
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự học
cho học sinh lớp 5B trường PTDTBT TH&THCS Trà Vinh
1. Mô tả bản chất của sáng kiến:
1.1. Các giải pháp thực hiện, các bước và cách thức thực hiện:
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản để học sinh tiếp tục lên trung học cơ sở. Bên cạnh đó đảm bảo cho học sinh có
những hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ
bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ vệ sinh;
có những hiểu biết ban đầu về âm nhạc và mĩ thuật. Phương pháp giáo dục tiểu học
phải phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc trưng môn học, hoạt động giáo dục, đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện
từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn
luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh. Trên ghế nhà trường, học trò có học thật, làm thật
mới sống thật nên người, có tích cực tự học, tự làm dưới sự hướng dẫn của thầy, mới
tự trang bị cho mình kỹ năng học, kỹ năng làm, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng sống –
những kỹ năng cần thiết cho con người tiếp tục học hành sáng tạo suốt đời. Thực tế
nhu cầu tự học luôn gắn kết với nhu cầu làm, nhu cầu sống của con người ở mọi lứa
tuổi, mọi trình độ, mọi ngành nghề, mọi vị trí xã hội, mọi thời đại. Phát huy vai trò
“Mỗi thầy giáo, cô giáo hãy là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” từ bỏ
lối “dạy áp đặt, truyền thụ một chiều”, “thầy giảng – trò ghi nhớ”, phát huy trí sáng
tạo, khả năng vận dụng, thực hành, kỹ năng sống, tự tìm, tự tạo việc làm và năng lực
tự học của người học là mục tiêu – phương pháp.
Cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng. Nó đòi hỏi con người phải
vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà tinh thần tự học có vai
trò vô cùng quan trọng. Phát huy tính tích cực, tự học cho học sinh là một trong
những kĩ năng cốt lõi quan trọng trong học tập của học sinh. Để học sinh luôn có ý
thức tựu học là vấn đề trăn trở của mỗi thầy cô. Nếu xây dựng được cho học sinh có ý
thức tích cực, tự học sẽ giúp học sinh học tập tốt hơn.
Ý thức tích cực, tự học đối với học sinh tiểu học là một quá trình không quá khó
nếu như mỗi học sinh chịu cố gắng nỗ lực. Bên cạnh học sinh thì mỗi thầy cô giáo đặc
biệt là thầy cô chủ nhiệm vừa giảng dạy truyền kiến thức còn rèn đạo đức, hình thành
nhân cách cho mỗi học sinh. Chính vì vậy qua nhiều năm giảng dạy và chủ nhiệm,
bản thân đã tìm ra một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự học cho học sinh. Một
số biện pháp như sau:
* Biện pháp 1: Người giáo viên chủ nhiệm phải phát huy hết chức năng, nhiệm
vụ của mình.
Giáo viên chủ nhiệm lớp là linh hồn của một lớp học, là người thay mặt hiệu
trưởng tổ chức các hoạt động, xây dựng lớp thành một tập thể vững mạnh để giáo dục

học sinh theo mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt công tác giáo dục học sinh, nhiệm vụ đầu
tiên của giáo viên chủ nhiệm lớp là nghiên cứu để nắm vững tình hình chung của lớp
và của từng học sinh. Kết quả nghiên cứu sẽ là những căn cứ để xây dựng mục tiêu,
chương trình, kế hoạch năm học để xác định nội dung, phương pháp và các hình thức
tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm của lớp. Người giáo viên chủ nhiệm phải nắm
bắt được hết tâm tư, nguyện vọng của học sinh, tìm hiểu về gia đình, hoàn cảnh sống
của từng học sinh, hiểu biết những đặc điểm của từng em học sinh (về sức khỏe, sinh
lý, trình độ nhận thức, năng lực hoạt động, năng khiếu, sở thích, nguyện vọng, quan
hệ xã hội, bạn bè)………………. Ta cần xác định rõ vai trò của GVCN lớp, bên cạnh
đó cũng có sự hỗ trợ của giáo viên bộ môn, Tất cả các giáo viên phải hết lòng yêu
nghề, mến trẻ, thật sự tâm huyết.
Ngoài ra mỗi một giáo viên cần:
- Giáo viên chủ nhiệm cần thực hiện đầy đủ các công việc đầu năm của lớp mình
chủ nhiệm.
- Người giáo viên chủ nhiệm cần phải học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, vốn sống,
năng lực chủ nhiệm luôn được năng cao.
– Theo dõi, kiểm tra, quan tâm đến tất cả các hoạt động của học sinh lớp mình
chủ nhiệm. Tránh bỏ qua, mặc kệ, không phân giải rõ ràng khi các em trao đổi hay
thưa kiện việc gì đó. Mà ngược lại phải biết xử lý tốt trong mọi tình huống.
- Quan tâm nhiều và đặc biệt đến các học sinh yếu ké, cá biệt, học sinh có hoàn
cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt.
- Thường xuyên theo dõi nề nếp 15 phút đầu giờ, giao nhiệm vụ cho tổ trưởng
kiểm tra, chữa bài tập cùng với lớp trưởng và lớp phó học tập. Ban cán sự lớp tự tổ
chức giờ Sinh hoạt cuối tuần, các tổ trưởng, lớp trưởng lên nhận xét, đánh giá từng
bạn trong tổ, để các bạn noi gương, học tập lẫn nhau và đặc biệt là biết sửa chữa lỗi
của mình trước tập thể.
- Giáo dục đạo đức, nề nếp học sinh thông qua các biện pháp thuyết phục, nêu
gương tốt, rèn luyện, khen thưởng và kỉ luật.
- Nắm vững lí luận sư phạm, sử dụng các phương pháp giáo dục tập thể, có kinh
nghiệm tổ chức các hoạt động phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh và với điều kiện
thực tế của lớp, của nhà trường một cách linh hoạt.
- Có tư cách đạo đức tốt, gương mẫu trong cuộc sống, lao động và trong quan hệ
với đồng nghiệp và học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng về mọi
phương diện cho học sinh noi theo.
- Có khả năng tổ chức và có năng lực hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao... để
có thể lôi cuốn học sinh cùng tham gia.
- Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học tập.
Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy nghĩ,
cư xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của học sinh và phụ huynh về
giáoviên. Soạn bài trước khi đến lớp. Theo tôi, chỉ khi nào thầy cô cảm thấy hứng
thú với bài dạy thì sự hứng thú đó mới lây truyền sang HS. Sự hứng thú này đi đối với
sự soạn bài trước và có một chương trình trước cho những gì phải làm trong giờ học
thay vì một thái độ "tùy cơ ứng biến". GV cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu, đồ dùng dạy
học trước khi dạy. Người dạy càng tận tâm thì các em càng cố gắng học. Bên cạnh đó,
GVCN biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của các em. Trả lời những câu hỏi

của các em một cách thấu đáo. Hỏi các em về những khó khăn trong đời sống, những
khó khăn ở trường... giúp các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay
ngoài lớp học, thầy cô còn phải đóng vai người anh, người chị, phải vừa là thầy, vừa
là bạn mà các em có thể tin tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em sẽ biết sống nhẫn
nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái.
Đặc biệt rất cần ở giáo viên chủ nhiệm có các phẩm chất như: Nhiệt tình, sâu sát,
cần cù, trí nhớ tốt, quan sát tinh, tâm lý giỏi, có khả năng xây dựng đội ngũ cán bộ
học sinh.
* Biện pháp 2: Phải xây dựng Ban cán sự lớp vững chắc:
Ban cán sự lớp là những thành viên đóng vai trò cánh tay đắc lực, chỗ dựa vững
chắc cho giáo viên chủ nhiệm, hỗ trợ cho giáo viên chủ nhiệm theo dõi lớp học, quản
lí lớp học trong suốt năm học. Ban cán sự lớp phải gương mẫu, uy tín, uy quyền,
mạnh là tập thể lớp ắc sẽ mạnh. Công tác tổ chức của lớp là một công việc quan trọng,
ban cán sự như thế nào thì lớp sẽ phát triển theo chiều hướng đó. Ban cán sự tốt là
trong các hoạt động giáo dục học sinh. Do đó, ngay sau khi nhận được công tác, giáo
viên chủ nhiệm cần suy nghĩ ngay đến việc bầu Ban cán sự lớp, dựa trên nghiên cứu
hồ sơ, học bạ và quan sát thực tiễn, chỉ định một ban cán sự lâm thời.
Phân lớp thành các tổ học sinh có cơ cấu học sinh nam, nữ, trình độ học tập
tương đối đồng đều. Phân công trách nhiệm cho ban cán sự và các tổ trưởng để quản
lí học sinh và bắt đầu tổ chức các hoạt động chung. Chậm nhất một tháng cho lớp bầu
ra ban cán sự và các tổ trưởng chính thức. Ban cán sự lớp phải là những học sinh thỏa
mãn các yêu cầu sau đây:
- Có học lực từ loại khá trở lên, có tư cách đạo đức tốt.
- Nhiệt tình, tạo được uy tín trước tập thể.
- Có năng khiếu văn nghệ, thể dục, thể thao...
- Biết quản lí tập thể, năng nỗ, hòa đồng, thân thiện.
- Có tinh thần gương mẫu, được đa số học sinh bầu chọn.
Giáo viên chủ nhiệm trở thành cố vấn về phương pháp công tác cho Ban cán sự
lớp để lớp học phát huy tính tích cực, tự học ngày càng tiến triển hơn.
* Biện pháp 3: Nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học.
a. Phương pháp vấn đáp:
Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học
sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội
dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại
phương pháp vấn đáp:
+ Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến
thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đó là phương pháp được
giáo viên sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.
* Ví dụ : Khoa học, bài: “ Cây con có thể mọc lên từ một số bộ phận của cây
mẹ”
Khi dạy bài “ Cây con có thể mọc lên từ một số bộ phận của cây mẹ”, giáo viên
sử dụng phương pháp vấn đáp nhằm giúp học sinh:
+ Hệ thống hóa một số kiến thức về bài “ Cây con mọc lên từ hạt”.
+ Rèn luyện khả năng tập trung chú ý.

- Giáo viên chuẩn bị một cây xanh, trên cây xanh có treo những ngôi sao, mỗi
ngôi sao sẽ ứng với mỗi câu hỏi.
- Cách tiến hành:
+ Giáo viên sẽ gọi ngẫu nhiên tên các học sinh, lần lượt từng học sinh sẽ lên
chọn một ngôi sao và trả lời câu hỏi được ghi trong ngôi sao đó.
+ Sau mỗi câu trả lời của học sinh, giáo viên sẽ gọi học sinh khác nhận xét.
Nếu học sinh trả lời đúng sẽ được cả lớp vỗ tay tuyên dương, còn nếu học sinh trả lời
chưa đúng thì giáo viên sẽ gọi học sinh khác trả lời.
Lưu ý:
Sau đây là gợi ý một số câu hỏi mà giáo viên có thể hỏi:
- Nêu điều kiện nảy mầm của hạt?
- Mô tả quá trình phát triển của cây mướp từ khi gieo hạt cho đến khi ra hoa, kết
quả?
- Nêu cấu tạo của hạt?
…
+ Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,
giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ. Giáo viên cần phải xây dựng hệ thống các câu hỏi phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Đôi khi giữa giáo viên và học sinh có thể tranh luận để giải quyết
vấn đề đặt ra đưa học sinh cuốn hút vào bài học và tự tìm tòi những hiểu biết mới.
Giáo viên tránh làm thay, nói thay, nghĩ thay cho học sinh mà chú trọng dạy học theo
từng nhóm đối tượng học sinh, trân trọng và khuyến khích mọi suy nghĩ của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy môn Toán bài “ Hình hộp chữ nhật, hình lập phương” để khắc
sâu nội dung bài học giáo viên đưa ra một số câu hỏi dẫn dắt các em như là:
- Hãy tìm các đồ vật có dạng hình lập phương, hình hộp chữ nhật
- So sánh sự giống và khác nhau giữa hình lập phương và hình hộp chữ nhật?
- Giáo viên cho nhiều học sinh trả lời và xem vật mẫu sau đó hình thành kiến
thức mới cho học sinh.
+ Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để
hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện
tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi
ý kiến – kể cả tranh luận – giữa giáo viên với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải
quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức
sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi
kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành
thêm một bước về trình độ tư duy.
* Tóm lại vấn đáp là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy
học sinh cách tự suy nghĩ đúng đắn . Bằng cách này học sinh hiểu nội dung học tập
hơn là học vẹt, thuộc lòng. Giúp lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho
không khí lớp học trở nên sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự
tin ở học sinh. Rèn luyện cho học sinh năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu
ý diễn đạt của người khác.
b. Phương pháp hoạt động nhóm:
Thuận tiện của bản thân trong phương pháp này là ngay từ tuần học đầu tiên học
sinh cả lớp được sắp xếp ngồi thành 3 tổ: 2 tổ có 7 học sinh/ tổ và 1 tổ có 6 học sinh/

tổ, từng nhóm nhỏ từ 3 đến 4 em, như vậy khi hoạt động nhóm bàn trên có thể quay
xuống bàn dưới một cách dễ dàng, còn khi hoạt động nhóm 6 hoặc 7 thì 3 bàn sẽ gộp
lại thành một nhóm. Mỗi cặp đôi ngồi cùng một bàn được phân chia có chủ định một
em chậm tiến sẽ ngồi bên một em học tốt để cùng giúp nhau trong học tập, được thay
đổi hàng tuần, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng và thay đổi nhóm trưởng thường xuyên mục đích là
để các em ai cũng được làm nhóm trưởng và biết cách điều hành, quản lí nhóm. Trong
nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên
đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động
hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí
thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả
học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp,
nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần
nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp này tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú
mới cho học sinh. Kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giải
quyết vấn đề. Tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức biểu đạt
như lời nói, ánh mắt, cử chỉ…
Khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển
mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau. Thông qua hoạt động nhóm phát triển kĩ
năng giao tiếp và kĩ năng xã hội. Đó là các kĩ năng giao tiếp như: biết chờ đợi đến
lượt; tóm tắt và xử lí thông tin; biết xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh
mắt nụ cười, yêu cầu giải thích, giúp đỡ và sẵn sàng giúp đỡ; khả năng giải quyết bất
đồng như kiềm chế bực tức, không làm xúc phạm người khác khi bất đồng ý kiến.
* Việc sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong giảng dạy đối với giáo
viên không phải là mới vì ngay từ khi việc đổi mới chương trình triển khai thì song
song đó giáo viên cũng được tập huấn những phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh trong đó có phương pháp dạy học theo nhóm và giáo
viên cũng đã vận dụng trong công tác giảng dạy.
Ví dụ: Khi dạy phân môn Luyện từ và câu, bài “ Tổng kết vốn từ” BT1: Tìm
từ đồng nghĩa và trái nghĩa với mỗi từ sau: Nhân hậu, trung hậu, dũng cảm, cần cù.
Giáo viên có thể cho học sinh thảo luận nhóm 4 theo các bước sau:
- Giáo viên cho học sinh nêu yêu cầu và nội dung của bài tập.
- Yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4 trong thời gian đã quy định và trình bày vào
bảng phụ.
- Nhóm trưởng điều hành các bạn thảo luận, thư kí ghi nhanh vào bảng phụ.
- Đại diện các nhóm lên trình bày, nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét, chốt đáp án đúng và tuyên dương các nhóm làm việc tích
cực.
* Đáp án:
Từ Đồng nghĩa Trái nghĩa
Nhân hậu Nhân từ, nhân đức,
nhân ái, phúc hậu,…
Độc ác, tàn ác, bất
nhân,…
Trung thực Thật thà, thành thật, Gian dối, gian manh,

