Báo cáo dự án (MS7): Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển các rừng trồng Thông caribê và Thông lai có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
72
lượt xem
10
download

Báo cáo dự án (MS7): Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển các rừng trồng Thông caribê và Thông lai có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dự án CARD 033/05 VIE nhằm xem xét đánh giá lại các khảo nghiệm hiện có và sinh trưởng của một số loài cây lá kim nhiệt đới ở Việt Nam, đặc biệt là thông caribê và xây dựng thêm các khảo nghiệm mới, sử dụng các vật liệu đã được cải thiện di truyền, bao gồm giống Thông lai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo dự án (MS7): Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển các rừng trồng Thông caribê và Thông lai có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam

  1. an Ministry of Agriculture & Rural Development Chương trình hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn Project 033/05 VIE Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển các rừng trồng Thông caribê và Thông lai có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam Mốc 7: Đầu ra 2.3: Vườn vật liệu và vườn ươm trình diễn Tên báo cáo: Quá trình xây dựng vườn vật liệu và vườn ươm thông ở 3 vùng tại Việt Nam Tháng 3, năm 2008 Page 1 of 11
  2. Mục lục 1.0 Giới thiệu chung…………………………………………………….……………………..3 2.0 Xây dựng vườn vật liệu……………………………………………………………………3 2.1 Ba Vì (Cẩm Qùy) …………………………………………………………………..4 2.2 Phù Ninh (FRC) ……………………………………………………………………6 2.3 Đà Lạt (Cam Ly) …………………………………………………………………..7 3.0 Xây dựng vườn ươm, thu chồi, giâm hom…..…………………………………………..7 3.1 Vườn ươm Ba Vì…………………………………………………………………....7 3.2 Vườn ươm Phù Ninh……………………..………………………………………...9 3.3 Vườn ươm Đà Lạt…………………………………………………………………10 4.0 Kết luận…..……………………………………………………………………………….10 5.0 Liên lạc.…………………………………………………………………………………...10 Danh sách các bảng biểu Bảng Tên Trang 1 Mô tả các vườn vật liệu được xây dựng tại Việt nam thuộc dự án CARD 033/05 3 VIE 2 Các xuất xứ được sử dụng để xây dựng vườn vật liệu đầu tiên ở 3 lập địa tại 4 Việt nam 3 Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Ba Vì sau 2 và 3 lần thu chồi 5 4 Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Phù Ninh cho đến tháng 10 năm 2007 6 5 Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt chồi đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng giâm hom 8 tại Ba Vì 6 Ảnh hưởng của các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng 8 giâm hom tại Ba Vì 7 9 Thu hoạch chồi và giâm hom ở Phù Ninh đối với các xuất xứ thông khác nhau 8 Lịch sử của thu hoạch chồi và giâm hom ở Cam ly , Đà Lạt 10 9 10 Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng giâm hom của các loại hỗn hợp ruột bầu khác nhau Danh sách các phụ lục Tên A Khu vực vườn vật liệu tại Ba Vì B Khu vực vườn vật liệu tại Phù Ninh C Khu vực vườn vật liệu tại Đà Lạt D Thu chồi và giâm hom tại Ba Vì E Thu chồi và giâm hom tại Phù Ninh F Thu chồi và giâm hom tại Đà Lạt Page 2 of 11
  3. 1.0 Giới thiệu Dự án CARD 033/05 VIE nhằm xem xét đánh giá lại các khảo nghiệm hiện có và sinh trưởng của một số loài cây lá kim nhiệt đới ở Việt Nam, đặc biệt là thông caribê và xây dựng thêm các khảo nghiệm mới, sử dụng các vật liệu đã được cải thiện di truyền, bao gồm giống Thông lai. Dự án cũng sẽ tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu lâm nghiệp Việt nam những vấn đề liên quan đến cải thiện giống Thông và hệ thống nhân giống sinh dưỡng thông qua các khoá đào tạo tại Queensland và Việt Nam, xây dựng các vườn vật liệu và vườm ươm trình diễn quy mô nhỏ, và một chuyến tham quan học tập ở Australia cho các nhà quản lý/nghiên cứu lâm nghiệp ở Việt Nam. Cuối cùng, dự án sẽ tạo dựng mối quan tâm cho các nhà trồng rừng quy mô lớn và nhỏ bao gồm các cộng đồng dân tộc thiểu số, thông qua việc xây dựng các điểm trồng rừng trình diễn cộng tác ở các vùng ưu tiên cho việc mở rộng diện tích rừng trồng Thông dưới sự giúp đỡ kỹ thuật của các khoá đào tạo. Báo cáo này liên quan đến sản phẩm 3.2 của dự án về việc xây dựng và vận hành 3 vườn vật liệu và vườn ươm quy mô trình diễn để sản xuất cây hom thông. 2.0 Xây dựng vườn vật liệu Sau khoá đào tạo ở Queensland vào tháng 5 năm 2006, các đối tác của dự án đã xây dựng được 3 vườn vật liệu trình diễn (Bảng1) sử dụng vật liệu là hạt từ các xuất xứ thông khác nhau của Queensland và Việt Nam như ở bảng2. Một vài luống của vườn vật liệu sử dụng tấm “weed mat” màu đen do Queensland cung cấp, số còn lại sử dụng tấm weed mat màu xanh hoặc có thể dùng rơm che phủ (vật liệu đơn giản, dễ kiếm ở Việt Nam). Nhìn chung, thiết kế các khu vực vườn vật liệu này đều dựa trên thiết kế của Queensland, tuy nhiên trồng với mật độ dày hơn do sự hạn chế về không gian và giới hạn về thời gian của dự án, nên cố gắng tạo ra được lượng chồi nhiều nhất có thể. Bảng 1: Mô tả các vườn vật liệu được xây dựng tại Việt nam thuộc dự án CARD 033/05 VIE Địa điểm 1 Địa điểm 2 Địa điểm 3 Hà Tây Phú Thọ Lâm Đồng Tỉnh Phía bắc Phía bắc Cao nguyên Vùng Cẩm Quỳ, Ba Vì Phù Ninh Cam Ly, Đà Lạt Vị trí Trung tâm nghiên cứu Viện nguyên liệu giấy, Trung tâm nghiên cứu Cơ quan giống cây rừng một đơn vị của Vinapaco thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng, FSIV 21° 07’N 21° 29’ 46’’N 11° 38’ 15’’N Kinh độ 105° 26’E 105° 27’ 5’’E 108° 15’53’’E Vĩ độ 50 75 1,500 Độ cao so với mặt nước biển 1,680 mm 1,387 mm 1,730 mm Lượng mưa trung bình hàng năm Đất nghèo, xám màu, sâu Đất nâu xám, trung bình Tầng đất sâu, đất đỏ, thoát Loại đất 50 cm nước tốt Tháng 8, 2006 Tháng 12, 2006 Tháng 6, 2006 Thời gian xây dựng Page 3 of 11
  4. Table 2: Các xuất xứ được sử dụng để xây dựng 3 vườn vật liệu đầu tiên trên 3 lập địa tại Việt nam Địa điểm 1 Địa điểm 2 Địa điểm 3 Tỉnh Hà Tây Phú Thọ Lâm Đồng Vị trí Cẩm Qùy, FRC, Phù Cam Ly, Đà Ba Vì Ninh Lạt Loài và nguồn hạt Số lượng cây trồng trong vườn vật liệu Pinus massoniana (PMASS) – Tam Đảo 0 284 0 P. caribaea var. hondurensis (PCH) – không chọn – Đại 591 454 665 Lải P. caribaea var. hondurensis (PCH) – chọn lọc hạt tốt 522 280 672 nhất của 11 cây trội, Rừng giống tại Đại Lải P. caribaea var. hondurensis (PCH) – không chọn – 591 314 1,065 Queensland P. elliottii var. elliottii x PCH = PEE x PCH F2 hybrid - 159 85 125 Queensland PCH x P. caribaea var. caribaea (PCH x PCC) – 186 142 218 Queensland Tổng số cây vật liệu 2,059 1,559 2,745 Chi tiết về từng vườn vật liệu như sau: 2.1 Ba Vì (Cẩm Qùy) Attachment A là các hình ảnh về vườn vật liệu tại Ba Vì ở các giai đoạn khác nhau. Hơn 2000 cây hạt được trồng trong vườn vật liệu từ 5 loài khác nhau như đã trình bày trong bảng 2. Vườn vật liệu gồm 14 luống, trong đó, 7 luống sử dụng tấm phủ màu đen của Queensland và 7 luống sử dụng tấm phủ bằng nhựa màu xanh. Ảnh A1 đến A4 (Tháng 11, năm 2006, 3 tháng sau khi trồng) cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng của vườn vật liệu khá tốt, chỉ một số ít cây bị chết. Khi khoá học về xây dựng và quảnlý vườn vật liệu và vườn ươm diễn ra vào tháng 5 năm 2007 (khoảng 9 tháng tuổi), cây trong vườn vật liệu còn rất khoẻ mạnh, có thể sẵn sàng cho việc thu hoạch chồi, thể hiện ở ảnh A5 đến A7 Trong suốt tháng 7 năm 2007 (11 tháng sau khi trồng), một loạt cây trong vườn vật liệu đã chết một cách nhanh chóng, bắt đầu từ những luống có sử dụng tấm phủ mầu xanh. Tham khảo ảnh A8 đến A13. Bảng 3 cho thấy số lượng và tỷ lệ cây còn sống của từng xuất xứ cụ thể sau lần thu chồi thứ 2 (tháng 9 năm 2007) và lần thu chồi thứ 3 (tháng 11 năm 2007) Chỉ có 6% cây còn sống sau lần thu chồi thứ 2 và tỷ lệ này giảm xuống còn 4% sau lần thu chồi thứ 3 vào tháng 11 năm 2007. Chỉ có cây lai giữa PEE và PCH đời F2 có nguồn gốc từ Queensland là có tỷ lệ sống cao nhất với 42% sau lần thu chồi thứ 3. Ảnh A14 đến A17 cho thấy tình trạng vườn vật liệu vào tháng 10 năm 2007, trong đó đã có một số lượng cây đã được trồng lại. Page 4 of 11
  5. Bảng 3: Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Ba Vì sau 2 và 3 lần thu chồi Nhóm Số lượng cây Số lượng cây Tỷ lệ sống Số lượng cây Tỷ lệ sống ban đầu còn sống sau khi (tháng 9/07) còn sống sau (tháng 11/07) thu chồi lần 2 khi thu chồi (tháng 9/07) lần 3 (tháng 11/07) PEE x PCH 50% 159 79 66 42% (Qld) PCH x PCC 9% 186 17 4 2% (Qld) PCH (Qld) 0% 591 1 0 0% không chọn PCH – Dai 3% 522 14 1 0% Lai (chọn) PCH – Dai 1% Lai (không 591 6 2 0% chọn) Tổng số 2,049 117 6% 73 4% Hiện tượng vườn vật liệu chết hàng loạt và nhanh chóng ở Ba Vì chưa từng thấy ở Queensland. Việc này là một điều gây ngạc nhiên và thất vọng cho tất cả những người đã tham gia vào xây dựng vườn vật liệu này. Vườn vật liệu đã sinh trưởng khá tốt chỉ trước đó một vài tháng. Sau khi trao đổi với cán bộ địa phương được biết, nhiệt độ tại đây rất cao vào hồi tháng 6 và tháng 7 năm 2007. Như vậy, có thể cho rằng, với nhiệt độ rất cao (có lúc lên đến 41oC khi theo dõi dưới tấm phủ mầu xanh, tấm này mỏng hơn tấm phủ màu đen) có thể là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến hiện tượng nói trên. Hệ thống rễ của cây trong điều kiện đất sét ẩm, có thể đã bị nung nóng, chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cây chết đồng loạt nhanh chóng. Trước tình trạng như vậy, việc quản lý vườn vật liệu tại Ba Vì trong thời gian tới cần phải chú ý những vấn đề sau đây: Những gợi ý đối với vườn vật liệu tại Ba Vì 1. Tháo bỏ (chứ không di chuyển) các tấm phủ trước khi xây dựng lại vườn vật liệu. 2. Trộn thêm phân hữu cơ và cát vào các luống của vườn vật liệu để giảm thành phần đất sét và cải thiện tình hình thoát nước trước khi xây dựng lại vườn vật liệu. 3. Xây dựng thêm mái che cho khu vực vườn vật liệu để đảm bảo vườn vật liệu được che mát trong giai đoạn nóng nắng. 4. Xây dựng lại vườn vật liệu (bao gồm P. caribaea var. bahamensis – PCB và có thể PCH x PCB) càng sớm càng tốt. 5. Tránh cắt tỉa vệ sinh vườn vật liệu và thu chồi vào thời điểm quá nắng nóng và những tháng ẩm ướt mùa hè để giảm nguy cơ sâu bệnh tấn công. Page 5 of 11
  6. 2.2 Phu Ninh (FRC) Attachment B là các hình ảnh về khu vực vườn vật liệu tại Phù Ninh ở các giai đoạn khác nhau. 1559 cây hạt từ 6 nhóm khác nhau được trồng trong vườn vật liệu như ở bảng2. Vườn vật liệu gồm có 28 luống, 14 luống có sử dụng tấm phủ màu đen từ Queensland và 14 luống được phủ bằng rơm. Ảnh B1 đến B9 (tháng 5 năm 2007) cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng ban đầu của các cây trong vườn vật liệu tương đối tốt, chỉ có một số ít cây bị chết, mặc dù vào thời điểm trồng, một số cây đã cao hơn yêu hơn. Ảnh B10 (tháng 8 năm 2007) cho thấy một số ít cây vật liệu đã chết và có rất nhiều cây đã bị ngả màu vàng. Hiện tượng này diễn ra vào cùng thời điểm cây tại Ba Vì chết đồng loạt. Ảnh B11 đến B19 (tháng 11 năm 2007), 11 tháng sau khi xây dựng vườn vật liệu cho thấy nhóm cây lai PEE x PCH F2 (từ Queensland) và thông Masson đã bị chết hàng loạt. Đã tiến hành trồng dặm bổ sung trên những diện tích sử dụng tấm phủ màu đen và trên 14 luống phủ bằng trấu đã thay thế bằng cây bạch đàn. Có đến 454 cây được trồng bổ sung vào tháng 10 năm 2007, bao gồm 31% cây lai PEE x PCH F2. Có rất nhiều cây đã bị vàng lá, có thể liên quan đến một loại bệnh nào đó mà các cán bộ địa phương không thể xác định chính xác được. Bảng 4 cho biết số lượng và tỷ lệ phần trăm số cây còn sống vào tháng 10 năm 2007. Trung bình, chỉ có 9% số cây còn sống vào tháng 10 năm 2007. Cũng như ở Ba Vì, cây lai PEE x PCH F2 từ Queensland (42%) có tỷ lệ sống cao hơn nhiều so với các xuất xứ khác. Tỷ lệ sống của thông đuôi ngựa (24%) là có thể chấp nhận được và vẫn cao hơn nhiều so với xuất xứ PCH (2 – 3%) Bảng 4: Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Phù Ninh cho đến tháng 10 năm 2007 Xuất xứ Số cây vật Số cây còn sống Tỷ lệ sống liệu trồng (tháng 11/07) (tháng 11/07) ban đầu PEE x PCH (Qld) 85 36 42% PCH x PCC (Qld) 142 13 9% PCH (Qld) không 314 7 2% chọn PCH – Dai Lai (chọn) 280 5 2% PCH – Dai Lai (không 454 13 3% chọn) Thông đuôi ngựa 284 68 24% Tổng cộng 1,559 142 9% Một điều trùng hợp là cây trong vườn vật liệu tại Phù Ninh chết do cùng nguyên nhân với vườn vật liệu tại Ba Vì, ở những luống sử dụng rơm để phủ lên luống cây (không sử dụng tấm phủ màu đen) cũng vẫn bị chết rất nhiều. Thời tiết nóng ẩm trong suốt mùa hè có thể là tạo điều kiện cho sâu và bệnh tấn công, đặc biệt là vào thời điểm ngày sau khi thu hái chồi. Những gợi ý cho vườn vật liệu tại Ba Vì cũng tương tự có thể được áp dụng cho vườn tại Phù Ninh, tuy nhiên, không nên xây dựng vườn vật liệu cho PCB ở Phù Ninh.. Page 6 of 11
  7. 2.3 Dalat (Cam Ly) Attachment C là những hình ảnh về vườc vật liệu tại Đà Lạt ở các giai đoạn khác nhau. 2,745 cây con từ hạt đã được trồng trong vườn vật liệu bao gồm 5 nhóm loài khác nhau như trong bảng 2. Vườn vật liệu cũng có sử dụng tấm phủ màu đen từ Queensland và tấm phủ màu xanh từ địa phương. Không giống như 2 địa điểm trên, (3 hàng trên mỗi luống, luống được đắp nổi), tại Đà Lạt, trồng 5 hàng mỗi luống , luống không đắp nổi). Trong mỗi vòng tròn có đường kính khoảng 20 cm có sử dụng một ống lon có chứa đầy than, cây được trồng ở trong đó. Điều này giúp giảm sức nóng cho phần gốc cây vật liệu. Đà lạt là nơi có độ cao 1,500 m so với mặt nước biển, đất ở đây thoát nước tốt, thêm vào đó có khí hậu mát mẻ. Đây chính là những điểm thuận lợi giúp cho vườn vật liệu tại Đà Lạt phát triển hơn hẳn Ba Vì và Phù Ninh.. Ảnh C1 đến C3 (tháng 11 năm 2006, 4 tháng sau khi trồng) đã cho thấy tỉ lệ sống rất cao và khả năng sinh trưởng tốt, chỉ có một số rất ít cây bị chết. Ảnh C4 đến C11 (tháng 5 năm 2007, 10 tháng sau khi trồng) cho thấy tỷ lệ sống cũng như sinh trưởng của vườn là rất tốt. Những hình ảnh này cũng cho thấy tấm phủ màu xanh mua tại địa phương chất lượng đã giảm đi nhanh chóng. Ảnh C12 đến C15 (tháng 12 năm 2007, 17 tháng sau khi xây dựng), vào thời điểm này, vườn vật liệu mới được cắt tỉa vệ sinh, một số cây bị chết nhưng tỷ lệ sống vẫn rất cao. 3.0 Vườn ươm trình diễn, thu chồi và giâm hom Trong phần này của báo cáo, những kết quả và thí nghiệm về cắt chồi, giâm hom được trình bày lần lượt sau đây. 3.1 Vườn ươm Ba Vì Attachment D là những hình ảnh khác nhau liên quan đến vườn ươm tại Ba Vì bao gồm cấu trúc vườn ươm, thu chồi từ vườn vật liệu, giâm hom và quá trình lớn lên của cây con. Ảnh D1 và D2 (tháng 11 năm 2006) là hình ảnh nhà che bóng để giâm hom (là một phần của dự án CARD) Ảnh D3 đến D11, được chụp trong thời gian diễn ra khoá đào tạo vào tháng 5 năm 2007, là những hình ảnh về cắt chồi, giâm hom, vệ sinh, tỉa lại cây vật liệu sau khi thu chồi và sự phát triển của hệ thống rễ của cây con đã giâm hom trước đó. Ảnh D12 đến D16 cho thấy sự phát triển của chồi vào tháng 11 năm 2007. Biện pháp xử lý để làm tăng tỷ lệ ra rễ của hom đã được xem xét đánh giá kỹ tại Ba Vì. Việc thử nhân giống hom thông đã từng được tiến hành nhưng không đạt hiệu quả cao. Một thí nghiệm đã được thiết lập để so sánh phương pháp cắt hom của Việt Nam và Queensland. Bảng 5 là kết quả của các kỹ thuật cắt hom khác nhau cho các xuất xứ thông khác nhau. Page 7 of 11
  8. Table 5: Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt hom đến tỷ lệ ra rễ sau 6 tháng tại Ba Vì Xuất xứ Số lượng chồi của Tỷ lệ phần trăm số cây hom vẫn sống của mỗi kỹ thuật cắt mỗi kỹ thuật cắt Kỹ thuật cắt của Kỹ thuật cắt của Việt Nam Queensland PEE x PCH (Qld) 150 13 62 PCH x PCC (Qld) 150 28 65 PCH (Qld) – không 150 25 52 chọn PCH Dai Lai – chọn 100 6 19 PCH Dai Lai – không 550 4 12 chọn Tổng số 1,100 11 32 Kết quả trên cho thấy rằng kỹ thuật cắt hom của Queensland hiệu quả gấp 3 lần số với của Việt nam (trung bình 32% so với 11%). Khi đem so sánh kết quả của các xuất xứ khác nhau, cho thấy các xuất xứ của Queensladn (PEE x PCH, PCH x PCC và PCH – Qld) có tỷ lệ trung bình là 60% so với 2 xuất xứ PCH của Đại Lải (13%). Nếu đem gộp cả tỷ lệ sống của vườn vật liệu (bảng 3) và tỷ lệ sống của chồi với nhau, thì nhận thấy, nhóm cây lai PEE x PCH F2 của Queensland nếu được cắt chồi với kỹ thuật của Queensland thì sẽ cho kết quả tốt nhất. Mô hình thông lai PEE x PCH F2 10 tuổi ở gần Ba Vì (đã có trong báo cáo mốc 8 của dự án CARD) cũng đã nhấn mạnh việc so sánh giữa các xuất xứ khác nhau, đưa ra những nhận định lạc quan về cây lai PEE x PCH đời F2 rất thích hợp với lập địa tại miền bắc Việt Nam. Ở một thí nghiệm khác về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của cây hom đã được thử nghiệm cho 2 loại thông khác nhau. Kết quả (ở bảng 6) cho thấy không có sự khác nhau về tỷ lệ sống giữa 2 công thức: có chất kích thích và không có chất kích thích. Như vậy, có thể thấy, không cần phải sử dụng chất kích thích trong giâm hom thông. Kết quả này cũng giống như kết quả thí nghiệm đã được tiến hành ở Queensland cho loài thông lai. Cũng trong thí nghiệm tại Queensland, hom của cây lai PEE x PCH F2 cũng tốt hơn nhiều so với PCH địa phương. Page 8 of 11
  9. Table 6: Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng tại Ba Vì. Xuất xứ Số lượng chồi đem Số lượng/ tỷ lệ sống giâm hom Không dùng IBA 1% IBA PEE x PCH (Qld) 150 88 (59%) 95 (63%) PCH x PCC (Qld) 150 101 (67%) 91 (61%) PCH – Dai Lai chọn 100 27 (27%) 20 (20%) Tổng cộng 400 216 (54%) 206 (52%) Trong lần đánh giá vườn ươm Ba Vì vào tháng 10 năm 2007 (ảnh 13 đến ảnh 17) nhận thấy rằng thành phần ruột bầu quá ẩm ướt và luôn giữ quá nhiều nước ở bên trong bầu. Nên giảm lượng nước tưới và nếu có thể, cần cải tiến thay thế loại thành phần ruột bầu khác, ít giữ nước hơn. Và khi cây con đã ra rễ, cần được đưa ngay ra nơi có đủ ánh sáng. 3.2 Vườn ươm FRC và các thí nghiệm về giâm hom ở Phù Ninh. Attachment E là những hình ảnh khác nhau về cắt hom, giâm hom tại Phù Ninh. Ảnh E1 đến E9 được chụp vào tháng 5 năm 2007, 1 năm sau khoá đào tạo tại Queensland và trước khoá đào tạo tại Việt Nam. Nhìn chung, cây hom phát triển tốt, tuy nhiên, sau khi cây ra rễ, cần được đưa ra nơi có đủ ánh sáng để cây có thể phát triển tốt. Sau những gợi ý này, cán bộ của FRC đã xây dựng một diện tích nhỏ có đủ ánh sáng, đặt ngay bên cạnh nhà có mái che để đảm bảo sự phát triển của cây hom sau khi chúng bắt đầu ra rễ. Ảnh E10 đến E17 (tháng 11 năm 2007) là hình ảnh về khu vực có đủ ánh sáng cho cây hom. Cho đến nay, đã tiến hành thu chồi được 3 lần, bảng 7 là kết quả tóm tắt số lượng chồi trung bình thu được ở mỗi cây, và tổng số chồi đem giâm hom, tỷ lệ sống tính đến tháng 10 năm 2007. Tỷ lệ sống của 2 nhóm cây lai và PCH (Đại lải, có chọn lọc) khá cao. Mặt khác, khó có thể giải thích được sự khác biệt khá rõ rệt giữa tỷ lệ sống của xuất xứ PCH (Đại Lải, có chọn lọc) là 62% so với 2 xuất xứ PCH còn lại (trung bình là 18%). Table 7: Cắt chồi và giâm hom ở FRC cho các xuất xứ thông khác nhau. Xuất xứ Số lượng chồi Số lượng chồi Số lượng cây Tỷ lệ sống từ mỗi cây cắt được và hom còn sống giâm hom PEE x PCH (Qld) 17.44 445 342 77% PCH x PCC (Qld) 19.6 200 135 68% PCH Dai Lai – chọn lọc 28.6 360 223 62% PCH Dai Lai – không chọn 26.5 540 91 17% PCH (Qld) – không chọn 26 600 112 19% Tổng cộng 2145 903 42% Page 9 of 11
  10. 3.3 Vườn ươm tại Đà Lạt Attachment F cho thấy những hình ảnh khác nhau về quá trình giâm hom và cây con lớn lên tại Đà Lạt. Hình ảnh F1 đến F4 (tháng 10 năm 2006) cho thấy kết quả của lần giâm hom đầu tiên. Cũng giống như tại các vườn ươm khác, cây hom được tứơi quá đẫm và không được đưa ra nơi có đủ anh sáng sau khi hệ rễ đã hình thành. Không nên đặt cây con trực tiếp lên mặt đất vì sự thoáng khí quanh hệ rễ là một yếu tố quan trọng để cây con phát triển. Ảnh F5 đến F8 (tháng 5 năm 2007) là những hình ảnh nổi bật về việc thu hái chồi và giâm hom từ vườn vật liệu ở Cam Ly (trong khoá đào tạo diễn ra tại Đà Lạt) Ảnh F9 đến F12 (tháng 12 năm 2007) thể hiện quá trình phát triển của cây hom cho đến bây giờ. Cho đến bay giờ, phần lớn cây trong vườn vật liệu vẫn sống. Đã thu chồi và giâm hom 3 lần như trong bảng 8. Bốn loại thành phần ruột bầu khác nhau cũng đã được thử để đánh giá hiệu quả của chúng đến tỷ lệ ra rễ. Bảng 9 cho thấy tỷ lệ ra rễ của cây con sau 5 tháng tuổi. Bảng 8: Lịch sử của thu hoạch chồi và giâm hom ở Cam ly , Đà Lạt Ngày thu chồi và giâm hom Số lượng chồi trung Số hom đem giâm bình của mỗi cây Tháng 9, 2006 3-5 1,200 Tháng 5, 2007 8-9 3,000 Tháng 10, 2007 10 - 20 5,000 Bảng 9: Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng giâm hom của các loại hỗn hợp ruột bầu khác nhau Hỗn hợp ruột bầu Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng 100% đất mặt 73% 50% đất mặt: 50% vỏ càphê phân huỷ 70% 1/3 đất mặt : 1/3 vỏ càphê phân huỷ: 1/3 cát mịn 60% 50% đất mặt: 50% cát mịn 63% Chưa có thí nghiệm về giâm hom cho các loài thông khác nhau ở Đà Lạt. 4.0 Kết luận Từ việc xây dựng và quản lý đối với 3 vườn nhân giống thông ở Việt Nam, có thể đưa ra những kết luận ban đầu và gợi ý như sau: 1. Vị trí của vườn vật liệu cần chú trọng đảm bảo khả năng thoát nước tốt để hạn chế sức nóng. Ở những nơi có nhiệt độ cao, cần phải có mái che tạm thời để ngăn cây không bị đốt nóng. 2. Nếu tiến hành xây dựng lại vườn vật liệu ở Ba Vì hoặc ở Phù Ninh, cần cải thiện hệ thống thoát nước tốt trước khi trồng. Page 10 of 11
  11. 3. Nhóm cây lai PEE x PCH có khả năng sống tốt hơn so với PCH ở phía Bắc. Ở Ba Vì, không nên xây dựng vườn vật liệu cho PCB và PCH x PCB. 4. Sử dụng chất kích thích ra rễ không làm tăng tỷ lệ ra rễ. 5. Khi thu chồi để giâm hom, chồi phải được giữ ẩm, nhưng không quá ướt. Chế độ tưới linh hoạt nên được sử dụng để đảm bảo mỗi khu vực không bị quá khô hoặc quá ướt. 6. Tiếp tục đánh giá lựa chọn loại hỗn hợp ruột bầu có chi phí thấp, đặc biệt ưu tiên chọn loại có khả năng thoát nước tốt. 7. Tránh cắt tỉa, vệ sinh cây trong vườn vật liệu vào giai đoạn quá nắng, nóng và ẩm mùa hè để hạn chế nguy cơ tấn công của sâu bệnh hại. 8. Cây con cần được di chuyển đến nơi có nhiều anh sáng ngay khi hệ rễ bắt đầu phát triển. 5.0 Liên lạc Quản lý dự án Phía Việt Nam Phía Queensland Mr Phi Hong Hai Mr Ian Last Phó giám đốc Quản lý Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Tổ chức trồng rừng bang Queensland Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội P O Box 1339 Phi.hong.hai@fsiv.org.vn GYMPIE, Queensland, 4570 Điện thoại: 84 (0) 4 8389 813 AUSTRALIA Fax : 84 (0) 4 836 2280 Ian.last@fpq.qld.gov.au Ph: 61 (0) 754 820 891 Fax: 61 (0) 7 5482 3430 Pilot Nurseries Địa điểm Lãnh đạo/giám đốc Quản lý Cam Quy, Ba Vi Mr Nguyen Dinh Hai Mr Mai Trung Kien HA TAY Trạm trưởng Trạm phó Trạm thực nghiệm Ba Vì Trạm thực nghiệm Ba Vì FRC, Phu Ninh Mr Ha Van Huy Miss Vu Thi Tho PHU THO Giám đốc Viện nguyên liệu giấy (Đơn vị của Tổng công ty giấy Việt Nam) Cam Ly, Dalat Mr Hua Vinh Tung Mr Pham Trong Nhan LAM DONG Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng Page 11 of 11

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản