TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
709TCNCYH 195 (10) - 2025
BẠO HÀNH TẠI NƠI LÀM VIỆC VỚI ĐIỀU DƯỠNG VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRONG 12 THÁNG
Phạm Thị Bích Hạnh1,2, Hoàng Bùi Hải1,2, Vũ Thị Ninh1
và Phạm Thị Thu Hường2
1Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2Trường Đại học Y Hà Nội
Từ khóa: Điều dưỡng, bạo hành, bệnh viện.
Bạo hành tại nơi làm việc trong môi trường y tế một vấn đề nghiêm trọng toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khỏe
thể chất, tinh thần hiệu suất lao động của nhân viên y tế, trong đó điều dưỡng nhóm dễ bị tổn thương. Nghiên
cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 10 đến tháng 12/2024 với mục tiêu mô tả tỉ lệ điều
dưỡng bị bạo hành trong 12 tháng và mô tả một số yếu tố liên quan. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được
áp dụng trên 397 điều dưỡng viên đủ tiêu chuẩn. Kết quả cho thấy trong vòng 12 tháng trước thời điểm khảo sát,
45,6% điều dưỡng báo cáo đã từng bị bạo hành ít nhất một lần. Bạo hành bằng lời nói chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,3%
(n = 176), tiếp đến là quấy rối tình dục 4,5% (n = 18) bạo hành thể chất 2,8% (n = 11). Một số yếu tố liên quan
làm tăng nguy bị bạo hành bao gồm thâm niên công tác từ 1–5 năm, làm việc tại khối phòng khám, nội khoa
hồi sức cấp cứu, mức độ lo lắng cao về bạo hành, cũng như việc chứng kiến bạo hành thể chất tại nơi làm việc.
Tác giả liên hệ: Phạm Thị Thu Hường
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: phamhuong@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 20/08/2025
Ngày được chấp nhận: 15/09/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay bạo hành tại nơi làm việc một
chủ đề đang được quan tâm trên toàn thế giới
những tác động tiêu cực đến sức khỏe thể
chất,1 tinh thần như căng thẳng, lo âu, trầm
cảm, đặc biệt nguyên nhân dẫn tới tình
trạng kiệt sức ở nhiều nhân viên y tế.1,2
Theo Tổ chức y tế thế giới (Word Health
Organization - WHO) tới 62% nhân viên y
tế từng trải qua bạo hành tại nơi làm việc, trong
đó dẫn đầu bạo hành về lời nói chiếm 58%,
tiếp đến bạo hành thể chất 33% quấy rồi
tình dục chiếm 12%.3 Bạo hành tại nơi làm việc
tác động không chỉ trực tiếp còn gián tiếp
đến chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh
(NB) môi trường làm việc. Nhóm đối tượng
được cho nguy bị bạo hành cao hơn
trong bệnh viện được chỉ ra tuổi trẻ, ít kinh
nghiệm làm việc điều dưỡng.4 Bên cạnh
đó, điều dưỡng thời gian công tác dưới 5
năm, giới tính nam, làm việc theo ca, làm việc
khoa Cấp cứu, khoa Tâm thần hoặc khoa Nhi
nguy bị bạo hành cao hơn tại bệnh viện.5,6
Việt Nam, một số nghiên cứu được tiến
hành tả thực trạng tỷ lệ bạo hành đối
tượng gây bạo hành như nghiên cứu tại Bệnh
viện Nhi Trung ương năm 2017 hay nghiên
cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm
2021.7,8 Tuy nhiên các nghiên cứu phân tích
yếu tố liên quan tới bạo hành còn hạn chế.
Đồng thời, mặc dù Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
đã có quy trình báo cáo bạo hành tại bệnh viện
nhưng thống ghi nhận bạo hành còn chưa
đầy đủ. Do vậy, để xác định tỷ lệ của bạo hành
tại nơi làm việc bước đầu tìm hiểu yếu tố
liên quan để từ đó xây dựng các chiến lược can
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
710 TCNCYH 195 (10) - 2025
thiệp phù hợp, chúng tôi thực hiện đề tài “Bạo
hành tại nơi làm việc với điều dưỡng và một số
yếu tố liên quan ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
trong 12 tháng” với mục tiêu: tả tỷ lệ bạo
hành điều dưỡng Bệnh viện Đại học Y Nội
một số yếu tố liên quan đến bạo hành điều
dưỡng tại nơi làm việc.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu điều dưỡng viên
đang công tác tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Tiêu chuẩn lựa chọn: ĐDV hợp đồng
làm việc đủ 12 tháng viên chức tại bệnh
viện, ĐDV có mặt tại thời điểm thu thập số liệu
và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: ĐDV đang trong thời
gian nghỉ phép, đi học toàn thời gian, nghỉ ốm,
nghỉ thai sản trong thời gian nghiên cứu thu
thập số liệu.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập từ tháng 10/2024 đến
tháng 12/2024 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau:
N = (1-α/2) z2 p(1-p)
d2
Trong đó:
N = số điều dưỡng tối thiểu cần cho nghiên
cứu.
p = 0,051: dựa vào tỉ lệ 54,1% nhân viên y tế
từng bị một dạng bạo hành bất kỳ trong 12 tháng
trong nghiên cứu của K.Sripichyakan năm 2003
trong chương trình khảo sát bạo hành tại nơi
làm việc trong ngành y tế của WHO.9
z = 1,96 = 0,05, độ tin cậy 95%, thu từ
bảng Z); d = 0,05 là sai số tuyệt đối.
Thay vào công thức trên, tính được cỡ mẫu
N = 381, thực tế nhóm nghiên cứu thu thập
được 397 bộ câu hỏi trả lời từ ĐDV.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện tất cả các khoa trong
bệnh viện, nhóm nghiên cứu phát ra 520 hồ sơ,
thu lại 450 hồ sơ, làm sạch dữ liệu thu được
397 hồ sơ đạt yêu cầu.
Chỉ số nghiên cứu
Chỉ số nghiên cứu chính: bạo hành lời nói,
quấy rối tình dục, bạo hành thể chất, theo
định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (European
Commission) năm 1995.10
Các yếu tố liên quan: tuổi, giới tính, thâm
niên công tác, khoa làm việc, mức độ lo lắng
về bạo hành tại nơi làm việc, kiến thức về quy
trình báo cáo bạo hành, chứng kiến bạo hành
thể chất
Các chỉ số nghiên cứu phụ: đối tượng gây
bạo hành, phản ứng của ĐDV khi bị bạo hành,
ý kiến cá nhân về bạo hành tại nơi làm việc.
Quy trình tiến hành nghiên cứu:
Bộ công cụ: nghiên cứu sử dụng bộ công
cụ bạo hành tại nơi làm việc trong ngành y
tế - Workplace Violence in the Health Sector
Country Case Study - Questionnaire được xây
dựng bởi bốn tổ chức: International Labour
Office (ILO), International Council of Nurse
(ICN), World Health Organization (WHO),
Public Services International (PSI) từ năm
2002.11 Bộ công cụ đã được nhóm nghiên cứu
dịch xuôi từ Tiếng Anh sang tiếng Việt
dịch ngược từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh bởi
4 phiên dịch viên độc lập chuyên môn về y
học thành thạo tiếng Anh. Sau đó bộ công
cụ tiếng Việt được đánh giá bởi hội đồng 5 nhà
chuyên môn có kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế
từ 10 năm trở lên. Bộ công cụ được chỉnh sửa
sau khi nhận được sự góp ý và thống nhất bản
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
711TCNCYH 195 (10) - 2025
cuối bởi hội đồng với chỉ số hợp lệ nội dung
(content validity index > 0,9). Bộ công cụ được
sử dụng gồm các cấu phần: Đặc điểm chung
của đối tượng nghiên cứu; Bạo hành tinh thần
- 28 câu (gồm bạo hành lời nói và quấy rối tình
dục); Bạo hành thể chất - 24 câu; Chính sách
phòng chống bạo hành - 2 câu, Ý kiến
nhân về phòng chống bạo hành - 3 câu.
Quy trình thu thập số liệu: sau khi được
sự đồng ý của lãnh đạo bệnh viện và phòng kế
hoạch tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hà Nội về
triển khai nghiên cứu. Nghiên cứu viên (NCV)
đã đến từng khoa phòng để xin phép lãnh
đạo khoa phòng xin phép được tiến hành
nghiên cứu trong mỗi khoa vào thời gian thích
hợp (trong giờ giao ban điều dưỡng, trong buổi
sáng hoặc buổi chiều khi vắng NB). Tại mỗi
khoa, NCV hướng dẫn giải đáp những thắc
mắc của ĐDV tham gia nghiên cứu. Phiếu khảo
sát được NCV trực tiếp thu lại làm sạch tại
nơi khảo sát.
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được xử phân tích bằng phần
mềm SPSS 27.0. Kiểm định chi - bình phương
được sử dụng để tìm sự khác biệt về từng
loại bạo hành giữa các nhóm biến độc lập.
hình đã được kiểm tra đa cộng tuyến với chỉ số
Variance Inflation Factor (VIF) < 1,08, sau đó
độ phù hợp của hình được đánh giá bằng
kiểm định Hosmer - Lemeshow test, giá trị p =
0,78. Hồi quy logistic đơn biến được tiến hành
để đánh giá mối liên quan giữa một dạng bạo
hành bất kỳ từng đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu, sau đó nhóm biến ghi nhận p
0,05 một số biến ý nghĩa thực tiễn sẽ
được đưa vào mô hình hồi quy logistic đa biến
để tìm mối liên quan giữa bạo hành đặc điểm
của đối tượng nghiên cứu.
3. Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi
hội đồng đề cương Thạc tại Trường Đại học
Y Hà Nội theo quyết định số 4036/QĐ-ĐHYHN.
ĐDV tham gia nghiên cứu được giải thích đầy đủ
về ý nghĩa nghiên cứu nhận được thư cảm
ơn và quà từ nhóm nghiên cứu. Tất cả thông tin
thu thập được hoá, giữ bảo mật, chỉ nhằm
mục đích cho nghiên cứu này. Người tham gia
có quyền dừng trả lời bộ câu hỏi bất cứ lúc nào
trong quá trình trả lời bộ câu hỏi.
III. KẾT QUẢ
Từ tháng 10/2024 đến tháng 12/2024,
nghiên cứu thu thập được 397 đối tượng
nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được trình bày
như sau:
Bảng 1. Đặc điểm chung của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n = 397)
Biến số n/Median±IQR
(Min - Max) %
Giới tính Nữ 323 81,4
Nam 74 18,6
Nhóm tuổi (năm)
32 ± 8 (24 - 50)
< 35 281 70,8
≥ 35 116 29,2
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
712 TCNCYH 195 (10) - 2025
Biến số n/Median±IQR
(Min - Max) %
Thâm niên công tác
(năm)
7 ± 8 (1 - 28)
1-5 145 36,5
6 - 10 136 34,3
> 10 116 29,2
Số buổi trực
(buổi/tháng)
4 ± 6 (0 - 14)
0 139 35,0
1 - 5 131 33,0
> 5 127 32,0
Khoa làm việc
Khối phòng khám 127 32,0
Khối nội khoa 60 15,1
Khối ngoại khoa 52 13,1
Khối hồi sức cấp cứu 36 9,1
Khối chuyên khoa lẻ 18 4,5
Khối cận lâm sàng 69 17,4
Trung tâm gây mê hồi sức và quản lý đau 35 8,8
Mức độ lo lắng về
bạo hành tại
nơi làm việc
4-Cực kỳ lo lắng 48 12,1
3-Lo lắng nhiều 46 11,6
2-Lo lắng trung bình 99 24,9
1-Lo lắng thấp 101 25,4
0-Hoàn toàn không lo lắng 103 25,9
Biết về quy trình
báo cáo bạo hành
160 40,3
Không 237 59,7
Chứng kiến
bạo hành thể chất
37 9,3
Không 360 90,7
Median: Trung vị; IQR: khoảng tứ phân vị
Kết quả Bảng 1 cho thấy tỉ lệ nữ giới và nam
giới có sự chênh lệch đáng kể, cụ thể là nữ giới
81,4%. Nhóm tuổi dưới 35 cũng chiếm tới 2/3
đối tượng nghiên cứu (70,8%), trung vị của đối
tượng nghiên cứu 32 tuổi (dao động từ 24 - 50
tuổi). Trung vị thâm niên công tác là 7 năm trong
đó cao nhất nhóm thâm niên dưới 6 năm
(36,5%). Số buổi trực trung bình của đối tượng
nghiên cứu 4 buổi, với 35% (n = 139) không
tham gia trực, 65% (n = 258) trực ít nhất 1 buổi.
Khoa làm việc của ĐDV cho thấy khối phòng
khám chiếm tỷ lệ cao nhất (32%, n = 127). Về
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
713TCNCYH 195 (10) - 2025
bạo hành tại nơi làm việc của đối tượng nghiên
cứu, chỉ ¼ (25,9%) đối tượng trả lời không,
còn lại tới ¾ đối tượng trả lời với mức độ
từ thấp tới cực kì lo lắng. Trong khi đó, 59,7% (n
= 237) ĐDV báo cáo không biết về quy trình
báo cáo bạo hành. Có 9,3% ĐDV báo cáo từng
chứng kiến bạo hành thể chất tại nơi làm việc.
Kết quả kiểm định chi - bình phương Bảng
2 cho thấy thâm niên công tác số buổi trực
trong tháng sự khác biệt về tỷ lệ bạo hành
lời nói hay bất kỳ dạng bạo hành nào (p < 0,05).
Nhóm thâm niên công tác trên 10 năm tỉ
lệ bạo hành lời nói bất kì dạng bạo hành nào
thấp hơn so với hai nhóm 1 - 5 năm 6 - 10
năm. Nhóm số buổi trực từ 1 - 5 buổi trong
tháng tỉ lệ bạo hành lời nói bất dạng
bạo hành nào thấp hơn so với nhóm trực trên
5 buổi không trực buổi nào. Tỉ lệ ĐDV bị ít
nhất một dạng bạo hành cao nhất khối hồi
sức cấp cứu (72,2%, n = 26), sau đó đến khối
phòng khám và khối nội khoa (52,0%, n = 66 và
46,7%, n = 28). Tỉ lệ này khối ngoại khoa
khối cận lâm sàng tương đương nhau (40,4%,
n = 21 39,1%, n = 27). Khối chuyên khoa lẻ
trung tâm gây mê hồi sức và quản đau là
hai đơn vị có tỉ lệ bị bạo hành thấp nhất (33,3%,
n = 6 20,0%, n = 7). Điều này cho thấy sự
khác biệt về tỉ lệ điều dưỡng bị bất kỳ dạng bạo
hành giữa các khoa làm việc (p < 0,001). Mức
độ lo lắng về bạo hành tại nơi làm việc của đối
tượng nghiên cứu sự khác biệt ý nghĩa
thống về tỷ lệ bạo hành lời nói hay bất kỳ
dạng bạo hành nào (p < 0,001). Nhóm không
biết về quy trình báo cáo bạo hành có sự khác
biệt ý nghĩa thống về tỉ lệ quấy rối tình
dục gấp 5 lần nhóm biết về quy trình báo cáo
(n = 15, 6,3% với n = 3, 1,9%, p = 0,04). Có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ bạo hành
lời nói, quấy rối tình dục bạo hành thể chất
giữa nhóm có chứng kiến bạo hành thể chất và
nhóm không chứng kiến, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p ≤ 0,002).
Bảng 2. Mối liên quan giữa các yếu tố đặc điểm chung và các loại bạo hành (n = 397)
Biến số Bạo hành lời nói Quấy rối tình dục Bạo hành thể chất Một dạng bạo hành bất kỳa
n (%) p n (%) Pn (%) p n (%) p
176 (44,3) 18 (4,5) 11 (2,8) 181 (45,6)
Giới tính 0,21 1,00* 0,13* 0,22
Nữ 148 (45,8) 15 (4,6) 7 (2,2) 152 (47,1)
Nam 28 (37,8) 3 (4,1) 4 (5,4) 29 (39,2)
Thâm niên công tác (năm) 0,01 0,07 N/A 0,02
1 - 5 72 (49,7) 11 (7,6) 5 (3,4) 75 (51,7)
6 - 10 66 (48,5) 5 (3,7) 4 (2,9) 66 (48,5)
> 10 38 (32,8) 2 (1,7) 2 (1,7) 40 (34,5)