TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
226
CÁI TÔI TR TÌNH TRONG THƠ TR VIT NAM 1965 – 1975
VI NHNG ƯU TƯ ĐỜI THƯỜNG
THE LYRICAL EGO IN VIETNAM YOUTH POETRY IN THE PERIOD
1965-1975 WITH WORKADAY CONCERNS
Bùi Bích Hnh
Trường Đại hc Sư phm, Đại hc Đà Nng
TÓM TT
Thơ tr 1965 -1975 là s tri nghim hin thc chiến tranh vi nhng mng s tht
khc lit ca chiến trường; là cái nhìn v mt mát, bun đau ca dân tc và còn là ni ưu tư v
nhng câu chuyn đời thường. Tri qua chiến tranh, các nhà thơ tr mang vào sáng tác ca mình
nhng s kin, chi tiết rt nh ca đời sng. Nhưng chính nhng điu tưởng vn vt, nhy li nm
sâu trong s tht chiến tranh, trong hoàn cnh đất nước và s phn con người nhng năm khói la.
Độc gi hn tìm thy đằng sau tình yêu nước sâu nng ca thơ tr thi chiến còn hn sâu giai
điu xúc cm đời thường. Tt c to thành vùng thi liu ám nh, tác động đến s th hin cái
tôi tr tình trong thơ tr giai đon này.
ABSTRACT
The youth poetry 1965 - 1975 depicts the experience of Wars’ reality with many violent
facts of the battlefields. It is a deep insight into the loss and sorrow of the country and the
concerns about workaday stories as well. With their experiences in wars, young poets have
brought into their works many detailed events of lives. However, those detailed events which
seem to be trivial themselves are deeply manifested in the reality of wars and in the situations of
the country and human fates during many years of wars. Readers completely find not only
deep-rooted patriotism but also emotional melodies of daily life in wartime youth poetry. All of
them have created obsessional materials of poetry which influence the expression of lyrical ego
in youth poetry during this period
1. Đặt vn đề
Thơ tr 1965 - 1975 là s tri nghim hin thc chiến tranh vi nhng mng s
tht khc lit ca chiến trường; là cái nhìn v mt mát, bun đau ca dân tc và còn là
ni ưu tư v nhng câu chuyn đời thường. Đằng sau nhng tráng ca thu trước
nhng người m không bao gi v na, nhng tui thơ không có tui thơ; là điên
ngoài ch st, là em gái mười lăm đã không còn thiếu n; là mt cuc đời thm lng,
mt bước nh lang thang; là câu chuyn v mt li mòn si đá, là li ru thu… Tt
c to thành vùng thi liu ám nh, tác động đến s th hin cái tôi tr tình trong thơ tr
giai đon này.
2. Gii quyết vn đề
Khu súng và cây bút. Viên đạn và con ch. Thuc n và máu. Mnh đất m ào
tiếng bom, tiếng súng và trang giy trng. Màu áo lính và màu áo thi ca. Có cái gì đó
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
227
tưởng như rt trái ngược nhưng li rt đồng nht” [1,4]. Bi kch trong thơ chng M
không ch là hi sinh bng máu xương mà còn là ni đau đời riêng, ca tng con người
c th. H là hin thân ca kh đau sut đời chôn cht. Là hu phương ngày đêm vì tin
tuyến. Và cũng là hu phương mòn mi đợi ch…. Tri qua chiến tranh, các nhà thơ tr
mang vào sáng tác ca mình nhng s kin, chi tiết rt nh ca đời sng. Nhưng chính t
nhng điu tưởng vn vt, nhy li nm sâu trong s tht chiến tranh, trong hoàn cnh đất
nước và s phn con người nhng năm chng M. Con gà đất trong li ha ca m năm xưa
ch còn là nim mơ ước không thành. Nhân vt tr tình ch còn mt ước ao v con gà bn mùa
không v nát, nhng con gà gic mùa sinh sôi. Người thi kèn vi gic mơ vn v thc động
hn thơ Nguyn Khoa Đim. Bng cái tôi nhy cm, nhà thơ cm nhn tiếng kèn ý nghĩa nht
trong đời người thi kèn gi đây là thanh âm chân tht ca cuc sng bun thương:
Nhng tiếng kèn
Nc lên gia bn bc tường địa ngc
Ngoài ca kia nhng đứa em giơ tay gy chu chc
Cui tường kia rung đất tiếng bom rơi
(Con gà đất, cây kèn và khu súng)
Góp mt vào công cuc kháng chiến chng M, cái tôi thơ tr dành riêng mt
góc trong sáng to ca mình cho cuc sng đời thường. Dng li nhng chi tiết nh
ca đời sng, trong h li dâng lên ngun cm xúc mi. Hin thc chiến tranh càng chi
tiết hơn, gn hơn và tht hơn. Vương Trng nhìn thy cuc sng cay cc ca người
nông dân t hình nh c th giàu sc gi: Cng lúa gy xác xơ rung chua/ Nhng bông
lúa gt cùng hoa c/ H cũ mài dt người xa quê cũ/ Thuế sưu đè xiêu vo dáng đi
(Trong sc lá mùa xuân). Cái tôi không th làm ngơ trước ni đau chia ct hn lên
khóe mt người gt lúa. Cái tôi thy trong tháng năm mùa gt n giu ni nim ca con
người: Mùa gt v trên tuyến giáp ranh/ Nơi có hàng dây km gai lnh sc/ Người gt
lúa bng cay tròng mt/ Tay ct dng bên hàng dây km gai/ Nhìn cánh đồng chia hai
(Ngày mùa trên tuyến giáp ranh). Bng Vit, cũng như lp người cùng thi, dành tình
yêu thương cho nhng cuc đời cn lao. Vi h, đó là cuc sng đáng trân trng ca
người lao động bình thường: Và v mn cn lao bng sc đến trong tôi/ v mn ca m
hôi, bến tàu, g st (Hương mùa thu, ph bin).
Nhng phn người lao vào ti li, nhơ nhuc; nhng cái thi tha xen ln vi cái
chết; nhng s tht hoen ngày ngày bày trên quê hương tác động mnh m đến nghĩ
suy ca các nhà thơ tr. Cm thy mình mang nhiu n nn vi cuc đời, cái tôi trnh
trong thơ Lưu Quang Vũ nhy cm vi bao nhiêu kiếp người bt hnh, đúng như
nguyn ước ca nhà thơ lúc sinh thi, được đấu tranh cho thân phn con người nh bé.
Lưu Quang Vũ dng li trước bao nhiêu s phn đời thường c th. Đó là tui thơ
không có tui thơ, là cô gái tr nên sung sã. Là cô Kiu đàn nguyt tng chàng Kim, là
người ha sĩ già mt bun ngơ ngác, là xích lô lm li lên cu. Dng Nhng tui
thơ”, chúng ta còn bt gp trong khóe mt anh mt ni bun nhân hu. Bên trong nhng
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
228
mnh tui thơ nhàu nát đó là s đảo ln ca tình người: Em gái mười lăm đã không còn
thiếu n/ Dưới mái tóc quăn trơ tri vai gy/ Em đi đâu đêm nay/ Để lòng tôi se li.
Con người thơ nhiu chiêm nghim này không lãng tránh hin thc dù mi khi chm
đến nó, cái tôi qun tht. Cht thơ như càng đi xa dn khuynh hướng ca c nn thơ
hng hc la hào hùng.
Bùi Minh Quc li đặt bút trước hình nh rt nhân văn, chiếc nôi chng chếnh
ca tr thơ trong trn di bom kinh hoàng ca đế quc M. Và đó không còn là chuyn
chiếc nôi na mà chính là chuyn sinh mng nhng em bé vô ti trong chiến tranh. Li
là hai hình nh đối lp gia cái bt nhân ca tiếng bom M và gic ng non nt trong
veo ca tr thơ. Đủ để hình dung ti ác man r ca k thù, chúng vô tâm sát hi nhân
dân ta không ngoi tr nhng sinh linh bé bng đang còn say ng: Chiếc nôi, chiếc nôi
nho nh/ Bom M/ Xé đôi/ Mt na mc cành xoan cháy đỏ/ Mt na đất vùi/ Ôi n
cười / Mùi sa hoi hoi/ Vi by chim chích/ Đâu ri ?/ Đâu ri ?/ ơi! (Chiếc nôi).
Đến thơ tr chng M, s phn ca người bn tù sơ sinh có sc lay động mãnh lit
nhng hn thơ. Có gì nghe như tiếng oán than ca cái tôi tr tình cho nhng kiếp người
bé bng. Nhà thơ Võ Quê dng nên mt cnh tượng khác rt nhân bn v nhng tui
thơ trong ngc tù, đó, trái tim giàu lòng yêu nước và căm thù ca người m là s hóa
gii cho tình cnh thương tâm, là s bo bc cho nhng mm sng lt lay trong chn
giam cm. Li thơ không bi ly mà rt cm động: Bé vào tù ngày chưa được nm nôi/
Như chú chut con đỏ lòm trong tay m/ Ngc tù bt em sng đời nô l/ M dy em sc
mnh ca quê hương/ Bng bài ca xé nát bc tường.
Nhng hình nh bé thơ vô ti sp chông chênh gia dòng đời cun cun, không
đủ cái ăn, không đủ m, không đủ tình thương không khi đánh động đến tâm hn
người ngh sĩ:
Nhng tui thơ trong nhà tù, trong góc ch
Nhng vành môi khát sa, nhng bước nh lang thang
Nhng tui thơ héo tàn trong vòng nô l
Nhng tui thơ ánh mt rng sao vàng
Ngày bé chào đời đồng nghĩa vi s ht hng v mt cuc sng đủ đầy. Song cái
tôi tr tình đã có hướng nhìn đầy ha hn v mt s đổi đời. Ánh mt rng sao vàng
mt hình nh thp lên nim tin, xóa đi mc cm cho nhng cuc đời bt hnh. Trong cái
tôi đầy trc n đã có ch cho lòng tin.
Thế h chúng tôi, ngay t nhng ngày còn thơ di đã biết đến cnh tn cư, tiêu
th kháng chiến; đã sng trong thiếu thn, đói kh, bnh tt, gh l và st rét đến vàng
da; đã nhìn thy nhng xác người cháy trên xóm làng, nhng đầu người du kích b đem
cm trên nhng cc tre dng dc theo con đường dn đến ch làng, đã nhìn thy nhà
ca b thiêu ri” [2,423]. Tiếng nói ca cái tôi trong thơ tr min Nam thường là tiếng
nói s chia vi bi kch chiến tranh. Hin thc chiến tranh đâu ch có chiến trường ác lit,
đâu ch là la đạn bom rn. Đó còn là nhng mnh đời trôi ni, nhng âm thanh đớn
đau gia lòng đô th. Cái tôi t nghim đi sâu vào cuc sng lon lc. Nhng vn thơ
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
229
1965 - 1975 như mt s tái hin ca cái tôi nhân chng tnh táo, nhưng n bên trong là
cái chnh lòng, quay qut: Người b nhà bơ vơ tìm đất sng/ Khói la vây quanh s
nghip mt đời/ Người gc ngã lên nhau trong tiếng súng/ Bên lúa vàng, ht máu hãy
còn tươi (Lúa chết bên xác người). Mang nng ni đau Bc Nam hai min chia ct,
nhng nhà thơ tr min Nam hơn ai hết thu chu s ti phn này. H không l gì th
đon ca đế quc và ni đau tht lòng h vn là hu qu ca s cách chia: Thân phn tôi
đòi, s ht hng tình cm rut tht gia hai min. Bên cnh đó, cái tôi trong thơ Trn
Quang Long ct lên tiếng nói đồng cm xé lòng trước nhng thân phn đánh mt tiết
trinh trước đồng đô la bn thu. Kiếp người bt hnh trong cuc sng đời thường đã
không đi ra ngoài ng kính nhân văn ca đội ngũ thơ tr. Qu tht, h không ch sng
vi tuyên ngôn ngh thut làm thơ ghi ly cuc đời mình mà còn làm thơ chia s cuc
đời. Ni ti nhc ca nhân vt tr tình cũng chính là ni nhc ca đồng bào, ca người
ngh sĩ. Không ch phi hng chu s tàn sát đẫm máu ca đế quc v mt th xác mà
nhân dân còn đang đứng trước nguy cơ b hy hoi nhân phm: Chúng mau ly tiết trinh
em gái ta bng nhng đồng đô - la đỏ/ Nước mt nào ra ti nhc cho em/ Thân xác ê
ch, lê lết tng đêm. Có khi đó là bc tranh cm lên nhng đường nét cay cc, lam lũ
ca con người trong cuc mưu sinh: Anh bn tc xi/ C xích lô đạp mướn/ Có còn
nhng tên lính vin chinh cười nghiêng ng như điên/ Qut tin tng cuc xe gia trưa
m hôi nh git/ Này ch hàng rong quy gánh bún bò/ Này thím đẩy xe bánh mì gia
ch/ Liu có kiếm mt ngày ba ba đủ ăn (Tn Hoài D Vũ, Gi mt người bn xưa).
Trước s khc nghit ca chiến tranh, trong góc khut nhng xóm nghèo là bao mnh đời
lem luc. Bc tranh thu hp trong mt góc nh ca chiến tranh là nét c đời thường rưng
rc. Cái tôi tr tình dường như không chp nhn s tương phn gia cái rc r ca mt
phn cuc sng li danh vi phn còn li ca cuc đời là nhng trái tim không màu,
nhng người còn thiếu áo, nhng xác người vây máu (Nguyn Đông Nht, Mùa đông).
Ngòi bút ca các nhà thơ tr min Nam qu tht đã phơi bày nhng s tht
khng khiếp thường trc trên quê hương mình, trong ni nim ngượng ngp, bun đau:
Làm thế nào để nói vi em/ V thành ph anh đang sng/ Chiến tranh, rác rưởi và m
người/ Hàng ngày chen nhau chiếm tng khong đất/ Làm thế nào nói vi em v nhng
đứa hc trò/ Ban ngày đến trường, ban đêm rước khách,/Gp thy mi ngã ba/ Chiếc
áo n sinh không che s tht (Đông Trình, Vô cùng linh thiêng như nghe theo tiếng
gi). Cái tôi nhìn thu vào nhng s tht tr trêu. Trái tim người thy không đủ sc lnh
để khi nhói but trước s tht tàn nhn y. Chiến tranh đã tước đi v trong sáng, thun
khiết ca nhng n sinh l ra phi có mt cuc đời lành ln. Ti nhc, đắng cay di vào
sâu tâm hn cái tôi tr tình.
Không ch s phn con người mi là đề tài ám nh các nhà thơ tr. H còn tìm
cht thơ ngay trong thế gii t nhiên, ngay trong nhng vt vô tri vô giác. Thơ tr xem
nhng gì quanh con người cũng mang thân phn chiến tranh. Nhà ga tan v, tt c là cái
còn li trơ vơ: Thôi mt ri, nhà ga cũ bay đi/ Ph nh ng chp chn khi người tm
vng/ Im lng nhng chng gch vn/ Im lng nhng ánh đèn ghi,/ Im lng nhng
đường ray bên h bom l loét/ Im lng nhng tán bàng quen thuc (Ngô Văn Phú, Ga
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
230
quê hương). Nguyn Duy, nhà thơ xin thương mến đến tn cùng chân tht cũng đã
dành mt góc riêng cho nhng cm xúc đời thường. Tác gi nghe trong th đất âm
thanh đau but: Đất ca mình sm sp trong khuya/ b cht làm đôi, đất đau không ng
được (Khu súng trên tay ta). Trong khi đó, Lưu Quang Vũ li dn tình thương cho
tng điu nh nhoi vô ti trước bão la chiến tranh, qua cái nhìn rn v đời tư:
Bao bài ca xáo trn trong tôi
Có tiếng khóc ca con chim gãy cánh
Tiếng đau rên ca ngôi nhà đổ sp
Tiếng con thuyn không v được b quen
Tiếng mưa rơi trên ngn c yếu mm…
(Tôi chng mun k nim v tôi là mt điu hát bun)
Ngay c thế gii tui thơ ca Trn Đăng Khoa cũng thng tht trong ni bun
mt mát. Tiếng gi Vàng ơi đâu ch là ni tiếc nh mt con vt ca tr thơ mà phi
chăng qua hình nh tht lc ca Vàng là c ni bun đau ca cái tôi v khung cnh tan
tác ca chiến tranh: Nghe bom thng M n/ Mày b chy đi đâu? Ta ch mày đã lâu/
Cơm phn mày để ca/ Sao không v h chó? Tao nh mày lm đó/ Vàng ơi là Vàng
ơi… (Sao không v Vàng ơi?). Đủ thy s tác động ghê gm ca chiến tranh đến tng
ngóc ngách đời sng. Và hin thc chiến tranh không ch là mi bn tâm ca riêng ca
người trong cuc, nhng người tng lăn ln vi chiến trường.
3. Kết lun
Thơ tr 1965 - 1975 khơi sâu vào vùng cm xúc rt đẹp ca con người, đó
không ch có tình yêu thương mà còn là nhng thao thiết nguyn cu. Không ch
nim hnh phúc xn xang mà còn là nhng tan v, ri xa… Độc gi hn tìm thy đằng
sau tình yêu nước sâu nng ca nhng người con trong thi chiến còn hn sâu giai điu
xúc cm đời thường. Cnh bên cái tôi t biu hin và phân tích chân dung thế h v
nhng vn đề mang ý nghĩa thi s trong chiu sâu ngm ngi là cái tôi quay vào biu
hin thế h và bn thân trong nhng ưu tư đời thường.
TÀI LIU THAM KHO
[1]. Nguyn Đức Mu, “Thế h thơ chng M”, Thơ, (2), 2003, tr 4-5.
[2]. Tn Hoài D Vũ - Nguyn Đông Nht, Phác tho chân dung mt thế h, Nxb
Đà Nng, 2007.