Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm

Chia sẻ: Comam1902 Comam1902 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
2
lượt xem
0
download

Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đề cập đến các biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa nói chung, giáo dục giá trị nghề nghiệp nói riêng cho sinh viên sư phạm để họ có thể tạo ra giá trị, năng lực thực hiện hiệu quả hoạt động nghề nghiệp sau này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 2A, pp. 3-10<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0022<br /> <br /> BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHÂN CÁCH VĂN HÓA CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM<br /> Nguyễn Thanh Bình<br /> <br /> Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Sống theo và thể hiện được các giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”; “Công dân<br /> tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo” được xem là nội dung nhân cách văn<br /> hóa của sinh viên sư phạm. Bài viết đề cập đến các biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa<br /> nói chung, giáo dục giá trị nghề nghiệp nói riêng cho sinh viên sư phạm để họ có thể tạo<br /> ra giá trị, năng lực thực hiện hiệu quả hoạt động nghề nghiệp sau này.<br /> Từ khóa: Nhân cách văn hóa, giá trị nghề nghiệp, sinh viên sư phạm, biện pháp giáo dục.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở pháp lí ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về<br /> giáo dục nhân cách văn hóa trong nhà trường, tác giả Đào Thị Oanh đã đề xuất hệ giá trị và khung<br /> tiêu chí nhân cách văn hóa cho sinh viên đại học sư phạm của Việt Nam hiện nay như sau:<br /> Giá trị (1) - Yêu thương;<br /> Giá trị (2) – Tin tưởng/Tin cậy;<br /> Giá trị (3) - Công dân tích cực;<br /> Giá trị (4) - Tận tụy/Tận tâm (với nghề);<br /> Giá trị (5) - Hợp tác;<br /> Giá trị (6) - Sáng tạo.<br /> Đề xuất trên đã nhận được sự ủng hộ của sinh viên sư phạm, điều này thể hiện ở kết quả<br /> trưng cầu ý kiến các em trong Bảng 1 dưới đây.<br /> Cũng theo tác giả Đào Thị Oanh, giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm là quá<br /> trình tác động có mục đích, có kế hoạch từ phía nhà trường, nhằm hình thành phát triển ở sinh viên<br /> sư phạm những giá trị chuẩn mực đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của họ trong tương lai, với tư cách<br /> là một người giáo viên, được thể hiện trong mối quan hệ với bản thân, với mọi người xung quanh,<br /> với công việc. Như vậy giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm gắn liền với giáo dục<br /> giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm. Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm để<br /> biến các yêu cầu của nghề thành mục tiêu hoạt động học tập, tu dưỡng và hoạt động nghề nghiệp<br /> của các em trong tương lai. Liên quan đến giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm ở<br /> Việt Nam đã có các nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hải (2012) về Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho<br /> sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm [2] và của<br /> Ngày nhận bài: 15/12/2017. Ngày sửa bài: 20/2/2018. Ngày nhận đăng: 25/2/2018<br /> Liên hệ: Nguyễn Thanh Bình, e-mail: ngthanhbinh2556@gmail.com<br /> <br /> 3<br /> <br /> Nguyễn Thanh Bình<br /> <br /> Trần Thị Cẩm Tú (2015) về Tích hợp giáo dục giá trị sống và giáo dục giá trị nghề nghiệp cho<br /> sinh viên ngành sư phạm [4]. Trong bài viết này, cùng với các biện pháp giáo dục nhân cách văn<br /> hóa, tác giả sẽ đề cập đến cả biện pháp giáo dục các giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm với<br /> tư cách là hợp phần quan trọng, nền tảng của giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm.<br /> Bảng 1. Đánh giá về mức độ quan trọng của những giá trị nhân cách<br /> ở một người sinh viên sư phạm<br /> TT<br /> 1.