intTypePromotion=1

Biên giới 1950 – Bước ngoặt của cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954)

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
10
lượt xem
0
download

Biên giới 1950 – Bước ngoặt của cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng ngày 16.9.1950, bộ đội Việt Nam nổ súng tấn công cứ điểm Đông Khê (Cao Bằng), mở đầu chiến dịch tấn công quân Pháp ở biên giới Đông Bắc. Sau gần một tháng chiến đấu quân ta đã đập tan hoàn toàn hệ thống phòng ngự của Pháp ở biên giới Đông Bắc. Từ đây, căn cứ kháng chiến của ta đã được mở rộng và nối liền với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biên giới 1950 – Bước ngoặt của cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954)

Hoàng Văn Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 84(08): 35 - 40<br /> <br /> BIÊN GIỚI 1950 – BƢỚC NGOẶT CỦA CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƢƠNG<br /> (1945 - 1954)<br /> Hoàng Văn Tuấn*<br /> Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái<br /> Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Sáng ngày 16.9.1950, bộ đội Việt Nam nổ súng tấn công cứ điểm Đông Khê (Cao Bằng), mở đầu<br /> chiến dịch tấn công quân Pháp ở biên giới Đông Bắc. Sau gần một tháng chiến đấu quân ta đã đập<br /> tan hoàn toàn hệ thống phòng ngự của Pháp ở biên giới Đông Bắc. Từ đây, căn cứ kháng chiến của<br /> ta đã được mở rộng và nối liền với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng của<br /> quân ta trong chiến dịch tấn công địch ở biên giới thu đông 1950 đã mở ra một thời kì mới trong<br /> cuộc chiến tranh. Đây được coi là một trong những thất bại lớn nhất của quân đội Pháp trong cuộc<br /> chiến tranh của họ ở Đông Dương.<br /> Từ khoá: Chiến dịch Biên giới, Chiến tranh, Chiến tranh Đông Dương, Kháng chiến chống thực<br /> dân Pháp, Việt Bắc<br /> <br /> Âm mƣu của Pháp và chủ trƣơng của ta*<br /> Sau thất bại trong âm mưu tiến hành cuộc đảo<br /> chính nhằm tiêu diệt Chính phủ Việt Nam dân<br /> chủ Cộng hòa tại Hà Nội, thực dân Pháp tiếp tục<br /> mở cuộc hành quân lớn đánh lên căn cứ địa của<br /> ta ở Việt Bắc, thực hiện âm mưu đánh nhanh<br /> thắng nhanh. Cuộc tấn công lên Việt Bắc thu<br /> đông 1947 thất bại buộc quân Pháp phải chấp<br /> nhận tiến hành chiến tranh lâu dài. Quân Pháp đã<br /> tăng cường càn quét, bình định vùng đô thị và<br /> đồng bằng Bắc bộ, đồng thời thực hiện chủ<br /> trương “khóa cửa biên giới” nhằm bao vây, cô<br /> lập cách mạng nước ta. Chúng đã sử dụng một<br /> lực lượng lớn, lập ra hệ thống đồn bốt dày đặc<br /> dọc theo biên giới Đông Bắc, từ Móng Cái tới<br /> Cao Bằng, nhằm bao vây căn cứ địa Việt Bắc và<br /> ngăn chặn sự liên hệ của ta với bên ngoài. Pháp<br /> lập ra Bộ chỉ huy Liên khu biên giới do đại tá<br /> Constan đứng đầu, đặt đại bản doanh ở thị xã<br /> Lạng Sơn. Bộ chỉ huy này chịu trách nhiệm về<br /> hoạt động của toàn bộ các cứ điểm dọc biên giới<br /> trải dài theo tuyến đường số 4.<br /> Việc Pháp lập Bộ chỉ huy phân khu biên thùy và<br /> xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc trên toàn<br /> tuyến đường số 4 đã gây cho ta không ít khó<br /> khăn. Lực lượng của ta còn yếu, lại hoàn toàn bị<br /> cô lập với bên ngoài. Điều này đặt ra cho chúng<br /> ta một yêu cầu là phải phá được sự kìm kẹp của<br /> địch, khai thông biên giới nhằm phá thế cô lập,<br /> *<br /> <br /> liên lạc với phong trào cách mạng thế giới. Yêu<br /> cầu này càng trở nên bức thiết hơn sau khi cách<br /> mạng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng<br /> Cộng sản Trung Quốc giành được thắng lợi,<br /> nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời<br /> (1.10.1949).<br /> <br /> Các điểm đóng quân của Pháp ở biên giới Đông<br /> Bắc (trên đƣờng số 4)<br /> <br /> [Nguồn: Charles – Henry de Pirey (Đặng Văn<br /> Việt dịch),(2004), Con đường tử địa RC4 – 1950,<br /> Nxb Đà Nẵng, tr.95]<br /> <br /> Tel: 0989780993; Email: hoangvantuan81@gmail.com<br /> <br /> 35<br /> <br /> Hoàng Văn Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên một bước<br /> mới, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của cuộc<br /> chiến tranh giải phóng dân tộc, Thường vụ<br /> Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh<br /> giao cho Bộ Tổng Tư lệnh mở chiến dịch tiến<br /> công địch ở biên giới vào mùa khô Thu Đông<br /> 1950.<br /> Thực hiện quyết định đó, “Ngày 25.7.1950, Ban<br /> Thường vụ Trung ương ra nghị quyết thành lập<br /> Đảng ủy mặt trận biên giới gồm các đồng chí Võ<br /> Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái,<br /> Lê Liêm, Bùi Quang Tạo do đồng chí Võ<br /> Nguyên Giáp làm Bí thư” [3, 107-108]. Trong<br /> cuộc họp ngày 30.7.1950, Bộ Tổng Tham mưu<br /> “dự kiến kế hoạch tác chiến sẽ lấy Cao Bằng làm<br /> mục tiêu số 1, thứ đến Đông Khê rồi Thất Khê”<br /> [3, 108]. Tuy nhiên, sau khi tiến hành trinh sát<br /> nắm tình hình, ta nhận thấy Cao Bằng là một cứ<br /> điểm khá kiên cố, quân địch bố trí rất đông. Đây<br /> là nơi đặt Sở chỉ huy của trung đoàn lê dương thứ<br /> 3 do Charton chỉ huy và sở chỉ huy của tiểu đoàn<br /> bộ binh Angiêri và tiểu đoàn ngụy. Bao quanh<br /> Cao Bằng là đồi trọc cỏ gianh lúp xúp, tạo điều<br /> kiện cho pháo binh, không quân yểm trợ. Phía<br /> ngoài có sông Hiến và sông Bằng quây bọc lấy<br /> thị xã khiến nó như một bán đảo nhỏ. Muốn vào<br /> thị xã phải qua hai chiếc cầu, địch đặt bốt gác<br /> kiểm soát gắt gao. Điều này khiến quân ta tiếp<br /> cận rất khó khăn. Vì vậy, “Sau khi xem xét và<br /> cân nhắc kỹ, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định<br /> chuyển hướng xuống đánh Đông Khê, là nơi so<br /> với Cao Bằng địch yếu hơn, vừa đảm bảo chắc<br /> thắng và cô lập được Cao Bằng, vừa vẫn tạo<br /> được điều kiện để đánh viện binh địch kéo lên”<br /> [1, 164]. Phương châm chiến dịch là “đánh điểm,<br /> diệt viện”.<br /> Cuộc chiến ở biên giới Đông Bắc<br /> 6 giờ sáng ngày 16.9.1950, trung đoàn 174, được<br /> bổ sung thêm tiểu đoàn 246 (Liên khu Việt Bắc)<br /> và tiểu đoàn 11 của Đại đoàn 308, nổ súng tiến<br /> công cứ điểm Đông Khê. Sau 54 giờ chiến đấu<br /> hết sức gay go, quyết liệt, “toàn bộ cụm cứ điểm<br /> con nhím Đông Khê bị tiêu diệt vào lúc 10 giờ<br /> ngày 18.9” [3, 120]. Trận chiến ở Đông Khê, ta<br /> đã giành thắng lợi hoàn toàn. Hầu hết quân Pháp<br /> đóng giữ ở đây bị tiêu diệt, chỉ có một số ít lính<br /> lê dương sống sót chạy về Thất Khê, trong đó có<br /> <br /> 84(08): 35 - 40<br /> <br /> viên đại úy Jaugeon - chỉ huy phó đồn Đông Khê<br /> - “người sĩ quan độc nhất, thoát nạn và kiệt sức,<br /> chạy về đến đồn Bông Lau” sau đó 10 ngày [5,<br /> 108].<br /> <br /> Bố trí phòng ngự của quân Pháp ở Đông Khê<br /> <br /> [Nguồn: Colonel Marcel Le Page, Cao Bang la<br /> tragique épopée de la colonne Le Page, Nouvelle<br /> Edition Latines, Paris, 1981, tr.65]<br /> Trước nguy cơ lớn đang đe dọa và từ trước đã có<br /> ý định rút Cao Bằng (Từ năm 1949, trong chuyến<br /> Thanh tra quân sự tại Đông Dương, tướng Reve<br /> đã chủ trương rút quân Pháp khỏi Cao Bằng.<br /> Song, kế hoạch này gặp phải nhiều sự phản đối<br /> của một số tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương, nhất<br /> là tướng Alexandri. Mặc dù vậy, trong cuộc họp<br /> ngày 2.9.1050, Cao ủy Pignon và Tổng chỉ huy<br /> Carpentier (Được bổ nhiệm thay tướng Blaizot từ<br /> tháng 9.1949) vẫn quyết định rút khỏi Cao Bằng.<br /> Ngày 16.9.1950, Carpentier ký lệnh rút Cao<br /> Bằng, đúng vào ngày quân ta bắt đầu tấn công<br /> Đông Khê), nay mất Đông Khê, Bộ chỉ huy Pháp<br /> quyết định rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4.<br /> Ngày 18.9.1950, Tổng tư lệnh Carpentier gửi cho<br /> đại tá Constan mệnh lệnh rút khỏi Cao Bằng. Chỉ<br /> thị nêu rõ, việc rút khỏi Cao Bằng phải được tiến<br /> hành hết sức khẩn trương (dù thời tiết xấu, mưa<br /> nhiều, đường ngập lụt), vì nhất định đối phương<br /> sẽ truy kích [2, 235].<br /> <br /> 36<br /> <br /> Hoàng Văn Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Ngày 24.9.1950, tướng Alexandri đã bay lên Cao<br /> Bằng và phổ biến cho Charton biết kế hoạch rút<br /> khỏi Cao Bằng mang tên “Thérèse” (Tên Thánh,<br /> rơi vào ngày 3.10.1950, ngày quân Pháp ở Cao<br /> Bằng bắt đầu cuộc triệt thoái).<br /> Ngày 29.9.1950, Constan gửi cho Le Page mật<br /> lệnh No ZF/879/3S, yêu cầu Le Page chỉ huy<br /> Binh đoàn Bayard sẽ xuất phát từ Thất Khê ngày<br /> 1.10 để bắt đầu cuộc hành binh mang tên Tiznit.<br /> Sứ mệnh của cuộc hành binh Tiznit được nêu rõ<br /> trong mệnh lệnh ngày 30.9 là chiếm lại Đông<br /> Khê. Để thực hiện mục tiêu này, theo mệnh lệnh,<br /> “binh đoàn cần: duy trì sự chiếm giữ một vài<br /> điểm quan trọng trên đường số 4 giữa Thất Khê<br /> và Đông Khê để tạo điều kiện dễ dàng cho sự rút<br /> lui về sau; đảm bảo đủ an toàn xung quanh vị trí<br /> để cho phép những sự rút lui và những liên hệ<br /> với không quân kể cả việc thả dù; mặt khác, sẵn<br /> sàng thực hiện không giới hạn những nhiệm vụ<br /> sẽ được đưa ra bằng những mệnh lệnh riêng. Lực<br /> lượng tham gia bao gồm: tiểu đoàn 1 Tabor (1er<br /> Tabor), tiểu đoàn 11 Tabor (11e Tabor), Tiểu<br /> đoàn 8 RTM và tiểu đoàn lính địa phương (quân<br /> ngụy)” [8, 126-127].<br /> 13 giờ ngày 1.10.1950, binh đoàn Bayard xuất<br /> phát từ Thất Khê tiến theo đường số 4 lên hướng<br /> Đông Khê.<br /> Trong ngày 1.10, một cuộc hành quân khác nằm<br /> trong kế hoạch Thérèse - cuộc hành binh Phoque<br /> (Hải Cẩu) cũng được quân Pháp tiến hành. 5 tiểu<br /> đoàn bộ binh và dù, một cụm pháo binh, một số<br /> đơn vị công binh chia làm 3 hướng (đường số 3,<br /> dọc theo sông Cầu và bằng đường hàng không)<br /> tiến lên chiếm thị xã Thái Nguyên. Bộ chỉ huy<br /> Pháp hy vọng Phoque sẽ đỡ đòn được cho quân<br /> Pháp đang lâm vào thế rất hiểm nghèo trên mặt<br /> trận Đông Bắc. Sức ép của đối phương trên<br /> đường 4 sẽ giảm, cánh quân Cao Bằng sẽ rút<br /> chạy an toàn. Tuy nhiên, cuộc hành quân này đã<br /> không thực hiện được mục tiêu đề ra. Sau 10<br /> ngày bị “rơi vào chỗ trống” và mất 500 quân,<br /> ngày 10.10 quân Pháp phải rút khỏi Thái<br /> Nguyên để lo tăng cường các trận địa phòng<br /> ngự, ngăn chặn đối phương tiến về đồng bằng.<br /> Ở Cao Bằng, để đánh lừa đối phương và giúp cho<br /> cuộc triệt thoái có thể thành công, Bộ chỉ huy<br /> Pháp đã đưa tiểu đoàn 3 Tabor bằng đường hàng<br /> <br /> 84(08): 35 - 40<br /> <br /> không từ Lạng Sơn lên tăng cường cho Cao<br /> Bằng.<br /> 0 giờ ngày 3.10, sau khi đã phá hủy những trang<br /> thiết bị không thể mang theo, binh đoàn Cao<br /> Bằng bắt đầu cuộc hành binh Orage (Giông tố)<br /> rút chạy theo đường số 4 hướng về phía Đông<br /> Khê. Theo kế hoạch, đội quân của Charton sẽ<br /> hợp với binh đoàn của Le Page tại kilômet 22<br /> (vùng núi Quý Chân) sau đó rút về Thất Khê.<br /> Về phía ta, sau khi diệt đồn Đông Khê, thực hiện<br /> phương châm “đánh điểm diệt viện”, ta kiên trì<br /> chờ đánh viện binh của địch. 3 trung đoàn của<br /> đại đoàn 308 ém quân mai phục từ núi Khâu<br /> Luông đến núi Chóc Ngà kéo dài đến vùng đèo<br /> Lũng Phầy sẵn sàng diệt địch. Tuy nhiên, việc án<br /> binh mai phục trong một thời gian dài đã khiến<br /> cho lương thực cung cấp cạn kiệt, thậm chí một<br /> bộ phận bộ đội ta “phải đi lấy gạo ở tận kho<br /> Thủy Khẩu sát biên giới Việt - Trung” [3, 136].<br /> Vì vậy, Bộ chỉ huy đã tính đến việc chuẩn bị<br /> đánh xuống Thất Khê để buộc địch phải viện<br /> binh.<br /> Ngày 2.10, binh đoàn Bayard của Le Page tiến<br /> lên đến Đông Khê liền bị quân ta đánh chặn. Các<br /> chiến sĩ của ta đã chiến đấu hết sức dũng cảm,<br /> như lời của một lính Pháp may mắn sống sót:<br /> “Họ xông lên theo tiếng kèn xung trận với một<br /> khí thế, một quyết tâm chiến thắng tuyệt vời” [5,<br /> 142]. Thất bại trong việc chiếm lại Đông Khê, lại<br /> bị đánh mạnh ở Nà Kéo và Nà Pá, ngày 3.10 “Le<br /> Page quyết định rời bỏ con đường đi dọc đỉnh núi<br /> 765 hướng đi về vùng núi đá vôi Cốc Xá, để từ<br /> đấy tìm ra con đường mòn đi về hướng Tây, đến<br /> những quả núi mâm xôi Quý Chân, là nơi mà đại<br /> tá Charton hẹn làm nơi hội tụ” [5, 152]. Ngày<br /> 4.10, đoàn quân của Le Page tiến vào vùng núi<br /> đá Cốc Xá nhưng không thể bắt được liên lạc<br /> vô tuyến với Charton. Trong khi đó, quân đội<br /> Việt Nam đang khép chặt vòng vây.<br /> Về phía binh đoàn Charton, sau khi rút tới Nậm<br /> Nàng, chúng phải phá hủy xe cộ, súng nặng, rẽ<br /> theo đường mòn. Đội quân này bị lực lượng của<br /> trung đoàn 209 đánh chặn và dồn vào vùng Cốc<br /> Xá, ở điểm cao 477.<br /> Trước tình cảnh nguy khốn của 2 binh đoàn Le<br /> Page và Charton, Constan quyết định điều một<br /> tiểu đoàn Âu – Phi (gồm 4 đại đội) do viên đại úy<br /> De la Baume chỉ huy tiến lên hướng Đông Khê<br /> với hy vọng sẽ buộc đối phương phải phân tán<br /> <br /> 37<br /> <br /> Hoàng Văn Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> binh lực, tạo điều kiện cho 2 binh đoàn Le Page<br /> và Charton có thể về được đến Thất Khê. Song<br /> tiểu đoàn của De la Baume đã bị đánh tan tác ở<br /> khu vực Lũng Phầy và chỉ có một vài tên chạy<br /> thoát về được Thất Khê vào 8.10.<br /> Tại vùng núi Cốc Xá, 13 giờ ngày 7.10, lần đầu<br /> tiên, Le Page gặp Charton trong tình cảnh cả hai<br /> binh đoàn đều đã bị đánh tơi tả (Binh đoàn của<br /> La Page lúc này chỉ còn lại khoảng 550 tên, bằng<br /> 1/4 quân số lúc xuất phát). Cuộc gặp diễn ra<br /> trong chớp nhoáng, sau đó hai người lại phải chia<br /> tay để chỉ huy đội quân của mình rút chạy. Chỉ ít<br /> lâu sau đó, vào 18 giờ ngày 7.10, Charton bị bắt.<br /> Le Page tiếp tục chỉ huy đội quân đang hoảng<br /> loạn tháo chạy nhưng không thể nào thoát khỏi<br /> “cái bẫy chuột” Cốc Xá. Chiều 9.10, Le Page<br /> cùng ban tham mưu binh đoàn cũng trở thành tù<br /> binh.<br /> <br /> Kế hoạch “Thérese” của Pháp bị đánh bại<br /> <br /> [Nguồn: Colonel Marcel Le Page, Cao Bang la<br /> tragique épopée de la colonne Le Page, Nouvelle<br /> Edition Latines, Paris, 1981, tr.146]<br /> Như vậy, “sau 8 ngày đêm chiến đấu ác liệt và<br /> liên tục tại khu núi Cốc Xá và khu đồi 477 ở phía<br /> tây Đông Khê, bộ đội ta bằng chiến thuật đánh<br /> vận động đã tiêu diệt gọn cả hai binh đoàn Le<br /> <br /> 84(08): 35 - 40<br /> <br /> Page và Charton (gồm 7 tiểu đoàn), đồng thời<br /> đập tan cả một cánh quân địch từ Thất Khê lên<br /> ứng cứu” [1, 166].<br /> Sự hoảng loạn của quân Pháp sau thất bại ở<br /> biên giới<br /> Việc 2 binh đoàn Le Page và Charton bị tiêu diệt<br /> hoàn toàn đã gây lên một sự hoảng loạn trong<br /> toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở biên giới.<br /> Đúng như lời của viên trung tá Forget, tiểu đoàn<br /> trưởng tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3 lê dương lực lượng nòng cốt của Cao Bằng, tuyên bố với<br /> các sĩ quan thuộc quyền trước ngày rút khỏi Cao<br /> Bằng: “…. cả thế giới đang để mắt nhìn vào xứ<br /> Viễn Đông này, trong ấy đặc biệt là vùng biên<br /> giới lại có một vị trí quan trọng. Không cần lên<br /> giọng hùng hồn, chúng ta thừa biết rằng kết cục<br /> của trận đánh lần này sẽ thu hút sự chú ý không<br /> chỉ của Lạng Sơn, Hà Nội mà còn của cả Paris,<br /> Washington, Moscou” [5, 111].<br /> Trước thất bại của cuộc rút chạy khỏi Cao Bằng,<br /> các đồn bốt địch trên khắp đường số 4 trở nên rối<br /> loạn. Địch đã phải nhanh chóng rút bỏ hàng loạt<br /> các cứ điểm: Đồng Đăng, Na Sầm, Lạng Sơn.<br /> Thậm chí, viên “đại tá da thỏ” Constan đã phải ra<br /> lệnh bỏ lại toàn bộ số quân trang, quân dụng “đủ<br /> cung cấp cho 8 trung đoàn” để đảm bảo cuộc rút<br /> chạy khỏi Lạng Sơn an toàn. Theo Georges<br /> Fleury, “số trang thiết bị mà Việt Minh thu được<br /> ở Lạng Sơn: 13 khẩu pháo, 125 súng cối, 940<br /> súng máy, 1.200 súng trường máy, 4.000 súng<br /> máy ngắn, 8.000 súng trường, 600.000 lít xăng,<br /> 10.000 quả đạn 75 và khoảng từng đó quả đạn<br /> 105 và 155” [6, 396]<br /> Thất bại của Pháp trong chiến dịch biên giới là<br /> rất nghiêm trọng. Các nhà nghiên cứu Pháp khi<br /> đề cập đến thất bại này đều có những nhận xét,<br /> đánh giá tuy ngắn gọn nhưng đầy bi quan.<br /> Ph.Devillers cho rằng quân đội Việt Nam “đã<br /> đấm một quả đấm đầu tiên ra trò” và việc quân<br /> Pháp rút khỏi Cao Bằng đã trở thành một tai họa<br /> lớn, buộc người Pháp phải bỏ luôn Lạng Sơn và<br /> toàn bộ biên giới.<br /> P.Brocheux và D.Hémery cho rằng, việc Bộ chỉ<br /> huy Pháp rút bỏ các cứ điểm, mà “chính những<br /> điều kiện và phương pháp tiến hành (nỗi hoảng<br /> sợ, sự vội vàng hấp tấp và sự phối hợp rất kém)<br /> <br /> 38<br /> <br /> Hoàng Văn Tuấn<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> của những hành động này đã biến một cuộc rút<br /> quân thành một sự tan vỡ” [4, 454]. Bởi “sự thảm<br /> bại trước hết là do yếu tố tinh thần … Sự vang<br /> dội của một sự kiện như thế này còn vượt rất<br /> nhiều so với những kết quả về mặt vật chất. Cao<br /> Bằng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương cũng<br /> như là Baillen trong cuộc chiến tranh Tây Ban<br /> Nha, Valmy trong cuộc cách mạng Pháp” [4,<br /> 456]. Với những phân tích ấy, các ông đi tới<br /> kết luận rằng thất bại của Pháp ở Điện Biên<br /> Phủ sau này, xét về mặt quân sự, không<br /> nghiêm trọng bằng thất bại ở Cao Bằng năm<br /> 1950 [4, 456].<br /> Theo Bernard Fall, thất bại ở Cao Bằng là “một<br /> thất bại trên xứ thuộc địa nặng nề nhất kể từ khi<br /> Montcalm chết tại Quebec” [7, 33]. Còn De Pirey<br /> khẳng định: “Với thảm hoạ Cao Bằng, mặc dù<br /> chúng ta (quân Pháp - HVT) đã bị những tổn thất<br /> <br /> lớn: gần 5000 người bị chết, bị thương, bị bắt<br /> làm tù binh trên toàn bộ Đường số 4. Chúng ta<br /> còn bị những ảnh hưởng xấu về chính trị, quân sự<br /> ngoài tầm cỡ bình thường. [...] Trong một<br /> khoảnh khắc, từ sau khi nước Pháp được giải<br /> phóng, nước Pháp mới cảm nhận được sự đau<br /> khổ phải chịu đựng, những hy sinh phải chấp<br /> nhận và những cố gắng vô ích...” [5, 255].<br /> Nhưng “Cao Bằng chỉ là cú đánh thử, một ngày<br /> sắp đến sẽ có cú đánh thực” [5, 254].<br /> Thất bại ở Biên giới đã gây ra sự hoảng loạn cho<br /> quân Pháp không chỉ ở Đông Dương, mà cả ở<br /> Paris. Không khí hoảng hốt bao trùm lên cơ quan<br /> Tham mưu của Pháp ở Bắc Đông Dương. Nhiều<br /> người phán đoán rằng Hà Nội sắp bị tiến công.<br /> Việc bố phòng được triển khai gấp rút để bảo vệ<br /> thành phố.<br /> pháo binh, cơ<br /> giới: 3.200<br /> người<br /> Tổng số: 4.800<br /> người<br /> <br /> Quân số Pháp đóng tại khu vực biên giới đông<br /> bắc và thiệt hại của quân Pháp trong cuộc tấn<br /> công của ta ở khu vực này thu đông 1950<br /> GỐC<br /> <br /> Tên và quân<br /> số<br /> <br /> Số thiệt hại<br /> (Chết, bị<br /> thƣơng, tù<br /> binh)<br /> <br /> I. Binh<br /> đoàn<br /> Charton<br /> (Cao Bằng)<br /> <br /> - Tiểu đoàn 3,<br /> trung đoàn 3<br /> Lê Dương (3er<br /> REI)<br /> - Tiểu đoàn 3<br /> Maroc<br /> - Đơn vị công<br /> binh, pháo binh<br /> - Tổng số:<br /> 1.600 người<br /> <br /> - Của binh đoàn<br /> Lepage –<br /> Charton<br /> - 75 sĩ quan<br /> - 292 hạ sĩ quan<br /> Tổng số: 2839<br /> người<br /> <br /> II. Binh<br /> đoàn<br /> Lepage<br /> (Thất Khê<br /> và Đông<br /> Khê)<br /> <br /> - Tiểu đoàn<br /> Tabor 1<br /> - Tiểu đoàn<br /> Tabor 11<br /> - Tiểu đoàn dù<br /> Lê Dương:<br /> 1erBEP<br /> - Tiểu đoàn bộ<br /> binh 8erRTM<br /> - Công binh,<br /> <br /> III. Thuộc<br /> binh đoàn<br /> Charton<br /> (Cao Bằng)<br /> IV. Đơn vị<br /> dù (Thất<br /> Khê)<br /> V. Đơn vị<br /> đồn trú ở<br /> Đông Khê Thất Khê –<br /> Na Sầm<br /> (Vào<br /> khoảng)<br /> TỔNG SỐ<br /> <br /> Tổng số thiệt<br /> hại: 3.200 người<br /> <br /> Từng đoàn xe nhà binh ngày đêm vội vã<br /> chuyển các hồ sơ và vật quý ra khỏi thành<br /> phố. Trong các hội nghị ở đại bản doanh quân<br /> đội Pháp ở Bắc Đông Dương, người ta còn<br /> <br /> 84(08): 35 - 40<br /> <br /> - Tiểu đoàn<br /> dõng: 1.100<br /> người<br /> - Tiểu đoàn<br /> 3eBCCP và<br /> 1eBEP: 360<br /> người<br /> - 1 Tiểu đoàn<br /> của 3eREI<br /> - 2 tiểu đoàn<br /> 3eRET<br /> - Dõng A.B.C<br /> - Pháo binh, cơ<br /> giới, công binh<br /> Tổng số: 1.500<br /> người<br /> 7.760 người<br /> <br /> Tổng số thiệt<br /> hại: 1000 người<br /> 3eBCCP và<br /> 1eBEP: 330<br /> người<br /> - Quân đồn trú<br /> - Dõng<br /> Tổng số: 500<br /> người<br /> 5.030 người<br /> <br /> [Nguồn: Charles – Henry de Pirey (Đặng Văn<br /> Việt dịch), Con đường tử địa RC4 – 1950,<br /> Nxb Đà Nẵng, 2004, tr.267-268]<br /> <br /> bàn tới chuyện “tổng rút chạy” khỏi Móng<br /> Cái, Tiên Yên, Cẩm Phả, Hòn Gai. Thậm chí<br /> có người còn tính đến cả việc rút khỏi Hà<br /> Nội. Người ta hồi hộp lo lắng, chờ đợi các<br /> <br /> 39<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản