BỆNH HỌC TẠNG TÂM - TIỂU TRƯỜNG -
TÂM BÀO - TAM TIÊU
(K 1)
I. NHẮC LẠI NHỮNG CHỨC NĂNG SINH TẠNG TÂM - TẠNG
TÂM BÀO - PHỦ TIỂU TRƯỜNG - PHTAM TIÊU
* Theo Kinh Dịch, tạng Tâm ứng với quẻ Ly của Hậu thiên bát quái. Qu
Ly ở phương Nam (đối xứng với quLy ở phương Bắc là quẻ Khảm, ứng với tạng
Thận).
- QuLy được viết bởi 2 vạch liền (Dương) và chính giữa 1 vạch đứt (Âm),
giống như cái bếp miệng lò, gọi LY TRUNG HƯ, cái đức của là sáng,
văn minh.
- QuLy thuộc Hỏa, chỉ mùa hạ, Quẻ Khảm thuộc Thủy. Thủy và Hỏa là 2
dạng vật chất căn bản đầu tiên tạo nên vũ trụ cũng như sự sống của con người.
- Biểu tượng của Ly là mặt trời, là lửa, là nóng, là sáng.
- Tâm tượng Ly vì cùng thuộc Hỏa, mang thuộc tính của Hỏa là nóng,
sáng. Do đó, Tâm nơi xuất phát của thần minh, sự sáng suốt minh mẫn của mỗi
con người.
* Theo kinh dịch, phủ Tiểu trường ứng với quẻ Kiền của Hậu thiên t
quái.
- QuKiền tượng trưng cho ánh sáng rực rỡ, là sức nóng. nghĩa là Ph
Tiểu trường và tạng Tâm có cùng 1 tính chất với nhau, có mối quan hệ với nhau.
- QuKiền lấy tượng mùa báo hiệu là mùa thu sp đến, bắt đầu cho
chu kâm. Do đó, nếu so sánh với quẻ Ly (Hỏa) của tạng m, thì cái hỏa của
Tiểu trường là do m truyn qua. Quẻ Kiền nơi âm dương tranh chấp nhưng
rồi cũng xuôi theo. Ứng với quẻ Kiền, quẻ Kiền là nơi thanh dương trọc âm cùng
lẫn lộn, nhưng Tiểu trường có chức năng thanh trọc, cho nên rồi thì thanh sthăng
mà trọc cũng giáng.
A. CHỨC NĂNG SINH LÝ TẠNG TÂM
Tâm thuộc Thiếu Âm, thuộc hành Ha. m đứng đầu 12 khí quan nên gọi
“Thiếu Âm quân chủ”. m Tâm âm là Tâm huyết; m dương m khí,
Tâm hỏa.
1. Tâm là Quân chủ, chủ thần minh:
Thiên tà khách, ch Linh khu: “Tâm là vị đại chủ của Lục phủ ngũ tạng, là
chtrú của thần minh”. Tâm chthể shoạt động sinh mệnh của cơ thể,
đứng hàng đầu trong sự hoạt động của tạng phủ. Tất cả tinh thần, ý thức và tư
tưởng đều quy vào công năng của m, cho nên gọi Tâm là chức vụ quân chủ nói
lên tính chất trọng yếu của tâm.
Các tng trong thphân công hợp tác dưới sự thống lĩnh của Tâm mới
thhoạt động theo quy luật nhất định được, vì thế ảnh hưởng của Tâm đối với
sinh mệnh rất lớn.
a. Tâm chthần minh
Tâm m chthể cho hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy. Trên m sàng,
những triệu chứng liên quan đến thần minh như hoảng sợ, nói sảng, nói mê,
cười không nghỉ… phần nhiều quy vào bệnh của Tâm.
b. Tâm Tàng thần
- Thiên Lục tiết tạng tượng luận sách Tố Vấn: m là nguồn gốc của sinh
mệnh, nơi biến hóa của thần”. Thần là tiếng gọi chung về hiện tượng hoạt động
sống của con người (bao gồm tinh thần, ý thức, tri giác, vận động). Thần tuy
khái nim trừu tượng nhưng lại sở vật chất nhất định. Thần do tinh tiên thiên
phối hợp với tinh hậu thiên mà sinh ra. Thần được tạo ra rồi tàng trữ ở Tâm.
- Thiên bản thần, sách Linh khu nói: “Cái đến cùng sự sống là tinh, hai tinh
tác động lẫn nhau tạo ra thần”. Thần biểu hiện sức sống, cho nên thần thịnh hay
suy đều tiêu biểu cho sức sống mạnh hay yếu.
Thần còn thì sống, Thần mất thì chết. Chính vì m ch của 12 khí
quan, đủ khả ng thống nhất lãnh đạo c tạng phủ, điều hòa hoạt động lẫn
nhau nên tạng phủ mới làm tròn trách nhiệm của nó là giữ gìn sức khỏe của cơ thể.
Trái lại m tạng bệnh, thì shoạt động của các tạng phủ khác cũng sinh
rối loạn, mà sinh bệnh. Linh Lan điểm luận sách Tố Vấn viết: “Chủ sáng suốt
thì dưới yên lành, chủ không sáng suốt thì 12 khí quan suy khốn”.
- Tâm khí và Tâm huyết đầy đủ thì tinh thn sáng suốt, tỉnh táo. Tâm huyết
không đầy đủ sẽ sinh chứng hồi hộp, mất ngủ, hay mê, hay quên. m huyết nhiệt
sinh chứng mê sảng, hôn mê…