<br /> 2.<br /> 3.<br /> 4.<br /> 5.<br /> 6.<br /> 7.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Giá trị nhân cách<br /> <br /> ĐTB<br /> <br /> ĐLC<br /> <br /> Không quan<br /> trọng<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Phân<br /> vân<br /> 2,4<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Quan<br /> trọng<br /> 2,4<br /> 11,9<br /> 22,0<br /> <br /> Rất quan<br /> trọng<br /> 95,2<br /> 88,1<br /> 78,0<br /> <br /> Yêu thương<br /> 3,92<br /> 0,34<br /> Tin tưởng/Tin cậy<br /> 3,88<br /> 0,32<br /> Công dân tích cực<br /> 3,78<br /> 0,41<br /> Tận tụy/Tận tâm (với<br /> 3,97<br /> 0,154<br /> 0<br /> 0<br /> 2,4<br /> 97,6<br /> nghề dạy học)<br /> Hợp tác<br /> 3,76<br /> 0,43<br /> 0<br /> 0<br /> 23,8<br /> 76,2<br /> Sáng tạo<br /> 3,88<br /> 0,32<br /> 0<br /> 0<br /> 11,9<br /> 88,1<br /> Trách nhiệm<br /> 3,87<br /> 0,33<br /> 0<br /> 0<br /> 12,5<br /> 87,5<br /> 3,82<br /> 0,29<br /> 0<br /> 0,4<br /> 12,4<br /> 87,2<br /> Chung<br /> Nguồn: Kết quả khảo sát của nhiệm vụ tại ĐHSP Đà Nẵng, Hà Nội tháng 9/2017<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Nguyên tắc đề xuất biện pháp<br /> <br /> 2.1.1. Đảm bảo sự thống nhất giữa nhận thức về tầm quan trong của giáo dục nhân cách<br /> văn hóa và nhận thức về cách làm phù hợp đảm bảo hiệu quả.<br /> Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm là một vấn đề khá mới đối với đội ngũ<br /> cán bộ, giảng viên các trường và sinh viên sư phạm. Do đó cần phải nâng cao nhận thức cho họ về<br /> sự cần thiết, tầm quan trọng của vấn đề đối với sự thành công trong hoạt động nghề nghiệp sau này<br /> của sinh viên. Đồng thời, ngay từ đầu rất cần để đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường sư phạm<br /> nhận thức được cách làm đúng bản chất của giáo dục giá trị và năng lực thể hiện các giá trị phản<br /> ánh nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm theo cơ chế chuyển giá trị khách quan thành giá trị<br /> chủ quan của sinh viên sư phạm thông qua các hoạt đông trải nghiệm.<br /> <br /> 2.1.2. Đảm bảo giáo dục nhân cách văn hóa được tiếp cận đồng bộ trong các hoạt động đào<br /> tạo, hoạt động phong trào của sinh viên sư phạm.<br /> Hoạt động đào tạo sinh viên sư phạm bao gồm các hoạt động dạy học: các học phần chung;<br /> Các học phần đào tạo nghiệp vụ sư phạm; Các học phần đào tạo chuyên ngành, kiến tập, thực tập<br /> sư phạm và các hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; của Hội sinh viên... Các<br /> nội dung giáo dục nhân cách văn hóa cần được tích hợp, lồng ghép trong toàn bộ các hoạt động<br /> đào tạo và hoạt động phong trào sinh viên để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và củng cố niềm<br /> tin, phát triển năng lực thực hành gía trị cho sinh viên qua các hoạt động thực hành, trải nghiệm.<br /> <br /> 2.1.3. Đảm bảo sự quản lí nhất quán đối với quá trình giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh<br /> viên sư phạm.<br /> Để đảm bảo quá trình giáo dục nhân cách văn hóa được thực hiện có hiệu quả thì cần phải<br /> có sự chỉ đạo, giám sát và hỗ trợ kịp thời từ công tác quản lí: Từ khâu chỉ đạo đưa các yêu cầu về<br /> 4<br /> <br /> Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm<br /> <br /> nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm vào chuẩn đầu ra của từng ngành đào tạo, đến chỉ đạo<br /> xây dựng môi trường nhà trường chứa đựng các chất liệu giáo dục nhân cách văn hóa, đến kiểm<br /> tra, đánh giá kết quả giáo dục và rèn luyện nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm; cũng như<br /> điều chỉnh cải tiến quá trình giáo dục nhân cách văn hóa sao cho ngày càng hiệu quả.<br /> <br /> 2.1.4.<br /> <br /> Đảm bảo sự thống nhất giữa quá trình giáo dục nhân cách văn hóa của nhà trường<br /> với quá trình tự giáo dục,tự rèn luyện của sinh viên sư phạm<br /> <br /> Quá trình giáo dục nhân cách văn hóa của nhà trường chỉ là tác động bên ngoài để tạo động<br /> cơ, nhu cầu tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm thì mới thành công.<br /> Tác động giáo dục nhân cách văn hóa của nhà trường phải được chuyển hóa thành nhu cầu tự thân<br /> rèn luyện nhân cách văn hóa của từng sinh viên.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên<br /> <br /> 2.2.1. Biện pháp 1. Đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm cần thay đổi nhận thức về tầm<br /> quan trọng của giáo dục giá trị nghề nghiệp trong việc phát triển năng lực và nhân<br /> cách văn hóa cho sinh viên sư phạm<br /> Như trên đã trình bày giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm là quá trình tác<br /> động có mục đích, có kế hoạch từ phía nhà trường, do đó đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm phải<br /> chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này. Về vai trò của Giá trị nghề nghiệp GV phải đề cập đến<br /> quan điểm của Singapore. Theo định hướng năng lực đào tạo GV thế kỉ XXI của Singapore bao<br /> gồm các yếu tố cấu thành: giá trị, kĩ năng và kiến thức, trong đó giá trị là yếu tố lõi, định hướng<br /> cho việc tích lũy kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp của GV, thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa giá<br /> trị, kiến thức và kĩ năng trong những đặc điểm của nghề GV trong xã hội hiện đại [6]. Như vậy<br /> giáo dục giá trị nghề nghiệp cho GV ở Singapore là yếu tố cần được quan tâm hàng đầu ngay từ<br /> khâu đào tạo ban đầu đến giai đoạn bồi dưỡng phát triển chuyên môn liên tục. Đây là một kinh<br /> nghiệm quý đáng học tập để đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng GV ở Việt Nam. Để tạo ra sự<br /> thay đổi này, BGH nhà trường, Ban chủ nhiệm các khoa cần chỉ đạo toàn bộ đội ngũ cán bộ nhà<br /> trường từ những giảng viên trực tiếp giảng dạy đến đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội sinh viên. . . không<br /> chỉ thay đổi nhận thức mà cần thể hiện bằng hành động đưa cách tiếp cận giá trị vào toàn bộ hoạt<br /> động đào tạo, tích hợp kế hoạch giáo dục giá trị nghề nghiệp trong kế hoạch đào tạo của khoa và<br /> trường, hình thành và phát triển nhân cách văn hóa người sinh viên sư phạm.<br /> <br /> 2.2.2. Biện pháp 2. Đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm cần hiểu rõ mục tiêu và cơ chế<br /> chuyển giá trị khách quan thành giá trị chủ quan của sinh viên<br /> Trong giáo dục giá trị, sinh viên không chỉ cần “hiểu được những gì là điều tốt” mà còn<br /> phải “mong muốn làm điều tốt” (Hill, 2004). “Mong muốn làm điều tốt” được hiểu là sự sẵn sàng<br /> hành động theo chuẩn mực khi gặp cơ hội. Mặt cảm xúc hay tình cảm này của nhân cách là “cây<br /> cầu nối nối giữa lí trí và hành động” (Lickona, 1993). Vì vậy giáo dục những giá trị là giáo dục<br /> sinh viên “biết điều tốt, yêu điều tốt và làm điều tốt”. Tóm lại, giáo dục những giá trị cuối cùng<br /> chính là để cải thiện hành vi hay thay đổi hành vi để tốt đẹp hơn. Vì hành vi này là một sự chuyển<br /> hóa từ suy nghĩ và cảm xúc về những giá trị quý báu, nên hành vi tốt đẹp là hành vi tự giác và vị<br /> tha có lí trí [5]. Theo Makiguchi nhiệm vụ của giáo dục là dẫn dắt con người tới đích tiềm tàng<br /> khả năng tạo giá trị [7]. Vì vậy giáo dục giá trị cho sinh viên không chỉ nhằm cho sinh viên chuyển<br /> hóa các giá trị khách quan của xã hội thành niềm tin chủ quan của bản thân, mà còn để sinh viên<br /> sư phạm có năng lực tạo giá trị. Để đạt được mục tiêu đó, cần tuân thủ cơ chế hình thành giá trị<br /> 5<br /> <br /> Nguyễn Thanh Bình<br /> <br /> với các bước cơ bản ở các cấp độ sau:<br /> a. Cấp độ nhận thức: ở cấp độ này, nhận thức thể hiện ở 2 mức độ:<br /> – Mức độ biết: thể hiện ở mức độ giới hạn về các khái niệm, các sự kiện và thuật ngữ về<br /> giá trị cần giáo dục. Nên cần phải chuyển sang mức độ hiểu sâu hơn về bản chất bên trong của<br /> các khái niệm, sự kiện cũng như ý nghĩa của việc nắm được các khái niệm, các chuẩn mực, quy<br /> tắc. . . thể hiện các giá trị đó.<br /> – Mức độ hiểu: Mức độ này thể hiện sự hiểu sâu bản chất của giá trị để có thể thể hiện bằng<br /> hành vi phù hợp.<br /> Đối với giai đoạn nhận thức, cần cho người học tiếp thu các giá trị và các chuẩn mực giá trị<br /> xã hội thông qua phân tích, tổng hợp, khái quát các sự kiện làm sáng tỏ giá trị của nó. Đây là bước<br /> chuẩn bị cho sinh viên đánh giá giá trị đúng – sai, tốt – xấu, thiện – ác. . . Theo Phạm Minh Hạc<br /> gọi là phương pháp tiếp cận, tiếp thu sâu sắc [3].<br /> b. Cấp độ tình cảm: Nếu chỉ có biết và hiểu thì chưa đảm bảo những giá trị, những yêu cầu,<br /> những tiêu chí đạo đức cần giáo dục được nội tâm hóa và tích hợp với hệ thống vốn kinh nghiệm<br /> đã có để trở thành tài sản riêng của mỗi cá nhân. Bước này đảm bảo các giá trị được cá nhân lựa<br /> chọn qua kinh nghiệm, được suy ngẫm, và được khẳng định, được nuôi dưỡng trở thành động cơ<br /> của hành vi, mục tiêu và lí tưởng của cuộc sống. Giá trị được nội tâm hóa là các giá trị được lựa<br /> chọn một cách tự nguyện thông qua các cách lựa chọn, đánh giá khác nhau nhờ cọ xát các ý kiến<br /> trong quá trình thảo luận và trải nghiệm thực tiễn từ những tấm gương thày cô giáo của mình. ở cấp<br /> độ này, sau khi các em có sự chuẩn bị về mặt nhận thức, cần được biểu hiện bằng thái độ, thông<br /> qua các tầng bậc tâm lí: ước muốn, đồng tình, phản đối, nhất trí, tuân theo, phê phán. . .<br /> c. Cấp độ hành động:<br /> Các giá trị được nội tâm hóa phát huy vai trò định hướng cho hành vi, qua đó giá trị được<br /> thể hiện qua hành vi của cá nhân. Đây chính là bước ứng dụng giá trị vào thực tế. ở cấp độ này GV<br /> cần khuyến khích người học tự giác chuyển hoá từ nhận thức, thái độ đến hành động theo hệ giá<br /> trị hoặc những chuẩn mực.<br /> Các bước như vậy đã giúp chuyển những hiểu biết của con người (qua cấp độ nhận thức)<br /> đến Thái độ, giá trị (qua trải nghiệm, đánh giá, lựa chọn giá trị) và định hướng hành động thực tiễn<br /> (cần làm gì) chu trình chuyển giá trị xã hội thành giá trị cá nhân. Các cấp độ theo cách tiếp cận giá<br /> trị có thể tuân theo logic trên, nhưng cũng có thể thay đổi trật tự và đan xen nhau một cách biện<br /> chứng. So với hoạt động nhận thức thì quá trình chuyển hóa các gía trị xã hội thành giá trị cá nhân<br /> có điểm khác biệt– mang tính đặc trưng sau: Quá trình nhận thức chỉ qua bước nhận thức và thực<br /> hành, vận dụng; còn quá trình chuyển hóa các gía trị xã hội thành giá trị cá nhân đặc biệt cần có<br /> bước trải nghiệm, đánh giá, lựa chọn các giá trị để tác động đến cảm xúc hình thành thái độ, tin<br /> vào giá trị thì mới có thể chi phối hành vi theo định hướng giá trị [1]. Suy nghĩ nếu không chuyển<br /> thành những hành động thì những suy nghĩ đó chỉ là những lời nói suông, hành vi không có suy<br /> nghĩ thì nó chỉ là sư tuân theo mù quáng. Không có xúc cảm thì cả suy nghĩ và hành động có thể<br /> là vô cảm, còn xúc cảm thiếu suy nghĩ và không được thể hiện bằng các hành động thì sẽ không<br /> hợp lí [7].<br /> <br /> 2.2.3. Biện pháp 3. Tổ chức giáo dục các giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm thông<br /> qua sinh hoạt câu lạc bộ của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, hoặc Tuần sinh hoạt<br /> công dân đầu khóa học<br /> Thông qua hình thức này có thể tổ chức các chủ đề giáo dục giá trị “Yêu thương”; “Tin<br /> tưởng”; “Công dân tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo”. Cũng có thể tổ chức giáo<br /> 6<br /> <br /> Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm<br /> <br /> dục các giá trị này dưới dạng một chuyên đề giáo dục. Người tổ chức cần vận dụng cơ chế chuyển<br /> hóa giá trị khách quan thành giá trị chủ quan để thiết kế các hoạt động. Thông thường cần có tối<br /> thiểu các hoạt động sau đây trong mỗi chủ đề:<br /> Hoạt động 1. Khám phá giá trị;<br /> Hoạt động 2. Tìm hiểu ý nghĩa của giá trị;<br /> Hoạt động 3. Những rào cản thể hiện các giá trị trong cuộc sống;<br /> Hoạt động 4. Các biện pháp rèn luyện và ứng dụng giá trị trong thực tiễn.<br /> Trong đó hoạt động 1 tương ứng với cấp độ nhận thức về bản chất của giá trị, hoạt động 2<br /> tương ứng với cấp độ tình cảm, thái độ thông qua trải nghiệm, đánh giá về sự cần thiết, tầm quan<br /> trọng của giá trị đó đối với cá nhân và với nghề nghiệp với xã hội. . . Hoạt động 3 và 4 tương đương<br /> với cấp độ hành động vì xác định được những khó khăn, rào cản thể hiện giá trị trong cuộc sống<br /> và các biện pháp rèn luyện chính là tìm cách ứng dụng các giá trị đã học vào thực tiễn cuộc sống,<br /> hoạt động nghề nghiệp sau này [1]. Vai trò cốt lõi của nhà giáo dục trong hoạt động giáo dục các<br /> giá trị này là dẫn dắt SV trong các hoạt động thảo luận nhóm, tư duy phản biện và suy ngẫm, tự<br /> chiêm nghiệm về những giá trị cụ thể, chuẩn mực về hành vi, kết nối những suy nghĩ và cảm xúc<br /> thành hành động và làm tăng thêm sự cam kết của họ. Đồng thời, nhà giáo dục còn cần hướng dẫn<br /> sinh viên biết trân trọng và chấp nhận sự tôn trọng lẫn nhau khi gặp phải những quan điểm khác<br /> biệt. Tuy nhiên, những người tổ chức giáo dục các giá trị không nên áp đặt quan điểm cá nhân<br /> của họ về các giá trị. Thay vào đó, họ phải cố gắng tạo ra một môi trường thân thiện, cởi mở để<br /> sinh viên tự khám phá hành vi nào được mong muốn và hành vi nào không được mong muốn, và<br /> những giá trị nào cần có cho cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp lâu dài của bản thân và của mọi<br /> người. Đồng thời, khuyến khích người học tự giác chuyển hoá từ nhận thức, thái độ đến hành động<br /> theo hệ giá trị hoặc những chuẩn mực.Tránh tổ chức giáo dục các giá trị trở thành bài thuyết trình,<br /> giảng giải giáo điều và áp đặt các giá trị.<br /> <br /> 2.2.4. Biện pháp 4. Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm có thể thông qua<br /> tích hợp trong dạy học các môn học trong chương trình đào tạo giáo viên<br /> Trong chương trình đào tạo giáo viên tương lai chắc chắn có những môn học có tiềm năng<br /> giáo dục các giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”; “Công dân tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp<br /> tác”; “Sáng tạo “ở các phương diện khác nhau như nhận thức về giá trị, tình cảm đối với giá trị và<br /> hành động theo giá trị. Đặc biệt các môn khoa học xã hội như Ngữ Văn, Lịch sử, Giáo dục chính<br /> trị, các môn nghiệp vụ sư phạm có ưu thế nhiều hơn trong việc tích hợp nội dung giáo dục các giá<br /> trị trên; các môn học khác cũng đều có tiềm năng giáo dục các giá trị “hợp tác”, “sáng tạo”qua<br /> việc giảng viên vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.<br /> <br /> 2.2.5. Biện pháp 5. Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm qua rèn luyện<br /> nghiệp vụ sư phạm<br /> Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động quan trọng gắn với đào tạo nghề nghiệp và<br /> giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm. Vì đây là một trong những con đường quan<br /> trọng để hình thành giá trị nghề nghiệp, bồi dưỡng lòng yêu nghề cho sinh viên sư phạm. Rèn<br /> luyện nghiệp vụ sư phạm thường được tiến hành dưới dạng các hoạt động như: rèn luyện nghiệp vụ<br /> sư phạm thường xuyên, kiến tập, thực hành sư phạm. Thông qua rèn luyện nghiệp vụ sư phạm sinh<br /> viên được thực hành, trải nghiệm ban đầu về những nhiệm vụ, tình huống dạy học và giáo dục của<br /> người giáo viên ở nhà trường phổ thông tập làm chủ nhiệm lớp, tổ chức các hoạt động trải nghiệm<br /> sáng tạo, tổ chức quá trình dạy học, thể hiện những yêu cầu đối với người giáo viên về phẩm chất,<br /> 7<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản