là gương mặt rõ nét về trình độ văn hóa tại chính quốc cũng như tại Angiêri và các xứ và khoa học của một dân tộc. Thực dân Pháp thuộc địa khác (Điều 10) [4]. Nhưng thực dân hiểu rõ điều đó, và chúng giữ độc quyền báo Pháp sớm thấy ngay sự “nguy hiểm” của Bộ chí ở Đông Dương. Những kẻ luôn miệng rêu luật nói trên. Một mặt, chúng vẫn thừa nhận rao “khai hóa văn minh” ấy lại chính là cho báo chí tiếng Pháp được tự do xuất bản, những kẻ đi ngược lại giá trị văn minh của mặt khác chúng đưa ra Sắc lệnh ngày 30-12- nhân loại. Nguyễn Ái Quốc vạch tội chủ 1898 buộc tất cả các báo tiếng Việt, Trung nghĩa thực dân chà đạp lên báo chí, một giá Hoa và các tiếng khác phải có giấy phép trị văn hóa, hoạt động tinh thần quan trọng trước khi xuất bản; Toàn quyền Đông Dương của xã hội. có quyền ra nghị định đình chỉ bất cứ tờ báo Chính quyền thực dân Pháp còn cấm ngặt hay tạp chí nào xuất bản tại Đông Dương, những tờ báo có đả động đến chuyện chính hoặc đình chỉ việc lưu hành bất cứ tờ báo hay trị hoặc liên quan đến chính trị: “Trước khi xuất bản phẩm nào ở nước ngoài nhập vào đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra Đông Dương…[ 5]. tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã. Cấm ngặt Như vậy, để phục vụ cho công cuộc khai những tờ thông tin ấy không được đả động gì thác thuộc địa, thực dân Pháp đã cho xuất đến những vấn đề chính trị hay tôn giáo, mà bản báo chí ở Việt Nam. Nhưng mặt khác, chỉ được đăng những tin tức thông thường, nhằm kìm hãm người dân thuộc địa vào cảnh những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước. Khi tăm tối, muốn “làm cho dân ngu để dễ trị”, đất nước bị một thiên tai nào, lụt lội, bão táp, chúng đã ra sức đàn áp hoạt động tinh thần đói kém..., phòng kiểm duyệt cấm báo không này. Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên một tình được cho dân chúng biết những tin "không trạng nghịch lý và kỳ dị đến mức khó tin ở vui" ấy, cấm báo không được mở lạc quyên Đông Dương: “Giữa thế kỷ XX này, ở một giúp những người bị nạn. Báo không có nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy quyền nói gì, dù chỉ bóng gió, đến việc bầu một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được cử hội đồng thuộc địa hay hội đồng hàng như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tỉnh. Có một tờ, dịch ra tiếng An Nam đạo tiếng mẹ đẻ của chúng tôi. (…) Tôi gọi báo là luật cấm những hành vi hối lộ trong việc
  4. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 242 tuyển cử, đã bị kiểm duyệt trắng mất nửa tờ Tội ác ấy lại lặp lại trên chính các thuộc báo mà còn bị khiển trách thêm nữa. Nhiều địa của Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra khi người ta cấm cả dịch đăng những bài đã theo sắc lệnh năm 1898, báo chí bản xứ phải đăng ở các báo tiếng Pháp xuất bản ở Đông chịu kiểm duyệt trước khi in: “Báo tiếng Việt Dương” [2, tr. 404]. không được xuất bản, nếu không được phép Báo chí, trong bản chất của nó là gắn bó của quan toàn quyền. Giấy phép chỉ cấp với và đấu tranh cho những khuynh hướng chính điều kiện là các bài báo phải được quan thống trị. Xu hướng chính trị là linh hồn của tờ báo. đốc duyệt trước. Giấy phép ấy có thể rút lúc Một tờ báo không đề cập đến vấn đề chính trị nào cũng được. và phản chiếu thực tiễn của nhân dân thì sẽ Mọi cuộc trưng bày hoặc phổ biến những dần thủ tiêu chức năng của mình. Nói như bài hát, biếm hoạ hoặc tranh ảnh làm thương V.I. Lênin: một tờ tạp chí mà không có xu tổn đến sự tôn kính đối với các nhà cầm hướng là một điều lố lăng phi lý, chướng tai quyền đều bị trừng trị. gai mắt và có hại. Đó cũng chính là quan Đấy, bạn thấy bà kiểm duyệt ở thuộc địa niệm của Nguyễn Ái Quốc, báo chí chỉ thực cầm kéo khéo đến mức nào! sự là báo khi có quyền tự do trong đăng tải Với biện pháp đó, chính quyền Đông thông tin, phản ánh những điều thiết thực Dương có thể ỉm được tất cả mọi vụ nhơ của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu và nguyện nhớp và tha hồ mà lạm quyền” [3, tr.97]. vọng của nhân dân, chứ không phải chỉ để Cũng chính vì sự “cầm kéo khéo đến mức “nói đến chuyện nắng mưa, tán dương nào” của bà kiểm duyệt ở thuộc địa theo những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện đúng giọng điệu mỉa mai của Nguyễn Ái vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hoá và Quốc, mà ở An Nam đã không có lấy một tờ ru ngủ dân chúng”. Chính vì vậy, Người báo nào bằng tiếng mẹ đẻ được ra đời (dĩ không coi sự tồn tại của một số tờ báo ở Đông nhiên gọi báo là một tờ báo về chính trị, về Dương lúc ấy là báo chí thật sự, bởi đó chỉ là kinh tế hay văn học như ở các nước châu Âu những con rối trong tay các nhà cầm quyền và châu Á khác). Hơn thế nữa, bàn tay bỉ ổi mà thôi. của kiểm duyệt không dừng lại ở các ấn Một tờ báo tiếng Việt muốn xuất bản, phẩm tiếng Việt mà còn rờ mó cả vào thư từ không phải tuân theo đạo luật đã được thảo riêng và các tờ báo tiếng Pháp không chịu ca luận và biểu quyết ở nghị viện mà chỉ bằng tụng đức độ của các “Cụ lớn” thuộc địa. chế độ sắc lệnh của một viên toàn quyền ban Nguyễn Ái Quốc đã luận tội thực dân bố. Sự lưu hành báo và tạp chí bất cứ tiếng gì, Pháp: “Nền văn minh của thực dân đã dùng cũng có thể bị cấm do một nghị định của ngọn đuốc cổ truyền thủ tiêu đến chút tự do quan toàn quyền. Đó là sự bất công và phi lý cuối cùng của người bản xứ. Đã làm cho mà nhân dân Đông Dương đang phải chịu người bản xứ phải đần độn và câm, chúng đựng. Bởi quan toàn quyền chẳng sơ suất gì vẫn chưa vừa lòng; chúng còn muốn họ phải mà không dùng và lạm dụng quyền hành ấy. điếc nữa kia. Chúng bịt tai họ không cho họ Trước đây, Mác từng viết về chế độ kiểm nghe tiếng vang của những biến cố bên ngoài. duyệt Phổ như một hành vi dã man của lịch Chỉ đơn giản bằng một nét bút, chúng đình sử: “Sự không có màu sắc, đó là màu sắc duy chỉ hẳn đời sống tinh thần của cả một dân nhất mà sự tự do này cho phép” [6]. tộc” [2, tr.407].
  5. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 243 Để thực hiện mưu đồ chính trị của mình trọng. Quyền tự do báo chí-quyền lợi tinh “làm cho dân ngu để dễ trị”, thực dân Pháp thần tất yếu của một dân tộc, đã bị tước đoạt đã áp đặt một chế độ nhà tù nhiều hơn và Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh mạnh mẽ trường học ở Đông Dương. Để đẩy nhân dân để đòi lại quyền lợi này cho mỗi người dân, thuộc địa vào cảnh sống tăm tối bị bịt mắt, bịt mỗi người làm báo chuyên nghiệp ở Đông tai, Pháp đã không ngần ngại chà đạp lên Dương. quyền tối thiểu của mỗi con người, mỗi dân Chúng ta biết rằng Nguyễn Ái Quốc tộc. Chúng sợ hãi những hoạt động tinh thần không phải là người đầu tiên phê phán tình lành mạnh từ những khát vọng tự do của trạng mất tự do báo chí ở Đông Dương dưới quần chúng; sợ hãi tiếng nói đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp cũng như đấu tranh những xấu xa mà xã hội bất công mà báo chí cho quyền lợi này của dân tộc. Trước đó, các tiến bộ là một đại diện tiêu biểu. nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Không chỉ chèn ép hoạt động báo chí ở Trinh cũng đã đề cập đến vấn đề này. Ngay trong nước, thực dân Pháp còn kiểm soát chặt từ rất sớm, Phan Bội Châu đã tố cáo tình chẽ việc lưu hành những tờ báo từ nước trạng cấm đoán ngặt nghèo về báo chí dưới ngoài. Báo chí bằng tiếng Pháp, xuất bản ở chế độ thực dân Pháp: “Người Pháp cướp bóc Paris, gửi sang đều bị tịch thu ở Đông Dương. ta, bịt kín miệng ta, trói buộc chân tay ta, gắn Với tờ Le Paria, Chính phủ Pháp có lệnh cấm lấp tai mắt ta, những việc như xuất bản sách không cho vào các thuộc địa. Ở các nước báo, luận bàn hội họp, không kể ngày đêm, thuộc địa, nhất là ở Đông Dương, ai đọc Le đông ít, lớn nhỏ đều bị người Pháp cấm đoán Paria đều bị bắt. Với các tờ báo đến từ ngặt nghèo” [7]. Phan Bội Châu còn chỉ thẳng phương Đông, sự đối xử cũng không khác gì: ra rằng, những Sắc lệnh, những điều lệ mà “Người ta cấm ngặt không cho đọc báo Nhật Pháp đặt ra đối với báo chí, cũng như đối với và Trung Quốc. Giữ một tờ tạp chí, một các ngành khác, là một thứ pháp luật nhằm quyển sách Trung Quốc nào đó có thể là một tiêu diệt nòi giống nước người. Còn Phan trọng tội đối với người An Nam. Tôi biết Châu Trinh là người đầu tiên đã tổ chức ra nhiều nhà văn thân bị kết án khổ sai chung các phong trào dân quyền ở Việt Nam, trong thân vì đã đọc tạp chí Trung Quốc hồn, Ẩm đó đòi hỏi quyền tự do báo chí và tự do ngôn băng và những bài cùng loại ấy của các nhà luận. Phát động phong trào Duy Tân, Phan duy tân Trung Quốc. Năm 1920, có nhiều Châu Trinh đặt ra nhiệm vụ cấp bách: “Chấn người An Nam ở Bắc Kỳ bị kết án từ hai đến dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Ông đã năm năm tù, chỉ vì một người đã làm thơ ca yêu cầu chính quyền thuộc địa sửa đổi chính tụng tự do và các người khác đã nghe ngâm sách cai trị hiện hành để nhân dân Việt Nam bài thơ ấy” [2, tr. 407]. có thể từng bước tiến đến văn minh, trong đó Chỉ dưới chế độ thực dân đế quốc, mong có đề cập đến báo chí: “Nếu Chính phủ thật mỏi được tiếp cận với tri thức, được mở sẵn lòng đổi hết chính sách đi, kén chọn mang vốn hiểu biết của con người mới bị vùi người hiền tài trao quyền bính cho, lấy lễ mà dập đến như vậy. Bên cạnh sự áp bức về tiếp, lấy thành mà đãi, cùng nhau lo toan việc chính trị, sự bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp dấy lợi trừ hại ở trong nước, mở đường sinh đã đè nén cả nền văn hóa tinh thần của xã hội nhai cho dân nghèo, rộng quyền ăn nói cho mà báo chí là một bộ phận cấu thành quan thân sĩ, báo quán cho mở rộng để thông đạt
  6. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 244 dân tình (…) chỉ sợ người Pháp bỏ nước Nam các dân tộc thuộc địa. Sự đòi hỏi quyền tự do mà đi, còn ai toan mưu việc chống cự báo chí cho nhân dân các nước thuộc địa của nữa”[8]. Nguyễn Ái Quốc đã được đặt trên bình diện Những nhà yêu nước đương thời như quốc tế, kêu gọi một sự ủng hộ của tất cả Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường v.v.. những người cộng sản và nhân dân yêu cũng đã hoạt động rất tích cực cho tự do báo chuộng hòa bình trên thế giới. Đó cũng là chí. Tiếng nói đấu tranh của Nguyễn An điểm vượt trội về phương diện tư tưởng của Ninh, người sáng lập báo La Cloche fêlée (10- Nguyễn Ái Quốc so với những nhà yêu nước 12-1923)-tờ báo yêu nước đầu tiên ở Sài Gòn trước và cùng thời với ông. trực diện công kích chế độ thực dân, rất mạnh Đã từng phẫn uất vì bị tước đoạt quyền tự mẽ, quyết liệt: “Tại sao một bên thì được do báo chí, từng đấu tranh quyết liệt và mạnh hưởng tự do tư tưởng, tự do viết lách, còn mẽ để đòi lại quyền lợi này cho dân tộc, nên bên kia thì bị báo chí bóp nghẹt. Tại sao khả ngay sau khi giành được chính quyền, với tư năng bằng nhau mà quyền lợi lại chẳng cách là Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân ngang nhau? Tại sao?” [9]. Và Phan Văn chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số Trường, một trong những tiến sĩ luật khoa 41/SL ngày 29-3-1946 quy định chế độ báo chí đầu tiên của Việt Nam, người đã tích cực ở Việt Nam. Sắc lệnh gồm có 4 mục, 14 điều, giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong những ngày trong đó vẫn có mục thứ 2 là “KIỂM đầu ở Pháp, đã tục bản báo La Cloche fêlée DUYỆT”: “Các bài báo chí sẽ được ấn hành dưới cái tên mới L’Annam, cũng viết hết sức sau khi Ty kiểm duyệt cấp kỳ đã duyệt” [11, gay gắt: “Không có tự do báo chí cho họ tr. 288]. Tuy nhiên, sự kiểm duyệt ở đây đã có (người An Nam). Cũng có vài tờ báo bằng nét khác biệt căn bản so với sự kiểm duyệt tiếng Việt, nhưng đó lại là những tờ báo do dưới chế độ thực dân Pháp, và nhà báo hay chính quyền lập ra và duy trì, mà theo cách chủ nhiệm, quản lý tờ báo có quyền khiếu nói rất hợp thời thượng thì đó là những công nại: “Nếu có bài báo nào, chủ nhiệm hoặc cụ nhồi sọ. Ở Đông Dương, không có báo chí quản lý cho là quá đáng, thì chủ nhiệm hoặc nào, dù bằng tiếng nước ngoài hay tiếng bản quản lý có thể gửi đơn khiếu nại kèm cả bài xứ, có thể xuất bản nếu không được Chính báo bị Ty kiểm duyệt bỏ, lên Hội đồng kiểm phủ cho phép trước và thường xuyên bị kiểm duyệt” [11, tr.288]. Hội đồng kiểm duyệt đặt duyệt” [10]. tại Bộ Nội vụ, gồm có 5 hội viên do Bộ trưởng Nhưng Nguyễn Ái Quốc không chỉ đấu Bộ Nội vụ cử ra, sẽ xét đơn khiếu nại của các tranh cho tự do báo chí một cách trực diện và nhà báo, ra quyết nghị cho hoặc không cho quyết liệt trên diễn đàn báo chí và các cuộc đăng những bài bị Ty kiểm duyệt cắt bỏ. Như tập hợp quần chúng mà còn đòi quyền tự do vậy, sau khi chính quyền cách mạng được báo chí cho dân tộc Việt Nam ngay tại chính thành lập tháng 9-1945, nhân dân ta đã được quốc, ở những hội nghị quan trọng của nước hưởng quyền tự do, trong đó có quyền tự do Pháp. Tiếng nói của Người, vì vậy, đã có tác báo chí. Xét trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy động mạnh mẽ hơn, không những làm thực giờ, duy trì kiểm duyệt là một hoạt động cần dân Pháp phải tức tối, lo sợ, mà còn giúp bạn thiết. Sắc lệnh số 41/SL của Chủ tịch Hồ Chí bè quốc tế hiểu hơn về tình hình Việt Nam và Minh đã có tác dụng tích cực bảo vệ quyền tự ủng hộ những nguyện vọng chính đáng của do báo chí chính đáng, đấu tranh chống lại
  7. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 245 những phần tử xấu và những kẻ phản động quyền tự do ngôn luận của nhân dân dưới lợi dụng báo chí chống phá cách mạng, góp chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. phần củng cố chế độ dân chủ cộng hòa. Nghiên cứu về cuộc đấu tranh đòi tự do Đến ngày 14-12-1956, Người tiếp tục ký báo chí mà Nguyễn Ái Quốc nêu ra từ những Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí, trong đó thập niên đầu của thế kỷ XX, nghĩa là chúng khẳng định: “Sắc lệnh này nhằm đảm bảo ta đang góp phần tích cực vào việc nghiên quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là quá chí và ngăn cấm những kẻ lợi dụng quyền ấy trình hình thành tư tưởng của Người trong để làm phương hại đến công cuộc đấu tranh những năm đầu thế kỷ. Bởi khi vạch tội chủ cho hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nghĩa thực dân Pháp đã đàn áp hoạt động của nước nhà”; “Tất cả các báo chí đều được báo chí và đấu tranh đòi quyền lợi tinh thần hưởng quyền tự do ngôn luận. Không phải này, Nguyễn Ái Quốc đồng thời đã chỉ rõ bản kiểm duyệt trước khi in; trong trường hợp chất đen tối của chúng, qua đó nhằm thức khẩn cấp, xét cần phải tạm thời đặt kiểm tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân thuộc duyệt, Hội đồng Chính phủ sẽ quyết địa, chống chủ nghĩa thực dân, tìm con định”[11, tr.290-291]. Như vậy, đến năm 1956, đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, báo chí đã hoàn toàn không phải kiểm duyệt giải phóng con người. Và khi Cách mạng tháng trước khi in, quyền tự do báo chí, tự do ngôn Tám thành công, song hành cùng với quyền luận của mỗi người dân, mỗi người làm báo độc lập của dân tộc, quyền tự do hạnh phúc thêm một lần nữa được khẳng định trong của nhân dân đã được đảm bảo, một trong một văn bản có tính chất pháp lý. Hồ Chí những quyền lợi tinh thần to lớn đó là quyền Minh đã đạt được mục tiêu đảm bảo cho tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí! quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí, một trong những quyền tự do dân chủ Tài liệu tham khảo mà Người đã tranh đấu với thực dân Pháp trong suốt những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Có thể nói, tự do báo chí và tự do ngôn luận [1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc là một trong những vấn đề được trình bày gia, Hà Nội, 2000, tr. 56. sớm nhất và nổi bật nhất trong hệ thống quan [2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc điểm Hồ Chí Minh về báo chí, được Người đề gia, Hà Nội, 2000. cập ngay từ năm 1919 đến khi xây dựng nước [3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị Quốc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước khi bàn gia, Hà Nội, 2000. đến những vấn đề về vai trò, nhiệm vụ, tính [4] Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2000, chất, chức năng của báo chí cũng như về cách tr. 16-17. viết báo, Hồ Chí Minh đã khẳng định về tự do [5] Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - báo chí, tự do ngôn luận như là quyền thiêng Viện Sử học - Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự liêng của mỗi con người, để từ đó phê phán kiện lịch sử (1858-1918), NXB Giáo dục, 1999, tr. 258. mạnh mẽ tình trạng mất tự do báo chí dưới [6] C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị chế độ thực dân Pháp và cho ban hành ngay Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 16. [7] Phan Bội Châu, Toàn tập, Tập 2, NXB Thuận Hóa, những sắc lệnh, trong đó khẳng định về Huế, 1990, tr. 256.
  8. Nguyễn Thị Thúy Hằng / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 239-246 246 [8] Phan Châu Trinh, Tuyển tập, NXB Đà Nẵng - Trung [10] Nguyễn Phan Quang, Phan Văn Hoàng, Luật sư tâm nghiên cứu quốc học, Đà Nẵng, 1995, tr. 354- Phan Văn Trường, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 355. Tp. HCM, 1995, tr. 190-191. [9] Nguyễn An Ninh, “Tiếng chuông cuối cùng”, La [11] Nguyễn Thành: Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Cloche fêlée, số 19, ngày 14-7-1924. Minh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995. President Ho Chi Minh with the freedom of press issue (1919-1956) Nguyen Thi Thuy Hang College of Social Sciences and Humanities, VNU, 336 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam The freedom of press, freedom of speech is one of the most early stated and prominent problems in Ho Chi Minh opinion system on the press. Considering freedom of press, freedom of speech as the sacred right of the each human being but already dispossessed by French colonist, since the first articles (in 1919) up to 20s of the XX century, Nguyen Ai Quoc accused a this huge spirit rights way stating intense that take freedom of press under colonialist and struggling regime to claim them back. After 1945, in the status of President of Democratic Republic of Vietnam, Ho Chi Minh gave edicts, in which it declared the freedom of speech of the people, from Edict number 41/SL (29-3-1946) to Edict number 282/SL (14-12-1956). Studying the struggle of Nguyen Ai Quoc for freedom of press before 1945 as well as ordinance edicts about journalistic regime of Democratic Republic of Vietnam, the article pointed out the domination in terms of ideology of Nguyen Ai Quoc compared with Vietnamese contemporary patriots and the intensive will of a lifetime through human being in his restruggle and rescure rights to liberties democratic that for people, among them there is journalistic right to liberty and freedom of speech.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2