
LUẬN VĂN:
Bảo đảm tiền vay trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng
thương mại

Lời nói đầu
Tính cấp thiết và mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, ngành Ngân hàng luôn có một vị trí quan
trọng, và vai trò của nó càng vô cùng to lớn hơn trong một nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay. Trong đó phải kể đến
hoạt động cho vay của ngân hàng. Bởi vì nước ta phải trải qua 2 cuộc kháng chiến,
sau khi giành được thắng lợi, đất nước được độc lập lúc đó ta mới có điều kiện xây
dựng kinh tế. Các doanh nghiệp phần lớn đều bước vào trường với kiến thức kinh
doanh ít ỏi, công nghệ nghèo nàn lạc hậu, hơn nữa đất nước ta duy trì chế độ bao
cấp quá lâu càng khiến cho các doanh nghiệp hoạt động trì trệ kém hiệu quả. Điều
đó đương nhiên cũng dẫn tới hiệu quả cho vay của ngân hàng là kém, gây thất thoát
cho ngân sách Nhà nước. Từ năm 1986 nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,
các doanh nghiệp phải tự bươn chải làm ăn, nền kinh tế phát triển hơn lên và hoạt
động cho vay của ngân hàng thực sự phát huy được hiệu quả. Hoạt động cho vay
của ngân hàng góp phần phát triển kinh tế đất nước, tạo ra những động lực mới cho
cải cách kinh tế, dẫn đến sự hình thành và phát triển đa dạng nhiều loại ngành nghề
hình thức kinh doanh. Đặc biệt trong những năm gần đây theo chủ trương của chính
phủ, ngân hàng đã mạnh dạn cho vay các thành phần kinh tế mới như Công ty cổ
phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân … tạo điều kiện cho họ
phát triển, giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Các hình
thức bảo đảm tiền vay đã đa dạng hơn xưa: người vay có thể bảo đảm bằng tài sản
cầm cố, thế chấp hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, bảo lãnh bằng
tài sản của bên thứ 3; kể cả bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản. Về phía ngân hàng bao giờ vấn đề hiệu quả hoạt động bảo
đảm tiền vay cũng phải được đưa lên hàng đầu. Có như thế ngân hàng mới thu hồi
được vốn và có lãi, trang trải chi phí; rồi lại tiếp tục sử dụng vốn quay vòng phát
huy được hiệu quả. Nhưng trong thực tế không phải lúc nào tiền vay cũng thu hồi
lại được đầy đủ và có lãi, vì có rất nhiều nguyên nhân từ môi trường kinh tế, môi
trường pháp lý của Nhà nước, … và một phần không nhỏ về phía cán bộ ngân hàng

đã không xem xét thẩm định tốt dự án trước khi cho vay, vấn đề nắm bắt thông tin
thị trường. Người đi vay nhiều khi khai báo không đúng sự thật, khai khống, làm
nhiều hồ sơ giả để vay nhiều hơn, xem xét phương án kinh doanh của mình chưa kỹ
càng …
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp là những ví dụ điển hình cho
hiệu quả hoạt động bảo đảm tiền vay của ngân hàng. Ngày nay nó càng trở thành
thời sự hơn trong giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước. Mục đích của
đề tài này người nghiên cứu muốn đề cập đến hoạt động bảo đảm tiền vay bằng tài
sản cầm cố, thế chấp tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam, thực
trạng và hiệu quả hoạt động này tại Sở đang diễn ra như thế nào, nghiên cứu và đề
xuất khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả công tác này tại Sở nói riêng và hoạt động
ngân hàng cả nước nói chung.

Chương I
Lý luận chung về bảo đảm tiền vay trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
I.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.a. Ngân hàng thương mại:
+ Định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên của nó là nhập tiền gửi của khách hàng (không kỳ hạn, có kỳ hạn,
phát hành séc), về trách nhiệm là phải hoàn trả số tiền đó và sử dụng số tiền đó để:
đầu tư, cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
+ Chức năng của ngân hàng thương mại:
- Chức năng trung gian tín dụng: Là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của
ngân hàng thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Thực hiện chức năng này một mặt ngân hàng thương mại huy
động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền
kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác trên cơ sở vốn đã huy động
được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh tiêu dùng của
các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế -
xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa
là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại
là đi vay để cho vay. Ngày nay quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến
hoá hơn. Sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác
của chức năng này. Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa Công ty (khi phát
hành cổ phiếu) với những nhà đầu tư, chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường
chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu Công ty … theo cách này, ngân
hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người vay vốn trên thị trường. Tác dụng
của trung gian tài chính này là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao
dịch trong nền kinh tế; những trung gian tài chính là một nguồn tài chính quan trọng
hơn nhiều cho các Công ty so với thị trường chứng khoán.

Hơn nữa, tín dụng ngân hàng còn là một trong những nguồn hình thành vốn
lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng ngân hàng đã góp phần
điều hoà vốn trong nền kinh tế, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư, động viên vật tư hàng hoá đưa
vào sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất.
- Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
Là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủ quỹ của các doanh
nghiệp, tức là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh
của chủ tài khoản; tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay. Trong
khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng
và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán …) đã
tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá.
- Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng 2 cấp:
Hệ thống ngân hàng 2 cấp được hình thành vào cuối thế kỷ 19: các ngân hàng
không còn hoạt động riêng lẻ nữa mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó ngân hàng
thương mại là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng, là ngân hàng của các ngân hàng.
Các ngân hàng còn lại chuyên kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống các
ngân hàng thương mại đã tạo ra "bút tệ" thay thế cho tiền mặt. Chính nhờ phương
thức tạo tiền này mà ngân hàng chẳng những bảo đảm cho sự phát triển của mình
mà còn trở thành trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.
- Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp.
Với những điều kiện đó ngân hàng có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các
doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái khoán bảo đảm đạt hiệu quả cao
và tiết kiệm chi phí. Khi một doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán trên thị
trường sơ cấp, họ có thể nhờ ngân hàng cung cấp các dịch vụ như: lựa chọn loại
chứng khoán phát hành, tư vấn các vấn đề lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng
khoán và các vấn đề kỹ thuật khác. Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp dịch vụ lưu

