
Filename: CARD-CFM, MS5 Second Six-Monthly Report, FINAL 10 Jan 08.doc
Bộ NN và PTNT
Báo cáo Tiến độ Dự án
017/06 VIE
Quản lý và phát triển rừng bền vững dựa vào
cộng đồng ở một số vùng tỷ lệ đói nghèo cao
Tỉnh Bắc Kạn
MS5: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ HAI
(1/7 – 31/12/2007)
Báo cáo được thực hiện bởi:
Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Và Tổ chức - Ensis
10/1/2008

1. Thông tin chung
Tên dự án Quản lý và phát triển rừng bền vững dựa vào
cộng đồng ở một số vùng tỷ lệ đói nghèo cao
Tỉnh Bắc Kạn
Đối tác Việt Nam Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn
Chức vụ Triệu Văn Lực, đồng giám đốc
Cơ quan phía Úc Ensis – the Joint Forces of CSIRO and SCION
Chuyên gia Úc Khongsak Pinyopusarerk (đồng giám đốc), Brian
Gunn, và Dr Peter Stevens
Thời gian bắt đầu thực hiện Tháng 3/2007
Thời điểm kết thúc (gốc) Tháng 3/2010
Thời điểm kết thúc (thay đổi) (Hiện tại chưa có thay đổi)
Giai đoạn báo cáo Tháng 3/2007 đến tháng 7/2007
Người liên lạc
Phía Úc: Giám đốc
Tên: Khongsak Pinyopusarerk ĐT: 61-2-6281 8247
Chức
vụ:
Nhà khoa học Fax: 61-2-6281 8266
Cơ
quan
Ensis – the Joint Forces of
CSIRO and SCION
Email: Khongsak.Pinyopusarerk@ensisjv.com
Phía Úc: liên lạc về hành chính
Tên: Brian Thomas ĐT: 61-3-9545 2219
Chức vụ: Quản lý tài chính Fax: 61-3-9545 2449
Cơ quan Ensis – the Joint Forces of
CSIRO and SCION
Email: Brian.Thomas@ensisjv.com
Phía Việt Nam
Tên: Trần Văn Điền ĐT: +84-280-851822
Chức vụ: Trưởng phòng QLKH và
QHQT
Fax: +84-280-852921
Cơ quan Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên
Email: tranvandientn@vnn.vn
2

2. Tóm tắt dự án
Mục đích của dự án là tăng cường năng lực cho các cộng đồng dân tộc ít người ở 4 thôn
điểm tại xã Văn Minh, Lạng San thuộc Khu bảo tồn Kim Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
trong quản lý rừng và đất rừng. Điều này sẽ thành công thông qua việc tăng cường năng
lực cho chính quyền địa phương các cấp trong qui hoạch sử dụng đất, giao đất có sự tham
gia, và dịch vụ khuyến nông là phần quan trọng trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Nó bao gồm các hoạt động tăng cường năng lực ở cấp cộng đồng và các cấp chính
quyền; và cung cấp các kỹ thuật và hỗ trợ thể chế. Dự án cũng sẽ cung cấp hỗ trợ để cải
thiện đời sống cho những người nghèo, đặc biệt là những dân tộc ít người để có những cơ
hội tiếp cận công bằng tới đất rừng, quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên của họ cũng như lợi
ích từ các nguồn tài nguyên này. Phương thức sẽ tập trung vào việc hỗ trợ để ngăn ngừa
sự thoái hoá đất rừng và hỗ trợ phát triển và bảo tồn tài nguyên rừng. Sự phát triển các hệ
thống thông tin, những kinh nghiệm và các phương pháp đào tạo của các cộng đồng điểm
sẽ được chia sẻ với các cộng đồng khác trong huyện và cũng như mở rộng ra các vùng
khác phù hợp trong phạm vi của tỉnh cũng như tỉnh khác trong vùng thông qua các đối tác
và các phương pháp phổ cập và truyền thông khác.
3. Tóm tắt kết quả
Dự án tiếp tục đạt được những kết quả tốt về các hoạt động nối tiếp theo tiến trình về
thời gian thực hiện của dự án. Báo cáo này bao gồm giai đoạn từ ngày 1/7/2007 đến
30/ 12/ 2007.
Tiếp theo một loạt các hoạt động nặng nề trong 6 tháng đầu tiên của dự án, hầu hết
các hoạt động của dự án đang được thực hiện. Tiến độ và những thành công trong thời
gian từ tháng 7-12/2007 được trình bày ở Báo cáo tiến đô 6 tháng lần thứ hai này.
Quy hoạch và giao đất lâm nghiệp được tiến hành trong 5 tháng đầu tiên của dự án và
được thảo luận ở Báo cáo tiến độ 6 tháng lần thứ nhất và hiện được hoàn thiện trong
thời gian thực hiện báo cáo này. Ban đầu chỉ có kế hoạch là nhận “Sổ xanh” (Quyền
sử dụng đất tạm thời) cho dự án đất rừng cộng đồng . Tuy nhiên sau khi thảo luận với
các lãnh đạo chủ chốt của thôn, xã và với cùng những hỗ trợ của các lãnh đạo Huyện
Na Rì cũng như Chi Cục Kiểm Lâm Bắc Kan, đã quyết định việc xin cấp “Sổ Đỏ”
(quyền sử dụng đất lâu dài). Điều này làm cho cộng đồng địa phương tự tịn trong việc
đóng góp và đầu tư lao động cũng như các đầu vào khác để bảo vệ và phát triển đất
rừng cộng đồng nhằm đưa lại lợi ích cho địa phương. Việc cấp các Sổ Đỏ cho đất
rừng cộng đồng đã được ký ngày 31/12/2007. Các kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
của dự án (chi tiết xem Báo cáo Mốc 4) được xem là các văn bản có tính pháp luật
ngay sau khi các cộng đồng địa phương nhận đươc Sổ Đỏ về quyền sử dụng đất của
cộng đồng.
Có 2 hoạt động về năng cao năng lực trong thời gian của báo cáo này. Thứ nhất,
chuyến tham quan học tập các dự án khác về quản lý rừng cộng đồng ở tỉnh Hoà Bình
thời gian 21-25/9/2007 do đồng giám đốc phía Việt Nam Ông Triệu Văn Lực thực
hiện. Tổng cộng có 24 người chủ chốt từ 4 thôn bản điểm thuộc vùng dự án tham gia
(Nà Mực, Khuổi Liềng, Tô Đoóc, và Bản Sảng). Mục đích chính là học và chia sẽ
3

những kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng và các hoạt động thu nhập khác. Thứ
hai, khoá tập huấn về vườn ươm được tiến hành ở từng thôn điểm từ tháng 9 đến
tháng 10 năm 2007 cùng với sự tham gia tích cực của cả nam va nữ. Các vườn ươm
thôn bản đã được thiết lập như là một phần của các khoá đào tạo. Việc chuẩn bị cây
con cho các mô hình nông lâm kết hợp và trồng rừng đã được chuẩn bị ở các vừon
ươm thôn bản.
Việc thành lập Quỹ phát triển rừng cộng đồng đã được tiến hành tốt ở từng cộng đồng
thôn bản cùng với sự hỗ trợ của các cán bộ hiện trường của dự án. Việc giao tiền của
dự án (1.000 đô la Úc tương đương với 13 triêu đồng) cho từng cộng đồng thôn (gồm
4 công đồng thôn bản điểm) làm vốn ban đầu cho quỹ sẽ tiến hành vào tháng 1 năm
2008.
4. Giới thiệu và bối cảnh
Cở sở nền tảng để thực hiện dự án đã được mô tả đầy đủ ở Báo cáo tiến độ 6 tháng
thứ nhất, do vậy mà hầu hết các thông tin đó sẽ không nhắc lại ở báo cáo này. Tuy
nhiên, Mục tiêu của dự án đươc nhắc lại ở đây, đó là:
Cải thiện một cách bền vững cuộc sống của những người dân nghèo
sống phụ thuộc vào rừng ở những vùng núi phía bắc thông qua việc
tăng cường khả năng tiếp cận của họ tới nguồn tài nguyên rừng, và
ảnh hưởng đến quản lý đất rừng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và
phát triển những kỹ năng thích hợp.
Dự án sẽ triển khai để đạt được mục tiêu trên bằng việc phát triển phương thức quản
lý rừng dựa vào cộng đồng (viết tắt tiếng Anh là CFM) thông qua: (i) đảm bảo sự tiếp
cận bình đẳng của những hộ dân sống phụ thuộc vào rừng; (ii) nâng cao năng lực cho
các nhóm lâm nghiệp cộng đồng để họ hoạt động hiệu quả; (iii) củng cố các dịch vụ
khuyến nông lâm để đáp ứng các nhu cầu của những người dân sống phụ thuộc vào
rừng; (iv) cung cấp các kỹ năng cho cộng đồng để họ có khả năng quản lý và phát
triển nguồn tài nguyên rừng được giao trong điều kiện bình đẳng và minh bạch, (v)
tăng cường nhận thức và đào tạo về những vấn đề luật pháp, chính sách rừng và đất
rừng và thể chế trong quản lý rừng, (vi) tăng cường việc sử dụng tài nguyên rừng bền
vững để giảm thiểu vấn đề thiếu lương thực bằng cách tăng hoạt động nông lâm kết
hợp, sản xuất bền vững gỗ và lâm sản, và đào tạo về những kỹ năng quản lý rừng có
chọn lọc; và (vii) Đẩy mạnh các hoạt có sự tham gia của phụ nữ. Các mục đích này
được làm rõ trong phần khung lô gíc.
Tất cả các hoạt động được liệt kê ở khung phân tích logic của dự án sẽ được thực hiện
phù hợp với bối cảnh văn hóa của địa phương, và một điều tất yếu là sự phát triển
thành công các mô hình CFM sẽ phụ thuộc sâu sắc vào sự phối kết hợp với các kiến
thức bản địa của cả hai giới nam và nữ. Trong suốt thời gian thực hiện các hoạt động
dự án, các thành viên tham gia được khuyến khích phát hiện lỗ hổng kiến thức và kỹ
năng, và sau đó tham gia vào quá trình nâng cao năng lực, bổ sung các kiến thức, kỹ
năng còn thiếu.
4

5 Tiến độ thực hiện
5.1 Những điểm chính
5.1.1 Giao đất cho cộng đồng
Quá trình giao đất cho cộng đồng đã được hoàn thiện cho tất cả 4 cộng đồng thôn bản
điểm của dự án. Ban đầu chỉ có kế hoạch là nhận “Sổ xanh” (Quyền sử dụng đất tạm
thời) cho dự án đất rừng cộng đồng. Tuy nhiên sau khi thảo luận với các lãnh đạo chủ
chốt của thôn, xã và với cùng những hỗ trợ của các lãnh đạo Huyện Na Rì cũng như
Chi Cục Kiểm Lâm Bắc Kan, đã quyết định việc xin cấp “Sổ Đỏ” (quyền sử dụng đất
lâu dài). Điều này làm cho cộng đồng địa phương tự tịn trong việc đóng góp và đầu tư
lao động cũng như các đầu vào khác để bảo vệ và phát triển đất rừng cộng đồng nhằm
đưa lại lợi ích cho địa phương.
Tiến trình để nhận được sổ đỏ là rất phức tạp thông qua ký phê duyệt của Cơ quan Đia
chính về kiểm tra ranh giới trên bản đồ và xác định trên thực địa. Việc xin cấp Sổ Đỏ
về quyền sử dụng đất lâu dài phải đươc cơ quan Địa chính của Huyện và Tỉnh đồng ý
phê duyệt. Và Sổ Đỏ của 3 công đồng thôn bản (Nà Mực, Tô Đoóc và Bản Sảng) đã
được Chủ tịch Huyện Na Rì ký ngày 31/12/2007. Các cán bộ chủ chốt từ Thái
Nguyên (TS. Trần Thị Thu Hà) và Bắc Kạn (Ông Nguyễn Mỹ Hải và Ông Hoàng Anh
Tuấn) sẽ tổ chức lễ trao Sổ Đỏ chính thức chó các cộng đồng thôn bản vào tháng 1
năm 2008 2007.
5.1.2 Các kế hoạch phát triển rừng cộng đồng
Bốn kế hoạch quản lý rừng cộng đồng đã được phát triển (chi tiết ở Báo cáo Mốc 4)
và sẽ được phê duyệt chính thức bởi chính quyền cấp huyện sau khi quá trình cấp Sổ
Đỏ giao đất cho rừng cho cộng đồng hoàn thành vào tháng 1 năm 2008. Điều đó cho
bao gồm việc giao chính thức đất rừng cho cộng đồng bảo vệ và phát triển.
5.1.3 Việc thực hiện các kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
Tiến trình thực hiện đã được tiến hành trong thời gian này và sẽ tiếp tục trong quá
trình thực hiện dự án.
• Tham quan học tập từ các dự án quản lý rừng cộng đồng khác
Một chuyến tham quan học tập các dự án quản lý rừng cộng đồng khác ở tỉnh Hoà
Bình từ ngày 21-25/9/2007 do đồng giám đốc phía Việt Nam ông Triệu Văn Lực và
ông Hồ Ngọc Sơn (ĐHNL) tiến hành. Có 20 người từ hai xã (Văn Minh và Lạng San)
và 4 thôn điểm của vùng dự án (Nà Mực, Khuổi Liềng, Tô Đoóc và Bản Sảng). Mục
đích chính của chuyến đi là học tập và chia sẻ kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng
và các hoạt động tăng thu nhập. Chương trình của chuyến tham quan học tập bao gồm
1 cuộc hội thảo cho những người tham gia để chia sẻ và học tập kinh nghiệm về các
hoạt động quản lý rừng cộng đồng (ví dụ, các cộng đồng địa phương làm việc cùng
với nhau để bảo vệ rừng cộng đồng của họ và cơ chế chia sẻ lợi ích từ canh tác cây
công nghiệp/cây ăn quả), và các chuyến thăm thực địa để học từ các hoạt động hiện
trường. Một báo cáo đầy đủ về chuyến tham quan học tập này sẽ bao gồm ở MS 11 –
Phát triển năng lực.
• Đào tạo thiết lập vườn ươm
Bốn khoá đào tạo mỗi khoá 2 ngày cho mỗi thôn bản điểm của vùng dự án đã được
tiến hành từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2007. Theo kế hoạch tài chính, 20 người sẽ
5

