VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN CÔNG QUÂN

Vũ Thị Thu Hoài

ĐẶC ĐIỂM BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH

CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Hà Nội - 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN CÔNG QUÂN

Vũ Thị Thu Hoài

ĐẶC ĐIỂM BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH

CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ

Chuyên ngành: Địa mạo và Cổ địa lý

Mã số: 09 44 02 18

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học:

1. TS. Phạm Văn Hùng

2. TS. Phạm Quang Sơn

1.

Hà Nội - 2019

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả

nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

công trình nào khác.

Tác giả

Nguyễn Công Quân

ii

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i

MỤC LỤC .................................................................................................................. ii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ...................................................................................... iv

DANH SÁCH CÁC HÌNH........................................................................................ v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ........................................... vii

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN......................... 9

1.1.1. Khái niệm về cửa sông ......................................................................................... 9

1.1.2. Phân loại cửa sông ở khu vực nghiên cứu ......................................................... 11

1.1. Những vấn đề chung ......................................................................................... 9

1.2.1. Trên thế giới ....................................................................................................... 13

1.2.2. Ở Việt Nam ........................................................................................................ 16

1.2.3. Ở Bắc Trung Bộ ................................................................................................. 19

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng cửa sông ven biển .............................. 13

1.3.1. Cách tiếp cận ...................................................................................................... 20

1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 23

1.3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ..................................................... 20

1.4. Tiểu kết chương .............................................................................................. 30

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN BẮC TRUNG

BỘ ............................................................................................................................. 32

2.1.1. Đặc điểm địa chất .............................................................................................. 32

2.1.2. Cấu trúc tân kiến tạo .......................................................................................... 36

2.1.3. Hoạt động của đứt gẫy tân kiến tạo và hiện đại ................................................. 38

2.1. Yếu tố nội sinh ................................................................................................ 32

2.2.1. Dao động mực nước biển trong Holocen ........................................................... 40

2.2.2. Chế độ khí hậu ................................................................................................... 42

2.2.3. Chế độ dòng chảy sông và dòng bùn cát ........................................................... 44

2.2.4. Sóng, triều và dòng chảy ven bờ ........................................................................ 49

2.2.5. Nước biển dâng hiện đại do biến đổi khí hậu .................................................... 55

2.2. Yếu tố ngoại sinh ............................................................................................ 40

2.3.1. Xây dựng các công trình hồ chứa, đê, kè, đập, cống thoát nước ....................... 58

2.3. Yếu tố nhân sinh ............................................................................................. 58

iii

2.3.2. Hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản, khai hoang lấn biển, khai khoáng và khai

thác cát ......................................................................................................................... 60

2.3.3. Hoạt động xây dựng các khu tập trung dân cư, khu kinh tế. ............................. 61

2.4. Tiểu kết chương .............................................................................................. 62

CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN

BẮC TRUNG BỘ .................................................................................................... 64

3.1.1. Đặc điểm địa hình, địa mạo ............................................................................... 64

3.1.2. Nhận xét chung .................................................................................................. 65

3.1. Khái quát địa hình, địa mạo khu vực .............................................................. 64

3.2.1. Xây dựng bản đồ địa mạo ở vùng cửa sông ven biển ........................................ 66

3.2.2. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Mã ........................................ 68

3.2.3. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn ............................ 74

3.2.4. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Hương ................................... 81

3.2. Đặc điểm địa mạo một số vùng cửa sông ....................................................... 66

3.3. Tiểu kết chương .............................................................................................. 86

CHƯƠNG 4. ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG

HỢP LÝ TÀI NGUYÊN LÃNH THỔ CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN

BẮC TRUNG BỘ .................................................................................................... 88

4.1.1. Thời kỳ Pleistocen giữa - muộn ......................................................................... 88

4.1.2. Thời kỳ Holocen sớm - giữa .............................................................................. 90

4.1.3. Thời kỳ Holocen muộn - hiện đại ...................................................................... 91

4.1. Lịch sử phát triển địa hình các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung bộ ......... 88

4.2.1. Đánh giá biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Mã ........................ 94

4.2.2. Đánh giá biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn .......... 101

4.2.3. Đánh giá biến động địa hình cửa sông ven biển sông Hương ......................... 108

4.2. Đánh giá biến động địa hình ........................................................................... 93

4.3.1. Khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ................ 115

4.3.2. Đảm bảo hành lang thoát lũ ven biển .............................................................. 118

4.3.3. Khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống luồng lạch giao thông thủy .............. 118

4.3.4. Khai thác các loại hình du lịch biển ................................................................. 118

4.3. Khuyến nghị giải pháp sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ.......................... 115

4.4. Tiểu kiết chương ........................................................................................... 119

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 120

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ ........................................................... 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 123

iv

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Thống kê các cửa sông ở khu vực Bắc Trung Bộ ..................................... 12

Bảng 2.1. Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm) ............................................. 43

Bảng 2.2. Tổng lưu lượng nước trung bình năm ....................................................... 46

Bảng 2.3. Lượng bùn cát trung bình năm tại các cửa sông ....................................... 47

Bảng 2.4. Một số đặc trưng sóng cửa vịnh Bắc Bộ và ven bờ Thừa Thiên Huế ...... 50

Bảng 2.5. Độ cao sóng lớn nhất tại trạm Cồn Cỏ ..................................................... 50

Bảng 2.6. Chế độ triều và biên độ triều tại các cửa sông .......................................... 51

Bảng 2.7. Lượng xuất chuyển bồi tích do sóng dọc bờ tại trạm Cồn Cỏ .................. 52

Bảng 2.8. Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình ............................................... 55

Bảng 2.9. Mực nước biển dâng theo kịch bản .......................................................... 56

Bảng 2.10. Nước dâng do bão ở các VCSVB Bắc Trung Bộ ................................... 57

Bảng 2.11. Lượng bùn cát theo mùa, trước và sau khi có hồ trên sông Mã ............. 59

Bảng 2.12. Chiều dài đê biển và số lượng cống dưới đê .......................................... 59

Bảng 2.13. Dân số và mật độ dân số các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ ..................... 61

Bảng 4.1. Thống kê các kiểu địa hình ở các vùng cửa sông ven biển ...................... 92

Bảng 4.2. Trạng thái phát triển của bờ biển vùng cửa sông ven biển sông Mã ........ 98

Bảng 4.3. Thống kê biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn 105

Bảng 4.4. Biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn ............... 106

Bảng 4.5. Biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Hương ...................... 111

Bảng 4.6. Biến động địa hình ở Cửa Thuận An ...................................................... 114

Bảng 4.7. Diện tích nuôi trồng thuỷ, hải sản năm 2014 .......................................... 116

v

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 0.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu ........................................................................... 2 Hình 0.2. Sơ đồ tài liệu thực tế ở khu vực nghiên cứu (a: VSCVB sông Mã; b:

VCSVB sông Thạch Hãn; c: VCSVB sông Hương) ................................... 6 Hình 1.1. Cấu tạo vùng cửa sông [10] ...................................................................... 10 Hình 1.2. Ảnh Landsat -2010 các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ.

VCSVB sông Mã (a), sông Thạch Hãn (b), sông Hương (c) ..................... 24 Hình 1.3. Sở đồ xử lý ảnh, triết xuất thông tin các kiểu, dạng địa hình ................... 26 Hình 1.4. Ảnh viễn thám khu vực nghiên cứu đã qua hiệu chỉnh phổ khí quyển

và tổ hợp các band mầu ............................................................................. 26 Hình 1.5. Phân tích địa hinh trên mô hình số độ cao ở VCSVB sông Hương .......... 27 Hình 2.1. Sơ đồ địa động lực hiện đại khu vực Bắc Trung Bộ ................................. 37 Hình 2.2. Đường cong dao động mực nước biển khu vực Tây Biển Đông từ cực

đại băng hà cuối cùng 20000 năm cách ngày nay . ................................... 41 Hình 2.3. Đường cong dao động mực nước biển từ 8000 năm trước đến nay ......... 41 Hình 2.4. Độ đục quan sát được tại các cửa sông trên ảnh vệ tinh Landsat vào tháng

8-2016. VCSVB sông Mã (a), sông Thạch Hãn (b), sông Hương (c) ........... 48

Hình 3.1. Núi sót bóc mòn lộ đá gốc ở phía nam Sầm Sơn (Ảnh: Nguyễn Công

Quân).......................................................................................................... 69 Hình 3.2. Bản đồ địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Mã .................................... 70 Hình 3.3. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Mã theo tuyến AB. ................................. 70 Hình 3.4. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Mã theo tuyến CD. ................................. 70 Hình 3.5. Bề mặt tích tụ sông - đầm lầy ở thành phố Thanh Hóa ............................ 71 Hình 3.6. Bề mặt tích tụ sông –biển - đầm lầy tại Quảng Xương ............................. 72 Hình 3.7. Bề mặt tích tụ sông -biển tại Quảng Tiến ................................................. 72 Hình 3.8. Địa hình cồn cát tại Quảng Cư (Ảnh: Nguyễn Công Quân)...................... 73 Hình 3.9. Bề mặt tích tụ biển tại Quảng Cư (Ảnh: Nguyễn Công Quân) ................. 73 Hình 3.10. Địa hình núi bóc mòn ở Gio Linh (Ảnh Nguyễn Công Quân) ................ 75 Hình 3.11. Bản đồ địa mao vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn ..................... 76 Hình 3.12. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Thạch Hãn theo tuyến AB. ................... 76 Hình 3.13. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Thạch Hãn theo tuyến CD. ................... 76 Hình 3.14. bãi bồi và thềm bậc I ở Cam Lộ (Ảnh Nguyễn Công Quân) ................... 77 Hình 3.15. Bề mặt địa hình do gió tại Triệu Vân (Ảnh Nguyễn Công Quân) ........... 79 Hình 3.16. Bãi biển hiện đại tại Gio Hải (Ảnh Nguyễn Công Quân) ........................ 80 Hình 3.17. Địa hình bóc mòn gần cửa Tư Hiền (Ảnh Nguyễn Công Quân) ............. 82 Hình 3.18. Bản đồ địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Hương. ........................... 83

vi

Hình 3.19. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Hương theo tuyến AB. ......................... 83 Hình 3.20. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Hương theo tuyến CD. ......................... 83 Hình 3.21. Bề mặt tích tụ sông-biển ở Phú Lộc (Ảnh Nguyễn Công Quân) ............. 85 Hình 3.22. Cồn cát biển phía ngoài cửa Tư Hiền (Ảnh Nguyễn Công Quân)........... 85 Hình 3.23. Cồn cát biển xã Hải Dương (Ảnh Nguyễn Công Quân) .......................... 85 Hình 3.24. Bãi biển hiện đại tại Thái Dương (Ảnh: Nguyễn Công Quân) ................ 86 Hình 4.1. Sơ đồ đới đường bờ trong Holocen giữa VCSVB sông Mã(trên ảnh vệ

tinh Landsat năm 1999) ............................................................................. 95

Hình 4.2. Đường bờ biển ở vùng cửa sông ven biển sông Mã trong những năm

1965-1975 (a), 1975-1990 (b) 1990-2001 (c), 2001-2017 (d) ................... 96 Hình 4.3. Cột địa tầng của một số lỗ khoan tại Thanh Hóa ...................................... 97 Hình 4.4. Xói lở tại cửa Hới (Ảnh Nguyễn Công Quân) ........................................... 99 Hình 4.5. Sơ đồ dự đoán khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven

biển sông Mã ............................................................................................ 100 Hình 4.6. Mặt cắt địa mạo qua bề mặt thềm mài mòn biển .................................... 102 Hình 4.7. Đới đường bờ trong Pleistocen muộn VCSVB sông Thạch Hãn (trên

ảnh vệ tinh Landsat năm 1999) ................................................................ 103

Hình 4.8. Đường bờ vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn trong những năm

1952-1965 (a), 1965-1979 (b), 1979-1989 (c), 1989-1999 (d), 1999- 2017 (e) .................................................................................................... 104

Hình 4.9. Sơ đồ khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven biển sông

Thạch Hãn (khu vực Cửa Việt) ................................................................ 107 Hình 4.10. Mặt cắt địa mạo qua bề mặt thềm mài mòn biển tại Thủy Phương ...... 109 Hình 4.11. Đới đường bờ trong Pleistocen muộn ở VCSVB sông Hương (trên

ảnh vệ tinh năm 1999) ............................................................................. 110

Hình 4.12. Đường bờ ở vùng cửa sông ven biển sông Hương trong những năm

1965-1978 (a), (1978-1989 (b), (1989-1994) (c), 1994-1999 (d), 1999- 2005 (e), 2005-2017 (f) ............................................................................ 112

Hình 4.13. Ảnh nhà đổ do xói lở (a) và xói lở bờ biển xã Hải Dương (b) (Ảnh:

Nguyễn Công Quân) ................................................................................ 112

Hình 4.14. Sơ đồ khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven biển

sông Hương (khu vực Cửa Thuận An) .................................................... 115

vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Nội dung

Bắc Trung Bộ BTB

Mô hình số độ cao (Digital Elevation Model) DEM

ĐB-TN Đông bắc - tây nam

TB-ĐN Tây bắc - đông Nam

GIS Hệ thông tin địa lý

KHCN Khoa học công nghệ

KH&KT Khoa học và Kỹ thuật

KH & CN Khoa học và Công nghệ

KT - XH Kinh tế - xã hội

NCS Nghiên cứu sinh

nnk Những người khác

LK Lỗ khoan

QL Quốc lộ

VCSVB Vùng cửa sông ven biển

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vùng cửa sông ven biển có ý nghĩa rất to lớn đối với sự sống và phát triển

của xã hội loài người từ xa xưa cho đến nay và cả trong tương lai.

Vùng cửa sông ven biển (VCSVB) được hình thành ở nơi sông đổ ra biển, là

nơi có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho con người lựa chọn và tập trung sinh

sống ngay từ khi mới sinh ra. Nơi đây, các đô thị với khu tập trung dân cư, các công

trình kinh tế dân sinh, quốc phòng, an ninh dần được xây dựng, mở rộng, phát triển

phục vụ đời sống của con người như: các công trình công nghiệp, khu hành chính,

các công trình dân sinh, sân bay, cảng biển, du lịch, dịch vụ, thương mại, v.v. Hiện

nay, có đến khoảng 2/3 số thành phố đông dân nhất thế giới được phân bố ở

VCSVB. Hơn thế nữa, mảnh đất này là bàn đạp để con người tiến ra biển, khai thác,

phát triển kinh tế biển và đồng thời đây cũng là vùng tiền tiêu bảo vệ chủ quyền

lãnh thổ, lãnh hải của quốc gia.

Việt Nam có tới 28 trong số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giáp

biển. Trong các tỉnh ven biển này, có tới 114 vùng cửa sông ven biển. Khu vực Bắc

Trung Bộ nằm trên dải đồng bằng ven biển, gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà

Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, có 23 cửa sông đổ ra biển. Theo

thời gian, sự phát triển mạnh mẽ của các thành phố trong khu vực này về nhiều mặt

gắn liền với sự biến động địa hình hiện đại, tác động trực tiếp đến vấn đề quy hoạch

sử dụng hợp lí tài nguyên đất, nước, v.v và bảo vệ môi trường.

Địa hình các VCSVB ở Bắc Trung Bộ, được hình thành và phát triển bởi tác

động tương hỗ của các quá trình động lực nội, ngoại và nhân sinh; hơn nữa, đây là

nơi diễn ra các tương tác sông - biển rất phức tạp trong điều kiện biến đổi khí hậu

và nước biển dâng. Kết quả của các quá trình đó làm cho vùng đất này, theo thời

gian từ đầu thời kỳ Đệ tứ đến nay, ngày càng được tiến ra phía biển với việc hình

thành đồng bằng tích tụ với các cồn, bar, bãi, đảo ở trước vùng cửa sông hoặc song

song với bờ biển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH);

hoặc cũng có thời gian biển lấn vào lục địa, gây xói lở bờ biển, mất đất, làm cho các

công trình kinh tế dân sinh ở đây bị phá huỷ, gây thiệt hại cho đời sống của cư dân

địa phương.

2

Hình 0.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Hiện nay, trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đồng thời dưới

tác động của nền kinh tế thị trường, các hoạt động KT-XH diễn ra ngày càng sôi

động, làm cho địa hình các VCSVB bị biến động mạnh mẽ cả về không gian và thời

gian. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cấp bách đặt ra với mục tiêu phát triển bền

vững KT-XH và bảo vệ môi trường các VCSVB Bắc Trung Bộ, nghiên cứu sinh

(NCS) lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là: “Đặc điểm biến động địa hình các

vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ”.

2. Mục tiêu của đề tài

- Làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

- Xác lập xu hướng biến động địa hình và quá trình địa mạo động lực ở các

VCSVB Bắc Trung Bộ.

3. Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, những nhiệm vụ và nội dung nghiên

cứu của luận án là:

3

- Thu thập, phân tích tổng hợp, xử lý các tài liệu, số liệu có liên quan về địa

mạo, địa chất, kiến tạo, v.v ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

- Thu thập, xử lí và phân tích, giải đoán các ảnh viễn thám độ phân giải cao,

xác lập các đơn vị địa mạo theo nguồn gốc hình thái, đặc điểm địa chất thạch học và

các yếu tố cấu trúc tân kiến tạo.

- Khảo sát thực địa, đo vẽ chi tiết, xác định nguồn gốc, đặc điểm hình thái và

tuổi của những kiểu, dạng địa hình.

- Nghiên cứu đánh giá vai trò của các yếu tố trong quá trình hình thành và

biến động địa hình.

- Nghiên cứu xây dựng bản đồ địa mạo theo nguyên tắc “Bề mặt đồng nguồn

gốc và tuổi”.

- Nghiên cứu đánh giá các quá trình địa mạo động lực hiện đại (xói lở, bồi

tụ) ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

- Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo và xu hướng biến động địa hình

các VCSVB Bắc Trung Bộ.

- Khuyến nghị giải pháp sự dụng hợp lí các vùng cửa sông ven biển Bắc

Trung Bộ.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: địa hình và quá trình địa mạo động lực hiện đại các

VCSVB Bắc Trung Bộ: sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương (Hình 0.1).

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian, trên khu vực Bắc Trung Bộ có các VCSVB chính sau: sông

Mã, Cả, Gianh, Thạch Hãn và sông Hương. Các công trình nghiên cứu trước đây

cho thấy, các VCSVB Bắc Trung Bộ hình thành và phát triển theo kiểu “Delta” và

“Liman”. Do đó, NCS tập trung nghiên cứu vào 3 khu vực cửa sông chính: VCSVB

sông Mã phát triển theo kiểu “Delta”, VCSVB sông Thạch Hãn và Hương phát triển

kiểu “Liman”[1]. Trong khuôn khổ của luận án, NCS tập trung nghiên cứu từ nơi

sông chính bắt đầu phân nhánh tới bãi triều thấp khi mức triều kiệt. VCSVB sông

Thạch Hãn và sông Hương có vị trí kề nhau, NCS lựa chọn để nghiên cứu làm sáng

4

tỏ sự tương đồng về cấu trúc địa hình, nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển;

đồng thời làm rõ xu thế biến động địa hình của chúng.

Về thời gian, NCS tập trung nghiên cứu đặc điểm biến động địa hình của 3

VCSVB thể hiện qua các giai đoạn trong Đệ tứ muộn - hiện đại: cuối Pleistocen

muộn - cuối Holocen giữa, cuối Holocen giữa - Holocen muộn và Holocen muộn -

hiện đại.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, NCS đã sử dụng tổng hợp các

phương pháp nghiên cứu vừa truyền thống, vừa hiện đại, bao gồm:

- Phương pháp phân tích viễn thám.

- Phương pháp khảo sát đo đạc, nghiên cứu thực địa.

- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS).

- Phương pháp phân tích địa mạo.

- Phương pháp phân tích địa chất Đệ tứ.

- Phương pháp phân tích lịch sử khảo cổ

- Phương pháp phân tích tổng hợp.

6. Luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1: Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ có nguồn gốc đa dạng,

phức tạp và phân hóa mạnh mẽ theo không gian địa lý (vĩ độ). Theo đó. địa hình

VCSVB sông Mã gồm 3 dạng nguồn gốc sông, 7 dạng nguồn gốc hỗn hợp, 3 dạng

nguồn gốc biển, được hình thành và phát triển theo kiểu “Delta”; VCSVB Thạch

Hãn gồm 4 dạng địa hình có nguồn gốc biển, 7 dạng địa hình nguồn gốc hỗn hợp và

6 dạng địa hình nguồn gốc sông; VCSVB sông Hương gồm 4 dạng địa hình có

nguồn gốc biển, 9 dạng địa hình nguồn gốc hỗn hợp và 4 dạng địa hình nguồn gốc

sông; cả hai cửa sông này được hình thành và phát triển theo kiểu “Liman”.

Luận điểm 2: Trong Đệ tứ muộn - hiện đại, địa hình các VCSVB sông Mã,

Thạch Hãn và sông Hương trải qua 3 thời kỳ biến động: cuối Pleistocen muộn -

cuối Holocen giữa, cuối Holocen giữa - Holocen muộn và Holocen muộn - hiện đại,

có xu hướng tiến ra phía biển với biên độ khác nhau. Hiện nay, địa hình các

5

VCSVB phát triển với xu hướng: bồi tụ lấn biển ở VCSVB sông Mã; xói lở, biển

lấn ở VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương.

7. Điểm mới của luận án

- Bằng ứng dụng công nghệ viễn thám phân giải cao và GIS kết hợp với các

phương pháp truyền thống. đã xây dựng được bản đồ địa mạo chi tiết các VCSVB

sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương theo nguyên tắc “Bề mặt đồng nguồn gốc

và tuổi”, làm cơ sở xác định biến động địa hình từ cuối Pleistocen muộn đến

Holocen.

- Đã khôi phục các đường bờ biển trong Pleistocen muộn ở các VCSVB sông

Thạch Hãn và sông Hương, đường bờ biển trong Holocen giữa ở VCSVB sông Mã

(bằng phân tích các dấu hiệu địa mạo và địa chất Đệ tứ) và đường bờ biển trong các

thời đoạn khác nhau (từ 1952 - 2017 ở VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương, từ

1965 - 2017 ở VCSVB sông Mã) bằng phân tích bản đồ, các tư liệu viễn thám và

GIS.

- Đã làm sáng tỏ đặc điểm biến động địa hình hiện đại của 3 VCSVB Bắc

Trung Bộ, trong đó VCSVB sông Mã với quá trình bồi tụ diễn ra mạnh mẽ, xu

hướng địa hình lấn biển; VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương với quá trình xói

lở chiếm ưu thế, xu hướng biến lấn vào đất liền.

8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

8.1. Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện phương pháp

luận và phương pháp nghiên cứu biến động địa hình cũng như các quá trình địa mạo

động lực các VCSVB. Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận án còn cung

cấp đầy đủ, chi tiết về các yếu tố, lịch sử hình thành, phát triển và xu thế biến động

địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

8.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả khoa học của luận án sẽ góp phần nâng cao năng lực tổ chức quản lý

lãnh thổ cho các địa phương về quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ và

bảo vệ môi trường ở các VCSVB. Đồng thời, kết quả khoa học của luận án cung

cấp cơ sở khoa học cho công cuộc quai đê lấn biển phát triển lâm, ngư nghiệp; xây

dựng các công trình giao thông, cảng biển, thương mại và du lịch; xây dựng các giải

6

pháp phòng, chống xói lở, bồi tụ ở VCSVB, giảm thiếu thiệt hại và bảo vệ môi

trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

9. Cơ sở tài liệu của luận án

Cơ sở tài liệu sử dụng để thực hiện luận án bao gồm chủ yếu là các tài liệu,

số liệu của chính NCS đã thu thập, phân tích và xử lý trong những năm qua. Các tài

liệu, số liệu bao gồm (Hình 0.2):

a b

c

Hình 0.2. Sơ đồ tài liệu thực tế ở khu vực nghiên cứu (a: VSCVB sông Mã; b: VCSVB sông Thạch Hãn; c: VCSVB sông Hương)

- Các kết quả phân tích, xử lý ảnh viễn thám phân giải cao: Landsat-8,

SPOT-5, Sentinel, Planet và các thế hệ ảnh máy bay: Xác lập các bề mặt đồng

nguồn gốc, khoanh định ranh giới, địa chất thạch học, đặc điểm hình thái địa hình,

cấu trúc tân kiến tạo, các quá trình địa mạo động lực hiện đại (xói lở, bồi tụ).

- Các kết quả nghiên cứu khảo sát thực địa của NCS trong những năm 2015 -

2017: xác lập các đặc điểm nguồn gốc hình thái địa hình, xây dựng các mặt cắt địa

mạo, xác lập các quá trình địa mạo động lực hiện đại ở các VCSVB sông Mã,

Thạch Hãn và sông Hương.

7

- Các số liệu, tài liệu phân tích, xử lý khi tham gia các đề tài khoa học cấp Bộ

và cấp Nhà nước như:

+ Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại

vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội.

(Đề tài cấp Nhà nước, KC-09.06/06-10).

+ Nghiên cứu biến động các vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ

từ thông tin viễn thám phân giải cao và GIS, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế

biển và bảo vệ tài nguyên - môi trường (Đề tài cấp Viện Hàn Lâm KH&CN Việt

Nam, 2011 - 2012).

+ Nghiên cứu môi trường trầm tích Holocen vùng đồng bằng ven biển Thanh

Hóa làm cơ sở dự báo tai biến thiên nhiên và xây dựng giải pháp phòng tránh, giảm

nhẹ thiệt hại. (Đề tài cấp Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam, 2017 - 2018).

- Các tài liệu thu thập và phân tích tổng hợp từ các nguồn khác nhau trước

đây có liên quan đến đề tài luận án:

+ Ứng dụng thông tin viễn thám và công nghệ GIS nghiên cứu biến động các

vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội bền vững

(Đề tài cấp Cở sở Viện Địa chất, 2009)

+ Ứng dụng thông tin viễn thám trong nghiên cứu biến động môi trường tự

nhiên vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa và những vấn đề khai thác trong bối cảnh

biến đổi khí hậu và nước biển dâng. (Đề tài cấp cở sở Viện Địa chất, 2013).

+ Ứng dụng công nghệ viễn thám thành lập bản đồ địa mạo vùng cửa sông

ven biển sông Hương. (Đề tài cấp cở sở Viện Địa chất, 2017).

Ngoài ra, NCS còn sử dụng kế thừa các tài liệu đã công bố của tác giả và

đồng nghiệp trên các tạp chí, sách chuyên khảo, hội thảo khoa học trong nước và

quốc tế đến năm 2017.

10. Cấu trúc luận án

Luận án được trình bày trong 132 trang, 21 bảng, 48 hình và ảnh minh họa

và 100 tài liệu tham khảo. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận án

được trình bày trong 4 chương:

8

Chương 1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu biến động địa hình

vùng cửa sông ven biển;

Chương 2. Đặc điểm và vai trò các yếu tố tác động đến biến động địa hình

vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ;

Chương 3. Đặc điểm địa mạo các VCSVB Bắc Trung Bộ;

Chương 4. Đánh giá biến động địa hình và vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên

lãnh thổ các VCSVB Bắc Trung Bộ.

Luận án được thực hiện tại Học viện KH&CN thuộc Viện Hàn lâm KH&CN

Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Văn Hùng và TS. Phạm Quang Sơn.

Trước hết, NCS xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS. Phạm Văn Hùng và TS.

Phạm Quang Sơn - những người Thầy đã dành cho NCS sự quan tâm, hướng dẫn

tận tình và những định hướng khoa học hiệu quả trong suốt quá trình nghiên cứu và

hoàn thành luận án. Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình, có hiệu quả của Ban Lãnh đạo Học viện KH&CN, Viện Địa chất.

Ngoài ra, NCS còn nhận được những lời góp ý quý báu của các nhà khoa học, các

đồng nghiệp ở trong và ngoài Học viện, lời động viên của gia đình và bạn bè. NCS

xin chân thành cám ơn.

9

CHƯƠNG 1.

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN

1.1. Những vấn đề chung

1.1.1. Khái niệm về cửa sông

Cửa sông (river mouth) là nơi con sông đổ vào biển, vào hồ (hồ chứa) hoặc

vào một con sông lớn hơn [2], [3], [4], [5]. Trong công trình này, NCS tập trung nghiên cứu nơi cửa sông vào biển. Theo các chuyên môn nghiên cứu mà có nhiều

cách hiểu về khái niệm cửa sông. Có thể hiểu theo nghĩa rộng thì cửa sông là khu

vực có sự tương tác, tranh chấp giữa nước mặn của biển và nước ngọt của lục địa,

nói cách khác là nơi sông đổ nước ra biển. Bên cạnh đó một số khái niệm về cửa sông được hiểu theo một số định nghĩa dưới đây:

- Theo Cameron và Prichard (1963): Cửa sông là vùng nước nửa kín duyên

hải có quan hệ tự do với biển và chịu ảnh hưởng của chuyển động thuỷ triều, nước

biển được pha loãng bởi nước ngọt từ trong nội địa ra [3].

- Theo Fairbridge (1980): Một cửa sông là một nhánh của biển đi vào một

dòng sông đến nơi mà mực nước cao nhất của thủy triều vươn tới, thường được chia

thành 3 phần khác nhau: a) phần biển hay phần cửa sông thấp, nối liền với biển

khơi; b) phần cửa sông trung, nơi diễn ra sự pha trộn chính của nước biển và nước

ngọt; và c) phần cửa sông cao, chi phối bởi nước ngọt nhưng còn tác động của thủy

triều. Giới hạn giữa 3 phần này không cố định và biến động theo lượng nước ngọt

đổ ra từ sông [6].

- Theo Dalrymple (1992): thì định nghĩa cửa sông là phần tiếp giáp với biển

của lòng sông bị ngập nước chứa đựng phù sa từ trong sông ra, bùn cát ven biển

dưới tác động của thuỷ triều, sóng và các quá trình sông. Cửa sông được xem như phần đất kéo dài từ đất liền nơi không còn ảnh hưởng của thuỷ triều, về phía biển

nơi không còn ảnh hưởng của sông [7].

- Theo Dyer (1996) có định nghĩa cửa sông là phần nước duyên hải bán kín có sự trao đổi nước với biển mở, được kéo dài vào sâu trong sông đến giới hạn ảnh hưởng triều trong đó nước biển được pha loãng bởi nước sông [8].

Như vậy “Cửa sông là nơi dòng sông đổ ra biển, được đặc trưng bởi quá

trình chuyển hoá dần từ chế độ thuỷ văn lục địa sang chế độ thuỷ văn biển; ở đây xảy ra các biến động rất lớn về tính chất lý - hoá của các khối nước, các đặc trưng

sinh học cũng như quá trình phát triển lục địa và hình thành châu thổ” [9]. Vì cửa

10

sông là nơi xảy ra tranh chấp giữa nước biển và nước sông, đó là sự thay đổi từ chế

độ thuỷ văn sông trong sự tiếp nhận chế độ thuỷ văn biển, nên giới hạn cửa sông

thường được xác định bởi các dấu hiệu đặc điểm như sau:

- Giới hạn phía trong cửa sông: ở vị trí đáy trục lòng dẫn sông đạt độ sâu lớn

nhất, nơi bề mặt mực nước sông đạt tới tốc độ nhỏ nhất, ranh giới cuối cùng của vùng không bị nhiễm mặn.

- Giới hạn phía ngoài cửa sông: ở ranh giới ngoài của các bar đảo cửa sông,

nơi dòng chảy, dòng bồi tích sông bị tắt dần.

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm nhằm phân định ranh giới vùng cửa sông, song hầu hết đều thống nhất dựa vào 3 dấu hiệu cơ bản như: điều kiện thuỷ văn,

điều kiện thuỷ hoá và hình thái cửa sông. Các nhà nghiên cứu hóa học và sinh học

thì giới hạn vùng cửa sông là: giới hạn trong sông ở nơi nước lợ có độ mặn từ 0,5 ‰ đến giới hạn ngoài khơi là nơi nước lợ biến đổi hoàn toàn thành nước biển có độ

mặn từ 3034 ‰. Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu thủy văn thì đưa ra ranh giới

trong sông là nơi lòng dẫn chính bắt đầu phân nhánh, hoặc là nơi có ảnh hưởng của

hiện tượng thuỷ triều (hay nước dâng) trong mùa kiệt. Ranh giới ngoài phía biển là

nơi có chế độ thuỷ hoá biến tính mạnh nhất trong mùa lũ (thường là lấy độ mặn

vùng nước pha trộn làm chỉ tiêu đặc trưng). Theo Baidin vùng cửa sông gồm 3 phần

là: đoạn gần cửa sông (A), đoạn cửa sông (B) và vùng biển nông trước cửa sông (C)

(Hình 1.1).

Hình 1.1. Cấu tạo vùng cửa sông [10]

Do đó, trên cơ sở phân vùng cửa sông của Baidin thì VCSVB sông Mã là

phần lục địa từ biển vào đất liền khoảng 20 - 22km, sông Thạch Hãn khoảng 20km,

sông Hương khoảng 15km (từ nơi sông chính bắt đầu phân nhánh tới bãi triều thấp

khi mức triều kiệt). Như vây, phạm vi phân bố chung về mặt không gian của các

11

VCSVB Bắc Trung Bộ mà NCS tập trung nghiên cứu là phần đất liền từ bãi triều

vào trong lục địa, khoảng 15 - 20km, gồm các đoạn A và B (Hình 1.1).

1.1.2. Phân loại cửa sông ở khu vực nghiên cứu

Vùng cửa sông ven biển là nơi thường xuyên diễn ra tương tác rất phức tạp của sông và biển; của nhóm yếu tố nội sinh, ngoại sinh và hoạt động kinh tế của con người. Do đó, việc phân loại cửa sông theo các tiêu chí phù hợp với mục đích nghiên cứu có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp, đạt kết quả tốt.

Hiện nay, có nhiều nguyên tắc phân loại cửa sông theo các quan điểm nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên cách phân loại cửa sông cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và các chỉ tiêu sử dụng trong phân loại. Hiện nay, các công trình trên thế giới đã trình bày một số cách phân loại cửa sông theo các tiêu chí khác nhau. Trong đó, phải kể đến một số công trình khoa học đã đề cập đến phân loại cửa sông ven biển theo các tiêu chí sau đây [3], [5], [9], [11], [12]:

- Dựa vào các dấu hiệu địa mạo cơ bản các cửa sông được phân thành 3 nhóm: (1) cửa sông châu thổ (delta), (2) cửa sông hình phễu (estuary), (3) cửa sông dạng phẳng (liman);

- Dựa vào hình dạng cửa sông và đường bờ biển, chia thành 3 loại: (1) cửa sông dạng thẳng và dạng phễu, (2) cửa sông dạng kín và dạng hở, (3) cửa sông dạng lõm, lồi và phẳng.

- Dựa vào dấu hiệu hoạt động kiến tạo khu vực, chia ra: (1) vùng cửa sông có hoạt động kiến tạo mạnh (sụt lún, nâng - hạ, tách giãn, v.v), (2) vùng cửa sông ít hoạt động kiến tạo hoặc ổn định.

- Dựa vào đặc điểm tác động của chế độ thuỷ- hải văn chia ra 2 nhóm: (1) cửa sông ven biển hở (hay đại dương), (2) cửa sông ven biển kín (hay biển nội địa).

- Dựa vào chế độ bùn cát chia ra các loại: cửa sông có nhiều bùn cát  > 0,2 kg/m3 thuộc loại cửa sông delta và cửa sông có ít hoặc rất ít bùn cát  < 0,16 kg/m3 thuộc loại cửa sông estuary, cửa sông có bùn cát 0,16≤  ≤ 0,2 kg/m3 thuộc loại cửa sông quá độ.

Như vậy, theo các khía cạnh, chuyên ngành và mục tiêu khác nhau, các công trình đã đưa ra các cách phân loại VCSVB khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các cách phân loại nêu trên đều xét tới tổng thể các yếu tố động lực nội sinh và ngoại sinh một cách trực tiếp hay gián tiếp tới hình thành địa hình các VCSVB. Khu vực Bắc Trung Bộ có đường bờ biển dài 642km, trải dài từ vĩ độ 16o18’ VĐB đến 20o VĐB thuộc địa bàn các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Khu vực này có tới 23 cửa sông đổ ra biển (Bảng 1.1), trong đó

12

phải kể đến các cửa sông chính như cửa Hới của sông Mã, cửa Hội của sông Cả, cửa Gianh của sông Rào Nậy, cửa Việt của sông Thạch Hãn và cửa Thuận An của sông Hương. Các sông này đổ trực tiếp ra biển Đông với một cửa duy nhất, riêng sông Hương đổ trực tiếp vào phá Tam Giang - đầm Cầu Hai trước khi đổ ra biển qua cửa Thuận An và Tư Hiền.

Bảng 1.1. Thống kê các cửa sông ở khu vực Bắc Trung Bộ

Stt Tên tỉnh Tên sông Cửa sông

Lèn 1 Cửa Lạch Sung

Tào Xuyên Cửa Lạch Trường 2

Thanh Hoá Mã 3 Cửa Hới

Yên 4 Cửa Lạch Ghép

Khê Dứa 5 Lạch Bạng

Cửa Trập ( Cửa Cờn) Hoàng mai 6

Độ Ông ( sông Hầu) Cửa Lạch Quèn 7

Dừa 8 Cửa Thới Nghệ An Bùng 9 Cửa Vạn

Cửa Lò 10 Cửa Lò

Cả 11 Cửa Hội

Hạ Vàng 12 Cửa Sót

Hà Tĩnh Rác 13 Cửa Nhượng

Kinh 14 Cửa Khẩu

Ròn 15 Cửa Ròn

Gianh 16 Cửa Gianh

Quảng Bình Lý Hoà 17 Cửa Lý Hoà

Định 18 Cửa Doanh

Kiến Giang 19 Cửa Nhật Lệ

Bến Hải 20 Cửa Tùng Quảng Trị 21 Thạch Hãn + Ô Lâu Cửa Việt

Đầm Thanh Lam ( cửa Thuận 22 Sông Hương An) Thừa Thiên Huế

23 Nông +Truồi Vụng Cầu Hai (cửa Tư Hiền)

Nguồn:[13], [63]

13

Trong công trình này, NCS sử dụng cách phân loại VCSVB theo tiêu chí

tổng hợp các dấu hiệu địa chất - địa mạo và theo mức độ tác động của các yếu tố

động lực ở các VCSVB Bắc Trung Bộ [1], [12].

- Cửa sông lồi (delta) có cửa Hới, Lạch Trào, Hội, Gianh với đặc trưng là

phát triển các bãi ngầm trước cửa sông;

- Cửa thẳng (liman) có cửa Việt và Thuận An với đặc trưng ít bồi tích, phát

triển val cát song song với bờ tạo thành lagun.

Trên cơ sở những phân loại các VCSVB Bắc Trung Bộ, NCS đã chọn lựa

chọn các VCSVB: delta - VCSVB sông Mã, liman - VCSVB sông Thạch Hãn và

sông Hương. VCSVB sông Mã thuộc địa phận các huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu

Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương và các thành phố Sầm Sơn và Thanh Hóa. VCSVB

sông Thạch Hãn và sông Hương thuộc địa phận các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Triệu

Phong, thành phố Đông Hà (tỉnh Quảng Trị), các huyện Phong Điền, Quảng Điền,

Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc và thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiện

Huế). Bên cạnh đó, ba VCSVB này còn có những đặc trưng địa mạo, các quá trình

địa mạo động lực điển hình ở Bắc Trung Bộ; luôn có những biến động địa hình rất

mạnh mẽ dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động kinh tế của con người.

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu vùng cửa sông ven biển

1.2.1. Trên thế giới

Do có vị trí quan trọng và vai trò đặc biệt của các VCSVB, nên từ lâu, địa

hình, địa mạo của VCSVB trở thành đối tượng nghiên cứu, khai thác phục vụ đời

sống con người ở mỗi quốc gia trên thế giới. Ngay từ thế kỷ XIX - đầu Thế kỷ XX,

các công trình nghiên cứu của Cretner G.R (1878), Rusell R.J (1936), v.v đã tập

trung nghiên cứu hình thái, nguồn gốc của các VCSVB và đã bước đầu phân loại

chúng. Tuy nhiên, các công trình này mang tính kinh nghiệm và chỉ dừng lại ở mức

độ định hướng lý thuyết cơ bản. Áp dụng các phương pháp truyền thống nghiên cứu

các VCSVB, cụ thể là phương pháp đo đạc, tính toán các đặc trưng thuỷ văn nhằm

đánh giá động lực dòng chảy, công trình của Trekhovic P.S (1904), Apolov B.A

(1930), v.v đã xác lập sự phân bố và động lực dòng bùn cát. Nghiên cứu, đánh giá

các vùng cửa sông thông qua các yếu tố hải văn (sóng gió, thuỷ triều, dòng chảy ven

14

bờ, v.v) có các tác giả chính là Zubov N.N, Makarov S.O, v.v. Những nghiên cứu

trên chủ yếu dừng lại ở phân tích điều kiện tự nhiên VCSVB, phân tích vai trò của

yếu tố chính: sóng, thủy triều và dòng ven bờ, chưa đề cập sâu về cơ chế tác động

qua lại giữa các yếu tố động lực sông - biển.

Công trình “Động lực và hình thái bờ biển Đen Liên Xô” của Zenkovic V.P

(1962) đã thực sự đưa khoa học địa mạo bờ biển nói chung, các VCSVB nói riêng

bước vào thời kỳ phát triển mới [14]. Công trình này đã tổng hợp cả lí luận đến thực

tiễn nghiên cứu dải bờ biển trên thế giới. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu đã

được tổng hợp và ứng dụng nghiên cứu địa mạo bờ biển. Công trình của Zenkovic

V.P về “Các vấn đề nghiên cứu sự phát triển bờ biển” (1960-1962), đã đạt được

những thành tựu khoa học quan trọng, nghiên cứu về sự hình thành châu thổ (delta)

và phát triển các cửa sông. Bên cạnh đó, công trình của Xamoilov I.V (1952) đã

nghiên cứu mối tương tác giữa các yếu tố động lực sông - biển trong sự phát triển

địa hình cửa sông [5]. Trên cơ sở đó, các nhà khoa học Xô Viết đã phát triển nghiên

cứu VCSVB theo những hướng khác nhau như: Simonov A.I nghiên cứu vùng biển

nông trước cửa sông, tính toán tốc độ dòng chảy và diễn biến độ mặn ở cửa sông;

Nghiên cứu động lực vùng cửa sông ven biển thông qua tương tác của yếu tố gió -

dòng chảy được Alsyler V.M, Sadrin I.F và nhiều tác giả khác phát triển các mô

hình thủy văn, tính toán dòng chảy lớp nước mặt, về vận chuyển của dòng bồi tích ở

cửa sông. Các công trình của Leontrev (1961) về địa lý, địa chất bờ biển và đại

dương, Kaplin nghiên cứu về sự dao động mực nước đại dương và lịch sử phát triển

địa hình bờ biển, đã đạt được thành tựu quan trọng trong nghiên cứu điều kiện tự

nhiên, địa mạo, địa chất bờ biển thế giới cùng với đặc trưng của dao động mực nước

đại dương. Về quá trình phát triển cửa sông và phân nhánh lòng dẫn có các nghiên

cứu của Makkavev N.I (1955), Baidin S.S (1962, 1971) [10], v.v. Đặc biệt, một số

kết quả nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về động lực, hình thái, thủy thạch động

lực, cổ địa lý, v.v của các đới bờ biển trên thế giới như của Shwartz M.L (1982),

Bird .C (1985), Davies J.L (1977); một số công trình nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu

về quá trình động lực hình thành và phát triển bờ mài mòn và tích tụ, địa mạo bờ

biển như: Zilaev (1980), Dolotov H.C, Bird E. (2000, 2008) [15].

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về VCSVB và dải bờ biển nêu trên là

15

các công trình đã tổng hợp và tạo nền tảng lí luận quan trọng và tổ hợp các phương

pháp nghiên cứu truyền thống. Trong đó, các phương pháp đo đạc, khảo sát ngoài

thực địa là chủ đạo; các phương pháp mô hình tính toán biến đổi lòng dẫn vẫn chưa

được hoàn thiện, còn những hạn chế nhất định. Các công trình nghiên cứu còn chưa

làm sáng tỏ cơ chế của quá trình hình thành mạng lưới sông gắn liền với quá trình

hình thành và phát triển delta, estuary, liman, nên việc áp dụng vào thực tiễn nghiên

cứu dự báo diễn biến các quá trình động lực VCSVB còn nhiều hạn chế.

Vào cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện hàng loạt các công trình

nghiên cứu tương đối toàn diện, áp dụng các phương pháp và công nghệ hiện đại

các VCSVB. Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu quá trình truyền triều,

xâm nhập mặn vào trong sông, tương tác giữa thuỷ triều - nước dâng - lũ; nghiên

cứu về biến động lòng dẫn và biến dạng bãi chắn, bar VCSVB. Đặc biệt, trong thời

gian gần đây, nhiều công trình đã có tiếp cận mới, nghiên cứu các quá trình địa mạo

động lực gắn với những rủi ro thiên tai như xói lở, bồi tụ, lũ lụt cũng như bồi lấp và

dịch chuyển lòng dẫn tại các VCSVB. Các nghiên cứu ngày càng hoàn thiện về

phương pháp, cách tiếp cận, định lượng hóa các kết quả nghiên cứu. Các mô hình số

trị thuỷ thạch động lực như: mô hình DELFT 3D (Hà Lan), MECCA (Mỹ), MIKE

(Đan Mạch) đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới giúp khai

thông luồng lạch, giao thông được thông suốt.

Từ nửa cuối thế kỷ XX, khi loài người phóng thành công vệ tinh nhân tạo

chúng ta đã bước vào kỷ nguyên mới trong đó công nghệ vũ trụ được sử dụng phục

vụ vào các mục đích phát triển cho cuộc sống trên Trái đất. Công nghệ viễn thám và

GIS đã cho phép chúng ta thực hiện các công việc thu thập và tổng hợp dữ liệu một

cách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn cũng như mang đến nhiều nhận thức mới về

Trái đất mà trước tới nay vẫn còn là những điều bí ẩn. Hiện nay, công nghệ viễn

thám và GIS đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực KT-XH, đặc biệt có

hiệu quả cao trong các nghiên cứu địa mạo nói chung, các VCSVB nói riêng.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong địa mạo được áp dụng

trong nhiều công trình khoa học như: Marston (1995) [16], Winterbottom S.J và

Gilvear D. (2000) [17], Capolongo (2002), v.v. Công trình của một số nhà khoa học

phương tây như Wadge (1995); Kervyn (2008); Grosse (2009) ứng dụng tư liệu ảnh

16

viễn thám đa thời gian, đa độ phân giải và kết hợp với mô hình số độ cao nhằm

nghiên cứu phân biệt và mô tả lại đặc điểm địa hình, độ dốc sườn hay đặc điểm

thạch học. Nghiên cứu địa mạo dự báo tai biến có các công trình của Xie (2004);

Owen (2008) Marti và Felpeto (2010). Đáng chú ý hơn nữa là một số công trình

nghiên cứu về địa mạo dòng chảy như O’Connor (2003), xói lở bờ sông của

Hamilton (2006), Jean - Francois Desprats (2010) đã ứng dụng công nghệ viễn thám

và GIS ở VCSVB cảnh báo các tai biến địa chất, trợ giúp các nhà quản lý trong việc

quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ [18].

Như vậy, theo thời gian có thể thấy rằng, cơ sở lí luận, cách tiếp cận và hệ

thống các phương pháp nghiên cứu VCSVB ngày càng được tổng hợp, hoàn thiện,

các mô hình tính toán cùng các công nghệ kĩ thuật hiện đại được ứng dụng, các kết

quả nghiên cứu được định lượng hóa, do đó, những kết quả nghiên cứu VCSVB

được ứng dụng có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đời sống KT-XH và bảo vệ

môi trường ở mỗi quốc gia trên thế giới.

1.2.2. Ở Việt Nam

Việt Nam có đường bờ biển trải dài trên 3200 km với 114 cửa sông lớn nhỏ

đổ ra biển. Từ xa xưa, con người đã biết khai thác các lợi thế của VCSVB vào phục

vụ đời sống kinh tế dân sinh. Các VCSVB lớn như sông Hồng, sông Cửu Long đã

từng là những cái nôi của các nền văn minh con người nơi đây. Do vậy, nghiên cứu

các VCSVB ở nước ta được triển khai từ khi mới lập quốc cho đến nay.

Trong các triều đại phong kiến trước đây, gắn liền với công cuộc dựng nước

và giữ nước của ông cha ta, điển hình vào thời nhà Trần (Trần Thái Tông - năm

1248) đã bắt đầu khai khẩn đất đai miền Duyên hải, chỉnh trị dòng sông. Đến nửa

đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Công Trứ (năm 1828-1830) lãnh đạo công cuộc khai khẩn

nổi tiếng ở vùng ven biển sông Hồng và lập ra các huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình),

Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). Qua các triều đại phong kiến ở nước ta, nhân dân ta tiến

hành đắp đê, quai đê lấn biển, củng cố các tuyến đê ngăn lũ, đê bao, xây cống ngăn

mặn ở các VCSVB và vẫn tiếp tục cho đến tận ngày nay.

Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), Nhà nước đã chú trọng quan

tâm nghiên cứu VCSVB phục vụ cho sản xuất và chiến đấu với các đợt điều tra

khảo sát phối hợp Việt - Trung ở vịnh Bắc Bộ (1960). Đặc biệt, nghiên cứu địa mạo

17

biển ở Việt Nam được bắt đầu từ sự giúp đỡ của các nhà địa mạo Liên Xô (cũ), với

công trình “Về bờ biển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” của Zenkovich V.P. (1963)

[19]. Tiếp sau đó, nội dung nghiên cứu địa mạo được triển khai nghiên cứu trong

một số chương trình, đề tài nghiên cứu tổng hợp dải ven biển, biển nông ven bờ:

gồm các đề tài: Chương trình điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải

(1977-1980), Chương trình biển 48B (1986-1990), Chương trình biển KT03, v.v.

Trong đó, phải kê đến công trình của Lưu Tỳ (1969), Nguyễn Thanh Sơn (1979), Lê

Đức An (1981), Trần Đức Thạnh (1985), Đỗ Văn Tự (1986), Nguyễn Hoàn (1986),

Nguyễn Thế Tiệp (1990) [20], [21], [22], [23], [24] v.v. Nhìn chung, các công trình

đã khái quát đặc điểm nguồn gốc hình thái dải bờ biển Việt Nam, phân loại kiểu bờ

biển và đã phân tích đánh giá các yếu tố hình thành và phát triển dải địa hình bờ

biển. Tuy nhiên, các nghiên cứu địa mạo ở dải bờ biển nói chung, VCSVB nói riêng

vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống như: phương pháp khảo sát thực địa,

phương pháp phân tích hình thái và trắc lượng hình thái, v.v trong đo vẽ và thành

lập bản đồ địa mạo. Các kết quả nghiên cứu còn định tính, khái quát ở tỷ lệ nhỏ, do

đó ý nghĩa thực tiễn còn có những hạn chế nhất định.

Sau những năm 1990 đến nay, việc nghiên cứu địa mạo bờ biển ở Việt Nam

đã được chú trọng, đẩy mạnh hơn, có cách tiếp cận mới. Phần lớn các nghiên cứu

địa mạo đều phục vụ tích cực cho quy hoạch sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên

và phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại do tai biến tự nhiên gây ra. Trong đó phải kể đến

các công trình của Lê Xuân Hồng (1996), Vũ Văn Phái (1996), Đặng Văn Bào

(1996), Uông Đình Khanh (2002), Lại Huy Anh (2001), v.v [11], [25], [26], [27].

Phần lớn Các công trình nêu trên đã khái quát hóa đặc điểm địa mạo, một số dạng

địa hình đặc trưng ở dải bờ biển Việt Nam. Trong đó, phải kể đến Đặng Văn Bào

(1996) nghiên cứu đặc điểm địa mạo đồng bằng ven biển Huế - Quảng Ngãi. Với

các phương pháp truyền thống, tác giả đã xây dựng lên những sơ đồ về kiến trúc

hình thái và chạm trổ hình thái ở khu vực từ Huế - Quảng Ngãi. Lại Huy Anh

(2001) đã nghiên cứu thành lập bản đồ địa mạo tỉnh Quảng trị với tỷ lệ 1: 50000

[25], [28].

Cùng với những nghiên cứu địa mạo là những công trình nghiên cứu về tiến

hóa trầm tích Holocen - hiện đại, trầm tích tầng mặt, địa chất đô thị cũng được triển

18

khai đồng thời. Đây chính là những cơ sở tài liệu rất quý, làm nền tảng cho việc xác

định tuổi của các dạng, kiểu địa hình ở các VCSVB nói chung, Bắc Trung Bộ nói

riêng. Trong đó phải kể đến các công trình của Trần Đức Thạnh (1985, 1993, 1996),

Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Công Mẫn (1995), Hồ Vương Bính và nnk (1995, 1997),

Trần Nghi (1996), Doãn Đình Lâm (2002), Vũ Quang Lân (2003), Nguyễn Tiến Hải

(2003), Lê Đức An và nnk (2007), Nguyễn Thế Dân (1997), Vũ Quang Lân,

Nguyễn Bà Minh và nnk (1997), Vũ Thu Hoài (2010), v.v [29], [30], [31], [32],

[33], [34]. [35], [36], [37], [38], [39], [40].

Tiếp cận với công nghệ viễn thám và GIS, nhiều công trình đã bước đầu xây

dựng bản đồ địa mạo cho một số khu vực ở tỉ lệ lớn, chi tiết và bước đầu đánh giá

biến động địa hình cho khu vực cụ thể ở dải bờ biển Việt Nam: Tô Quang Thịnh

(1990), Nguyễn Văn Cư (1990, 1999), Phạm Huy Tiến (2001, 2005), Trịnh Việt An

(2006), Vũ Tuấn Anh (2010), v.v. Nguyễn Hiệu (2003) đã nghiên cứu biến động địa

hình khu vực cửa sông Ba Lạt và lân cận phục vụ quản lý đới bờ [41], [42], [43],

[44], [45], [46]. Tô Quang Thịnh (1990) đã lần đầu tiên, bằng các tư liệu viễn thám

qua các thời điểm khác nhau, đã xác lập vị trí đường bờ biển vào các năm 1930,

1965, 1985 [47]. Lê Phước Trình (2000) đã sử dụng các tư liệu viễn thám qua các

thời điểm từ 1985 - 1995 và bản đồ địa hình năm 1965 đã xây dựng được bộ bản đồ

hiện trạng và biến động đường bờ biển trong 30 năm (1965 - 1995) từ Móng Cái

đến Hà Tiên với tỷ lệ 1:100.000 [48]. Phạm Quang Sơn (2004, 2012) đã sử dụng

các tư liệu ảnh viễn thám, các loại bản đồ địa hình và các tư liệu khác để phân tích

quá trình phát triển và biến động các cửa sông thuộc vùng ven biển đồng bằng sông

Hồng trong chuỗi thời gian 90 năm (từ năm 1912 đến 2001) [49], [50].

Những thành tựu khoa học của các công trình nghiên cứu theo hướng kết hợp

phân tích các quá trình động lực hiện đại với những tai biến xói lở, bồi tụ trong khu

vực đã góp phần quan trọng vào phát triển KT-XH ở địa phương Trong đó nổi lên các

công trình như: Nguyễn Thế Thôn (1994), Ngô Đình Tuấn (1993, 1994), Phạm Huy

Tiến (2001, 2005), Nguyễn Văn Cư (2003), Nguyễn Lập Dân (2004), Phạm Quang

Sơn (2004), Trần Hữu Tuyên (2003), Lê Đình Thành (2010), Phạm Văn Hùng

(2008, 2009, 2016), v.v [51], [52], [53], [54], [55], [56], [57], [58]. Phần lớn các

công trình đã phân tích đánh giá các quá trình địa mạo động lực hiện đại và mối liên

19

quan với một số tai biến tự nhiên điển hình ở các VCSVB; xác định nguyên nhân

phát sinh các tai biến xói lở, bồi tụ làm cơ sở để dự báo nguy cơ tai biến và đề xuất

giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do tai biến gây ra.

1.2.3. Ở Bắc Trung Bộ

Các VCSVB Bắc Trung Bộ đã được đề cập trong nhiều công trình khoa học

theo các khía cạnh, chuyên sâu khác nhau để đạt được những mục đích đặt ra, phục

vụ phát triển từng lĩnh vực KT-XH cụ thể. Theo thời gian, các kết quả nghiên cứu

về đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất Đệ tứ; về động lực, sa bồi dòng dẫn; về các

quá trình địa động lực hiện đại và các tai biến xói lở, bồi tụ bờ sông, bờ biển, v.v

được ứng dụng vào thực tiễn của đời sống KT-XH ở khu vực Bắc Trung Bộ.

Một số công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích các nhân tố chính hình

thành, phát triển và xác lập lịch sử phát triển địa hình (các yếu tố tác động của sông

- biển và chuyển động tân kiến tạo); mối liên quan của các quá trình địa mạo động

lực với xói lở, bồi tụ VCSVB; quá trình tiến hóa trầm tích Holocen ở khu vực cụ thể

trên dải bờ biển Bắc Trung Bộ. Trong đó phải kể đến các công trình như: Nguyễn

Ngọc Mên (1988), Đặng Văn Bào (1996), Lê Tiến Dũng (2000), Lại Huy Anh

(2001), Lê Duy Bách và Ngô Gia Thắng (2003), Nguyễn Tiến Hải (2003), Vũ

Quang Lân (2003), Lê Đức An và nnk (2007), Trần Đức Thạnh và nnk (2010), Bùi

Thắng (2010), Phạm Văn Hùng (2016), v.v [59], [28], [60], [33], [37], [61], [62],

[63], [64].Về nghiên cứu địa mạo, phải kể đến công trình của Đặng Văn Bào (1996)

đã đi sâu phân tích các nhân tố hình thành và phát triển địa hình, xây dựng bản đồ

địa mạo dải ven biển Huế - Quảng Ngãi theo nguyên tắc Kiến trúc hình thái và

Trạm chổ hình thái ở tỉ lệ trung bình. Về phân tích mối liên quan của các quá trình

địa mạo động lực với tai biến xói lở, bồi tụ VCSVB có công trình của Bùi Thắng

(2010) đã đánh giá vai trò của yếu tố địa chất nhân sinh phát sinh xói lở bờ sông

Hương, Trần Hữu Tuyên (2003) đã đánh giá vai trò của động lực sông - biển phát

sinh xói lở, bồi tụ ở dải ven biển Quảng Bình - Thừa Thiên Huế [65], [66] và công

trình của Phạm Văn Hùng, Nguyễn Công Quân (2016) [55], đã đánh giá vai trò của

đứt gẫy hoạt động phát sinh xói lở, bồi tụ dải ven biển Bắc Trung Bộ. Về khôi phục

môi trường trầm tích và xây dựng quá trình tiến hóa trầm tích Holocen dải đồng

bằng ven biển phải kể đến công trình của Vũ Quang Lân (2003), đã xác lập tiến hóa

20

trầm tích Holocen VCSVB sông Hương [37].

Ngoài ra, trên khu vực này, còn một số công trình đã có những phân tích

tổng hợp cả các yếu tố tự nhiên và xã hội, nghiên cứu các quá trình địa mạo động

lực hiện đại các VCSVB nói riêng, dải bờ biển nói chung, làm cơ sở nghiên cứu dự

báo nguy cơ, phòng tránh, phòng chống tai biến xói lở, bồi tụ. Một số công trình đã

thiết lập hiện trạng phân bố, nguyên nhân và cảnh báo nguy cơ tai biến xói lở, bồi tụ

ở các VCSVB ở Bắc Trung Bộ và có những khuyến nghị về sử dụng hợp lí tài

nguyên lãnh thổ. Điển hình phải kể đến như: công trình của Phạm Huy Tiến,

Nguyễn Văn Cư (2001), Phạm Huy Tiến (2005), đã nghiên cứu dự báo, phòng

chống sạt lở bờ biển miền Trung; Trần Trọng Huệ và nnk (2003) đã nghiên cứu

đánh giá tổng hợp các loại hình tai biến địa chất khu vực Bắc Trung Bộ trong đó có

tai biến xói lở, bồi tụ bờ sông, bờ biển [67]. Trương Quang Học (2003) đã nghiên

cứu những vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường vùng sinh thái đặc thù Quảng

Bình - Quảng Trị làm cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế vùng, tiểu vùng ở địa

phương [68].

Hiện nay, tiếp cận với công nghệ hiện đại, bằng công nghệ viễn thám và GIS,

các kết quả khoa học đạt được thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào quy

hoạch sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ và bảo vệ môi trường. Theo hướng đánh

giá các quá trình địa mạo động lực và biến động địa hình các VCSVB ở Bắc Trung

Bộ đã có nhiều công trình khoa học triển khai ở mức độ chi tiết, tỉ lệ lớn, có ý nghĩa

thực tiễn to lớn: Vũ Quang Lân (2003), Bùi Thắng (2010), Phạm Văn Hùng (2008,

2009), Phạm Quang Sơn và nnk (2012). Công trình của Phạm Quang Sơn và nnk

(2012) (NCS cũng là đồng tác giả) [50], [69], đã xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc

nghiên cứu biến động các VCSVB Bắc Trung Bộ trên cơ sở phân tích các thông tin

viễn thám phân giải cao và GIS. Các dữ liệu này đã được điều tra có hệ thống và

xây dựng thành cơ sở dữ liệu trên nền GIS và là tư liệu quan trọng giúp NCS trong

quá trình thực hiện công trình của mình.

1.3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.3.1. Cách tiếp cận

Địa hình bề mặt Trái đất là kết quả của sự tác động tương hỗ của các quá

trình, nội, ngoại và nhân sinh. Địa mạo học là khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt

21

Trái đất, làm sáng tỏ nguồn gốc, hình thái và tuổi của địa hình. Để đạt được mục

tiêu nêu trên, cần phải có các cách tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận hệ thống, tất cả các hiện tượng tự nhiên hay xã hội đều diễn ra

trong một tổ chức được gọi là hệ thống. Do đó, cách tiếp cận hệ thống (systematic

approach)- cơ sở phương pháp luận của khoa học, sẽ được sử dụng xuyên suốt quá

trình làm việc. Có thể thấy được rằng, các kiểu, dạng địa hình trong khu vực nghiên

cứu, được hình thành và phát triển trong một hệ thống mở, do các tác động của các

yếu tố ngoại sinh như: dòng chảy sông, dòng ven bờ, sóng biển và thủy triều, v.v,

nội sinh như: chuyển động Tân kiến tạo - kiến tạo hiện đại và các tác động nhân

sinh: hoạt động KT-XH của con người. Mỗi yếu tố thành phần có tính đặc thù, mức

độ tác động khác nhau, do đó, cần xét đến mối quan hệ của các yếu tố như: mối quan

hệ giữa diện tích, hình thái, độ dốc lưu vực với khả năng bồi tụ do sông; mối quan

hệ giữa bồi tích sông và tác động của sóng, bồi tích dọc bờ; tác động bất thường của

khí hậu, nhân sinh,…Trên cơ sở đánh giá vai trò và đối sánh với mỗi yếu tố trong hệ

thống, cho phép xác lập sự phân bố không gian, nguồn gốc của các kiểu, dạng địa

hình trên bề mặt Trái đất. Với cách tiếp cận hệ thống thì các đối tượng nghiên cứu

được xem như một hệ thống dù ở bất kỳ quy mô nào với mối quan hệ qua lại phức

tạp giữa các yếu tố cấu thành nên nó và mối quan hệ của đối tượng đó với bên

ngoài. Ở đây, sự hình thành, biến động địa hình được nghiên cứu trong mối tác

động tương hỗ giữa các yếu tố nội, ngoại và nhân sinh; tác động độc lập hay tác

động tổng hợp; sự hình thành và biến đổi của địa hình theo các mối quan hệ chi

phối - phụ thuộc hoặc tương hỗ, nhân quả của chúng; đặc biệt là những đơn vị,

những yếu tố địa hình được thành tạo, biến đổi theo tính trội của hệ thống. Với cách

tiếp cận này, địa hình sẽ được xem xét, đánh giá có cơ sở tin cậy hơn và đầy đủ hơn

về nguồn gốc của chúng.

- Tiếp cận lịch sử, cùng với lịch sử phát triển địa chất kiến tạo, địa hình trên

bề mặt Trái đất cũng có lịch sử phát triển của chúng. Vì vậy, tiếp cận lịch sử cũng

hết sức cần thiết trong nghiên cứu địa mạo và biến động địa hình. Các dạng, kiểu

địa hình không chỉ nghiên cứu xác định nguồn gốc, hình thái mà cần phải xác định

tuổi của chúng. Theo thời gian, với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, địa hình

được hình thành và phát triển trên bề mặt Trái đất tồn tại dưới dạng các bề mặt,

22

vách, bậc kèm theo tuổi hình thành chúng, v.v. Trên cơ sở đó, ta có thể dùng các di

tích, tàn tích lịch sử, các sự kiện lịch sử để minh hoạ chứng minh, làm sáng tỏ thời

gian hình thành của các kiểu, dạng và sự biến động của địa hình trong không gian

và theo thời gian. Bên cạnh đó, Với tiếp cận lịch sử cho phép ta Xác định được xu

hướng bồi tụ, xói lở vùng cửa sông hiện đại trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình

thành phát triển địa hình vùng cửa sông trong Holocen; đồng thời xác định được vị

trí và xu hướng di dịch đường bờ vùng cửa sông trong giai đoạn hiện đại.

- Tiếp cận trực tiếp, các quá trình hình thành, biến động địa hình diễn ra

trong tự nhiên và để lại các dấu ấn rất rõ nét trên bề mặt Trái đất. Do vậy, để xác

định những đặc điểm và xu thế biển động địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ,

cần phải có cách tiếp cận trực tiếp, trực tiếp khảo sát, đo vẽ chi tiết địa hình, địa

mạo ngoài thực địa. Đây cũng là cách tiếp cận chủ đạo trong lĩnh vực Các Khoa học

Trái đất nói chung, Địa mạo học nói riêng. Để làm sáng tỏ nguồn gốc, hình thái và

tuổi của địa hình, ngoài thực địa cần phải điều tra khảo sát, đo vẽ chi tiết các đặc

trưng của các kiểu, dạng địa hình (hình thái, độ cao, chiều dài, chiều rộng, nguồn

gốc, cấu trúc, v.v). Đó cũng chính là những minh chứng tin cậy làm sáng tỏ những

đặc điểm của các yếu tố hình thành, nguồn gốc, lịch sử phát triển và xu thế biến

động địa hình các VCSVB.

- Tiếp cận không gian và thời gian, ngày nay khoa học công nghệ phát triển

mạnh mẽ, công nghệ viễn thám và GIS ra đời đã góp phần quan trọng trong nghiên

cứu địa mạo nói riêng, Các Khoa học về Trái đất nói chung. Các tư liệu ảnh viễn

thám kết hợp với các tài liệu thu thập được chứa đựng những thông tin một cách

đầy đủ nhất, chính xác nhất các yếu tố phủ trên bề mặt Trái đất trong không gian,

theo thời gian và được thể hiện trên bản đồ. Các kiểu và dạng địa hình, biến động

của chúng diễn ra cùng các yếu tố hình thành và phát sinh chúng trên bề mặt Trái

đất được chiết xuất từ ảnh viễn thám thể hiện theo cả hai hướng không gian và thời

gian.

- Tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, hậu quả của tai biến đã tác động trực tiếp

đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Do đó, để

đánh giá một cách đầy đủ, chính xác hiện trạng, các yếu tố tác động phát sinh cũng

như hậu quả mà tai biến gây ra, đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều

23

ngành, lĩnh vực khác nhau như: Địa chất, Kiến tạo, Khí tượng, Thủy văn, Hải văn,

Lâm nghiệp, Giao thông, Thủy lợi, v.v. Tiếp cận đa ngành cho phép khai thác, sử

dụng các dữ liệu liên quan với việc nghiên cứu địa mạo từ các nghiên cứu khác như:

hiện trạng, biến đổi địa hình theo tài liệu viễn thám đa thời kỳ; trầm tích, đặc điểm

phân bố, thành phần, bề dày của chúng theo nghiên cứu địa chất Đệ tứ; các đặc

điểm sóng, dòng chảy, thủy triều,... theo nghiên cứu địa lý thủy văn. Các cơ sở dữ

liệu của các ngành, lĩnh vực nói trên cho ta có một cách nhìn đầy đủ, tổng quan về

vai trò của các yếu tố tác động phát sinh tai biến. Hơn thế nữa, Nghiên cứu xu

hướng di dịch đường bờ vùng cửa sông trong giai đoạn hiện đại phải được xem xét

dưới góc độ đa ngành vì vùng cửa sông ven biển được hình thành, phát triển, biến

đổi dưới tác động đồng thời của các quá trình địa chất, địa mạo, thủy văn, sóng,

thủy triều, khí hậu, nhân sinh,…Trên cơ sở đó, cho phép đánh giá vai trò của những

yếu tố chính, yếu tố trực tiếp, yếu tố gián tiếp trong phát sinh, phát triển địa hình

trên toàn vùng nghiên cứu. Từ đó giúp cho việc khuyến nghị sử dụng hợp lí tài

nguyên lãnh thổ và bảo vệ môi trường có hiệu quả cao.

1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra, trong công trình này, NCS đã

ứng dụng tổng hợp các phương pháp vừa truyền thống, vừa hiện đại để nghiên cứu

địa mạo, biến động địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ. Ngoài việc phân tích tổng

hợp các tài liệu có liên quan từ các nguồn khác nhau như: địa hình, địa chất Đệ tứ,

tân kiến tạo, khí hậu, thuỷ văn, hải văn, hoạt động kinh tế của con người, v.v, NCS

đã ứng dụng các phương pháp phân tích viễn thám, khảo sát thực địa, bản đồ và

phương pháp phân tích tổng hợp.

1.3.2.1. Phương pháp khảo sát đo đạc, nghiên cứu thực địa

Trong nghiên cứu địa mạo nói riêng, Các Khoa học về Trái đất nói chung,

việc đo đạc, khảo sát thực địa là hết sức quan trọng không thể thiếu được. Các kết

quả khảo sát, đo đạc là cơ sở khách quan, chính xác, quan trọng cho thực hiện các

bước nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo. Trong công trình này, phương pháp khảo sát

đo đạc, nghiên cứu thực địa được ứng dụng để nghiên cứu địa mạo, biến động địa

hình các VCSVB Bắc Trung Bộ. NCS đã tiến hành các đợt khảo sát thực địa năm

2011-2012, 2013-2014, 2015-2017. Nội dung chính của công tác khảo sát thực địa:

24

đo vẽ chi tiết các dạng, kiểu địa hình (ranh giới, quy mô, kích thước, v.v). Khảo sát

các đơn vị địa mạo, lấy mẫu chìa khoá phục vụ cho công tác nghiên cứu trong

phòng thí nghiệm. Các kết quả khảo sát đo đạc này sẽ bổ sung cho bức tranh biến

động địa hình VCSVB, đồng thời là các dữ liệu đầu vào cũng như để kiểm chứng

các kết quả tính toán áp dụng trong nghiên cứu diễn biến VCSVB. Ngoài thực địa,

nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa mạo là khảo sát, đo vẽ chi tiết, thiết lập

các mặt cắt địa mạo nhằm xác lập trắc lượng hình thái, nguồn gốc, tuổi của các

kiểu, dạng địa hình. Ngoài ra, ngoài thực địa còn đo đạc các đặc trưng về dòng

chảy, thủy triều, sóng, v.v.

1.3.2.2. Phương pháp phân tích viễn thám

Đây là phương pháp rất hiệu quả trong xác định vị trí, phạm vi của các đối

tượng địa mạo và đã được đề cập trong nhiều công trình khoa học trong những năm

gần đây [49], [70], [71], [72]. Có thể nói đây là một phương pháp không thể thiếu

được trong quá trình thành lập các bản đồ địa mạo nói chung. Cơ sở của phương

pháp: đối với mỗi yếu tố địa mạo, các dạng địa hình có nguồn gốc khác nhau, các

khối kiến trúc kiến tạo được phản ảnh thông qua đặc điểm độ xám của các kênh

ảnh, các kiến trúc ảnh, hoa văn ảnh, cách sắp xếp và phân bố của chúng trên ảnh vệ

tinh, ảnh máy bay. Ví dụ như các doi cát với nguồn gốc hình thành của yếu tố biển

là chính, rất dễ dàng nhận biết trên ảnh với tông mầu sáng đục, hình thành dạng dải

ngay sau bãi biển hiện đại, v.v. Dạng địa hình đầm lầy được thể hiện mầu xám sáng,

trắng sáng phớt xanh lục (còn tùy thuộc vào chiều dầy của trầm tích) (Hình 1.2).

(a) (c)

(b) Hình 1.2. Ảnh Landsat -2010 các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ. VCSVB sông Mã (a), sông Thạch Hãn (b), sông Hương (c)

Đối với khu vực nghiên cứu là vùng cửa sông ven biển, nơi chịu tác động

mạnh mẽ của các yếu tố nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh. Các dạng địa hình, địa

mạo trong khu vực có những thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là đối tượng đường bờ

25

biển. Chính bởi lý do đó, NCS sử dụng rất nhiều nguồn tư liệu ảnh khác nhau như

ảnh máy bay, ảnh vệ tinh Landsat, Spot, Sentinel… như đối với VCSVB sông Mã

đã sử dụng các ảnh Viễn thám: ảnh máy bay 1965, 1975, Landsat TM 1990, Spot 4

2001, Landsat ETM 2001, Landsat 8 2017, Sentinel 1,2 năm 2017 và ảnh Planet

2017; Khu vực CSVB sông Thạch Hãn đã sử dụng các ảnh máy bay 1952, 1965,

1979, 1999, ảnh vệ tinh Landsat TM 1989, Landsat ETM 1999, Landsat 8 2017,

Sentinel 1,2 năm 2017 và ảnh Planet 2017; Khu vực CSVB sông Hương đã sử dụng

các ảnh máy bay 1965, 1978, ảnh vệ tinh Landsat TM 1989, 1994, Landsat ETM

1999, Radasat 1999, Landsat ETM 2005, Landsat 8 2017, Sentinel 1,2 năm 2017 và

ảnh Planet 2017. Đồng thời kết hợp với các tư liệu địa hình có liên quan như bản đồ

địa hình tỷ lệ 1:50 000, 1: 25 000 các thời kỳ 1965, 1972, 2010… Trên cơ sở các tài

liệu này, cần có một quy trình xử lý ảnh nhằm xây dựng, khoanh định được danh

giới giữa các bề mặt, kiểu, dạng địa hình khác nhau. Quy trình xử lý ảnh viễn thám

phục vụ xây dựng bản đồ địa mạo đã được xây dựng (Hình 1.3)

Trong quy trình xử lý ảnh này, bước tiền xử lý ảnh khá quan trọng. Các ảnh

vệ tinh Landsat, Spot, Sentinel, ảnh máy bay … các thời kỳ khác nhau được hiệu

chỉnh phổ khí quyển, sau đó được nắn chỉnh với các bản đồ địa hình khu vực nghiên

cứu nhằm đưa về cùng một lưới tọa độ. Từ đó, các ảnh thô này được xử lý nhằm

tăng cường chất lượng ảnh, tăng độ tương phản nhằm làm các đối tượng địa mạo

nổi rõ hơn. Đặc biệt, trong các bước này có kĩ thuật Fusion nhằm tăng độ phân giải

ảnh như đối với ảnh Landsat có độ phân giải trung bình là 30m được tăng độ phân

giải lên 15m, các ảnh Spot có độ phân giải là 10m được tăng lên là 2,5m… Phương

pháp này rất hiệu quả trong quá trình lấy mẫu có kiểm định, giải đoán các đối tượng

địa mạo bằng mắt thương.

26

Hình 1.3. Sở đồ xử lý ảnh, triết xuất thông tin các kiểu, dạng địa hình

Sau quá trình tiền xử lý, Ảnh viễn thám được phân loại có kiểm định dựa

trên việc lấy mẫu chìa khóa các đối tượng địa mạo ngoài thực địa. Sau khi phân loại

xong, các kết quả được kiểm tra và kết hợp với các tài liệu địa chat, địa hình…có

liên quan và ý kiến chuyên gia, các kết quả này một lần nữa được đưa ra ngoài thực

địa để kiểm chứng độ chính xác. Từ đó cho ta một kết quả có độ tin cậy khá cao

(Hình 1.4). Như vậy, phương pháp viễn thám được ứng dụng trong việc xây dựng

bản đồ địa mạo cho các khu vực nghiên cứu chính, có hiệu quả rất cao.

(c) (a)

(b) Hình 1.4. Ảnh viễn thám khu vực nghiên cứu đã qua hiệu chỉnh phổ khí quyển và tổ hợp các band mầu

27

1.3.2.3. Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)

Bản đồ vừa là phương tiện để thể hiện đặc thù của các yếu tố địa lý, địa chất

và các ngành khoa học có liên quan, đồng thời cũng là phương pháp rất hữu ích

trong các nghiên cứu địa mạo. Phương pháp này đã được đề cập trong các công

trình khoa học trong những năm qua [28], [73], [74], [75]. Trong nghiên cứu này,

NCS sử dụng phương pháp bản đồ nhằm xây dựng bản đồ địa mạo, với các đối

tượng địa mạo theo nguyên tắc các bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi. Các kiểu địa

hình có cùng nguồn gốc như địa hình do hỗn hợp sông biển, địa hình do quá trình

bóc mòn, địa hình do sông, v.v được sắp xếp thành từng nhóm riêng biệt; được thể

hiện trên bản đồ theo nguyên tắc của bản đồ trong môi trường hệ thông tin địa lý.

Trong đó, các dạng địa hình có tuổi khác được đặt từ trẻ đến cổ. Nền mầu trong bản

đồ được thể hiện từ đậm đối với các dạng địa hình trẻ, đến nhạt đối với các dạng địa

hình cổ hơn. Bên cạnh đó, mầu sắc thể hiện các kiểu địa hình đúng theo quy định

của bản đồ địa mạo theo nguồn gốc phát sinh như dạng địa hình tạo nên bởi sông có

mầu xanh lục, địa hình nguồn gốc biển có mầu xanh da trời, v.v.

Sự kết hợp của phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) đã cho thấy

rất nhiều hiệu quả trong nghiên cứu địa mạo. Từ tư liệu địa hình trên các bản đồ

1:50 000, 1:25 000 của khu vực nghiên cứu, qua phương pháp mô hình hóa không

gian trong môi trường GIS với các phần mềm chuyên dụng, khu vực nghiên cứu

được mô phỏng trên mô hình số độ cao (DEM). Dựa trên DEM, các bài toán phân

tích hình thái địa hình được hình thành như tính toán độ đốc, độ chia cắt ngang, độ

chia cắt sâu… Hơn nữa, với các phần mềm GIS chuyên dụng, ảnh vệ tinh cũng như

các bản đồ địa hình được lồng lên DEM giúp nhận biết các đặc trưng phân dị địa

hình, chính xác hóa các đứt gẫy trẻ thông qua các dạng địa hình thể hiện dấu ấn của

chúng như facet tam giác, dịch chuyển của sống núi, sông suối, v.v (Hình 1.5).

Hình 1.5. Phân tích địa hinh trên mô hình số độ cao ở VCSVB sông Hương

1.3.2.4. Phương pháp phân tích địa mạo

Phương pháp phân tích địa mạo là phương pháp truyền thống trong hệ thống

các phương pháp nghiên cứu của địa mạo học hiện nay. Trong phương pháp phân

28

tích địa mạo, NCS tập trung phân tích, mô tả, phân loại nguồn gốc, hình thái của địa

hình. Đối với khu vực cửa sông ven biển, cần chú ý tới việc phân biệt hình thái của

các dạng địa hình nguyên sinh được thành tạo do quá trình biển với những dạng đã

bị biến đổi bởi các quá trình trên mặt nước. Trên cơ sở đó, có thể xác định được

hàng loạt các bề mặt thềm biển cổ cùng di tích các val bờ, chúng được phân biệt rõ

ràng với các bề mặt gò đụn cát có hình thái điển hình được thành tạo do gió…

Những phân tích trắc lượng hình thái địa hình như hình dạng, cách sắp xếp,

độ chia cắt sâu, độ chia cắt ngang, các vách dốc, sự phân bậc của địa hình, tất cả

chúng đều phản ánh cấu trúc, nguồn gốc, động lực và lịch sử thành tạo. Những phân

tích này rất có hiệu quả với công tác nghiên cứu trong phòng bằng việc phân tích

các bản đồ địa hình có tỷ lệ khác nhau (các bản đồ được sử dụng có tỷ lệ 1:50 000,

1:25 000).

Bên cạnh đó, nghiên cứu các quá trình địa mạo động lực nhằm đưa ra mối

liên hệ nhân quả giữa hình thái, quy luật phân bố của các dạng địa hình với các yếu

tố thành tạo chúng như sóng, gió, dòng chảy, v.v, chính những phân tích này cho

phép ta xác định được xu thế biến động địa hình trong khu vực nghiên cứu.

1.3.2.5. Nhớm các phương pháp địa chất

Trong nghiên cứu địa mạo các phương pháp địa chất được sử dụng rộng rãi

để nhận biết những đặc điểm hình thái, nguồn gốc, tuổi và lịch sử phát triển của địa

hình. Ứng dụng các phương pháp địa chất trong nghiên cứu địa mạo dựa trên cơ sở

mối liên hệ gắn bó giữa địa hình và cấu trúc địa chất. Các dạng địa hình tích tụ đồng

sinh và cùng nguồn gốc với trầm tích tạo nên chúng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu các

trầm tích cho phép các nhà nghiên cứu địa mạo có thể phán đoán được thời gian

xuất hiện và nguồn gốc của các dạng địa hình có liên quan với trầm tích nghiên cứu.

Các dạng địa hình bào mòn được thành tạo trên nền địa chất có tuổi cổ hơn tuổi địa

hình phát sinh trên đó. Trong trường hợp đó đặc điểm địa chất thường có những nét

độc đáo thể hiện trên địa hình. Những địa hình đã bị phá huỷ trên bề mặt trái đất có

thể được khôi phục theo các thông tin địa chất. Ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, các

trầm tích Pleistocen-Holocen có mối liên quan chặt chẽ với sự hình thành các dạng,

kiểu địa hình trên bề mặt Trái đất. Phân tích đối sánh trầm tích tương quan (nguồn

gốc của các tầng trầm tích Pleistocen-Holocen với các bề mặt địa hình) sẽ cho phép

29

xác định nguồn gốc và tuổi của chúng với các dạng địa hình địa mạo trên bề mặt.

Thông qua phân tích các mặt cắt địa chất Đệ tứ với mặt cắt địa hình trên đó cho

thấy, nguồn gốc của các dạng địa hình trong hiện đại và vai trò của các yếu tố ảnh

hưởng chính đến các dạng địa hình đại mạo này.

Bên cạnh đó, các chuyển động kiến tạo có vai trò quyết định trong thành tạo

địa hình. Các cấu trúc địa chất cổ cũng như đang phát triển tích cực có ảnh hưởng

rất lớn đến thành tạo điạ hình. Các trầm tích liên hệ cho phép xác định thời gian và

điều kiện thành tạo những địa hình mà các thành tạo địa chất đã bị phá huỷ để tạo

nên nó. Trong nghiên cứu này, NCS có kết hợp sử dụng các phương pháp địa chất

như: phương pháp phân tích thành phần khoáng vật và thạch học, phương pháp

phân tích cấu trúc kiến tạo, phương pháp phân tích chiều dày trầm tích, phương

pháp địa tầng, phương pháp cổ sinh v.v...

1.3.2.6. Phương pháp phân tích lịch sử khảo cổ

Có thể thấy rằng, trong lịch sử phát triển của con người, những hoạt động

KT-XH đã để lại những dấu ấn rất quan trọng trên địa hình bề mặt Trái đất. Các

VCSVB lại là nơi con người lưu đến, trú ngụ và sinh sống ở đây, bởi lẽ ở đây có

nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của họ. Loài người đã trải qua các thời kì

văn hoá khác nhau. Ngay từ xa xưa, con người đã biết xây quai đê lấn biến, mở

rộng bờ cõi, mở rộng đất đai canh tác nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản.

Họ đã xây dựng hệ thống đê biển, đê sông từ hàng trăm năm nay nhằm giữ đất, khai

khẩn vùng đất hoang ở vùng cửa sông ven biển. Đây chính là các tư liệu quý giá để

luận giải biến động địa hình. Bên cạnh đó, các di tích khảo cổ, di tích văn hóa cổ

như: đền thờ, miếu, chùa, v.v là những minh chững rõ rệt ở trong khu vực nghiên

cứu, cho phép xác định sự biến động của các dạng địa hình, địa mạo qua các thời

kỳ. Đặc biệt, những biến cố địa chất trong quá khứ (dấu tích đường bờ, vách mài

mòn – klip; tai biến lũ lụt, vỡ đê, đóng mở các cửa biển, sông đổi dòng, v.v) là tài

liệu vô cùng quý báu phục vụ công tác nghiên cứu. Do đó, NCS đã sử dụng phương

pháp phân tích lịch sử khảo cổ để nghiên cứu nhằm sáng tỏ sự biến động địa hình

trong thời gian lịch sử ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

1.3.2.7. Phương pháp phân tích tổng hợp

Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khối lượng rất lớn các tài liệu của

30

nhiều chuyên môn khác nhau như: địa chất Đệ tứ, Tân kiến tạo, địa mạo động lực,

phân tích ảnh viễn thám, v.v. thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Với một

khối lượng lớn tài liệu như vậy, để xác định đặc điểm địa mạo, xu thế biến động địa

hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, NCS đã ứng dụng phương pháp phân tích tổng

hợp, phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu địa mạo nói riêng, Các Khoa học về

Trái đất nói chung. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu, cho phép

xác lập bản đồ địa mạo; khôi phục các đường bờ cổ, đánh giá đặc điểm địa hình, địa

mạo và biến động địa hình ở khu vực nghiên cứu. Từ đó cho phép khuyến nghị giải

pháp sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ và bảo vệ môi trường ở các VCSVB Bắc

Trung Bộ.

1.4. Tiểu kết chương

Các công trình nghiên cứu về VCSVB nói riêng, dải bờ biển nói chung ở

trong và ngoài nước đều đã đạt được thành tựu quan trọng, những kết quả nghiên

cứu được ứng dụng rộng rãi trong công cuộc phát triển KT-XH và bảo vệ môi

trường của mỗi quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

- Theo thời gian, cở sở phương pháp luận và hệ thống các phương pháp

nghiên cứu ngày càng được hoàn thiện và hiện đại hơn, do vậy, các nội dung nghiên

cứu cũng phong phú hơn và kết quả nghiên cứu mang tính định lượng hơn, độ tin

cậy cao hơn, phục vụ tích cực cho đời sống của con người.

- Ở nước ta, các kết quả nghiên cứu ở các VCSVB tuy còn những tồn tại nhất

định, song thời gian vừa qua cũng đã đạt được những thành tựu nhất định. Phần lớn

các công trình theo từng lĩnh vực chuyên môn đã đề cập đến những khía cạnh,

chuyên sâu khác nhau. Ví dụ như: các nhà thủy - hải văn học luôn nhấn mạnh, đi

sâu phân tích các yếu tố thủy - thạch động lực của sông - biển (dòng chảy, sóng,

thủy triều và dòng ven bờ); các nhà kiến tạo học lại nhấn mạnh vai trò của yếu tố

nội sinh; các nhà địa mạo học đi sâu phân tích tổng hợp các yếu tố cả nội, ngoại và

nhân sinh trên quan điểm hệ thống, v.v. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở các

VCSVB vẫn còn mang tính định hướng, khái quát, chưa đi sâu vào đánh giá định

lượng, nên những kết quả đạt được về biến động địa hình còn dừng ở mức khiêm

tốn.

31

- Hiện nay, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, phần lớn các nhà

khoa học trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng đã áp dụng tổng thể các

phương pháp nghiên cứu vừa truyền thống, vừa hiện đại. Chính vì vậy, một số kết

quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ khảo sát thiết kế các công

trình thủy lợi, giao thông thủy, bến cảng, khai thác và quy hoạch tài nguyên đất,

nước và bảo vệ môi trường.

- Tuy nhiên, hiện nay vấn đề nghiên cứu địa mạo động lực vùng cửa sông

ven biển phục vụ cho các công tác quy hoạch, tổ chức lãnh thổ phục vụ phát triển

kinh tế còn chưa có nhiều, cần phải nghiên cứu chi tiết, cụ thể đối với từng VCSVB.

Đặc biệt, đối với dải ven biển Bắc Trung Bộ, nơi thường xuyên chịu nhiều thiên tai

khắc nghiệt, thì các nghiên cứu như vậy là hết sức cần thiết. Do đó, NCS tập trung

vào nghiên cứu xác lập quy luật biến động của địa hình, các quá trình địa mạo động

lực hiện đại. Các phương pháp áp dụng vừa truyền thống, vừa hiện đại, nhằm xác

lập đặc điểm địa mạo, các quá trình động lực và biến động địa hình. Từ những kết

quả nghiên cứu này, cho phép đưa ra các khuyến nghị giải pháp sử dụng hợp lí tài

nguyên lãnh thổ và bảo vệ môi trường.

32

CHƯƠNG 2.

ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ

Các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ nằm trên dải đồng bằng ven biển

thuộc các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và tỉnh Thừa

Thiên Huế, có địa hình được hình thành và phát triển bởi tác động tương hỗ của các

quá trình động lực nội, ngoại và nhân sinh; hơn nữa, đây là nơi diễn ra các tương tác

sông - biển rất phức tạp trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nghiên

cứu biến động địa hình trong khu vực phải được đặt trên cơ sở đánh giá tổng hợp

một cách có hệ thống các yếu tố gây ảnh hưởng đến diễn biến VCSVB. Các tác

nhân gây nên những biến động VCSVB có liên quan hữu cơ với nhau, tương tác qua

lại lẫn nhau trong một hệ thống nhất, tuân theo qui luật tự nhiên và chịu sự chi phối

sâu sắc của con người nhằm thiết lập nên sự cân bằng động giữa chúng. Dưới đây là

các phân tích, đánh giá chi tiết một số yếu tố chính ảnh hưởng tới biến động địa

hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

2.1. Yếu tố nội sinh

Trong nhóm các yếu tố nội sinh, phải kể đến là chuyển động tân kiến tạo, cấu

trúc tân kiến tạo và hoạt động của các đứt gẫy. Chuyển động tân kiến tạo đã phá hủy

bình đồ cấu trúc cổ, hình thành bình đồ cấu trúc mới (cấu trúc tân kiến tạo) gồm các

khối cấu trúc và các đứt gẫy tân kiến tạo; chúng đóng vai trò quan trọng trong hình

thành và biến động địa hình trên bề mặt Trái đất nói chung, ở các VCSVB Bắc

Trung Bộ nói riêng.

2.1.1. Đặc điểm địa chất

2.1.1.1. Các đá trầm tích và phun trào

Các đá trầm tích và phun trào rắn chắc trong khu vực có tuổi từ Proterozoi

muộn đến Neogen thuộc các hệ tầng sau [30], [31], [32], [59], [62], [76], [77], [78]:

Hệ tầng Nậm Cô (MP-1 nc) phân bố ở phía nam cửa Lạch Trường, có thành

phần chủ yếu là các trầm tích lục nguyên, ít phun trào mafic và acit, biến chất không

đều trong phạm vị tướng đá phiến lục.

Hệ tầng sông Mã (1 sm) phân bố rải rác ở khu vực Nghĩa Trang, tây bắc

huyện Tĩnh Gia, tây nam Núi Nưa, gồm cát kết xen bột kết, đá phiến sét xen đá vôi

sét.

33

Hệ tầng Hàm Rồng (3-O1 hr) phân bố thành dải hẹp từ cầu Hàm Rồng đến

Đông Sơn, gồm các đá cát kết, bột kết dạng flish xen kẹp đá vôi phân lớp dày bị hoa

hoá, quaczit hạt mịn cát kết xen ít đá phiến.

Hệ tầng Đông Sơn (O1 đs) lộ ra thành dải hẹp ở Đông Sơn, Hàm Rồng với

thành phần thạch học là đá phiến, bột kết, cát kết hạt vừa đến thô dạng quaczit và

cát kết vôi.

Hệ tầng Sông Cả (O3-S sc) phân bố ở phía nam cửa Hội, thuộc huyện Nghi

Xuân. Thành phần chủ yếu là cát kết, đá phiến chứa các lớp đá vôi phân lớp màu

đen.

Hệ tầng Rào Chan (D1 rc) lộ ra dọc bờ biển Quảng Bình, gồm chủ yếu là đá

phiến sét, vôi.

Hệ tầng Tân Lâm (D1-2 tl) gồm cuội kết, sạn kết cơ sở, cát kết, bột mầu đỏ gụ

với các đá phiến sét cấu thành các núi sót dọc bờ biển Quảng Trị.

Hệ tầng Mục Bài (D2g mb) phân bố ở Quảng Bình gồm chủ yếu là đá vôi, sét

màu đen, cát kết màu xám nâu, xám vàng.

Hệ tầng Bản Giàng (D2e bg) lộ ra ở đèo Lý Hòa (Quảng Bình) có thành phần

thạch học là cát kết, cát kết quaczit xen kẹp các lớp đá phiến sét và bột kết.

Hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt) chủ yếu là cuội sạn kết, tuf acit, tufit, nhiều nơi

là ryolit, đacit, cát kết xen các lớp kẹp silic dạng dải, bột kết, đá phiến sét, sét vôi

phân bố ở cửa Lò, Lạch Quèn, nam đèo Ngang.

Hệ tầng Đồng Đỏ (T3n-r đđ) gồm cát kết hạt vừa, đôi khi phân lớp xiên, cát

kết thạch anh xen các lớp cuội kết, bột kết, sét kết, sét than phân bố ở khu vực Cửa

Lò (tỉnh Nghệ An), Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa), Núi Xước (tỉnh Nghệ An).

Hệ tầng Đồng Hới (N đh) gồm cuội kết, cát kết, bột kết,sét kết phân bố ở

phía bắc thành phố Đồng Hới.

Thành tạo phun trào basalt Holocen không phân chia (Q2) phân bố ở Vĩnh

Linh và phía tây Gio Linh, có thành phần chủ yếu gồm: basalt olivin màu xám sẫm,

nhiều lỗ rỗng, trên mặt bị phong hoá thành đất nâu đỏ.

2.1.1.2. Các đá magma xâm nhập

Trên khu vực nghiên cứu lộ ra các thành tạo xâm nhập chủ yếu có tuổi

Mezoozoi, gồm: phức hệ Hải Vân và Phia Bioc.

Phức hệ Hải Vân (aT3 hv) phân bố chủ yếu ở huyện Phú Lộc, Chân Mây.

Thành phần thạch học chủ yếu gồm: granit biotit, granit 2 mica, granit aplit

pegmatit. Tuổi của phức hệ là Triat muộn.

34

Phức hệ Phia Bioc (aT3 pb) phân bố phía nam cửa Nhượng và rải rác ở ven

biển (các núi Càng, Nam Giai, phía nam cửa Sót). Thành phần thạch học chủ yếu

gồm: granit biotit giàu nhôm dạng porphyar, granit hạt nhỏ đến vừa, aplit, pegmatit.

Tuổi của phức hệ là Triat muộn.

2.1.1.3. Các trầm tích bở rời Đệ tứ

Các trầm tích Đệ tứ có nguồn gốc khá đa dạng như: sông, sông - biển, biển,

đầm lầy, biển - gió, v.v, phân bố rộng khắp trên dải đồng bằng ven biển Bắc Trung

1hh) phân bố chủ yếu ở đồng bằng Thanh Hóa và

Bộ [79].

Hệ tầng Hoằng Hóa (aQ1

thành phố Vinh. Thành phần trầm tích gồm: phần dưới là cát, sạn, cuội (trong đó có

hàm lượng đáng kể cuội thạch anh, một ít cuội silic, còn lại là cuội đa khoáng), bột,

sét lẫn cát có cấu tạo phân lớp mỏng, phân lớp xiên chéo có lẫn tàn tích thực vật;

phần trên là sét màu nâu xám, cát có màu xám, xám trắng, thô, gắn kết yếu, có

nhiều mảnh vỡ vụn mollusca và tảo nước lợ: Frarilagin sp.; Funotia sp.; Actinolia

1 tm) phân bố chủ yếu là nằm lót đáy đồng bằng ven

sp, tuổi Pleistocen sớm, nguồn gốc sông.

Hệ tầng Tân Mỹ (amQ1

biển ở các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Trầm tích của hệ tầng có nguồn gốc

hỗn hợp sông - biển, sông - biển - đầm lầy, với thành phần chủ yếu là cuội, sỏi sạn,

cát chứa bột sét màu xám, có chứa bào tử phấn hoa và thực vật ngập mặn như:

Acrostichum sp., Hibiscus sp., Sonneratia sp., Rhozophora sp. tuổi Pleistocen sớm,

1tm).

2-3 ts) chủ yếu nằm ở đáy đồng bằng hạ lưu các

nguồn gốc sông - biển (amQ1

Hệ tầng Triệu Sơn (a, apQ1

sông Mã, Cả và sông Gianh. Thành phần chủ yếu là cuội, sỏi, cát hạt thô hỗn hợp

thạch anh silic độ mài tròn tốt đến trung bình. Hệ tầng trầm tích này có nguồn gốc

2-3

sông, sông – lũ, tuổi Pleistocen sớm-giữa.

ln) phân bố ở khu vực Đồng Hới - Lệ Ninh. Thành

Hệ tầng Lệ Ninh (mQ1

phần trầm tích bao gồm cuội, sỏi, sạn lẫn dăm và sét màu vàng, xám trắng. Tuổi của

2-3 qđ) phân bố dưới độ sâu 35,5 -100 m ở trung

hệ tầng là Pleistocen giữa-muộn, nguồn gốc trầm tích là sông.

Hệ tầng Quảng Điền (amQ1

tâm đồng bằng ven biển các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Thành phần trầm

tích gồm cát, sét bột lẫn di tích thực vật đã hóa than màu đen.

35

3

3 px) được gộp thành trầm tích sông - lũ (apQ1

3 px), biển - sông -

Hệ tầng Phú Xuân (ap,mQ1

3 px), sông - đầm lầy (abQ1

3 px), song - biển (amQ1

3 px). Các trầm tích này phân bố trong các thung

px), sông (aQ1

3 px) và biển (mQ1

đầm lầy (mabQ1

lũng của các suối ở bờ trái sông Hương như khe Ly, khe Thương, rìa đồng bằng và

bị phủ ở trung tâm đồng bằng dưới các trầm tích trẻ hơn. Tuổi của các trầm tích này

1-2 th) phân bố rộng rãi ở trung tâm dải đồng bằng

là Pleistocen muộn.

Hệ tầng Thiệu Hóa (amQ2

ven biển Thanh Hóa - Vinh. Hệ tầng này gồm các tập trầm tích khác nhau. Trầm

1-2 th1) với thành phần gồm: sét, bột, cát màu nâu đen, màu

tích đầm lầy - biển (bmQ2

đen, xám đen, than bùn. Chúng nằm lẫn lộn hay phân thành lớp riêng biệt, lẫn tàn

1-2 th2) có thành phần

tích thực vật, có mùi đặc biệt. Trầm tích sông - biển (amQ2

gồm: cát, bột sỏi màu xám nâu và xám đen, chứa nhiều di tích thực vật. Trầm tích

1-2 th3) có thành phần chủ yếu là: cát, sét, bột màu xám vàng, đôi chỗ cát

biển (mQ2

màu xám. Trong trầm tích rất phong phú foraminifera và các phức hệ tảo silic. Trầm

1-2

tích có nguồn gốc sông - biển, tuổi Holocen sớm - giữa.

cl) phân bố ở Cửa Hội, Diễn Châu, Can Lộc,

Hệ tầng Can Lộc (amQ2

Thạch Hà, Yên Mỹ, Nghi Xuân, Đức Thọ và thành phố Hà Tĩnh. Hệ tầng này gồm

các tập khác nhau. Trầm tích sông - biển với thành phần gồm: cát, cát pha sét, bột

màu xám xanh, xám đen. Trầm tích biển với thành phần gồm: bột, sét, cát màu xám

trắng, xám vàng nhạt, chứa di tích động vật biển. Trong trầm tích phát hiện bào tử

phấn hoa thuộc phức hệ Sonneratita - Lygodium - Castanopsis. Tuổi của hệ tầng

1-2 pb) phân bố rộng rãi ở Gio Linh, Triệu Hải, Hải

trầm tích là Holocen sớm - giữa.

Hệ tầng Phú Bài (bmQ2

Lăng, Phong Điền, Quảng Điền và Phú Vang. Thành phần trầm tích gồm: sét, bột

chứa cát màu xám đen, dạng bùn lỏng, lẫn nhiều vỏ sò ốc. Trong trầm tích có chứa

phong phú vi cổ sinh, tảo, bào tử phấn hoa tuổi Holocen sớm-giữa, môi trường

2-3 ym) phân bố ở Diễn Châu, Yên Mỹ, Nghi Xuân,

lagun.

Hệ tầng Yên Mỹ (amQ2

Đức Thọ, thành phố Hà Tĩnh. Hệ tầng gồm các tập khác nhau. Trầm tích sông có

thành phần gồm: cát, sạn, sỏi, thạch anh pha cát màu vàng, vàng nhạt. Trầm tích

sông - biển với thành phần gồm: sét, bột màu vàng loang lổ, trong trầm tích chứa

36

phức hệ bào tử phấn hoa Polypodium - Magnolia - Myrtus. Tuổi của hệ tầng trầm

2-3 pv) phân bố chủ yếu ở đồng bằng Huế. Trầm

tích này là Holocen giữa - muộn.

Hệ tầng Phú Vang (abmQ2

tích của hệ tầng này đa nguồn gốc: sông - lũ (ap), sông (a), sông - đầm lầy (ab),

sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (amb), biển - sông (ma), biển - sông - đầm

lầy (mab), biển (m) và biển - gió (mv). Tuổi của hệ tầng trầm tích là Holocen giữa -

3) phân bố dọc theo dải đồng bằng ven biển từ

muộn.

Trầm tích Holocen muộn (Q2

3) có thành phần thạch học gồm: cát, bột, sét. Trầm tích sông -

Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế, được hình thành từ các kiểu nguồn gốc khác nhau.

3) có thành phần gồm: cát, bột lẫn di tích mùn thực vật. Trầm tích biển -

Trầm tích sông (aQ2

3) có thành phần gồm: cát thạch anh đồng nhất.

biển (amQ2

gió (mvQ2

2.1.2. Cấu trúc tân kiến tạo

2.1.2.1. Đặc điểm chung

Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ, bình đồ kiến trúc tân kiến tạo và kiến tạo

hiện đại được hình thành trên cơ sở có kế thừa, phá hủy và xây dựng lại các đới cấu

trúc hình thành trước đó (các đới cấu trúc Mezozoi sớm và Paleozoi muộn). Trong

đó, chuyển động nâng yếu, hạ lún yếu dạng khối tảng là đặc trưng cơ bản của các

VCSVB Bắc Trung Bộ (Hình 2.1). Do vậy, bình đồ kiến trúc khu vực này được tạo

nên bao gồm các khối kiến trúc nâng và kiến trúc hạ lún. Chúng được ngăn cách bởi

các đứt gẫy tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại [60], [63], [67], [80]. Các khối nâng

yếu dạng khối tảng như khối Thanh Hóa, Tân Kỳ, Đèo Ngang phát triển theo

phương TB-ĐN, trên móng cấu trúc Mezozoi sớm, hoạt hóa trong Mezozoi. Địa

hình đặc trưng của các khối kiến trúc này là phát triển các dải đồi và núi thấp, núi

sót và đồng bằng tích tụ trầm tích Đệ tứ. Trên các khối này còn phát triển địa hình

karst. Biên độ nâng của chúng đạt từ 100 - 500 m và 500 - 1000 m. Các khối Kẻ

Bàng, Vĩnh Ô, Đakrông và Nam Đông là những khối nâng yếu dạng khối tảng, vòm

khối tảng phát triển trên các thành tạo móng uốn nếp Paleozoi muộn. Địa hình trên

các khối kiến trúc là các dải đồi và núi thấp bóc mòn - xâm thực. Biên độ nâng tân

kiến tạo khoảng 500 - 1000 m. Các khối Vinh - Hà Tĩnh, Đồng Hới, Quảng Trị -

Huế (Duyên hải) là những khối hạ lún yếu trong tân kiến tạo. Địa hình là các dải

37

đồng bằng tích tụ ven biển đa nguồn gốc với các thềm, bãi bồi, cồn cát, đầm lầy,

vũng vịnh và các đồi, núi sót. Biên độ hạ lún rất yếu, từ 100 - 500 m. Khối kiến trúc

hạ lún Quảng Trị - Huế phát triển theo phương TB-ĐN, bị khống chế bởi đứt gẫy

Đông Hà - Phú Lộc ở phía Tây, Khe Giữa - Vĩnh Linh ở phía Bắc và Bắc Hải Vân ở

phía Nam. Địa hình VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương phát triển trên kiến

trúc hạ lún này. Địa hình các VCSVB sông Mã phát triển trên các kiến trúc nâng

yếu, hạ lún yếu như: khối kiến trúc Thanh Hóa. Cấu trúc địa hình ở các VCSVB

Bắc Trung Bộ phản ánh rất rõ nét các kiến trúc tân kiến tạo khu vực.

Hình 2.1. Sơ đồ địa động lực hiện đại khu vực Bắc Trung Bộ

2.1.2.2. Vai trò của yếu tố cấu trúc tân kiến tạo

Chuyển động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại, sự hình thành và phát triển

các kiến trúc tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại đóng vai trò quan trọng, khống chế

cấu trúc địa hình cũng như các quá trình hình thành và phát triển địa hình trên Bề

38

mặt Trái đất. Các kiến trúc nâng, kiến trúc hạ lún yếu được hình thành và phát triển

trong những bối cảnh địa động lực chung của mỗi thời kỳ lịch sử địa chất. Sự hình

thành và quy luật phân bố của chúng có mối quan hệ không gian với địa hình được

hình thành trên bề mặt Trái đất. Các kiến trúc nâng lên trong phần đất liền thuận lợi

cho phát triển các kiểu địa hình bóc mòn - xâm thực. Ngược lại, các kiến trúc hạ lún

tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại thuận lợi cho phát triển địa hình tích tụ, hình thành

các dải đồng bằng tích tụ, đồng bằng trũng thấp, đầm lầy, vũng vịnh và đầm phá.

Cấu trúc địa hình ở khu vực này bị khống chế bởi phương phát triển của các kiến

trúc tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại. Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ, các kiến trúc

nâng yếu trong phần đất liền (như kiến trúc Thanh Hóa, Tân Kỳ, Vinh - Hà Tĩnh,

Đèo Ngang, v.v) thuận lợi phát triển các kiểu địa hình bóc mòn - xâm thực, thềm

mài mòn biển phân bố ở phía tây của VCSVB sông Mã; đồng thời tạo điều kiện

thuận lợi cho hoạt động tích tụ tiến ra phía biển của các sông. Các kiến trúc hạ lún

tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại phát triển theo phương TB-ĐN, song song với bờ

biển hiện đại: kiến trúc Quảng Bình, Quảng Trị - Huế tạo lợi thế hình thành và phát

triển các kiểu địa hình tích tụ đa nguồn gốc: dải đồng bằng tích tụ, dải trũng thấp,

đầm phá, vũng vịnh, v.v ở VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương. Trên đó phát

triển các hệ sinh thái đồng bằng tạo lợi thế cho phát triển kinh tế nông nghiệp, xây

dựng các trung tâm kinh tế, các đô thị và phát triển du lịch văn hóa, thương mại.

Các vùng cửa sông ven biển, vũng vịnh, đầm phá tạo lợi thế cho hình thành các bãi

biển đẹp, các hệ sinh thái đầm phá, v.v là nơi thuận lợi cho hình thành các khu du

lịch, khu nghỉ mát. Không những thế, các kiến trúc hạ lún phân bố dọc bờ biển lại là

nơi rất thuận lợi cho phát triển tự nhiên của các cồn cát và hình thành các mỏ sa

khoáng ven biển (dọc bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên

Huế). Các vũng vịnh, đầm phá là lợi thế tự nhiên cho các thủy, hải sản tập trung và

phát triển.

2.1.3. Hoạt động của đứt gẫy tân kiến tạo và hiện đại

2.1.3.1. Đặc điểm chung

Đứt gẫy tân kiến tạo và hiện đại gồm các đứt gẫy tái hoạt động những đứt

gẫy cổ và mới xuất hiện trong Tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại. Trên khu vực

nghiên cứu, các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến các đứt gẫy tân kiến

tạo và kiến tạo hiện đại, hoạt động với cường độ và biên độ khá mạnh [55], [60],

[80]. Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ phân bố đoạn đầu mút đông nam cắt ra biển

39

của các đới đứt gẫy có phương TB-ĐN. Đó là các đứt gẫy Sông Mã, Sơn La - Bỉm

Sơn, Sông Cả, Rào Nậy, Khe Giữa - Vĩnh Linh, Sông Quảng Trị, Đắc Krông - Huế

và Thà Khẹt - Hải Vân. Đới đứt gãy Sơn La - Bỉm Sơn cắt ra đến bờ biển ở Nga

Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Trên khu vực nghiên cứu, đới đứt gẫy cắt dọc theo sườn đồi,

thung lũng hẹp thẳng, giữa một bên là dãy núi đá vôi cao 500 - 1000m ở phía đông

bắc và một bên là đồng bằng thấp trải rộng về phía nam đến tận bờ biển ở Hà

Trung. Đới đứt gãy Sông Mã cắt dọc theo rìa phía tây đồng bằng các huyện Nông

Cống, Tĩnh Gia ra đến biển ở cửa Lạch Ghép. Ngoài ra, đới đứt gẫy này gồm một số

đứt gẫy phụ nằm ở phía đông bắc đứt gẫy chính có phương TB-ĐN, dọc theo sườn

dải địa hình thấp, trũng đầm hồ và lòng sông cổ, rồi chạy ra bờ biển. Đới đứt gãy

Sông Cả, gồm có một đới đứt gãy chính Kỳ Sơn - Cửa Lò cắt qua thị trấn Tân Kỳ,

Yên Thành và ra tới biển ở Cửa Lò; một đới đứt gãy nhánh chạy dọc thung lũng

sông Cả, rồi tiếp tục chạy dọc theo thung lũng sông Nghèn đến thị xã Hà Tĩnh ra tới

biển ở Cửa Sót. Đới đứt gãy Rào Nậy có nhánh chính cắt ra biển ở Cửa Gianh và

nhánh phụ cắt ra biển ở Cửa Ròn. Đới đứt gãy Khe Giữa - Vĩnh Linh cắt ra tới biển

ở Cửa Tùng. Đới đứt gãy Đa Krông-Huế cắt ra tới biển ở Cửa Tư Hiền. Trong bối

cảnh địa động lực tân kiến tạo và hiện đại, trong Pliocen - Đệ tứ, các đoạn đứt gẫy

đầu mút đông nam nêu trên hoạt động trượt bằng phải - thuận. Hiện nay, các đứt

gẫy vẫn đang hoạt động (Hình 2.1).

2.1.3.2. Vai trò của của đứt gẫy kiến tạo

Phần lớn các đoạn đầu mút đông nam của các đới đứt gẫy phương TB-ĐN

Sông Mã, Sông Cả, Rào Nậy, v.v tương ứng là những nơi mà các VCSVB sông Mã,

sông Cả, sông Gianh ở Bắc Trung Bộ hình thành và phát triển. Trên các VCSVB

Bắc Trung Bộ, dọc các đới đứt gẫy cắt ra bờ biển, biến động địa hình diễn ra khá

mạnh mẽ, đặc biệt là hiện tượng xói lở bờ sông, bờ biển, bồi tụ tạo nên các bãi, bar,

cồn, val cát. Hoạt động phá hủy của các đứt gẫy tân kiến tạo và hiện đại đã phá hủy

đường bờ, làm thay đổi hình thái đường bờ rất rõ nét [53], [55], [57]. Hoạt động hạ

lún diễn ra dọc các đứt gẫy phương TB-ĐN Sông Mã, Sông Cả, Rào Nậy, Khe Giữa

- Vĩnh Linh, Sông Quảng Trị và Đakrông - Huế đã tác động trực tiếp đến quá trình

xói lở, bồi tụ ở các VCSVB. Chuyển động hạ lún đã làm cho biển tiến vào sâu trong

lục địa, năng lượng động lực dòng ven bờ tăng lên và quá trình xâm thực ngang

diễn ra mạnh lên đáng kể. Hoạt động của các đới đứt gẫy đã phá hủy đất đá tạo

những đoạn đường bờ có cấu tạo bởi vật liệu bở rời rất dễ bị xói lở, cuốn trôi mang

40

đi nơi khác. Khi vận tốc dịch chuyển của đứt gẫy lớn, quá trình phá hủy đất đá cũng

như tốc độ hạ lún mạnh, càng làm cho quá trình xâm thực ngang mạnh lên, do đó,

tốc độ xói lở bờ sông, bờ biển càng mạnh hơn. Mặt khác, trên các cấu trúc hạ lún

hiện đại, nguồn vật liệu do sông mang ra, cũng như ngoài biển mang vào với lượng

lớn, tốc độ bồi lắng lớn hơn tốc độ hạ lún sẽ dẫn đến khu vực đó phát triển quá trình

bồi tụ. Ở VCSVB sông Mã hoạt động bồi tụ phát triển khá mạnh, đặc biệt ở dọc

sông Mã, các bãi, bar, cồn, val hình thành và phát triển khá mạnh mẽ. Trong khi đó,

dọc sông Thạch Hãn và sông Hương, các quá trình xói lở bờ sông, bờ biển phát

triển khá mạnh. Hơn thế nữa, các đoạn bờ sông, bờ biển bị xói lở mạnh và rất mạnh

chủ yếu phân bố ở những điểm giao nhau của các đứt gẫy tích cực. Đó chính là

những đoạn bờ biển bị phá hủy mạnh mẽ, quá trình xói lở bờ cũng diễn ra mạnh

nhất, ví dụ như ở các cửa Lạch Trường, Lạch Ghép, Hới, Thuận An, v.v. Trên đoạn

bờ biển phía bắc cửa Lạch Trường thuộc địa phận huyện Nga Sơn, quá trình xói lở

diễn ra với cường độ mạnh tại điểm nút giao của các đứt gẫy phương TB-ĐN thuộc

đới Sơn La-Bỉm Sơn và đứt gẫy phương ĐB-TN thuộc đới Hoằng Hóa-Nông Cống.

Đoạn bờ phía bắc cửa Lạch Ghép là nơi đới đứt gẫy Sông Mã cắt ra bờ biển đã thúc

đẩy quá trình xói lở phát triển với cường độ mạnh. Các đoạn bờ khác như đoạn bờ

Nghệ An - Hà Tĩnh và đoạn bờ Thừa Thiên Huế cũng tương tự như các đoạn bờ

trên. Trên các đoạn bờ này, tại những nơi có đới đứt gẫy Sông Cả, Rào Nậy,

Đakrong - Huế cắt ra bờ biển; đoạn bờ cấu tạo bởi các trầm tích bở rời, quá trình xói

lở diễn ra với cường độ mạnh. Đặc biệt, tại những điểm nút giao của các đới đứt gẫy

phương TB-ĐN với các đứt gẫy có phương ĐB-TN, hoặc á kinh tuyến, quá trình xói

lở diễn ra càng mạnh. Tuy nhiên, quá trình xói lở hầu như không diễn ra ở những

nơi mà cấu tạo bởi đá gốc rắn chắc, mặc dù có đứt gẫy cắt ra.

2.2. Yếu tố ngoại sinh

2.2.1. Dao động mực nước biển trong Holocen

Khu vực Bắc Trung Bộ nói chung không nằm ngoài phông chung của dao

động mực nước biển ở Việt Nam và các vùng lân cận.

Các kết quả nghiên cứu cổ địa lý ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam cho

thấy vào cuối Pleistocen, khoảng 20000 năm cách ngày nay, do ảnh hưởng của băng

hà cực đại cuối cùng, mực nước Biển Đông hạ thấp tới khoảng 120m so với mực

nước biển ngày nay và thấp hơn ngày nay xấp xỉ 50, 30, 15 và 5m tương ứng với

khoảng thời gian 11000, 10000, 9000 và 8000 năm BP. Kết quả này tương đối phù

41

hợp với nhiều tài liệu về tuổi đồng vị C14 mà người ta xác định được ở các thềm trên

thế giới [81], [82] .

Hình 2.2. Đường cong dao động mực nước biển khu vực Tây Biển Đông từ cực đại băng hà cuối cùng 20000 năm cách ngày nay [83].

Vào khoảng 10000-9000 năm BP, tốc độ dâng mực nước biển Holocene của

khu vực bắt đầu giảm, tốc độ dâng mực nước biển giảm là một yếu tố chi phối quá

trình hình thành châu thổ. Vào khoảng 8000 năm trước (hình 2.2), mực nước biển

vẫn đang dâng lên nhưng tốc độ dâng mực nước biển giảm dần. Cho đến thời điểm

khoảng 7000 năm trước, mực nước biển tương đương với mực nước biển hiện tại,

sau đó nó dâng lên trong khoảng từ 6500 đến 4000 năm trước. Từ 4000 năm trước

đến hiện tại thì mực nước biển lại hạ xuống.

Hình 2.3. Đường cong dao động mực nước biển từ 8000 năm trước đến nay [83]

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều công trình ghi nhận được mực nước biển cao

nhất trong Holocen như: Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp (1995, 1998), cho rằng trong

Holocen, biển tiến Flandrian đạt mức cao nhất đã tạo thềm 4-5m ở ven rìa lục địa

Việt Nam. Trịnh Nguyên Tính và nnk (1998) lại cho rằng mực nước biển đạt cao

42

nhất trong Holocen giữa (cách đây ~ 4000 – 5000 năm), độ cao 10-15m ở Phan

Thiết. Nguyễn Thế Thôn, Nguyễn Thế Tiệp (1987) [84] trong bài “Các thềm biển ở

Đông Dương” đã đưa ra các mực thềm 1,5 - 4m có tuổi Holocen. Đối với khu vực

nghiên cứu Nguyễn Tiến Hải, Statteger K và nnk (2005) [85], cho rằng độ cao cực

đại mực nước biển trong Holocen đạt ~ 5m (cao hơn mực nước biển hiện tại) vào

thời gian 5.000 – 4.000 năm.

2.2.2. Chế độ khí hậu

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ

rệt: mùa mưa và mùa khô, song lại nằm ở dải ven biển nên ảnh hưởng của khí hậu

biển rất rõ. Do vậy, các đặc trưng của khí hậu có những đặc trưng riêng của dải

đồng bằng ven biển [86], [87], [88], [89].

2.2.2.1. Nhiệt độ

Nhiệt độ không khí trung bình năm ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ giao

động trong khoảng 23 - 25oC, nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ phía bắc vào phía

nam. Mùa đông kéo dài 4 tháng (tính từ tháng XII đến tháng III năm sau). Đây là

thời kỳ nhiệt độ thấp nhất trong năm, nhiệt độ trung bình dưới 20oC. Tháng I là

tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình vào khoảng 17 - 18oC. Mùa hè thể hiện rõ nét

trong 4 tháng (từ tháng V đến tháng VIII), nhiệt độ trung bình vượt quá 27oC.

Tháng VII là tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm với nhiệt độ trung bình vào

khoảng 29 - 30oC. Thời kỳ chuyển tiếp: nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng

25-27oC [13].

2.2.2.2. Chế độ mưa

Theo số liệu thống kê những năm gần đây ở các trạm khí tượng trong khu

vực, lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian . Trên khu

vực Thanh Hoá và vùng núi phía Bắc của Nghệ An, lượng mưa trung bình năm

1600 - 2000mm. Từ phía nam Nghệ An đến Đèo Ngang lượng mưa tăng nhanh, tạo

ra một tâm mưa lớn tại Hà Tĩnh (Kỳ Anh: 2917mm/năm). Từ phía Nam của đèo

Ngang đến Huế có lượng mưa lớn, với tổng lượng mưa năm đạt trên 2000mm.

Vùng ven biển có lượng mưa 2000 - 2400mm/năm. Tại Huế tồn tại một tâm mưa

lớn ở phía Bắc đèo Hải Vân (huyện Nam Đông 3581mm/năm).

Tổng lượng mưa cũng phân bố theo 2 mùa rõ rệt. Vào mùa mưa, lượng mưa

43

trung bình mùa mưa lớn hơn nhiều mùa khô. Ngay trong mùa mưa, thời gian bắt

đầu mùa mưa ở các vùng trong khu vực Bắc Trung Bộ cũng rất khác nhau. Phía bắc

của khu vực nghiên cứu (khu vực từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh), mùa mưa bắt đầu từ

tháng V và kết thúc vào tháng X. Phía nam khu vực nghiên cứu (khu vực từ Quảng

Bình đến Thừa thiên - Huế), mùa mưa bắt đầu vào khoảng tháng VIII và kéo dài

đến tháng XII.

Trạm

I

II

III

IV

V

VI VII VIII

IX

X

XI XII Năm

T.

24,3 29,6 41,7 64,6 159,3 178,8 201,8 277,5 383,0 265,3 78,4 27,8 1732,0

Hoá

Vinh 53,0 43,4 49,1 63,0 140,4 113,5 125,7 195,9 476,8 440,0 182,0 72,6 1955,4

99,5 66,8 56,1 70,1 139,5 131,4 134,4 222,0 511,0 712,2 345,7 164,0 2652,7

Tĩnh

Đồng

63,6 43,4 45,4 52,7 112,1 82,1 83,6 154,2 438,3 611,9 354,6 127,9 2169,8

Hới

Huế

148,7 67,7 46,8 54,3 95,7 103,1 85,0 122,2 439,9 765,0 595,3 332,5 2856,4

Bảng 2.1. Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm)

Nguồn: [13]

2.2.2.3. Chế độ gió

Chế độ gió ở khu vực nghiên cứu cũng phân ra 2 mùa rõ nét với các hướng

gió thịnh hành khác nhau. Vào mùa đông, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc rồi

đến Bắc và Tây Bắc, đoạn ven biển từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh gió hướng Đông

Bắc và Bắc chiếm ưu thế với tần suất khoảng 35 - 40% mỗi hướng, còn gió Tây Bắc

chiếm tần suất khoảng 20%. Đoạn ven biển từ Hà Tĩnh đến Huế gió hướng Tây Bắc

đóng vai trò chủ đạo với tần suất lớn hơn khoảng 40%, còn hai hướng Đông Bắc và

Bắc chiếm trung bình khoảng 30% mỗi hướng. Vào mùa hè, gió chủ đạo là gió Tây

Nam, Đông Nam và Nam, trong đó hướng gió chủ đạo là Tây Nam. Ngoài ra, trong

khu vực còn chịu ảnh hưởng của thời tiết gió Tây khô và nóng khi thổi qua giải núi

Trường Sơn. Mùa chuyển tiếp là thời kỳ có sự giao tranh giữa hai hệ thống gió mùa

mùa hè và gió mùa đông, nên hướng gió tản mạn phân bố tương đối đều giữa các

hướng Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam với tần suất khoảng 15 - 20% mỗi

hướng.

Tốc độ gió ở đây có xu thế tăng dần từ đất liền ra ngoài biển. Ở đồng bằng

44

tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,5 - 2,0 m/s, 2 - 3 m/s ở ven biển và 6 - 7 m/s ở

ngoài khơi. Tốc độ gió mạnh nhất khi có bão, có thể vượt quá 35 – 40 m/s (có nơi

lên đến 48 m/s).

2.2.2.4. Bão

Bão là một dạng thời tiết đặc biệt có ảnh hưởng lớn tới địa hình vùng cửa

sông ven biển, đặc biệt tới đường bờ biển và cửa sông. Theo thống kê, ở khu vực

Bắc Trung Bộ, tính từ năm 1960 đến 2013 có tất cả 83 cơn bão có ảnh hưởng trực

tiếp hoặc đổ bộ vào vùng ven biển này. Bão thường tập trung vào khoảng tháng

VIII, IX ở khu vực Thanh Hoá - Hà Tĩnh và tháng IX, X ở khu vực từ Hà Tĩnh đến

Thừa Thiên Huế [90].

2.2.3. Chế độ dòng chảy sông và dòng bùn cát

2.2.3.1. Hệ thống dòng chảy

Trên khu vực Bắc Trung Bộ phân bố 23 hệ thống sông lớn nhỏ, trong đó nổi

lên một số hệ thống sông lớn như: sông Mã, Cả, Gianh, Thạch Hãn và sông Hương.

- Hệ thống sông Mã bắt nguồn từ các dải núi cao ở Tây Bắc nước ta chạy qua

lãnh thổ Lào vào Việt Nam trên địa phận tỉnh Thanh Hóa. Sông Mã chảy theo

hướng TB-ĐN với chiều dài dòng chính khoảng 512 km, diện tích lưu vực là 24.800

km2 (diện tích lưu vực trong lãnh thổ Việt Nam 17.600 km2). Dòng chính sông Mã

bắt nguồn từ miền núi thuộc tỉnh Điện Biên chảy theo hướng từ tây bắc xuống đông

nam đến Chiềng Khương, dòng chính chảy sang đất Lào và vào Việt Nam tại

Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Từ Mường Lát đến Vạn Mai, sông chảy theo hướng á

vĩ tuyến, từ Vạn Mai đến Bá Thước sông chảy theo hướng từ bắc xuống nam, và rồi

từ Đồng Tâm đến Cửa Hới sông lại chảy theo hướng TB-ĐN và đổ ra biển tại Cửa

Hới. Dòng chính sông Mã nhận rất nhiều sông suối lớn nhỏ như Nậm Thi, Nậm Lệ,

suối Xia, Vạn Mai, sông Luông, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Chu,

Khe Bông. Các phụ lưu chính của sông Mã gồm: sông chu, sông Bưởi, sông Âm và

sông Cầu Chày. Sông Mã có hai phân lưu quan trọng là sông Lèn và sông Lạch

Trường. Vùng cửa sông ven biển sông Mã bao gồm hai phân lưu này.

- Hệ thống sông Cả bắt nguồn từ vùng núi cao trên lãnh thổ Lào chảy theo

phương TB-ĐN, vào lãnh thổ Việt Nam tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An với hai

nguồn chính là Nậm Nơn từ dãy Pù Lôi và Nậm Mô từ cao nguyên Trấn Ninh.

45

Chiều dài sông tính từ Nậm Nơn là 530km, từ Nậm Mô là 432km. Sông Cả chảy

qua Nậm Mô, Cửa Rào, Đô Lương, Vinh và đổ ra biển ở Cửa Hội. Hệ thống sông

Cả có các phụ lưu quan trọng là sông Con bên tả ngạn, Ngàn Phố, Ngàn Sâu bên

hữu ngạn. Vùng cửa sông ven biển sông Cả chính là khu vực cửa Hội và cửa Sót.

- Hệ thống sông Gianh (Rào Nậy) bắt nguồn từ dãy núi Phu Cô Pi với độ cao

1.350m, chảy theo phương TB-ĐN, qua các huyện Tuyên Hóa, Minh Hoá, Quảng

Trạch và một phần của huyện Bố Trạch rồi đổ ra biển ở cửa Gianh. Sông Rào Nậy

là hợp lưu của 3 con sông: Rào Nậy, Rào Nan và sông Son (còn gọi là sông Troóc).

Sông Rào Nậy có chiều dài 158km, chiều rộng bình quân lưu vực 38,8km, chiều dài

lưu vực 121km, lưu vực sông rộng 4680km2. Vùng cửa sông ven biển sông Gianh

chính là khu vực Cửa Giang.

- Hệ thống sông Thạch Hãn bắt nguồn từ vùng núi cao của dãy Trường Sơn

hùng vĩ, từ đỉnh Voi Mẹp (cao 1739 m) chảy từ tây sang đông trên địa phận tỉnh

Quảng Trị. Dòng chính sông Thạch Hãn chảy từ các huyện Hướng Hóa, Đa Krông

qua thành phố Đông Hà và huyện Triệu Phong đổ ra biển ở cửa Việt. Dòng chính

của sông dài 156 km, chiều dài lưu vực 69 km, chiều rộng bình quân 38,6 km, diện tích lưu vực đạt 2660 km2. Sông Thạch Hãn có các phụ lưu chính là sông Rào

Quán, sông Vĩnh Phước và sông Hiếu (sông Cam Lộ). Vùng cửa sông ven biển

sông Thạch Hãn chính là cửa Việt.

- Hệ thống sông Hương bắt nguồn từ dãy núi Động Ngai (cao 1774m) trên

địa bàn huyện A Lưới và núi M Ang (cao 1708m) trên địa bàn huyện Nam Đông

chảy theo các hướng TB-ĐN, á kinh tuyến qua các huyện Hương Thủy, Hương Trà,

thành phố Huế, rồi đổ vào phá Tam Giang trước khi đổ ra biển ở cửa Tư Hiền và cửa Thuận An. Diện tích lưu vực vào khoảng 2830 km2, chiều dài sông 104 km. Hệ

thống sông Hương có 3 phụ lưu chính: sông Bồ, Hữu Trạch và sông Tả Trạch.

Vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn bao gồm phá Tam Giang, cửa Tư Hiền và

cửa Thuận An.

Đặc điểm địa hình khu vực Bắc Trung Bộ phân dị mạnh mẽ, phía tây là dải

địa hình núi cao (dải núi Trường Sơn cao >1000m) chuyển tiếp đột ngột xuống dải

đồng bằng ven biển; sườn núi ngắn, dốc. Do đó, mạng lưới sông suối ở Bắc Trung

Bộ mang đặc điểm đặc trưng là ngắn, lòng dốc và lắm thác ghềnh. Lưu lượng,

moduyn dòng chảy cũng mang những đặc trưng riêng.

46

- Khu vực Thanh Hóa đến Hà Tĩnh (nằm trong miền địa hình núi thấp và gò

đồi), các sông chảy theo hướng nghiêng của địa hình từ tây bắc xuống đông nam,

với độ dốc không lớn, nên các sông suối trong vùng đều có độ uốn khúc khá lớn với hệ số uốn khúc đạt trên 1,7, mật độ sông suối đạt 0,6 - 0,7 km/km2.

- Khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế, độ dốc địa hình nghiêng ra

phía biển và phân bố dải núi chạy đâm xiên ra phía biển, đồng thời hình thành các

cồn, bar cát chắn ngang sông, song song với bờ biển. Ở đây hình thành một số mạng

lưới sông suối cục bộ, có lưu vực nhỏ. Các sông suối thường ngắn, dốc, không có

trung lưu, nên khả năng giữ nước trong lòng sông phần thượng nguồn kém, khả

năng thoát nước ở hạ du cũng rất kém do dãy cồn cát ven biển cao chắn ngang. Mật độ sông suối khoảng 0,8 - 0,9 km/km2.

2.2.3.2. Đặc điểm chung chế độ dòng chảy và dòng bùn cát

Tính trung bình hàng năm, khu vực Bắc Trung Bộ nhận được 113 tỷ m3

nước mưa và đã sinh ra 67,9 tỷ m3 dòng chảy vào mạng lưới sông suối, tương ứng

với moduyn dòng chảy 41,6l/s.km2 và có hệ số dòng chảy () đạt tới 0,60; so với

toàn lãnh thổ Việt Nam đây là khu vực có tiềm năng nguồn nước mặt vào loại

phong phú.

Chế độ dòng chảy của các sông ở khu vực Bắc Trung Bộ có ảnh hưởng khá

lớn đến độ ổn định của địa hình ở VCSVB. Trên khu vực Bắc Trung Bộ, tính trung bình hàng năm nhận được 113 tỷ m3 nước mưa và đã sinh ra 67,9 tỷ m3 dòng chảy vào mạng lưới sông suối, tương ứng với moduyn dòng chảy 41,6 l/s.km2 và có hệ số

dòng chảy () đạt tới 0,60 (Bảng 2.2).

Bảng 2.2. Tổng lưu lượng nước trung bình năm

Khu vực cửa sông Tổng lưu lượng nước trên năm (m3/năm)

Sông Mã 18.109

Sông Thạch Hãn 3,92. 109

Sông Hương 6,2. 109

Nguồn [91], [92], [93]

Chế độ dòng chảy sông trong năm phân phối không đều. Dựa vào thời gian

xuất hiện và lượng dòng chảy sông trong khu vực Ven biển Bắc Trung Bộ, có thể

chia thành 3 dải ven biển có chế độ dòng chảy khác nhau. Vào mùa lũ, ở dải ven

biển Thanh Hoá - Nghệ An (bắt đầu vào tháng VII và kết thức vào tháng XI), lượng

47

dòng chảy chiếm tới 70  80% lượng dòng chảy cả năm và moduyn dòng chảy lũ =

3040 l/s.km2; ở dải ven biển từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị (mùa lũ kéo dài ba tháng

IX-XI), lượng dòng chảy mùa lũ chiếm tới 6070% lượng dòng chảy cả năm với

moduyn dòng chảy lũ = 100  130 l/s.km2; ở dải ven biển Thừa Thiên Huế (mùa lũ

kéo dài trong ba tháng X  XII), lượng dòng chảy chiếm tới 6075% lượng dòng

chảy năm và moduyn dòng chảy lũ lớn nhất nước ta, khoảng 150200 l/s.km2. Vào

Mùa kiệt, ở dải ven biển Thanh Hoá - Nghệ An (từ tháng XIIVI), lượng dòng chảy

chiếm từ 2035% lượng dòng chảy năm; ở dải ven biển từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị

(tháng XII  VIII), moduyn dòng chảy kiệt = 2550 l/s.km2; ở dải ven biển Thừa

Thiên Huế (IIX), lượng dòng chảy mùa kiệt chiếm tỷ trọng khá lớn từ 3040%

lượng dòng chảy năm với moduyn dòng chảy kiệt = 1535 l/s.km2. Vào mùa kiệt,

lượng nước trong sông giảm thấp, nên chế độ dòng chảy chủ yếu do thủy triều quyết

định. Ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, tổng lưu lượng nước trung bình năm đối với sông Mã là cao nhất, với 18 tỷ m3/năm, sông Thạch Hãn là 3,92 tỷ m3/năm và sông Hương là 6,2 tỷ m3/năm [58], [91], [92].

Lượng bùn cát trong sông được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau, do các

quá trình địa mạo động lực trong lưu vực, do sức phá hủy tại chỗ, v.v. Tổng lượng

bùn cát trung bình năm của ba vùng cửa sông chính trong khu vực nghiên cứu có sự

chênh lệch khá lớn. Vùng ven biển cửa sông Mã có tổng lượng bùn cát trung bình

năm lớn nhất, đạt 5,026 triệu tấn, sông Thạch Hãn và sông Hương gần như tương

đương khoảng 0,5 triệu tấn (Bảng 2.3).

Bảng 2.3. Lượng bùn cát trung bình năm tại các cửa sông

Khu vực cửa sông Lượng bùn cát trung bình năm (triệu tấn/năm)

Sông Mã 5,026

Sông Thạch Hãn 0,488

Sông Hương 0,620

Nguồn [58], [91], [93].

2.2.3.3. Vai trò của dòng chảy sông và dòng bùn cát

Chế độ dòng chảy của sông là yếu tố quan trọng, trực tiếp tác động đến

VCSVB trong quá trình diễn ra xói lở và bồi tụ. Đây là vùng hạ lưu của các hệ

thống sông ở Bắc Trung Bộ, hàng năm trung bình đưa ra biển hàng tỷ khối nước và

48

hàng triệu tấn bùn cát (Bảng 2.2, 2.3). Toàn bộ lượng nước và phù sa trên đổ ra biển

qua các cửa sông. Động lực của dòng chảy sông tăng lên đáng kể khi lượng nước và

phù sa sông tăng lên, đặc biệt là trong mùa mưa lũ. Ngoài ra, còn các sông ngòi,

kênh mương nội đồng tạo nên ở đây một mạng lưới sông suối, kênh mương dày đặc,

chằng chịt cũng mang trên mình lượng nước và dòng bùn cát lớn. Chính điều này đã

làm cho chế độ động lực VCSVB diễn ra rất phức tạp và sự phức tạp này ngày càng

được gia tăng trong những thập kỷ gần đây do tác động tích cực hoạt động của con

người, tác động trực tiếp đến biến động địa hình ở VCSVB. Dòng chảy sông ngòi,

đặc biệt là dòng chảy sông ngòi về mùa lũ có lưu lượng và tốc độ lớn dồn về vùng

hạ du, khi nhập vào khối nước biển, dưới sự tương tác dòng triều và dòng lũ, nước

bị dồn ứ ở pha triều dâng, cản trở sự thoát lũ, gây ngập úng vùng đồng bằng, tích

đọng lượng phù sa dầy ở vùng trũng thấp. Ngược lại, ở pha triều rút, dòng tổng hợp

có tốc độ lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoát lũ, tuy nhiên cũng làm cho dòng

dẫn ở cửa sông bị xói sâu, trơ lớp sét dưới đáy, phá vỡ các đảo chắn vùng cửa sông

tạo ra các luồng lạch mới. Dòng chảy cát bùn là nguồn vật liệu chủ yếu thành tạo

nên địa hình hiện đại ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

(a) (c)

(b) Hình 2.4. Độ đục quan sát được tại các cửa sông trên ảnh vệ tinh Landsat vào tháng 8-2016. VCSVB sông Mã (a), sông Thạch Hãn (b), sông Hương (c)

Lượng nước và bùn cát của dòng sông Mã có độ đục khá lớn, lớn nhất trong

các VCSVB Bắc Trung Bộ. đặc biệt vào mùa mưa lũ, lượng bùn cát thường đạt giá

trị lớn nhất. Từ khi nhà máy thuỷ điện Cửa Đạt đi vào hoạt động đến nay, lượng phù

sa khổng lồ bị chặn lại, bồi lắng ở lòng hồ, làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy

bùn cát vùng hạ du, gây xói lở cục bộ và biến động các bãi triều, cồn cát, bar. Mặt

khác, vùng cửa sông, do sự tương tác giữa nước sông và nước biển diễn ra các quá

trình hoá học ngưng keo, gây lắng đọng bùn cát. Lượng nước và bùn cát của dòng

sông Thạch Hãn và sông Hương ít hơn sông Mã nhiều (Bảng 2.2, 2.3). Mặt khác,

vào mùa lũ lượng nước sông Mã đạt 70-80% tổng lượng nước trong năm, trong khi

ở sông Thạch Hãn và sông Hương chỉ đạt 60-70%. Như vậy, có thể nhận thấy, vai

49

trò của sông tác động đến địa hình VCSVB sông Mã lớn hơn nhiều VCSVB sông

Thạch Hãn và sông Hương trong hình thành và biến động địa hình hiện đại. Quá

trình bồi tụ, hình thành và phát triển mạnh mẽ các cồn, bar, bãi ở VCSVB sông Mã,

địa hình hiện đại có xu thế tiến ra biển với biên độ và tốc độ lớn hơn ở các VCSVB

sông Thạch Hãn và sông Hương [14], [20], [54].

VCSVB sông Mã là vùng biển thoáng, bãi triều nông và trải rộng. Nguồn

bùn cát chính cung cấp cho VCSVB sông Mã là từ sông ngòi đưa ra và phần lớn

được vận chuyển vào mùa lũ ở các trạng thái lơ lửng, di đẩy và bán di đẩy. Một

phần bùn cát lơ lửng tham gia vào quá trình lắng đọng dọc lòng dẫn và val bãi cửa

sông, một phần lớn khác được dòng nước tải ra xa bờ, phân phối lại dọc ven biển và

bồi tụ ở những nơi khi có điều kiện. Trong khi đó, bùn cát di đẩy và bán di đẩy chủ

yếu gồm các hạt nặng và thô hơn, chuyển dịch chậm dần theo dòng nước ra phía

cửa sông, rồi biến thành dạng sóng cát, có vai trò rất lớn trong quá trình thành tạo

địa hình val, bãi, bar ven bờ cửa sông. Những cỡ hạt nhỏ, mịn được đưa ra xa bờ

hoặc lắng đọng trong vùng khuất sóng (trong các bãi sú vẹt). Ngược lại, các cỡ hạt

thô có khả năng lắng đọng lại ở những vùng có điều kiện động lực mạnh hơn, nhất

là các vùng nước chảy quẩn, phát triển thành các bãi cát ngầm.

2.2.4. Sóng, triều và dòng chảy ven bờ

2.2.4.1. Chế độ sóng, triều và dòng chảy ven bờ

Chế độ sóng

Sóng biển là một quá trình động lực có tác động rất quan trọng trong việc di

chuyển vật chất và làm biến đổi mạnh mẽ ở đới bờ. Dưới tác động của sóng và dòng

chảy sóng, vật liệu vùng ven bờ được vận chuyển và phân phối lại. Các yếu tố tác

động đến sóng biển như cường độ và hướng phát triển của gió, đà sóng, thời gian

thổi ở vùng ngoài khơi. Ngoài ra, đối với vùng ven bờ nó còn phụ thuộc vào độ sâu

và cấu trúc địa hình đáy khu vực. Chiều cao của sóng là một đặc trưng quan trọng,

bởi khi đổ vào bờ sóng gây ra áp lực phá vỡ bờ và tạo ra dòng năng lượng sóng chi

phối sự vận chuyển và lắng đọng các trầm tích đáy. Đối với các VCSVB Bắc Trung

Bộ, công trình nghiên cứu đã sử dụng số liệu sóng nhiều năm tại trạm đo sóng gần

nhất là Bạch Long Vỹ và Cồn Cỏ, để phân tích đặc trưng sóng ở khu vực nghiên

cứu (Bảng 2.4).

50

Mùa đông (II/1988)

Mùa hè (VI/1988)

Trạm

Tần suất

Khoảng độ cao có tần suất lớn

Khoảng độ cao có tần suất lớn

Hướng sóng

Hướng sóng

Tần suất (%)

(%)

(m)

(m)

Cửa vịnh

Đông bắc

65

T

1 - 3

1 - 3

62

Bắc Bộ

92

32

0,5 - 1,5

TN

0,5 - 0,75

Đảo Cồn Cỏ

Đông bắc, bắc

Cửa Thuận

Đông bắc

99

0,25 - 3

Đ

93

0,25 - 1

An

Bảng 2.4. Một số đặc trưng sóng cửa vịnh Bắc Bộ và ven bờ Thừa Thiên Huế

Nguồn: [94]

Chế độ sóng ở khu vực nghiên cứu được chia thành 2 mùa chính. Về mùa

đông (từ tháng XI đến tháng III năm sau), ở VCSVB sông Mã, sóng có hướng thịnh

hành là đông bắc, độ cao trung bình 1  3 m; ở VCSVB sông Thạch Hãn, sóng biển

có hướng thịnh hành là đông bắc, đông với độ cao sóng trung bình 0,5  1,5 m, độ

cao sóng cực đại đạt 6,0 m; ở VCSVB sông Hương, sóng biển có hướng thịnh hành

là đông bắc, với độ cao sóng trung bình 0,25  3 m (Bảng 2.4). Về mùa hè (từ tháng

V đến tháng IX), ở VCSVB sông Mã, sóng có hướng thịnh hành là Tây, độ cao

trung bình 1  3 m; ở VCSVB sông Thạch Hãn, sóng biển có hướng thịnh hành là

Tây Nam, với độ cao sóng trung bình 0,5  0,75 m, độ cao sóng cực đại đạt 4,0 m; ở

VCSVB sông Hương, sóng biển có hướng thịnh hành là đông bắc, với độ cao sóng

trung bình 0,25  1 m, vào các tháng IX, X, khi có bão, độ cao sóng có thể đạt 6,0m

(Bảng 2.5). Như vậy, hướng sóng chính vào mùa đông ở các VCSVB sông Mã,

Thạch Hãn và sông Hương, sóng có tần suất và độ cao lớn, phần lớn sóng có hướng

vuông góc với đường bờ. Trong các tháng mùa hè, sóng có hướng Tây, Tây Nam và

Đông chiếm ưu thế, với độ cao nhỏ, có mức năng lượng thấp, hướng sóng không tác

động mạnh tới đường bờ biển [91], [94].

Bảng 2.5. Độ cao sóng lớn nhất tại trạm Cồn Cỏ

Đặc trưng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Độ cao (m) 4,4 4,0 4,4 4,0 3,5 4,0 3,5 3,0 4,0 6,0 6,0 4,4 6,0

Hướng ĐB ĐB ĐB B ĐB TB TB TN ĐB B B ĐB B

Nguồn [91]

51

Chế độ triều

Chế độ triều ở Bắc Trung Bộ diễn biến phức tạp, xen kẽ nhau giữa nhật triều

đều, nhật triều không đều, bán nhật triêu đều và bán nhật triều không đều. Chế độ

triều khác nhau theo không gian: nhật triều đều ở Thanh Hóa, nhật triều không đều

ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, bán nhật triều không đều ở Quảng Trị và bán

nhật triều đều ở Thừa Thiên - Huế. Biên độ triều thay đổi theo không gian, giảm

dần từ Nga Sơn đến cửa Thuận An và tăng dần từ cửa Thuận An đến Lăng Cô. Thời

gian triều dâng và rút ra cũng thay đổi rất rõ theo không gian: từ Nga Sơn đến Cửa

Việt, triều dâng < triều rút ra (Td < Tr), tại cửa Thuận An triều dâng tương đồng với

triều rút ra (Td Tr).

Đoạn Thanh Hoá - Quảng Bình có chế độ nhật triều không đều, độ cao mực

nước triều trung bình khoảng 1,2  2,5 m và giảm dần từ Bắc vào Nam. Đoạn

Quảng Trị - Thừa Thiên Huế có chế độ thuỷ triều được xem là phức tạp nhất và

thiên về bán nhật triều không đều. Độ lớn thuỷ triều trung bình trong kỳ nước

cường của khu vực đạt khoảng 0,6  1,1 m. Riêng đối với vùng cửa Thuận An và

lân cận thuỷ triều mang tính chất bán nhật triều đều, độ lớn thuỷ triều trung bình

trong kỳ nước cường cửa Thuận An và lân cận đạt 0,4  0,5 m (Bảng 2.6).

Bảng 2.6. Chế độ triều và biên độ triều tại các cửa sông

Khu vực cửa sông Chế độ triều Biên độ mực triều (m)

Sông Mã Nhật triều không đều 1,58 - 3,19

Sông Thạch Hãn Bán nhật triều không đều 0,6 - 1,1

Sông Hương Bán nhật triều đều 0,35 - 0,50

Nguồn [56], [92]

Dòng chảy ven bờ

Dòng chảy ven bờ diễn ra rất phức tạp và mang theo tính mùa. Dòng chảy

ven bờ đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các dòng chuyển động cơ

học của các hạt vật chất ở dải ven bờ. Dòng chảy ven bờ biển và cửa sông là tổng

hợp của nhiều thành phần như thành phần dao động có chu kỳ (dòng triều) và thành

phần những dao động không có chu kỳ (dòng chảy gió, dòng chảy sóng, dòng chảy

sông...). Dải ven bờ biển Bắc Trung Bộ chịu sự chi phối của hệ thống dòng chảy

Bắc - Nam trong cả hai mùa: mùa đông và mùa hè, dòng chảy này xuất hiện ở độ

52

sâu từ l0m trở lên. Về mùa đông, phần lớn dòng chảy quan trắc có hướng bắc với

tốc độ dòng chảy khoảng 30m/s; về mùa hè, ngoài sự tham gia của dòng triều, dòng

chảy gió, còn có sự tham gia của dòng chảy lũ, do đó sự biến đổi rất phức tạp. Tốc

độ dòng chảy lớn và theo hướng Nam và Tây Nam.

Dòng chảy ven bờ đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các

chuyển động cơ học của các hạt vật chất vùng ven bờ ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

Dòng chảy ven bờ biển và ven bờ cửa sông là tổng hợp của nhiều thành phần như

thành phần dao động có chu kỳ (dòng triều) và thành phần những dao động không

có chu kỳ (dòng chảy gió, dòng chảy sông...). Dòng chảy ven bờ ở Bắc Trung Bộ

chịu sự chi phối mạnh mẽ của hai mùa gió (Đông Bắc và Tây Nam) đồng thời cũng

chịu ảnh hưởng không nhỏ của địa hình đáy biển. Về mùa đông, dòng chảy ven bờ

phát triển mạnh chủ yếu là hướng Bắc, Đông Bắc; cường độ, tần suất của các dòng

chảy này mạnh hơn và cũng ổn định hơn các sóng trong mùa hè. Trong thời gian

mùa hè, dòng chảy ven bờ với các hướng chính là Đông, Đông Nam. Trong thời kỳ

chuyển tiếp dòng chảy do sóng có hướng đông bắc, đông. Từ Bắc xuống Nam của

khu vực nghiên cứu (từ VCSVB sông Mã đến sông Hương), hướng dòng chảy thay

đổi theo hình thế đường bờ và có hướng thay đổi từ Tây Nam đến Nam, Nam Đông

Nam. Tốc độ dòng ven bờ trung bình 20 - 25 cm/s. Như vậy, lượng xuất chuyển bùn cát dọc bờ và đạt giá trị 3,5 triệu m3/năm (Bảng 2.7)

Bảng 2.7. Lượng xuất chuyển bồi tích do sóng dọc bờ tại trạm Cồn Cỏ

Hướng sóng Lượng xuất chuyển (m3/năm) Cộng tròn (m3/năm)

Tây bắc 298 996

Bắc, tây bắc 26 675

Bắc 1 600 015 2012.103

Bắc, đông bắc 67 174

Đông bắc 19 085

Đông bắc - 645 054

Bắc, đông bắc - 64 065

Đông - 756 719 -1490.103

Đông, đông nam - 23 013

Đông nam - 1 414

Tổng 3 502 210 522.103

Nguồn:[94]

53

2.2.4.2. Vai trò của sóng, triều và dòng ven bờ

Sóng là động lực chính gây nên sự biến động đường bờ. Dưới tác động của

sóng và dòng chảy sóng, bùn cát vùng ven bờ luôn được vận chuyển và phân phối

lại. Quá trình đó diễn ra không phải giống nhau trên tất cả các vị trí của đường bờ

biển mà tùy thuộc vào hình thái và địa hình của mỗi đoạn bờ biển. Những hiện

tượng đột biến bất thường xảy ra như bão và áp thấp nhiệt đới, làm cho năng lượng

của sóng tập trung vào một điểm cụ thể nào đó dẫn đến những thiệt hại nghiêm

trọng cho con người, nếu như không có biện pháp phòng chống thích hợp, giảm

thiểu thiệt hại kịp thời. Do hướng gió thay đổi theo mùa, nên quá trình biến động

địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ mang tính chất mùa khá điển hình. Hướng

sóng chính vào mùa đông ở các VCSVB sông Mã, Thạch Hãn và sông Hương, sóng

có tần suất và độ cao lớn, có hướng vuông góc với đường bờ, nên đường bờ biển bị

tác động khá mạnh mẽ, gây mài mòn, xói lở bờ biển. Khi mực nước dâng cao như

VCSVB sông Mã, sóng vỗ được vào lớp đất cao hơn của bờ biển, đê biển (thường

là lớp đất kém bền vững hơn các lớp thấp hơn), do vậy dễ gây xói lở hơn.

Thuỷ triều có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các VCSVB Bắc

Trung Bộ. Chế độ thuỷ văn vùng hạ du của các sông, nhất là trong mùa kiệt, chế độ

dòng chảy sông và dòng bùn cát đều bị chi phối bởi thủy triều. Tại VCSVB sông

Mã, chế độ triều là nhật triều không đều có độ cao 1,58 - 3,19 m. Như vậy, ở

VCSVB sông Mã tác động của dòng triều vào các dạng địa hinh là khá lớn, đôi khi

mực triều lớn nhất đo được ở Hoàng Tân lên tới 3,2 m và chân triều thấp nhất là -

1,81m. Sự chênh lệch này gây biến động khá mạnh tới đường bờ biến trong khu

vực. Trái lại, đối với khu vực ven biển sông Thạch Hãn và sông Hương dòng triều

có biên độ triều nhỏ, trung bình 0,5 m đã đóng vai trò không lớn trong hoạt động

làm thay đổi địa hình trong khu vực. Đặc biệt vào mùa lũ, dòng triều hầu như không

có khả năng ngăn cản dòng nước lũ từ thượng nguồn đổ về. Vào mùa kiệt, dòng

triều là yếu tố quy định chế độ dòng chảy ở cửa sông, song với trị số tốc độ không

lớn, làm khả năng di chuyển bùn cát, vật chất trao đổi giữa biển và cửa sông lại xảy

ra ở mức độ yếu.

Ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, kết quả của sự tương tác giữa dòng triều và

dòng sông hình thành dòng chảy tổng hợp. Trong những ngày có lũ lớn, tốc độ dòng

54

chảy lũ triệt tiêu dòng triều, trong chu kỳ ngày đêm hầu như chỉ xuất hiện một

hướng chảy ra biển, mặc dù dao động mực nước triều vẫn diễn ra khá mạnh ở cửa

sông. Nước triều dồn ứ mạnh ở pha triều dâng làm xuất hiện nhiều vùng nước chạy

quẩn giữa hệ thống val, bãi ngầm, giữa các cồn và luồng lạch phụ ở cửa sông đưa

đến hiện tượng lắng đọng trầm tích. Ngược lại, khi triều rút dòng chảy tổng hợp có

tốc độ cao, gây nên hiện tượng xói sâu lòng dẫn ở cửa sông, phá vỡ các bar chắn

cửa sông. Ở khu vực ven bờ ngoài thềm biển nông, dòng tổng hợp là kết quả tương

tác của hầu hết các dòng thành phần, trong đó chủ yếu là dòng sông, dòng triều và

dòng sóng dọc bờ. Sự tương tác giữa chúng, hoặc triệt tiêu dần hoặc cộng hưởng tốc

độ làm cho cả hướng và trị số tốc độ luôn biến đổi phụ thuộc vào chu kỳ dao động

mực nước ngày đêm của thuỷ triều, của mùa gió tác động và chế độ thuỷ văn của

các sông ở Bắc Trung Bộ.

Các dòng ven bờ ở các VCSVB Bắc Trung Bộ có lượng xuất chuyển bùn cát dọc bờ đạt 3,5 triệu m3/năm. Chính dòng chảy ven bờ đã hình thành các chuyển

động vật chất, tạo địa hình bờ. Do đó, vai trò của dòng ven bờ là rất lớn trong biến

động địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ. Chế độ dòng chảy ven bờ do dòng nhật

triều đóng vai trò chủ đạo như ở VCSVB sông Mã. Ở vùng biển nông ngoài đới

sóng vỡ đến độ sâu 20 m ở VCSVB sông Mã, dòng triều có phương ĐB-TN. Tính

chất nhật triều không đều biểu hiện rõ. Đó là vùng có địa hình phức tạp, sóng triều

bị biến dạng và năng lượng phân tán thành các sóng nước nông. Trong mùa cạn

dòng triều rút thường kéo dài từ 12 đến 15h, ngược lại, nước chảy vào sông khi

triều dâng từ 8 đến 11h. Điều đó chứng tỏ rằng, dòng chảy sông trong mùa cạn

không đáng kể, song cũng có ảnh hưởng đẩy sóng triều ra ngoài biển. Trong mùa lũ,

nước từ trong sông đổ ra nhiều, thời gian triều rút lớn hơn nhiều thời gian triều

dâng. Vào những ngày lũ lớn, sóng lũ đã lấn át sóng triều, đẩy sóng triều ra xa. Như

vậy, ở khu vực này dòng triều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình động lực

hiện đại. Dòng triều không những chỉ có khả năng đưa các hạt trầm tích lơ lửng đi

xa, mà còn có khả năng bào mòn các bar, val cát ngầm, sườn bờ ngầm. Dòng sóng

ven bờ hình thành trong đới sóng vỡ, năng lượng sóng khi vỡ đã tạo ra dòng chảy.

Trên thực tế dòng chảy sóng xuất hiện gián đoạn và không liên tục giữa các chu kỳ

sóng vỡ. VCSVB sông Mã có địa hình khá bằng phẳng, song lại bị chia cắt nhiều

bởi đê biển và các bar, cồn cát trước cửa sông. Phía ngoài cùng là sườn bờ ngầm

thường xuyên ngập nước, giữa là các bãi triều rộng, phẳng và trong cùng là các cồn

55

cát nổi cao và các đê biển. Khi triều lên từ chân triều thấp đến đỉnh triều cao đã tạo

ra đới sóng vỡ. Tại sườn bờ ngầm, ven các chân đê và sườn bờ các cồn cát do độ

dốc đới bờ lớn, sóng bị phá huỷ trong dải hẹp tạo ra dòng sóng có trị số tốc độ cao.

Dòng chảy trôi do gió thuộc loại dòng chảy ổn định, phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ

gió, hướng gió và thời gian tồn tại của hướng gió. Ngoài ra, dòng chảy trôi do gió

còn bị ảnh hưởng rất lớn của địa hình, ở mỗi khu vực khác nhau trị số tốc độ cũng

khác nhau. Các VCSVB Bắc Trung Bộ là vùng biển hàng năm chịu tác động mạnh

của gió mùa Đông Bắc, gió mùa Đông Nam và cũng thường xuyên chịu tác động

của bão, nên dòng trôi do gió ở đây tương đối phát triển. Nhìn chung, trong các

tháng mùa hè, dòng trôi ít phát triển hơn các tháng mùa đông do trường gió Đông

Bắc ổn định hơn trường gió Đông Nam. Mùa đông, dòng trôi do gió có xu thế mạnh

dần từ Bắc vào Nam. Ở VCSVB sông Mã, tốc độ dòng trôi phát triển khá mạnh đã

ảnh hưởng đến sự phát triển của các cồn, bar, val. Trên các VCSVB sông Thạch

Hãn và sông Hương, bờ biển thoáng, bị phá hủy, xói lở vì thiếu hụt phù xa bồi tích.

Đặc biệt, tại VCSVB sông Hương, với đường bờ biển thẳng, thoáng, sông Hương

trước khi đổ ra biển lại đổ vào phá Tam Giang, lượng bồi tích ít, lại đón hầu hết các

hướng sóng tác động mạnh trong mùa đông và mùa hè, nên ở đây bờ biển đang

trong tình trạng xói lở nghiêm trọng.

2.2.5. Nước biển dâng hiện đại do biến đổi khí hậu

2.3.5.1. Đặc điểm của nước biển dâng

Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng được trú trọng quan

tâm không chỉ ở nước ta mà còn trên toàn thế giới. Nước biển dâng đã trở thành một

yếu tố rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến đời sống của con người. Chính vì vậy,

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng các kịch bản về nước biển dâng ở nước

ta (Bảng 2.8, 2.9).

Bảng 2.8. Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình

Tên trạm Thời gian Xu thế Chỉ số (Đơn vị: mm/năm) Đánh giá

quan trắc biến đổi kiểm

Sầm Sơn Hòn Ngư Cồn Cỏ Sơn Trà 1998 - 2014 1961 - 2014 1981 - 2014 1978 - 2014 3,65 -5,77 0,61 2,89 nghiệm 0,80 0,71 0,11 0,70 Tăng Giảm Không rõ xu thế Tăng Nguồn:[95]

56

Thực tế ở nước ta hiện nay, số liệu mực nước quan trắc tại các trạm Hải văn

ven biển Việt Nam cho thấy, xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không

giống nhau. Hầu hết các trạm có xu hướng tăng, tuy nhiên, một số ít trạm lại không

thể hiện rõ xu hướng này. Xu thế biến đổi trung bình của mực nước biển dọc bờ

biển Việt Nam là khoảng 2,8 mm/năm. Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm

1993  2010 cho thấy, xu thế tăng mực nước biển trên toàn Biển Đông là 4,7

mm/năm, phía đông của Biển Đông có xu thế tăng nhanh hơn phía Tây. Chỉ tính

cho dải ven bờ Việt Nam, ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng

tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9

mm/năm [95]. Điều đó chứng tỏ nước biển đang dâng lên, tiến vào đất liền trên suốt

dọc bờ biển của nước ta, dẫn đến nhiều đoạn bờ bị chìm ngập dưới mực nước biển

và năng lượng sóng truyền vào bờ cũng được tăng lên, kết quả là mức độ xói lở bờ

tăng lên. Theo số liệu quan trắc tại các trạm (Bảng 2.9) cho thấy, VCSVB sông Mã

đang chịu tác động mạnh của quá trình nước biển dâng, với biên độ 3,65 mm/năm.

Đặc biệt, theo kịch bản tính toán nước biển dâng trong tương lai thì mực nước biển

của các VCSVB Bắc Trung Bọ sẽ tăng trung bình là 13 cm vào năm 2030. Một số

nghiên cứu gần đây cho rằng, mực nước biển toàn cầu có thể tăng 50140 cm vào

năm 2100. Theo kịch bản Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng ở Việt Nam của Bộ

Tài nguyên và Môi trường xây dựng năm 2012 cho thấy, vào cuối thế kỷ XXI,

Trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57  73 cm [11].

Bảng 2.9. Mực nước biển dâng theo kịch bản

(Đơn vị: cm)

Khu vực Các mốc thời gian của thế kỷ 21

Hòn Dáu-Đèo Ngang

2030 2040 2050 17 13 (10 ÷ (8 ÷ 25) 19) 21 (13 ÷ 31) 2060 2070 2080 2090 2100 34 25 (21 ÷ (16 ÷ 51) 38) 30 (18 ÷ 44) 39 (24 ÷ 58) 44 (27 ÷ 65)

Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 13 (8 ÷ 19) 17 (11 ÷ 25) 21 (13 ÷ 31) 26 (16 ÷ 38) 30 (19 ÷ 44) 35 (22 ÷ 51) 40 (25 ÷ 58) 44 (28 ÷ 65)

Nguồn: [95]

Ngoài ra, trên các VCSVB Bắc Trung Bộ còn xuất hiện nước biển dâng do

bão. Theo thống kê, tính từ năm 1960 đến 2013 ở khu vực này có tất cả 83 cơn bão

57

có ảnh hưởng trực tiếp hoặc đổ bộ vào. Tính trung bình ở khu vực Bắc Trung Bộ có

1,5 cơn bão/năm. Hoạt động của bão diễn ra theo quy luật mùa. Mùa bão sớm nhất

bắt đầu từ tháng V và kéo dài đến tháng XI. Bão tập trung chủ yếu trong 2 tháng

(tháng IX và tháng X), nhiều nhất vào tháng IX (0,6 cơn/năm, chiếm 37%), tháng X

(0,4 cơn/năm, chiếm 28%). Đặc biệt, Trong tổng số 83 cơn bão, bão thường (cấp 8,

9) chiếm tỷ lệ lớn nhất 35% (29 cơn), rồi đến bão mạnh 34% (28 cơn), bão rất mạnh

18% (15 cơn) và nhỏ nhất là áp thấp nhiệt đới 11 cơn (13%). Trong bão, tốc độ gió

trung bình tăng và dẫn đến tăng độ cao của sóng, cuối cùng năng lượng sóng tác

động tới bờ biển tăng lên. Tốc độ gió trong bão từ 17,2  32,7 m/s sẽ gây sóng lớn

với độ cao từ 3,5  8,5 m. Gió trong bão còn gây nước dâng, làm cho tác động của

sóng và dòng chảy ven bờ vào bờ biển càng mãnh liệt hơn (Bảng 2.10).

Bảng 2.10. Nước dâng do bão ở các VCSVB Bắc Trung Bộ

Nước dâng do bão

Nước dâng do bão

Khu vực ven biển

cao nhất đã xảy ra

cao nhất có thể xảy ra

(cm)

(cm)

Quảng Ninh - Thanh Hóa

350

490

Nghệ An -Hà Tĩnh

440

500

Quảng Bình - Thừa Thiên Huế

390

420

Nguồn: [95]

2.2.5.1. Vai trò của nước biển dâng

Yếu tố nước biển dâng có vai trò lớn, tác động trực tiếp đến biến động địa

đại hình các VCSVB Bắc Trung Bộ, cả phần lục địa phía trong sông và toàn bộ dải

bờ biển phía ngoài sông. Quá trình dâng lên của mực nước biển đã thúc đẩy quá

trình phá huỷ, xói lở bờ biển, bờ sông và ngập lụt lâu dài của vùng hạ lưu các con

sông. Theo các Kịch bản Nước biển dâng: nếu nước biển dâng 1 m, sẽ có khoảng

trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập; gần 9%

dân số các tỉnh ven biển miền Trung bị ảnh hưởng trực tiếp [95]. Nước biển dâng do

bão có ảnh hưởng lớn tới địa hình vùng cửa sông ven biển, đặc biệt tới đường bờ

biển và các cửa sông ở các VCSVB Bắc Trung Bộ. Các VCSVB sông Thạch Hãn

và sông Hương bị gánh chịu hậu quả của nước biển dâng lớn hơn nhiều so với

VCSVB sông Mã. Hậu quả của nó sẽ làm cho hệ sinh thái ven biển bị phá huỷ,

nhiều công trình ven biển như đê, đập, cầu cảng, khu du lịch, v.v bị tàn phá. Tốc độ

58

vận chuyển bùn cát sẽ tăng, có thể gây bồi lấp các cửa sông đang ở trạng thái ổn

định và chắn các cửa ra vào của các cảng biển. Bão còn đi kèm với mưa lớn, gây

ngập lụt, phá hủy các dạng địa hình trong sông và ven bờ sông như ở VCSVB sông

Hương. Nước biển dâng còn làm chậm quá trình tiến ra phía biển của các VCSVB

sông Mã.

2.3. Yếu tố nhân sinh

Các VCSVB Bắc Trung Bộ là nơi tập trung dân cư sinh sống, đồng thời

những hoạt động KT-XH của con người ngày càng phát triển đã ảnh hưởng trực tiếp

đến biến động môi trường tự nhiên nơi đây. Các tác động này có thể trực tiếp hoặc

gián tiếp ảnh hưởng đến sự biến động địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ; trong đó

phải kể đến là: hoạt động phát triển các khu tập trung dân cư, khu kinh tế, xây dựng

đô thị, các công trình kinh tế dân sinh; hoạt động xây dựng các công trình hồ chứa,

đê, đập, quai đê lấn biển; hoạt động nuôi trồng, thủy, hải sản, khai hoang mở rộng

đất đai sản xuất; hoạt động khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, v.v.

2.3.1. Xây dựng các công trình hồ chứa, đê, kè, đập, cống thoát nước

Trên khu vực Bắc Trung Bộ đã và đang xây dựng hàng nghìn hồ chứa lớn

nhỏ, làm biến động mạnh mẽ trạng thái môi trường tự nhiên, trong đó làm biến

động mạnh mẽ địa hình hiện đại trên bề mặt Trái đất. Việc xây dựng các hồ chứa là

rất cần thiết, phục vụ tích cực cho cuộc sống của con người. Tuy nhiên, chúng cũng

làm cho địa hình hiện đại các VCSVB Bắc Trung Bộ bị biến động mạnh mẽ trong

thời gian gần đây, ảnh hưởng trực tiếp đến quy hoạch phát triển KT-XH ở địa

phương. Xây dựng các công trình cảng, cầu cảng, kè nắn dòng vùng gần cửa sông sẽ làm thay đổi trạng thái cân bằng của dòng sông, dòng chảy sẽ thay đổi cả về lưu

lượng, hướng dòng và dòng bùn cát. Do đó, động lực của dòng chảy cũng thay đổi

đã gây nên nhiều biến động địa hình ở VCSVB. Những biến động địa hình diễn ra

theo mùa rõ rệt. Vào mùa cạn, lưu lượng dòng chảy và lượng bùn cát giảm rất nhiều

do tích tụ lại ở thượng nguồn và trong các hồ chứa, làm cho diễn biến ở cửa sông, bờ biển trở nên phức tạp. Tại các VCSVB, dòng triều chiếm ưu thế thúc đẩy quá trình xói lở bờ sông, bờ biển.

Trên lưu vực sông Mã đã xây dựng hàng trăm hồ chứa, trong đó có hồ thủy điện Cửa Đạt chứa hàng trăm triệu khối nước. Ở VCSVB sông Mã, lượng bùn cát

giảm đi rất nhiều khi hệ thống hồ chưa đi vào vận hành (Bảng 2.11). Động năng dòng dẫn giảm rõ rệt, lòng dẫn bị bồi lấp, ảnh hưởng mạnh tới các hoạt động giao thông thủy trên dòng sông Mã, thúc đẩy quá trình xói lở bờ sông phát triển. Một số

59

công trình thủy lợi sau khi đi vào hoạt động đã làm biến động mạnh mẽ địa hình ở

vùng cửa sông. Hậu quả nghiêm trọng xảy ra khi đập sông Bạng (ở Thanh Hóa) bị

vỡ năm 1978, làm xói lở ở một số xã ven sông, biển, gây mất nhà cửa của trên 200

hộ dân. Trên các lưu vực sông Cả, sông Gianh, sông Hương cũng tồn tại hàng nghìn

hồ chứa, trong đó có nhiều hồ thủy điện lớn như: Bản Vẽ, Phong Điền, Tả Trạch, v.v. Kể từ khi các hồ đó đi vào hoạt động, phát điện, dòng chảy, dòng bùn cát ở các

VCSVB giảm rõ rệt, thúc đẩy các quá trình xói lở bờ sông Thạch Hãn, sông Hương

phát triển mạnh mẽ. Công trình hồ Đá Mài hoạt động làm xói lở bờ sông ở xã Nhân

Trạch, Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Bảng 2.11. Lượng bùn cát theo mùa, trước và sau khi có hồ trên sông Mã

Giai đoạn trước 2010 Giai đoạn sau 2010

(1959-2010) (2011-2014) Thời gian

Cẩm Thủy (tấn) Cẩm Thủy (tấn)

Mùa lũ 3.285.831 4.470.764

Mùa kiệt 177.032 555.713

Tổng năm 3.462.863 5.026.477

Nguồn:[93]

Hệ thống đê sông và đê biển đã được xây dựng, hình thành từ lâu đời và

ngày càng được tu bổ, gia cố cho ổn định lâu dài (Bảng 2.12). Đây là hệ thống công

trình để phòng chống lũ, lụt cho vùng đồng bằng và ven biển, đảm bảo sự bình yên

cho hàng triệu người trong mùa mưa, bão lũ. Hệ thống đê biển, ngoài việc ngăn các

loại sóng biển, thuỷ triều, nước biển dâng và ngăn mặn, còn tạo điều kiện để khai hoang phát triển vùng đồng bằng ven biển, nuôi trồng, khai thác thủy hải sản. Ở

VCSVB sông Mã, sông Cả, phù sa sông hàng năm bồi đắp cho đồng bằng ngày

càng được mở rộng, tiến ra phía biển. Hệ thống đê đã triệt tiêu khả năng lắng đọng

phù sa ở bãi triều cao.

Bảng 2.12. Chiều dài đê biển và số lượng cống dưới đê

Tỉnh Chiều dài đê biển (km) Số cống dưới đê

Thanh Hóa 94,40 79

Nghệ An 184,00 109

Hà Tĩnh 321,00 158

Quảng Bình 110,00 55

Quảng Trị 93,70 26

Thừa Thiên Huế 162,00 59

Nguồn:[67]

60

2.3.2. Hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản, khai hoang lấn biển, khai khoáng và

khai thác cát

Từ lâu, con người đã biết quai đê lấn biển, khai hoang phục hóa, mở mang

đất đai để canh tác, nuôi trồng thủy, hải sản. Hoạt động kinh tế này đã làm biến

động địa hình hiện đại các VCSVB Bắc Trung Bộ. Tính đến nay, diện tích có thể

phát triển nuôi trồng thủy sản toàn vùng Bắc Trung Bộ là 163.896 ha; trong đó, diện

tích nuôi nước ngọt 115.557 ha, mặn lợ 48.339 ha. Nuôi trồng thủy, hải sản mang

lại nguồn lợi kinh tế cao, nhưng chính việc gia tăng diện tích nuôi trồng thủy, hải

sản, chuyển đổi cơ cấu trông lúa sang nuôi trồng ở vùng mặn hóa ven biển, không

những làm biến động địa hình, mà còn làm gia tăng xâm nhập mặn ở VCSVB Bắc

Trung Bộ. Tác động làm suy giảm rừng ngập mặn, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh

thái rừng ngập mặn, đã làm thúc đẩy quá trình xói lở bờ sông, bờ biển ở khu vực

này. Việc khai hoang lấn biển ở VCSVB Bắc Trung Bộ, đặc biệt mạnh mẽ ở

VCSVB sông Mã, sông Cả cũng đã có những tác động không nhỏ đến biến động địa

hình khu vực. Việc quai đê lấn bãi ven sông quá mức đã thu hẹp lòng dẫn tự nhiên

và chiếm dụng vùng đất thấp, gây ra sự mất cân bằng tự nhiên, cân bằng cán cân

bùn cát - phù sa. Ví dụ như ở VCSVB sông Mã, nhiều đoạn bờ biển sau khi có đê

đã bị xói lở khá nghiêm trọng.

Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ phân bố các mỏ khoáng sản có ý nghĩa kinh

tế như: các mỏ titan, sắt, vàng, v.v. Trong đó, phải kể đến là các mỏ titan có trữ

lượng lớn như ở Thừa Thiên Huế (4709451 tấn), Quảng Trị (587000 tấn), Quảng

Xương, Thanh Hóa (80198 tấn), Cửa Nhượng thuộc tỉnh Hà Tĩnh và Cửa Gianh

(23.688.000 tấn). Ngoài ra, nguồn bồi tích (cát, sạn, sét, v.v) trên các sông ở Bắc

Trung Bộ đã cung cấp nguồn vật liệu xây dựng lớn cho xây dựng các công trình ở

khu vực này. Trong quá trình khai thác sa khoáng inmenit ở dải cồn cát ven biển, bề

mặt địa hình các cồn cát và trật tự địa tầng của các lớp cát hoàn toàn bị xáo trộn và

thay đổi lớn so với ban đầu. Bề mặt địa hình đã bị biến động mạnh mẽ với sự hình

thành (những hố, hào, trũng có kích thước lớn, sâu 5 - 10m, hoặc 20m và những đụn

cát mới có độ cao tới 6 - 10m so với mặt bằng xung quanh, cấu thành từ những vật

liệu cát tơi xốp, luôn di động do gió. Mặt khác, việc khai thác khoáng sản đã phá

hủy rừng phòng hộ, làm cho tác động của biển vào đất liền càng mạnh mẽ hơn, địa

61

hình bề mặt càng bị biến động mạnh mẽ hơn, quá trình xói lở bờ phát triển.

Hoạt động khai thác cát, vật liệu xây dựng trên các sông Mã, Cả, Gianh,

Thạch Hãn, Hương, v.v chủ yếu vẫn sử dụng để làm vật liệu xây dựng đối với cát

thô và cát mịn sạch, đối với cát có nhiều thành phần tạp chất (bụi, sét) chủ yếu được

sử dụng để san lấp nền. Mức độ đô thị hóa ngày càng tăng cao, yêu cầu của phát

triển hạ tầng cơ sở, nên nhu cầu về lượng vật liệu xây dựng ngày càng lớn; trong khi

lượng phù sa ở các dòng sông bị giảm đi do việc xây dựng khá nhiều hồ chứa trên

lưu vực các sông. Hiện nay, việc khai thác cát thiếu quy hoạch đã gây thay đổi cán

cân bồi tích ở lòng sông và cửa sông, dẫn đến sự biến động lớn về lòng dẫn của

sông, hai bên bờ sông và ở cửa sông. Do dòng chảy thiếu hụt lượng bồi tích đã làm

thúc đẩy quá trình xói lở bờ, xâm thực lòng sông.

2.3.3. Hoạt động xây dựng các khu tập trung dân cư, khu kinh tế.

Các VCSVB Bắc Trung Bộ là nơi tập trung dân cư, phát triển các đô thị,

thành phố và các khu kinh tế. Bởi lẽ, nơi đây là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên

thuận lợi cho cuộc sống của con người, cho phát triển KT-XH ở mỗi địa phương.

Theo thống kê, hàng năm dân số ở khu vực tăng lên theo cả 2 hướng tự nhiên và cơ

học (Bảng 2.13). Mật độ dân số tăng cao, đặc biệt nhanh như ở các huyện ven biển

tỉnh Quảng Trị (1137 người/km2), gây sức ép to lớn, ảnh hưởng nhiều đến đời sống,

kinh tế cũng như môi trường ở VCSVB.

Bảng 2.13. Dân số và mật độ dân số các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ

Tỉnh Dân số (nghìn người) Mật độ dân số (người/km2)

Thanh Hóa 3496,1 314

Quảng Trị 616,4 130

Thừa Thiên Huế 1131,8 225

Nguồn [13]

Địa hình bị biến động mạnh mẽ do sức ép về xây dựng các công trình an sinh

xã hội (trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính, v.v), các khu tập trung dân cư, v.v.

Các thành phố Thanh Hóa và Sầm Sơn trên VCSVB sông Mã mở rộng về phía biển,

mở rộng xây dựng các công trình giao thông, khu dân cư, các công trình an sinh xã

hội đã làm cho địa hình hiện đại bị biến động mạnh mẽ. Trên các VCSVB sông

Thạch Hãn và sông Hương cũng vậy.

62

2.4. Tiểu kết chương

Địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ được hình thành, phát triển và biến

động bởi tác động của các yếu tố nội, ngoại và nhân sinh. Trong đó, các yếu tố nội

sinh phải kể đến là cấu trúc tân kiến tạo và hoạt động phá hủy đứt gẫy; các yếu tố

ngoại sinh bao gồm: chế độ dòng chảy, dòng bùn cát, sóng, triều, dòng ven bờ và

nước biển dâng; yếu tố nhân sinh phải kể đến là xây dựng các công trình hồ chứa,

đê, đập, kè, hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản và khai hoang lấn biển, hoạt động

khai thác khoáng sản và xây dựng các khu tập trung dân cư và khu kinh tế.

Vai trò của mỗi yếu tố trong hình thành, phát triển và biến động địa hình mỗi

VCSVB Bắc Trung Bộ cũng khác nhau theo không gian và thời gian. VCSVB sông

Mã nằm ở đầu mút đông nam của các đới đứt gẫy phương TB-ĐN Sông Cả, vai trò

của yếu tố nội sinh đóng vai trò quan trọng, khống chế sự hình thành, phát triển

cũng như cấu trúc địa hình bề mặt Trái đất. Đồng thời, vai trò của các yếu tố do

sông, sông - biển chiếm ưu thế trong hình thành địa hình có nguồn gốc sông, sông -

biển phân bố rộng rãi ở VCSVB sông Mã. Trong khi các VCSVB sông Thạch Hãn

và sông Hương lại nằm trong cấu trúc hạ lún Quảng Trị - Huế phương TB-ĐN, song

song với bờ biển hiện đại, nên vai trò của yếu tố kiến tạo cũng đóng vai trò khống

chế sự hình thành và phát triển địa hình. Yếu tố biển, sông - biển nổi trội hơn trong

hình thành kiểu địa hình nguồn gốc biển, sông – biển phân bố rộng rãi ở các

VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương.

Các quá trình địa mạo động lực (xói lở, bồi tụ) ở các VCSVB Bắc Trung Bộ

chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố nội sinh (chuyển động hiện đại vỏ Trái Đất,

hoạt động phá hủy đứt gẫy tích cực, v.v), ngoại sinh (động lực dòng chảy, dòng bùn

cát, dòng ven bờ, sóng, triều, v.v) và nhân sinh (hoạt động kinh tế của con người).

Hoạt động tích cực của các đới đứt gẫy và chuyển động hạ lún cục bộ là một trong

những yếu tố chủ đạo phát sinh xói lở các VCSVB Bắc Trung Bộ. Phần lớn các

điểm xói lở đều phân bố tại những nơi có đới đứt gẫy hoạt động cắt qua: xã Hải Lộc

- Hậu Lộc, Hải Thịnh - Tĩnh Gia, Diễn Hải, Diễn Kim, Diễn Thịnh - Diễn Châu,

Cảnh Dương, Quảng Phúc - Quảng Trạch, Cửa Thuận An - Hương Trà và Hương

Thủy. Quá trình xói lở xảy ra với tốc độ và cường độ mạnh, rất mạnh đều trùng với

những đoạn bờ biển nằm trong phạm vi ảnh hưởng động lực đứt gẫy hoạt động

63

mạnh cắt ra bờ biển, hoặc ở những điểm nút giao nhau của các đới đứt gẫy hoạt

động. Tại những nơi này, cấu tạo bờ là các trầm tích bở rời, quá trình xói lở bờ

sông, bờ biển có điều kiện phát triển thường xuyên và với tốc độ lớn.

Như vây, có thể thấy được các quá trình tự nhiên khu vực cùng với các hoạt

động kinh tế xã hội của con người có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát

triển của VCSVB Bắc Trung Bộ. Sự tương tác giữa sông và biển đã tạo ra hệ cân

bằng động tự nhiên ở VCSVB, mà sự tồn tại của các đồng bằng, bãi triều, các cồn

cát, bar, gò nổi cao và các quá trình bồi lấp, xói lở là bức tranh chung phản ánh quá

trình cân bằng động nói trên. Chuyển động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại, đặc biệt

là hoạt động đứt gẫy đã góp phần thúc đẩy các quá trình hình thành, phát triển và

biến động địa hình. Cùng với nhịp độ phát triển KT-XH, các hoạt động của con

người, như: tập trung dân cư, xây dựng các hồ điều tiết nước vùng thượng lưu, đào

đắp các đầm, hồ, ao nuôi trồng thuỷ, hải sản cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự biến

động địa hình hiện đại của các VCSVB Bắc Trung Bộ. Do đó, nghiên cứu biến

động địa hình ở VCSVB phải được đặt trên cơ sở đánh giá tổng hợp một cách có hệ

thống vai trò của các yếu tố tác động thuộc các nhóm nhân tố nội, ngoại và nhân

sinh.

64

CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN

BẮC TRUNG BỘ

3.1. Khái quát địa hình, địa mạo khu vực

Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ được hình thành và phát triển do tác

động của nhiều yếu tố khác nhau: sông (chế độ dòng chảy, dòng bùn cát v.v), biển

(sóng, thủy triều, dòng ven bờ, nước biển dâng, v.v), tân kiến tạo (cấu trúc, hoạt

động phá hủy đứt gẫy, v.v) và hoạt động kinh tế của con người. Do đó, địa hình ở

đây rất phong phú và đa dạng về hình thái, nguồn gốc cũng như tuổi hình thành.

Chúng phân bố trên dải đồng bằng ven biển kéo dài từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên

Huế và bị phân cách bởi cá dải đồi, núi bóc mòn - xâm thực chạy cắt xuyên ra biển

(núi Hoành Sơn), núi cấu tạo bởi phun trào basalt (Gio Linh), v.v.

3.1.1. Đặc điểm địa hình, địa mạo

Địa hình vùng cửa sông Bắc Trung Bộ khá đa dạng. Về cơ bản có thể thấy

một số kiểu địa hình núi, đồi và đồng bằng sau đây:

- Địa hình đồi núi

+ Dãy núi bóc mòn - xâm thực cao >200m, chạy theo phương TB-ĐN và á vĩ

tuyến, phân bố khá rộng rãi phía tây dải đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ. Chúng

được cấu tạo bởi các trầm tích lục nguyên phun trào Paleozoi, Mezozoi với sườn

dốc >25o. Các quá trình bóc mòn, xâm thực phát triển mạnh mẽ.

+ Các núi sót bóc mòn - xâm thực cao khoảng từ 100 - 200m đến >300m,

phân bố rải rác trên bề mặt đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ, được cấu tạo bởi các

thành tạo trầm tích biến chất, magma xâm nhập tuổi Paleozoi, Mezozoi, có sườn

dốc >25o. Các quá trình bóc mòn, bóc mòn - xâm thực phát triển mạnh mẽ.

+ Các núi, đồi sót bóc mòn, rửa lũa cao khoảng 100 - 200m, phân bố rải rác

trên bề mặt đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, được cấu tạo bởi các

thành tạo cacbonat Paleozoi, với sườn dốc đứng. Các quá trình đổ lở và rửa lũa

chiếm ưu thế.

+ Các dải đồi bóc mòn rửa trôi bề mặt phân bố ở địa bàn các huyện Gio Linh

và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chúng được cấu tạo bởi các thành tạo phun trào

basalt Kainozoi muộn với sườn thoải, khoảng 15o - 25o. Các quá trình xâm thực, rửa

65

trôi bề mặt phát triển mạnh mẽ.

- Địa hình đồng bằng

+ Đồng bằng cao tích tụ - xâm thực có nguồn gốc sông, biển, sông - biển hỗn

hợp phân bố suốt dọc dải ven biển từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế, nằm tiếp

giáp với dải địa hình đồi núi, cao từ 10 - 15m đến 40 - 50m. Dải đồng bằng này gồm

các thềm sông, biển, sông - biển hỗn hợp.

+ Đồng bằng thấp tích tụ có nguồn gốc sông - biển, biển, đầm lầy với độ cao

<10m, phân bố khá phổ biến trên khu vực nghiên cứu thuộc địa bàn các tỉnh Thanh

Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

+ Đồng bằng tích tụ biển - vũng vịnh cao <2m, phân bố ở ven biển Thừa

Thiên Huế. Đây là dạng địa hình trũng thấp, nên thường xuyên bị ngập lụt khi có

mưa lớn.

+ Đồng bằng tích tụ biển - gió có độ cao từ 3-5m đến 10m phân bố chủ yếu

từ chân đèo Ngang đến chân đèo Hải Vân. Chúng được tạo nên từ tập hợp các cồn

cát, đụn cát có nguồn gốc biển - gió chạy song song với bờ biển.

- Địa hình bãi biển

+ Bãi biển mài mòn - tích tụ trên đá gốc phân bố ở ven biển Quảng Bình và

Hà Tĩnh.

+ Bãi biển mài mòn và tích tụ trên đá gốc và trầm tích bở rời chủ yếu phân

bố ở vùng đồng bằng sông Mã và sông Cả.

+ Bãi tích tụ biển - sinh vật phân bố ở ven biển Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Hình thái bề mặt khá bằng phẳng, tích tụ trầm tích bở rời cát hạt nhỏ, sét, bột, bùn.

+ Bãi biển tích tụ sông - biển tập trung ở các vùng cửa sông lớn như: sông

Mã và sông Cả.

+ Bãi tích tụ do sóng phân bố dọc dải ven biển từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên

Huế. Bề mặt bãi biển thường dốc, 3 - 5o, bãi hẹp không quá 200 - 300m, cấu tạo bởi

cát hạt trung đến thô.

3.1.2. Nhận xét chung

Như vậy có thể thấy được rằng, địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ bao gồm

66

các cồn, bãi, bar, val, v.v ở ven biển, cửa sông; các bề mặt tích tụ thềm, bãi bồi

thấp, bãi bồi cao, v.v ở dọc sông, trong sông và phần đất liền ven biển; được cấu tạo

bởi các trầm tích đa nguồn gốc: sông, sông - biển, biển, đầm lầy, v.v. Các kiểu địa

hình ở các VCSVB bao gồm các kiểu nguồn gốc thành tạo khác nhau: địa hình bóc

mòn - xâm thực, địa hình do sông, do biển và hỗn hợp sông - biển, sông - đầm lấy,

biển - đầm lầy, biển - gió, v.v. Trong đó, VCSVB sông Mã, sông Cả và sông Gianh

phổ biến hơn cả là địa hình có nguồn gốc sông, sông - biển; VCSVB sông Thạch

Hãn và sông Hương phổ biến là nguồn gốc biển, sông - biển, đầm lầy, đầm phá,

vũng vịnh.

Cấu trúc địa hình ở các VCSVB sông Mã, sông Cả và sông Gianh tương đối

giống nhau, phần lớn phát triển theo phương TB-ĐN, á kinh tuyến theo hướng tiến

ra biển. Trong khi đó, cấu trúc địa hình của các VCSVB sông Thạch Hãn và sông

Hương phát triển song song với bờ biển hiện tại.

Phần lớn các kiểu, dạng địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ được hình

thành trong Pleistocen giữa - muộn đến nay. Các kiểu địa hình thềm mài mòn, dải

đồi bóc mòn, bóc mòn - xâm thực phân bố chủ yếu ở phía tây của khu vực nghiên

cứu trong thời kỳ Pleistocen giữa - muộn. Các kiểu địa hình tích tụ sông, biển và

hỗn hợp sông - biển phát triển rộng rãi trên đồng bằng ven biển, cấu thành chủ yếu

nên đồng bằng ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, hình thành trong thời kỳ Holocen sớm

- giữa. Các dạng địa hình nguồn gốc biển, hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy, biển

- gió chiếm ưu thế và phân bố ở cửa sông ven biển, dọc bờ biển, hình thành trong

thời kỳ Holocen muộn - hiện đại.

3.2. Đặc điểm địa mạo một số vùng cửa sông

3.2.1. Xây dựng bản đồ địa mạo ở vùng cửa sông ven biển

3.2.1.1. Nguyên tắc xây dựng bản đồ

Tiếp cận theo hướng phân tích các đặc điểm địa mạo và quá trình địa mạo

động lực hiện đại cho phép làm sáng tỏ xu hướng biến động địa hình ở các VCSVB

Bắc Trung Bộ. Do vậy, việc lựa chọn việc xây dựng bản đồ và nguyên tắc thành lập

bản đồ địa mạo đóng vai trò hết sức quan trọng. Việc lựa chọn phù hợp về bản đồ

và nguyên tắc thành lập cho phép phân tích, xác lập xu hướng biến động địa hình

đạt kết quả. Chính những nghiên cứu địa mạo theo hướng này đã giúp chỉ ra được

67

cơ chế, lịch sử hình thành, động lực hiện đại và xu hướng biến động địa hình từ

trong quá khứ đến hiện tại.

Các nguyên tắc xây dựng bản đồ địa mạo đã được các nhà khoa học trên thế

giới xác lập [75]. Trong Địa mạo học hiện nay, tồn tại các nguyên tắc thành lập bản

đồ địa mạo khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu và tỷ lệ bản đồ, bao gồm:

nguyên tắc nguồn gốc hình thái, kiến trúc hình thái và trạm trổ hình thái, bề mặt

đồng nguồn gốc và tuổi v.v.. Ở nước ta, tùy theo những mục đích, cũng như quy mô

nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học đã ứng dụng nhiều nguyên tắc thành lập

bản đồ địa mạo khác nhau [11], [25], [27], [62], [70], [74], [96].

Đối với các VCSVB, nơi địa hình tích tụ chiếm ưu thế, các kiểu, dạng địa

hình tạo nên do quá trình tích tụ trầm tích có nguồn gốc khác nhau: sông, biển, hỗn

hợp sông - biển, biển - đầm lầy, v.v, tuổi của địa hình theo quan điểm quá trình hình

thành địa hình thì chính là tuổi của các trầm tích tạo nên các kiểu, dạng địa hình đó,

do vậy, nguyên tắc xây dựng bản đồ địa mạo thông thường được sử dụng là nguyên

tắc “Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi”. Nguyên tắc này thường được sử dụng để xây

dựng bản đồ địa mạo phân tích, bản đồ địa mạo chi tiết ở những tỷ lệ lớn: 1/50000,

1/25000, v.v. Chính vì vậy, NCS lựa chọn xây dựng bản đồ địa mạo tổng hợp theo

nguyên tắc “Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi” để xây dựng bản đồ địa mạo ở các

VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương là thích hợp nhất. Trên các bản

đồ này thể hiện các nội dung cơ bản nghiên cứu địa mạo khu vực (về hình thái,

nguồn gốc thành tạo và tuổi của địa hình). Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa

những nội dung thể hiện trên bản đồ này, cho phép xác lập xu thế biến động địa

hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

3.2.1.2. Nội dung của bản đồ

Theo nguyên tắc này, địa hình được phân chia ra thành các nhóm nguồn gốc:

do sông, do biển, hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy, v.v; rồi sau đó địa hình được

phân chia ra các kiểu là những bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi. Như vậy, nội dung

chính của bản đồ địa mạo theo nguyên tắc này gồm:

- Nhóm dạng địa hình (địa hình do sông, biển, sông - biển, v.v)

+ Bề mặt địa hình: (Bề mặt tích tụ có tuổi Holocen muộn, cao 1-3 m, Bề mặt

68

thềm tích tụ bậc I Holocen giữa - muộn, cao 3-5 m, v.v).

- Các kí hiệu khác, v.v.

- Nền cơ bản của bản đồ: lưới tọa độ, phương hướng, tỷ lệ bản đồ, v.v.

Như vậy, các kiểu địa hình có cùng nguồn gốc và tuổi được sắp xếp thành

từng nhóm riêng biệt. Trong đó, các dạng địa hình có tuổi khác nhau được đặt từ trẻ

đến cổ, đi kèm với nó là hình thái của địa hình.

Theo nguyên tắc của bản đồ địa mạo trên thế giới, nguồn gốc địa hình được

thể hiện bằng nền mầu, còn tone mầu trong bản đồ được thể hiện từ đậm đối với các

dạng địa hình trẻ, đến nhạt đối với các dạng địa hình cổ hơn (ngược lại với bản đồ

địa chất nhằm thấy rõ sự tạo hình và động lực hiện nay của địa hình). Bên cạnh đó,

mầu sắc thể hiện các kiểu địa hình đúng theo quy định của bản đồ địa mạo theo

nguồn gốc phát sinh như: địa hình do quá trình bóc mòn có màu nâu, địa hình do

sông có màu xanh lục, địa hình do biển có màu xanh da trời, địa hình do gió có màu

vàng, v.v.

Theo lựa chọn này, NCS đã thành lập được bản đồ địa mạo các VCSVB sông

Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương tỷ lệ 1/50000 trên cơ sở phân tích, xử lí, tổng

hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau.

3.2.2. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Mã

Quá trình hình thành và phát triển địa hình VCSVB sông Mã gắn liền với

hình thành đồng bằng ven biển Thanh Hóa; đồng thời có mối liên quan chặt chẽ với

hoạt động tân kiến tạo của các đới đứt gẫy phương TB-ĐN Sông Mã và Sơn La -

Bỉm Sơn[55], [61], [76], [78], [80]. Cấu trúc địa hình phản ánh cấu trúc tân kiến tạo

khu vực. Đồng bằng có dạng “Châu thổ - Delta”, các dạng địa hình phát triển mở

rộng, hướng ra phía biển. Bề mặt địa hình có dạng tương đối bằng phẳng, nghiêng

thoải về phía đông nam, độ cao từ 1-2 m đến >35m [61].

Trên VCSVB sông Mã, địa hình hình thành và phát triển rất đa dạng về

nguồn gốc, bao gồm: địa hình karst, bóc mòn, tích tụ (sông, biển và hỗn hợp). Quá

trình tích tụ diễn ra từ thời kỳ Holocen sớm - giữa đến nay, đã hình thành và phát

triển địa hình đồng bằng tích tụ có nguồn gốc sông, biển và hỗn hợp sông - biển,

biển - đầm lầy, v.v. Đồng bằng tích tụ sông - biển chủ yếu phân bố ở phía nam, tích

69

tụ biển phân bố ở phía đông, đông bắc của VCSVB sông Mã. Dải đồng bằng tích tụ

sông Holocen muộn - hiện đại gồm các bãi bồi, thềm 1 chủ yếu phân bố ở dọc theo

sông Mã và các chi lưu của nó (Hình 3.2).

- Địa hình núi sót karst

Dạng địa hình này gồm các núi sót trên đồng bằng, phân bố rải rác ở phía bắc

và tây nam thành phố Thanh Hóa, tây bắc Hàm Rồng. Các núi sót được cấu thành

bởi các thành tạo đá vôi, có sườn dốc từ >45o, trên bề mặt núi sót là các dạng địa

hình gồ ghề dạng tai mèo.

- Địa hình do quá trình bóc mòn

Địa hình do quá trình bóc mòn phân bố rải rác trong khu vực nghiên cứu. Đó

là các núi, đồi sót, có độ cao trên 20m, hình thành trên các đá có nguồn gốc khác

nhau. Các núi sót được cấu thành từ đá phun trào basalt thuộc hệ tầng Cẩm Thủy

(P2 ct) phân bố ở phía tây bắc thành phố Thanh Hóa (núi Đọ, núi Quyết Thắng, v.v).

Bề mặt sườn bóc mòn có độ dốc từ 20o - 30o. Các núi sót hình thành trên đá xâm

nhập thuộc phức hệ Mương Lát (PZ2 ml) phân bố ở Sầm Sơn. Quá trình phong hóa,

xâm thực diễn ra mạnh mẽ, cắt xẻ địa hình, sườn dốc >25o.

Các đồi, núi sót phân bố ở Lạch Trường. Bề mặt sườn bóc mòn tổng hợp có

độ dốc >20o. Hiện nay, trên bề mặt sườn được bao phủ bởi rừng trồng chống xói

mòn đất. Núi sót bóc mòn - xâm thực phân bố ở Hàm Rồng, Cột Cờ - Đông Sơn,

cao khoảng 150 - 200 m, kéo dài theo theo phương TB-ĐN. Bề mặt sườn bị xâm

thực mạnh mẽ, độ dốc sườn trên 25o.

Hình 3.1. Núi sót bóc mòn lộ đá gốc ở phía nam Sầm Sơn (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

70

Hình 3.2. Bản đồ địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Mã

Hình 3.4. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Mã theo tuyến CD. [76] Hình 3.3. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Mã theo tuyến AB. [76]

71

- Địa hình do sông

Địa hình tích tụ do sông phân bố dọc theo sông Mã, gồm 3 đợn vị địa mạo:

bãi cát ven lòng, bãi bồi thấp, bãi bồi cao. Các dạng địa hình này phân bố chủ yếu

dọc sông Mã, sông Lê. Các bãi cát ven lòng sông phân bố dọc sông Mã, có độ cao

từ 2 - 5m, hình thái bãi thường xuyên thay đổi do dòng chảy sông tác động mạnh

vào mùa lũ. Bãi bồi thấp có độ cao từ 1 - 2m, hình thành chủ yếu bởi bột sét lẫn cát

màu vàng, nâu gụ, tuổi Holocen muộn, địa hình dạng phẳng hơi nghiêng về phía

lòng sông. Dạng địa hình bãi bồi cao có độ cao từ 3 - 7m, chỉ bị ngập khi lũ lớn, địa

hình do bị khống chế bởi các đê lớn nên bị chia cắt mạnh của dòng sông và được

bồi tụ thường xuyên.

- Địa hình có nguồn gốc hỗn hợp do sông, biển, đầm lầy và gió

Các dạng địa hình có nguồn gốc hỗn hợp phân bố rộng rãi trong khu vực

nghiên cứu. Trong đó, Bề mặt tích tụ sông - đầm lầy phân bố nhỏ hẹp, rải rác ở các

xã ở Quảng Xương, thành phố Thanh Hóa (như các phường Hàm Rồng, Đông Sơn,

Nam Ngạn, v.v). Dạng địa hình này được thành tạo chủ yếu bởi các trầm tích sét

màu đen lẫn than bùn, tuổi thành tạo vào cuối Holocen muộn. Bề mặt này rất dễ

nhận biết, đó là những dạng địa hình trũng ven sông, các hồ móng ngựa, bề mặt

tương đối bằng phẳng, cao từ 1 -2m, thường xuyên bị ngập nước (Hình 3.5).

Hình 3.5. Bề mặt tích tụ sông - đầm lầy ở thành phố Thanh Hóa (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

Bề mặt tích tụ sông - biển - đầm lầy có tuổi Holocen muộn, phân bố ở độ cao

từ 1 - 2 m, dọc các trũng thấp ven sông thuộc địa bàn các huyện Hoằng Hóa, Quảng

72

Xương, Hậu Lộc và thành phố Sầm Sơn (ở các xã Hoằng Phong, Xuân Lộc, Quảng

Vinh, v.v). Địa hình này được cấu tạo từ hỗn hợp bột, sét lẫn cát màu xám tối. Bề

mặt địa hình bằng phẳng, hơi nghiêng về phía dòng sông, thường xuyên bị ngập

nước và chịu tác động của thủy triều.

Bề mặt tích tụ biển - đầm lầy có tuổi Holocen muộn, cao 1 - 2 m, phân bố

với diện tích không lớn, chủ yếu ở Quảng Xương. Bề mặt địa hình khá bằng phẳng,

trũng thấp hơn địa hình xung quanh, cấu tạo bởi bột, sét lẫn cát màu xám tối, lẫn

nhiều tàn tích thực vật hiện đại.

Bề mặt tích tụ sông - biển Holocen muộn có độ cao 2 - 5m, phân bố theo

hướng á kinh tuyến, trên địa bàn huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn (các xã

Quảng Tiến, Quảng Cư, Hoằng Tiến, v.v). Bề mặt địa hình khá bằng phẳng hơi

nghiêng về phía lòng sông, cấu tạo chủ yếu bởi cát, bột lẫn ít sét màu xám. Bề mặt

địa hình tích tụ hỗn hợp sông - biển Holocen sớm - giữa phân bố rộng rãi trên địa

bàn các huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương, Đông Sơn và thành phố Thanh Hóa. Bề

mặt địa hình có độ cao 2 - 10m. Bề mặt địa hình bằng phẳng hơi nghiêng về phía

lòng sông, được thành tạo chủ yếu bởi bột, sét lẫn ít cát màu xám loang lổ.

Hình 3.7. Bề mặt tích tụ sông -biển tại Quảng Tiến (Ảnh Nguyễn Công Quân) Hình 3.6. Bề mặt tích tụ sông –biển - đầm lầy tại Quảng Xương (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Dạng địa hình cồn cát tích tụ biển được gió tại tạo (biển - gió) Holocen muộn

là các cồn cát nhỏ, phân bố có dạng kéo dài dọc bờ biển từ phía bắc cửa Lạch

Trường đến phía nam huyện Quảng Xương, thành tạo chủ yếu là cát thạch anh hạt

mịn màu vàng xám. Cấu trúc địa hình cồn cát không đối xứng, một sườn thoải về

phía biển, sườn đối diện về phía đất liền dốc hơn.

73

Hình 3.8. Địa hình cồn cát tại Quảng Cư (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

- Địa hình do biển

Bề mặt tích tụ biển tuổi Holocen muộn được phân bố khá rộng tại Hoằng

Hóa, Quảng Xương và thành phố Sầm Sơn. Địa hình là những cồn cát kéo dài song

song với bờ biển hiện đại, có độ cao từ 2 - 5m, được cấu tạo bởi cát hạt mịn xen lẫn

bột màu xám vàng. Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía

đông nam. Bề mặt tích tụ tuổi Holocen sớm - giữa, phân bố rộng rãi trong khu vực

nghiên cứu, tập trung ở phía tây huyện Hoằng Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương,

Thiệu Hóa và thành phố Thanh Hóa. Bề mặt cấu tạo bởi sét, bột lẫn cát mịn, màu

xám phớt vàng hơi loang lổ. Địa hình bề mặt khá bằng phẳng, cao 3 - 4m. Bãi biển

hiện đại là dải cát ngập nước, nghiêng về phía biển, độ dốc 0 - 5°, cấu tạo bởi cát

màu xám lẫn nhiều vỏ sò, chạy dọc các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương

và thành phố Sầm Sơn.

Hình 3.9. Bề mặt tích tụ biển tại Quảng Cư (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

74

Như vậy, VCSVB sông Mã phân bố 15 đơn vị địa mạo, được chia làm 5

nhóm nguồn gốc khác nhau (Hình 3.1). Trong đó, địa hình có nguồn gốc hỗn hợp

sông, biển, đầm lầy và gió chiếm phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu. Đồng thời,

trầm tích sông - biển còn phát triển mạnh dưới dạng bãi ngầm ở phía trước cửa

sông. Do lượng phù sa của sông Mã rất lớn nên có thể thấy được vai trò của sông

thắng thế hơn so với các tác động của dòng sóng và triều, đã tạo điều kiện hình

thành cửa sông có dạng lồi về phía biển. Bên cạnh đó có thể thấy được: ở giai đoạn

trước đó, bề mặt tích tụ biển có tuổi Holocen muộn được hình thành và phân bố

dưới dạng các bar cát chắn trước cửa sông. Như vậy, có thể khẳng định chắc chắn

cửa sông Mã là cửa sông phát triển có dạng “Delta” điển hình [1], [61].

3.2.3. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn

Địa hình VCSVB sông Thạch Hãn được hình thành và phát triển có mối liên

quan chặt chẽ với cấu trúc hạ lún tân kiến tạo dọc bờ biển kéo dài phương TB-ĐN.

Cấu trúc địa hình phản ánh cấu trúc tân kiến tạo ở khu vực này, các dạng địa hình

chủ yếu phát triển kéo dài theo phương TB-ĐN, trùng với phương kéo dài của bờ

biển hiện đại [28], [31], [55], [62]. Ở đây chủ yếu hình thành các dạng địa hình tích

tụ hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy có dạng “Đầm phá, vũng vịnh - Lagun”[1],

[94]. Chúng phân bố chạy dọc theo bờ biển, xen kẽ các bề mặt tích tụ là các đầm

lầy, đầm phá, vũng vịnh. Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, trũng thấp,

nghiêng thoải về phía đông, đông nam, độ cao từ 1-2 m đến >35m.

Trên VCSVB sông Thạch Hãn, địa hình hình thành và phát triển rất đa dạng

về nguồn gốc bao gồm: địa hình có nguồn gốc núi lửa, bóc mòn, tích tụ (sông, biển

và hỗn hợp). Quá trình tích tụ diễn ra từ thời kỳ Holocen sớm - giữa đến nay, đã

hình thành và phát triển địa hình đồng bằng tích tụ có nguồn gốc biển và hỗn hợp

sông - biển, biển - đầm lầy, biển - gió, v.v. Đồng bằng tích tụ sông - biển chủ yếu

phân bố ở trung tâm, tích tụ biển phân bố ở phía đông, đông bắc và tích tụ biển - gió

phân bố dọc bờ biển hiện đại của VCSVB sông Thạch Hãn. Dải đồng bằng tích tụ

sông Holocen muộn - hiện đại gồm các bãi bồi, thềm 1 phân bố dọc theo sông

Thạch Hãn (Hình 3.10).

- Địa hình do núi lửa:

Bề mặt địa hình phát triển quá trình bóc mòn - xâm thực trên các dải đồi cấu

tạo bởi đá phun trào basalt Đệ tứ phân bố ở phía bắc, tây bắc của khu vực nghiên

75

cứu thuộc địa phận huyện Gio Linh. Chúng hình thành từ các vòm núi lửa basalt,

cao từ 10 - 30m. Địa hình dạng vòm thoải với vỏ phong hoá dầy từ 10 - 15 m. Trên

vòm núi lửa vẫn còn thấy biểu hiện của các họng núi lửa dưới dạng phễu; phần thấp

của phễu ở Hà Thượng thường xuyên bị lẩy thụt, có nước thoát ra, miệng phễu mở

về phía nam - đông nam, đáy phễu cao 1,2 m, vòm cao tới 30 m. Sườn đông và nam

của các đồi có độ dốc thoải 5 - 8°, bị các trầm tích hiện đại phủ lên. Tại đập chứa

nước Hà Thanh, đá basalt phủ lên trầm tích cát, bột, sỏi, sạn thuộc hệ tầng Phú

Xuân. Do vậy, hoạt động phun trào basalt có tuổi Holocen sớm. Sau khi trào lên

mặt đất, các quá trình ngoại sinh đã phá hủy đá basalt, hình thành vỏ phong hoá dày

15 - 20 m. Ở đập Hà Thanh còn quan sát thấy phong hoá dạng bóc vỏ. Basalt gốc

chỉ gặp trong các lỗ khoan. Hiện nay, quá trình bóc mòn - xâm thực phát triển mạnh

mẽ.

- Địa hình do quá trình bóc mòn

Địa hình do quá trình bóc mòn, bóc mòn - xâm thực gồm 2 đơn vị địa mạo là

các bề mặt sườn bóc mòn trên các thành tạo Paleozoi muộn.

Hình 3.10. Địa hình núi bóc mòn ở Gio Linh (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Các đồi bóc mòn - xâm thực cấu tạo bởi các thành tạo Paleozoi muộn phân

bố ở phía tây, tây nam khu vực nghiên cứu, có độ cao từ 10 - 40 m. Địa hình dạng

vòm thoải. Đồi bóc mòn - xâm thực cao 30 - 40 m phát triển trên các thành tạo

trước Kainozoi. Địa hình đồi dạng vòm thoải, trên đó phát triển các thung lũng xâm

thực có sườn dốc 20 - 35°. Địa hình được hình thành do quá trình bóc mòn - xâm

thực, hình thái sườn lõm. Trên các sườn đồi phân bố eluvi, deluvi gồm cát, sạn, các

mảnh dăm, vụn, mùn cây và ít sét thuộc phần trên của vỏ phong hoá laterit.

76

Hình 3.11. Bản đồ địa mao vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn

Hình 3.12. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Thạch Hãn theo tuyến AB. [31] Hình 3.13. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Thạch Hãn theo tuyến CD. [31]

77

- Địa hình do sông

Địa hình do sông gồm 6 đơn vị địa mạo: bãi cát ven lòng, bãi bồi thấp, bãi

bồi cao, bề mặt thềm tích tụ bậc I, thềm tích tụ bậc II và lòng sông cổ.

Hình 3.14. bãi bồi và thềm bậc I ở Cam Lộ (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Địa hình tích tụ sông chủ yếu phân bố dọc các sông Cam Lộ (sông Hiếu) và

sông Thạch Hãn gồm các bãi bổi và bậc thềm khác nhau: bãi bồi thấp, cao và 2 bậc

thềm. Bãi bồi thấp cao dưới 2 m, cấu tạo bởi cuội, sỏi, cát, sét, bị ngập lũ. Bãi bồi

cao có độ cao 5 - 7 m, cấu tạo bởi cát bột ở trên, dưói là cuội, sỏi, chỉ bị ngập khi có

lũ lớn. Các bãi bổi phân bố không liên tục dọc theo sông và thường phân bố ở phần

bờ lồi của mỗi khúc uốn như ở Trung Kiên, Triệu Giang, v.v. Nhìn chung, chúng có

diện tích không lớn. Thềm bậc I cao 10 - 15 m phân bố ở Nham Biều, có cấu tạo

gồm: dưới là cuội, sỏi đa thành phần, kích thước cuội 1 - 3 cm, độ mài tròn cao, trên

là cát, bột, sét, dày tổng cộng 10 - 13m. Thềm bậc II cao trên 20m gặp ở Ái Tử,

Kiên Mỹ, Hà Xa. Cấu tạo thềm gồm: phần dưới là cuội tảng đa nguồn gốc, kích

thước cuội từ 20 - 25 cm, phủ trên mặt bào mòn đá gốc; trên là sét, bột, cát màu nâu

đỏ, dày 2,7 m. Ở Ái Tử, cấu tạo thềm chỉ có cuội, tảng gắn kết yếu. Các bãi bồi có

tuổi Holocen, còn thềm I có tuổi Pleistocen muộn, thềm II có tuổi Pleistocen giữa.

Địa hình tích tụ đầm lầy lòng sông cổ có diện tích không lớn, nhưng lại phân bố phổ

biến trên các dạng địa hình tích tụ khác nhau. Trong đó, phổ biến nhất là các đoạn

thung lũng sông chết (hổ móng ngựa) có tích tụ bùn sét màu xám, giầu vật chất hữu

cơ. Dạng thứ hai là các trũng đầm lầy, có chứa phong phú thực vật, than bùn. Ở

Phước Sa, tích tụ đầm lầy hình thành trên thềm tích tụ cát biển kéo dài theo phương

kính tuyến khoảng 1 km, rộng 0,3 km, thực vật phát triển tạo thành tầng than bùn,

78

dày 0,2 - 0,8 m. Trong trầm tích có chứa các bào tử phấn hoa thân gỗ và thân thảo.

Thành phần trầm tích bãi lẩy phân bố ở gần cửa sông cổ gồm: bùn sét rất gỉầu chất

hữu cơ thuộc hệ sinh thái mangro.

- Địa hình có nguồn gốc hỗn hợp do sông, biển, đầm lầy và gió

Địa hình có nguồn gốc hỗn hợp gồm 7 đơn vị địa mạo có tuổi khác nhau. Địa

hình tích tụ hỗn hợp sông - biển thể hiện dưới dạng các đồng bằng tích tụ có tuổi

tương ứng: Holocen muộn, Holocen giữa - muộn, Holocen sớm - giữa và Pleistocen

muộn. Trong đó, bề mặt tích tụ Holocen sớm - giữa có diện phân bố rộng lớn nhất,

chiếm phần lớn diện tích của VCSVB sông Thạch Hãn. Đổng bằng này được cấu

tạo bởi 3 lớp trầm tích. Tại (LK31), từ dưới lên: lớp 1 dày > 5,7 m gổm sét, bột màu

xám, lẫn cát; lớp 2 dày 9,3 m gổm bùn, sét chứa thực vật, màu đen, xám đen; lớp 3

gổm sét, bột màu xám. Trong lớp 2 gặp nhiều bào tử phấn hoa thuộc môi trường

cửa sông ven biển. Đồng bằng tích tụ có tuổi Holocen giữa - muộn và Holocen

muộn có diện tích nhỏ hẹp, chủ yếu gặp ở Gio Mai, Tường Vân, Cao Ly. Chúng

được cấu tạo bởi bùn sét giàu vật chất hữu cơ, có màu xám đen. Trong khi đó, bề

mặt tích tụ sông - biển Pleistocen muộn lại hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của lũ

hàng năm. Nó gặp được chỉ một số nơi với diện tích nhỏ ở tây Gio Quang, Đại Áng,

còn phần diện tích lớn hơn bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn. Thành phần trầm tích

gồm: sét, cát, bột có chứa hữu cơ bị laterit hoá, nhiều nơi tạo thành tầng loang lổ

nâu đỏ, được định tuổi là Pleistocen muộn [28], [31]. [62]. Còn các bề mặt tích tụ

biển-đầm lầy và sông-biển-đầm lầy phân bố dải giác trong khu vực nghiên cứu với

diện tích nhỏ hẹp và thường xuyên bị ngập nước.

Địa hình biển - gió hình thành dãy cồn cát ven biển. Trong đó, gió thổi đã

vận chuyển cát từ bãi biển lên rồi di chuyển vào trong đất liền, trực tiếp tạo ra các

cổn cát, hoặc gió thổi vào bề mặt địa hình cồn cát có trước, rồi tạo ra các cồn và

lũng thổi mòn. Các cổn được hình thành do gió đưa cát từ bãi biển lên tạo thành dải

kéo dài liên tục dọc bờ biển hiện thời, có bề rộng từ 300 m ở Hà Lợi đến hơn 1000

m ở bờ biển xóm Đồng, Triệu An. Ờ đây gồm rất nhiều các cổn có độ cao từ 5 -

12m. Các cồn đó đều có phương kéo đài song song vói bờ biển hiện tại, các sườn

hướng ra biển hay hướng đón gió tương đối thoải (10 - 20°), trong khi các sườn

khuất gió lại dốc hơn nhiều, có khi tới 40 - 45°. Giữa các cồn là bể mặt tích tụ cổ

79

không bị phủ cổn cát, nên bằng phẳng. Cát ở các cổn và cát bãi biển giống nhau,

chủ yếu là cát thạch anh màu trắng, xám trắng. Thành phần chủ yếu là thạch anh,

đôi khi lẫn các mảnh vỡ vò sò, ốc biển. Các cồn cát hình thành do gíó biến cải cồn

cát có trước thường nằm sâu trong đất liền, giữa các cồn là các lũng thổi mòn có

đáy không bằng phẳng, đồng thời các cồn không bộc lộ các đặc trưng có tính quy

luật về phân bố, hình thái, cấu tạo.

Hình 3.15. Bề mặt địa hình do gió tại Triệu Vân (Ảnh Nguyễn Công Quân)

- Địa hình do biển

Địa hình tích tụ có nguồn gốc biển bao gồm: các thềm biển, bề mặt tích tụ

biển, bãi biển hiện tại. Bãi biển hiện đại phát triển liên tục dọc bờ biển, có bề rộng

trung bình 150m, độ dốc dưới 5°. Bãi chìm dần xuống dưổi mực nước biển và tiếp

xúc với các dãy cồn cát về phía đất liền (Hình 3.16). Bãi biển được cấu tạo bằng cát

thạch anh hạt vừa và nhỏ, màu xám, xám trắng, có nhiều vỏ ốc sò. Bề mặt tích tụ

biển tuổi Holocen giữa thề hiện ở dạng đồng bằng cao 4 - 5 m, có diện phân bố rộng

ở Gio Quang, Gio Việt, Hà Tây, thị trấn Ái Tử. Địa hình bề mặt bằng phẳng. Ở thị

trấn Ái Tử, trên vách xâm thực sông thấy tích tụ này gổm: dưới là cát xám đen,

chuyển lên trên là cát xám, trên cùng là cát trắng. Ở những nơi khác nhau thấy phần

trên của tích tụ là cát thạch anh mầu trắng, trắng xám. Kích thước hạt cát từ 0,1 - 0,5

mm, thường chiếm >70%, có độ chọn lọc khá cao [28], [31]. [62].

80

Hình 3.16. Bãi biển hiện đại tại Gio Hải (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Địa hình thềm mài mòn biển phân bố ở phía tây khu vực nghiên cứu, ven rìa

đồng bằng tích tụ gồm: các bậc thềm, mảnh mặt bằng, cấu tạo bởi các thành tạo

trước Kainozoi, có nơi bị phong hoá laterit. Trên vùng nghiên cứu tồn tại 2 bậc

thềm mài ṃòn biển phân bố trên các độ cao: 12 - 20 m và 25 - 35 m. Chúng là sản

phẩm của hoạt dộng mài mòn của sóng biển. Tất cả các thềm này có những đặc

trưng giống nhau: hình thái bề mãt khá bằng phẳng và được cấu tạo bằng đá gốc.

Tuy nhiên, các thềm càng cổ thì mức độ phân cắt xâm thực càng cao. Thềm mài

mòn thấp có diện phân bố nhỏ hẹp ở Xóm Mới và Phi Thừa thuộc Cam Thanh.

Chúng có dạng mảnh mặt bằng nổi trên đổng bằng tích tụ sông - biển, cấu tạo bởi

sét kết, bột kết thuộc hệ tầng Long Đại. Thềm mài mòn cao 12 - 20 m phân bố rộng

rãi ở dọc phía nam QL9 từ Cam Lộ tới Đông Hà, ở Mỹ Hòa và dọc QL1A từ Đồng

Hà đến Triệu Phong. Địa hình có dạng bậc, bằng phẳng, được bảo tồn tốt. Thềm

mài mòn cao 25 - 35 m, phân bố khá rộng, tạo thành dải kéo dài từ Ái Tử tới Đông

Hà. So với các thềm thấp, thềm này bị phân cắt khá mạnh, nhiều thung lũng xâm

thực sâu cắt vào thềm. Tuy nhiên, hình thái thềm bằng phắng. Các thểm này được

cấu tạo bởi đá gốc, song ở nhiều nơi đều gặp vỏ phong hoá laterit dày từ 2 - 15 m.

Như vậy, sau khi biển thoái ra xa, các thềm đi vào phát triển lục địa, đá gốc bị

phong hoá, xâm thực, bóc mòn phát triển. Hiện tại, các thềm bị nâng yếu. Tuổi được

xác định như sau: thềm 12 - 20 m có tuổi Pleistocen muộn, thềm 25 - 35 m cổ tuổi

Pleistocen giữa - muộn.

81

Như vậy, khu vực cửa sông ven biển sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị với 20

đơn vị địa mạo, chia thành 5 kiểu nguồn gốc thành tạo. Trong đó, địa hình do biển

chiếm phần lớn diện tích khu vực. Do đó, vai trò của biển trong hình thành địa hình

khu vực chiếm ưu thế. Các cồn, val cát phát triển song song với bờ biển.

3.2.4. Đặc điểm địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Hương

Địa hình VCSVB sông Hương được hình thành và phát triển trên cấu trúc hạ

lún tân kiến tạo Quảng Trị - Huế. Cấu trúc địa hình phản ánh cấu trúc tân kiến tạo

khu vực; các dạng địa hình phát triển theo phương TB-ĐN, trùng với phương chạy

dài của bờ biển hiện tại (Hình 3.18) [2], [30], [32], [37], [60].

Trên VCSVB sông Hương chủ yếu hình thành các dạng địa hình tích tụ hỗn

hợp sông - biển, biển - đầm lầy có dạng “Vũng vịnh - Lagun”. Xen kẽ các bề mặt

tích tụ là các đầm phá, vũng vịnh. Bề mặt địa hình có dạng tương đối bằng phẳng,

trũng thấp, nghiêng thoải về phía đông, đông nam, độ cao từ 1 - 2 m đến >35m. Địa

hình VCSVB sông Hương được hình thành và phát triển rất phong phú và đa dạng,

bao gồm các dạng địa hình: địa hình do bóc mòn, tích tụ hỗn hợp sông - biển, biển -

đầm lầy, biển - gió, v.v. Quá trình tích tụ hình thành địa hình chủ yếu diễn ra từ thời

kỳ Holocen sớm - giữa đến nay. Địa hình đồng bằng tích tụ sông - biển, biển - đầm

lầy, v.v chủ yếu phân bố ở trung tâm, tích tụ biển phân bố ở phía đông, đông bắc

của VCSVB sông Hương. Dải đồng bằng tích tụ sông Holocen muộn-hiện đại gồm

các bãi bồi, thềm 1 chủ yếu phân bố ở dọc theo sông Hương.

- Địa hình do quá trình bóc mòn

Các dạng địa hình bóc mòn tổng hợp phân bố chủ yếu ở phía tây, tây nam

VCSVB sông Hương, phát triển trên cấu trúc nâng tân kiến tạo và hiện đại, bao gồm

các bề mặt sườn bóc mòn, bóc mòn - xâm thực, thềm xâm thực. Chúng phân bố ở

Hương Hồ, phía nam thôn Kim Ngọc, Gia Khô, Nguyệt Biểu, Dương Xu, Ân Hạ.

Bề mặt sườn tồn tại dưới dạng sườn đồi và núi thấp, có độ cao tương đối bằng nhau

(>40 m). Ngay trên bề mặt lộ ra đá gốc, rải rác phủ lớp vỏ phong hoá màu xám vàng

mỏng. Độ dốc trung bình từ 15 - 25°. Bề mặt hình thành vào Pliocen muộn -

Pleistocen. Ngoài ra, bề mặt sườn bóc mòn - tích tụ phân bố ở Hương Hồ, Trần Bôi,

Tuần, phía nam Hương Thuỷ, có độ cao trên 40 m. Bề mặt sườn này có độ dốc

trung bình từ 10 - 15°.

82

Trên bề mặt phần lớn có lộ đá gốc, nhưng ở nhiều nơi có lớp tàn tích, sườn

tích với thành phần là sạn thạch anh, mảnh đá gốc lẫn bột sét màu vàng, vàng đỏ.

Bề mặt sườn bị phân cắt bởi rãnh xói, khe suối cạn.

Hình 3.17. Địa hình bóc mòn gần cửa Tư Hiền (Ảnh Nguyễn Công Quân)

- Địa hình do sông

Địa hình tích tụ sông phân bố dọc theo thung lũng sông Hương. Bề mặt tích

tụ lòng sông nửa cuối Holocen muộn phát triển rộng rãi ở khu vực nghiên cứu, bề

dày từ vài chục centimet tới mét. Dạng địa hình này phân bố dọc lòng sông Hương

và một số sông nhỏ khác, cấu tạo bởi các trầm tích cát, vỏ sò hến hiện đại. Bề mặt

tích tụ bãi bồi cao nửa cuối Holocen muộn được cấu tạo bởi bột, cát màu xám vàng,

bột, sét màu xám nâu, vật chất hữu cơ màu xám đen. Bề mặt phân bố dọc sông

Hương, ở Phú Xuân, dưới gầm cầu đường sắt, Triệu Sơn Đông. Bề mặt thềm sông

bậc I có tuổi Holocen giữa - muộn, được cấu tạo từ bột, cát màu xám vàng, sạn, bột,

sét màu nâu, ít vật chất hữu cơ màu xám đen. Chúng phân bố rải rác dọc sông

Hương, ở Ngọc Hồ, phà Tuần, Nam Hoà. Bề mặt khá bằng phẳng, bị phá huỷ bởi

quá trình xâm thực ngang của sông. Bề mặt tích tụ thềm sông bậc II Holocen sớm -

giữa phân bố thành các dải hẹp dọc sông Hương, sông Tả Trạch và Hữu Trạch (nam

Ngọc Hồ, Kim Ngọc, Nam Hoa, Dương Phận). Bề mặt được cấu tạo bởi cuội, sỏi

thành phần là thạch anh, quarzit, cát, bột, sét màu xám nâu, xám vàng, có độ chọn

lọc và phân lớp tốt. Bề mặt này tương đối bằng phẳng, đôi chỗ gợn sóng với độ

nghiêng thoải.

83

Hình 3.18. Bản đồ địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Hương.

Hình 3.20. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Hương theo tuyến CD. [77] Hình 3.19. Mặt cắt địa mạo VCSVB sông Hương theo tuyến AB. [77]

84

- Địa hình có nguồn gốc hỗn hợp do sông, biển, đầm lầy và gió

Các dạng địa hình tích tụ hỗn hợp phân bố phổ biến, chiếm phần lớn diện

tích ở VCSVB sông Hương, phát triển trên khối hạ lún tân kiến tạo Quảng Trị -

Huế.

Bề mặt tích tụ sông - biển Holocen giữa - muộn phân bố rất rộng rẵi trên khu

vực nghiên cứu. Bề mặt này phân bố ở khu vực sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương

và kéo dài về phía nam đồng bằng. Đây là bề mặt có diện phân bố lớn nhất với địa

hình bằng phẳng cao 1-3m. Bề mặt này được cấu thành từ các tích tụ hỗn hợp sông

biển - đám phá với thành phần là bột, sét, cát chứa vật chất hữu cơ màu đen, sét và

vỏ sò ốc (Hình 3.21). Bề mặt tích tụ sông – biển – đầm lầy Holocen giữa - muộn

phân bố ở Quảng Vinh, Phong Hiền, Phú Đa. Bề mặt có dạng bầu dạng dải, ô van,

có độ cao 1-3m. bề mặt được cấu tạo từ cát thạch anh lẫn mùn thực vật màu xám

đen, than bùn màu đen, nâu đen.

Bề mặt tích tụ biển - đầm lầy Holocen giữa - muộn phân bố ở dọc hai bờ của

phá Tam Giang, vụng Thanh Lam dưới dạng các dải hẹp, bề rộng từ vài chục mét

đến 500m. Bề mặt này cấu tạo bởi cát màu xám, xám đen, giàu tạp chất hữu cơ, di

tích động vật, sét màu xám. Bề mặt thường bị ngập lụt vào mùa mưa. Bề mặt tích tụ

biển – sông Holocen giữa - muộn phân bố ở hai bên phá Tam Giang, Đầm Hà, Đầm

Thủy Tú, kéo dài khá liên tục hàng chục km theo phương TB-ĐN. Độ cao của bề

mặt từ 1-2m, đôi chỗ còn bị ngập nước. Vật liệu cấu tạo bề mặt gồm cát, cát bột sét

lẫn mùn thực vật, mảnh sò hến mầu xám đen có nguồn gốc hỗn hợp biển – sông. Bề

mặt tích tụ sông – biển Holocen sớm - giữa có diên phân bố ở huyện Hương Thủy.

Bề mặt khá bằng phẳng với độ cao 2-5m, với vật chất cấu tạo là bột, cát lẫn nhiều

dăm sạn thạch anh. Bề mặt tích tụ sông – biển – đầm lầy Holocen sớm - giữa phân

bố diện hẹp ở Phú Bài với độ cao 10-15m, với thành phần là sét bột pha cát màu

xám xanh, xanh đen.

85

Hình 3.21. Bề mặt tích tụ sông-biển ở Phú Lộc (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Địa hình tích tụ biển - gió Holocen muộn phân bố ở dọc ven biển dưới dạng

cồn, doi, đụn cát có độ cao từ 10 - 30m. Địa hình có bề mặt sườn đông thoải, dốc từ

5 - 15° và sườn tây dốc từ 15 - 25°. Các cồn cát được cấu tạo bởi cát màu xám vàng,

có chứa sa khoáng ilmenit (Hình 3.22) Bề mặt tích tụ biển - gió Holocen sớm - giữa

phân bố chủ yếu ở Xuân Ố, Thượng An Hạ, Hoa Đa Tủy, Thần Phù - Chiết Bi Hạ.

Bề mặt được cấu tạo bởi cát thạch anh hạt nhỏ màu trắng, độ chọn lọc tốt, sạch và

cát thuỷ tinh (Hình 3.23).

Hình 3.22. Cồn cát biển phía ngoài cửa Tư Hiền (Ảnh Nguyễn Công Quân) Hình 3.23. Cồn cát biển xã Hải Dương (Ảnh Nguyễn Công Quân)

- Địa hình do biển

Địa hình tích tụ biển phân bố rộng khắp ở VCSVB sông Hương. Bãi biển

vài mét. Bề mặt có độ dốc từ 0 - 5°, nghiêng về phía biển. Đoạn bãi từ Thái Dương

hiện đại là dải cát ngập nước chạy dọc bờ biển, chiều sâu từ vài chục centimet đến

Thượng đến bãi biển Thuận An, hoạt động tích tụ khá mạnh, nhất là khu vực cửa

86

Thuận An. Đoạn bờ biển Thuận An đến Kẻ Sung, đang xảy ra xói lở yếu. Toàn bộ

bãi biển đều có cấu tạo bằng cát (thành phần là thạch anh, mica, ít vỏ sò). Quá trình

địa mạo động lực diễn ra vừa bồi tụ, vừa xói lở.

Hình 3.24. Bãi biển hiện đại tại Thái Dương (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

Bề mặt tích tụ biển Holocen giữa - muộn phân bố dọc bờ biển (phía đất liền)

kéo dài từ Thái Dương Thượng đến Kẻ Sung. Bề mặt này được hình thành vào cuối

Holoeen giữa - muộn do quá trình tích tụ tạo nên, chủ yếu do hoạt động của biển và

một phần do dòng phù sa của sông Hương. Bề mặt cao 3 - 5m và cấu thành từ cát

thạch anh hạt trung - thô màu xám, xám nhạt, xám sáng lẫn mảnh ngao, sò ốc. Bề

rộng của dải cát này dao dộng lừ 10 - 200m. Bề mặt tích tụ biển Holocen sớm - giữa

phân bố rộng rãỉ dọc bờ biền, dài 15km, rộng từ 250 - 500m, hình thành đồng thời

với bề mặt tích tụ biển gió. Bề mặt này cấu thành từ cát thạch anh vàng nhạt chứa sa

khoáng ilmenit. Hiện tại bề mặt này khá bằng phẳng, đôi chỗ hơi gợn sóng, thoải,

dốc nghiêng về phía biển.

Bề mặt thềm biển mài mòn cao từ 15 - 30m, tương đối bằng phẳng, đôi chỗ

có dạng đồi thoải mềm mại, phân cắt yếu. Độ dốc của bề mặt thềm dao dộng từ 0 -

5°. Bề mặt thềm biển nằm giữa bề mặt bóc mòn - tích tụ và các bề mặt tích tụ. Đây

là dấu ấn cổ xưa ở ven bờ biển, tạo nên thềm biển có các tích tụ trên đó đã bị bóc

mòn. Bề mặt hình thành vào Pleistocen muộn.

3.3. Tiểu kết chương

Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ rất phong phú và đa dạng, bao gồm: các

bề mặt tích tụ, các thềm, bãi bồi thấp, bãi bồi cao, các cồn, bãi, bar, val, v.v. Chúng

87

hình thành nên địa hình đồng bằng nằm trên dải đồng bằng ven biển bắc Trung Bộ.

Địa hình tường đối bằng phẳng, nghiêng thoải về phía biển, độ dốc bề mặt đồng bằng khoảng 3 - 5o.

Địa hình được cấu tạo bởi các trầm tích đa nguồn gốc: sông, sông - biển,

biển, đầm lầy, v.v. Các dạng địa hình ở các VCSVB bao gồm các dạng nguồn gốc

thành tạo khác nhau: địa hình bóc mòn, bóc mòn - xâm thực, địa hình núi sót karst,

địa hình do sông, do biển và hỗn hợp sông - biển, sông - đầm lấy, biển - đầm lầy,

biển - gió, v.v. Trong đó, VCSVB sông Mã phổ biến hơn cả là địa hình có nguồn

gốc sông, sông - biển; VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương phổ biến là nguồn

gốc biển, sông - biển, biển - đầm lầy, đầm phá, vũng vịnh.

Cấu trúc địa hình ở VCSVB sông Mã thuộc kiểu cửa sông “Delta”. Phần lớn

các dạng địa hình phát triển theo phương TB-ĐN, á kinh tuyến, theo hướng tiến ra

phía biển. Các kiểu, dạng địa hình có nguồn gốc sông, sông - biển chiếm phần lớn

cả về diện tích phân bố không gian lẫn khối lượng theo chiều sâu. Trong khi đó, cấu

trúc địa hình của các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương phát triển song song

với bờ biển hiện tại, thuộc kiểu cửa sông “Liman”. Các kiểu, dạng địa hình nguồn

gốc biển, sông - biển, biển - đầm lầy, đầm phá, vũng vịnh chiếm phần lớn diện tích

phân bố không gian trong khu vực.

Trên các VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương phân bố 53 đơn

vị địa mạo; trong đó VCSVB sông Mã có 15 đơn vị, VCSVB sông Thạch Hãn có 20

đơn vị và VCSVB sông Hương có 18 đơn vị địa mạo. Trên 53 đơn vị địa mạo này

được chia thành 7 kiểu nguồn gốc khác nhau: địa hình có nguồn gốc do quá trình

karst hóa, do núi lửa, do quá trình bóc mòn tổng hợp, do sông, do biển, hỗn hợp

sông - biển, đầm lầy - biển và biển - gió.

Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ được hình thành và phát triển từ

Pleistocen đến nay. Các dạng địa hình thềm mài mòn, dải đồi bóc mòn, bóc mòn -

xâm thực hình thành trong Pleistocen giữa - muộn chiếm phần nhỏ diện tích ở phía

tây khu vực nghiên cứu. Các dạng địa hình tích tụ sông, biển và hỗn hợp sông - biển

phát triển rộng rãi và chiếm phần lớn diện tích ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, hình

thành trong thời kỳ Holocen sớm - giữa. Các dạng địa hình tích tụ biển, sông - biển,

biển - đầm lầy, vũng vịnh phân bố ở cửa sông, ven biển, hình thành từ Holocen

muộn đến nay. Như vậy, địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ trải qua 3 thời kỳ hình

thành và phát triển khác nhau: thời kỳ Pleistocen giữa - muộn, thời kỳ Holocen sớm

- giữa và Holocen muộn - hiện đại.

88

CHƯƠNG 4.

ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN LÃNH THỔ CÁC VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN

BẮC TRUNG BỘ

Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ hình thành và phát triển trong thời gian

từ Pleistocen tới nay dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Vai trò của các yếu

tố cũng khác nhau theo không gian và thời gian, làm cho địa hình được hình thành

bị biến động theo không gian và thời gian. Đặc biệt, trong thời gian hiện đại, các

quá trình địa mạo động lực, mà chủ yếu là các quá trình bồi tụ và xói lở đã làm biến

động mạnh mẽ địa hình hiện đại các VCSVB Bắc Trung Bộ. Do những biến động

địa hình hiện đại đã làm cho việc sử dụng tài nguyên (đất, nước và khoáng sản, v.v)

phục vụ phát triển KT-XH ở các VCSVB Bắc Trung Bộ bị ảnh hưởng rõ rệt. Chính

vì vậy, NCS đã nghiên cứu xác định xu hướng biến động địa hình làm cơ sở cho

quy hoạch sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ phục vụ phát triển bền vững KT-XH

và bảo vệ môi trường ở các VCSVB nói riêng, dải đồng bằng ven biển Bắc Trung

Bội nói chung.

4.1. Lịch sử phát triển địa hình các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung bộ

Trên cơ sở phân tích đối sánh trầm tích tương quan trầm tích so sánh, phân

tích địa tầng trầm tích Đệ tứ; phân tích đặc điểm địa mạo, tân kiến tạo và kiến tạo

hiện đại, cho phép xác lập lịch sử phát triển địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ, các dạng địa hình bóc mòn, bóc mòn - xâm

thực, mài mòn hình thành và phát triển trong thời kỳ Pleistocen giữa - muộn; các

dạng địa hình tích tụ chủ yếu có nguồn gốc sông, sông - biển hình thành trong

Holocen sớm - giữa và tích tụ biển, sông - biển - đầm lầy vũng vịnh hình thành

trong Holocen muộn - hiện đại. Như vậy, địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ trải

qua 3 thời kỳ khác nhau: thời kỳ Pleistocen giữa - muộn, thời kỳ Holocen sớm -

giữa và Holocen muộn - hiện đại.

4.1.1. Thời kỳ Pleistocen giữa - muộn

Trong thời kỳ này, chuyển động kiến tạo phân dị, hạ lún ở phía đông, nâng

lên ở phía tây các VCSVB Bắc Trung Bộ. Biển tiến sâu vào lục địa, tạo điều kiện

thuận lợi cho quá trình tích tụ trầm tích ở phía đông, hình thành và phát triển các

89

dạng địa hình thềm mài mòn ở phía tây khu vực nghiên cứu [39], [60], [80], [97],

[98]. Trên VCSVB sông Mã, trong thời kỳ này, hình thành các thềm mài mòn có độ

cao từ 15 - 35 m phân bố ở các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Địa

hình đồi, núi thấp bóc mòn, bóc mòn - xâm thực cao trên 40 m, phân bố ở các huyện

Yên Định, Thọ Xuân, Triệu Sơn [61], [76], [78]. Bên dưới đáy phía đông đồng bằng

VCSVB sông Mã, chuyển động hạ lún diễn ra, biển tiến sâu vào lục địa đã hình

thành các hệ tầng trầm tích có nguồn gốc sông, sông - biển: Hệ tầng Hoằng Hóa

phân bố chủ yếu ở đồng bằng Thanh Hóa. Hệ tầng Triệu Sơn chủ yếu nằm ở đáy

đồng bằng hạ lưu các sông Mã.

Trên VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương cũng vậy, các thềm mài mòn

có độ cao 15-35m phân bố ở phía tây, chân các dải đồi núi bóc mòn - xâm thực

thuộc địa phận các huyện Gio Linh, Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị), huyện Hương Trà,

Hương Thủy và Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên Huế). Trong thời kỳ Pleistocen giữa -

muộn, các quá trình địa mạo động lực diễn ra chủ yếu là bóc mòn, bóc mòn - xâm

thực và mài mòn trong bối cảnh nâng dạng vòm khối tảng, khối tảng ở phía tây khu

vực nghiên cứu, hạ lún dạng bậc với quá trình tích tụ trầm tích ở phần lớn diện tích

VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương. Chuyển động kiến tạo nâng lên thúc đẩy

sự hoạt động mạnh mẽ của các quá trình xâm thực, bóc mòn, rửa trôi bề mặt, hình

thành các bề mặt sườn bóc mòn, bóc mòn - rửa trôi, bóc mòn - tích tụ, thềm biển

mài mòn và sườn kiến tạo. Núi phát triển triển trên khối nâng tân kiến tạo bao gồm

các dãy núi Hoàng Gáy ở cực tây nam; núi Đồng Hoàng, núi Khô Quan ở phía nam;

nối Đông Kiều, núi Kim Phụng ở phía tây và các núi khác như: núi Ngự Bình, núi

Động Miêu, v.v. Các núi này có độ cao >100m với độ dốc sườn >25°. Ngay trên bề

mặt sườn, tồn tại vỏ phong hoá và trầm tích eluvi, deluvi mỏng; nhiều chỗ lộ đá

gốc. Ở nam QL1A phân bố dải đồi thấp bằng phảng, độ dốc từ 0° - 5°, được xếp vào

bề mặt thềm biển mài mòn cao 20 - 30m. Đây là mức dường bờ cao nhất trong thời

kỳ này để lại di tích trên địa hình. Dưới đáy trung tâm các VCSVB bị lấp đầy các

trầm tích sông, sông - biển có tuổi Pleistocen giữa - muộn với chiều dầy lớn. Hệ

tầng Quảng Điền phân bố dưới độ sâu 35,5 -100 m ở trung tâm đồng bằng ven biển

các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Hệ tầng Phú Xuân được gộp thành trầm tích

sông - lũ, sông, sông - đầm lầy, song - biển, biển - sông - đầm lầy và biển phân bố

ở bờ trái sông Hương , rìa đồng bằng và bị phủ ở trung tâm đồng bằng dưới các

90

trầm tích trẻ hơn.

4.1.2. Thời kỳ Holocen sớm - giữa

Trong thời kỳ này, chuyển động kiến tạo hạ lún diễn ra ở phía đông của các

VCSVB Bắc Trung Bộ. Biển tiến sâu vào lục địa, tạo điều kiện thuận lợi cho quá

trình tích tụ trầm tích diễn ra [60], [80], [97], [98]. Trong thời kỳ Holocen sớm -

giữa, biển tiến sâu vào phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, quá trình địa mạo

động lực chủ yếu là tích tụ trầm tích biển, sông - biển, hình thành đồng bằng tích tụ

trải rộng từ Bắc vào Nam ở các VCSVB Bắc Trung Bộ. Phía tây khu vực nghiên

cứu, các quá trình bóc mòn, bóc mòn - xâm thực phát triển, phân cắt địa hình đồi,

núi bóc mòn, bóc mòn - xâm thực, thềm mài mòn Pleistocen giữa - muộn.

Trên các VCSVB sông Mã, hoạt động tích tụ trầm tích tạo nên hệ tầng Thiệu

Hóa, gồm các dạng địa hình có nguồn gốc sông, sông - biển, biển có tuổi Holocen

sớm - giữa, phân bố trải rộng trên VCSVB sông Mã thuộc địa phận các huyện Đông

Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, thành phố Thanh Hóa. Chuyển động nâng yếu diễn

ra ở phía tây VCSVB sông Mã, các quá trình địa mạo động lực bóc mòn, bóc mòn -

xâm thực diễn ra trên các dạng địa hình Pleistocen giữa - muộn.

Trên các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương, trong thời kỳ Holocen

sớm - giữa, biển tiến sâu vào trong lục địa, quá trình địa mạo động lực chủ yếu là

tích tụ trầm tích biển, sông - biển. Kết quả của hoạt động tích tụ đã tạo nên các hệ

tầng Tân Mỹ, Quảng Điền, Phú Bài, phân bố rộng rãi ở Gio Linh, Triệu Hải, Hải

Lăng, Phong Điền, Quảng Điền và Phú Vang. Trong thời kỳ này, hoạt động kiến tạo

diễn ra mạnh mẽ, các dòng dung nham basalt từ Manti phun lên bề mặt. Hoạt động

phun trào núi lửa Holocen sớm diễn ra ở phía bắc khu vực nghiên cứu thuộc địa bàn

huyện Gio Linh, đã hình thành địa hình đồi vòm cao 20 - 40 m, được cấu tạo bởi đá

basalt. Hiện nay, chuyển động nâng yếu thúc đẩy quá trình bóc mòn - xâm thực trên

đồi vòm basalt ở khu vực này và hình thành dạng địa hình bề mặt sườn bóc mòn -

xâm thực. Trên VCSVB sông Hương, đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông - biển và

biển, phân bố thành dải kéo dài theo phương TB-ĐN từ xã Hương Phong đến xã

Phú Lương - Phú Đa. Bề mặt tương đối bằng phẳng, được cấu tạo bởi cát thạch anh

hạt trung, hạt thô lẫn bột sét màu xám, vỏ sò hến làm gạch ngói. Ở rìa nam VCSVB

sông Hương, dạng địa hình này phân bố rộng rãi: dọc QL1A, khu thành nội Huế,

91

Hương Hồ, Hương Long, Hương An, Hương Thuỷ, bắc sân bay Phú Bài. Bề mặt

đồng bằng được cấu tạo từ cát màu xám vàng, bột sét màu vàng nâu, rất bằng

phằng, có kết cấu vững chắc, ít bị ngập lụt hàng năm. Trên bề mặt hiện tại là khu

dân cư cố đô Huế và các công trình hạ tầng cơ sở khác. Bề mặt đổng bằng có độ cao

trung bình từ 5 - 10m, có chỗ đạt 20m như ở Đàn Nam Giao, tương đối bằng phẳng,

được cấu tạo từ cát, sạn lẫn bột sét màu vàng đỏ, kết cấu chặt xít, đôi nơi bị lalerit

yếu. Đồng bằng tích tụ nguồn gốc sông - biển - đầm phá phân bố rộng rãi và chiếm

phần lớn diện tích của đồng bằng Huế. Hầu hết diện tích huyện Phú Vang và Hương

Thuỷ thuộc dạng đồng bằng này. Bề mặt đồng bằng dược cấu tạo bởi bột, cát, sét,

vật chất hữu cơ màu đen.

4.1.3. Thời kỳ Holocen muộn - hiện đại

Trong thời kỳ Holocen muộn - hiện đại, chuyển động kiến tạo phân dị trên

các VCSVB Bắc Trung Bộ. Trong thời kỳ này, chuyển động nâng lên, hạ xuống

diễn ra cục bộ trên khu vực nghiên cứu cùng với quá trình biển thoái, do đó, quá

trình tích tụ diễn ra với tốc độ yếu; chiều dầy trầm tích không lớn [60], [80], [97],

[98]. Trong thời kỳ này, các quá trình địa mạo động lực diễn ra chủ yếu là tích tụ

trầm tích có nguồn gốc sông, hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy, v.v, các dạng địa

hình chủ yếu là các bề mặt tích tụ sông, biển, sông - biển và biển - đầm lầy, v.v.

Trên VCSVB sông Mã, chuyển động hạ lún cục bộ ở cửa sông Mã, trầm tích

Holocen muộn được lấp đầy có chiều dầy tới 30 m (LK11.SS) ở cửa Lạch Trào.

Trên khu vực này, hình thành các bề mặt địa hình có nguồn gốc sông, sông - biển,

biển - đầm lầy, v.v. Các dạng địa hình tích tụ sông chủ yếu phân bố dọc sông trên

địa bàn của các huyện Hộc Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương và thành phố Thanh

Hóa. Các dạng địa hình nguồn gốc sông - biển, biển - đầm lầy, v.v phân bố ở dải

ven biển, cửa sông thuộc địa bàn các huyện Hộc Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương và

thành phố Sầm Sơn. Quá trình tích tụ trầm tích quyết định sự hình thành các bãi,

bar, gò nổi cao, cồn, val hiện đại ở VCSVB sông Mã. Trong đó, ở Cửa Lèn, tốc độ

trầm tích lớn, hình thành các bãi, bar, cồn ngày càng rộng lớn, tiến xa ra phía biển

với tốc độ đạt đến 40-50 m/năm; ở Cửa Hới, hoạt động tích tụ yếu hơn, nguồn vật

liệu của dòng chảy ít hơn, bồi tụ dọc theo bờ biển ở cả phía bắc và nam của Cửa

Hới. Tốc độ bồi tụ đạt 5-10 m/năm. Quá trình xói lở phát triển ở ven bờ biển có

92

dòng vật liệu ít, cửa sông nhỏ, không có cửa sông, hoặc có đứt gẫy hoạt động cắt

qua, như ở Cửa Lạch Trường, bờ sông ở Cửa Hớị. Xói lở mạnh nhất ở Cửa Lạch

Trường với tốc độ 5 - 6 m/năm; Cửa Hới yếu hơn, tốc độ xói lở chỉ đạt 3 - 5 m/năm.

Bảng 4.1. Thống kê các kiểu địa hình ở các vùng cửa sông ven biển

Vùng cửa sông ven biển Kiểu nguồn gốc địa

hình Sông Mã Sông Thạch Hãn Sông Hương

Núi sót Karst 1

Núi lửa 1

Bóc mòn 1 2 1

Sông 3 6 4

Hỗn hợp 7 7 9

Biển 3 4 4

Trên VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương, trong thời kỳ này, chuyển

động kiến tạo phân dị với hoạt động hạ lún chủ đạo, hình thành địa hình đồng bằng

tích tụ biển - đầm lầy - đám phá, phân bố thành các dải hẹp ven hai bờ phá Tam

Giang, đầm An Truyền và chia làm hai mức: bãi triều lầy sát bờ đầm phá và đồng

bằng tích tụ biển - đàm phá cao l - 2m. Các dạng địa hình này thường xuyên bị ngập

lụt hàng năm và bị nhiễm mặn. Chúng có thành phần trầm tích khác nhau: cát bột

màu đen, vật chất hữu cơ và cát thạch anh nâu xám, vàng nhạt, cát thạch anh vàng

nhạt; cát hạt trung - đến nhỏ xám trắng. Các dải cồn cát ven biển phân bố thành dải

hẹp dọc bờ biển từ Thái Dương Thượng đến Kẻ Sung. Chúng được cấu tạo từ cát

thạch anh màu xám vàng, lẫn bột dưới dạng các cồn, đụn cát cao từ 10 - 30m. Các

đụn cát có sườn phía đông dốc 5-10o, phía tây dốc 10 - 20°. Ngoài các dạng địa hình

nói trên, còn có dạng địa hình khác như các bãi bồi cao và thấp dọc sông Thạch Hãn

và sông Hương; địa hình tích tụ sông - biển - đầm phá bị lầy hoá phân bố rải rác ở

các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương. Các quá trình địa mạo động lực gây

tai biến xói lở và bồi tụ ở các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương. Ở phía nam

sông Thạch Hãn, hoạt động bồi tụ trầm tích tạo các bãi, bar, cồn phát triển mở rộng,

tiến xa ra phía biển 5 - 7 m/năm; trong khi đó ở phía bắc Cửa Việt, hoạt động xói lở

diễn ra với tốc độ 3 - 5 m/năm. Ngoài ra, tai biến xói lở bờ sông còn phát triển rải

rác ở dọc bờ sông Thạch Hãn, tại các đoạn sông chảy qua Gio Việt, Gio Mai, Triệu

93

Giang, Ái Tử. Ở VCSVB sông Hương, xói lở bờ biển diễn ra phổ biến ở các cửa

biển Thuận An (xói lở liên tục chân các cồn cát dọc bờ biển, có chiều dài từ 150-

180m, tốc độ xói lở 6,4 m/năm), Hoà Duân (xói lở bờ diễn ra với chiều dài 620m).

Bờ sông Hương bị xói lở mạnh mẽ trên đoạn từ Ngã ba Tuần đến phá Tam Giang;

điểm xói lở nghiêm trọng xảy ra ở Thôn La Khê, Bằng Lãng - Thủy Bằng, Long Hồ

- Xước Dũ, Chùa Linh Mụ và Địa Linh - Hương Vinh. Quá trình bồi tụ phát triển

mạnh mẽ ở Hải Dương.

4.2. Đánh giá biến động địa hình

Nghiên cứu đánh giá biến động địa hình, đặc biệt là địa hình hiện đại là một

nội dung quan trọng trong nghiên cứu địa mạo ứng dụng. Để xác lập được xu hướng

biến động địa hình các VCSVB cần phải phân tích tổng hợp các đặc điểm địa mạo,

lịch sử phát triển địa hình và thiết lập các đường bờ cổ ở khu vực nghiên cứu. Bằng

các dấu hiệu về địa hình, địa mạo hiện đại, các di chỉ khảo cổ, v.v cho phép xác lập

các đường bờ biển cổ trong quá khứ. Thêm vào đó, việc xác lập các đường bờ cổ

trong thời gian quá khứ địa chất đã được nêu lên trong một số công trình khoa học

gần đây [29], [39], [99], [100]. Trong đó phải kể đến công trình của Trần Nghi

(1996). Công trình này đã đưa ra một số dấu hiệu địa chất - địa mạo tiêu biểu, đặc

trưng cho phép xác định đới đường bờ cổ. Các tiêu chí về địa mạo - địa chất xác

định đường bờ biển cổ đó là:

- Có bề mặt mài mòn hoặc mài mòn tích tụ chạy khuôn theo đường bình độ,

đó là quá trình san bằng, mài mòn do sóng biển.

- Có mặt các thể cuội sạn, vụn vỏ sò mài tròn tốt.

- Có các thể cát kéo dài song song với bờ, hàm lượng thạch anh cao trên 80%

và độ mài tròn, chọn lọc tốt (Ro>0,6, So <1,3). Đó chính là dấu hiệu của các đê cát

ven bờ do sóng tạo nên.

- Có mặt các tướng bột sét lạch triều, đảo cát tiền châu thổ.

- Có mặt các tướng sét đầm lầy và than bùn đầm lầy cổ ven biển.

Ngoài ra, đối với việc xác định đường bờ biển hiện đại bằng phương pháp

viễn thám và GIS dựa trên quan điểm của ngành Bản đồ học (Cartopgraphy) đường

bờ có đặc điểm và được quy ước khi vẽ bản đồ vị trí đường bờ [49], [50].

94

- Trong sông, là ranh giới phần ngập nước với mực nước trung bình vào mùa

cạn (khi không có lũ);

- Vùng ven biển, là ranh giới vùng ngập nước khi đỉnh triều có độ cao trung

bình lớn nhất (không tính hiện tượng nước dâng);

- Vùng phát triển thực vật ngập nước có mật độ dầy (rừng ngập mặn, rừng

ngập nước trong các hồ, đầm), thì được quy ước là ranh giới giữa vùng phủ thực vật

(rừng) và mặt nước thoáng, v.v.

Như vậy, khái niệm về đường bờ có tính quy ước cao; trong đó vùng Cửa

sông là đoạn xen lấn giữa khái niệm bờ sông và bờ biển, đôi khi phải chấp nhận một

vị trí tương đối của đường bờ tại khu vực Cửa sông. Trong nghiên cứu này, NCS

không đi sâu nghiên cứu nguyên nhân gây ra biến động đường bờ, mà chỉ nhìn nhận

biến động đường bờ như là hệ quả do tác động qua lại của những nhân tố động lực

khác nhau, bao gồm các nhân tố tự nhiên (điều kiện nội sinh, điều kiện ngoại sinh)

và các nhân tố nhân tạo (do con người) gây ra. Qua việc xác định vị trí đường bờ ở

mỗi thời điểm khác nhau và trên cơ sở phương pháp thống kê cho phép ta có thể xác

định được tốc độ phát triển cũng như chiều hướng biến động trong tương lai của

mỗi đoạn bờ.

4.2.1. Đánh giá biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Mã

4.2.1.1. Biến động địa hình

Trên cơ sở phân tích tổng hợp các dấu hiệu địa mạo, địa chất trầm tích

Holocen sớm - giữa và Holocen muộn - hiện đại kết hợp với phân tích các tài liệu

các lỗ khoan, v.v, đới đường bờ cổ ở VCSVB sông Mã đã được xác định trong

Holocen giữa (Hình 4.1). Trong hiện đại, trên cơ sở phân tích tổng hợp các tài liệu

viễn thám và bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu, cho phép xác lập các đường bờ

biển trong hiện đại ở VCSVB sông Mã. Các tài liệu thu thập từ nhiều nguồn khác

nhau như: bản đồ địa hình 1965, ảnh vệ tinh Landsat MMS 1975, Landsat TM

1990, Landsat ETM 2001, Landsat-8 2017, kết hợp với một số ảnh vệ tinh SPOT-5

và QuickBird cùng các tài liệu liên quan khác. Bằng ứng dụng phương pháp phân

tích viễn thám, bản đồ và GIS, kết quả phân tích, xử lý, tổng hợp các tư liệu viễn

thám và bản đồ, cho phép xác lập các đường bờ biển ở các thời đoạn khác nhau

(Hình 4.2).

95

Hình 4.1. Sơ đồ đới đường bờ trong Holocen giữa VCSVB sông Mã(trên ảnh vệ tinh Landsat năm 1999)

96

a b

d c Hình 4.2. Đường bờ biển ở vùng cửa sông ven biển sông Mã trong những năm 1965-1975 (a), 1975-1990 (b) 1990-2001 (c), 2001-2017 (d)

Đới bờ biển trong Holocen giữa được phân định dọc theo ranh giới phía đông

của bề mặt tích tụ biển Holocen sớm - giữa với ranh giới phía tây của bề mặt tích tụ

có tuổi Holocen muộn. Đới bờ biển này phân bố gần song song với đường bờ biển

hiện đại (Hình 4.1). Tại xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương, ghi nhận được tại

điểm khảo sát TH226: cấu trúc địa tầng gồm: dưới lớp đất trồng là sét, bột màu xám

nâu loang lổ, phía dưới là lớp cát màu xám sáng. Trong trầm tích có vi cổ sinh đặc

trưng cho tướng biển nông ven bờ; Tại xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa

(LK13SS(204)) có tảo đặc trưng cho vùng biển và bào tử phấn của thực vật ngập

mặn [76], [78]. Tại xã Hoằng Thịnh, lỗ khoan KT41 cho thấy trầm tích biển có cấu

trúc địa tầng gồm: từ độ sâu 15,6 – 3,8m là sét, 3,8-2,4m là bùn sét và trên cùng là

cát pha. Tại xã Hoằng Quang, lỗ khoan KT42 có lớp trầm tích biển dày 5,6m với

thành phần cát và sét pha. Tại xã Đông Quang, lỗ khoan KT64 có lớp trầm tích biển

dầy 4,4m với thành phần chủ yếu là sét pha. Tại xã Quảng Ninh, lỗ khoan KT79 với

97

lớp trầm tích biển dày 5,5m, có thành phần trầm tích là sét pha và cát pha. Qua các

1-2) thuộc hệ

cột địa tầng lỗ khoan trong khu vực nghiên cứu, có thể thấy được lớp trầm tích biển

này cấu thành lên bề mặt tích tụ biển có tuổi Holocen sớm-giữa (Q2

tầng Thiệu Hóa.

Hình 4.3. Cột địa tầng của một số lỗ khoan tại Thanh Hóa

Những minh chứng trên đây cho thấy, trong thời gian này tồn tại dải tích tụ

bãi ven bờ biển. Trên cơ sở đó, cho phép xác lập đới bờ biển trong thời gian Holocen giữa. Đới bờ biển này được xác lập theo ranh giới ngoài của dạng địa hình

bề mặt tích tụ biển Holocen sớm - giữa với ranh giới trong của bề mặt tích tụ sông -

biển Holocen muộn, chạy khuôn theo đường bình độ có độ cao 3 - 4 m. Đường bờ

biển trong cuối Holocen giữa - đầu Holocen muộn phân bố từ xã Văn Lộc (huyện

Hậu Lộc) chạy qua địa phận các xã Hoằng Đạt, Hoằng Đức, Hoằng Đại (huyện

Hoằng Hóa) đến Quảng Phú, Quảng Nhân (huyện Quảng Xương). Phía tây đường

bờ biển này, chuyển động kiến tạo nâng lên, biển thoái, hình thành phần đất liền với

các dạng địa hình tích tụ có nguồn gốc sông, sông - biển có tuổi Holocen sớm -

giữa. Phía đông của đường bờ biển là biển, các quá trình địa mạo động lực diễn ra

chủ yếu là tích tụ. Các trầm tích hỗn hợp sông - biển phân bố chủ yếu ở nơi cửa sông đổ vào biển, thuộc địa phận các huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương và thành

phố Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Các trầm tích biển phân bố phổ biến ở phía bắc và nam của khu vực nghiên cứu. Đến cuối Holocen muộn, chuyển động hiện đại nâng lên, biển thoái, hình thành phần đất liền với các dạng địa hình có nguồn gốc sông - biển, biển - đầm lầy, biển - gió, v.v có tuổi Holocen muộn - hiện đại (Hình 3.1, 4.1).

Trong thời gian hiện đại, biến động địa hình khác nhau trong không gian phân bố và theo thời gian. Phân tích biến động địa hình ở phía trong và ngoài cửa sông Mã trong các thời đoạn khác nhau cho thấy, diễn biến đường bờ từ 1965 đến 2017 có một số đặc điểm cụ thể như sau:

98

- Khu vực phía ngoài cửa sông Mã (cửa Hới)

Trong thời gian hơn 50 năm qua (1965 - 2017), trên VCSVB này, quá trình

xói lở, bồi tụ diễn ra xen kẽ nhau, diễn biến khá phức tạp. Phía bắc cửa Hới, quá

trình xói lở, bồi tụ xen kẽ theo các từng giai đoạn. Đoạn bờ biển từ xã Hoằng

Trường đến xã Hoằng Thanh diễn ra quá trình xói lở với biên độ nhỏ 3,2 m/năm. Về phía nam cửa Hới, đoạn bờ biển từ xã Quảng Cư đến phường Trường Sơn (thành

phố Thanh Hóa) tương đối ổn định. Đoạn bờ biển từ xã Quảng Phú đến Quảng Đại

ít ổn định thiên về xói lở với biên độ thấp 3,5m/năm. Biến động lớn nhất là ở cửa

Hới và cửa Lạch Trường. Ở cửa Lạch Trường, trong các năm trước 2001, quá trình xói lở, bồi tụ xen kẽ nhau theo từng thời đoạn (Hình 4.2). Kể từ sau năm 2001, ở

đây bồi tụ diễn ra mạnh mẽ, biên độ bồi tụ có nơi lên đến 9,56 m/năm (ở xã Hải

Lộc). Tuy nhiên, theo thống kê được thì ở phía bắc cửa Lạch Trường thì quá trình xói lở vẫn chiếm ưu thế song với biên độ thấp. Đáng chú ý hơn, ở cửa Hới trong

những năm 1975 - 1990, cửa sông được mở rộng nhất, doi cát ở phía nam được bồi

tụ, tiến ra ngoài biển tới 470 m.

Bảng 4.2. Trạng thái phát triển của bờ biển vùng cửa sông ven biển sông Mã

Đoạn bờ phía bắc Cửa Hới Đoạn bờ phía nam Cửa Hới

Tốc độ biến Tốc độ biến động Trạng Trạng Giai động (m/năm) Tt (m/năm) thái Nhận thái Nhận đoạn phát xét phát xét Trun Lớn Lớn Trung triển triển g nhất nhất bình bình

Bồi 1965- (-) 10.8 3.1 Xói nhẹ (+) 12.1 4 1 nhẹ 1975

(-) 18.7 4.2 (-) 10.5 3.5 Xói trung 2 Xói nhẹ 1975- 1990 bình

(+) 6.2 3.2 Bồi nhẹ (+) 10.7 2 3 Bồi nhẹ 1990- 2001

(-) 7.23 3.75 xói nhẹ (+) 14.2 1 4 Bồi nhẹ 2001- 2017

Ghi chú: tình trạng bồi tụ (+),tình trạng xói lở (-), tình trạng bồi xói xen kẽ (+/-)

- Khu vực phía trong cửa sông Mã (cửa Hới)

99

Quá trình bồi tụ và xói lở diễn ra xen kẽ ở phía trong cửa sông Mã theo các

thời đoạn khác nhau (Hình 4.2, 4.5).

+ Trong những năm 1965 - 1975, quá trình bồi tụ, xói lở xen kẽ nhau ở cửa

sông Mã. Trên lòng sông Bút, quá trình xói lở chiếm ưu thế. Quá trình bồi tụ chiếm

ưu thế ở các cửa Hới và cửa Lạch Trường.

+ Trong những năm 1975 - 1990, quá trình xói lở bờ phải chiếm ưu thế ở cửa

sông Mã, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế ở sông Bút. Các cửa sông biến động mạnh

mẽ trong những năm này.

+ Trong những năm 1990 - 2001, ở bờ trái sông Mã, xói lở chiếm ưu thế; ở gần cửa Hới, bồi tụ mạnh. Trên sông Bút, quá trình xói lở, bồi tụ xen kẽ. Các cửa

sông ít biến động.

+ Trong những năm 2001 - 2017, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế dọc sông, cửa

sông ít biến động.

Hình 4.4. Xói lở tại cửa Hới (Ảnh Nguyễn Công Quân)

Địa hình hiện đại VCSVB sông Mã biến động không giống nhau theo thời

gian và không gian phân bố. Tổng diện tích biến động trong khu vực nghiên cứu là

21,5 km2. Trên khu vực phía trong sông, quá trình bồi tụ và xói lở diễn ra xen kẽ

nhau theo từng giai đoạn; phía ngoài biển, đường bờ biển ở phía bắc, nam của các

cửa Hới có xu thế tiến ra phía biển và ở phái bắc cửa Lạch Trường xói lở với biên

độ thấp, và phía nam thì có xu thế bồi tụ. Trên cơ sở đó, NCS đưa ra được sơ đồ dự

đoán khả năng diễn biến đường bờ biển của VCSVB sông Mã trong tương lai (Hình

4.5).

100

Hình 4.5. Sơ đồ dự đoán khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven biển sông Mã

4.2.1.2. Đánh giá chung

Địa hình VCSVB sông Mã bị biến động mạnh mẽ theo thời gian và không

gian phân bố. Theo các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đây

cho thấy, trên địa bàn các xã Yên Thái, Yên Lạc (Yên Định), Xuân Lai, Xuân Yên

(Thọ Xuân) có tồn tại các dấu hiệu địa mạo, địa chất của đới bờ biển có tuổi trước

cuối Pleistocen muộn - đầu Holocen sớm [76], [78]. Như vậy, vào trước cuối

Pleistocen muộn hoặc đầu Holocen sớm, phần đất liền của đồng bằng Thanh Hóa

nằm cách xa bờ biển hiện nay, thuộc địa phận các huyện Thọ Xuân, Yên Định và

Triệu Sơn. Thời gian này, biển tiến vào, đồng bằng Thanh Hóa tồn tại dưới biển,

quá trình tích tụ trầm tích có nguồn gốc sông, sông - biển phát triển mạnh mẽ, với

chiều dày lớn, đạt đến hàng chục mét [61], [76], [78].

Chuyển động nâng lên, biển thoái đến cuối Holocen giữa hình thành bề mặt

địa hình đồng bằng tích tụ có tuổi Holocen sớm - giữa trên phần lớn diện tích đồng

101

bằng Thanh Hóa. Trên VCSVB sông Mã, trong thời gian Holocen giữa, đường bờ

biển phân bố từ xã Văn Lộc (huyện Hậu Lộc) chạy qua địa phận các xã Hoằng Đạt,

Hoằng Đức, Hoằng Đại (huyện Hoằng Hóa) đến Quảng Phú, Quảng Nhân (huyện

Quảng Xương). Trên đất liền, địa hình chủ yếu là các dạng địa hình núi sót karst,

đồi, núi sót bóc mòn, bóc mòn - xâm thực và các dạng địa hình tích tụ sông, sông -

biển Holocen sớm - giữa.

Phần phía đông của đường bờ là biển, các quá trình địa mạo động lực chủ

yếu là tích tụ trầm tích có nguồn gốc sông - biển, biển, biển - đầm lầy, v.v. Chuyển

động nâng lên, biển thoái trong thời gian Holocen muộn đến nay đã hình thành địa

hình đồng bằng tích tụ hỗn hợp sông - biển, biển - đầm lầy, v.v có tuổi Holocen

muộn - hiện đại. Các dạng địa hình này phân bố ở phía đông các huyện Hậu Lộc,

Hoằng Hóa, Quảng Xương và thành phố Sầm Sơn.

Trên VCSVB sông Mã, địa hình biến động theo xu hướng tiến ra biển với

biên độ và tốc độ lớn. Từ cuối Pleistocen đến Holocen giữa, đất liền đã phát triển

tiến về phía biển đến vài chục kilomet. Trong thời gian từ cuối Holocen giữa, đất

liền đã tiến về phía biển tới 20 km. Trong thời gian hiện đại, địa hình biến động

mạnh mẽ tại các cửa sông: Cửa Hới và Cửa Lạch Trường.

4.2.2. Đánh giá biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn

4.2.2.1. Biến động địa hình

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các dấu hiệu địa mạo, địa chất, v.v, cho phép

xác lập các đới đường bờ cổ ở VCSVB sông Thạch Hãn. Đới bờ biển trong

Pleistocen muộn được phân định dọc theo chân của bề mặt thềm mài mòn biển tuổi

Pleistocen muộn (Hình 4.7). Bề mặt thềm mài mòn biển có địa hình dạng bậc, bị

phân cắt nhẹ, tính bằng phẳng được bảo tồn, được cấu tạo bằng đá gốc song có vỏ

phong hóa laterit dày từ 2-15m. Tại mặt cắt địa mạo qua phường 1 và phường 2 của

thành phố Đông Hà (Hình 4.6), bề mặt thềm mài mòn có dạng nghiêng thoải ra phía

biển. Chân thềm có trầm tích sông-biển tuổi Pleistocen muộn. Trầm tích sông-biển

tuổi Pleistocen muộn được ghi nhận trong lỗ khoan LK6 tại xã Gio Mai, có cấu trúc

địa tầng như sau: Lớp 1 nằm chuyển tiếp trên trầm tích sông cùng hệ tầng là bột lẫn

ít cát, sạn màu vàng, vàng xám. Thành phần độ hạt (%): sét 54; bột 35,2; cát 8,55;

sạn 2,3. Dày 10m. Lớp 2 bột cát lẫn sạn sỏi, sét màu nâu đỏ, xám trắng loang lổ. Hệ

102

số địa hóa pH: 4.54-5.05. Tại Hà Lợi, lỗ khoan LK2BKT có trầm tích sông – biển

tuổi Pleistocen muộn với thành phần: cát nhỏ đến trung lẫn bột mầu xám trắng,

vàng nhạt; bột cát, bột sét với thành phần thạch anh lên tới 98-99%. Ở độ sâu 30-

33m gặp hóa đá của vỏ sò hến kích thước 1,5-3cm. Trầm tích này nằm dưới lớp

trầm tích sông-biển tuổi Holocen sớm-giữa.

Hình 4.6. Mặt cắt địa mạo qua bề mặt thềm mài mòn biển Những minh chứng trên đây cho thấy, trong thời gian này tồn tại dải tích tụ

bãi ven bờ biển. Trên cơ sở đó, cho phép xác lập đới bờ biển trong Pleistocen muộn. Đới bờ biển này được xác lập là ranh giới ngoài của bề mặt thềm biển mài mòn tuổi

Pleistocen muộn với ranh giới trong của bề mặt tích tụ sông - biển Holocen sớm -

giữa. Bề mặt thềm mài mòn khá bằng phẳng, nghiêng thoải về phía biển, có độ cao

15 - 20 m, được cấu tạo bằng đá gốc, có dạng bậc, bị phân cắt yếu. Đới đường bờ

biển trong Pleistocen muộn được xác định trên cơ sở nối các điểm chân bề mặt còn

sót lại của thềm mài mòn, và ranh giới trong của bề mặt tích tụ Holocen sớm - giữa,

chạy khuôn theo đường bình độ 15 m [28], [31], [62]. Đường bờ biển trong

Pleistocen muộn phân bố từ xã Gio Hòa, Linh Hải chạy qua xã Cam An, Triệu Ái đến phía tây thị trấn Ái Tử. Phía tây đường bờ biển này, chuyển động kiến tạo nâng

lên, biển thoái, hình thành phần đất liền với các dạng địa hình thềm mài mòn biển và các đồi, núi bóc mòn, bóc mòn – xâm thực có tuổi Pleistocen giữa - muộn. Phía đông của đường bờ biển là biển, biến tiến sâu vào lục địa, các quá trình địa mạo động lực diễn ra chủ yếu là tích tụ. Các trầm tích có nguồn gốc hỗn hợp sông - biển phân bố chủ yếu ở nơi cửa sông Thạch Hãn đổ vào biển, thuộc địa phận các huyện

Cam Lộ và Triệu Phong. Các trầm tích biển phân bố phổ biến ở phía bắc và nam của khu vực nghiên cứu, nơi các quá trình động lực biển chiếm ưu thế. Đến cuối Holocen muộn, chuyển động hiện đại nâng lên, biển thoái, hình thành phần đất liền

103

là đồng bằng tích tụ với các dạng địa hình có nguồn gốc sông - biển, biển - đầm lầy,

biển - gió, v.v có tuổi Holocen - hiện đại (Hình 3.10, 4.7).

Hình 4.7. Đới đường bờ trong Pleistocen muộn VCSVB sông Thạch Hãn (trên ảnh vệ tinh Landsat năm 1999)

Trong hiện đại, đường bờ biển khu vực nghiên cứu được xác định dựa trên

phân tích các tư liệu viễn thám và bản đồ. Các tư liệu liệu viễn thám khu vực nghiên

cứu đã thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: tư liệu ảnh máy bay năm 1952,

1999, bản đồ địa hình 1965, ảnh Landsat các thời kỳ năm 1979, 1989, 2017, SPOT-

104

5 và Sentinel. Kết quả phân tích, tổng hợp cho phép xác lập đường bờ biển khu vực

nghiên cứu (Hình 4.8).

a b

c d

e

Hình 4.8. Đường bờ vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn trong những năm 1952-1965 (a), 1965-1979 (b), 1979-1989 (c), 1989-1999 (d), 1999-2017 (e)

Phân tích diễn biến biến động địa hình VCSVB sông Thạch Hãn trong hiện

đại cho thấy, đường bờ khu vực nghiên cứu từ năm 1952 đến năm 2017 có những

biến động phức tạp (Bảng 4.3, Hình 4.8, 4.9).

- Ở phía ngoài cửa Việt, trong hơn 65 năm qua (1965 - 2017, quá trình bồi tụ

và xói lở diễn ra thường xuyên; xen kẽ giữa chúng là thời kỳ ổn định tương đối. Tốc

105

độ bồi tụ, xói lở trung bình dao động trong khoảng 5 - 7 m/năm và chỗ lớn nhất có

thể đạt tới 26 m/năm. Những thời điểm bờ tiến về phía biển (trạng thái bồi tụ) diễn

ra vào các năm 1965, 1989, 2017; những năm đường bờ chuyển dịch về phía lục địa

(trạng thái xói lở) diễn ra và các năm 1952, 1979, 1989. Như vậy, ở phía bắc Cửa

Việt các quá trình bồi tụ và xói lở diễn ra xen kẽ nhau; phía nam đường bờ có xu

hướng ổn định hơn. Đặc biệt, vào tháng 11/1999 có trận lũ lịch sử, làm đảo lộn

hoàn toàn các quá trình phát triển diễn ra ở Cửa Việt, quá trình xói lở chuyển thành

quá trình bồi tụ.

Đoạn bờ phía bắc Cửa Việt

Đoạn bờ phía nam Cửa Việt

Tốc độ biến

Tốc độ biến

Trạng

Trạng

động

động (m/năm)

Tt Giai đoạn

thái

thái

Nhận

Nhận

(m/năm)

phát

phát

xét

xét

Lớn

Trung

Lớn

Trung

triển

triển

nhất

bình

nhất

bình

Xói

Bồi

1952-

(+)

10,1

7,3

(-)

15

5,7

trung

1

mạnh

1965

bình

Xói

Bồi

1965-

(-)

21,4

14

(+)

8,7

3,8

2

mạnh

nhẹ

1979

Xói

Xói

1979-

(-)

13

6,7

trung

(-)

15

7,7

3

mạnh

1989

bình

Bồi

Bồi

1989-

(+)

12

5

(+)

11

5

trung

trung

4

1999

bình

bình

Bồi

1999-

(+)

8,6

3,5

Bồi nhẹ

(+)

8,2

3,6

5

nhẹ

2017

Bảng 4.3. Thống kê biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn

Ghi chú: tình trạng bồi tụ (+),tình trạng xói lở (-), tình trạng bồi xói xen kẽ (+/-)

- Ở phía trong Cửa Việt, biến động địa hình hiện đại diễn ra phức tạp, các

quá trình địa mạo động lực (xói lở, bồi tụ) diễn ra không đồng đều theo không gian

và thời gian. Các dòng và luồng lạch phía trong Cửa Việt có vai trò tiêu nước từ các

106

cồn, đụn, giồng cát ven biển. Chúng luôn có quá trình biến động mạnh. Ở khu vực

này, các quá trình bồi tụ, xói lở diễn ra xen kẽ nhau trong những năm 1952 - 2017.

+ Trong những năm 1952 - 1965, quá trình bồi tụ mạnh ở các luồng lạch,

đàm phá phía trong Cửa Việt và biến động này mang tính đột biến. Cửa sông ít biến

động.

+ Trong những năm 1965 - 1979, quá trình xói lở chiếm ưu thế, các luồng

lạch trong sông có biến động.

+ Trong những năm 1979 - 1989, ở trong sông ít biến động, có một vài chỗ

có bồi tụ. Phía cửa sông biến động khá mạnh làm cho cửa sông không ổn định trong

thời gian này.

+ Trong những năm 1989 - 1999, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, một số khu

vực bị xói lở; phía cửa sông ít biến động.

+ Trong những năm 1999 - 2017, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, hình thành

các đảo ven sông. Khu vực cửa sông biến động mạnh, không ổn định.

Trên VCSVB sông Thạch Hãn, địa hình hiện đại bị biến động mạnh mẽ, đặc

biệt là ở Cửa Việt, trong hơn 65 năm (1952-2017). Phân tích biến động địa hình

hiện đại cho thấy, tổng diện tích biến động khoảng 7,863km2. Quá trình bồi tụ hay

xói lở chiếm ưu thế ở từng thời đoạn khác nhau. Trong 65 năm qua, riêng Cửa Việt,

địa hình bị biến động mạnh mẽ. Phía ngoài bờ biển diễn ra quá trình bồi tụ, xói lở

xen kẽ nhau. Đoạn phía trong cửa sông không ổn định, do có sự dịch chuyển của

các bãi cát, cồn ngầm (Bảng 4.4, Hình 4.9).

Bảng 4.4. Biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn

Giai đoạn Đánh giá tình trạng phát triển

Bờ phía nam Bờ phía bắc Vùng ven biển Cửa Việt Đoạn bờ trong Cửa Việt

1952-1965 (+) (-) (+/-)

Bờ biển xói lở, bồi tụ xen kẽ, bờ không ổn định. Càng về phía nam, bờ ít biến động. Khu vực trong sông quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Cửa sông tương đối ổn định.

107

1965-1979 (-) (+) (+/-)

1979-1989 (-) (-) (+/-)

1989-1999 (+) (+) (+/-)

1999-2017 (+) (+) (+/-)

Nhận xét chung

Bờ phía bắc xói lở chiếm ưu thế, bờ phía nam xói lở và bồi tụ xen kẽ, tương đối ổn định. Càng về phía nam bờ biển ít biến động. Khư vực trong sông xói lở chiếm ưu thế. Cửa sông ít biến động Đường bờ biến quá trình xói lở chiếm ưu thế, đoạn trong sông xói lở, bồi tụ xen kẽ nhau với biên độ không lớn. Cửa sông biến động mạnh. Bờ biến đượng bồi tụ, phần trong sông có biến động mạnh. Cửa sông không ổn định Bờ biển quá trình bồi tụ trung bình, phần trong sông xói lở và bồi tụ xen kẽ nhau. Cửa sông biến động mạnh. Bờ biển phía bắc có những biến động mạnh, bờ phía nam ít biến động hơn, càng dần về phía nam bờ tương đối ổn định; lòng dẫn đoạn cửa sông biến động mạnh. Bờ xói, bồi xen kẽ, ít ổn định

Bờ xói, bồi xen kẽ, ít ổn định Bồi tụ, xói lở xen kẽ, lòng dẫn không ổn định

*Ghi chú: tình trạng bồi tụ(+),tình trạng xói lở(-), tình trạng bồi xói xen kẽ(+/-)

Hình 4.9. Sơ đồ khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn (khu vực Cửa Việt)

108

4.2.2.2. Đánh giá chung

Địa hình VCSVB sông Thạch Hãn bị biến động mạnh mẽ theo thời gian và

không gian phân bố. Quá trình biến động diễn ra trong thời gian từ Pleistocen giữa -

muộn đến hiện nay.

Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu địa mạo, địa chất cho phép xác lập đới bờ

biển có tuổi Pleistocen muộn. Như vậy, vào trong Pleistocen muộn, phần đất liền

của đồng bằng Quảng Trị nằm cách xa bờ biển hiện nay, thuộc địa phận các huyện

Gio Linh, Cam Lộ, thành phố Đông Hà. Thời gian này, chuyển động kiến tạo hạ

lún, biển tiến vào sâu trong đất liền và phần lớn diện tích VCSVB sông Thạch Hãn

tồn tại dưới biển, quá trình tích tụ trầm tích có nguồn gốc sông - biển, biển phát

triển mạnh mẽ, với chiều dày lớn, đạt đến hàng chục mét. Trong Holocen muộn,

chuyển động nâng lên, biển thoái, hình thành dải đồng bằng ven biển với các dạng

địa hình tích tụ sông, sông - biển, biển, biển - đầm lầy, biển - gió có tuổi từ Holocen

sớm đến hiện đại.

Như vậy, địa hình VCSVB sông Thạch Hãn bị biến động mạnh từ cuối

Pleistocen muộn đến nay, đất liền đã phát triển có xu hướng tiến về phía biển đến

hàng chục kilomet. Hiện nay, địa hình biến động theo xu hướng biển lấn vào đất

liền ở phía bắc Cửa Việt, trong khi đó, ở phía nam Cửa Việt bình ổn, ít biến động

hơn. Phía trong sông Thạch Hãn, đoạn chạy qua các xã Triệu Giang, Triệu Thuận,

Triệu Đô, Triệu Phước và Triệu An, quá trình xói lở diễn ra với cường độ lớn, bờ

sông bị phá hủy, địa hình bị biến động mạnh mẽ.

4.2.3. Đánh giá biến động địa hình cửa sông ven biển sông Hương

4.2.3.1. Biến động địa hình

Biến động địa hình VCSVB sông Hương được đánh giá trên cơ sở phân tích

những đặc điểm địa mạo, địa chất Đệ tứ và xác lập các đường bờ cổ ở khu vực. Tổng hợp các dấu hiệu địa mạo, địa chất Đệ tứ, các tài liệu lỗ khoan, v.v, cho phép xác lập các đới đường bờ cổ ở VCSVB sông Hương. Đới đường bờ trong Pleistocen muộn được xác lập là chân của bề mặt thềm biển mài mòn tuổi Pleistocen muộn. Bề mặt thềm mài mòn khá bằng phẳng, có độ cao 12 - 20 m, được cấu tạo bằng đá gốc, có dạng bậc, bị phân cắt yếu bởi các khe suối. Qua mặt cắt địa hình tại phường Thủy Phương (Hình 4.10), bề mặt thềm mài mòn khá bằng phẳng, nằm nghiêng thoải ra phía biển. Đáy chân thềm là trầm tích sông-biển tuổi Pleistocen muộn được

109

phủ lên bởi trầm tích sông-biển tuổi Holocen giữa-muộn. Trầm tích sông-biển 3 px có thành phần chủ yếu hạt mịn xám đen, xám trắng(sét bột chứa vật chất amQ1 hữu cơ). Ghi nhận tại lỗ khoan LK HU8 ở Phú Xuân, trầm tích sông-biển có thành

phần vật chất: cát bột lẫn sét mầu xám đen, có vật chất hữu cơ màu xám đen, xám

tro, chứa bào từ phấn hóa và tảo đặc trưng cho môi trường cửa sông ven biển [30], [77].

Hình 4.10. Mặt cắt địa mạo qua bề mặt thềm mài mòn biển tại Thủy Phương

Trầm tích sông biển tuổi Pleistocen muộn được ghi nhận tại nhiều nơi như tại

thị trấn Tứ Hạ (LK302), cấu trúc địa tầng gồm: dưới lớp đất trồng là sét, bột màu

xám nâu loang lổ, phía dưới là lớp cát màu xám sáng. Trong trầm tích có vi cổ sinh

đặc trưng cho tướng biển nông ven bờ, tại Hương An (LKT2) có tảo đặc trưng cho

vùng biển và bào tử phấn của thực vật ngập mặn [30]. Như vậy, đới đường bờ biển

trong Pleistocen muộn được xác định trên cơ sở nối các điểm chân phía ngoài của

bề mặt thềm mài mòn còn sót lại, chạy khuôn theo đường bình độ 15 m.

Biến động địa hình VCSVB sông Hương diễn ra từ Pleistocen muộn cho đến

nay và thể hiện rõ bởi những đặc điểm địa mạo, địa chất Đệ tứ và biến động đường

bờ biển cổ. Đường bờ biển trong Pleistocen muộn chạy từ thị trấn Tứ Hạ, xã Hương

Văn, Hương Chữ chạy qua phía tây thành phố Huế, thị trấn Phú Bài, xã Thủy Tân

đến xã Thủy Phù, Lộc Bổn (huyện Phú Lộc). Trong thời gian này, phía đông của

VCSVB sông Hương là biển, phía tây là phần đất liền. Phần đất liền ở phía tây

VCSVB sông Hương, các quá trình địa mạo động lực diễn ra chủ yếu là bóc mòn,

bóc mòn - xâm thực và mài mòn biển. Kết quả là phía tây của đường bờ biển này

trên địa phận các huyện Hương Trà, Hương Thủy và Phú Lộc hình thành các dạng

địa hình đồi, núi thấp bóc mòn, bóc mòn - xâm thực và các thềm mài mòn tuổi

Pleistocen giữa - muộn. Phía đông đường bờ biển này là biển, nơi diễn ra quá trình

tích tụ trầm tích Holocen sớm - giữa. Quá trình tích tụ diễn ra khá rộng khắp với các

110

nguồn gốc sông - biển và biển. Các trầm tích có nguồn gốc sông phân bố ở cửa sông

Hương đổ ra biển ở phía đông các huyện Hương Trà, Hương Thủy và thành phố

Huế. Trầm tích có nguồn gốc biển chủ yếu ở phía bắc, tây bắc và nam, đông nam

của VCSVB sông Hương thuộc địa phận huyện Quảng Điền và Phú Lộc (Hình 3.17,

4.11). Như vậy, trong thời gian từ Pleistocen muộn đến nay, phần đất liền VCSVB

sông Hương có xu hướng tiến ra phía biển tới 30 km.

Hình 4.11. Đới đường bờ trong Pleistocen muộn ở VCSVB sông Hương (trên ảnh vệ tinh năm 1999)

Trong hiện đại, những biến động địa hình của khu vực thông qua xác định

đường bờ bằng công nghệ viễn thám và GIS. Phân tích, xử lí, tổng hợp các tư liệu

viễn thám Radarsat (1999), SPOT-5 (2004, 2008), Landsat TM (1989), ETM (1999,

2001, 2005, 2010), Landsat-8 2017, ảnh máy bay (1978, 1994, 1999) và bản đồ địa

hình UTM (1965) cho phép xác định biến động địa hình hiện đại VCSVB sông

Hương, thông qua quá trình biến động đường bờ cửa Thuận An.

- Khu vực phía ngoài cửa Thuận An, trong thời gian 52 năm qua vùng ven

biển phía Bắc và phía Nam cửa Thuận An tiếp tục phát triển theo phương thức xói

lở, bồi tụ xen kẽ và quá trình xói lở chiếm ưu thế. Đường bờ biển lấn sâu vào đất

liền vào năm 1978, 2005. Ở dải ven biển phía Bắc cửa Thuận An, quá trình bồi tụ,

111

xói lở diễn ra xen kẽ nhau, dải ven biển phía Nam quá trình xói lở chiếm ưu thế.

Đặc biệt, vào trận lũ lịch sử được ghi nhận bằng ảnh Radasat năm 1999, khi nước lũ

lớn tràn về làm mực nước trong hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai dâng lên

cao đột ngột. Dòng nước chảy tràn bờ đầm phá và đã mở ra cửa biển tạm thời tại

thôn 2 (xã Hải Dương) có chiều rộng tới 320m. Tại vị trí mở cửa biển này trước khi

xẩy ra lũ lớn vốn đã bị xói lở mạnh nên dải cát phân cách giữa phá Tam Giang và

cửa biển Thuận An chỉ còn chiều rộng 150m nên dễ bị dòng nước lũ chia cắt do khi

chảy tràn mặt bãi.

Đoạn bờ phía bắc Cửa Thuận An

Đoạn bờ phía nam Cửa Thuận An

Tốc độ biến

Tốc độ biến động

Trạng

Trạng

Giai đoạn

động (m/năm)

(m/năm)

thái

Nhận

Nhận

thái phát

phát

xét

xét

Lớn

Trung

Lớn

Trung

triển

triển

nhất

bình

nhất

bình

Xói

Xói

1965-1978

(-)

7,3

5,8

trung

(-)

17,7

7,3

mạnh

bình

Xói

Xói

1978-1989

(-/+)

8,2

13,6

(-)

7,8

4,5

nhẹ

mạnh

Xói

Bồi

1989-1994

(+/-)

14

7

(-/+)

9

trung

4

mạnh

bình

Bồi

Xói

1994-1999

(-/+)

30

10

(+/-)

36

8

mạnh

mạnh

Xói

Bồi

1999-2005

(+)

38

16

(-)

26,7

8,3

mạnh

mạnh

Xói

Xói

2005-2017

(-)

19

10

(-)

9

4

trung

mạnh

bình

Bảng 4.5. Biến động địa hình vùng cửa sông ven biển sông Hương

Ghi chú: tình trạng bồi tụ (+),tình trạng xói lở (-), tình trạng bồi xói xen kẽ (+/-)

112

a b

c d

f

e Hình 4.12. Đường bờ ở vùng cửa sông ven biển sông Hương trong những năm 1965-1978 (a), (1978-1989 (b), (1989-1994) (c), 1994-1999 (d), 1999-2005 (e), 2005-2017 (f)

a b

Hình 4.13. Ảnh nhà đổ do xói lở (a) và xói lở bờ biển xã Hải Dương (b) (Ảnh: Nguyễn Công Quân)

- Khu vực phía trong Cửa Thuận An gồm đầm phá Tam Giang - Thanh Lam và hạ lưu của sông Hương, các quá trình bồi tụ, xói lở diễn ra xen kẽ nhau trong những năm 1952 - 2017.

113

+ Trong những năm 1965 - 1978, ở ven bờ đầm phá Tam Giang - Thanh

Lam, những biến động chủ yếu do các hoạt động kinh tế, kỹ thuật, phát triển các ô

nuôi thủy sản và xây dựng các công trình giao thông - thủy lợi. Trên đoạn hạ lưu

sông Hương, đoạn bờ bên trái xói lở nhẹ, đoạn bờ bên phải sông Hương có quá

trình xói, bồi xen kẽ.

+ Trong những năm 1979 - 1989, ở ven đầm phá Tam Giang - Thanh Lam ít

biến động, hạ lưu sông Hương có trạng thái bờ ít biến động, riêng đoạn bờ sông

thuộc khu vực cồn Quy Lai (xã Phú Thanh) bị xói lở mạnh.

+ Trong những năm 1989 - 1994, vùng ven bờ trong đầm phá Tam Giang - Thanh Lam có biến động không lớn, chủ yếu do các hoạt động kinh tế của con

người; hạ lưu sông Hương tương đối ổn định.

+ Trong những năm 1994 - 1999, vùng ven bờ trong đầm phá Tam Giang - Thanh Lam có những biến động không lớn, hạ lưu sông Hương bờ tương đối ổn

định. Tại thời điểm lũ tháng 11 năm 1999, ở thành phố Huế, mực nước sông Hương

vượt quá mức báo động 3 là 3,5m, nước lũ từ các nhánh sông, suối chính đổ vào

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian ngắn, đã làm mực nước dâng cao đột

ngột. Các cửa biển Thuận An và Cầu Hai không đủ khả năng tiêu thoát, nên nước lũ

đã chảy tràn dải cát ven biển và mở ra một số cửa biển mới; trong đó có cửa Hải

Dương ở phía bắc và cửa Hòa Duân ở phía nam.

+ Trong những năm 1999 - 2005, vùng ven biển đầm phá Tam Giang -

Thanh Lam vẫn có những thay đổi do hoạt động phát triển kinh tế của con người, ở

hạ lưu sông Hương, bồi tụ phát triển.

+ Trong những năm 2005 - 2017, ở ven bờ đầm phá Tam Giang - Thanh

Lam, lưu sông Hương, xói lở bờ phát triển, chủ yếu nằm bên bờ phải thuộc địa phận

các xã Lại Ân, Hòa An và Phú Thanh (huyện Phú Vang).

4.2.3.2. Đánh giá chung

Biến động địa hình VCSVB sông Hương diễn ra khá mạnh mẽ trong không

gian và từ Pleistocen muộn cho đến nay. Phân tích các đặc điểm địa mạo, địa chất

và đới bờ biển trong Pleistocen muộn cho thấy, vào cuối Pleistocen muộn hoặc đầu

Holocen sớm, phần đất liền của đồng bằng Thừa Thiên Huế nằm cách xa bờ biển

hiện nay, thuộc địa phận các huyện Hương Trà, tây thành phố Huế, huyện Hương

Thủy và Phú Lộc. Thời gian này, chuyển động kiến tạo hạ lún, biển tiến vào sâu

trong đất liền và phần lớn diện tích VCSVB sông Hương tồn tại dưới biển, quá trình

114

tích tụ trầm tích có nguồn gốc sông - biển, biển phát triển mạnh mẽ, với chiều dày

lớn, đạt đến hàng chục mét. Từ đầu Holocen muộn đến nay, chuyển động nâng lên,

biển thoái, hình thành dải đồng bằng ven biển với các dạng địa hình tích tụ sông -

biển, biển, biển - đầm lầy, đầm phá, vũng vinh, biển - gió.

Địa hình VCSVB sông Hương bị biến động mạnh từ cuối Pleistocen muộn

đến nay, phần đất liền đã phát triển có xu hướng tiến về phía biển đến hàng chục

kilomet. Hiện nay, địa hình biến động theo xu hướng biển lấn vào đất liền ở Cửa

Thuận An (Bảng 4.6, Hình 4.14). Biến động địa hình ở Cửa Thuận An trong hơn 52

năm qua (1965-2017) thể hiện bởi quá trình xói lở. Diện tích biến động ở khu vực

Cửa Thuận An khoảng 8,12km2. Biến động xảy ra ở dải bờ biển Hải Dương - Thuận

An, ven bờ đầm phá Tam Giang - Thanh Lam và ven bờ sông Hương.

Bảng 4.6. Biến động địa hình ở Cửa Thuận An

Địa điểm

Thời gian Đánh giá biến động Bắc cửa Nam cửa Phía trong cửa

Thuận An Thuận An Thuận An

Bờ biển không ổn định, 1965-1978 ( - ) ( - ) (+/-) thiên về trạng thái xói lở

1978-1989 (-/+) ( - ) (+/-) Bờ biển ít ổn định

1989-1994 (+/-) (-/+) (+/-) Bờ biển ít ổn định

1994-1999 (+/-) (+/-) (-/+) Bờ biển ít ổn định

11/1999 ( - ) ( - ) ( - ) Bờ biển bị xói lở mạnh

1999-2005 ( + ) (+/-) (+/-) Bờ biển tương đối ổn định

2005-2010 ( - ) (-/+) (+/-) Bờ biển ít ổn định

Khu vực cửa Thuận An ít Biến động do ổn định, chịu tác động các hoạt động mạnh bởi các yếu tố sông Nhận xét Ít ổn định Ít ổn định kinh tế, ít ổn - biển, nội sinh và hoạt định động khai thác, chỉnh trị

Ghi chú: (+) tình trạng bồi tụ; (-) tình trạng xói lở; (+/-) tình trạng bồi - xói xen kẽ

115

Hình 4.14. Sơ đồ khả năng diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông ven biển sông Hương (khu vực Cửa Thuận An)

4.3. Khuyến nghị giải pháp sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ

Những biến động địa hình hiện đại, đặc biệt là các quá trình xói lở và bồi tụ

ở VCSVB Bắc Trung Bộ, đã và đang có tác động lớn, gây hậu quả khó lường đối

với đời sống của con người. Trên cơ sở phân tích hiện trạng, nguyên nhân và xu

hướng biến động địa hình, cho phép đề xuất một số định hướng, giải pháp sử dụng

hợp lý tài nguyên lãnh thổ ở một số VCSVB Bắc Trung Bộ.

4.3.1. Khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên ở các VCSVB bao gồm những tài nguyên tái tạo và

không được tái tạo. Việc khai thác chúng nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế, không làm

suy kiệt và bảo vệ được môi trường là những mục tiêu chính cho phát triển bền

vững KT-XH và bảo vệ môi trường ở nước ta. Trên cơ sở những phân tích, tổng

hợp về đặc điểm địa mạo, xu hướng biến động địa hình hiện đại ở các VCSVB Bắc

Trung Bộ và tình trạng khai thác các nguồn tai nguyên như hiện nay, cho phép đề

xuất các hướng khai thác sử dụng tài nguyên lãnh thổ.

4.3.1.1. Tài nguyên đất

Tài nguyên đất ở các VCSVB chủ yếu là đất mới bồi, chúng có những đặc

điểm là ít ổn định, cần được lưu ý khi khai thác sử dụng. Hiện nay, ở các VCSVB

116

Bắc Trung Bộ có nhiều diện tích đất thấp có lợi thế cho phát triển và đã được đưa

vào khai thác nuôi trồng thuỷ, hải sản (Bảng 4.7) .

Bảng 4.7. Diện tích nuôi trồng thuỷ, hải sản năm 2014

Tỉnh Thanh Hóa Quảng Trị Thừa Thiên Huế

Diện tích (nghìn ha) 15,3 3,4 7,5

Nguồn: [13]

Ngoài ra, một số dải bờ biển đã phát triển các khu du lịch và nghỉ dưỡng

(Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, Huế, Lăng Cô, v.v). Tuy nhiên, hiện nay trong bối

cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cần chú ý đầu tư trong việc xây dựng các

công trình bảo vệ bờ, ổn định luồng lạch trong sông. Giải pháp công trình rất hiệu

quả và ít tốn kém nhằm giữ đất mới bồi ở VCSVB đó là: trồng rừng ngập mặn

(mangrove). Giải pháp này mang lại hiểu quả hơn hẳn các giải pháp công trình khác

như kè bờ mái, mỏ hàn, đê chắn sóng, đê giảm sóng, v.v. Bên cạnh đó, giải pháp phi

công trình là cảnh báo sớm các đoạn bờ có nguy cơ cao về tai biến xói lở và bồi tụ.

Trên cơ sở đó, xây dựng bản quy hoạch chi tiết, phát triển hợp lý các khu dân cư,

các công trình kinh tế dân sinh, các khu du lịch, văn hóa, v.v tránh được thiệt hại do

các tai biến gây ra. Đối với các VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương,

cần có những quy hoạch chi tiết, cụ thể dựa trên khả năng biến động đường bờ biển

trong tương lai (Hình 4.1, 4.7, 4.11), nhằm làm giảm thiểu những tổn hại bới những

tai biến tự nhiên có thể gây ra. Trong thực tế, cần áp dụng kết hợp các giải pháp

công trình và phi công trình để phát huy được tối đa hiệu quả của mỗi giải pháp,

đồng thời khắc phục những điểm yếu của chúng và đảm bảo các chi phí hợp lý.

4.3.1.2. Tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt ở VCSVB Bắc Trung Bộ thuộc loại phong phú so với cả nước. Hằng năm, tính trung bình ở Bắc Trung Bộ nhận được 113tỷ m3 nước mưa và sinh ra 67,9 tỷ m3 dòng chảy vào mạng lưới sông suối; trong đó đáng kể nhất là lưu vực sông Mã: 8,73tỷ m3, sông Hương: 7,24tỷ m3 và sông Thạch Hãn: 4,51tỷ m3. Khối lượng nước tạo dòng lớn, nhưng phân bố không đồng đều trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa, các sông lại ngắn và dốc, nên vào mùa mưa nước tập trung

lớn, thường gây ngập lụt ở các VCSVB. Do đó cần phải xây dựng quy hoạch xây dựng mạng lưới hồ chứa hợp lí phục vụ cho tưới tiêu thủy lợi cho nông nghiệp, nước sinh hoạt, ngăn lũ và cung cấp điện cho đời sống KT-XH ở địa phương.

117

Bên cạnh tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước lợ cũng là thế mạnh của

VCSVB Bắc Trung Bộ. Trong đó, phải kể đến là hệ thống đầm phá Tam Giang -

Cầu Hai, có diện tích 21600ha, được coi là thuỷ vực lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Hiện đầm phá lưu giữ nguồn gen phong phú (gồm 600loài), có tiềm năng nguồn lợi

rất lớn, đặc biệt là tiềm năng về nuôi trồng thủy, hải sản.

4.3.1.3. Tài nguyên rừng

Rừng ngập mặn luôn giữ vai trò rất quan trọng ở vùng cửa sông ven biển, rất

hiệu quả trong bảo vệ đất mới bồi, chống xói lở bờ, duy trì tính đa dạng sinh học

ven biển. Do đó, việc trồng rừng ngập mặn ven biển thực sự là một biện pháp công trình rẻ tiền nhưng rất có hiệu quả cao, làm giảm tác động của sóng và dòng chảy

ven bờ. Theo như xu thế biến động địa hình bờ biển trong tương lai (Hình 4.1, 4.7, 4.11) thì cần thiết phát triển rừng ngập mặn: đối với khu vưc cửa Hới và phía nam cửa Lạch Trường thuộc VCSVB sông Mã, có xu thế phát triển thiên về bồi tụ mạnh

và cửa sông sẽ bị lấp dần trong tương lai là điều kiện để phát triển rừng ngập mặn

nhằm cố định bùn sét tạo điều kiện hình thành đất trồng góp phần ổn định cửa sông.

Ngoài ra, ở VCSVB Bắc Trung Bộ còn có loại rừng phòng hộ trồng trên các

cồn cát ven biển, chủ yếu là loại cây họ phi lao (cây dương), có tác dụng chống cát

bay và giảm các tác động của sóng gió trong bão tác động đến các khu vực phía

trong cồn cát. Giải pháp này cần được áp dụng đối với khu vực CSVB sông Thạch

Hãn và sông Hương do bờ biển có xu thế xói lở chiếm ưu thế trong tương lai.

4.3.1.4. Tài nguyên khoáng sản

Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ phân bố một số loại hình tài nguyên khoáng

sản có trữ lượng lớn như sa khoáng titan (trữ lượng khoảng 10 triệu tấn), vật liệu

xây dựng, v.v. Sa khoáng titan có nhiều ở dọc bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa

Thiên Huế. Cát thuỷ tinh (trữ lượng 572,6 triệu tấn) có ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng

Trị và Thừa Thiên Huế. Đặc biệt, khu vực các đới bờ biển cổ của các VCSVB Sông

Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương có tiềm năng sa khoáng titan rất lớn (Hình 4.1, 4.7, 4.11). Ngoài ra, ở khu vực này còn có một loạt các khoáng sản khác có giá trị

như: đolomit, đá ốp lát, đá xây dựng, sét gạch ngói, cuội sỏi xây dựng v.v, Trên cơ sở các bản đồ địa mạo của từng khu vực, có thể xác định được các vùng có khả năng, tiềm năng khai thác các khoán sản này. Từ đó tạo nguồn lực tự nhiên quan trọng góp phần cho phát triển kinh tế của khu vực Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề khai thác khoáng sản ven biển chưa được quy hoạch đúng mức, dẫn đến

việc khai thác tràn lan, gây hủy hoại cảnh quan và môi trường VCSVB. Do vậy, cần thiết phải xây dựng quy hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản (đặc biệt là khai

118

thác inmenit ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) gắn với bảo vệ môi trường (khai thác

kết hợp với hoàn thổ và trồng rừng chống xói lở, cát bay, v.v)

4.3.2. Đảm bảo hành lang thoát lũ ven biển

Với đặc điểm các sông ngắn và dốc, mùa mưa nước tập trung lớn, nên vấn đề

tiêu thoát lũ ở các cửa sông Bắc Trung Bộ là nhiệm vụ quan trọng. Nếu tình hình tiêu lũ không được cải thiện có thể gây thiệt hại lớn như trong trận lũ lịch sử xảy ra

tháng 11/1999 trên địa bàn các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Trận lũ đã gây

thiệt hại lớn, làm 410 người chết, 21 người mất tích, 99 người bị thương, 82126 ngôi nhà bị hư hỏng và cuốn trôi, 1027 trường học bị sụp đổ, 15412 ha lúa, hoa

màu, cây công nghiệp bị hư hỏng, 1092933 gia súc và gia cầm bị chết. Tổng thiêt

hại lên tới 2126 tỷ đồng. Do đó, cần có các nghiên cứu và quy hoạch trên cơ sở

những nghiên cứu biến động địa hình của khu vực, nhằm giảm thiểu các thiệt hại có thể gây ra. Xây dựng bản đồ quy hoạch phát triển KT-XH từng địa phương có tiêu

chí về không gian biến động địa hình để đảm bảo hành lang thoát lũ cho các

VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương.

4.3.3. Khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống luồng lạch giao thông thủy

Trên các VCSVB, các dòng sông là các luồng giao thông thuỷ nội địa rất

quan trọng. Khả năng thông tầu ở cửa sông tuỳ thuộc việc duy tu, chỉnh trị, ổn định

luồng tầu. Trên cơ sở những nghiên cứu về biến động địa hình lòng dẫn của sông,

cho phép đưa ra giải pháp và định hướng quy hoạch nhằm sử dụng có hiệu quả hệ

thống luồng lạch giao thông thủy. Đặc biệt, cần lưu ý các giải pháp chỉnh trị lòng

sông sau đây:

+ Duy trì độ sâu hợp lý của luồng lạch, thông qua việc chỉnh trị (nạo vét và

duy tu luồng tầu) ở độ sâu thích hợp cho các loại phương tiện giao thông pha sông - biển; xây dựng các hệ thống kè chắn sóng, chặn dòng phù sa ven biển;

+ Khắc phục tình trạng xói lở bờ, bồi lấp lòng dẫn và biến động luồng lạch ở

cửa sông bằng các giải pháp công trình và phi công trình hợp lý [49].

Do vậy, khi quy hoạch xây dựng các công trình giao thông, đặc biệt là giao

thông thủy nội địa, các cảng, bến bãi, các công trình kinh tế dân sinh bên bờ sông, v.v cần phải xem xét đến không gian biến động địa hình hiện đại ở các VCSVB Bắc Trung Bộ, như ở VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn, sông Hương.

4.3.4. Khai thác các loại hình du lịch biển

Các VCSVB Bắc Trung Bộ có tiềm năng cho phát triển các loại hình du lịch

nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển, v.v với nhiều di tích, danh thắng như: ở VCSVB

sông Mã, nổi tiếng với núi Trường Lệ, chùa Cô Tiên, đền Độc Cước, hòn Trống

119

Mái, bãi biển Sầm Sơn, khu du lịch sinh thái Quảng Cư, cùng với các quần thể du

lịch FLC Sầm Sơn, Hàm Rồng, thành nhà Hồ, đền Bà Triệu, Động Từ Thức, tạo

nên một mạng lưới du lịch đặc sắc; Ở VCSVB sông Thạch Hãn với các quang cảnh

thiên nhiên đẹp như: bãi biển Cửa Việt, Cửa Tùng, rừng nguyên sinh Rú Lịch, trằm

Trà Lộc; ở VCSVB sông Hương có cảnh quan thiên nhiên sông núi, rừng biển rất

kỳ thú, hấp dẫn khách du lịch với những danh thắng nổi tiếng như: sông Hương, núi

Ngự, đèo Hải Vân, núi Bạch Mã, cửa Thuận An, bãi biển Lăng Cô, đầm phá Tam

Giang, v.v.

Tuy nhiên, hiện nay các khu vực này chưa được quy hoạch tốt, đặc biệt nhiều

khu quy hoạch còn bị đe dọa bởi các tai biến thiên nhiên, gây thiệt hại lớn cho các

khu du lịch đã được xây dựng. Vì vậy, trên cơ sở những nghiên cứu về địa mạo và

biến động địa hình trong khu vực, giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định đưa

ra được những quy hoạch chi tiết, giảm thiểu được những tác động xấu của tai biến

thiên nhiên, từ đó phục vụ cho việc phát triển kinh tế bền vững của toàn bộ khu vực

Bắc Trung Bộ.

4.4. Tiểu kiết chương

Địa hình các VCSVB Bắc Trung Bộ biến động mạnh mẽ trong Pleistocen

muộn - hiện nay. Trong đó, VCSVB sông Mã có xu hướng tiến ra phía biển, đến bờ

biển hiện tại khoảng gần 50 km; VCSVB sông Thạch Hãn khoảng 30 km, VCSVB

sông Hương khoảng 20 km.

Hiện nay, địa hình các VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương

biến động mạnh mẽ bởi các quá trình địa mạo động lực (xói lở và bồi tụ) diễn ra rất

phức tạp. Quá trình bồi tụ ở VCSVB sông Mã diễn ra mạnh mẽ hơn ở VCSVB sông

Thạch Hãn và sông Hương. Ngược lại, quá trình xói lở ở các VCSVB sông Thạch

Hãn và sông Hương mạnh hơn VCSVB sông Mã.

Trên các VCSVB Bắc Trung Bộ, có nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng

sản phong ph, đa dạng. Tuy nhiên, hiện nay, việc khai thác chúng còn nhiều bất cập,

vừa làm biến động địa hình, thúc đẩy các quá trình địa mạo động lực phát triển. Do

đó, cần phải xây dựng quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên có sử dụng

những kết quả nghiên cứu về biến động địa hình ở khu vực này.

120

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Địa hình ở các VCSVB Bắc Trung Bộ được hình thành, phát triển trong mối

tương tác cực kỳ phức tạp và đa dạng của các yếu tố nội, ngoại và nhân sinh. Trong

đó, vai trò của yếu tố chuyển động tân kiến tạo - kiến tạo hiện đại và hoạt động của

đứt gẫy đóng vai trò khống chế sự phát triển và biến động địa hình ở các VCSVB

Bắc Trung Bộ.

Trong các VCSVB ở Bắc Trung Bộ, VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và

sông Hương đã xây dựng được bản đồ địa mạo với tỷ lệ 1:50.000 theo nguyên tắc

“Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi”, bằng việc ứng dụng công nghệ viễn thám phân

giải cao và GIS kết hợp với các phương pháp truyền thống.

Các VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương phát triển với các

kiểu “Delta” và “Liman”, gồm các dạng địa hình có nguồn gốc và tuổi từ Pleistocen

giữa - muộn đến nay. Trong đó, địa hình VCSVB sông Mã phát triển kiểu “Delta”

với 3 dạng nguồn gốc sông, 7 dạng nguồn gốc hỗn hợp, 3 dạng nguồn gốc biển; các

VCSVB Thạch Hãn và sông Hương phát triển kiểu “Liman”, gồm 4 dạng địa hình

có nguồn gốc biển, 7 dạng địa hình nguồn gốc hỗn hợp và 6 dạng địa hình nguồn

gốc sông (sông Thạch Hãn); 4 dạng địa hình có nguồn gốc biển, 9 dạng địa hình

nguồn gốc hỗn hợp và 4 dạng địa hình nguồn gốc sông (sông Hương);

Với việc phân tích các dấu hiệu địa mạo và địa chất Đệ tứ, các đới đưởng bờ

biển trong Pleistocen muộn ở các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương, trong

Holocen giữa ở VCSVB sông Mã đã được khôi phục lại; bằng các tư liệu viễn thám,

kết hợp với những phân tích bản đồvà GIS cho phép xác định đường bờ biển trong

các thời đoạn khác nhau (từ 1952 - 2017 ở VCSVB sông Thạch Hãn và sông

Hương, từ 1965 – 2017 ở VCSVB sông Mã).

Các VCSVB sông Mã, Thạch Hãn và sông Hương, trong Đệ tứ muộn - hiện

đại, trải qua 3 thời kỳ biến động địa hình: cuối Pleistocen muộn - cuối Holocen

giữa, cuối Holocen giữa - Holocen muộn và Holocen muộn - hiện đại; Các dạng địa

hình thềm mài mòn, dải đồi bóc mòn, bóc mòn - xâm thực hình thành trong

Pleistocen giữa - muộn chiếm phần nhỏ diện tích ở phía tây khu vực nghiên cứu.

Các dạng địa hình tích tụ sông, biển và hỗn hợp sông - biển phát triển rộng rãi và

chiếm phần lớn diện tích ở khu vực nghiên cứu, được hình thành trong thời kỳ

Holocen sớm - giữa. Các dạng địa hình tích tụ biển, sông - biển, biển - đầm lầy,

vũng vịnh phân bố ở cửa sông, ven biển, hình thành từ Holocen muộn đến nay.

121

Hiện nay, địa hình các VCSVB sông Mã, sông Thạch Hãn và sông Hương

biến động mạnh mẽ bởi các quá trình địa mạo động lực (xói lở và bồi tụ) diễn ra rất

phức tạp. ở VCSVB sông Mã diễn ra quá trình bồi tụ, địa hình hiện đại có xu hướng

tiến ra biển, xói lở diễn ra ở các VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương, địa hình

có xu hướng biển lấn vào đất liền.

Khu vực các VCSVB Bắc Trung Bộ có nhiều thuận lợi cho việc sử dụng để

phát triển du lịch, giao thông thủy, nuôi trồng thủy hải sản và cho sự tập trung một

số loại sa khoáng. Do vậy, cần thiết xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng hợp lý tài

nguyên lãnh thổ có sử dụng kết quả nghiên cứu biến động địa hình hiện đại làm tiêu

chí, phục vụ phát triển bền vững KT-XH và bảo vệ môi trường ở các VCSVB Bắc

Trung Bộ.

2. Kiến nghị

Các VCSVB Bắc Trung Bộ là vùng có tiềm năng kinh tế lớn và vị trí an ninh

quốc phòng. Xu thế biến động địa hình khu vực này cần phải được quan tâm, đầu tư

nghiên cứu chi tiết, cụ thể và đồng bộ trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển

dâng.

Kết quả nghiên cứu về biến động địa hình của luận án được nghiên cứu chi

tiết, ở tỷ lệ 1/50.000, được tổng hợp và khái quát hóa từ nhiều nguồn tài liệu có giá

trị, nên có thể sử dụng làm tiêu chí cho công tác quy hoạch sử dụng hợp lí tài

nguyên lãnh thổ phục vụ phát triển bền vững KT-XH và bảo vệ môi trường ở địa

phương; đồng thời cho việc tiếp tục các nghiên cứu cơ bản tiếp theo.

Tuy nhiên, trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cơ sở nguồn

tài liệu khí tượng, hải văn ở các VCSVB còn hạn chế, do đó, nội dung đánh giá về

vai trò của nước biển dâng gây biến động địa hình hiện đại vẫn còn những tồn tại

nhất định. Đề nghị Nhà nước có những đầu tư thỏa đáng để bổ sung, xây dựng và

nâng cấp hoàn chỉnh mạng lưới khí tượng - thủy, hải văn và công tác điều tra, đo

đạc cơ bản phục vụ nghiên cứu khoa học nói riêng và yêu cầu phát triển KT-XH nói

chung.

Các tỉnh và Nhà nước cần phối hợp đầu tư nghiên cứu xây dựng các giải

pháp công trình phòng chống, giảm thiểu tai biến do biến động địa hình bờ biển gây

ra một cách đồng bộ bao gồm cả bảo vệ bờ sông, bờ biển và chống bồi lấp cửa sông,

khai thông luồng lạch, thoát lũ, v.v.

122

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

1. Nguyễn Công Quân, Phạm Văn Hùng, (2019): “Đặc điểm địa mạo và tai biến

tự nhiên liên quan ở vùng cửa sông ven biển sông Hương”, Tạp chí Khoa học

và Công nghệ Biển, Tập 19, số 1, tr.1-15 , Hà Nội.

2. Vũ Văn Hà, Nguyễn Công Quân, (2019): “Đánh giá biến động Cửa Hới, Sông

Mã qua tư liệu viễn thám đa thời gian và bản đồ địa hình giai đoạn 1965-2017”,

Tạp chí Địa chất, loạt A số 367/2019, tr1-13.

3. Nguyễn Công Quân, Phạm Văn Hùng, Nguyễn Văn Dũng (2018): “Đặc điểm

địa mạo vùng cửa sông ven biển sông Thạch Hãn và tai biến tự nhiên liên quan

”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 18, số 1, tr.27-38 , Hà Nội.

4. Nguyễn Công Quân, Phạm Văn Hùng (2016), “Đặc điểm địa mạo động lực

vùng cửa sông ven biển sông Mã, tỉnh Thanh Hóa”, Tạp chí Các Khoa học về

Trái đất, số 38(1), tr. 27-33, Hà Nội.

5. Phạm Văn Hùng, Nguyễn Công Quân (2016), “Đặc điểm đứt gẫy hoạt động và

tai biến xói lở ở các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ”, Tạp chí Các Khoa

học về Trái đất, số 38(1), tr. 14-26, Hà Nội.

6. Ngô Văn Liêm, Nguyễn Công Quân (2016), “Phân tích mối tương quan giữa

các chỉ số địa mạo và hoạt động kiến tạo hiện đại của đới đứt gẫy Sông Lô khu

vực rìa tây nam dãy Tam Đảo”, Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, số 38(1), tr.

1-13, Hà Nội.

7. Phạm Quang Sơn, Nguyễn Công Quân và nnk (2011): “Diễn biến vùng ven

biển cửa Thuận An (Thừa Thiên Huế) trước và sau trận lũ lịch sử tháng

11/1999”, Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, số 33(3), tr.526-538. , Hà Nội.

8. Phạm Quang Sơn, Nguyễn Công Quân và nnk (2011): “Diễn biến vùng cửa

sông ven biển Hải phòng và những vấn đề khai thác trong bối cảnh biến đổi khí

hậu và nước biển dâng”, Hội nghị Khoa học và Công nghệ Biển toàn quốc lần

thứ 5. Quyển 3. Địa lý-Địa chất và Địa vật lý biển, tr.556-568, Hà Nội.

9. Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Công Quân và nnk (2010): “Nghiên cứu biến động

bờ biển vùng châu thổ Cửu Long”, Tạp chí Các khoa học về Trái đất, số 32(3),

tr.211-218, Hà Nội.

10. Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Công Quân và nnk (2008): “Khái quát về cổ địa lý

trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ”, Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, số

30(4), tr.438-444, Hà Nội.

123

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] “Uông Đình Khanh, Vũ Văn Phái (1998): ‘Đặc điểm cửa sông ven biển miền

Trung Việt Nam’, Tuyển tập Các công trình nghiên cứu địa lý, tr.26-31. Nxb.

Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.”

[2] “Lê Đức An (2015): ‘Đới bờ biển Việt Nam, cấu trúc và tài nguyên thiên

nhiên’, Nxb. KHTN & CN, Hà Nội.”

[3] “Cameron, W. M. and D.W. Pritchard (1963) Estuaries. In M. N. Hill (editor),

The Sea, Vol. 2. John Wiley & Sons, New York, 306–324.”

[4] “Данилевский Н. Я (1869). Иследования о Кубанской дельте. Записки

Росс. Геогр. О-ва, т.2.”

[5] “Головенок В. К., Ле Ван Чан (1965): ‘Литология и условие образование

Неоген-Четвертичных отложений Ханойского прогиба’. Отчёт.Ханой.”

[6] “FAIRBRIDGE RW (1980), The estuary: its definition and geodynamic

cycle. In: Olausson E and Cato I (Eds), Chemistry and biogeochemistry of

estuaries. J Wiley &Sons, New York, p. 1-35.”

[7] “Dalrymple RW et al (1992) Estuarine facies models: conceptual basis and

stratigraphic imp I ications. J Sediment Petrol 62:1 i3O-l 146.”

[8] “Dyer, K. R, (1996), The definition of the Severn estuary. Proceedings of the

Bristol Naturalists’ Society 56, 53–66.”

[9] “Hoa Mạnh Hùng (2001): ‘Động lực hình thái cửa sông ven biển đồng bằng

Bắc Bộ Việt Nam phục vụ khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường

cửa sông ven biển’, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Đại học Quốc Gia Hà Nội.”

[10] “Байдин. С .С. (1971), Стадийность развития устьевой области реки //Т

Р, ГОИН , Вып , 104, с. 5-30.”

[11] “Uông Đình Khanh (2003): ‘Đặc điểm địa mạo ven biển Ninh Thuận -Bình

Thuận’, Luận án Tiến sĩ Địa lí, Viện Địa lí, Hà Nội.”

[12] “Nguyễn Bá Uân (2002): ‘Nghiên cứu diễn biến vùng cửa sông ven biển miền

Trung và ảnh hưởng của nó đến vấn đề thoát lũ và khai thác kinh tế trong

vùng’, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội.”

[13] “Niên giám thống kê 2014. Nxb. Thống kê, Hà Nội.”

[14] “Зенкович В.П. Морфология и динамика Советских берегов Черного

моря. Том 2. М.: Из-во АН СССР, 1960. 216 с.”

124

[15] “Bird E, (2008) Coastal geomorphilogy. An introduction John Wilet and sons.

LTD Chichester-New York P.1-322 (Second Edition).”

[16] “Marston, F., Young, W. & Davis, R. (1995) Nutrient Generation Rates.

CSIRO Division of Water Resources. Canberra, Australia.”

[17] “Winterbottom SJ & Gilvear D (2000) A GIS-based approach to mapping

probabilities of river bank erosion: Regulated River Tummel, Scotland,

Regulated Rivers: Research and Management, 16 (2), pp. 127-140.”

[18] “Jean - Francois Desprats et al, (2010), A ‘coastal - hazard GIS’ for Sri

Lanka, J. Coast Consrv (2010).”

[19] “Zenkovich V.P, 1963. Về bờ biển nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. ‘Hải

dương học’ Tập III, cuốn 3. Maxcơva (tiếng Nga).”

[20] “Lưu Tỳ, Phí Kim Trung và nnk (1969): ‘Báo cáo điều tra nghiên cứu địa

hình-địa chất vùng bờ biển Đầm Hà-Móng Cái’, Viện Tài nguyên và Môi

trường biển, Hải Phòng.”

[21] “Nguyễn Thanh Sơn, Trịnh Phùng (1979): ‘Về các kiểu bờ biển Việt Nam’,

Tuyển tập Nghiên cứu biển, tập I, phần 2, Viện Hải dương học Nha Trang.”

[22] “Trần Đức Thạnh và nnk (1985): ‘Đặc điểm Địa chất - Địa mạo dải ven bờ

miền Bắc Việt Nam’: Báo cáo khoa học đề tài 48-04-16, Viện Tài nguyên và

Môi trường Biển, Hải Phòng.”

[23] “Nguyễn Hoàn và nnk (1986): ‘Đặc điểm địa mạo và trầm tích tầng mặt ven

biển Thái Bình’. Báo cáo đề tài 52-02, Cục Môi trường, Hà Nội.”

[24] “Nguyễn Thế Tiệp (1990): ‘Một số đặc điểm kiến trúc-hình thái thềm lục địa

Việt Nam và các vùng lân cận’, Các Khoa học về Trái đất, số 12(3), Hà Nội.”

[25] “Đặng Văn Bào (1996): ‘Đặc điểm địa mạo dải đồng bằng ven biển Huế -

Quảng Ngãi’, Luận án PTS Địa lý - Địa chất, Đại học Quốc gia Hà Nội.”

[26] “Lê Xuân Hồng (1996): ‘Đặc điểm xói lở bờ biển Việt Nam’, Luận án Phó

tiến sĩ Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.”

[27] “Vũ Văn Phái (1996): ‘Địa mạo khu bờ biển hiện đại Trung Bộ, Việt Nam’,

Luận án Phó tiến sĩ khoa học Địa lý - Địa chất, Hà Nội, 186 trg.”

[28] “Lại Huy Anh và nnk (2001): ‘Nghiên cứu địa hình - địa mạo và vẽ bản đồ

địa mạo tỉnh Quảng Trị tỷ lệ 1/50.000’, Báo cáo tổng kết đề tài, 35tr, Viện

Địa lý, Hà Nội.”

125

[29] “Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Công Mẫn (1995): ‘Đặc điểm địa chất - địa mạo

và quá trình ngoại sinh đường bờ biển Việt Nam trong quy hoạch đê biển ở

Việt Nam’, Báo cáo phụ đề tài, Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội.”

[30] “Hồ Vương Bính (1995): ‘Điều tra địa chất đô thị Huế’, Báo cáo tổng kết đề

tài, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.”

[31] “Hồ Vương Bính và nnk (1997): ‘Địa chất đô thị thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng

Trị’, Báo cáo tổng kết đề tài, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.

115Tr.”

[32] “Nguyễn Thế Dân, Vũ Quang Lân, Nguyễn Bá Minh và nnk (1997): “Bản đồ

địa chất tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Huế’, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam,

Hà Nội.”

[33] “Nguyễn Tiến Hải (2003): ‘Đặc điểm trầm tích và sự tiến hóa các thành tạo

cát dải ven biển Bắc Trung Bộ’, Luận án Tiến sĩ Địa Chất, Đại học Quốc gia

Hà Nội.”

[34] “Vũ Thu Hoài (2010): ‘Đặc điểm trầm tích bãi bồi hiện đại vùng cửa sông ven

biển sông Hồng’, Luận án Tiến sĩ Địa chất, Viện Địa chất, Hà Nội.” .

[35] “Doãn Đình Lâm (2002): ‘Lịch sử tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông

Hồng’, Luận án Tiến sĩ Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 152tr.”

[36] “Doãn Đình Lâm, Trần Nghi, Phạm Huy Tiến (2001): "Các kiểu đồng bằng

Holocen ở đồng bằng Bắc Bộ", Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, 23( 4), tr.

319-329, Hà Nội.”

[37] “Vũ Quang Lân (2003): ‘Tiến Hóa các thành tạo trầm tích Đệ tứ vùng đồng

bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế’, Luận án Tiến sĩ Địa Chất, Trường Đại

học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.”

[38] “Vũ Quang Lân (2003): ‘Tiến hoá trầm tích Đệ tứ đồng bằng Quảng Trị -

Thừa Thiên Huế’, Tạp chí Địa chất, Hà Nội.”

[39] “Trần Nghi (1996): ‘Các chu kỳ biển tiến và biển thoái với lịch sử hình thành

các đồng bằng và cồn cát ven biển miền Trung trong Đệ tứ’, Công trình

Nghiên cứu Địa chất -Địa vật lý biển, (II), Viện Hải dương học, Hà Nội.”

126

[40]

Khoa học về Trái đất, số 18(1), tr. 50-61, Hà Nội.”

[41] “Nguyễn Hiệu (2003): ‘Nghiên cứu biến động địa hình khu vực cửa sông Ba

Lạt và lân cận phục vụ quản lý đới bờ’, Luận văn Thạc sỹ Địa lý, Trường Đại

học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.”

[42] “Nguyễn Văn Cư (1999): ‘Điều tra cơ bản tài nguyên môi trường nhằm khai

thác hợp lí đất hoang hoá các bãi bồi ven biển cửa sông Việt Nam’, Báo cáo

Đề án Điều tra cơ bản cấp Nhà nước, Viện Địa lí, Hà Nội.”

[43] “Nguyễn Văn Cư, Phạm Quang Sơn và nnk (1990): ‘Động lực vùng ven biển

cửa sông Việt Nam. Phần nghiên cứu cửa sông’, Báo cáo đề tài 48B-02-01.

Chương trình nghiên cứu biển 48B-02 (1986-1990), Viện Khoa học Việt

Nam. Hà Nội-1991. 355 tr.”

[44] “Phạm Huy Tiến, Nguyễn Văn Cư và nnk (2001): ‘Nghiên cứu, dự báo phòng

chống sạt lở bờ biển miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận)’, Báo cáo

tổng kết đề tài cấp Nhà nước, mã số KHCN- 5B, Hà Nội.”

[45] “Phạm Huy Tiến, Nguyễn Văn Cư và nnk (2005): ‘Dự báo hiện tượng xói lở,

bồi tụ bờ biển - cửa sông Việt Nam và các giải pháp phòng tránh’, Báo cáo

tổng kết đề tài cấp Nhà nước, mã số KC.09.05, Hà Nội.”

[46] “Vũ Tuấn Anh (2010): ‘Nghiên cứu động lực hình thái vùng cửa sông Thu

Bồn’, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học

Quốc gia Hà Nội.”

[47] “Tô Quang Thịnh và nnk (1990): “Bộ bản đồ biến động bờ biển Việt Nam, tỷ

lệ 1:250.000 và bản đồ biến động vùng cửa sông tỷ lệ 1:50.000 thuộc đề tài:

‘Nghiên cứu sự biến động đường bờ biển Việt Nam bằng tư liệu viễn thám’,

Báo cáo tổng kết đề tài thuộc chương trình 48B-07-02-01, Hà Nội.”

[48] “Lê Phước Trình và nnk (2000): ‘Nghiên cứu quy luật và dự đoán xu thế bồi

tụ - xói lở vùng ven biển và cửa sông Việt Nam’, Báo cáo tổng kết đề tài, mã

số KHCN.06.08. Viện Hải dương học, Nha Trang.”

[49] “Phạm Quang Sơn (2004): ‘Nghiên cứu sự phát triển vùng cửa sông ven biển

Hồng - sông Thái Bình trên cơ sở ứng dụng thông tin viễn thám và hệ thông

127

tin địa lý (GIS) phục vụ khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ’, Luận án Tiến sĩ

Địa lý, Đại học Quốc gia Hà Nội.”

[50] “Phạm Quang Sơn, Nguyễn Công Quân và nnk (2012): ‘Nghiên cứu biến

động các vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, bắc Trung Bộ từ thông tin viễn

thám phân giải cao và GIS, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo

vệ tài nguyên - môi trường’, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Viện Hàn Lâm Khoa

học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.”

[51] “Nguyễn Văn Cư, Phạm Huy Tiến (2003): ‘Sạt lở bờ biển miền Trung Việt

Nam’, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, 200tr, Hà Nội.”

[52] “Nguyễn Lập Dân và nnk (2004): ‘Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải

pháp tổng thể, dự báo phòng tránh lũ lụt ở miền Trung’, Báo cáo tổng kết đề

tài cấp Nhà nước KC-08-12, Viện Địa lý, Hà Nội.”

[53] “Phạm Văn Hùng (2008): ‘Đặc điểm đứt gãy hoạt động và tai biến xói lở bờ

biển Duyên hải Nam Trung Bộ’, Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất, 28(4),

tr.314-322, Hà Nội.”

[54] “Phạm Văn Hùng, Vũ Thị Thu Hoài (2009): ‘Đặc điểm địa mạo động lực

vùng cửa sông ven biển từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy’, Tạp chí Các Khoa học

về Trái đất, 31(3), Hà Nội.”

[55] “Phạm Văn Hùng, Nguyễn Công Quân (2016): ‘Đặc điểm đứt gẫy hoạt động

và tai biến xói lở bờ biển vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ’, Tạp chí Các

Khoa học về Trái Đất, 38(1), tr. 132-143, Hà Nội.”

[56] “Lê Đình Thành và nnk (2010): ‘Nghiên cứu đề xuất các giải pháp ổn định

các cửa sông ven biển miền Trung’, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước, mã

số KC 08.07/06-10, Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội.”

[57] “Nguyễn Thế Thôn (1994): ‘Chuyển động tân kiến tạo và hiện đại của dải ven

biển và ven bờ từ Móng Cái đến Cửa Hội’, Tạp chí Địa Chất, Loạt A, số 223,

tr.1-6, Hà Nội.”

[58] “Ngô Đình Tuấn (1993): ‘Đánh giá tài nguyên nước vùng ven biển miền

Trung (từ Quảng Bình đến Bình Thuận’, Báo cáo đề tài nhánh thuộc đề tài

cấp Nhà nước KC.12.03, Hà Nội.”

128

[59] “Lê Tiến Dũng (2000): ‘Địa chất và khoáng sản tỉnh Quảng Trị’, Báo cáo

tổng hợp đề tài, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị, Đông Hà - Quảng

Trị.”

[60] “Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (2003): ‘Kiến trúc kiến tạo Bắc Trung Bộ’,

Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, 25(1), tr. 66 - 72, Hà Nội.”

[61] “Nguyễn Ngọc Mên (1988): ‘Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông

Mã’, Luận án Phó tiến sỹ Địa chất, Viện Địa chất, Hà Nội.”

[62] “Lê Đức An và nnk (2007): ‘Địa mạo và địa chất tỉnh Quảng Trị’, Bộ sách

chuyên khảo: Các điều kiện tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng

Trị, Nxb. KHTN & CN, Hà Nội.”

[63] “Trần Đức Thạnh (2010): ‘Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ

quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam’, Báo cáo tổng kết đề

án, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Hà Nội.”

[64] “Bùi Thắng (2010): ‘Tác động của hoạt động địa chất nhân sinh đến môi

trường ở Thừa Thiên Huế’, Luận án Tiến sĩ Địa chất, Trường Đại học Mỏ -

Địa chất, Hà Nội.”

[65] “Đỗ Quang Thiên, Trần Hữu Tuyên (2002): ‘Mối quan hệ giữa cấu trúc địa

chất với quá trình bồi xói hạ lưu sông Hương’, Tạp chí Khoa học, số 11/2002,

Đại học Huế.”

[66] “Trần Hữu Tuyên (2003): ‘Nghiên cứu quá trình bồi tụ, xói lở ở đới ven biển

Bình Trị Thiên và các kiến nghị các giải pháp phòng chống’, Luận án Tiến sĩ

Địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.”

[67] “Trần Trọng Huệ và nnk (2003): ‘Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các loại hình

tai biến địa chất trên lãnh thổ Việt Nam và các giải pháp phòng tránh (giai

đoạn 1 phần Bắc Trung Bộ)’. Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà

nước,Viện Địa chất, Hà Nội.”

[68] “Trương Quang Học và nnk (2003): ‘Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã

hội- môi tr¬ường vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình - Quảng Trị’, Báo cáo

tổng kết đề tài cấp Nhà nước, mã số KC.08.07, Hà Nội.”

[69] “Phạm Quang Sơn, Nguyễn Công Quân và nnk (2011): ‘Diễn biến vùng ven

biển cửa Thuận An (Thừa Thiên Huế) trước và sau trận lũ lịch sử tháng

11/1999’, Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, số 33(3), Hà Nội.”

129

[70] “Phạm Văn Cự (1996): “Xây dựng bản đồ địa mạo một vùng đồng bằng trên

cơ sở phối hợp hệ xử lý ảnh số và hệ thông tin địa lý (trên thí dụ đồng bằng

sông Hồng), Luận án Phó tiến sỹ Địa lý - Địa chất, Viện Địa chất, Hà Nội.”

[71] “Nguyễn Đình Dương (1997): ‘Kỹ thuật viễn thám và hệ thông tin địa lý

trong vấn đề đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam’, Tuyển tập báo cáo

tại Hội thảo lần thứ nhất về Đánh giá tác động môi trường, Trung tâm Khoa

học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội.”

[72] “Nguyễn Ngọc Thạch và nnk (1997): ‘Viễn thám trong nghiên cứu tài nguyên

và môi trường’, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.”

[73] “Đào Đình Bắc (2000): ‘Địa mạo đại cương’, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,

312tr., Hà Nội.”

[74] “Hạ Văn Hải và nnk (1983): ‘Về các phương pháp thành lập bản đồ địa mạo

và khả năng áp dụng ở Việt Nam’, Báo cáo hội nghị KHKT Địa chất Việt

Nam lần thứ 2, Hà Nội.”

[75] “Đào Trọng Năng, Phí Công Việt (1982): ‘Phương pháp nghiên cứu và lập

bản đồ địa mạo’, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, 278tr, Hà Nội (Dịch từ tiếng

Nga).”

[76] “Hoàng Văn Khổn (1996): ‘Điều tra địa chất đô thị Thanh Hóa - Vinh - Hà

Tĩnh tỷ lệ 1/25000’, Báo cáo tổng kết đề tài, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt

Nam, Hà Nội.”

[77] “Phạm Huy Thông và nnk (1997): “Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1/50.000,

nhóm tờ Huế’, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.”

[78] “La Văn Xuân (1996): ‘Địa chất-khoáng sản đô thị Thanh Hóa và địa mạo-tân

kiến tạo đô thị Thanh Hóa - Vinh’, Báo cáo đề tài nhánh ‘Điều tra địa chất đô

thị Thanh Hóa - Vinh - Hà Tĩnh tỷ lệ 1/25 000’, Hà Nội.”

[79] “Nguyễn Địch Dỹ và nnk (2016): ‘Các phân vị địa chất Đệ tứ Việt Nam’,

Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 187tr.”.

[80] “Đặng Văn Bát (1987): ‘Địa mạo Tân kiến tạo Việt Nam’, Tóm tắt luận án

Tiến sĩ Khoa học Địa lý - Địa chất.”

[81] “Steinke et al., 2003. ‘On the significance of sea-level variations and shelf

palaeo-morphology in governing sedimentation in the southern South China

Sea during the last deglaciation’. Marine Geology 201(1-3): 179-206.”

130

[82] “Doãn Đình Lâm và Boyd., 2001. ‘Một số dẫn liệu về mực nước biển trong

Pleistocen muộn – Holocen vùng Hạ Long và Ninh Bình’. Tạp chí các khoa

học về Trái đất, 23(2), Tr. 86-91. Hà Nội.”

[83] “Tanabe et al, 2006. ‘Holocene evolution of the Song Hong (Red River)

delta system, northern Vietnam’. Sedimentary Geology 187: 29-61.”

[84] “Nguyễn Thế Tiệp, 1989. Lịch sử phát triển các mực nước biển cổ ở Việt

Nam. Địa chất biển Đông và các miền kế cận, tr 50-54, Viện Khoa học Việt

Nam, Hà Nội.”

[85] “Nguyễn Tiến Hải, Statteger, 2005. Báo cáo “Tiến hóa đới ven biển, dao động

mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen

thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông MeKong và Nha Trang đông nam

Việt Nam“ . Viện Địa chất và Địa vật lý biển.”

[86] “Nguyễn Ngọc Thụy (1998): ‘Thuỷ triều trong các vùng cửa sông Việt Nam’.

Khí tượng thuỷ văn vùng biển Việt Nam, tập I, Nxb. Khoa học và Kĩ thuật,

Hà Nội.”

[87] “Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2011): ‘Số liệu khí

tượng - thuỷ, hải văn các trạm Đông Hà, Quảng Trị, Cửa Việt, Cồn Cỏ’, Hà

Nội.”

[88] “Trung tâm Khí tượng - Thủy văn biển (2010): ‘Bảng thuỷ triều các năm từ

2004 đến 2010’, Nxb. Thống kê, Hà Nội.”

[89] “Trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn (2016): ‘Thông báo khí hậu nông

nghiệp các tháng từ năm 2006 đến 2016’, Hà Nội.”

[90] “Hoàng Lưu Thu Thủy và nnk (2015): ‘Đặc điểm hoạt động của bão vùng ven

biển Bắc Trung Bộ, Việt Nam giai đoạn 1960-2013’, Tạp chí Các Khoa học

về Trái Đất, 37(3),tr. 222-227, Hà Nội.”

[91] “Đào Đình Châm (2012): ‘Nghiên cứu diễn biến vùng cửa sông Cửa Việt, tỉnh

Quảng Trị phục vụ thoát lũ và giao thông thủy’, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Viện

Địa lý, Hà Nội.”

[92] “Hoàng Ngọc Quang và nnk (2008): ‘Nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên

và môi trường lưu vực sông Mã’, Báo cáo tổng hợp đề tài, Bộ Tài nguyên và

Môi trường, Hà Nội.”

131

[93] “Nguyễn Thanh Hùng (2015): ‘Nghiên cứu đánh giá tác động của hồ thượng

nguồn đến biến động lòng dẫn hạ du, cửa sông ven biển hệ thống sông Mã và

đề xuất giải pháp hạn chế tác động bất lợi nhằm phát triển bền vững’, Báo

cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước mã số KC08-32/11-15, Hà Nội.”

[94] “Nguyễn Hữu Cử (2006): ‘Nghiên cứu động thái môi trường đầm phá ven bờ

miền Trung Việt Nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý’, Báo cáo tổng

hợp Dự án 14 EE5 (2004-2006), Hợp tác Việt Nam - Italy, Viện Tài nguyên

và Môi trường Biển, Hải Phòng.”

[95] “Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012): ‘Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển

dâng cho Việt Nam’, Nxb. Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà

Nội.”

[96] “Võ Thịnh (2003): ‘Địa mạo hệ thống đảo ven bờ Việt Nam’, Luận án Tiến sỹ

Địa lý, Viện Địa lý, Hà Nội.”

[97] “Đặng Văn Bát (1995): ‘Một số vấn đề trầm tích Kz ở Việt Nam’, Địa chất

khoáng sản và Dầu khí Việt Nam, tập 1, tr 222-232, Cục Địa chất và Khoáng

sản Việt Nam.”

[98] “Lê Đức An (1996): Về dao động mực nước biển ở thềm lục địa ven bờ Việt

Nam trong Holocen, Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, (18/4), tr. 365-367,

Hà Nội.”

[99] “Nguyễn Địch Dỹ và nnk (1995): “Các kiểu đường bờ biển Việt Nam

(Subject A.1). Báo cáo phụ đề tài, Tổng cục khí tượng, Hà Nội.”

[100] “Nguyễn Địch Dỹ (2010), Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường

trầm tích Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ

phát triển bền vững kinh tế – xã hội”. Đề tài cấp nhà nước mã số KC09-

06/09-10, (2006-2009).”