intTypePromotion=3

Bất cập và giải pháp phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước - 1

Chia sẻ: Tt Cao | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
83
lượt xem
28
download

Bất cập và giải pháp phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước - 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mở đầu Với mục tiêu “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà nước (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nước; tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”, luật NSNN-một đạo luật quan trọng trong hệ thống tài chính- đã được Quốc hội khoá IX,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bất cập và giải pháp phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước - 1

  1. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Mở đ ầu Với mục tiêu “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà nước (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nh à nước; tăng tích lu ỹ đ ể thực hiện công nghiệp hoá- hiện đ ại hoá đất nước theo đ ịnh hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã h ội, nâng cao đ ời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”, luật NSNN-một đạo luật quan trọng trong hệ thống tài chính- đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua n gày 20-3-1996; sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi luật số 06/1998/QH 10 ngày 20 -5-1998, đánh d ấu mốc lịch sử quan trọng trong công tác quản lý, đ iều hành NSNN ở nư ớc ta, tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho hoạt động của NSNN. Sau bốn năm thực hiện luật NSNN, thực tiễn đã kh ẳng định vai trò của luật trong mọi lĩnh vực của đ ời sống kinh tế, xã hội. Hoạt động NSNN dần được quan tâm không ch ỉ từ phía các cơ quan qu ản lý Nhà nước m à còn từ phía người dân và các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cũng dựa trên cơ sở phản hồi từ phía người dân và doanh nghiệp, luật đã b ộc lộ nhiều bất cập không chỉ giữa văn bản và thực tế áp dụng mà cả những bất cập trong công tác chỉ đạo đ iều hành. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên là việc quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi tiêu cho các cấp ngân sách và phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm cần xem xét lại. Để góp phần tiếp tục ho àn chỉnh hơn nữa luật NSNN nói chung và ch ế độ phân cấp quản lý nhân sách nói riêng, tác giả chọn đề tài: “Những bất cập và giải
  2. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý NSNN ở Việt nam trong đ iều kiện hiện nay”. Từ đó muốn thông qua thực tiễn để làm sáng tỏ những cái được và chưa được của chế độ phân cấp quản lý cả về phương diện pháp lý (các văn b ản liên quan đ ến NSNN) và công tác ch ỉ đạo điều hành, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, phát huy tối đa hiệu quả của NSNN trong việc điều chỉnh nền kinh tế theo những mục tiêu đã đặt ra. Chương I: Hệ thống Ngân sách Nh à nước và phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước. I. Bản chất và vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường. 1. Bản chất của NSNN. Trong tiến trình lịch sử, NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ lâu. Là một công cụ Tài chính quan trọng của Nh à n ước, NSNN xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đ ề Nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hoá- tiền tệ. Trong lịch sử loài ngư ời, Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đ ấu tranh giai cấp trong xã hội. Nh à nước ra đ ời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm ph ương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nư ớc và thực hiện các chức n ăng kinh tế, xã hội của Nhà nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như : thuế bằng tiền, vay nợ…được Nhà n ước
  3. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: NSNN. Như vậy, NSNN là ngân sách của Nhà nước, hay Nhà nước là chủ thể của ngân sách đó. NSNN là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà b ất kỳ người dân nào cũng biết được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN: Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chi bằng tiền của Nh à nước trong một giai đo ạn nhất đ ịnh. Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một n ăm. Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài của NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nh à n ước và NSNN. Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đ ạo, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nư ớc. Tại Việt nam, định nghĩa về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996): NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết đ ịnh và được thực hiện trong một n ăm để đ ảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.(Điều1- lu ật NSNN). Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước. Đó chính là b ản chất kinh tế của NSNN. Đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội. Nói cách khác, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nh à nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông
  4. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đ ến các chủ thể được thực hiện để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. 2.1. Đặc điểm của cơ chế kinh tế thị trường. Mọi hệ thống kinh tế đ ều được tổ chức theo cách này hay cách khác để huy động tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đ ó nh ằm sản xuất ra các h àng hoá và d ịch vụ thoả mãn nhu cầu của xã hội. Việc sản xuất ra những lo ại h àng hoá gì, được tiến h ành theo phương pháp nào là tốt nhất, việc phân phối hàng hoá được sản xuất ra đ áp ứng tốt cho nhu cầu của xã hội, đó là vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, xã hội. Lực lượng n ào quyết định những vấn đề cơ bản đó ? Trong n ền kinh tế mà ngư ời ta gọi là Kinh tế chỉ huy, các vấn đề cơ bản đó được cơ quan của Nh à nước quyết định. Còn trong nền kinh tế mà vấn đề cơ bản của nó do thị trường quyết đ ịnh được gọi là Kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế h àng hoá có một loạt những quy luật kinh tế vốn có của nó hoạt động như: quy lu ật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…và lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vân động đó. Các quy luật biểu hiện sự tác động của mình thông qua th ị trường. Nhờ sự vân động của hệ thống giá cả thị trường mà diễn ra sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ cấu của sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu của xã hội. Có thể hiểu cơ ch ế thị trường là cơ chế tự điều tiết kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy lu ật kinh tế, cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức
  5. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com kinh tế là sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai. Cơ chế thi trư ờng bao gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trư ờng. Thực tế khó đánh giá đầy đ ủ ưu điểm và khuyết tật của cơ ch ế thị trường. Nhìn chung nó có các ưu điểm cơ bản sau: * Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo đIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, phát huy được các nguồn lực của xã h ội vào phát triển kinh tế. * Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đ ẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và số lư ợng hàng hoá. * Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể tho ả m ãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác nhau. * Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường. Bên cạnh thị trường hàng hoá đ ã xuất hiện từ lâu là các thị trường về vốn, lao động… phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trường là cơ ch ế điều tiết nền kinh tế h àng hoá đ ạt hiệu quả kinh tế cao. Song, cơ ch ế thị trường không phải là hiện thân của sự hoàn hảo m à chứa đựng trong nó nhều trục trặc.
  6. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Mục đích ho ạt động của các doanh nghiệp lá tối đa hoá lợi nhuận. Ngành nào, lĩnh vực n ào có khả năng đem lại lợi nhuận cao th ì các doanh nghiệp sẽ đổ xô vào sản xuất mặt hàng, lĩnh vực đó. Từ đó d ẫn đến sự phát triển mất cân đối giữa các khu vực,các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa, vì lợi nhuận, các doanh nghiệp sẵn sàng lạm dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường sống của con người mà xã hội phải gánh chịu, do đó, hiệu quả kinh tế, xã hội không được đảm bảo. Có những mục tiêu xã hội m à dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũng không thể đ ạt được. Sự tác đ ộng của cơ chế thị trường dẫn đ ến sự phân hoá giàu, nghèo, tác đ ộng xấu đến đạo đức và tình người. Với một loạt các khuyết tật trên, ngày nay, trên thực tế không tồn tại cơ chế thị trư ờng thuần tuý, m à thường có sự can thiệp của Nh à nước, khi đó n ền kinh tế gọi là Nền kinh tế hỗn hợp. 2.2. Vai trò của Ngân sách Nhà n ước trong cơ chế thị trường. Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trường đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà nước là tất yếu, là m ột nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lai những cân đối và mở đường cho sức sản xuất phát triển. Trong cơ ch ế điều chỉnh của Nhà nước, bên trong kết cấu của nó, ngo ài việc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế hoạch, luật pháp được coi là những công cụ đ iều chỉnh cơ bản và quan trọng. NSNN là m ột trong những công cụ hữu hiệu để Nh à n ước đIều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, xã hội. Mục tiêu của NSNN không phải đ ể Nhà nước đạt được lợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của m ình trước
  7. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. NSNN ngo ài việc duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước còn ph ải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. NSNN được sử dụng nh ư là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đ ảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh. Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua qu ỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đ ãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đ ầu tư th ấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đ ánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những h àng hoá mà Chính phủ khuyến dụng. Nhờ đó m à có th ể đ ảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế. Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. NSNN cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả của thị trường. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đ ặt giá trần là m ức giá cao nhất m à người bán được phép đưa ra và mức n ày thường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường. để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp b ằng cách cung phần thiếu của hàng hoá, lượng hàng hoá này đư ợc lấy từ quỹ dự trữ của Nh à nước thuộc NSNN, tức là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó đ ược khuyến khích thì sẽ đ ặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà người bán được phép
  8. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com đưa ra và mức này thường lớn hơn giá cân bằng trên thị trư ờng. Điều này sẽ dẫn đến sự dư thừa h àng hoá trên th ị trường và khi đ ó là sự can thiệp của Chính phủ bằng cách mu a h ết lượng h àng thừa. Khoản tiền sử dụng đ ể thanh toán cho người bán cũng là từ NSNN. Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giải quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trường…Chẳng hạn trước vấn đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn minh và ổn định, Chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới thu nhập đ ể thiết lập lai sự công bằng xã hội. Điều chỉnh thu nhập của các nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những ngư ời có thu nhập thấp hoặc ho àn toàn không có thu nh ập. Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả n ăng tạo thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. theo đ ánh giá thì đây là biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nh ập quốc dân; nói cách khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thu nhập cao và ngược lại. Như vậy, vai trò của NSNN là rất lớn. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức quy mô, cơ cấu và quản lý NSNN như thế nào đ ể phát huy đ ược vai trò của nó. II. Hệ thống ngân sách nhà nư ớc Luật NSNN ra đời là sự phản ánh pháp lý cơ chế quản lý NSNN ở nước ta, thể chế hoá những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, VII, VIII, là công cụ pháp lý để quản lý NSNN có hiệu lực và hiệu quả, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý
  9. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com NSNN là nội dung cốt lõi trong mối quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đ ã được phản ánh rõ ràng trong luật dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta: tăng cường tính tập trung, thống nhất, tính liên tục của điều hành vĩ mô, lãnh đ ạo tập trung đi đô i với việc mở rộng trách nhiệm và quyền hạn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của đ ịa phương đ ối với những vấn đề mà các địa phương có khả năng xử lý có hiệu quả. Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, ch i của mỗi cấp ngân sách. Tại nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đ ó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đ ất nước theo Hiến pháp. Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đ ó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Việc h ình thành hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nh à nước trên mọi vùng lãnh thổ của đ ất nước. Chính sự ra đời của hệ thống chính quyền Nhà nước nhiều cấp đ ó là tiền đề cần thiết để tổ chức hệ thống ngân sách nh à n ước nhiều cấp. Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước, phù hợp với mô h ình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: * Ngân sách trung ương ph ản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước. Nó b ắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các
  10. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đ ất nước. Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nh à nư ớc trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đ ầu tư phát triển…). Nó còn là trung tâm đ iều ho à hoạt động ngân sách của địa phương. Trên thực tế, ngân sách trung ương là ngân sách của cả nước, tập trung đ ại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả n ước. ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán của cấp n ày, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đ ơn vị dự toán của ngân sách trung ương.Ngân sách trung ương bao gồm : Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là - ngân sách cấp tỉnh). Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là - ngân sách cấp huyện). Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). - * Ngân sách địa phương là tên chung đ ể chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới h ành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã chưa có đ ơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp th ành. + Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đ ảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các th ế mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách cấp m ình.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản