VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRTRUYỀN THỐNG CỦA
TRANH SƠN MÀI VIỆT NAM
TÔ NGỌC VÂN-Bộ đội dừng chân b
ên
đường-n mài (chưa hn thành)
Bên cạnh những đóng góp tích cực đó vẫn còn một số dòng tranh không ph
i
là chất liệu sơn mài truyền thống, làm cho người thưởng ngoạn trong nước
và quốc tế lm tưởng là tranhn mài chất liệu sơn ta. Những tranh này
được thể hin bằng chất liệu sơnng nghiệp,n điu, hoặc vẽ bằng mầu
goát ri phủ một lớp sơn PU-PE lên trên cùng để giữ mu. Giá thành rhơn
sơn ta rất nhiu lần. Khi phảii về chất lượng cùng vin điu và PU-
PE là bc làm ra từ thiếc chứ không phi bạc được dát từ 100% bạc như ta
vẫn gọi là bạc cựu. Những chất liu này trông hào nhoáng, sẽ tự phá trên b
mặt tranh sau một thời gian, chứ không bn vững và đẹp duyênng, sâu
thm như tranhn ta.
Trong xu thế hi nhập và phát triển mạnh mẽ, vấn đề giữ gìn “bn sắc dân
tộc” luôn đựoc Đảng và Nhà nước quanmu sắc, làm nn tảng tinh thần,
là động lực phát triển xã hi để xây dựng đất nước. Bi trong xu thế toàn c
ầu
hoá, chúng ta không thkhông hoà nhập vi các nước trong trao đổi kinh tế,
văn hoá, nghệ thuật...
Vấn đề dặt ra ở đây là: Chúng ta làm gì? và slàm để giữ một nét riêng
trong xu thế toàn cầu hoá ấy? Khi mà hôm qua Tâyn cầu các hành vi
ứng xử trong kinh tế, văn hoá din ra thì hôm nay, Đông bán cầu cũng xảy
ra tương tự. Nó có sc mnh của một phn ứngy chuyền. Nếu như, chỉ 5
năm trước đây, chúng ta còn xa lvi Instalation, Performan, Pop Art,
Video of Art, land Art... thì hôm nay, trong đời sống nghệ thuật nó như đã
tồn tại tư lâu. Sự mặc nhiên công nhn những hình thức nghệ thuật mi này
chỉ ra rằng: Rồi đời sống nghệ thuật thế giới có gì t
ở Vit Nam ta sẽ có cái
đó, và ngược lại, vấn đề chỉ là thời gian.
Trong bi cảnh đó, để văn hmỹ thuật Việt Nam đưa ra một nét riêng, độc
đáo, mang bản sắc văn hoá dân tộc, không pha trộn, thì chsơn mài là cái
mà chúng ta bàn ti. Vì sao lại như vậy? Câu trả li nằm ngay tại cây sơn và
nghề sơn cổ truyền có từ hàng ngàn năm trước,
Như chúng ta đã biết, cả mt dải Đông á có rất nhiều nước trồng được cây
sơn như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cam Pu Chia..., nhưng không
có nơi nào có chất lượng tốt như ở vùng đồi Trung du- Phú Thọ. Thi
ên nhiên
ưu đãi cho vùng đất này có được một loại cây có chất lượng nhựa sơn tốt
nhất. Hu hết các nước đã sử dụng loại sơn này trong lĩnh vực mỹ nghệ và
rất thành công như: Nhật bản, Trung Quốc. Nhưng chưa có ớc nào trên
thế giới lại sử dụng chất liu sơn này trong lĩnh vực hội hoạ. Duy nh
ất chỉ có
ở Vit Nam.
Nền hội hoạ Việt Nam chỉ mới có từ khi trường M thuật Đông Dương đư
ợc
thành lập từ những năm 30 của thế k trước, khi hội hoạ thế giới đã chuyn
sang thời k hậu ấn tượng. Chúng ta phải cám ơn người Pháp vì đã m
trường chính quy đào tạo vmỹ thuật. Và cũng nhờ có nhóm hoạ sỹ trường
mỹ thuật Đông Dương mà sơn mài từ chất liệu mỹ nghệ hàng ngàn năm, trở
thành chất liệu trong sáng tác hội hoạ. Kể từ đó sơni được coi là ch
ất liu
truyền thống độc đáo ca Việt Namnó tồn tại và phát triển dọc theo chiều d
lch sử dân tộc.
Xuất hiện từ chính đời sống dân tộc, được chắt lọc thành những nét tinh hoa
trong trang t đền chùa, đã t lâu sơn mài đựoc coi là một chất liệu truyền
thống, độc đáo ca Việt Nam, đặc biệt sơn mài đã được các hoạ sỹ trưng
mỹ thuật Đông Dương nghiên cứu, chuyển từ cht liu để trang trí mỹ ngh
thành chất liệu sáng tác hội hoạ. Cho đến nay, hội hoạ sơn mài Việt Nam đã
một quá trình tìm tòi phát tri
n trong ngôn ngữ biểu đạt, kỹ thuật thhin.
Kể từ khi chất liệu này được các hoạ sỹ mỹ thuật Đông Dương đưa vào thể
hiện trong lĩnh vực hội hoạ thìluôn dược các hoạ sỹ tìm tòi và phát triển
cả về chất lượng cũng như số lượng .
Chúng ta hãy thử điểm qua về một vài thông số.
Về bảng mầu : Từ 3 mu : Đỏ , vàng , đen. Đến nay: Bảng mầu sơn mài rất
phong p và đa dạng, đã có cmt dảI mu từ gam mu nóng chuyển sang
gam mu lạnh.
Về số lượng hoạ s tham gia vào thể nghiệm chất liệu này trong l
ĩnh vực hội
hoạ:
Lúc đầu các hoạ s Trường Mỹ thuật Đông Dương chỉ đếm trên đầu ngón
tay. Là những hoạ sỹ đi đầu, tiên phong trong lĩnh vực này. Đến nay, lực
lượng hoạ s tham gia vào chất liệu này gia tăng rất nhanh.
Theo thống kê: ti trin lãm Toàn quốc năm 1990: số tác giả có tranh sơn
mài tham gia trong trinm là 59. Đến năm 1995, số tác giả sáng tác chất
liu nay tăng vọt lên 102 tác giả, đến triển lãm toàn quốc năm 2000 là 124
tác gi và năm 2005 vừa rồi tăng lên 135 tác giả.
một điều đặc biệt là tác giả trẻ tham gia sáng tác từ chất liệu này ngày
ng đông.
Và điều đáng mừng là trước đây hoạ sỹ vẽ tranh sơn mài ch
ủ yếu tập trung ở
Hà Ni và TP Hồ Chí Minh và Huế, thì đến nay đã lan trên diện rộng, kể cả
min núi phía Bắc như: Bắc Giang đến tận miền Trung Tây Nguyên và mi
n
Đông Nam Bộ như: Gia lai- Kontum Bà Rịa-Vũng Tàu.
Đã xuất hin nhiều triển lãm nhân và nhóm chuyên chất liu s
ơn mài. gây
tiếng vang lớn trong giới cũng như ở quốc tế.
Nhìn chung hoạt động nghề nghiệp ca các hoạ sỹ chuyên sơn mài trong
thời gian qua là tích cực, có những đóng góp nhất định cho sự phát triển ca
nền mỹ thuật Vit Nam hiện đại.
Bên cạnh những đóng góp tích cực đó vẫn còn một số dòng tranh không ph
i
là chất liu sơn mài truyền thống, làm cho người thưởng ngoạn trong nước
và quốc tế lm tưởng là tranhn mài chất liệu sơn ta. Những tranh này
được thể hin bằng chất liệu sơnng nghiệp,n điu, hoặc vẽ bằng mầu
goát ri phủ một lớp sơn PU-PE lên trên cùng để giữ mu. Giá thành rhơn
sơn ta rất nhiu lần. Khi phảii về chất lượng cùng vin điu và PU-
PE là bc làm ra từ thiếc chứ không phi bạc được dát từ 100% bạc như ta
vẫn gọi là bạc cựu. Những chất liu này trông hào nhoáng, sẽ tự phá trên b
mặt tranh sau một thời gian, chứ không bền vững và đẹp duyênng, sâu
thm như tranhn ta.
Đây là vấn đề tồn tại làm nh hưởng đến uy tín, chất lượng ca những tranh
sơn mài nghiêm túc, làm giảm uy tín ca m thuật Việt Nam đối với bạn bè
quốc tế. Điều đó có tác động trở lại và nh hưởng tới chính hoạt động của
các hoạ s.
một điều đáng buồn là nói đến tranh sơn mài thì phải có đến 90 % dân