intTypePromotion=3

Báo cáo kết quả khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2013 của Viện Bảo vệ Thực vật

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
8
lượt xem
0
download

Báo cáo kết quả khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2013 của Viện Bảo vệ Thực vật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày về báo cáo kết quả khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2013 của Viện Bảo vệ Thực vật. Viện Bảo vệ thực vật, cơ quan thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ về các đối tượng sâu, bệnh hại, cỏ dại trên cây trồng và biện pháp phòng trừ đồng thời nghiên cứu phát triển công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật về chẩn đoán nhanh và chính xác tác nhân gây bệnh cũng như việc chuyển giao và xây dựng mô hình về bảo vệ thực vật theo hướng nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường tạo nền nông nghiệp sạch cho các sản phẩm... Năng suất cây trồng cao là mục tiêu cho tất cả các hệ thống nông nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo kết quả khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2013 của Viện Bảo vệ Thực vật

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> BÁO CÁO KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2011 - 2013<br /> CỦA VIỆN BẢO VỆ THỰC VẬT<br /> PGS.TS. Phạm Thị Vượng<br /> Quyền Viện trưởng<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Viện Bảo vệ thực vật, cơ quan thuộc Viện<br /> Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông<br /> nghiệp và PTNT đã thực hiện theo đúng chức<br /> năng, nhiệm vụ về các đối tượng sâu, bệnh hại,<br /> cỏ dại trên cây trồng và biện pháp phòng trừ<br /> đồng thời nghiên cứu phát triển công nghệ sinh<br /> học trong bảo vệ thực vật về chẩn đoán nhanh và<br /> chính xác tác nhân gây bệnh cũng như việc<br /> chuyển giao và xây dựng mô hình về bảo vệ thực<br /> vật theo hướng nông nghiệp bền vững và thân<br /> thiện với môi trường tạo nền nông nghiệp sạch<br /> cho các sản phẩm.<br /> Năng suất cây trồng cao là mục tiêu cho tất cả<br /> các hệ thống nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là sử<br /> dụng một cách hiệu quả các nguồn thiên nhiên<br /> nhằm tạo ra thu nhập thích hợp để phục vụ cho các<br /> nhu cầu cá nhân, xã hội và nền kinh tế của đất<br /> nước. Tất cả những điều đó cần được thực hiện<br /> với sự thay đổi về môi trường trong khuôn khổ<br /> cho phép của xã hội và chính trị. Nông nghiệp nói<br /> chung theo định nghĩa tạo nên những thay đổi về<br /> môi trường, các hệ thống nông nghiệp đột phá một<br /> cách có mục đích các hệ thiên nhiên, sinh thái<br /> thông qua các hình thức can thiệp của con người.<br /> Trong những năm qua, ngành bảo vệ thực<br /> vật đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc đưa<br /> nước ta thành một nước xuất khẩu gạo lớn trên<br /> thế giới và phát triển các sản phẩm hàng hóa<br /> nông nghiệp khác như: Xuất khẩu quả thanh<br /> long, bưởi Da Xanh, Năm Roi, cà phê, ca cao,<br /> tiêu... Nghệ An có nhiều cây trồng chủ lực như:<br /> Cam Xã Đoài, mía, lạc, cà phê, cao su.<br /> Khoa học công nghệ là yếu tố then chốt<br /> trong việc thúc đẩy các hoạt động BVTV hiệu<br /> quả, an toàn và kinh tế. Trong lịch sử phát triển<br /> của Viện đã có nhiều mốc lịch sử đáng ghi nhớ<br /> về các trận dịch do sâu, bệnh gây ra và toàn<br /> ngành đã đối phó và phòng chống để đảm bảo<br /> lương thực. Cụ thể trong những năm gần đây đã<br /> có các trận dịch trên các đối tượng cây trồng sau:<br /> - Cây lương thực: Năm 2006 - 2007 dịch<br /> bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở các tỉnh phía Nam<br /> 60<br /> <br /> và đến đầu năm 2011 dịch đang có chiều hướng<br /> bùng phát trở lại; năm 2009 dịch bệnh lùn sọc<br /> đen phương Nam gây thiệt hại lớn trên lúa cho<br /> các tỉnh phía Bắc và miền Trung, trong đó phải<br /> kể đến Nghệ An, Nam Định bị bệnh lùn sọc đen<br /> phương nam gây hại nặng nhất đồng thời dịch<br /> bệnh này cũng gây hại nghiêm trọng trên ngô.<br /> Bệnh đạo ôn, bạc lá là hai đối tượng mà hàng<br /> năm luôn gây hại trên lúa; 2011 và hiện nay dịch<br /> bệnh chổi rồng đang gây hại nặng trên sắn.<br /> - Cây mía: Năm 2008 - 2009 dịch bệnh chồi<br /> cỏ mía đã phá hủy hơn 5.000ha tại Nghĩa Đàn,<br /> Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu (Nghệ<br /> An), bệnh đã làm cho nhà máy không có đủ<br /> nguyên liệu, bệnh trắng lá mía hiện nay đang lan<br /> rộng trên khắp các tỉnh có diện tỉnh trồng mía<br /> lớn. Những năm trước 2008 và cho đến nay bọ<br /> hung và rệp xơ bông trắng luôn là đối tượng gây<br /> hại nặng trên mía, chúng đã làm giảm độ đường<br /> của mía.<br /> - Cây hồ tiêu: Từ năm 2005 - 2007 gây hiện<br /> tượng chết nhanh, chết chậm hàng loạt ở các<br /> vườn kinh doanh<br /> - Cây cà phê: Bao gồm dịch rệp sáp và các<br /> loại sâu mới hại cà phê<br /> - Cây cao su gồm dịch bệnh phấn trắng và<br /> rụng lá cao su vào năm 2009, chết cành và mất<br /> mủ cao su vào năm 2010.<br /> - Cây rừng: Dịch sâu róm gây hại năng trên<br /> cây thông tại Nghệ An, Hà Tĩnh vào năm 2006 2007, bọ ánh kim hại cây hồi năm 2012 ở Lạng<br /> Sơn.<br /> - Cây ăn quả: Tiếp tục dịch bệnh greening và<br /> tristeza đe dọa ngành phát triển cây có múi, ngoài<br /> ra còn xuất hiện bệnh tatterleaf, exocortis, bệnh<br /> chổi rồng hại nhãn, bệnh đốm trắng thanh long,<br /> ruồi vàng gây hại nặng trên tất cả các loại cây ăn<br /> trái và rau ăn quả, đặc biệt gây tổn thất lớn đến<br /> việc xuất khẩu quả có múi, thanh long...<br /> Trong những năm qua hệ thống nghiên cứu<br /> và chỉ đạo công tác bảo vệ thực vật được chặt<br /> chẽ, sâu sát hơn, nắm bắt kịp thời các vấn đề nổi<br /> lên và giải quyết kịp thời phục vụ sản xuất. Hệ<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất<br /> <br /> thống mạng lưới bảo vệ thực vật ngày càng được<br /> nâng cao về kiến thức và kinh nghiệm thông qua<br /> các hoạt động chuyển giao công nghệ, tập huấn<br /> cho nông dân và đào tạo cán bộ. Từ những công<br /> tác đó mà nông nghiệp nước ta đã được các nước<br /> trong khu vực và thế giới đánh giá cao.<br /> Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học công<br /> nghệ BVTV, những năm qua đã phối hợp chặt<br /> chẽ giữa nghiên cứu và triển khai, chỉ đạo sản<br /> xuất, góp phần ổn định và nâng cao tổng sản<br /> lượng lương thực trên cả nước nói chung.<br /> II. KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAI<br /> ĐOẠN 2011 - 2013<br /> 2.1. Bảo quản và thu thập bộ mẫu Quốc gia<br /> - Bảo quản và thu thập: Duy trì và bảo quản<br /> tốt bộ mẫu vật (côn trùng trên 8.000 loài, trên<br /> 100 ngàn mẫu vật, nhiều mẫu sâu non; trên 750<br /> loại mẫu bệnh cây và trên 700 loài cỏ dại hại cây<br /> trồng nông nghiệp).<br /> Bảo tồn và duy trì được các nguồn vi sinh<br /> vật để sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá chọn<br /> tạo giống chống chịu và nghiên cứu tạo chế phẩm<br /> sinh học. Các nguồn nấm có ích ký sinh trên rầy<br /> nâu, rầy lưng trắng, ve sầu hại cây cà phê. Các<br /> nguồn vi sinh vật duy trì sức sống 100%.<br /> - Phân lập isolate mới:<br /> Đã phân lập được nấm Fusarium oxysporum<br /> gây bệnh héo vàng cà chua, dưa chuột.<br /> Phân lập các mẫu đất trồng cà chua, dưa<br /> chuột thu được 6 isolate xạ khuẩn, 6 isolate vi<br /> khuẩn và 5 isolate Trichoderma có khả năng đối<br /> kháng cao với nấm F. oxysporum<br /> Thử nghiệm 36 dòng VSV có khả năng đối<br /> kháng nấm F. oxysporum, hiệu quả trên 85%. Kết<br /> quả thử nghiệm chất hữu cơ bột tôm cua có tác<br /> dụng trên 40% hạn chế sự phát triển của nấm F.<br /> oxysporum.<br /> Trên cây cao su đã phân lập và làm thuần<br /> đươc 52 isolate nấm Corynespora casiicola.<br /> Phân lập và tách được 80 isolate thuần đối<br /> với bệnh thối quả ca cao.<br /> Đã thu thập được 25 chủng nấm. Đánh giá<br /> khả năng phân giải enzym ngoại bào trên các cơ<br /> chất khác nhau của các chủng BR5, BR11, BR13,<br /> BR16, MR1, MR3, MR4 và hỗn hợp chủng MR7<br /> với BR9, BR5 với MR4. Xác định nấm phát triển<br /> tốt nhất ở trong số 4 mức nhiệt độ thí nghiệm.<br /> Bảo quản bằng glyceryl và hút chân không. Bào<br /> <br /> tử tinh phối trộn với phụ gia 1 ở tỷ lệ 1:9 hoặc<br /> 1:12 cho thời gian bảo quản dài hơn so với bào tử<br /> tinh bảo quản nguyên chất và bảo quản ở tỷ lệ<br /> phối trộn 1:6.<br /> Đã phân lập và tạo được 2 dòng tế bào phát<br /> triển từ mô phôi và mô mỡ sau nhiều chu kỳ nhân<br /> nuôi đạt hàm lượng 3,03  1010 và 2,17  1010 tế<br /> bào/ml và đã đưa vào lưu giữ 142 mẫu thực liệu<br /> tế bào.<br /> + Phân lập, định danh, các chủng nấm và xác<br /> định nấm ký sinh sâu non ve sầu hại cà phê là<br /> Paecilomyces cicadae, ký sinh trưởng thành ve<br /> sầu hại cà phê là Normura cylindrospora, nấm ký<br /> sinh sâu non bọ hung đen hại mía Thanh Hóa là<br /> Metarhizium anisopliae, nấm ký sinh sâu non xén<br /> tóc hại mía tại Gia Lai là Metarhizium anisopliae.<br /> - Điều tra phát hiện:<br /> Ghi nhận được sự phát sinh, gây hại của rầy<br /> nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi<br /> đen trên lúa.<br /> Bệnh đốm lá vi khuẩn hại sắn xuất hiện ở<br /> nhiều vùng trồng sắn thuộc các tỉnh: Bà RịaVũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,<br /> Tây Ninh...<br /> Bệnh sưng rễ cây su hào (Plasmodiophora<br /> brassicae) lần đầu xuất hiện ở phía Bắc (Nam<br /> Hồng - Đông Anh - Hà Nội).<br /> Bệnh đốm nâu thanh long (Neoscytalidium<br /> dimidiatum) gây hại thanh long trên diện rộng ở<br /> Bình Thuận.<br /> Đã xác định được 2 loài ruồi đục quả<br /> Bactrocera correcta và Bactrocera dorsalis hại<br /> Thanh Long. Hai loài ruồi trên còn gây hại trên<br /> 15 loại quả và 11 loại rau ăn quả.<br /> Đã xác định 3 loài xén tóc đen, 9 loài bọ<br /> hung hại mía ở Tây Nguyên. Loài gây hại nặng<br /> thành dịch là loài xén tóc đen, phân bố chủ yếu<br /> tại huyện An Khê và Kbang của Gia Lai và mới<br /> phát hiện thấy ở Kon Tum. Loài xén tóc nâu mới<br /> ghi nhận ở Kbang, chúng vũ hóa vào cuối tháng<br /> 5, sớm hơn loài xén tóc đen.<br /> Đã thu thập được 40 loài sâu hại và thiên<br /> địch trên na, đã giám định tên khoa học cho 27<br /> loài. Trong đó thành phần loài sâu hại na ở Đông<br /> Triều ít hơn (20 loài) so với thành phần sâu hại<br /> na ở Chi Lăng (27 loài). Ở Đông Triều rệp sáp<br /> giả Planoccocus citri nổi lên như là một sâu hại<br /> chính phải phòng trừ. Trong quá trình điều tra đã<br /> không bắt gặp sự xuất hiện cũng như gây hại của<br /> bọ xít lưng gồ Pseudodoniella sp. Ở Chi Lăng<br /> 61<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> sâu hại chính là bọ xít lưng gồ Pseudodoniella sp.<br /> và rệp sáp giả.<br /> 2.2. Kết quả nghiên cứu cơ bản<br /> Xác định nguyên nhân gây hiện tượng vàng<br /> lá lúa tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) vụ Mùa 2010 là<br /> do virus vàng lá di động (RTYV) hay còn gọi là<br /> vàng lụi (RYSV), rầy xanh đuôi đen là môi giới<br /> truyền bệnh. Sự có mặt của phytoplasma trên lúa<br /> có triệu chứng đẻ nhánh nhiều.<br /> Đã xác định được 105 đoạn trình tự gen khác<br /> nhau của RGSV (30 P3, 30 PC3, 30 P5 và 15<br /> PC5), sự đa dạng của bệnh vàng lùn (RGSV)<br /> giữa các isolate bình quân 1,9%. Xác định 15<br /> trình tự đoạn gen của RRSV (P9), trình tự gen<br /> COI của 14 cá thể rầy nâu thu trên cỏ. Kết quả<br /> phân tích ban đầu cho thấy các trình tự chia làm 2<br /> nhóm, 1 nhóm gồm 12 cá thể với khoảng cách di<br /> truyền trong nhóm từ 0 - 0,3% và 1 nhóm gồm 2<br /> cá thể có khoảng cách di truyền ~0 và khoảng<br /> cách di truyền giữa 2 nhóm từ 10,8 ~ 11,3%.<br /> Trên cây sắn ở phía Nam, trình tự đoạn gen 16S<br /> rRNA của phytoplasma tách từ cây bị bệnh chổi<br /> rồng đã đăng ký 06 trình tự và 4 trình tự đoạn<br /> gen vùng ITS của nấm gây bệnh thán thư trên<br /> Ngân hàng gen.<br /> Tiến hành chọc lọc tập đoàn 50 giống lúa ở<br /> các tỉnh phía Nam; đánh giá khả năng kháng bệnh<br /> đạo ôn của 55 nguồn vật liệu từ Trung tâm Tài<br /> nguyên thực vật và 150 nguồn vật liệu từ IRRI.<br /> Đánh giá 20 giống chỉ thị mang gen kháng rầy nâu<br /> với các nguồn rầy nâu thu thập được. Đánh giá và<br /> chọn lọc các dòng có năng suất, chống chịu rầy<br /> nâu từ tập đoàn 200 dòng giống lúa.<br /> Thu thập và đánh giá 100 dòng vật liệu<br /> (dòng/giống lúa chịu hạn, lúa cạn) trong nhà lưới<br /> và đồng ruộng về tính chịu hạn, năng suất, tính<br /> chống chịu sâu bệnh; bố trí các thí nghiệm đánh<br /> giá tính thích ứng của các giống tại các tỉnh<br /> Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Bình, Nam Định.<br /> Thu thập được 7 nguồn rầy nâu từ ĐBSCL<br /> (Long An, An Giang, Đồng Tháp Mười) và miền<br /> Trung (Bình Định, Huế), miền Bắc (Hà Nội, Nam<br /> Định), nhân nuôi trong nhà lưới để phục vụ các<br /> thí nghiệm đánh giá tuyển chọn nguồn gen kháng<br /> và xác định biotype.<br /> Trên cây sắn được tập trung chủ yếu nghiên<br /> cứu bệnh chổi rồng và thán thư. Bệnh chổi rồng<br /> hại sắn lan truyền qua hom giống đã bị nhiễm<br /> bệnh. Đánh giá sự bộ tập đoàn sắn bao gồm 186<br /> dòng, giống sắn tại Trung tâm Nghiên cứu Thực<br /> 62<br /> <br /> nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc - Đồng Nai, đến<br /> nay chưa ghi nhận dòng, giống sắn kháng cao đối<br /> với bệnh chổi rồng. Bệnh thán thư hại sắn đã xác<br /> định được hình thái của nấm gây bệnh, xác định<br /> danh tính bằng giải trình tự gen là do nấm<br /> Glomerella cingulata (giai đoạn hữu tính) và<br /> Collectotrichum gloeosporioides (giai đoạn vô<br /> tính) gây ra, hoàn thành chu trình Koch đối với<br /> tác nhân gây bệnh thán thư hại sắn.<br /> Đã nhân nuôi thành công quần thể sâu đục<br /> quả đậu Maruca vitrata bằng thức ăn nhân tạo.<br /> Xác định được 1 loài nấm Phytophthora<br /> infestan gây bệnh sương mai trên cà chua và ớt, 3<br /> loài nấm gây bệnh thán thư là Colletotrichum<br /> gloesporio,<br /> Colletotrichum<br /> capsisi,<br /> Colletotrichum nigrum trên ớt, 1 loài nấm<br /> Colletotrichum capsisi trên cà chua. Các loài nấm<br /> trên phát triển tốt trên môi trường PDA, ở nhiệt<br /> độ 260C - 280C và pH 6,5 và ở điều kiện chiếu<br /> sáng liên tục.<br /> Bọ phấn B. tabaci ở 2 ngưỡng nhiệt độ khác<br /> nhau là 16,95oC và 24, 39oC với 2 loại thức ăn<br /> là cà chua và su hào. Thời gian phát dục các pha<br /> tương đối ngắn ở điều kiện nhiệt độ 24,39oC và<br /> khá dài khi nhiệt độ xuống 16,95oC. Vòng đời<br /> của chúng lần lượt là 23,7 và 60,97 ngày trên cà<br /> chua, còn trên su hào vòng đời chúng có kéo dài<br /> hơn nhưng không đáng kể (25,0 và 63,91 ngày).<br /> Thời gian phát dục của trứng và nhộng tương tự<br /> như nhau, thời gian tiền đẻ trứng của trưởng<br /> thành kéo dài từ 1 - 1,4 ngày. Khởi điểm phát<br /> dục của bọ phấn B. tabaci là 12,3oC và tổng tích<br /> ôn hữu hiệu để bọ phấn hoàn thành vòng đời là<br /> 286,53oC.<br /> Thành phần chân khớp trên 21 giống ngô<br /> khảo nghiệm tại Viện Nghiên cứu Ngô, thành<br /> phần chân khớp có mặt trên các công thức ngô<br /> chuyển gen so với ngô không chuyển gen là<br /> tương tự nhau. Các chỉ tiêu đánh giá về đa dạng<br /> loài chân khớp trên 21 giống ngô chuyển gen<br /> biến động từ 2,4 - 3,0.<br /> Đã xác định Biovar của 60 nguồn vi khuẩn<br /> R.solanacearum gây bệnh héo xanh trên lạc<br /> thuộc biovar 3 và 4, nòi 1. Biovar 3 chiếm 80%,<br /> biovar 4 là chiếm 20% tổng số các isolate<br /> nghiên cứu; xác định được 44 nguồn vi khuẩn<br /> có độc tính mạnh trong đó 3 nguồn vi khuẩn thu<br /> thập được từ Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, Sóc Sơn Hà Nội, Việt Yên - Bắc Giang là có độc tính<br /> cao, được chọn làm nguồn bệnh cho đánh giá<br /> vật liệu.<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất<br /> <br /> Rệp xơ bông trắng có 5 tuổi, thời gian các<br /> tuổi từ 3 - 5 ngày, vòng đời từ 19 - 20 ngày ở<br /> nhiệt độ từ 28 - 300C, ẩm độ 60 - 70%.<br /> Thu thập và xác định được 5 loài tuyến trùng<br /> gây hại trên cà phê và 2 loài gây hại trên hồ tiêu.<br /> Xác định được những đặc trưng hình thái cơ bản<br /> đối với nhóm tuyến trùng nốt sưng và nhóm<br /> tuyến trùng gây vết thương<br /> Nhân nuôi tuyến trùng: Mật độ Meloidogyne spp.<br /> nhân trên cà chua trong ô nhà lưới có mái che tại<br /> Viện BVTV duy trì ở mức 200 con/100g đất. Mật<br /> độ Pratylenchus coffeae nhân trên đĩa cà rốt đạt<br /> 1800 con/đĩa ở 28ºC.<br /> Kết quả tách lọc mẫu đất thu thập trên vườn<br /> cà phê làm mô hình tái canh tại Đắk Lắk: 18/22<br /> mẫu có phát hiện thấy Pratylenchus spp., mật độ<br /> trung bình là 190,6 con/100 g đất.<br /> Đã xác định được 3 trong số 22 loại cây<br /> nghiên cứu (cây trồng xen, cây rừng, cây dại) là<br /> ký chủ của loài sâu hại lá (cà phê vối, cà phê chè<br /> và cây dành dành). Ghi nhận 7 loài thiên địch của<br /> sâu ăn lá, trong đó 3 loài ong ký sinh, 1 loài ruồi<br /> ký sinh và 3 loài bắt mồi ăn thịt. Sâu ăn lá cà phê<br /> (Cephonodes hylas) tại Đắk Lắk và Viện BVTV<br /> vòng đời từ 30-36 ngày ở điều kiện nhiệt độ từ<br /> 25oC -27oC và ẩm độ 71 - 78%, sâu non có 5 tuổi.<br /> Mỗi con cái đẻ trung bình từ 50 đến 70 trứng.<br /> Loài sâu ăn lá tại Tây Nguyên có tên khoa<br /> học Cephonodes hylas, thời gian vòng đời kéo<br /> dài 20 - 22 ngày. Đã thu thập được một số loài<br /> thiên địch: Ong ký sinh trứng, ruồi ký sinh sâu<br /> non, bọ xít ăn thịt (Pinthacus sp.), ong ký sinh ấu<br /> trùng sâu ăn lá (Rhogas sp.)<br /> <br /> kim qua đông trên cây hồi. Sâu non xuất hiện vào<br /> cuối tháng 2 đến đầu tháng 3.<br /> Xác định môi trường và điều kiện nhiệt độ<br /> thích hợp sản xuất chế phẩm<br /> Môi trường bán xốp (gạo hoặc thóc), lượng<br /> nước (150ml nước + 250g gạo, 150ml nước +<br /> 250g ngô, 250ml nước + 250g thóc) trong túi<br /> nilon buộc hở miệng và đảo đều 3 - 5 ngày/lần là<br /> điều kiện tốt để nhân sinh khối nấm Trichoderma<br /> (mật độ 3,3  109 bào tử/g) và môi trường nhân<br /> nuôi vi khuẩn và xạ khuẩn là bột đậu tương xay<br /> nhuyễn dạng lỏng.<br /> Có được 2 chế phẩm, một ở dạng lỏng nguồn<br /> đơn chủng (chế phẩm VK đối kháng (ĐKĐLCS<br /> 11.3) và một dạng bán xốp nguồn hỗn hợp (chế<br /> phẩm Phyto-PP).<br /> Điều kiện sản xuất môi trường nhân sinh<br /> khối cấp 1 của vi khuẩn và xạ khuẩn đối kháng:<br /> Lắc ở 120 rpm ở 28 - 320C và pH = 7 đạt mật độ<br /> khuẩn lạc 9,3  108 CFU/ml.<br /> Phân lập và tạo được 2 dòng tế bào phát triển<br /> từ mô phôi và mô mỡ sau 9 chu kỳ nhân nuôi đạt<br /> hàm lượng 3,03  1010 và 2,17  1010 tế bào/ml<br /> và đã đưa vào lưu giữ 87 mẫu. Điều kiện thích<br /> hợp cho nhân nuôi tế bào sâu khoang đạt hàm<br /> lượng tế bào cao nhất là sử dụng môi trường<br /> Ex-Cell và Schneider, nhiệt độ tối ưu 27 - 280C,<br /> pH là 6,5 - 7,0 và huyết thanh bổ trợ là FBS.<br /> Bước đầu thử nghiệm nhân sinh khối tế bào số<br /> lượng lớn theo phương pháp lớp mỏng đạt hàm<br /> lượng 2,17  1010 tế bào/ml tạo thuận lợi để<br /> chuẩn bị triển khai qui mô lớn.<br /> <br /> Bệnh vàng rụng lá cao su ở Đông Nam Bộ<br /> có tên khoa học Corynespora casiicola; môi<br /> trường Potato Dextro lỏng phù hợp để nhân nuôi<br /> nấm để tách chiết ADN trong xác định đến loài<br /> và sự đa dạng di truyền của chúng.<br /> <br /> Đã thử nghiệm đánh giá hiệu lực của 4 chế<br /> phẩm sinh học Bacillus thuringiensis var.<br /> kurstaki, Bacillus thuringiensis var. aizawai, Lục<br /> Cương và Bạch Cương phòng trừ Maruca trong<br /> phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng<br /> <br /> Bước đầu qua hình thái đã xác định được tác<br /> nhân gây bệnh thối quả ca cao do nấm<br /> Phytophthora sp. Bệnh thối đen quả ca cao ở 2<br /> tỉnh Bình Phước và Đắk Lắk, bệnh đạt đỉnh cao<br /> vào tháng 9 và tháng 10.<br /> <br /> Ba loại hợp chất hữu cơ và thảo mộc (bột vỏ<br /> tôm, cua, bã trẩu, bã sở và hạt cau) có khả năng<br /> hạn chế > 40% sự sinh trưởng của nấm<br /> Phytophthora spp. gây bệnh trên cây hồ tiêu, sầu<br /> riêng, xoài và cây có múi.<br /> <br /> Lần đầu tiên thành phần sâu bệnh hại trên<br /> cây hồi được điều tra và xác định, với 20 loài sâu<br /> hại, 5 loại bệnh hại cùng với 5 loài thiên địch của<br /> loài sâu hại chính (bọ ánh kim - Oides duporti<br /> Laboissiere ). Bọ ánh kim hại cây hồi đã xác định<br /> được ấu trùng gồm 3 tuổi với thời gian vào<br /> khoảng 22 - 27 ngày, tùy thuộc vào điều kiện<br /> nhiệt độ. Đã phát hiện được trứng của loài bọ ánh<br /> <br /> Xác định được biện pháp phòng trừ các loài<br /> cỏ dại khó trừ này mà chủ yếu là kết hợp các biện<br /> pháp hóa học với thủ công bao gồm biện pháp<br /> ngâm nước, xới sáo, sử dụng các thuốc đặc hiệu<br /> Glyphosate (Roundup 480SC), Metolachlor<br /> (Dual gold 960EC), Fluazifopbutyl (Onecide<br /> 15EC), Quizalofop-P-Ethyl (Targa super 5EC) và<br /> đạt hiệu quả cao (83,5 - 89,1% sau gieo trồng 45<br /> 63<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> ngày). Trừ cỏ gấu với mật độ quá cao cần phun<br /> kép bằng thuốc đặc hiệu Glyphosate (phun lần<br /> sau khi cỏ tái mọc được 50%).<br /> - Phun thuốc Glyphosan và Niphosate vào<br /> giai đoạn sau khi thu hoạch mía và giai đoạn cây<br /> con chiều cao cây trung bình 10 - 15cm có khả<br /> năng tiêu hủy mầm chồi cỏ mía trên đồng ruộng.<br /> 2.3. Công tác đánh giá tuyển chọn nguồn gen<br /> cây trồng kháng bệnh<br /> Giống lúa kháng rầy nâu: Đánh giá 46 giống<br /> tại 3 tỉnh Nam Định, Phú Yên Nghệ An nhận<br /> được 6 giống kháng với rầy nâu là: N5-05;<br /> N4-05; PC10; X38; X39; X40.<br /> Đã thu thập được 40 giống gieo trồng tại<br /> Nghệ An, 24 giống được đánh giá tính kháng đối<br /> với rầy nâu, trong đó có 4 giống kháng là PC10,<br /> TH3-3, BC15 và CR84-1 (4 giống lúa thuần, các<br /> giống lúa lai hầu hết đều nhiễm với rầy nâu).<br /> Giống lúa cạn LC93-4 được Bộ Nông<br /> nghiệp và PTNT công nhận là giống cây trồng<br /> mới tháng 5 năm 2013. Giống lạc TK10 đã hoàn<br /> thiện hồ sơ trình lên Cục Trồng trọt để được<br /> công nhận giống mới.<br /> Phục tráng được giống lúa nếp IR4625;<br /> giống được trồng phổ biến tại các tỉnh Long An,<br /> Đồng tháp (vùng phía Nam tỉnh Long An và các<br /> huyện thuộc Đồng Tháp Mười) được Trung tâm<br /> Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng<br /> Quốc gia cấp giấy chứng nhận giống đạt tiêu<br /> chuẩn siêu nguyên chủng. Đồng thời đã chọn<br /> lọc được 1 dòng lúa có thời gian sinh trưởng<br /> dưới 90 ngày, kháng rầy nâu, đạo ôn, hạt dài, ít<br /> bạc bụng.<br /> Đánh giá được giống lúa Timuyang và<br /> Babelit duy trì đặc tính kháng với RGSV và<br /> giống Kuliquwan duy trì đặc tính kháng với<br /> RRSV sau 3 thế hệ lây nhiễm.<br /> Giống ớt Chang la qi hao và giống Sakata có<br /> khả năng chống chịu với bệnh mốc sương. Trên<br /> cà chua: Giống Nun02258 có khả năng kháng tốt<br /> nhất; giống cà chua 3963 có khẳ năng kháng với<br /> bệnh HXVK và đốm lá vi khuẩn.<br /> Đã xác định được giống vừng V10 có triển<br /> vọng và hiện tại đang khảo nghiệm tại Diễn<br /> Châu, Nghệ An với diện tích 2ha.<br /> Đã nhập nội 3 giống mía chống chịu cao với<br /> bệnh chồi cỏ từ Sri Lanka, hiện đang trong quá<br /> trình trồng khảo nghiệm.<br /> 64<br /> <br /> Đã chọn lựa được giống cao su RRIC100<br /> kháng với bệnh phấn trắng.<br /> Đã phục tráng được giống cam Trưng Vương,<br /> quýt Hà Trì, quýt Trà Lĩnh cho tỉnh Cao Bằng.<br /> 2.4. Kết quả nghiên cứu ứng dụng<br /> Xác định được các dạng chế phẩm đơn<br /> dòng và chế phẩm hỗn hợp trong phòng trừ<br /> nấm Phytophthora gây bệnh thối đen quả ca<br /> cao. Đã đưa vào thử nghiệm 20 tấn chế phẩm<br /> hỗn hợp PCC dạng bón đất tại 2 tỉnh Bình<br /> Phước và Đắk Lắk.<br /> Đánh giá được hiệu lực của chế phẩm sinh<br /> học đối với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh<br /> héo vàng cà chua, dưa chuột, trong điều kiện nhà<br /> kính đạt 75 - 80% và ngoài đồng ruộng đạt 65 70%. Hoàn thiện quy trình sản xuất sinh khối vi<br /> sinh vật đối kháng nấm Fusarium oxysporum gây<br /> bệnh héo vàng cà chua, dưa chuột.<br /> Đánh giá được hiệu quả của chế phẩm dạng<br /> bán xốp BS1 đối với bệnh mốc sương trên ớt và<br /> cà chua trong điều kiện nhà lưới ở các nồng độ<br /> 15g/1kg đất, 20g/1kg đất hiệu quả phòng bệnh<br /> đạt >70% đối với cả 2 cây. Hiệu quả của chế<br /> phẩm dạng lỏng BS2 đối với bệnh mốc sương<br /> trên ớt và cà chua (xử lý chế phẩm sau lây bệnh<br /> 24h). Hiệu quả phòng trừ đạt >70% ở nồng độ<br /> 1,2% và nồng độ 1,5%.<br /> Tiến hành đăng ký khảo nghiệm phân hữu cơ<br /> vi sinh Phyto-PP1 phòng trừ bệnh trên cây công<br /> nghiệp hồ tiêu, cao su, cà phê tại Cục Trồng trọt Bộ Nông nghiệp và PTNT.<br /> Thử nghiệm tiêm thuốc Agrifost 400 có hiệu<br /> quả hạn chế bệnh chảy gôm trên bưởi Thanh Trà.<br /> Sau 2 tháng các công thức có xử lý thuốc CSB<br /> (%) chỉ là 15,6 - 17,4%, công thức đối chứng<br /> CSB 24,7% - 31,1% (một số vết chảy nhựa<br /> chuyển sang mức ướt và khô.<br /> Sản xuất được trên 2.000kg chế phẩm<br /> BIOFUN cung cấp cho Công ty Biosun và Công<br /> ty Lương Nông để cung ứng cho vùng trồng cà<br /> phê phòng trừ rệp sáp hại cà phê. 80 tấn chế<br /> phấm SH-BV1 phòng trừ tuyến trùng và nấm hại<br /> rễ hồ tiêu, cà phê.<br /> Thuốc Amistar Top 325SC, Carbenzim<br /> 500FL, Visazol 275SC, Anvil 5SC + ViCarben<br /> 50SC, Tilsuper có hiệu quả phòng trừ bệnh vàng<br /> rụng lá cao su từ 72,8 - 76,9% trên vườn cao su sản<br /> xuất sau phun 14 ngày. Phun thuốc từ khi lá cao su<br /> từ màu đồng sang màu xanh, phun trước thời điểm<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản