BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thanh Duyên
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thanh Duyên
Chuyên ngành
: Giáo dục học (Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỢNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết
luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở
nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Trần Thị Thanh Duyên
3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên của gia đình.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Quý Thầy, Cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học
Sài gòn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng
dạy tôi trong suốt thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh.
TS. Nguyễn Thị Hồng Phượng, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cán bộ quản lý trường mầm non Hoa Hồng quận Bình Tân, nơi tôi công tác, đã luôn
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cán bộ quản lý, giáo viên mầm non của các trường mầm non Hương Sen, mầm non
Hoa Hồng và mầm non 19/5 quận Bình Tân đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi
khảo sát để hoàn thành luận văn.
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá
trình học tập, làm việc và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ đề cương
và hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thành tốt luận văn
này.
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Duyên
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... 3
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................................... 4
MỤC LỤC ............................................................................................................................... 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................... 8
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 9
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ .................................................... 14
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 14
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài ......................................................................... 14
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước ............................................................................. 14
1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài ............................................................................. 15
1.2.1. Khái niệm biện pháp GD ..................................................................................... 15
1.2.2. Khái niệm GD nhận thức ..................................................................................... 16
1.2.3. Khái niệm GD thái độ, thái độ sống .................................................................... 17
1.2.4. Khái niệm kỹ năng .............................................................................................. 19
1.2.5. Khái niệm năng lượng ......................................................................................... 20
1.2.6. Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm .................. 21
1.2.7. Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả ................. 21
1.3. Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
............................................................................................................................................ 22
1.3.1. Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ........................ 22
1.3.2. Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận
thức- kỹ năng và thái độ ................................................................................................ 23
1.3.3. Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ..................... 25
1.3.4. Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ..................... 27
5
1.3.5. Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
ở các nền GD tiên tiến ................................................................................................... 28
1.4. Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi .................................................. 30
1.5. Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi ....................... 32
1.6. Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi ................................ 33
1.7. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả ................................................................................................................... 36
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................................. 37
Chương 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ ................................................... 38
2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề ................................................................... 38
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề ....................................... 38
2.2.1. Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề .............................................................. 38
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề ....................................................... 39
2.3. Tổ chức nghiên cứu thực trạng vấn đề ..................................................................... 42
2.4. Đối tượng tham gia nghiên cứu thực trạng .............................................................. 42
2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề...................................................................... 42
2.5.1. Thực trạng nhận thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của
CBQL, GVMN và PH của trẻ MG 5-6 tuổi ................................................................... 42
2.5.2. Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi nhận thức
đúng trong việc sử dụng năng lượng ............................................................................. 43
2.5.3. Thực trạng GD thực hành để tập kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả cho trẻ MG 5-6 tuổi ................................................................................................ 49
2.5.4. Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN và PH về hình thức tổ chức GD tiết
kiệm năng lượng cho trẻ ở trường MN .......................................................................... 50
2.5.5. Những khó khăn trong việc vận dụng các biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả .......................................................................................................... 52
6
2.5.6. Thực trạng hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ
5-6 tuổi ở các trường MN .............................................................................................. 53
2.5.7. Thực trạng thực hiện nội dung GD này trong chương trình CSGD MN của Bộ
GD&ĐT ......................................................................................................................... 54
2.5.8. Thực trạng về công tác và kết quả bồi dưỡng GV nhằm GD trẻ MG sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở một số trường MN, quận Bình Tân........................... 56
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................................. 59
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ
MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ ............ 60
3.1. Đề xuất chương trình thực nghiệm GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả ................................................................................................................... 60
3.2. Tổ chức thực nghiệm ................................................................................................. 66
3.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm .............................................................................. 68
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................................. 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM .......................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 81
PHỤ LỤC .............................................................................................................................. 85
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : cán bộ quản lý
: chăm sóc CS
: đối chứng ĐC
: giáo dục GD
: giáo viên GV
: hoạt động HĐ
: mẫu giáo MG
: mầm non MN
: nhà xuất bản Nxb
: phụ huynh PH
: trung bình TB
: thực nghiệm TN
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, con người sử dụng nguồn năng lượng bị lãng phí, nguồn tài nguyên cạn
kiệt, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống và sự sinh tồn của con người. Nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng này là do sự
thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Vì vậy, ngày nay, việc GD bảo vệ môi trường
trong đó việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả được quan tâm ngay từ bậc học
MN. Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số
79/2006/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả với chủ trương đưa nội dung GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào hệ thống GD quốc dân [26].
Vấn đề đặt ra là ở độ tuổi nào thì trẻ em có thể nhận thức và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả? Nhà GD học A.X Macarencô (1888-1939) cho rằng, những gì trẻ em không
có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và việc GD lại rất khó khăn. Thực tế GD
trẻ em ở nhiều nước cho thấy 5-6 tuổi là giai đoạn hình thành tiền đề của nhân cách, trong
đó đặc biệt là GD trẻ nhận thức, GD cho trẻ có những hành vi và thái độ đúng đắn về thế
giới xung quanh.
Việc GD này cần thực hiện hiệu quả, bền vững, tránh mang tính hình thức hay mang
tính phong trào - mới triển khai thực hiện ồ ạt, sau giai đoạn phát động thì giảm sự quan tâm
và giảm tác động, mất dần tính hiệu quả. Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ GD mới này
không làm tăng nặng chương trình CSGD MN hiện hành, để giải quyết yêu cầu này, Bộ GD
& ĐT chọn quan điểm GD tích hợp, những chỉ đạo ban đầu cũng đã được đề ra bởi Phòng MN- Sở GD & ĐT TP.HCM - làm tiền đề pháp lý cho việc nghiên cứu thử nghiệm GD trẻ
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả [24].
Xuất phát từ những lý do trên vấn đề “Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả nhằm nâng cao tính khoa học và tính hiệu quả cho việc thực hiện nhiệm vụ GD này ở
các trường MN.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
- Nghiên cứu lý thuyết nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài: Lý thuyết được nghiên cứu
theo các vấn đề sau đây:
+ Các khái niệm công cụ của đề tài (biện pháp GD, GD nhận thức, GD thái độ, thái
độ sống, kỹ năng, năng lượng, tiết kiệm, hiệu quả);
+ Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả;
+ Các biện pháp và điều kiện GD nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả.
- Nghiên cứu thực trạng vấn đề: thực trạng về nội dung, phương thức và điều kiện GD trẻ
MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM; rút ra
nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương trình GD
thực nghiệm giải quyết vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực nghiệm giải quyết vấn đề: biên soạn chương trình GD thực nghiệm và
tổ chức thực nghiệm chương trình này, rút ra nhận xét - đánh giá kết quả GD thực nghiệm.
- Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị.
4. Giả thuyết
Có thể xác định được một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả nếu kết hợp 3 mặt tác động: GD nhận thức - GD thái độ sống tiết kiệm - GD
kỹ năng sử dụng đối tượng hiệu quả.
5. Khách thể - đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: quá trình GD kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
cho trẻ MG.
Đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD (nghĩa rộng) để trẻ MG 5-6 tuổi bước
đầu có nhận thức và có kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trong giới hạn sau đây:
- Tập trung vào đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả.
10
- Nghiên cứu trên trẻ MG 5- 6 tuổi và GVMN dạy lớp MG 5-6 tuổi ở 3 trường MN thuộc
địa bàn quận Bình Tân, TPHCM, trong năm học 2012-2013.
- Hiệu quả GD thực nghiệm chỉ trong quá trình tác động 2 tháng, với 40 trẻ MG 5-6 tuổi và
2 GVMN.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp lý luận về việc vận dụng các biện pháp GD năng
lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi, đề ra quan điểm nghiên cứu đề tài và biện luận.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Đối tượng quan sát:
a/ Thực trạng vận dụng các biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả trong trường MN và điều kiện thực tế cho phương thức GD này. (Kết quả
nghiên cứu được dùng để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu).
Việc quan sát được tiến hành ở 3 lớp MG 5- 6 tuổi, trên 6 GVMN ở 3 trường MN
quận Bình Tân (Trường MN Hoa Hồng: 1 lớp/2 giáo viên, trường MN 19/5: 1 lớp/2 giáo
viên, trường MN Hương Sen: 1 lớp/2 giáo viên).
Nội dung quan sát: cách tổ chức quá trình GD, biện pháp GD, HĐ thực hành của trẻ,
điều kiện thực hiện GD.
b/ Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho
trẻ có liên quan vấn đề nghiên cứu. (Kết quả nghiên cứu chủ yếu được khai thác để biên
soạn chương trình GD thực nghiệm).
7.2.2. Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi ý kiến
Đối tượng điều tra ý kiến: PH trẻ 5-6 tuổi, GVMN phụ trách lớp 5- 6 tuổi, CBQL
trường MN có hướng dẫn trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Nội dung điều tra: nhận thức và quan điểm của các đối tượng này về cách xác định
và tổ chức vận dụng những biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng hiệu quả; những thuận lợi
và khó khăn của GVMN và CBQL trường MN trong công tác GD này.
Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:
- Thực trạng chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD: những ưu điểm với hiệu
quả GD, những hạn chế và cơ hội khắc phục.
11
- Có hay không tính đồng bộ trong chiến lược GD hiện nay ở trường MN: GD nhận
thức - GD thái độ - GD kỹ năng.
- Những điều kiện thuận lợi cho khả năng tác động GD đồng bộ này trong thực tế GD
MN.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn (khi cần làm rõ những vấn đề đã điều tra)
Đối tượng phỏng vấn: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi, PH của trẻ MG 5-6 tuổi và chuyên
gia trong lĩnh vực nghiên cứu.
Nội dung phỏng vấn: những vấn đề chưa rõ từ kết quả thu thập qua phiếu hỏi ý kiến.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Đối tượng chính tham gia chương trình GD thực nghiệm: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi
và trẻ MG 5-6 tuổi.
Các nhiệm vụ: việc biên soạn chương trình GD thực nghiệm dựa trên cơ sở lý luận và
cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, việc tổ chức và triển khai chương trình GD thực
nghiệm; việc kiểm nghiệm giá trị khoa học và hiệu quả của những biện pháp GD đã đề ra.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0 để xử lý số liệu. Các thông
số thống kê sử dụng như sau: tần suất, kiểm nghiệm t, điểm trung bình.
8. Đóng góp của đề tài
- Giá trị lý luận:
a/ Đúc kết kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả. Tổng luận những vấn đề chung của việc GD này.
b/ Thử nghiệm và kiểm nghiệm hiệu quả của chiến lược GD đồng bộ cho trẻ trong độ
tuổi từ 5- 6 tuổi: GD nhận thức - GD thái độ sống tiết kiệm và HĐ hiệu quả - GD kỹ năng
sử dụng đối tượng.
c/ Đề xuất một số biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
và xác định những điều kiện cần thiết.
d/ Đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả.
- Giá trị thực tiễn:
a/ Phác họa thực trạng vấn đề GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM, rút ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên
nhân hạn chế, cũng như chỉ ra những khả năng hoàn thiện nhiệm vụ GD này.
12
b/ Đề ra những điều kiện tổ chức vận dụng biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả.
9. Cấu trúc đề tài
Mở đầu
Nội dung nghiên cứu
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả.
Chương 2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Chương 3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
13
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6
TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Đáng chú ý là từ thế kỷ 17, J.A.Cômenxki (người Tiệp Khắc) đã xây dựng chương
trình GDMN thời ấy với quan điểm đưa kiến thức rộng đến với trẻ - cho trẻ biết thế nào là
lửa, không khí, nước, mưa, tuyết…[8].
Ở Hàn Quốc và Úc, trẻ em MN được học bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung sử
dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Phương pháp GD là trẻ thực hiện sống tiết kiệm trong
tiêu dùng, tập làm đồ dùng đồ chơi với nguyên vật liệu đã qua sử dụng nhằm hạn chế rác
thải và tiết kiệm- sử dụng lại.
Nga đưa nội dung GD trẻ MG về việc con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Từ
đó, dạy cho trẻ ý thức tiết kiệm.
Mỹ là nước tiêu thụ năng lượng đứng thứ hai (sau Trung Quốc) trên thế giới, với
chương trình Năng lượng và bạn (Energy and you) là một chương trình giáo dục năng lượng
phù hợp với các tiêu chuẩn nội dung khoa học California. Học sinh có cơ hội để kết nối
khoa học lớp học của họ học tập để tiết kiệm năng lượng và bảo tồn. Những đứa trẻ và gia
đình của họ sẽ tìm hiểu những lợi ích của việc bảo tồn năng lượng, và làm thế nào hành
động của họ có thể tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tiền và bảo vệ hành tinh [52].
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Nội dung GD bảo vệ môi trường cho trẻ MG 5 tuổi, Trung tâm Nghiên cứu GDMN,
năm 2002 đã đưa ra nội dung các HĐ thực tiễn của trẻ góp phần bảo vệ môi trường: tiết kiệm trong sinh hoạt (tiết kiệm điện, nước, đồ dùng đồ chơi) [9]. Chương trình GDMN thí
điểm 2005-2006 GD trẻ quan tâm đến môi trường, tiết kiệm điện, nước.
Để giải quyết nhiệm vụ triển khai việc GD trẻ MN bảo vệ môi trường, nhóm tác giả
Hoàng Thị Thu Hương – Trần Thị Thu Hòa – Trần Thị Thanh đã gợi ý một số phương pháp,
hình thức để tổ chức GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm theo quan điểm tích hợp chủ đề,
lồng ghép với nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ [13].
Tác giả Hoàng Thị Phương đưa biện pháp tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm nước:
chỉ sử dụng lượng nước cần cho ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân; không nghịch nước,
14
không để nước chảy liên tục khi đánh răng, rửa mặt, rửa tay, rửa cốc chén. Sử dụng các
nguồn năng lượng sạch như: năng lượng mặt trời, gió, thủy điện...[19].
Tác giả Kim Phụng, đề cập đến việc GD thiếu niên tiết kiệm năng lượng qua tiết kiệm
giấy: chủ yếu tổ chức cho trẻ sử dụng lại giấy còn trống, người lớn trò chuyện, làm gương
cho các em làm theo [20].
Tác giả Hoàng Đức Nhuận cùng cộng sự đã đề cập đến việc GD môi trường, trong đó
có nội dung tiết kiệm nước, nguồn tài nguyên, hình thành hành vi bảo vệ nguồn nước, biết
phản ứng cần thiết đối với những hành vi phá hoại lãng phí nguồn nước. Theo nhóm tác giả
trên, thì nội dung này thực hiện một cách tản mạn, thiếu tập trung, không có sự kiểm tra,
đánh giá nên hiệu quả GD thấp. Do đó cần trang bị cho đội ngũ GV hệ thống kiến thức, biện
pháp cần thiết để thực hiện nội dung này. Trong đó, chủ yếu cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên,
người lớn cần theo dõi uốn nắn trẻ trong các HĐ, trong chế độ sinh hoạt hằng ngày [29].
Hai tác giả Lê Xuân Hồng – Nguyễn Thanh Thủy đã đưa ra hoạt động thử nghiệm cho
trẻ thấy được nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước, suy đoán về hậu quả xảy ra, từ đó xây
dựng hành vi thích hợp: phải biết tiết kiệm nước sạch, không đổ nước bẩn thẳng vào đất.
Đồng thời thông qua HĐ tạo hình, làm ra sản phẩm đồ chơi từ nguyên vật liệu đã qua sử
dụng GD trẻ biết tiết kiệm đồ dùng, đồ chơi, giảm thải ra môi trường [10].
Tác giả Trần Lan Hương nhận định cần phải GD ý thức tiết kiệm lâu bền, tiết kiệm
điện, tiết kiệm nước, giảm tiêu thụ, tái sử dụng, tái chế. Tiết kiệm và giảm phế thải là lối
sống hợp lý, văn minh. Tác giả nhấn mạnh tấm gương của người lớn có tác dụng GD với trẻ
rất lớn [12].
Nhìn chung, biện pháp chủ yếu để GD trẻ là tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm ngay
trong sinh hoạt hàng ngày ở trường hay ở nhà, người lớn làm gương; hướng tiếp cận GD là
lồng ghép vào chương trình CSGD MN hiện hành.
1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Khái niệm biện pháp GD
Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách làm, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể [34].
Theo từ điển của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thì biện pháp là cách
làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể [28].
Từ những khái niệm trên có thể hiểu biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể, hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ cụ thể.
15
Theo từ điển Tiếng Việt, hiểu theo nghĩa danh từ thì GD là nói đến quá trình HĐ có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức,
những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết
trong đời sống.
GD là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi
nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực.
Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý nghĩa.
GD là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh
hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức,
nhân cách.
Theo nghĩa rộng GD là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả
dạy học và các tác động GD khác đến con người. Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là
quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động,
GD lối sống, hành vi...) [31].
Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nằm mục đích thay
đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ. Biện pháp GD MN được hiểu là cách làm cụ thể
trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt
ra ở lứa tuổi MN. Phương pháp mang tính khái quát chung còn biện pháp mang tính cụ thể.
Biện pháp GD có mối quan hệ mật thiết với phương pháp GD và cả hai đều được qui định
bằng HĐ hợp tác cùng nhau giữa nhà GD và trẻ nhằm đạt được mục tiêu GD đã đặt ra ở lứa
tuổi MN [8].
Ở lứa tuổi MN, các biện pháp GD đặc biệt quan trọng, nó làm cho quá trình GD hấp
dẫn trẻ em và phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ. Do đó nâng cao hiệu quả của quá trình GD và làm cho HĐ học trở nên nhẹ nhàng sinh động [5].
1.2.2. Khái niệm GD nhận thức
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái
tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”.
Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận
thức là thực tiễn xã hội” [21, tr.9].
16
“GD nhận thức” là khái niệm nghiên cứu của GD học, theo nghĩa rộng được hiểu là
cách thức làm cho người học biết được cái mới thông qua con đường học với giáo viên, học
với bạn bè, học ở cha mẹ, ở truyền thông.
“HĐ nhận thức sơ đẳng góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu HĐ nhận
thức ở trẻ” [4, tr.71].
Dưới sự tổ chức hướng dẫn của nhà GD, trẻ nắm được tri thức có hệ thống, trẻ có
được một số biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh. Ngoài ra, trẻ hứng thú quan tâm, tò
mò về những hiện tượng, sự vật khác nhau ở xung quanh và dần dần có ý thức gần gũi với
môi trường.
Với hệ thống kiến thức, dù sơ đẳng, trẻ được hình thành khả năng định hướng trong
môi trường xung quanh; có khả năng nhận xét đánh giá khách quan các sự kiện, hiện tượng;
hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hợp lý hơn trước [4].
1.2.3. Khái niệm GD thái độ, thái độ sống
Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của
cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng
thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay
một sự việc nào đó”.
Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của
một cá nhân”.
Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế - thái độ
… có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần như: nhận thức, xúc cảm, hành vi”.
Nhà tâm lý học người Mỹ là H.C.Triandis đã đưa một định nghĩa khác về thái độ.
Ông cho rằng: “Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm. Nó gây
tác động đến hành vi nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định. Thái độ của con
người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự
của họ đối với đối tượng đó".
Triandis cho rằng thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Thái độ
có tính ổn định và sẽ thay đổi theo tình huống. R. Marten đã đưa ra định nghĩa: “Thái độ là
xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ
(nhận thức) xúc cảm và hành vi. Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi
vì thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong của nó” [53].
17
Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ. Theo quan điểm của đề
tài, thì càng có được kinh nghiệm sống đúng đắn thì con người càng có khả năng thống nhất
giữa nhận thức, xúc cảm và hành vi. Nếu diễn đạt đơn giản hơn thì thì thái độ của con người
bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự của họ
đối với đối tượng đó.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, GD thái độ cho trẻ là quá trình tác động sư phạm có
mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển cho trẻ những xúc cảm, tình cảm lành
mạnh, để hình thành hành vi ứng xử đúng mực với mọi người xung quanh, với thiên nhiên
và bản thân mình. Trên cơ sở đó, hình thành cho trẻ khả năng thích ứng xã hội, thiết lập mối
quan hệ và giao tiếp với người khác, đồng thời phát triển tính tự lực cho trẻ [8]. Mọi hành
động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm. Trẻ thích đối tượng nào thì mới tìm hiểu đối
tượng đó, hành động với đối tượng đó. Tình cảm điều khiển hành vi của trẻ, hành vi của trẻ
tốt hay xấu không phải do nhận thức đầy đủ hay không mà do tình cảm yêu hay ghét [23].
Đối với nhận thức và HĐ, cảm xúc tình cảm có vai trò như một động lực cho quá
trình tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh. Có thể xem xúc cảm, tình cảm là động cơ bền
bỉ nhất ảnh hưởng và chi phối toàn bộ HĐ của con người.
Do đó, trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục
đích yêu cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn,
gây được tình cảm tích cực. Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng để trẻ tích
cực HĐ [23].
Ở lứa tuổi MG, trẻ em rất tích cực lĩnh hội những thái độ, chuẩn đạo đức và những
qui tắc hành vi. Trẻ rất quan tâm đến việc đánh giá về mặt đạo đức những hành động của
con người và luôn hỏi người lớn xem cái gì là tốt, cái gì là xấu, hành động nào của những
người xung quanh là đúng, còn hành động nào là sai.
Trong khi nắm những tiêu chuẩn đạo đức, trẻ bắt đầu không những hiểu ý nghĩa đạo
đức của hành động bản thân và của người khác, mà còn bằng cách nào đó thể nghiệm những
tiêu chuẩn đạo đức đó, có những tình cảm đạo đức nhất định liên quan đến những tiêu chuẩn
ấy. Khi trẻ được tập luyện có hệ thống để quen hoàn thành những nhiệm vụ hết sức đơn giản
đối với người lớn, với bạn, với trẻ nhỏ tuổi, nếu công tác GD tiến hành đúng đắn thì ở trẻ sẽ
xuất hiện những tình cảm của nghĩa vụ. Khi đó, trẻ sẽ cảm thấy vui thích nếu hoàn thành tốt
đẹp những nhiệm vụ nhỏ bé của mình, sẽ tức giận với những bạn không hoàn thành nhiệm
vụ, sẽ cảm thấy bối rối khi chính bản thân mình làm trái với những yêu cầu đã định.
18
Do vậy, GD thái độ giữ vai trò quyết định trong việc phát triển những phẩm chất ý
chí của cá nhân đứa trẻ trong việc hình thành tính cách của nó [5].
Trẻ muốn được khẳng định mình, muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn
nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh. Đặc biệt những động cơ đạo đức, thể hiện thái
độ của trẻ với những người khác có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các
động cơ hành vi, gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực và những qui tắc đạo
đức trong xã hội [14].
1.2.4. Khái niệm kỹ năng
Theo T.A.Ilina, “kỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực hiện được
trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động thực hành này lại
giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [15, tr.5].
V.A. Crutetxki, nhà tâm lý học Xô Viết cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện một hành
động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức hành
động đúng. A.G. Côvaliôv quan niệm: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp
với mục đích và điều kiện hành động.
Hoàng Phê trong từ điển Tiếng việt định nghĩa “kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [30, tr.308].
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành
động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thục tiễn cho phép.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, kỹ năng là khả năng thực hiện, kỹ năng chỉ biểu hiện
thông qua một nội dung. Kỹ năng được hình thành dần dần trong suốt cả cuộc đời. Kỹ năng
vừa mang tính nhận thức vừa mang tính hoạt động chân tay.
Như vậy, theo quan điểm của đề tài, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một
hành động nào đó bằng cách vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có để hành động
phù hợp với thực tiễn.
Sự hình thành kỹ năng chia thành hai bước: một là nắm vững các tri thức về hành
động; hai là thực hiện được hành động theo các tri thức đó. Để có thể thực hiện được hành
động có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập dượt, phải có sự quan sát
mẫu, làm thử. Muốn kỹ năng có sự ổn định và sự mềm dẻo để có thể vận dụng vào những
điều kiện khác tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng, càng kỹ càng. Khi kỹ năng ổn định có
thể vận dụng được vào nhiều tình huống khác nhau. Quá trình hình thành kỹ năng đòi hỏi
19
thực hiện một số lớn hành động thực tiễn. Hình thành các kỹ năng một cách có ý thức, nghĩa
là trẻ hiểu tại sao mình phải làm như vậy và làm như thế nào [15].
1.2.5. Khái niệm năng lượng
Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả thì “Năng lượng bao gồm nhiên
liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài
nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo” [22, tr.1].
Năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ
cấp: than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp là nhiệt năng, điện năng được sinh ra
thông qua quá trình chuyển hoá năng lượng sơ cấp [6].
Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất trên trái đất có nguồn gốc chủ yếu là mặt
trời và năng lượng tàn dư trong lòng đất. Năng lượng mặt trời tồn tại ở các dạng chính: bức
xạ mặt trời, năng lượng sinh học dưới dạng sinh khối, năng lượng chuyển động của thủy
quyển, khí quyển (gió, bão, sóng, các dòng chảy sông suối, các dòng hải lưu).
Năng lượng tàn dư trong lòng trái đất có các dạng chính: các nguồn nước nóng, năng lượng
núi lửa, năng lượng của các khối đất đá nóng trong lòng thạch quyển.
Hiện nay, năng lượng tiêu thụ phổ biến trong các gia đình thường tập trung vào các
loại năng lượng: điện, xăng, dầu, gas, củi, than. Các năng lượng này thuộc dạng không tái
tạo. Nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo đang có nguy cơ cạn kiệt. Trong khi đó,
nhu cầu sử dụng năng lượng của con người gia tăng nhanh chóng cùng với sự phát triển
kinh tế xã hội. Chính đây là tính bức thiết của việc GD con người, từ nhỏ, sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Những con số thống kê đáng suy nghĩ về lượng sử dụng năng lượng của con người:
- Thời nguyên thủy: khoảng 2000 kcal/người/ngày dưới dạng thức ăn nguyên khai.
- Sau khi phát hiện ra và sử dụng lửa: khoảng 10.000 kcal/người/ngày.
- Sang thế kỷ XX: gần 70.000 kcal/người/ngày.
- Hiện nay: khoảng 200.000 kcal/người/ngày.
Theo tính toán, mức gia tăng tiêu thụ năng lượng thường có giá trị gấp hai lần mức
gia tăng thu nhập GDP. Do đó, tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để chúng ta bảo tồn
nguồn tài nguyên thiên nhiên [2, tr.6].
Để GD trẻ, nhà GD cần giới hạn biểu tượng về năng lượng trong phạm vi điện, gas, sức
gió, sức nước, ánh sáng mặt trời- là những dạng năng lượng cụ thể, “thấy được” và trẻ có sử
dụng đến trong sinh hoạt.
20
1.2.6. Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm
Tiết kiệm, hiểu theo nghĩa thông thường là hành vi giảm thiểu các lãng phí.
Tiết kiệm là khái niệm kinh tế, có liên quan mật thiết tới việc đầu tư. Tiết kiệm cho phép
tích lũy (dự trữ)…[42]. Tiết kiệm trong kinh tế học là phần thu nhập có thể sử dụng không
được chi vào tiêu dùng. Trong thuật ngữ tài chính cá nhân tiết kiệm đề cập đến việc dự trữ
tiền cho tương lai - loại tiền được gửi trong ngân hàng. Tiết kiệm khác với sự đầu tư, nơi mà
có những rủi ro [44].
Tiết kiệm năng lượng có nghĩa là giảm lượng năng lượng sử dụng trong khi đạt được
một kết quả tương tự sử dụng cuối cùng. Sử dụng năng lượng ít hơn có rất nhiều lợi ích -
bạn có thể tiết kiệm tiền và giúp cho môi trường. Tạo ra năng lượng đòi hỏi nguồn tài
nguyên thiên nhiên quý giá, ví dụ như than, dầu hoặc khí . Vì vậy, sử dụng ít năng lượng
hơn giúp chúng ta bảo tồn các nguồn tài nguyên [54].
Tiết kiệm năng lượng đề cập đến việc giảm năng lượng thông qua sử dụng ít hơn của
một dịch vụ năng lượng [55].
Tiết kiệm năng lượng là một thách thức đòi hỏi các chương trình chính sách, phát triển
công nghệ và thay đổi hành vi.
Như vậy, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm (Energy conservation) là việc tiết kiệm
năng lượng, giảm tiêu thụ năng lượng không tái tạo [44], là việc sử dụng năng lượng một
cách đúng lúc, đúng chỗ - “không dùng nữa thì tắt ngay” [26].
1.2.7. Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả
“Hiệu quả”, được mô tả trong nhiều từ điển, được hiểu như mức độ mà thời gian, công
sức hay chi phí được sử dụng tốt cho công việc hoặc cho mục đích, là nỗ lực để tạo ra một
kết quả cụ thể có hiệu quả với một số lượng tối thiểu, chi phí, hay sức lực không cần thiết.
Hiệu quả là một khái niệm không định lượng, tương đối mơ hồ, chủ yếu là liên quan
đến việc đạt được mục tiêu.
Hiệu quả là hoàn thành hoặc khả năng để thực hiện một công việc với một chi phí tối
thiểu thời gian và công sức [45].
Hiệu quả là khả năng để làm một cái gì đó hoặc tạo ra một cái gì đó mà không lãng phí
vật liệu, thời gian, năng lượng mà chất lượng mức độ được hiệu quả [35].
Sử dụng năng lượng hiệu quả có nghĩa là sử dụng ít năng lượng hơn để cung cấp cùng
một mức độ công việc, dịch vụ. Nó là một phương pháp để giảm phát thải khí nhà kính của
con người [46].
21
Khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” rộng hơn so với khái niệm “sử dụng năng
lượng hiệu quả”. Trong khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” bao gồm cả những nỗ lực
hoạt động để giảm tiêu thụ năng lượng thông qua việc thay đổi hành vi, ngoài việc sử dụng
năng lượng hiệu quả hơn.
Việc sử dụng năng lượng hiệu quả (Energy efficiency) là việc sử dụng một lượng năng
lượng ít nhất mà vẫn thỏa mãn nhu cầu sử dụng.
“Sử dụng năng lượng hiệu quả là mục tiêu của những nỗ lực nhằm làm giảm lượng
năng lượng cần thiết trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ” [44].
Như vậy, khi sử dụng năng lượng có hiệu quả là đã tiết kiệm. Nhưng, khi sử dụng tiết
kiệm năng lượng thì chưa hẳn đã đạt tính hiệu quả sử dụng nó [43].
“Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ
thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn
bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống” [22, tr.1].
“Như vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng lượng một cách
hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí năng lượng cho hoạt động của
các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt “[6, tr.1].
1.3. Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
1.3.1. Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang mang tính cấp bách toàn cầu. Trẻ em là những thế
hệ tương lai, cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiết kiệm năng lượng
làm nền tảng cho ý thức, hành động vì môi trường sống của chính mình, gia đình và cộng
động.
Tuổi MN là giai đoạn đầu của quá trình hình thành nhân cách con người, đặt nền
móng cho việc hình thành thái độ đúng đắn của trẻ đối với thế giới xung quanh và giúp trẻ
định hướng trong thế giới đó. Đây cũng là giai đoạn rất nhạy cảm để hình thành ý thức, thái
độ và hành vi. Những kinh nghiệm trong việc sử dụng năng lượng ở giai đoạn này có ý
nghĩa lớn đối với sự phát triển ý thức bảo vệ môi trường trong những gia đoạn tiếp theo
[19].
Theo GD học lứa tuổi, ngay ở giai đoạn lứa tuổi MG, nếu trẻ được lĩnh hội những
chuẩn hành vi đúng thì hành vi và thái độ của trẻ sẽ dễ trở thành bền vững, nếu lĩnh hội sai
cũng dễ uốn nắn hơn các giai đoạn về sau. Vì vậy, đây là giai đoạn thích hợp để GD cho trẻ
22
cách sử dụng năng lượng nhằm bảo vệ môi trường. Hơn thế, việc GD tiết kiệm năng lượng
góp phần cho trẻ phát triển các mặt về nhận thức, yêu lao động, tình cảm đạo đức, kỹ năng
xã hội.
Về nhận thức: qua việc lĩnh hội tri thức về năng lượng, tài nguyên và mối quan hệ
giữa chúng với đời sống con người nhận thức của trẻ sẽ hoàn thiện, tích lũy kinh nghiệm,
hình thành các khái niệm đơn giản. Ngoài ra, trẻ còn có thể lĩnh hội những tri thức khoa học
sơ đẳng “làm thiết bị chạy như thế nào?”, “điện làm quạt chuyển động, quạt quay làm không
khí chuyển động và chúng ta mát”…Việc lĩnh hội tri thức có liên quan trực tiếp đến sự phát
triển ở trẻ khả năng nhận thức (tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng), tập trung chú ý, ngôn
ngữ…
GD tiết kiệm năng lượng góp phần hình thành cho trẻ tình yêu lao động. Khi được
hành động với các đồ dùng thiết bị, vật thật như người lớn thì trẻ sẽ thích thú “vì được xem
là người lớn”, “được làm như người lớn”. Từ đó, trẻ thích tự mình lao động tự phục vụ,
thậm chí “bảo lại” cho người khác để họ làm như mình.
Qua việc sử dụng tiết kiệm năng lượng rèn luyện cho trẻ kỹ năng xã hội. Từ nhận
thức, thái độ tích cực, đúng đắn trong việc sử dụng năng lượng, dẫn đến hành vi sử dụng tiết
kiệm, dần dần trở thành thói quen trong cuộc sống cho trẻ. Lúc này các HĐ của trẻ hằng
ngày đều được tính toán, sắp xếp để tiết kiệm, hiệu quả - không chỉ riêng trong các HĐ sử
dụng năng lượng.
Như vậy, việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả có ý nghĩa lớn lao trong
việc GD bảo vệ môi trường và hình thành nhân cách.
1.3.2. Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận
thức- kỹ năng và thái độ
• Nhận thức quá trình biến đổi hoặc quá trình phát triển của đối tượng:
Các thí nghiệm của N.N. Poddiakov cho phép ông khẳng định rằng trẻ 5- 6 tuổi có
thể quan sát, tự tri giác từng trạng thái của đối tượng trong các thời điểm khác nhau, liên kết
chúng lại trong não và có hình dung (có biểu tượng) về một chuỗi các bước biến đổi hoặc
phát triển của đối tượng. “Sự liên kết các trạng thái lại thành chuỗi” này hầu như rất hiếm
tìm thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi.
Từ đây, có thể khẳng định rằng nếu được GD nhận thức đúng đắn để có hệ thống
kiến thức về sự vật, hiện tượng nào đó thì trẻ 5- 6 tuổi có thể tìm hiểu và suy lý về nguyên
23
nhân - diễn tiến trước mắt - hậu quả lâu sau đó. Cơ sở lý luận này vô cùng có ý nghĩa khoa
học đối với việc nghiên cứu đề tài này .
• Trẻ 5- 6 tuổi có hay không có hệ thống kiến thức?
Trước hết, có thể thấy rằng nếu trẻ 5- 6 tuổi có năng lực liên kết các biểu tượng cụ
thể trong giai đoạn để có được biểu tượng về một chuỗi biến đổi, chuỗi các bước phát triển
của đối tượng và hình dung được cả quá trình biến đổi hay phát triển này trong đầu thì cũng
có nghĩa là các em có thể hệ thống hóa được kiến thức của mình. Kết quả thu được rất đáng
chú ý sau đây trong thí nghiệm của N.N. Poddiakov: trẻ 5- 6 tuổi, nhờ vào năng lực hệ
thống hóa kiến thức mà có thể lập được các mối liên hệ giữa những bước đã hình thành từ
trước (thậm chí từ rất lâu trước kia mà trẻ không thể tri giác trực tiếp) với cái đang diễn ra
bây giờ và cái sẽ xảy đến trong tương lai. Có nghĩa là, trẻ em cần được khảo sát để có
những biểu tượng (hình dung) cụ thể về thế giới xung quanh, để chúng làm tiền đề cho năng
lực hệ thống hóa kiến thức ở trẻ.
Mặt khác, tâm lý học trẻ em (từ 0- 6 tuổi) cho thấy trẻ em 5- 6 tuổi cũng có thể đi
theo lộ trình khác để có thể hệ thống hóa kiến thức của mình: nhận thức những đặc điểm bề
ngoài của sự vật, hiện tượng; phát hiện ra những mối liên hệ bản chất - ẩn bên trong giữa
các sự vật, hiện tượng đó; nhận thức về tính liên tục và trình tự của sự vật, hiện tượng.
• Giải quyết vấn đề bằng hình tượng trong đầu và bằng suy lý:
Rất nhiều nhà tâm lý học (J. Piaget, A.V. Zaporodgets, A.A. Liublinxkaia…) đã
chứng minh rằng sự xuất hiện tư duy trực quan hình ảnh là bước ngoặt trong sự phát triển
nhận thức của trẻ.
Theo N.N. Poddiakov [40], “Không phải chỉ cần giúp trẻ lĩnh hội kiến thức và kỹ
năng đủ là tự trẻ sẽ có bước chuyển từ tư duy trực quan hành động (thường dưới dạng thử -
sai trên đối tượng cụ thể) sang năng lực thao tác bên trong não bằng hình ảnh (tư duy trực
quan hình ảnh). Trẻ cần nhiều hơn thế, chí ít là được hướng dẫn HĐ với đồ vật, đặc biệt với
công cụ, được nói và nghe hiểu, được bắt chước…”. Ông nhấn mạnh sự cần thiết thực hiện
3 bước luyện tập dạng nhận thức bằng hình tượng trong đầu sau đây theo ý tưởng của G.I.
Minskaia, A.V. Zaporodgets (đã thực nghiệm với trẻ em từ năm 1954):
Bước 1. Trẻ được đưa vào tình huống có vấn đề và có vật cụ thể trước mắt để hành
động với vật đó.
Bước 2. Trẻ được quan sát tranh ảnh và được đưa vào tình huống có vấn đề, tự giải
quyết (thao tác bằng hình ảnh trong đầu, không có vật cụ thể để thao tác).
24
Bước 3. Trẻ chỉ nghe lời mô tả của người lớn về tình huống có vấn đề (không có vật
cụ thể cũng không có tranh ảnh…), tự giải quyết (thao tác bằng sự suy lý trong đầu, là tiền
đề của tư duy logic - từ ngữ).
Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng trẻ cần được hướng dẫn để có thể hoạt
động định hướng tìm hiểu sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó dần dần trẻ tự phát hiện ra những
mối quan hệ mang tính bản chất ẩn chứa trong tình huống có vấn
đề ấy.
E.X. Komarova (1973) [38] làm thí nghiệm để chứng minh trẻ sau 4 tuổi hoàn thành
được các bài tập có sử dụng mô hình hóa, sử dụng hình vẽ kiểu sơ đồ với những ký hiệu.
Kết quả là có tới 81% số trẻ sau 5-6 tuổi tự giải quyết vấn đề bằng tư duy trực quan sơ đồ
(là bước chuyển tiếp từ tư duy trực quan hình ảnh sang tư duy logic - từ ngữ) ở kiểu mô
hình phức tạp và cũng đáng kể là có 43% số trẻ này giải quyết được bài tập ở kiểu mô hình
rất phức tạp.
Như vậy, cần đưa ra nhiệm vụ GD trẻ định hướng và phát hiện các mối quan hệ logic
giữa các sự vật, hiện tượng; thiết kế bài dạy trẻ (hoặc HĐ) sao cho trẻ được khảo sát vật thật
(thiết bị chẳng hạn) trong sự an toàn, chuyển sang sử dụng tranh ảnh/phim ảnh rồi chuyển
thành nghe lời mô tả tình huống, sự kiện và tự giải quyết.
Lý thuyết trên đây về sự phát triển tư duy và năng lực hệ thống hóa kiến thức ở trẻ 5-
6 tuổi là cơ sở lý luận quan trọng cho nghiên cứu này.
1.3.3. Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Xuất phát từ quan điểm hiện đại về chống ô nhiễm không khí, làm sạch môi trường,
con người thường có những động cơ khác nhau để cải thiện việc sử dụng năng lượng hiệu
quả [37], [39], [47]:
- Nỗ lực làm giảm lượng năng lượng cần thiết dẫn đến tiết kiệm chi phí tài chính cho
người tiêu dùng...
- Giảm sử dụng năng lượng cũng được xem là một giải pháp cho vấn đề giảm chất,
khí thải ra ngoài không khí. Việc này giúp kiểm soát lượng khí thải của các loại khí gây hiệu
ứng nhà kính trên toàn cầu.
- Hiệu quả sử dụng năng lượng cũng đạt được bằng cách áp dụng một công nghệ hiệu
quả hơn, điển hình như việc chọn đèn compact sẽ tiết kiệm được đến hai phần ba năng
lượng so với của đèn sợi đốt, sử dụng công tắc điện “có thể làm mờ” hoặc sử dụng thiết bị
cảm ứng với nhiệt độ thân thể (tự động tắt nguồn điện khi người đã đi ra khỏi phòng); việc
25
sử dụng lốp xe cao cấp hơn để giảm ma sát trên mặt đường; việc thay thế một bộ lọc không
khí bị tắc…
- Làm chậm tốc độ cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng trong nước.
- Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên.
- Bật/tắt để chỉ sử dụng lượng ánh sáng cần thiết.
Từ những thông tin tuyên truyền sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và có hiệu
quả nêu trên, rút ra được những nhiệm vụ GD căn bản có thể triển khai cho trẻ 5- 6 tuổi:
a) Hướng dẫn cách sử dụng thông minh:
Trẻ em 5- 6 tuổi cần được tập:
+ Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên: đi ra ngoài để làm việc dưới ánh sáng tự
nhiên; mở cửa sổ, cửa cái, kéo dẹp màn cửa... thay vì chỉ bật sáng đèn trong phòng;
cắt cành hay tán cây che mất ánh sáng trên các hành lang...
+ Tắt khi không cần dùng (chỉ sử dụng lượng ánh sáng, nước, chất đốt...đủ
cần thiết).
+ Nhắc người lớn đem xe “đi bảo trì” để tiết kiệm xăng (đem xe đi kiểm tra).
b) Giải thích về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:
Người lớn - đặc biệt cần phối hợp giữa GV và PH giải thích cho trẻ:
+ “Tiết kiệm điện, nước là tiết kiệm tiền cho cha mẹ”.
+ “Sẽ giảm được khói, khí đen ở xung quanh ta nếu giảm đốt điện hoặc giảm đốt xăng,
dầu khi đi xe”.
+ “Giảm đốt xăng, dầu, giảm thắp sáng bóng đèn điện, giảm đốt lò gas...thì môi trường
sống của chúng ta sẽ mát mẻ hơn”.
+ Giải thích ý nghĩa tiết kiệm điện khi sử dụng thiết bị hiện đại: cùng xem hoặc trò
chuyện với trẻ về ý nghĩa tiết kiệm điện của máy lạnh, quạt hơi nước...có cảm ứng
với nhiệt độ cơ thể người (ngày nay, trẻ có thể bắt gặp các thiết bị này trong các
chương trình quảng cáo trên tivi).
+ Biết một số dạng năng lượng thường được sử dụng: điện, xăng, dầu, rơm, củi, gas,
than, …thông qua một số đồ dùng sử dụng năng lượng.
+ Hiểu được lợi ích của năng lượng để biết tại sao phải sử dụng tiết kiệm
năng lượng.
+ Hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm. Thực hiện một số biện pháp sử
dụng năng lượng hiệu quả.
26
+ Hình thành ý thức tiết kiệm năng lượng: biết thể hiện thái độ khi người xung quanh
sử dụng năng lượng không tiết kiệm [1].
c) Tổ chức đời sống sinh hoạt, việc dạy học cho trẻ sao cho trẻ thực hành sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả.
1.3.4. Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
1.3.4.1. Hiểu biết về năng lượng
Năng lượng bao gồm: điện, nhiên liệu (xăng, dầu, rơm, rạ, gas, củi, than), năng lượng
mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước.
Điện là một dạng của năng lượng. Điện được tạo ra từ các nhà máy điện như nhà máy
thủy điện, nhà máy nhiệt điện…
Làm thế nào điện đến được các nhà? (Từ nhà máy điện, điện được dẫn theo đường
điện cao thế đến các trạm điện, rồi theo các dây điện, điện được dẫn đến
các nhà).
1.3.4.2. Lợi ích của năng lượng
Lợi ích của điện:
Giúp cho bóng đèn sáng – cung cấp ánh sáng.
Giúp cho quạt, máy điều hòa hoạt động – làm mát hoặc làm ấm nhà ở.
Giúp cho tivi, đài hoạt động để bé và mọi người có thể nghe đài, xem tivi.
Giúp cho máy vi tính hoạt động để cha mẹ, cô giáo làm việc, bé chơi trò chơi trên
máy vi tính.
Giúp cho tủ lạnh hoạt động bảo quản thức ăn không bị ôi thiu.
Điện dùng để nấu chín cơm (nồi cơm điện), nấu chín thức ăn (bếp điện), đun nước sôi
(ấm điện), …
Lợi ích của nhiên liệu:
Xăng dầu giúp cho các phương tiện giao thông như xe máy, xe ôtô, tàu hỏa,… di
chuyển
Xăng dầu giúp cho thuyền, tàu thủy hoạt động trên sông để vận chuyển người và hàng
hóa, giúp ngư dân ra biển đánh bắt tôm cá.
Rơm, rạ, củi, than, gas, dầu hỏa có thể làm chất đốt để nấu chín thức ăn.
Lợi ích của năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước).
Đây là những dạng năng lượng sạch không làm hại đến môi trường như những nguồn năng
lượng khác (than, dầu hỏa, khí gas tự nhiên). Nguồn năng lượng sạch có rất nhiều, không
bao giờ cạn kiệt.
27
Năng lượng mặt trời: mặt trời là nguồn năng lượng, chúng ta có thể lắp đặt những tấm
thu nạp ánh nắng mặt trời để tạo ra điện sử dụng trong nhà, làm khô quần áo thay cho việc
sấy khô hoặc là quần áo, nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm cho cây cối phát
triển, làm cho ô tô chuyển động bằng cách lắp đặt tấm pin mặt trời trên nóc ôtô để tạo ra
điện,
Năng lượng gió: những chiếc tua bin khổng lồ có thể sử dụng năng lượng gió tạo ra
điện. Thuyền buồm chạy được trên sông trên biển nhờ vào sức gió. Chúng ta nhờ sức gió để
thả diều bay trên bầu trời.
Năng lượng nước: con người sử dụng sức nước để giã gạo và cắt gỗ, đặc biệt sử dụng
sức nước để tạo ra điện.
1.3.4.3. Tiết kiệm năng lượng
Tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Với trẻ MN,
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở trường và ở gia đình là thực hiện những hành việc
phù hợp với khả năng, độ tuổi của mình cụ thể như sau:
Trẻ không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa, máy sưởi đang bật. Biết tắt đèn, tắt
quạt khi ra khỏi phòng. Không được mở cửa tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa
tủ khi không có nhu cầu dùng đến. Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy
tính khi không sử dụng.
Bên cạnh đó trẻ cần biết thực hiện việc đảm bảo an toàn cho mình trong sử dụng điện.
Trẻ luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. Không bao giờ tự
cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất.
Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt. Khi ngửi thấy mùi
khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.
Thông qua việc làm trên hình thành hành vi, thái độ tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Trẻ
chú ý quan sát và bắt chước những việc làm của người lớn: khi ra khỏi phòng thì phải tắt
điện (tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi không dùng). Có thái độ không đồng tình với những người
không có ý thức tiết kiệm năng lượng. Nhận ra người nào sử dụng năng lượng tiết kiệm,
người nào sử dụng không tiết kiệm [2].
1.3.5. Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
ở các nền GD tiên tiến
Hầu hết việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng được tổ chức ở nhà và PH là những người
trực tiếp GD trẻ điều này.
28
Ở Ấn Độ, GD môi trường cho trẻ em bắt đầu từ việc cho trẻ thấy được trách nhiệm của
mình trong việc giúp tiết kiệm môi trường. Trẻ được nghe những lời khuyên về môi trường
và yêu cầu trẻ làm theo. Mặc dù chúng thấy bản thân mình quá nhỏ để thực hiện, nhưng khi
được nghe tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trẻ cũng quan tâm một cách háo hức.
Trong đó, GD cho trẻ tránh lãng phí nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường hôm nay là chuẩn
bị cho ngày mai.
Trong sinh hoạt hằng ngày, trẻ được dạy tắt vòi nước khi giặt xà phòng, chải răng, khi
sử dụng bồn rửa trong vườn. Những điều này PH của trẻ phải là người thực hiện tốt nhất để
GD cho trẻ.
Dạy trẻ hãy thử đi chung xe, đi bộ hoặc đi bằng phương tiện giao thông công cộng..
những việc này giữ cho không khí trong khu phố sạch sẽ, không bị ô nhiễm.
Bên cạnh đó khuyến khích trẻ em ra ngoài chơi hoặc giao nhiệm vụ cho trẻ làm hơn là
cho trẻ trò chơi trên máy vi tính. Đồng thời dạy trẻ tắt màn hình, tắt máy vi tính khi ra
ngoài.
PH trang bị bóng đèn huỳnh quang, nhắc trẻ tắt đèn, tắt quạt và các thiết bị điện tử
khác khi không sử dụng.
Đặc biệt, cho trẻ trồng mảng xanh: tham gia trồng cây trong vườn nhà, hoặc trồng vào
cái nồi nhỏ ở ban công. Đây là cách tuyệt vời để giúp môi trường.
Tiết kiệm giấy. Không sử dụng những chiếc cốc giấy, yêu cầu trẻ dùng khăn, giẻ lau
thay khăn giấy và khăn ăn. Yêu cầu trẻ dùng tạp chí cũ, báo cũ cho việc thủ công và nghệ
thuật. Cắt giảm giấy bất cứ nơi nào có thể sẽ giúp tiết kiệm nhiều cây hơn [49].
Chương trình Energy and you ở California giúp học sinh hiểu về tầm quan trọng của
năng lượng, tầm quan trọng của bóng râm, tầm quan trọng của tiết kiệm năng lượng ở
trường và ở nhà. Từ đó, dạy học sinh trồng cây xanh ở phía nam của ngôi nhà của bạn cung
cấp càng nhiều bóng mát mùa hè như máy điều hòa không khí. Học sinh được dạy mỗi sản
phẩm sử dụng điện có hai chi phí: một là giá mua sản phẩm đó và một là giá trên hóa đơn
tiện ích, tức là số tiền trả chi phí năng lượng mà sản phẩm đó đã tiêu thụ. Đối với một số sản
phẩm năng lượng, chi phí để chạy các sản phẩm có thể lớn hơn chi phí để mua nó nhiều lần.
Mặc dù một số sản phẩm tiết kiệm năng lượng có thể có giá cao hơn, vì chức năng tiết kiệm
điện [52].
Ở Anh, tổ chức BritMum và British Gas đã hợp tác trên một chiến dịch để GD người
dân về bảo tồn năng lượng và giảng dạy trẻ em về tiết kiệm năng lượng xung quanh nhà.
29
Việc đầu tiên là tắt đèn khi bạn ra khỏi phòng. Kế đến là tiết kiệm điện bằng cách đi
ngủ mặc bộ đồ dài tay, dày một chút, thêm một cái mền thay vì bật lò
sưởi ấm.
Tổ chức chơi trò chơi hội đồng. Nghĩa là cùng gặp nhau chơi nhóm với các bạn thay
vì mỗi người bật wifi của mình, hay gọi điện thoại cho nhau…Tương tự là GD trẻ thường
xuyên đi thăm thân nhân hoặc dành nhiều thời gian tại nhà bạn bè của họ, như thế mình
không phải sử dụng năng lượng của nhà mình nhiều.
Khi trẻ muốn sử dụng lò vi sóng thì phải đảm bảo đủ một lượng thực phẩm, không
được ít sẽ tốn năng lượng [48].
Trẻ em Bulgaria được khuyến khích thực hiện “nội quy” cho tiết kiệm năng lượng.
Bao gồm việc tắt đèn, tắt quạt, máy tính, tivi… khi rời khỏi phòng, dùng chăn thay vì dùng
lò sưởi vào mùa đông, không để mở cửa tủ lạnh, đóng rèm cửa trong những ngày hè nóng để
ngăn chặn mặt trời, trong mùa đông, giữ cho rèm cửa mở, giúp ba mẹ của bạn trồng cây che
ngôi nhà của bạn trong những ngày hè….những nội qui này mỗi đứa trẻ thực hiện ở nhà
cùng với người thân [50].
Như vậy, nhìn chung ở một số nước GD trẻ tiết kiệm năng lượng từ nhỏ, bằng việc
thực hiện các hành động đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày như tắt các thiết bị, đồ dùng
khi không dùng đến, đặt ra các nội qui cho trẻ, các hoạt động trồng cây xanh, tận dụng ánh
sáng tự nhiên….Những thói quen này được tập luyện hàng ngày và người lớn là hình mẫu
cho trẻ làm theo.
1.4. Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi
Theo từ điển bách khoa, điều kiện là khái niệm chỉ ra những gì mà nếu không có nó thì
đối tượng không thể tồn tại được. Bản thân đối tượng thể hiện ra như một cái gì có điều
kiện, còn điều kiện lại thể hiện ra như một bộ phận của thế giới với tính nhiều màu vẻ của
nó. Khác với nguyên nhân là cái trực tiếp sản sinh ra một hiện tượng, một sự vật, một quá
trình nhất định, điều kiện là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của đối tượng.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, điều kiện GD gồm các điều kiện bên trong như đội ngũ
CBQL, đội ngũ GVMN, cơ sở vật chất, kinh phí tài chính, môi trường cảnh quang sư
phạm… của các cơ sở MN và điều kiện bên ngoài như hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị
của đất nước, hoàn cảnh tự nhiên, môi trường xung quanh cơ sở MN [8].
Trong quá trình GD nhận thức cho trẻ MG 5-6 tuổi, điều kiện cần thiết phải có: môi
trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD; sử dụng kết hợp các hình
30
thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận thức của trẻ; sự kết hợp chặt chẽ
giữa gia đình và trường MN trong công tác GD nhận thức cho trẻ [8].
Môi trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD. Môi trường vật
chất bao gồm không gian trong lớp, các điều kiện, các trang thiết bị, các dụng cụ, tài liệu.
Để kích thích trẻ tích cực HĐ cần tạo ra môi trường “mở” mà mọi thứ trong đó có thể thay
đổi theo mục đích, nội dung GD, theo mức độ phát triển của trẻ, tạo điều kiện phát huy tiềm
năng của mọi trẻ, đảm bảo GD phù hợp với từng cá nhân. Môi trường “mở” này tạo cơ hội
cho trẻ thực hành, trải nghiệm, phát huy sáng kiến, sáng tạo, tạo động cơ bên trong của chủ
thể, kích thích trẻ tích cực HĐ theo đúng khả năng của mình.
GV cần bố trí các khu vực thuận tiện cho trẻ HĐ, tạo điều kiện dễ dàng lựa chọn trò
chơi, chỗ chơi theo ý muốn, giúp trẻ tự tin vào bản thân. Tạo điểm tựa về nhận thức giúp trẻ
định hướng nhanh chóng các khu vực có liên quan đến nội dung GD nhận thức, nội dung
GD năng lượng. Điểm tựa ở đây có thể sử dụng tài liệu trực quan (mô hình, ký hiệu, sơ
đồ...) Các điểm tựa này có thể được tạo ra bằng ngôn ngữ dưới dạng đưa ra các yêu cầu vào
luật chơi, vai chơi...
Lựa chọn đồ dùng đồ chơi, tài liệu cho các HĐ. Các phương tiện này sẽ định hướng
việc lựa chọn các nội dung, HĐ của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ lĩnh hội các kỹ năng sử dụng
chúng.
Sử dụng kết hợp các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận
thức của trẻ, làm tăng hiệu quả GD vì phù hợp với đặc điểm của trẻ MN. Thực tiễn hiện nay
GVMN thường sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp trực quan, dùng lời và thực hành,
trải nghiệm với nhau để GD trẻ. Cũng như khai thác các hình thức HĐ nhóm, cá nhân, tập
thể lớp, tổ chức trong lớp, ngoài sân, HĐ tự do, HĐ theo chủ ý của GV... Việc kết hợp này
tùy thuộc vào ý đồ GD của GV, vào nội dung, yêu cầu của nội dung GD. Chẳng hạn kết hợp
nhóm phương pháp như trên có thể tổ chức trong lớp với ngoài sân, tổ chức cho trẻ theo
nhóm hoặc cá nhân đều thực hiện được. Sự kết hợp này tạo sự mới mẻ, kích thích HĐ của
trẻ.
Về sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Gia đình và nhà trường kết hợp,
phối hợp trước tiên là thống nhất ở nội dung HĐ GD, bao gồm việc nuôi dưỡng, dạy dỗ ở
gia đình và nội dung CS GD ở trường MN.
PH tiếp tục dạy cho trẻ ở nhà những nội dung cháu đã học ở trường MN nhằm củng
cố, duy trì cho trẻ những kiến thức cũng như kỹ năng đã được cô hướng dẫn. Việc phối hợp
31
này có thể tiến hành trong thời gian đón và trả trẻ, trong các cuộc họp PH định kỳ. Qua
những cuộc trao đổi ngắn giữa các bậc cha mẹ và cô giáo MN trong giờ đón trả trẻ, gia đình
và nhà trường nắm được tình hình ăn ngủ, sức khỏe, tâm trạng, HĐ học tập, vui chơi... của
trẻ ở nhà và ở lớp để cô giáo và PH có những điều chỉnh kịp thời về nội dung, phương pháp
biện pháp CS GD [32].
1.5. Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi
Các nghiên cứu tâm lý trẻ em, cho đến nay, hầu như đều khẳng định rằng:
- Trong thời kỳ trước tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể thực hiện những hành động khá phức
tạp với các đồ vật, nhưng chưa nhằm vào việc khám phá chức năng và phương thức sử dụng
nó.
Nhưng từ tuổi MG trẻ em không chỉ nghịch đồ vật hay chỉ chơi với chúng mà còn tìm
hiểu chức năng nhất định và phương thức sử dụng tương ứng. Do đó, trẻ hướng hoạt động
của mình vào việc nắm cách sử dụng đồ vật. Trẻ lĩnh hội những kiến thức về đồ vật, biết
cách sử dụng đồ vật giống như người lớn, trong đó người lớn giữ vai trò của người hướng
dẫn, người cộng tác, người hỗ trợ trong quá trình lĩnh hội này.
- Khi lĩnh hội những hành động sử dụng đồ vật trong sinh hoạt hàng ngày thì đồng thời
trẻ cũng lĩnh hội được những qui tắc hành vi trong xã hội. Về điểm này, thái độ của người
lớn khi họ tham gia sinh hoạt, trước mắt trẻ, mỗi ngày là rất quan trọng, vì bằng cách làm
gương chúng ta dạy trẻ sử dụng đúng các đồ vật.
Ngoài ra những ý tưởng của O.A. Frolova (1981) [36], sau đây thật đặc biệt hữu ích
cho việc GD trẻ MG sử dụng đồ vật:
+ Trẻ MG chưa thể tự mình khảo sát đồ vật một cách đầy đủ và đúng. Trẻ em thường
bị thu hút bởi những đặc điểm nổi trội của đồ vật, thay vì tìm kiếm cách sử dụng đúng hay
thu thập các chức năng của đồ vật.
+ Một biện pháp hữu hiệu là người lớn dùng lời nói để giới thiệu, giải thích, định
hướng chú ý khảo sát ở trẻ. Nếu GV chỉ dùng những biện pháp trực quan, bỏ qua biện pháp
lời nói định hướng hành vi cho trẻ thì trẻ khó có thể tự hệ thống kiến thức của mình; còn
nếu GV chỉ dùng lời nói để dạy trẻ mà bỏ qua những hoạt động thực hành, trải nghiệm của
trẻ thì kiến thức ở trẻ chỉ mang tính “tưởng tượng”, thiếu thực tế. …
+ Biện pháp tổ chức cho trẻ vừa khảo sát vừa so sánh, đối chiếu các kết quả hành
động khác nhau trên đồ vật sẽ giúp trẻ sớm nhận ra những nguyên lý sử dụng đồ vật.
32
+ Đặc biệt hơn, nên tổ chức cho trẻ được khảo sát đồ vật một cách có mục đích và
trong nhiều dạng HĐ khác nhau: trên giờ học, trong lao động tự phục vụ hàng ngày, HĐ
trong môi trường tự nhiên và môi trường XH, trong các trò chơi.
Tóm lại, O.A. Frolova khẳng định, bằng các thí nghiệm của mình, rằng:
- Trong mỗi dạng HĐ trên, người lớn có thể dẫn dắt việc khảo sát và học tập sử dụng đồ
vật với những mục tiêu khác nhau; do vậy chọn lựa hình thức HĐ nào để dạy trẻ là
tùy thuộc mục tiêu GD (nghĩa rộng) của mình;
- HĐ khảo sát đồ vật giữ vai trò tiền đề cho việc GD trẻ cách sử dụng đồ vật;
- Tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận đồ vật, chủ động sử dụng chúng cùng với người lớn là biện
pháp tốt cho việc giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm về cách sử dụng đồ vật.
Từ những kinh nghiệm trên đây về biện pháp GD trẻ sử dụng đồ vật, có thể rút ra
hướng tác động GD trẻ sau đây:
- Có thể vận dụng hầu hết các nhóm biện pháp căn bản để GD (nghĩa rộng) cho trẻ
MG, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, cách sử dụng và chức năng của đồ vật. Kết hợp các biện pháp:
làm mẫu, chỉ dẫn bằng lời, cùng tham gia vào hoạt động với trẻ; giải thích giảng giải, nhắc
nhở động viên, các bài tập luyện tập, các trò chơi…Đồng thời sử dụng các biện pháp giao
việc, giao nhiệm vụ, tổ chức các hoạt động của trẻ, tạo các tình huống sư phạm, ghi nhớ,
nhắc nhở, chỉ dẫn nhằm luyện tập, củng cố các hành vi, kỹ năng [16].
- Đồng bộ tác động GD lên 3 mặt: nhận thức (để có kiến thức) - tập làm (để có kỹ năng)
và thái độ (trải nghiệm, để có thể tự chỉnh hành vi thành hợp lý hơn- là tiền đề của ý thức).
- Việc tổ chức cho trẻ học cách sử dụng đúng đắn các đồ vật cần được diễn ra dưới nhiều
hình thức HĐ khác nhau và có định hướng, đề ra các mục tiêu GD (nghĩa rộng) rõ ràng
trong từng dạng HĐ đó.
1.6. Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi
Theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, trẻ tiếp nhận
tình cảm từ người khác rất nhạy, đồng thời đáp ứng lại bằng tình cảm của mình đối với họ
cũng rất nhanh. Chính vì vậy, những tác động GD thái độ sống đến với trẻ trước hết bằng
con đường tình cảm. Thông qua tình cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành.
Đối với trẻ, việc dùng lý lẽ hay mệnh lệnh sẽ không có tác dụng tích cực.
Biện pháp này cần được hiểu theo hai chiều: chiều thứ nhất là bằng tình thương yêu
gắn bó của mình, người lớn hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra
tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình cảm của người lớn bằng những hành vi, cử chỉ, thái
33
độ tốt đẹp của trẻ. Đây là biện pháp chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình hình thành các thái
độ và hành vi ứng xử của trẻ [14].
Trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục đích yêu
cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn, gây được
tình cảm tích cực. Cô phải nhẹ nhàng, tình cảm để trẻ yêu mến cô từ đó mới chinh phục
được tình cảm của trẻ, dễ dàng sai bảo trẻ thực hiện yêu cầu đặt ra và phục tùng tiêu chuẩn
đạo đức. Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng HĐ để trẻ tích cực HĐ. Luôn
chú ý động viên, khen ngợi để trẻ phấn khởi, tích cực HĐ và HĐ có hiệu quả [23].
Cũng theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, GD thái độ
(xúc cảm, tình cảm) các biện pháp sau đây có vai trò rất lớn:
Biện pháp dùng trò chơi: Chơi đối với trẻ MG thường gợi ra nhiều hứng thú say mê,
vì trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của cháu. Cũng như nghệ thuật, chơi là
người bạn đồng hành, là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không phát triển được.Trẻ học
được các kỹ năng xã hội như chia sẻ, nhường nhịn nhau... Đặc biệt, qua trò chơi sắm vai, trẻ
mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, nổi bật là những mối quan hệ xã hội hiểu hiện các
chuẩn mực đạo đức. Khi tham gia trò chơi, trẻ trải nghiệm những thái độ, tập luyện những
hành vi ứng xử đối với những người xung quanh và qua đó mà trẻ học làm người.
Biện pháp dùng nghệ thuật. Trong GD thái độ sống tiết kiệm những lời răn dạy dù
được nhắc đi nhắc lại nhiều lần cũng khó gợi lên những cảm xúc tích cực ở trẻ, giúp trẻ có
những thái độ và hành vi ứng xử tốt đẹp đối với con người và cuộc sốnng xung quanh,
nhưng một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, câu chuyện, bài hát, tranh ảnh...) lại có thể làm
được điều đó một cách dễ dàng.
Biện pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. Trong
sinh hoạt hằng ngày, gần như bất cứ lúc nào trẻ cũng phải thể hiện thái độ của mình với thế
giới xung quanh bằng những hành vi ứng xử. Việc ứng xử đó có lúc đúng nhưng cũng có
nhiều lúc sai, nên người lớn cần kiên trì theo dõi, bảo ban đúng lúc. Thường xuyên tập luyện
hành vi ứng xử mọi nơi mọi lúc sẽ dễ hình thành động hình. Cô giáo cần tạo cơ hội để trẻ
được trải nghiệm, thể hiện các mối quan hệ, ứng xử với con người và sự vật, hiện tượng
xung quanh.
Biện pháp làm gương cho trẻ noi theo. Do tính hay bắt chước, trẻ thường làm theo
người lớn, nếu người lớn thể hiện hành vi ứng xử tốt, lời nói hay, thì đó là tấm gương cho
trẻ học tập, trái lại những hành vi chưa đúng, chưa hay cũng được trẻ bắt chước nhanh
chóng.
34
Biện pháp khen chê đúng lúc, đúng mực. Khi trẻ làm vệc tốt cần khen ngay bằng
những lời biểu dương ngọt ngào, những phần thưởng mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất
để khuyến khích động viên trẻ. Ngược lại khi trẻ làm một việc chưa tốt. Người lớn cần tỏ
thái độ chê trách, không đồng ý, làm cho trẻ biết được như vậy là xấu, không ai ưa để trẻ
không lặp lại những hành vi xấu đó nữa. Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê.
Nên chúng ta cần biết khêu gợi lòng tự hào đúng lúc đúng chỗ để hình thành những phẩm
chất cho trẻ.
Biện pháp thống nhất các tác động GD. Việc thống nhất những tác động GD không chỉ
được thực hiện trong mỗi trường MN hay trong mỗi gia đình mà còn phải thống nhất tư
tưởng và hành động GD giữa trường MN với các gia đình, giữa cô giáo với cha mẹ các
cháu. Điều này rất cần cho sự hình thành và phát triển thái độ sống tiết kiệm cho trẻ. Trong
sự kết hợp này, phần chủ động thuộc về phía cô giáo của trường MN. Vì cô là người được
trang bị những tri thức khoa học nuôi dạy trẻ, là người gần gũi trẻ trong suốt cả ngày nên có
thể phát hiện những biểu hiện thái độ đúng và chưa đúng của mỗi trẻ và có khả năng tìm ra
biện pháp GD, cách giải quyết phù hợp với quy luật phát triển của trẻ.
Sự kết hợp giữa GV và PH trong việc GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ có thể tiến
hành ở thời điểm nhận trẻ và trả trẻ là thuận lợi nhất. Trong thời gian ít ỏi đó, GV có thể
trao đổi với PH những biểu hiện tốt và chưa tốt của từng trẻ và những biện pháp GD để PH
thực hiện ở nhà với cháu. Ngược lại, PH cũng tranh thủ thời gian này để phản ánh với GV
biết về tính nết của con mình, nhằm từng bước hình thành cho trẻ thái độ sống tiết kiệm.
Việc GD này được thực hiện qua các giờ học, thông qua các chủ đề và tiến hành mọi
lúc mọi nơi, trong HĐ chơi, HĐ lao động, dạo chơi tham quan và trong sinh hoạt hằng ngày
[14].
Ở trong gia đình [4], cha mẹ ông bà có thể GD trẻ thái độ, kỹ năng lao động. GD trẻ
làm việc gì cũng phải đến nơi đến chốn, có trách nhiệm hoàn thành việc đó, phù hợp với khả
năng của mình khi được ba mẹ giao. Khi sử dụng nước phải tắt và kiểm tra xem đã tắt hẳn
hay chưa... GD trẻ các kỹ năng cụ thể dù đối với hoạt động đơn giản nhất: đưa tay bật, tắt
công tắc đèn, công tắc tivi... đến những hoạt động khó hơn như điều chỉnh nhiệt độ máy
điều hòa, đóng kín cửa tủ lạnh...
Bên cạnh đó, GD trẻ có ý thức trách nhiệm quý sản phẩm lao động, nghĩa là phải biết
sử dụng đúng mức, vừa phải các sản phẩm, vật dụng hàng ngày của cá nhân và gia đình.
35
Nói cách khác là phải có ý thức thái độ cần cù trong lao động, tiết kiệm trong chi tiêu,
không sử dụng lãng phí.
Để thực hiện những nội dung trên thì nền tảng vững chắc là sự gương mẫu của cha mẹ.
Sự gương mẫu của cha mẹ và người lớn trong gia đình phải thể hiện ngay trong lời ăn tiếng
nói, cử chỉ, hành động, cách ứng xử với mọi người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.
Sự gương mẫu của cha mẹ trong nếp sống hàng ngày trực tiếp tác động đến nhận thức, tình
cảm, niềm tin và hành động của trẻ.
Sự gương mẫu của cha mẹ là cơ sở tạo nên uy tín làm tăng thêm lòng kính trọng,
thương yêu, tin cậy, tự giác theo những điều cha mẹ sai bảo, khuyên nhủ. Đối với trẻ, việc
gương mẫu của cha mẹ có tác dụng như những động tác mẫu mực để con bắt chước, sự
gương mẫu đó được coi như chân lý giản dị, sáng rõ như ban ngày. “Không gì có thể tác
dụng lên tâm hồn non nớt của trẻ mạnh hơn quyền lực của sự làm gương, còn giữa muôn
vàn tấm gương thì không có gì gây ấn tượng sâu sắc và bền chặt bằng sự mẫu mực của bố
mẹ” (N.I.Nôvicốp).
1.7. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả
Trên quan điểm GD lồng ghép và không làm nặng thêm chương trình GD trẻ hiện
hành, việc xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD thực nghiệm sẽ hoàn toàn dựa trên
chương trình CSGD MN mới 2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi.
Những tiêu chí đánh giá sau đây được chọn trong nghiên cứu này:
• Về nhận thức:
- Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống (Chỉ số 57).
• Về thái độ:
- Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) (Chỉ số 33).
- Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 32).
- Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 40).
- Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai (Chỉ số 34).
• Về hành vi:
- Tắt vòi nước khi không dùng đến (Chương trình CSGD MN).
- Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng (Chương trình CSGD MN).
- Thường hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng) (Chỉ số 56).
36
- Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng (dù gặp khó
khăn) (Chỉ số 31).
- Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào
(Chương trình CSGD MN).
Những tiêu chí này được sử dụng nhằm xác định mức độ đạt hiệu quả của các biện
pháp GD thực nghiệm của đề tài.
Tiểu kết chương 1
Để nghiên cứu đầy đủ và đảm bảo tính khoa học, đề tài dựa trên cơ sở lý luận đã nêu ra ở
trên, về:
- Khả năng nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi về các vấn đề phức hợp và năng lực hệ thống
hóa kiến thức của mình - làm tiền đề cho việc hình thành thói quen và GD thái độ
cho trẻ nói chung.
- Nội hàm của vấn đề “GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” và chuyển tải
thành nội dung GD phù hợp độ tuổi 5-6.
- Lý luận GD (nghĩa rộng) nhận thức - hành vi - thái độ cho trẻ cuối tuổi MG, đặc biệt
về các nhiệm vụ GD - nội dung GD và từ đó tìm hiểu tính thích hợp của các biện
pháp GD.
- Kinh nghiệm vận dụng các nhóm biện pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả ở các nước và trong nước.
37
Chương 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6
TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ
2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề
Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả của GV cho trẻ. Qua đó, xác định:
- Những biện pháp GD được vận dụng trong thực tế GDMN ở một số trường MN.
- Hiệu quả cũng như hạn chế của chúng, nguyên nhân của mặt hạn chế,
- Định hướng khắc phục.
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề
2.2.1. Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề
Nội dung nghiên cứu xoay quanh vấn đề thực trạng vận dụng các phương thức và điều
kiện GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN của
TPHCM; những điều kiện thực tế cho những phương thức GD này.
Cụ thể:
- Nhận thức và quan điểm GD; những thuận lợi, khó khăn của GVMN, của CBQL
trường MN trong nhiệm vụ GD này.
- Thực trạng của việc lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch GD sử dụng năng lượng hiệu
quả.
- Cách tổ chức quá trình GD, biện pháp GD, (đặc biệt quan tâm những HĐ thực hành
của trẻ), điều kiện thực hiện GD.
- Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho trẻ
có liên quan vấn đề nghiên cứu; những thuận lợi, khó khăn của GVMN, của CBQL trường
MN trong công tác GD này.
- Nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương
trình GD thực nghiệm nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu.
Nội dung điều tra chủ yếu được phân bố ở hai phần:
1 cho mỗi đối tượng (GVMN, CBQL,
a/ Nội dung các bảng hỏi (Anket), gồm 30 câu0F
1 Xem phụ lục 1
PH) nhằm tìm hiểu về:
38
- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả (câu 2, 10, 12, 13, 18, 24, 28).
- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
(câu 1, 4, 5, 6, 7, 8, 17, 25, 26).
- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi thái độ đúng
trong việc sử dụng năng lượng (câu 3, 11, 21).
- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi kỹ năng tiết kiệm
năng lượng (14, 15, 16, 20).
- Ý kiến của CBQL, GVMN và PH về các biện pháp đạt hiệu quả GD trẻ tiết kiệm
năng lượng câu (9, 19, 20, 22, 23, 27, 28, 29, 30).
b/ Nội dung đàm thoại với GVMN về cách lập kế hoạch GD:
- Anh (Chị) lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức GD nội dung này dựa trên cơ sở nào?
- Nội dung GD tiết kiệm năng lượng được phân bổ như thế nào trong kế hoạch? (Mức
độ thường xuyên: hàng ngày? hàng tuần? hàng tháng?).
- Kế hoạch có thường xuyên điều chỉnh, thay đổi không? Điều chỉnh như thế nào?
Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:
- Thực trạng nhận thức vấn đề của người lớn.
- Thực trạng chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD: hiệu quả GD, những hạn
chế và định hướng khắc phục.
- Có hay không tính đồng bộ trong chiến lược GD hiện nay ở trường MN: GD nhận
thức - GD thái độ - GD kỹ năng.
- Những điều kiện thuận lợi cho khả năng tác động GD đồng bộ này trong thực tế GD
MN.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp quan sát và
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là chủ đạo, còn lại các phương pháp đàm thoại, nghiên
cứu hồ sơ là phương pháp bổ trợ.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các thời điểm tổ chức HĐ CSGD trẻ trong
ngày nhằm xác định thực trạng GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Tiến hành
quan sát qua dự giờ, ghi chép trên 6 GVMN dạy lớp MG 5- 6 tuổi và 120 trẻ MG 5-6 tuổi ở
3 trường MN quận Bình Tân (trường MN Hoa Hồng: 40 cháu, 2 GVMN; trường MN 19/5:
39
40 cháu, 2 GVMN; trường MN Hương Sen: 40 cháu, 2 GVMN). Mỗi nhóm lớp được quan
sát 3 ngày liên tục. Phân tích, nhận định kết quả thực trạng.
- Điều tra bằng anket: nhằm rút ra những khó khăn thường gặp của GVMN trong việc
GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; đặc biệt quan tâm các biện pháp tác động
lên trẻ, điều kiện vận dụng chúng và hiệu quả tác động của những biện pháp GD này.
Phiếu điều tra được phát cho 32 CBQL, 30 GVMN và 45 PH của trẻ MG 5-6 tuổi. Thu
lại phiếu và thống kê xác định khó khăn và thuận lợi của CBQL, của GVMN và PH trong tổ
chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng.
Cách tính điểm kết quả từ các bảng hỏi:
Các bảng hỏi được xử lý thông tin bằng phần mềm SPSS 16.0:
* Tính phần trăm (%) và vẽ biểu đồ cho những câu có nhiều lựa chọn.
* Tính điểm trung bình và và vẽ biểu đồ cho những câu có ba mức độ, đối tượng khảo
sát chỉ chọn một mức độ.
* Tính theo điểm trung bình: mức cao là 1 đến 1.5 điểm, mức trung bình từ 1.51 đến
2.5 điểm, mức thấp từ 2.51 đến 3 điểm.
- Nghiên cứu chương trình CSGD trẻ 5-6 tuổi: Đọc kỹ, phân tích các mục tiêu - nội
dung GD - HĐ gợi dẫn - các minh chứng trong chương trình hiện hành có liên quan vấn đề
GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng, năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với CBQL và GV chủ nhiệm lớp nhằm tìm hiểu
việc lập kế hoạch tổ chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng.
- Phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng
lượng hiệu quả: Tiêu chí được xây dựng trên cơ sở nội dung chương trình CSGD MN mới
2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi.
40
Bảng 2.1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục trẻ 5- 6 tuổi
sử dụng năng lượng hiệu quả
Stt Nội dung tiêu chí Ghi chú
Về nhận thức:
1 Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống (Chỉ số 57)
Về thái độ:
2 Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) (Chỉ số 33)
3 Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 32)
4 Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng (Chỉ số 40)
lượng
5 Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai (Chỉ số 34)
Về hành vi:
6 Tắt vòi nước khi không dùng đến
7 Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng.
(Chương trình CSGD MN) (Chương trình CSGD MN) (Chỉ số 56) 8 Có hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng)
9 Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở (Chỉ số 31)
nửa chừng (dù gặp khó khăn)
10 Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở (Chương trình
rộng cửa ra vào... CSGD MN)
41
2.3. Tổ chức nghiên cứu thực trạng vấn đề
Chương trình nghiên cứu được tiến hành trong 5 tuần.
Trong 2 tuần đầu: Phát phiếu hỏi cho các đối tượng nghiên cứu và thu lại; quan sát ở
nhóm lớp ghi chép kết hợp xem hồ sơ kế hoạch;
Từ tuần thứ 3 đến tuần 5: xử lý sơ bộ thông tin nhận được, sàng lọc những ý kiến chưa
làm rõ và phỏng vấn làm rõ.
2.4. Đối tượng tham gia nghiên cứu thực trạng
- 30 GVMN dạy lớp MG 5- 6 tuổi, 120 trẻ MG 5-6 tuổi, 45 PH các cháu MG 5-6 tuổi,
32 CBQL trường MN công lập, tư thục trên địa bàn quận Bình Tân.
- GV sư phạm: 5 (2 GV trường Đại học Sài Gòn TPHCM, 3 GV trường Cao Đẳng Sư
phạm Trung ương TPHCM). Chuyên viên Phòng GD & ĐT quận: 02.
2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề
2.5.1. Thực trạng nhận thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của
CBQL, GVMN và PH của trẻ MG 5-6 tuổi
Qua điều tra bằng bảng hỏi về ý kiến của CBQL, GVMN và PH lớp MG 5-6 tuổi,
chúng tôi thu được kết quả như sau:
2.5.1.1. Về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 2, 10, 12, 13,
18, 24, 28)
Phần lớn số ý kiến ở cả 3 nhóm đối tượng cho thấy sự nhận thức mục tiêu thiết thực và
mục tiêu GD của việc sử dụng tiết kiệm năng lượng (là giảm được một khoản chi phí sinh
hoạt, có được thói quen tốt và làm gương cho trẻ em).
Đại đa số ý kiến thể hiện sự nhận thức cao ở người lớn (nhà GD và PH) về sự cần thiết
phải GD trẻ 5- 6 tuổi tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, họ chưa nhìn ra “cần GD trẻ tiết
kiệm xăng dầu”, kể cả CBQL (31.2%) và GVMN (6.7%).
Sự nhận thức này của người lớn còn nhiều hạn chế:
Khoảng 45,5% số ý kiến của người lớn quan tâm đến việc “làm giảm khí thải độc ra
môi trường”, trong khi chỉ có 32,7% nghĩ đến việc tiết kiệm xăng khi tắt máy xe ở các điểm
dừng. Vẫn còn 17.8% số ý kiến tưởng là “đã có thu nhập cao thì không cần tiết kiệm năng
lượng”, chưa nhìn thấy ý nghĩa sâu xa hơn của việc tiết kiệm năng lượng.
Chỉ có khoảng 25% số người lớn này biết rằng dùng máy phát điện khi bị mất điện có
thể làm cho xung quanh chúng ta nóng hơn.
2.5.1.2. Về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 1, 4, 5, 6, 7, 8, 17, 25,
26)
42
Vẫn còn ý kiến của 10% số GVMN và 6.7% số PH quan niệm rằng “mặc dù không
cần sử dụng điện liên tục thì cũng không tắt/mở công tắc điện nhiều lần trong ngày vì dễ
làm hư hỏng công tắc”; 15.6% số PH cho rằng “thay thế bếp điện bằng bếp gas hoặc bếp
dầu nếu thu nhập thấp”.
Có con số đáng kể CBQL chưa có thói quen “tắt khi không cần dùng”: 37.5% trong
việc sử dụng điện, nước ở cơ quan; 53.1% trong việc sử dụng gas, xăng.
Chưa có nhiều người lớn ý thức về việc muốn thay các thiết bị trong nhà nhằm tiết
kiệm năng lượng.
2.5.2. Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi nhận thức
đúng trong việc sử dụng năng lượng
2.5.2.1. Thực trạng đầu tư hoặc điều chỉnh trang thiết bị trong trường MN nhằm GD
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy việc đầu tư trang bị nhằm GD tiết kiệm năng
lượng chưa được quan tâm và trang bị đầy đủ ở nhiều trường MN. Phổ biến nhất chỉ có tài
liệu tham khảo cho GV, phim dạy học, tranh ảnh. Có nghĩa là điều kiện về GV được trang bị
kiến thức cơ bản, khoa học về năng lượng cũng như những nội dung, biện pháp sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, nắm vững nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ
chức cho trẻ về vấn đề này, cách lập kế hoạch theo quan điểm tích hợp trong tổ chức thực
hiện. Còn những điều kiện cơ sở vật chất khác chưa được trang bị. CBQL cũng nhận thấy sự
thiếu thốn này qua kết quả 9.4% của CBQL cho rằng không có trang bị gì mới so với trước
đây.
Thực tế quan sát tại nhóm lớp (dự giờ ở 3 lớp 5-6 tuổi), người nghiên cứu nhận thấy
rằng về cơ sở vật chất hầu như không có trang bị gì về vấn đề GD tiết kiệm năng lượng.
Cụ thể đó là chưa xây dựng các biện pháp kỹ thuật tiết kiệm điện, nhiên liệu như thực
hiện hai chế độ ánh sáng: ánh sáng đi lại sinh hoạt, ánh sáng làm việc, mở rộng hoặc mở
thêm các cửa sổ và lắp kính chuyên dụng để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên... Vì lớp nào,
phòng nào cũng chỉ một loại đèn huỳnh quang 1.2m, một chế độ sáng vốn sẳn có của đèn.
Trường MN Hương Sen và MN 19/5 phòng ốc rộng, đón được ánh sáng tự nhiên nên sáng
sủa, thoáng mát có thể không sử dụng hoặc sử dụng một nửa số đèn, quạt là đủ sáng và mát,
nhưng thực tế đèn, quạt được mở tối đa khi có trẻ trong lớp. Do khuôn viên chật hẹp và kết
cấu xây dựng cồng kềnh nên trường MN Hoa Hồng thiếu không gian, không đón gió và ánh
sáng. Bởi thế đèn và quạt các lớp mở hết công suất khi trẻ HĐ.
43
Về điều kiện xây dựng các giải pháp hành chánh tiết kiệm điện, nhiên liệu chưa thấy
quy định chế độ và thời gian sử dụng các trang thiết bị trong nhà trường. Chỉ có 1/3 trường
MN trên dán khẩu hiệu ở mỗi lớp, mỗi bộ phận (bếp, văn phòng) “tắt đèn, tắt quạt khi ra
khỏi phòng”. Đầu năm học mỗi CB, GV, công nhân viên nhà trường đều viết cam kết việc
sử dụng điện tiết kiệm và đảm bảo an toàn
về điện.
Qua tham khảo các góc tuyên truyền của lớp thì chưa thấy đưa nội dung GD này cho
PH xem để phối hợp với nhà trường GD trẻ (3/3 lớp). Đồng thời qua quan sát các giờ đón và
trả trẻ cũng chưa nghe thấy việc trao đổi giữa GVMN và PH về nội dung GD này. Nhiều
GV nói về sự mỏi mệt trong nghiệp vụ, hầu như ít có thời gian và nhiệt tình GD trẻ tiết kiệm
năng lượng; mặt khác, cũng theo nhiều GVMN, thì PH ít quan tâm đến nhiệm vụ GD này.
Một lý do “cản trở GD” khác, là “Bây giờ tuyên truyền chuẩn 5 tuổi lúc nào cũng phải thực
hiện, mà nội dung và hình ảnh rồi minh chứng của nó nhiều lắm, chiếm hết chỗ rồi. Chưa kể
tuyên truyền về dịch bệnh cũng “nóng hổi”. Với lại GD năng lượng lâu lâu mới có nên
không đưa lên, dạy cái gì cũng đưa lên bảng tuyên truyền thì nhiều lắm”.
Như vậy, thực tế việc trang bị những điều kiện cho việc GD tiết kiệm năng lượng cho
trẻ chủ yếu tập trung vào tài liệu cho GV sử dụng, cũng như một số phương tiện dạy học.
Có khẩu hiệu nhắc nhở mọi người thực hiện tiết kiệm. Còn việc chuẩn bị trang thiết bị tạo
môi trường để tiết kiệm năng lượng cũng như công tác phối hợp với PH thì chưa được quan
tâm.
Điều này được rõ ràng hơn với bảng số liệu dưới đây:
44
Bảng 2.2. Mức độ chuẩn bị những điều kiện cho giáo dục tiết kiệm năng lượng
Nội dung Chưa được Hoàn toàn Điểm
chuẩn bị tốt chưa được TB
chuẩn bị
a) Người lớn làm gương: ít nhất là người lớn ở 26 4 1.1
nhà, ở trường.
b) Đồ dùng, thiết bị đảm bảo tiết kiệm năng lượng. 15 15 1.5
c) Tài liệu tham khảo và phương tiện dạy học dành 26 4 1.1
cho GV.
d) Chương trình GD toàn xã hội sử dụng năng 16 14 1.47
lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Số liệu bảng 2.2 cho thấy điều kiện về tấm gương của người lớn cho trẻ noi theo ít
nhất là người lớn ở nhà, ở trường và điều kiện trang bị tài liệu tham khảo và phương tiện
dạy học dành cho GV đều đạt 26/30, điểm trung bình ở mức cao (1.1) nghĩa là có sự chuẩn
bị nhưng chưa được tốt vẫn có thể chấp nhận được. Trong khi trang bị đồ dùng, thiết bị đảm
bảo tiết kiệm năng lượng đạt 50%. Mặc dù điểm trung bình còn nằm trong mức cao (1.5)
nhưng gần chạm mức trung bình 1.51. Có nghĩa là nội dung này hoàn toàn chưa được chuẩn
bị. Điều này trùng khớp với kết quả khảo sát việc trang bị những điều kiện cho việc GD tiết
kiệm năng lượng và quan sát thực tế của người nghiên cứu. Nội dung này sẽ được đề xuất
trong nghiên cứu thực nghiệm.
Trường hợp tương tự với nội dung “chương trình GD toàn xã hội sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả”, tức là công tác tuyên truyền phối hợp với PH dù điểm trung bình ở
mức cao (1.47), nhưng số lượng ở mức đánh giá hoàn toàn chưa được chuẩn bị tỉ lệ đến
46.7% rất đáng để suy nghĩ. Con số này cũng gần với kết quả quan sát.
Tóm lại, kết quả trên cho phép chúng ta khẳng định rằng cần quan tâm nhiều hơn đến
việc chuẩn bị những điều kiện phục vụ cho việc GD tiết kiệm năng lượng cho trẻ từ điều
kiện về cơ sở vật chất và con người.
2.5.2.2. Thực trạng sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng của GVMN
45
Bảng 2.3. Biện pháp giáo dục trẻ tiết kiệm năng lượng của giáo viên mầm non
Kết quả Thứ Các biện pháp Tỉ lệ Trung tự
% bình
1 Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 100.0 1.0
2 Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 86.7 1.17
3 Làm gương cho trẻ hàng ngày 100.0 1.0
4 Tạo tình huống có vấn đề 70.0 1.37
5 Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 50.0 1.53
6 Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 73.3 1.27
7 Tổ chức làm thí nghiệm 30.0 1.97
Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm 8 36.7 1.77 tiết kiệm năng lượng hơn
9 Tuyên truyền đến PH bằng nhiều cách 76.7 1.23
Kết quả số liệu bảng 2.3 cho ta thấy biện pháp dùng trực quan và làm gương cho trẻ
hằng ngày là chiếm tỉ lệ cao nhất, với điểm trung bình là 1.0 tương ứng với mức cao. Kết
quả này rất phù hợp với đặc điểm hay bắt chước và kiểu tư duy trực quan của trẻ MN, cũng
phù hợp với thực trạng những điều kiện trang bị cho việc GD tiết kiệm năng lượng. Đây là
hai biện pháp GV sử dụng nhiều, tuy nhiên theo phiếu điều tra với biện pháp này GV gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu hình ảnh vì không có thời gian, vì nhà chưa có sử dụng
internet nên “dùng ké” với GV khác dẫn đến tình trạng với bao nhiêu tư liệu đó chuyền từ
lớp này qua lớp khác.
Kế đến biện pháp trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền chiếm
86.7%, đạt mức cao với số điểm trung bình 1.17. Như thế biện pháp này được GV đánh giá
cao, vì tiện lợi, ít dùng phương tiện trực quan và có thể dạy vào bất kỳ thời điểm nào trong
ngày. Chính vì sự thuận tiện trên mà đa số GVMN lạm dụng biện pháp này để “dạy chay”
cho trẻ. Điều này chưa phù hợp với đặc điểm lứa tuổi MN cần kết hợp trực quan.
Trao đổi về biện pháp này, GVMN có một số ý kiến cụ thể. GV trường MN 19/5 cho
biết: “Trò chuyện hay dạy bài hát, bài thơ trẻ mau thuộc, vì nội dung tiết kiệm năng lượng
rất khô khan nên việc đưa vào bài thơ, bài hát hay câu chuyện trẻ sẽ dễ nhớ hơn, nhưng đề
46
tài này không có nhiều bài hát bài thơ để dạy cho trẻ”. Trong khi GV trường MN Hoa Hồng
chia sẻ: “Dạy về tiết kiệm năng lượng chủ yếu là nói cho trẻ hiểu là nhiều, chưa tổ chức đủ
hoạt động thực hành của trẻ, vì “sợ dùng nước dễ bị đổ tháo, vương vãi. Việc GD liên quan
tới điện càng khó hơn vì phải đảm bảo an toàn cho trẻ”.
Tuyên truyền đến PH bằng nhiều cách là biện pháp tiếp theo được chọn ở mức cao
tương ứng điểm trung bình 1.23 với 76.7%. Như vậy cho thấy rằng GVMN cũng nhận thức
được sự cần thiết kết hợp với PH trong việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng, mặc dù theo kết
quả quan sát ở trên thì chưa thấy có sự phối hợp này. Như vậy thì đây chỉ là con số nhỏ hay
là GV nhận thức như thế nhưng thực tế lại làm khác? Qua trao đổi với một số GV được biết
năm học 2012-2013 Tổ MN mới triển khai thực hiện nội dung này nên GV còn lúng túng,
chưa thể hiện được hết trên các hình thức tổ chức trong đó có tuyên truyền với PH, các
trường năm nay thực hiện chuyên đề cấp quận nên mọi tập trung đều dồn vào nội dung
tuyên truyền chuẩn 5 tuổi là chính, vì vậy GV khó thể đưa nội dung GD tiết kiệm năng
lượng vào công tác phối hợp với PH. Với ý kiến trên và số liệu thống kê được, cho phép
chúng ta nhận định rằng biện pháp này được đánh giá cao nhưng trong thực tế chưa được
thực thi vì nhiều lý do khách quan: nội dung tuyên truyền nhiều, PH chưa quan tâm nội
dung GD này cho trẻ, bị chi phối bởi các nội dung nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị. Đây là
vấn đề cần quan tâm trong chương trình thực nghiệm của đề tài.
Tương tự, biện pháp tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống chiếm
73.3%, với điểm trung bình 1.27 tương ứng với mức độ cao. Qua trao đổi với GV và quan
sát ở nhóm lớp, chúng tôi thấy rằng biện pháp này được sử dụng hầu như mỗi ngày, không
chỉ riêng với nội dung tiết kiệm năng lượng mà với tất cả các nội dung GD khác. Số lượng
8/30 chiếm 26.7% người không chọn biện pháp này cho biết rằng: “Trong sử dụng nước thì
có thể cho bé thực hành, GV quan sát nhắc nhở, còn trong sử dụng điện thì không dám. Bởi
vì các công tắc đèn, quạt đều thiết kế cố định cao hơn tầm tay với của trẻ là một, thứ hai nữa
là an toàn cho trẻ trên hết, không dám dùng các thiết bị hay dụng cụ có điện cho trẻ thực
hành”. Bên cạnh đó, theo quan sát thực tế, khi có GV đứng cạnh nhắc nhở thì trẻ mới làm
đúng, lúc GV không chú ý đến là trẻ hay nghịch nước hoặc không tắt vòi nước, vì GV
không phải lúc nào cũng theo sát được với trẻ. Mặc dù vậy, vẫn có một vài trẻ nhớ lời nhắc
nhở của cô mà làm đúng dù cô không có ở đó.
Tạo tình huống có vấn đề trong tiết kiệm năng lượng thường chỉ có cúp điện, cúp nước
rồi cho trẻ suy nghĩ bàn bạc hướng giải quyết, có trẻ đưa ý kiến cũng hay như mở cửa sổ, ra
sân học... biện pháp này cũng thường được sử dụng. Kết quả khảo sát biện pháp này cũng
47
đạt ở mức độ cao với điểm trung bình là 1.37, tỉ lệ 70%. Nhưng thực tế quan sát thì chưa
thấy GV dùng biện pháp này trong tổ chức HĐ cho trẻ dù ở nội dung GD nào.
Làm mẫu cách sử dụng năng lượng, biện pháp này chiếm tỉ lệ 50% số người lựa chọn,
đạt điểm trung bình là 1.53, xếp loại trung bình. Đối với trẻ MN, nội dung GD này rất cần
mẫu của cô để trẻ có thể thực hành để hình thành kỹ năng, nhưng theo khảo sát thì biện
pháp này chỉ có 15/30 GV chọn. Phải chăng GV gặp khó khăn khi sử dụng biện pháp này.
GV trường MN 19/5 chia sẻ về sự khó khăn thực hiện biện pháp GD này, vì cô làm mẫu tốt
nhưng khi tổ chức thực hành học trò thì đông, trẻ nhốn nháo, khó bao quát từng trẻ; khó sử
dụng nước để GD vì nhà vệ sinh chật chội, nhưng thực hành trong sử dụng điện thì “không
biết tổ chức như thế nào”. Cũng qua thực tế quan sát, chúng tôi thấy rằng việc làm mẫu cho
trẻ chủ yếu trong sử dụng tiết kiệm nước như: rửa tay, rửa mặt, nước uống. Trong sử dụng
tiết kiệm điện chỉ có thao tác tắt mở công tắc đèn, tắt mở ti vi đầu đĩa bằng remote, nhưng
chủ yếu là GV làm, trẻ không được làm vì công tắc cao hơn trẻ và GV phải bảo quản tốt các
thiết bị điện nên không dám để cho trẻ làm.
Biện pháp tổ chức làm thí nghiệm chỉ đạt 30%, xếp loại trung bình với điểm trung
bình là 1.97. Theo đó, là tỉ lệ phân vân 43.3%, còn 26.7% cho rằng biện pháp này không
phù hợp. Kết quả trên cho thấy làm thí nghiệm trong nội dung GD này chưa được sử dụng.
Qua trao đổi với GV thì nội dung GD này mới, chưa biết tổ chức cụ thể như thế nào, mà làm
thí nghiệm đòi hỏi nhiều thời gian trong khi GD tiết kiệm năng lượng chỉ lồng ghép nên
không phù hợp lắm”.
Song song đó, biện pháp tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm
tiết kiệm năng lượng hơn xếp loại trung bình, tương ứng điểm trung bình 1.77 với tỉ lệ
36.7%. Với thực tế quan sát trong phần thực trạng trang bị những điều kiện phục vụ cho
việc GD tiết kiệm năng lượng thì kết quả này cụ thể cho thực tế trên. Các trường công lập
thường HĐ theo định mức kinh phí của ngân sách nhà nước phân bổ, mỗi khi mua sắm, sửa
chữa phải lên dự toán đầu năm tài chánh, và đợi đến lúc được khoản kinh phí đó thì đã qua
một học kỳ của năm học, nên việc tham mưu trên thường ít đề xuất. Kết quả này phản ánh
đúng thực tế.
Như vậy, qua kết quả điều tra với kết quả quan sát thực tế, các biện pháp GV sử dụng
trong GD trẻ tiết kiệm năng lượng tập trung vào biện pháp phổ biến là dùng trực quan: cho
trẻ xem phim, tranh ảnh. Đồng thời, người lớn làm gương cho trẻ hằng ngày. Kế đến là dùng
thơ ca, bài hát, chuyện kể để dạy cho trẻ. Bên cạnh đó, biện pháp phối hợp với PH cũng
48
được sử dụng, nhưng thực tế biện pháp này chưa được khai thác, với nhiều lý do khách
quan.
Thuận lợi là các biện pháp này quen thuộc với GD trẻ MN, GV sử dụng thành thạo.
Tuy nhiên cũng gặp khó khăn, nổi trội nhất là nội dung GD này mới nên tư liệu tranh ảnh,
bài hát thơ ca chưa nhiều, điều kiện trang bị cho việc GD này chưa được quan tâm đầu tư.
Nên sử dụng
Còn phân vân Không thích hợp
120
100
100
100
86.7
)
82.2
%
(
80
m ă r t
60
n ầ h p
ệ l ỉ
40
T
13.3
20
11.1
4.4
2.2
0
0
0
0
0
a. Trò chuyện với trẻ
c. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng
b. Làm gương cho trẻ hàng ngày
d. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống
2.5.2.3. Thực trạng sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng của PH
Biểu đồ 2.1. Biện pháp giáo dục trẻ tiết kiệm năng lượng của phụ huynh
Theo biểu đồ 2.1, thì biện pháp a và b được chọn với tỉ lệ cao (100%). Theo PH thì
hai biện pháp này có thể thực hiện dễ dàng. Còn biện pháp làm mẫu thì phải cân nhắc vì sự
an toàn cho trẻ. Biện pháp còn lại thì không phải lúc nào cũng giám sát để nhắc nhở trẻ
được, vì lứa tuổi của trẻ năng động. Như vậy, ý kiến của PH và GVMN có điểm tương đồng
nhau trong việc sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng. Điều này cho ta kết
luận, cả GVMN và PH đều có cách sử dụng biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng giống
nhau, như thế rất thuận lợi trong việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc GD
nội dung này cho trẻ.
2.5.3. Thực trạng GD thực hành để tập kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả cho trẻ MG 5-6 tuổi
Quan sát thực tế, việc GD kỹ năng chủ yếu vào các giờ vệ sinh: sử dụng tiết kiệm
nước khi rửa tay, rửa mặt, chải răng, sử dụng nước uống. Kỹ năng sử dụng điện năng rất ít,
trẻ không được hành động với những đồ dùng, trang thiết bị điện. Chỉ một vài trẻ cao lớn có
thể với tay tắt được công tắc điện và sợi dây nối với công tắc quạt gắn tường. Còn với xăng
49
dầu thì trẻ hoàn toàn không được thực hành kỹ năng nào. Điều này hợp lý với lứa tuổi của
trẻ.
Bảng 2.4. Biện pháp giáo dục kỹ năng tiết kiệm năng lượng cho trẻ
Kết quả Thứ Các biện pháp tự Tỉ lệ % Trung bình
1 Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh 100.0 1.0
2 Làm gương cho trẻ hàng ngày 100.0 1.0
3 Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 50.0 1.53
4 Theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 73.3 1.27
Theo số liệu bảng 2.4 biện pháp dùng trực quan và làm gương cho trẻ vẫn được sử
dụng nhiều như phần trên. GV cho biết khi dùng trực quan trẻ nhìn thấy mẫu, cách làm. Gần
hơn là tấm gương của người lớn quanh trẻ có tác động thường xuyên hơn. Tương tự, biện
pháp tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống chiếm 73.3%, với điểm
trung bình 1.27 tương ứng với mức độ cao. Qua trao đổi với GV và quan sát ở nhóm lớp,
chúng tôi thấy rằng biện pháp này được có hiệu quả đối với trẻ, vì khi có GV đứng cạnh
nhắc nhở thì trẻ mới làm đúng, lúc GV không chú ý đến là trẻ hay nghịch nước hoặc không
tắt vòi nước, vì GV không phải lúc nào cũng theo sát được với trẻ.
2.5.4. Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN và PH về hình thức tổ chức GD tiết
kiệm năng lượng cho trẻ ở trường MN
Nhận thức về hình thức tổ chức GD nội dung tiết kiệm năng lượng cho trẻ ở mỗi đối
tượng khảo sát có sự khác nhau rõ rệt.
Bảng 2.5. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về hình thức tổ chức giáo
dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
CBQL GVMN Hình thức N Tỉ lệ % N Tỉ lệ %
Chủ yếu dạy trên giờ học, có mục đích yêu cầu 5 15.6 8 26.6
chuyên biệt về GD sử dụng năng lượng.
Lồng ghép vào một số chủ đề. 25 78.1 12 40.0
Lồng ghép vào càng nhiều chủ đề càng tốt. 2 6.3 5 16.7
Ý kiến khác. 0 0 5 16.7
Qua bảng 2.5, ở CBQL phần lớn cho rằng nội dung này thực hiện lồng ghép vào một
số chủ đề với số người chọn là 25/32, tỉ lệ 78.1%, nhóm đối tượng này nhận thức quan điểm
50
tích hợp sẽ làm HĐ nhận thức được nhẹ nhàng, không gò ép. Điều này phù hợp quan điểm
chỉ đạo của Sở Giáo dục. Tuy nhiên, với vai trò sẽ tập huấn lại cho GV, thì con số còn lại
7/32 (21.9%) không phải là ít. Minh chứng cụ thể là chỉ có 12/30 (40%) GV nhận thức đúng
việc sử dụng hình thức thực hiện nội dung GD này, còn hơn một nửa còn lại nhận thức
chưa sát với chỉ đạo. Chẳng hạn 26.6% GV cho rằng thực hiện nội dung này chủ yếu dạy
trên giờ học, có mục đích yêu cầu chuyên biệt về GD sử dụng năng lượng. Nghĩa là trong
thực hiện chương trình CSGD, vốn dĩ “quá tải” nay phải bổ sung một mảng nội dung GD
nữa.
Nhiều GV khác (chiếm 16.7% số người được hỏi) lập luận rằng nội dung GD khô
khan, khó tổ chức HĐ sinh động phù hợp trên giờ học, GV đồng ý lồng ghép vào càng nhiều
chủ đề càng tốt. Xuất phát từ áp lực kiểm tra của CBQL và áp lực theo yêu cầu của chuẩn
phát triển trẻ 5 tuổi, GV có tâm lý “thà dư hơn thiếu”, dẫn đến việc thực hiện chương trình
một cách dàn trải, ôm đồm làm cho “rối càng thêm rối”. Đó cũng là tình trạng phổ biến của
đa số GVMN nói chung và GV dạy lớp 5-6 tuổi nói riêng. Một số ý kiến khác thì chọn hình
thức GD mọi lúc mọi nơi (chiếm tỉ lệ 16.7%).
Về phía PH “Biết là cần dạy con, nhưng chưa kịp dạy vì hàng ngày chúng tôi rất bận
rộn. Rất muốn GV dạy điều này cho con chúng tôi”, có 6.7% PH suy nghĩ như thế. Thực tế
có đến 40 người (88,9%) mong mỏi GVMN dạy con mình nội dung tiết kiệm năng lượng
thường xuyên mỗi ngày.
Bảng 2.6. Nhận thức của phụ huynh về hình thức dạy trẻ tiết kiệm năng lượng
ở trường mầm non
Hình thức PH
Tỉ lệ % N
Hàng ngày 88.9 40
Trong đợt phát động phong trào 11.1 5
Tổng cộng 100 45
Có 11.1% số PH được hỏi thì nghĩ nên dạy trẻ trong các đợt phát động, “vì bé còn rất
nhỏ”. Do vậy, khi khảo sát mức độ cần thiết GD nội dung này cho trẻ 5-6 tuổi, kết quả có
4.4% PH cho rằng không cần thiết phải GD trẻ tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, số còn lại
95.6% đồng ý cần thiết phải dạy cho con trẻ. Bên cạnh đó 100% CBQL và GVMN đều thấy
cần thiết dạy cho trẻ.
51
Như vậy, đa số PH và tất cả CBQL, GVMN được khảo sát đều cho rằng nội dung GD
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là nội dung GD cần thiết cho trẻ. Nội dung này được
PH đánh giá cao và hy vọng trường MN GD cho trẻ hằng ngày. Trong khi CBQL chỉ yêu
cầu mức độ lồng ghép phù hợp ở một số chủ đề. Thực tế, GVMN thực hiện lồng ghép được
càng nhiều chủ đề càng tốt. Tóm lại, thực trạng sử dụng hình thức cho nội dung GD này cần
quan tâm ở GVMN. Vì đây là lực lượng trực tiếp thực hiện nội dung này trên trẻ, có vai trò
quyết định hiệu quả hay không hiệu quả.
2.5.5. Những khó khăn trong việc vận dụng các biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả
Kết quả khảo sát cho thấy có 3 khó khăn cơ bản: năng lực nhận thức của độ tuổi (5- 6
tuổi), thời gian và sự kết hợp GD với PH.
Cả 3 nhóm đối tượng điều tra này đều nghĩ rằng, 5- 6 tuổi là lứa tuổi mà trẻ còn rất hạn
chế về khả năng nhận thức, chưa ý thức đến sự kiên trì thực hành để tập thành kỹ năng và
thành thói quen.
Ngoài ra, trẻ 5- 6 tuổi rất thích chơi với nước để nghịch nước, thay vì học cách sử
dụng nước một cách tiết kiệm. Vì vậy, nếu không được theo dõi nhắc nhở là trẻ khó chuyển
từ kỹ năng thành thói quen.
Một vấn đề là sự an toàn cho bé. Do trẻ còn nhỏ, chưa từng được tiếp xúc với các thiết
bị điện nên sợ rủi ro, từ đó không cho cháu tự ý sử dụng. Điều này rất hợp lý với tâm trạng
của các bậc PH.
Như thế, theo khảo sát thì từ CBQL, PH đến GVMN đều cho rằng trẻ 5-6 tuổi còn nhỏ,
chưa phù hợp với nội dung GD tiết kiệm năng lượng, làm cho việc GD này không thuận lợi.
Bên cạnh đó, cũng do đặc điểm lứa tuổi của trẻ còn nhỏ nên khó có thể làm đúng theo khi
người lớn làm mẫu hoặc hướng dẫn. Do đó, việc dùng các biện pháp làm mẫu, làm gương
cho trẻ hằng ngày gặp khó khăn. Ở biện pháp này, theo một số ý kiến nhận định do bản thân
người lớn chưa gương mẫu trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm nên khó GD được trẻ.
Khó khăn nữa là thời gian luyện tập. Để GD trẻ thực hiện được việc tiết kiệm năng
lượng cần nhắc nhở trẻ hằng ngày, trong các tình huống đời sống. GVMN một ngày ở lớp
với hơn 40 trẻ 5-6 tuổi rất bận rộn: nội dung chuyên môn, báo cáo số liệu đột xuất... hầu như
rất khó nhắc nhở trẻ.
Ngoài ra, GVMN không có thời gian để tìm kiếm nguồn tư liệu cho nội dung GD này
như hình ảnh, các video clip vì thực tế việc trang bị phương tiện để dạy trực quan rất ít, nên
dẫn đến có một vài tư liệu mà cả trường cùng sử dụng cho mọi lứa tuổi MG.
Tương tự biện pháp dùng trực quan, biện pháp trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác
bài hát tuyên truyền gây hứng thú giúp trẻ dễ nhớ, nhưng hiện tại nguồn bài thơ, truyện, bài
52
hát tuyên truyền cho nội dung này ít, đặc biệt dành cho trẻ MG càng khó tìm. Mà GV không
có thời gian để sưu tầm, chưa đủ khả năng để sáng tác.
Về phía PH, hàng ngày cũng rất bận rộn với công việc khó có thời gian theo dõi, nhắc
nhở trẻ nên khó hình thành thói quen này do “không có thời gian chú ý đến việc cháu sử
dụng nước như thế nào, còn điện thì thấy bé đến gần ổ điện là nhắc liền, nguy hiểm”.
Như vậy, cả GVMN và PH đều không có thời gian tổ chức GD một cách có hệ thống.
Sự phối hợp giữa PH và GVMN cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng các biện pháp GD
tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Theo khảo sát CBQL và GVMN thì PH rất ít quan tâm đến nội
dung GD này. Ở trường cô giáo cố gắng dạy trẻ cách sử dụng tiết kiệm nhưng về nhà PH
không quan tâm, nhắc nhở trẻ, không gương mẫu, đôi lúc làm trái lại những gì cô dạy nên
khó giúp trẻ hình thành được thói quen.
Điều này còn thể hiện trong thực tế quan sát ở bảng tuyên truyền của lớp: chưa thấy
nội dung GD này trên bảng tuyên truyền. Song song đó, qua quan sát giờ đón trả trẻ, chưa
nghe GV có sự trao đổi với PH về nội dung tiết kiệm năng lượng.
Ngoài những khó khăn trong các biện pháp trên chiếm đa số, thì một số ít khó khăn ở
các biện pháp khác cũng đáng quan tâm. Cụ thể, với biện pháp tham mưu cấp chủ quản thay
các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn thì CBQL gặp khó khăn trong việc
tìm nguồn kinh phí.
Bên cạnh đó, biện pháp tạo tình huống có vấn đề và tổ chức làm thí nghiệm là hai biện
pháp đánh giá khó khăn nhiều nhất, nhiều ý kiến đánh giá hai biện pháp này không khả thi.
Tạo tình huống có vấn đề GVMN ít sử dụng, còn làm thí nghiệm thì không cụ thể và nếu thí
nghiệm với điện càng khó vì nguy hiểm cho trẻ. Do đó, qua thực tế quan sát ở nhóm lớp
không thấy GV sử dụng hai biện pháp này cho nội dung GD tiết kiệm năng lượng.
Tóm lại, theo khảo sát, khó khăn trong sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng
lượng vì đặc điểm lứa tuổi của trẻ còn nhỏ nên trò chuyện trẻ mau chán, tổ chức làm thí
nghiệm trẻ không hiểu; làm mẫu làm gương thì trẻ hay quên, khó thực hiện đúng, ngay cả
bản thân người lớn cũng chưa làm gương được; nguồn tư liệu trực quan ít, mà GV không có
thời gian để tìm kiếm để đầu tư tổ chức các HĐ nên biện pháp trực quan gặp khó khăn; bài
hát, thơ truyện cũng không nhiều làm cho việc trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài
hát tuyên truyền không phong phú; biện pháp tổ chức theo dõi nhắc nhở trẻ thực hành trong
đời sống không thuận lợi do bận rộn, không đủ thời gian từ PH đến GVMN; tham mưu cấp
chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn khó ở chỗ không tìm
được nguồn kinh phí; PH ít quan tâm đến nội dung GD này dẫn đến công tác phối hợp chưa
có, làm cho công tác tuyên truyền đến PH khó thực hiện.
2.5.6. Thực trạng hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ
5-6 tuổi ở các trường MN
53
Thực trạng này được khảo sát chủ yếu qua việc quan sát trẻ thực hành hằng ngày ở
trường MN và qua trao đổi trò chuyện với PH.
Quan sát 120 trẻ MG 5-6 tuổi, ở 3 trường MN khác nhau. Thời điểm quan sát giờ vệ
sinh trước và sau khi ăn, lúc trẻ uống nước, ra sân chơi. Đa số trẻ mở nước to khi rửa tay,
rửa mặt và chải răng, để vòi nước chảy khi không dùng đến, chưa chú ý khi tắt vòi nước,
chưa gạt vòi nước tắt hẳn còn để nước chảy rò rỉ.
Khi chải răng có bé dùng ca đựng nước, có trẻ không dùng ca mà trực tiếp trên vòi
nước, để vòi nước chảy khi đang chải răng.
Trường MN 19/5 có trang bị máy sấy tay trong nhà vệ sinh. Trẻ sấy tay theo ý thích.
Trẻ đứng đưa tay vào máy trong thời gian dài, có trẻ thực hiện nhiều lần. Trẻ vừa sấy tay
vừa cười, rủ bạn khác cùng chơi với mình. Vì nhà vệ sinh chật, trẻ vào đông nên cô chưa
bao quát, nhắc nhở trẻ kịp thời.
Như thế, có thể hằng ngày cô không GD, nhắc nhở trẻ hoặc không cho cháu sử dụng
máy sấy tay nên trẻ thấy thích thú khi được dùng đến.
Trong lúc thực hiện trẻ không chú ý đến việc mình đang sử dụng nước mà trẻ nhìn vào
gương, nhìn bạn, nói chuyện, đùa giỡn trong khi để nước chảy.
Nước uống: tắt vòi không kỹ, nước còn chảy ra ngoài. Trẻ hứng nước nhiều, uống
không hết đổ ra ngoài.
Một số trẻ biết dùng nước tiết kiệm nhưng không thường xuyên, đợi cô nhắc nhở.
Bảng 2.7. Kết quả quan sát mức độ hành vi của trẻ trong sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Mức độ Tổng cộng
Cao Trung bình Thấp
10 24 86 120 N
Điểm TB 2.63
Như vậy, kỹ năng sử dụng năng lượng của trẻ ở mức độ thấp. Trong đó, số trẻ ở mức
độ thấp chiếm hơn 2/3 mẫu khảo sát. Điều này rất đáng quan tâm.
2.5.7. Thực trạng thực hiện nội dung GD này trong chương trình CSGD MN của Bộ
GD&ĐT
54
Theo chương trình CSGD MN mới 2009 của Bộ GD&ĐT, trong lĩnh vực nhận thức
GD trẻ biết về thời tiết (nắng, mưa, gió, bão, nóng, lạnh) làm thay đổi trong sinh hoạt
(người, cây, con vật).
Ngày, đêm, mặt trời, mặt trăng: sự khác nhau ở quang cảnh, sinh hoạt.
Nước: nước có ở đâu, lợi ích, tác hại (người, cây, con vật). Trạng thái thay đổi của
nước (lỏng, cứng, hơi..), đặc điểm, tính chất (không màu, không mùi, trong suốt giống thủy
tinh: thấy được vật trong đó). Bé làm gì để sử dụng nước tiết kiệm.
Ô nhiễm nước (nước sạch - nước bẩn) làm gì để bảo vệ khỏi sự ô nhiễm.
Không khí, ánh sáng: sự cần thiết cho đời sống, phân biệt tối - sáng, ánh sáng tự nhiên
- nhân tạo. Bé có thể làm gì để tiết kiệm điện.
Thế nào là môi trường sống tốt, làm gì để bảo vệ môi trường.
Thiên nhiên: nước (tính chất, trạng thái, nước bốc hơi, …). Không khí, sức gió. Mối
quan hệ giữa môi trường sống (ánh sáng, không khí, nước, đất…) với sự tồn tại, trưởng
thành của cây.
Như vậy, với những nội dung trên cho thấy rằng việc GD tiết kiệm năng lượng có hai
nội dung: tiết kiệm nước, tiết kiệm điện. Hai nội dung này được đưa vào lĩnh vực nhận thức
về các hiện tượng tự nhiên. Do đó, khi tổ chức HĐ cho trẻ GV thường chú trọng nước là
một dạng thể của hiện tượng tự nhiên chứ chưa được xem với vai trò tạo ra năng lượng.
* Kế hoạch chương trình của trường, của lớp
Qua xem hồ sơ của 6 GVMN ở 3 trường MN, nhận thấy rằng: hầu hết các kế hoạch
chương trình dạy của trẻ 5-6 tuổi gồm các nội dung ở từng lĩnh vực GD được phân bố vào
các HĐ trong ngày, từ đón trẻ đến trả trẻ. Ở lứa tuổi này, việc đưa nội dung theo chủ đề là
phổ biến, còn các giờ kỹ năng đều lồng ghép vào chủ đề. Tuy nhiên, nội dung GD tiết kiệm
năng lượng chưa thấy thể hiện trong kế hoạch, có chăng chỉ là những nội dung của chương
GDMN mới của Bộ GD. Có thể chấp nhận điểm này vì kế hoạch ở giai đoạn này mang tính
chung chung theo chương trình khung của Bộ, mức độ cụ thể là ở nhóm lớp.
Từ kế hoạch năm học của trường, GVMN chủ động lựa chọn chủ đề, nội dung sắp xếp
vào từng tháng trong năm học. Khi phân bổ vào từng tháng GVMN dựa vào tình hình học
sinh của trẻ ở lớp mình, cũng như xem thời điểm nào phù hợp với nội dung, chủ đề gì. Tuy
nhiên, theo tìm hiểu thì hầu như các kế hoạch này đều do CBQL đưa xuống từ sự thống
nhất giữa tổ trưởng chuyên môn và GV. Như vậy, vẫn có sự bàn bạc của GV. Theo tham
khảo kế hoạch của 3 lớp 5-6 tuổi thì nội dung GD này vẫn còn sơ xài, rất ít nội dung. GV
55
cho biết: “GD tiết kiệm năng lượng chỉ lồng ghép nếu có thể. Chương trình lớp 5-6 tuổi vừa
dạy kỹ năng, vừa thực hiện theo chủ đề, vừa lồng ghép nội dung chuẩn 5 tuổi đã không đủ
thời gian, nên nội dung này có cũng được, không có cũng không sao”. Chính vì lý do đó mà
hầu hết các kế hoạch tháng đều không có.
Như vậy, nội dung GD này chưa được GV quan tâm trong hồ sơ soạn giảng. Mặc dù
nội dung này GV thực hiện GD trẻ hằng ngày trong các giờ vệ sinh.
2.5.8. Thực trạng về công tác và kết quả bồi dưỡng GV nhằm GD trẻ MG sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở một số trường MN, quận Bình Tân
Sau khi được phòng MN - Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM tổ chức học tập bồi dưỡng
thực hiện nội dung GD này, tổ MN phòng Giáo dục và Đào tạo quận Bình Tân triển khai
đến các trường qua chuyên đề cấp quận “Phương pháp tích hợp nội dung GD sử dụng năng
2.
lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG” 1F
Chuyên đề được tổ chức trong 01 ngày (27/02/2013) tại một trường MN công lập và
một trường MN dân lập - tư thục. Chuyên đề tổ chức 06 HĐ học cho trẻ MG: 01 HĐ cho trẻ
3-4 tuổi, 03 HĐ cho trẻ 4-5 tuổi và 02 HĐ cho trẻ 5-6 tuổi. Qua các hình thức tổ chức trên
thấy rằng chuyên đề chỉ tập trung thực hiện nội dung GD này vào HĐ học, chưa chú trọng
đưa vào các HĐ khác trong ngày. Như vậy, trẻ chỉ được làm quen với nội dung này thông
qua giờ học, nếu GV không tổ chức trên giờ học thì trẻ sẽ không được lĩnh hội, chưa kể đến
GV chưa nắm được cách tổ chức nội dung này trong các giờ HĐ khác trong ngày vì chuyên
đề chưa tổ chức hình thức này.
Thông thường, giờ học đi sâu về nhận thức hơn là thực hành, nghĩa là chưa quan tâm
đến hình thành kỹ năng và thái độ trong thực tế cho trẻ. Vì có thể trên giờ học trẻ nhận thức
được, hiểu được thái độ mình phải như thế nào cho phù hợp nhưng khi thực hành trong thực
tế trẻ hay thay đổi theo tình huống, theo kiểu bắt chước bạn khi không có sự giám sát, nhắc
nhở của người lớn. Điều này cho thấy chưa có sự đồng bộ giữa GD nhận thức, GD thái độ
và hình thành kỹ năng trong chuyên đề này. Thực trạng này cần quan tâm trong chương
trình thực nghiệm.
Tuy nhiên việc đưa nội dung này tập trung vào hình thức tổ chức giờ học. Có 2 giờ học cho
trẻ 5-6 tuổi theo chuyên đề.
a) Giờ học thứ nhất với đề tài “Nước với đời sống con người”. Mục đích yêu cầu:
2 Xem phụ lục 3.
- Trẻ biết được lợi ích của nước đối với đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người.
56
- Trẻ biết một số loại nước trong tự nhiên.
- Phát triển khả năng quan sát, phán đoán, ngôn ngữ cho trẻ.
- GD trẻ biết sử dụng nước sạch, biết tiết kiệm nước và biết bảo vệ nguồn nước của
mình.
Với yêu cầu trên, giờ học được tiến hành bằng 3 HĐ:
- HĐ 1: cho trẻ xem tranh, đàm thoại về công dụng của nước. Cô viết các từ chỉ công
dụng của nước lên bảng. GD trẻ phải biết tiết kiệm nước mọi lúc mọi nơi.
- HĐ 2: cho trẻ xem file trình chiếu về các loại nước. Đàm thoại về sự ô nhiễm của
nước, mình phải làm gì để bảo vệ nguồn nước.
- HĐ 3: Chia nhóm, cho trẻ chọn những hành động đúng sai khi sử dụng nước trong
sinh hoạt hằng ngày.
b) Giờ học thứ hai “Đồ dùng sử dụng điện”. Mục đích yêu cầu:
- Trẻ biết gọi tên và phân biệt được đồ dùng bằng điện.
- Trẻ biết lợi ích của năng lượng điện.
- GD trẻ biết sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng điện.
Giờ học này được tổ chức với 2 HĐ:
- HĐ 1: cho trẻ đọc bài vè về các đồ dùng sử dụng điện. Đàm thoại về đặc điểm cách
vận hành các loại đồ dùng đó. Tìm những đồ dùng đó trong các hình có sẳn trong rổ. GD trẻ
không được tự ý cắm điện, không chọc tay vào ổ điện, không được đứng dưới cột điện khi
trời mưa.
Tiếp theo, cho trẻ xem đoạn clip về tiết kiệm điện. Đàm thoại nội dung đoạn phim. GD
trẻ khi không sử dụng điện phải biết tiết kiệm: ra khỏi phòng tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi đi
ngủ hoặc không xem nữa.
- HĐ 2: cho trẻ kết nhóm, mỗi nhóm một bức tranh, đánh dấu vào những hành động
đúng trong sử dụng tiết kiệm điện, trẻ tự kiểm tra.
Qua mục đích yêu cầu của 2 giờ học chúng ta thấy rằng nội GD nhận thức được đưa ra
một cách đầy đủ từ nhận thức về đặc điểm của đối tượng: đồ dùng điện, các loại nước đến
lợi ích, công dụng. Bên cạnh đó, yêu cầu hình thành kỹ năng cũng được quan tâm như GD
trẻ biết sử dụng nước sạch, biết tiết kiệm nước và biết bảo vệ nguồn nước của mình, GD trẻ
biết sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng điện. Song việc hình thành kỹ năng này chỉ
qua lời nói như là “dặn dò” của GV đối với trẻ chứ chưa có thực hành cụ thể nào.
Đáng quan tâm trong mục đích yêu cầu này là chưa thấy đưa ra nội dung GD thái độ
cho trẻ. Đó là thái độ (tự giác, vui thích...) khi sử dụng nước, điện một cách tiết kiệm. Vì
57
nhận thức, kỹ năng trẻ có thể lĩnh hội được, làm được nhưng thái độ, tình cảm đối với việc
tiết kiệm không có thì trẻ không hứng thú, không thích từ đó trẻ sẽ làm theo ý của mình khi
không có ai “canh chừng”. Như vậy, nhận thức hành vi đó sẽ không bền vững.
Về biện pháp tổ chức của chuyên đề. Nổi bật ở 2 giờ học của chuyên đề là biện pháp
dùng trực quan: hình ảnh trên file trình chiếu, đoạn clip, hình ảnh bài tập cho trẻ. Theo sau
đó là biện pháp đàm thoại với trẻ về nội dung của các giáo cụ trực quan trên. Theo quan sát,
thì trẻ hứng thú theo dõi các đoạn clip. Tuy nhiên hạn chế do màn hình tivi và máy laptop
nhỏ và bố trí cao, xa tầm mắt nên trẻ khó xem, chen nhau, một số trẻ không chú ý vì không
được nhìn thấy.
Bên cạnh đó, GV sử dụng bài vè với nhịp điệu nhanh, vui tươi, trẻ hứng thú đọc làm
sinh động giờ học. Ở hai biện pháp này trẻ ngồi một chỗ là nhiều, chưa được di chuyển, vận
động.
Dùng bài tập làm theo nhóm là biện pháp GD trẻ biết phối hợp để thực hiện nhiệm vụ
được giao. Biện pháp này trẻ được thực hành trên giấy, qua những hình ảnh đúng, sai trong
việc sử dụng điện, nước.
Sau khi dự chuyên đề, một số trường đã nhận định: “Từ đề tài khó chuyển tải, cô đã
nhẹ nhàng tích hợp vào câu chuyện, tiết dạy một cách hiệu quả. Tôi rất thích HĐ này”. Như
vậy, chuyên đề đã giúp GV nắm được việc thực hiện nhiệm vụ GD này qua ý kiến phản hồi
trên. Đây là mặt ưu của chuyên đề này.
Tiếp sau đó, chuyên viên Phòng GD, tổ MN cũng đã triển khai thực hiện nội dung GD
này căn cứ vào một số văn bản pháp lý về tiết kiệm năng lượng. Triển khai ở bậc học MN
thực hiện GD theo quan điểm tích hợp vào các chủ đề, không tổ chức riêng biệt làm nặng
thêm chương trình. Sử dụng các biện pháp như trực quan, đàm thoại, làm mẫu, người lớn
gương mẫu, thí nghiệm, thực hành.... Thực hiện GD vào các thời điểm trong chế độ sinh
hoạt ở trường MN. Đồng thời phối hợp với PH trong thực hiện nhiệm vụ này.
Như thế, qua việc tổ chức chuyên đề GD trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả của quận Bình Tân, tổ MN đã triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Phòng MN – Sở
Giáo dục và Đào tạo TPHCM về biện pháp, hình thức, quan điểm thực hiện rất cụ thể. Tuy
nhiên, tổ chức HĐ lại chú trọng vào giờ học, chưa tổ chức nội dung này vào các giờ khác
trong chế độ sinh hoạt. Mặt khác, chưa quan tâm đến việc GD thái độ cho trẻ trong nhiệm
vụ GD này, nghĩa là chưa có sự tác động GD đồng bộ cho trẻ, mặc dù văn bản triển khai có
đề cập đến vấn đề này.
58
Tiểu kết chương 2
Qua nghiên cứu thực trạng việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả, có thể rút ra một số ý như sau:
- Phần đông người lớn xung quanh trẻ (CBQL, GVMN và PH) nhận thức được ý
nghĩa tiết kiệm năng lượng hướng đến mục tiêu thiết thực trong đời sống và hướng đến việc
làm gương cho trẻ nhiều hơn là hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường. Chính vì thế mà
nhận thức về cách tiết kiệm năng lượng cũng chưa thành thói quen và cũng chưa có sự
chuẩn bị sẵn sàng trang bị những điều kiện về vật chất và con người cho việc này.
- Việc chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD cho trẻ gặp khó khăn, do: quan
niệm của người lớn “trẻ còn rất nhỏ, khó GD năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, PH và GV
bận rộn công việc nên thiếu thời gian dành cho việc GD trẻ hàng ngày, cũng là do sự rời rạc
chưa thống nhất trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình.
Do đó có thể kết luận rằng hiệu quả GD này chưa cao, kỹ năng của trẻ còn ở mức độ
thấp.
- Về hình thức tổ chức GD: phần lớn nhà GD và nhà quản lý chỉ mới chú trọng vào giờ
học, chưa khai thác hình thức ngoài giờ học (GD trong sinh hoạt, phối hợp với GD gia
đình). Do vậy, chỉ mới GD nhận thức và một số kỹ năng sử dụng năng lượng đúng, chưa thể
giúp trẻ chuyển thành thái độ. Trong vài giờ học, cũng như điều kiện sinh hoạt ở lớp/ trường
MN thì trẻ cũng chỉ tập được vài kỹ năng.
- Việc trang bị những điều kiện thuận lợi cho việc GD này chưa có: cơ sở vật chất,
giáo cụ dạy học, tấm gương của người lớn, sự phối hợp giữa GV và PH.
59
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU
QUẢ
3.1. Đề xuất chương trình thực nghiệm GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả
3.1.1. Mục đích GD thực nghiệm
Nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng
năng lượng, tiết kiệm hiệu quả trong trường MN và kiểm nghiệm hiệu quả của những biện
pháp này.
3.1.2. Cơ sở thiết kế chương trình thực nghiệm
Việc tìm ra một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng tiết kiệm, hiệu quả được
xây dựng trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
- Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (ý
nghĩa – các nhiệm vụ GD - nội dung GD - kinh nghiệm về phương pháp GD ở các nền GD
tiên tiến).
- Thực trạng sử dụng biện pháp GD của CBQL, GVMN và PH trong việc thực hiện nội
dung GD này.
- Thực trạng kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của trẻ 5-6 tuổi.
- Thực trạng tác động đồng bộ GD nhận thức, thái độ và hành vi cho trẻ.
- Quan điểm đổi mới trong GD nói chung và GDMN nói riêng. Từ những năn 90 của
thế kỷ XX, bậc học MN Việt Nam đã tiến hành đổi mới GDMN theo hướng tích hợp theo
chủ đề. Quan điểm này hướng đến việc:
+ Tăng cường cho trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng các hành động trên đối
tượng cụ thể, trên cơ sở đó chuyển dần sang giải quyết vấn đề trên tranh ảnh và giải quyết
tình huống qua lời mô tả sự kiện, hiện tượng.
+ Quan tâm đến đặc điểm cá nhân của trẻ, cá biệt hóa trong công tác GD trẻ ở trường
MN.
+ Vận dụng các hình thức tổ chức HĐ GD linh hoạt và mềm dẻo phù hợp với khả năng
thực tế của trẻ.
+ Tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, được hoạt động và lĩnh hội theo
nhiều cách, đặc biệt lưu ý đến trẻ học như thế nào hơn là trẻ học cái gì. Không tách rời giữa
60
học và chơi, khuyến khích GV sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau, phát huy
tính tích cực của trẻ [10].
- Các điều kiện thực tế thuận lợi cho việc GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả ở trường MN.
3.1.3. Đối tượng tham gia chương trình GD thực nghiệm
- 2 GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi và 40 trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN Hoa Hồng, quận
Bình Tân, TP HCM.
3.1.4. Nhiệm vụ chương trình GD thực nghiệm
- GD trẻ nhận thức được ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng (điện, nước) tiết kiệm,
hiệu quả.
- Hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ.
- GD trẻ thái độ tự giác khi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
- Trong đó, nhiệm vụ GD nhận thức và thái độ làm nền tảng cho việc hình thành kỹ
năng. Vì nếu chỉ dạy kỹ năng thì khó GD được ý thức, sự tự giác của trẻ, kết quả GD kỹ
năng sẽ không bền vững.
3.1.5. Nội dung chương trình GD thực nghiệm
Các nhiệm vụ của chương trình thực nghiệm (nêu trên) được cụ thể hóa thành hệ thống
nội dung sau đây:
Hiểu biết về năng lượng
Năng lượng bao gồm: điện, nhiên liệu (xăng, dầu, rơm, rạ, gas, củi, than), năng lượng
mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước.
Điện là một dạng của năng lượng. Điện được tạo ra từ các nhà máy điện như nhà máy
thủy điện, nhà máy nhiệt điện…
Làm thế nào điện đến được các nhà? (Từ nhà máy điện, điện được dẫn theo đường
điện cao thế đến các trạm điện, rồi theo các dây điện, điện được dẫn đến các nhà).
Lợi ích của năng lượng
Lợi ích của điện:
Giúp cho bóng đèn sáng – cung cấp ánh sáng.
Giúp cho quạt, máy điều hòa hoạt động – làm mát hoặc làm ấm nhà ở.
Giúp cho tivi, đài hoạt động để bé và mọi người có thể nghe đài, xem tivi.
Giúp cho máy vi tính hoạt động để cha mẹ, cô giáo làm việc, bé chơi trò chơi trên
máy vi tính.
Giúp cho tủ lạnh hoạt động bảo quản thức ăn không bị ôi thiu.
61
Điện dùng để nấu chín cơm (nồi cơm điện), nấu chín thức ăn (bếp điện), đun nước sôi
(ấm điện), …
Lợi ích của nhiên liệu:
Xăng dầu giúp cho các phương tiện giao thông như xe máy, xe ôtô, tàu hỏa,… di
chuyển.
Xăng dầu giúp cho thuyền, tàu thủy hoạt động trên sông để vận chuyển người và hàng
hóa, giúp ngư dân ra biển đánh bắt tôm cá.
Rơm, rạ, củi, than, gas, dầu hỏa có thể làm chất đốt để nấu chín thức ăn.
Lợi ích của năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước).
Đây là những dạng năng lượng sạch không làm hại đến môi trường như những nguồn năng
lượng khác (than, dầu hỏa, khí gas tự nhiên). Nguồn năng lượng sạch có rất nhiều, không
bao giờ cạn kiệt.
Năng lượng mặt trời: mặt trời là nguồn năng lượng, chúng ta có thể lắp đặt những tấm
thu nạp ánh nắng mặt trời để tạo ra điện sử dụng trong nhà, làm khô quần áo thay cho việc
sấy khô hoặc là quần áo, nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm cho cây cối phát
triển, làm cho ô tô chuyển động bằng cách lắp đặt tấm pin mặt trời trên nóc ôtô để tạo ra
điện.
Năng lượng gió: những chiếc tua bin khổng lồ có thể sử dụng năng lượng gió tạo ra
điện. Thuyền buồm chạy được trên sông trên biển nhờ vào sức gió. Chúng ta nhờ sức gió để
thả diều bay trên bầu trời.
Năng lượng nước: con người sử dụng sức nước để giã gạo và cắt gỗ, đặc biệt sử dụng
sức nước để tạo ra điện.
Tiết kiệm năng lượng
Tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Với trẻ MN,
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở trường và ở gia đình là thực hiện những hành việc
phù hợp với khả năng, độ tuổi của mình cụ thể như sau:
Trẻ không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa, máy sưởi đang bật. Biết tắt đèn, tắt
quạt khi ra khỏi phòng. Không được mở cửa tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa
tủ khi không có nhu cầu dùng đến. Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy
tính khi không sử dụng.
Bên cạnh đó trẻ cần biết thực hiện việc đảm bảo an toàn cho mình trong sử dụng điện.
Trẻ luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. Không bao giờ tự
62
cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất.
Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt. Khi ngửi thấy mùi
khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.
Thông qua việc làm trên hình thành hành vi, thái độ tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Trẻ
chú ý quan sát và bắt chước những việc làm của người lớn: khi ra khỏi phòng thì phải tắt
điện (tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi không dùng). Có thái độ không đồng tình với những người
không có ý thức tiết kiệm năng lượng. Nhận ra người nào sử dụng năng lượng tiết kiệm,
người nào sử dụng không tiết kiệm.
Nội dung GD thực nghiệm này được triển khai dưới nhiều hình thức tổ chức GD
3:
(nghĩa rộng) 2F
- Các giờ học (2 giờ): HĐ theo chủ đề, phối hợp nhiều dạng HĐ (nhận biết, khám phá,
làm logo, bảng cổ động, thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường và
phối hợp phụ huynh để trẻ được liên tục thực hiện tại nhà...).
- HĐ chơi: mang tính tích hợp cao trong GD trẻ (HĐ chơi được tổ chức sao cho đảm
bảo hứng thú, nhu cầu và ý tưởng chơi từ trẻ). Nội dung lồng ghép GD trẻ sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả được GV khơi gợi từ trước, đặc biệt sau các giờ học về vấn đề
này và trước giờ trả trẻ (dặn dò về nhà thực hiện và trải nghiệm) để trẻ có tâm thế và năng
lực chơi mà không bị gò ép, bắt buộc ngay trước hay trong giờ chơi.
- HĐ GD trong sinh hoạt
* Trò chuyện sáng và sinh hoạt chiều.
* Đọc thơ, vè, nghe kể chuyện.
* Làm vệ sinh cá nhân.
- Lễ hội
- Đóng kịch về tiết kiệm năng lượng
- Công tác phối hợp với PH (vào các giờ đón trả trẻ, các buổi họp PH, thông qua bảng
tuyên truyền, tư vấn).
3.1.6. Phương pháp GD thực nghiệm
Trong các HĐ đều kết hợp vận dụng nhiều biện pháp. Đặc biệt khai thác nhóm biện
pháp thực hành (tạo cơ hội thử - sai và kết hợp giải thích ý nghĩa hành vi, tạo ra các qui
3 Xem phụ lục 4.
trình thao tác và lập sơ đồ cho trẻ từng bước tập kỹ năng), làm mẫu trên giờ học, tác động
63
bằng tình cảm và khích lệ, nhắc nhở uốn nắn hành vi của trẻ trong đời sống hàng ngày (ở
trường và ở nhà), nêu gương - đánh giá hành vi.
Hình thức tổ chức: khai thác cả 3 hình thức:
Giờ học, ngoài giờ học.
HĐ trong phòng lớp, tổ chức HĐ ngoài trời.
HĐ cá nhân, nhóm, tập thể.
3.1.7. Thời gian thực nghiệm
Chương trình thiết kế cho 8 tuần (18/3 đến 17/5/2013), được triển khai trên 2 nhóm
thực nghiệm (nhóm thực nghiệm 1 và 2, mỗi nhóm 1 GVMN và 20 cháu 5-6 tuổi).
3.1.8. Cách đánh giá thực nghiệm
Hiệu quả chương trình thực nghiệm được đánh giá qua quan sát, trò chuyện với trẻ, ghi
chép, lập phiếu đánh giá theo tiêu chí. Có 3 tiêu chí, trong mỗi tiêu chí có các mức độ biểu
hiện. Mức độ thấp 0 điểm, mức độ TB 1 điểm, mức độ cao 2 điểm. Điểm đánh giá xếp loại
tiêu chí là tổng điểm các biểu hiện.
a) Tiêu chí về mặt nhận thức
- Mức độ thấp (0 điểm): Trẻ không biết ý nghĩa của việc tiết kiệm.
- Mức độ TB (1 điểm): Trẻ biết tiết kiệm nước, điện, xăng dầu là tiết kiệm tiền.
- Mức độ cao (2 điểm): Trẻ biết tiết kiệm năng lượng là bảo vệ môi trường.
- Phương tiện đánh giá: trò chuyện, đặt câu hỏi với trẻ: Tại sao mình phải tiết kiệm
nước (điện, xăng dầu)?
b) Tiêu chí về mặt thái độ
- Mức độ thấp (từ 1 đến 3 điểm):
+ Trẻ quên không tắt khi không dùng đến.
+ Trẻ thực hiện một cách ép buộc.
+ Không điều chỉnh hành vi mặc dù được người khác nhắc nhở.
+ Thấy người khác làm sai, không dám nhắc nhở.
- Mức độ TB (từ 4 đến 6 điểm):
+ Trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng đợi người khác nhắc nhở.
+ Trẻ không tỏ vẻ vui hay buồn khi thực hiện nhiệm vụ này.
+ Điều chỉnh hành vi nhưng đợi nhắc nhở nhiều lần.
+ Thấy người khác làm sai méc với cô giáo hoặc nói với bạn khác.
- Mức độ cao (từ 7 đến 8 điểm):
64
+ Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc
nhở.
+ Trẻ có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm.
+ Biết điều chỉnh hành vi ngay khi được nhắc nhở.
+ Thấy người khác làm sai nhắc liền với người đó.
- Phương tiện đánh giá: Quan sát trẻ vào giờ giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, tạo tình
huống: người lớn làm sai hoặc bạn làm sai, quan sát cách ứng xử của trẻ.
c) Tiêu chí về mặt hành vi
- Mức độ thấp (từ 1 đến 4 điểm):
+ Trẻ không tắt vòi nước khi không dùng đến.
+ Chưa biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng.
+ Không thực hiện hành động đúng.
+ Thực hiện tiết kiệm bỏ dở nửa chừng (bắt chước bạn hoặc không nhớ)
+ Chưa biết làm gì.
- Mức độ TB (từ 5 đến 7 điểm):
+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến nhưng chưa thường xuyên.
+ Biết tắt đèn, tắt quạt đợi nhắc nhở.
+ Làm đúng, đôi lúc làm sai.
+ Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. Có lúc quên, rồi
nhớ thực hiện tiếp (thực hiện không liên tục).
+ Bắt chước theo bạn.
- Mức độ cao (từ 8 đến 10 điểm):
+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến một cách thường xuyên.
+ Biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng một cách thường xuyên.
+ Thực hiện hành động đúng trong tiết kiệm năng lượng.
+ Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện.
+ Biết đưa ra phương án và thực hiện: kèo rèm, mở cửa...
- Phương tiện đánh giá: Quan sát quá trình trẻ thực hành vào giờ vệ sinh, trước khi ra
sân chơi, tạo tình huống.
- Kết quả thực nghiệm được phân tích, tổng hợp theo tiêu chí đánh giá, xếp loại cho trẻ
cả về định tính và định lượng.
65
+ Về định tính: phân tích, đánh giá kết quả các tư liệu thu thập được dựa vào các
phiếu đánh giá của từng trẻ, các biên bản quan sát quá trình thực nghiệm, các
biên bản ghi chép trao đổi với GV thực nghiệm.
+ Về mặt định lượng: xử lý số liệu với phần mềm SPSS 16. để tính điểm TB (mức
thấp là từ 0 đến 0.5 điểm, mức TB từ 0.6 đến 1.5 điểm, mức cao từ 1.51 đến 2
điểm).
3.2. Tổ chức thực nghiệm
3.2.1. Điều kiện thực nghiệm
Nhóm TN và nhóm nhóm ĐC không có sự khác biệt về số lượng, điều kiện CSGD. Cơ
sở vật chất phòng nhóm, đồ dùng, đồ chơi như nhau.
Trình độ GV ở hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng như nhau: cùng tốt nghiệp
Đại học Sư phạm MN và có thâm niên công tác CS GD trẻ 5-10 năm. GV có ý thức tự giác
thực hiện yêu cầu chuyên môn.
Sự khác biệt giữa nhóm ĐC và nhóm TN:
- Nhóm ĐC: GV tự soạn giáo án, tự chuẩn bị đồ dùng dạy học và tổ chức HĐ với hình
thức, phương pháp, biện pháp bình thường như trước giờ thực hiện.
- Nhóm TN: GV soạn giáo án, lên kế hoạch và tổ chức với hình thức, phương pháp,
biện pháp theo nội dung chương trình TN.
3.2.2. Tiến hành thực nghiệm
3.2.2.1. Tập huấn GV nhóm TN
- Mục đích tập huấn: giúp GV nắm được nội dung và cách thực hiện chương trình TN.
- Hình thức tổ chức việc tập huấn: trao đổi, giảng giải.
- Đối tượng: 2 GV có trình độ ngang nhau (Đại học MN), GV thường (không là GV
giỏi) dạy lớp MG 5-6 tuổi và 40 cháu MG 5-6 tuổi.
- Nội dung: cách soạn giáo án và dạy trong đời sống sinh hoạt.
* Cách soạn giáo án: tập trung phần GD nhận thức và thái độ cho trẻ.
* Dạy trong đời sống sinh hoạt: GV là mẫu cho trẻ trong việc sử dụng tiết kiệm năng
lượng, theo dõi quan sát, nhắc nhở trẻ.
- Trao đổi, thảo luận để thống nhất tiến hành. Cùng với GV thực nghiệm chuẩn bị các
điều kiện, phương tiện cần thiết cho thực nghiệm. Tuy nhiên khuyến khích, ủng hộ sự sáng
tạo của GV nếu sự sáng tạo đó hợp lý, phù hợp với mục đích chung của thực nghiệm.
3.2.2.2. Các bước tiến hành thực nghiệm
Bước 1: Tiến hành đo đầu vào trước TN
66
- Trước khi tiến hành TN, người nghiên cứu tiến hành đo mức độ nhận thức, thái độ và
kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của trẻ ở cả nhóm TN và ĐC bằng việc
quan sát, dùng bài tập, câu hỏi, ghi chép biểu hiện và hành vi của trẻ. Sau đó căn cứ vào các
30
27
26
23
25
22
19
20
17
16
16
15
15
13
15
11
g n ợ ư l ố S
10
7
6
5
2
2
2
1
0
Thấp
Cao
Thấp
Cao
Thấp
Cao
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Nhận thức
Thái độ
Hành vi
TN
ĐC
tiêu chí để đánh giá, xếp loại mức độ.
Biểu đồ 3.1. Mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm
Qua biểu đồ 3.1 cho ta thấy giữa nhóm ĐC và nhóm TN có sự chênh lệch về mức độ
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả nhưng không đáng kể.
Bảng 3.1. Điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
trước thực nghiệm
Mẫu Số lượng Nhận thức Thái độ Hành vi
Nhóm ĐC 40 0.8 0.5 1.2
Nhóm TN 40 0.7 0.5 1.3
Tương tự, bảng 3.1 thể hiện số điểm TB của hai nhóm đạt mức độ TB ở nhận thức và
hành vi, mức độ thấp ở thái độ của trẻ. Tuy có sự chênh lệch nhưng
không nhiều.
Về thái độ ở mức độ thấp bằng nhau (0.5). Điều đáng quan tâm ở đây chính là thái độ
của trẻ. Trong lúc thực hiện trẻ không chú ý đến việc mình đang sử dụng nước mà trẻ nhìn
vào gương, nhìn bạn, nói chuyện, đùa giỡn trong khi để nước chảy. Khi được nhắc nhở thì
67
trẻ có sửa chữa, nhưng làm cho nhanh để đi ra ngoài. Trẻ chưa biết nhắc bạn khi bạn làm
sai.
Về nhận thức ở mức TB, nhóm ĐC nhiều hơn 0.1 so với nhóm TN. Khi được hỏi ý
nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng thì chỉ có 2 trẻ nhóm ĐC và 1 trẻ nhóm TN biết tiết
kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống, 11 trẻ nhóm ĐC và 13 bé nhóm TN không
biết trả lời. Số còn lại đa số trẻ đều nói tiết kiệm điện, nước là để tiết kiệm tiền.
Ngược lại, về hành vi nhóm ĐC ít hơn nhóm TN 0.1 và cả hai nhóm cũng ở mức TB.
Đa số trẻ mở nước to khi rửa tay, rửa mặt và chải răng, để vòi nước chảy khi không dùng
đến, chưa chú ý khi tắt vòi nước, chưa gạt vòi nước tắt hẳn còn để nước chảy rò rỉ. Khi chải
răng có bé dùng ca đựng nước, có trẻ không dùng ca mà trực tiếp trên vòi nước, để vòi nước
chảy khi đang chải răng. Đa số trẻ chưa biết thường xuyên quan sát và có hành vi tận dụng
ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào, làm việc ngoài trời hoặc ra sảnh...
Nước uống: tắt vòi không kỹ, nước còn chảy ra ngoài. Trẻ hứng nước nhiều, uống
không hết đổ ra ngoài.
Nhìn chung, việc chọn nhóm ĐC và TN bước đầu cho thấy hai nhóm tương đương
nhau về mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Bước 2: Tiến hành thực nghiệm
Với nội dung chương trình thực nghiệm GV phân bổ vào 6 tuần kết hợp với nội dung
chương trình CSGD của lớp đang thực hiện. GV tổ chức hai HĐ học để GD nhận thức cho
trẻ. Song song đó, tổ chức các nội dung trò chơi, các nội dung khác vào các giờ sinh hoạt
hằng ngày nhằm củng cố hình thành kỹ năng
cho trẻ.
Bên cạnh đó GV thường xuyên trao đổi, phối hợp với PH để cùng GD trẻ về nội dung
này. Thực hiện bảng tuyên truyền thay đổi nội dung GD này hằng tuần.
Giao nhiệm vụ về nhà cho trẻ về cách sử dụng nước, sử dụng tivi, máy vi tính, đèn
quạt một cách tiết kiệm, hiệu quả.
Bước 3: Tiến hành đo đầu ra sau TN
Sau khi tiến hành TN xong, người nghiên cứu kết hợp với GV đo cuối TN bằng các
tiêu chí như đo đầu vào TN. Chúng tôi tiến hành quan sát, đặt câu hỏi, dùng bài tập và trao
đổi với PH ở cả hai nhóm ĐC và TN. Sau đó căn cứ vào các tiêu chí để đánh giá, xếp loại
mức độ.
3.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
3.3.1. Kết quả trên nhóm ĐC
68
3.3.1.1. Kết quả điểm TB nhóm ĐC
Bảng 3.2. Điểm trung bình nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm
Các mặt Trước TN Sau TN
Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại
Nhận thức 0.8 TB 1.1
Thái độ 0.5 Thấp 1 TB
Hành vi 1.2 TB 1.5
Theo bảng 3.2, ta thấy mặt nhận thức và hành vi của trẻ ở nhóm này đạt ở mức TB cả
trước TN và sau TN. Tuy nhiên, điểm số ở mặt hành vi sau TN là 1.5, nghĩa là cận mức cao
(1.51). Còn mặt thái độ trước TN ở mức độ thấp, sau TN đạt mức TB. Có nghĩa là có sự cải
thiện tốt hơn.
Nhìn chung, mặc dù xếp loại TB nhưng điểm số sau TN cao hơn số điểm trước TN.
Như vậy, hiệu quả tác động ở nhóm này có tiến bộ trong GD trẻ sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả.
3.3.1.2. Kết quả mức độ sử dụng năng lượng trên các mặt nhận thức, thái độ, hành vi
nhóm ĐC
Hiệu quả này được cụ thể ở từng mặt như sau:
Bảng 3.3. Mức độ của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm
Thời điểm Nhận thức Thái độ Hành vi
Thấp TB Cao Thấp TB Cao Thấp TB Cao
Trước TN 11 27 2 23 15 2 7 17 16
Sau TN 5 28 7 8 24 8 0 20 20
Kết quả của bảng 3.3 ta thấy rằng, sau TN số lượng ở mức độ thấp từ nhận thức, thái
độ, hành vi đều giảm. Thay vào đó, ở mức độ TB và cao tăng lên rõ rệt.
3.3.2. Kết quả nhóm TN sau khi tiến hành TN
3.3.2.1. Kết quả điểm TB nhóm TN
69
Bảng 3.4. Điểm trung bình nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm
Các mặt Trước TN Sau TN
Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại
Nhận thức 0.7 TB 1.3 TB
Thái độ 0.5 Thấp 1.4
Hành vi 1.3 TB 1.8 Cao
Bảng số liệu trên thể hiện nổi trội là mặt thái độ sau TN tăng lên xấp xỉ 3 lần trước TN,
từ mức độ thấp lên mức độ TB. Tăng ở mức độ cao tiếp theo là mặt hành vi, sau TN tăng
0.5, từ TB lên mức cao. Về mặt nhận thức mặc dù vẫn đạt mức TB nhưng số điểm chênh
lệch so với trước TN là 0.6. Số điểm tăng này nói lên ý nghĩa hiệu quả tác động của chương
trình TN.
3.3.2.2. Kết quả mức độ sử dụng năng lượng trên các mặt nhận thức, hành vi, thái
độ nhóm TN
Bảng 3.5. Mức độ nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm
Thời điểm Nhận thức Thái độ Hành vi
Thấp TB Cao Thấp TB Cao Thấp TB Cao
Trước TN 13 26 1 22 16 2 6 15 19
Sau TN 0 28 12 0 24 16 0 8 32
So với thời điểm trước TN, sau TN số lượng trẻ ở mức độ thấp đều là 0. Cho thấy sự
chuyển biến của trẻ sau khi được tác động. Đặc biệt hơn là số lượng trẻ đạt mức cao và mức
cao và mức TB tăng lên đáng kể. Cụ thể, nhận thức ở mức độ cao sau TN tăng 11 trẻ so với
trước TN là 1 trẻ. Tương tự mức độ cao về mặt thái độ, hành vi cũng tăng đáng kể. Mức TB
có tăng từ mức độ thấp lên, có giảm vì số giảm đó được nâng lên ở mức độ cao. Như vậy,
kết quả ở nhóm TN sau khi tác động bằng chương trình TN thì số lượng trẻ tập trung ở các
mức độ TB và cao, không còn trẻ ở mức độ thấp.
3.3.3. Kết quả hai nhóm ĐC và TN sau khi tiến hành TN
3.3.3.1. Kết quả điểm TB
70
Bảng 3.6. Điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
sau thực nghiệm
Nhóm ĐC Nhóm TN Các mặt sig Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại
Nhận thức 1.1 TB 1.3 TB 0.03
Thái độ 1.0 TB 1.4 TB 0.00
Hành vi 1.5 TB 1.8 Cao 0.00
Qua bảng điểm TB ta thấy xếp loại ở mức độ cao và TB, không có xếp loại thấp ở cả
hai nhóm. Tuy nhiên điểm số ở nhóm TN cao hơn nhóm ĐC ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ
và hành vi. Đặc biệt, hành vi nhóm TN đạt ở mức độ cao với điểm số 1.8, trong khi mặt
hành vi nhóm ĐC là 1.5 đạt mức TB dù cận mức
cao 1.51.
Bên cạnh đó, kiểm nghiệm t với sig lớn nhất =0.03<0.05 cho thấy sự khác biệt trên là
có ý nghĩa.
3.3.3.2. Kết quả mức độ của nhóm ĐC và TN sau tiến hành TN
Xem biểu đồ 3.2 cho chúng ta thấy rằng, về mặt nhận thức ở mức độ TB cả hai nhóm
đều có số trẻ đạt bằng nhau 28 trẻ, chiếm 70% ở mỗi mẫu nghiên cứu. Đa số các trẻ ở mức
độ này biết ý nghĩa việc tiết kiệm điện, nước, xăng dầu là để tiết kiệm tiền cho cha mẹ, một
số trẻ khi được hỏi còn nói “con phải tiết kiệm nước để bà ngoại dưới quê có nước xài”. Bên
cạnh đó, còn 5/40 trẻ (12.5%) ở nhóm ĐC chưa biết ý nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng.
Những trẻ này thuộc nhóm trẻ thụ động, ít tham gia tích cực các HĐ GV tổ chức. Ở mức
thấp thì nhóm TN không còn trẻ nào. Số trẻ ở nhóm này tập trung vào mức cao là 12 trẻ,
chiếm 30% mẫu TN. Tỉ lệ này cao hơn nhóm ĐC là 12%. Sự khác biệt ở mặt nhận thức giữa
nhóm ĐC và TN có ý nghĩa qua độ chênh lệch điểm TB giữa hai nhóm là 0.1, ứng với
sig=0.03<0.05.
71
35
32
28
28
30
24
24
25
20
20
20
16
15
g n ợ ư l ố S
12
8
8
8
10
7
5
5
0
0
0
0
0
Thấp
TB
Cao
Thấp
TB
Cao
Thấp
TB
Cao
Nhận thức
Thái độ
Hành vi
Nhóm ĐC Nhóm TN
Biểu đồ 3.2. Mức độ của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm
Về mặt thái độ, đa số trẻ sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng
lượng. Dần dần, trẻ tự giác tắt khi không dùng mà không cần người khác nhắc nhở. Ở cả hai
nhóm đều đạt 60% ở mức TB. Tức là trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng có sự nhắc nhở
của cô giáo, của cha mẹ. Nghĩa là bé biết điều chỉnh hành vi khi được nhắc nhở. Vì thế trẻ
không vui cũng không buồn khi thực hiện nhiệm vụ này. Vì bản thân chưa tự tin thực hiện
nhiệm vụ này nên trẻ chưa mạnh dạn nhắc nhở bạn mà chỉ méc với cô giáo hoặc nói với bạn
khác.
Điều quan tâm là số lượng trẻ đạt mức độ cao ở nhóm TN gấp đôi mức này của nhóm
ĐC. Trong khi nhóm ĐC có 8 trẻ (chiếm 20%) thì nhóm TN có đến 16 trẻ (chiếm 40%) mẫu
đạt mức cao. Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc
nhở, có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm, biết điều chỉnh hành vi ngay khi
được nhắc nhở và thấy người khác làm sai thì trẻ biết nhắc nhở họ.
Nhóm ĐC vẫn còn 20% trẻ ở mức độ thấp. Phần lớn các bé này thực hiện việc sử dụng
tiết kiện nước sinh hoạt trong vệ sinh, nước uống hằng ngày theo sở thích, không thể hiện sự
hứng thú, vui thích khi phải mở nước vừa phải, tắt vòi nước trong chi chải răng, hứng nước
uống không mở to...Kết hợp trao đổi với PH thì những bé này ở nhà chưa chú ý đến việc tiết
kiệm trong sử dụng điện: bé tỏ vẻ “quạo” khi mẹ tắt đèn trong phòng khi bé đi lấy nước
uống, bé thích mở tủ lạnh đứng hóng mát, chưa chú ý đóng cửa khi mở máy điều hòa, không
nghe bé nói đến việc tắt máy xe khi dừng đèn đỏ.
Qua quan sát thái độ ở hai nhóm có sự khác nhau rõ rệt.
72
Nhóm ĐC: trẻ thực hiện việc tiết kiệm năng lượng chưa tự giác, hầu như lúc nào trong
ngày khi ra ngoài sân hay trước khi ngủ GV đều phải “ đánh tiếng” nhắc nhở trẻ tắt đèn tắt
quạt. Khi trẻ làm vệ sinh hầu như trẻ nào cô cũng “nhắc chừng” mà chưa quan sát xem trẻ
làm đúng hay chưa, trẻ nào cần quan tâm, trẻ nào cần để bé tự lực. Do đó, nghe GV nói rất
nhiều, tạo cảm giác căng thẳng, ồn ào, gò bó cho cô và trẻ. Chính vì thế, cô như là người
“nhắc tuồng” cho trẻ, trẻ chưa được chủ động làm để thấy mình hay chỗ nào, chỗ nào cần
uốn nắn. Một số trẻ làm qua loa qua, rồi đi ra ngoài, không vui vẻ cũng không có gì hứng
thú. Tuy nhiên, có một trẻ tự mình làm tốt, dù cô nói cô nói, trẻ làm cứ làm. Biết mạnh dạn
nhắc bạn “tắt nước kìa, cô la đó”.
Trong khi đó, ở nhóm TN, trẻ thể hiện sự hứng thú trong việc sử dụng nước. Khi rửa
tay, rửa mặt thay vì hằng ngày bé phải vừa thực hiện thao tác vệ sinh vừa nói qui trình thực
hiện thì hôm nay bé vừa làm vừa đọc “Mở nước nhẹ êm, khi bé rửa tay, nhớ xoay tắt vòi,
khi không dùng đến, nhắc bạn chớ quên, ngay cả chải răng, không để nước văng, tràn lan
tung tóe, tung toé cái mà tung tóe!” Hoặc khi uống nước cũng lẩm nhẩm: khi bé uống nước
cũng phải từ từ, để tránh uống dư lấy vừa lấy đủ, lấy đủ cái mà lấy đủ”. Thấy bạn làm chưa
đúng thì tự nhắc nhau để điều chỉnh. Một số trẻ có vai trò thủ lĩnh nhắc bạn như mình là
người lớn “đã nói mở nước vừa vừa thôi, văng tùm lum kìa hỏng thấy hả ”. Trước khi ra sân
chơi thì các bé tranh nhau tắt đèn, tắt quạt dù đã được phân công nhóm nào trực tuần nào.
Rõ ràng ở hai nhóm thể hiện hai cách GD khác nhau dù chung mục tiêu là GD thái độ
tích cực cho trẻ trong việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng. Có thể nói rằng lựa chọn
phương pháp biện pháp, tạo bầu không khí tâm lý ảnh hưởng rất lớn đến kết quả GD, đặc
biệt là GD về thái độ cho trẻ. Vì khi có cảm xúc, tình cảm, sự thoải mái thì trẻ mới có thể
có hứng thú, động lực trong thái độ của mình.
Như vậy, về mặt thái độ của trẻ trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm thì ở nhóm
TN và nhóm ĐC tuy tương đương nhau ở mức độ TB nhưng mức độ cao ở nhóm TN cao
gấp đôi nhóm kia và không còn số trẻ ở mức độ thấp. Sự khác biệt này có ý nghĩa với sig =
0.00 < 0.05.
73
90
80
80
70
60
50
50
50
m ă r t
40
n ầ h P
30
20
20
10
0
TB
Cao
Nhóm ĐC Nhóm TN
Biểu đồ 3.3. Mức độ hành vi của trẻ sau thực nghiệm
Về mặt hành vi, ở cả hai nhóm đều không có trẻ ở mức độ thấp. Tỉ lệ mức độ cao ở
nhóm TN trội hơn tỉ lệ của nhóm ĐC là 30%. Sự khác biệt này có ý nghĩa với sig = 0.00 <
0.05.
Theo các biểu hiện của tiêu chí đánh giá cũng như qua quan sát, trò chuyện với trẻ và
PH thì các trẻ ở mức độ này thường xuyên “tắt khi không dùng đến” một cách tự giác,
không cần nhắc nhở. Trong quá trình sử dụng trẻ thường hành động đúng, không làm sai:
cháu biết lúc nào mở nước to, mở nước vừa và nhỏ, ở nhà tắt/mở tivi trực tiếp với nút bấm,
“ba tắt bằng remote là tốn điện cho cái đèn nhỏ nhỏ màu đỏ nó sáng”...
Trong lớp MN, công tắc đèn, quạt treo tường thường cao hơn tầm tay của trẻ, đối với
những trẻ không cao hoặc duy dinh dưỡng thấp còi thì rất khó để tắt đèn tắt quạt, trẻ vẫn cố
tìm cách để thực hiện: trẻ thấp vừa vừa thì dùng ghế đứng lên tắt/mở, hoặc nhảy nhảy cố với
tới, có trẻ tìm gậy thể dục làm vật trung gian, có trẻ nhờ bạn tắt. Trường hợp một số vòi
nước bị rò rỉ chưa thay, trẻ tắt hoài mà nước vẫn còn chảy nhỏ nhỏ, có trẻ dùng ca hứng
nước để chải răng, có trẻ loay hoay tắt qua tắt lại nhiều lần thì nước không còn chảy. Nghĩa
là trẻ thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng, dù gặp trở
ngại.
Ở tiêu chí hành vi này, biểu hiện thường xuyên quan sát và có hành vi tận dụng ánh
sáng tự nhiên ở nhóm TN có 19/40 trẻ đạt mức độ cao trong khi nhóm ĐC không có trẻ nào
đạt như vậy, chỉ ở mức thấp (19/40 trẻ) và TB (21/40 trẻ). Một số PH phàn nàn: ở nhà quen
rồi, như quán tính bước vô phòng là mở đèn, mở máy lạnh, nay bé về mở cửa ra hết, kéo
màn luôn, bụi lắm cô ơi!”. Kết quả quan sát ở chương 2 cũng đã thể hiện rõ thực trạng này
74
ở CBQL và GV. Điều này cho thấy, người lớn đã quen với hành động vào phòng là mở đèn,
mở quạt, chưa quan tâm đến không khí, ánh sáng xung quanh nên việc GD trẻ điều này cho
trẻ còn hạn chế. Tuy nhiên, gần 50% trẻ nhóm TN đạt mức độ cao ở biểu hiện này nói riêng
(trẻ biết kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào...) và 80% ở mặt hành vi nói chung đã thể hiện
được sự cố gắng, sự gương mẫu và tâm huyết của GV trong tiến hành tổ chức chương trình
TN. Một GV nhóm TN chia sẻ: lúc mới thực hiện thì thấy nhiều khó khăn, nhưng dần dần
thấy thích. Bây giờ, khi nghe trẻ đọc lẩm bẩm mấy câu vè, hay hát theo lời nhạc tự biên thấy
trong lòng rất vui, ý nghĩa nhất là bản thân trẻ hình thành được thói quen tốt và chính GV
cũng được hoàn thiện mình hơn trong quá trình thực hiện chương trình GD TN”.
Tóm lại, qua kết quả đo được sau khi tiến hành TN ở nhóm ĐC và nhóm TN, chúng
tôi thấy rằng mức độ các mặt nhận thức, thái độ, hành vi kỹ năng của trẻ ở nhóm TN đều
cao hơn so với mức độ của trẻ ở nhóm ĐC, qua sự chênh lệch điểm số TB ở từng mặt cũng
như kiểm nghiệm sự khác biệt này có ý nghĩa với sig đều nhỏ hơn 0.05. Điều này chứng
minh, chương trình TN có hiệu quả trong việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả.
Tiểu kết chương 3
Vấn đề nghiên cứu được giải quyết bằng cách vận dụng phối hợp các nhóm biện
pháp sau đây:
- Tác động nhằm hình thành kiến thức: sử dụng các phương tiện trực quan, lời nói, bài
luyện tập, trò chơi.
- Biện pháp thực hành (trong điều kiện an toàn) nhằm GD kỹ năng.
- Biện pháp phối hợp GD (theo nghĩa rộng) với gia đình.
- Tạo cơ hội cho trẻ được HĐ với sơ đồ (lập sẳn) được làm theo qui trình.
- Biện pháp GD thái độ: làm gương, giải thích ý nghĩa hành vi, khích lệ, nhắc nhở, nêu
gương, đánh giá hành vi.
Kết quả thực nghiệm cho thấy:
1. Về mặt định tính:
• So với thời điểm trước TN, sau TN phần lớn trẻ có sự chuyển biến sau khi được tác
động GD, cả về mặt nhận thức lẫn mặt hành vi và thái độ.
• Đa số trẻ TN biết ý nghĩa việc tiết kiệm điện, nước, xăng dầu. Nhiều nhất là “để tiết
kiệm tiền cho cha mẹ, tránh lãng phí”.
75
• Về mặt thái độ, trẻ tiến bộ rõ rệt- từ tình trạng “đa số trẻ sẵn sàng điều chỉnh hành vi
chưa đúng để tiết kiệm năng lượng” tiến lên tình trạng “trẻ tự giác tắt khi không dùng mà
không cần người khác nhắc nhở”. Có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm, thấy
người khác làm sai thì trẻ biết nhắc nhở họ.
• Việc lựa chọn hợp lý các nhóm biện pháp, tạo bầu không khí tâm lý ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả GD, đặc biệt là GD về thái độ cho trẻ.
• Mức độ đạt các mặt nhận thức, thái độ, hành vi kỹ năng của trẻ ở nhóm TN đều cao
hơn so với mức độ của trẻ ở nhóm ĐC.
• Nhóm trẻ TN đạt tất cả các tiêu chí đánh giá.
Như vậy, các biện pháp GD được chọn và triển khai trong đề tài là hiệu quả.
2. Về mặt định lượng:
Ở nhóm ĐC do vẫn thực hiện GD trẻ nội dung tiết kiệm năng lượng theo nội dung,
biện pháp và hình thức hàng ngày GV vẫn tổ chức (còn nhiều hạn chế) nên hiệu quả của
việc GD này trên trẻ có sự biến đổi chưa đáng kể. Cụ thể: trước và sau thời điểm tiến hành
TN, điểm TB chệnh lệch lần lượt vể nhận thức, thái độ, hành vi là 0.3, 0.5 và 0,3.
Trong khi đó, ở nhóm TN, tiến hành GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
theo kế hoạch của chương trình GD TN thì kết quả cho sự biến đội rõ rệt hơn. Đó là số điểm
TB về nhận thức, thái độ, hành vi có sự chênh lệch cao hơn so với nhóm ĐC lần lượt là 0.6,
0.9, 0.5.
Kết quả sự khác biệt này có ý nghĩa với kiểm nghiệm t, sig<0.05.
Như vậy, chứng tỏ chương trình GD TN có hiệu quả trong việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM
1. Kết luận
GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nội dung GD bảo vệ
môi trường cho trẻ MN. Nội dung GD này được lồng ghép vào nội dung chương trình CS
GD trẻ. Việc lựa chọn nội dung để GD cho trẻ trong lĩnh vực này cần xuất phát từ thực tế
của trẻ, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, hướng tới việc hình thành ý thức và kỹ
năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Đặc biệt, đối với trẻ MG 5-6 tuổi là lứa tuổi
tiền học đường, việc lĩnh hội nội dung GD này rất có ý nghĩa cho trẻ, vì những gì hình thành
ở giai đoạn này mang tính bền vững hơn.
Dựa vào kết quả nghiên cứu trên của đề tài, chúng tôi đưa ra một vài kết luận như sau:
1.1. Về kết quả nghiên cứu lý luận
- Đề tài đưa ra một số vấn đề chung về GD tiết kiệm năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Những cơ sở lý luận về biện pháp cũng như điều kiện để GD nhận thức, thái độ và hình
thành kỹ năng về nội dung GD này cho trẻ. Đúc kết kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ
em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả
GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
1.2. Về kết quả nghiên cứu thực trạng
- Phần đông người lớn xung quanh trẻ (CBQL, GVMN và PH) nhận thức được ý
nghĩa tiết kiệm năng lượng hướng đến mục tiêu thiết thực trong đời sống và hướng đến việc
làm gương cho trẻ nhiều hơn là hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường. Chính vì thế mà
nhận thức về cách tiết kiệm năng lượng cũng chưa thành thói quen và cũng chưa có sự
chuẩn bị sẵn sàng trang bị những điều kiện về vật chất và con người cho việc này.
- Việc chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD cho trẻ gặp khó khăn, do: quan
niệm của người lớn “trẻ còn rất nhỏ, khó GD năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, PH và GV
bận rộn công việc nên thiếu thời gian dành cho việc GD trẻ hàng ngày, cũng là do sự rời rạc
chưa thống nhất trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình.
Chính vì thế, có thể kết luận rằng hiệu quả GD này chưa cao, kỹ năng của trẻ còn ở
mức độ thấp.
- Về hình thức tổ chức GD: phần lớn nhà GD và nhà quản lý chỉ mới chú trọng vào giờ
học, chưa khai thác hình thức ngoài giờ học (GD trong sinh hoạt, phối hợp với GD gia
đình). Do vậy, chỉ mới GD nhận thức và một số kỹ năng sử dụng năng lượng đúng, chưa
77
thể giúp trẻ chuyển thành thái độ. Trong vài giờ học, cũng như điều kiện sinh hoạt ở lớp/
trường MN thì trẻ cũng chỉ tập được vài kỹ năng.
- Việc trang bị những điều kiện thuận lợi cho việc GD này chưa có: cơ sở vật chất,
giáo cụ dạy học, tấm gương của người lớn, sự phối hợp giữa GV và PH.
1.3. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của để tài, chúng tôi đề ra chương
trình TN với các biện pháp GD như sau
Nội dung GD được tổ chức triển khai theo hướng tích hợp (tích hợp chương trình GD
thực nghiệm với chương trình CSGD trẻ hiện hành) và dạy học theo chủ đề. Ngoài ra,
hướng tiếp cận GD “học mà chơi, chơi mà học” cũng được đảm bảo.
Những biện pháp GD (nghĩa rộng) trong chương trình sau đây đã được vận dụng thực
nghiệm:
a. Tác động nhằm hình thành kiến thức: sử dụng các phương tiện trực quan, lời nói, bài
luyện tập, trò chơi.
b. Biện pháp thực hành nhằm GD kỹ năng: trẻ được tổ chức thực hành hằng ngày cách
sử dụng đồ vật (vòi nước, công tắc điện...) và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong
điều kiện an toàn ở trường và ở nhà. Đặc biệt khai thác thực nghiệm của trẻ nhằm tạo ra
nhiều cơ hội cho trẻ được quan sát, phân tích, so sánh, thử-sai (trong điều kiện an toàn).
c. Biện pháp phối hợp GD (theo nghĩa rộng) với gia đình: tư vấn PH, trao đổi hằng
ngày, nhắc nhở, theo dõi khả năng của trẻ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, cập
nhật bảng tin tuyên truyền đến PH.
d. Tạo cơ hội cho trẻ được HĐ với sơ đồ (lập sẳn) được làm theo qui trình.
e. Biện pháp GD thái độ: làm gương, giải thích ý nghĩa hành vi, khích lệ, nhắc nhở,
nêu gương, đánh giá hành vi.
Các biện pháp trên được tổ chức vận dụng dưới đa dạng hình thức: giờ học, giờ chơi,
giờ ăn, giờ ngủ, HĐ ngoài trời, trò chuyện sáng, sinh hoạt chiều...
Các biện pháp trên được tiến hành TN và mang lại những kết quả khả quan trong việc
GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Kết quả này phù hợp với giả
thuyết khoa học mà chúng tôi đặt ra.
2. Kiến nghị sư phạm
2.1. Đối với GV
78
- GV là người trực tiếp thực hiện nội dung GD này nên cần nắm rõ về nội dung,
phương pháp cũng như hình thức tổ chức. Đồng thời cần hiểu rõ về đặc điểm phát triển tâm
sinh lý của trẻ để lựa chọn tác động phù hợp.
- Bản thân GV phải tích cực tìm hiểu, sưu tầm những tư liệu, hình ảnh, đồ dùng dạy
học khi có triển khai nội dung GD mới để có thể chủ động trong CS
GD trẻ.
- Tham gia các lớp bồi dưỡng để tiếp cận những nội dung GD mới cũng như hướng đổi
mới của Ngành.
- Khắc phục tâm lý ngại khó, ngại nhiều trong thực hiện chương trình CS GD trẻ MG
5- 6 tuổi, nhất là giai đoạn hiện nay với tích hợp nhiều nội dung mang tính cấp bách như
ứng phó giảm nhẹ thiên tai, tình yêu quê hương biển đảo...
- Đối với trẻ, cô là hình tượng, là chuẩn trong hành vi, thái độ ứng xử nên mỗi GV cần
rèn luyện, thực hiện hành vi đúng, khả năng kềm chế để làm gương cho trẻ trong sinh hoạt
hằng ngày.
2.2. Đối với CBQL trường MN
- Triển khai kịp thời nội dung GD mới. Đồng thời trang bị những điều kiện tối thiểu
cho nội dung GD này.
- Bản thân CBQL cũng là tấm gương về lối sống cho tập thể nhà trường, trong đó có
trẻ. Do đó, CBQL cần thực hiện sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm,
hiệu quả.
- Xây dựng chế độ kiểm tra, thưởng phạt hợp lý nhằm khuyến khích tinh thần làm việc
của mọi người trong nhiệm vụ GD này.
- Trong công tác kiểm tra, dự giờ cần góp ý trên tinh thần xây dựng.
- Xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh giúp tập thể giảm áp lực trong công tác.
- Tạo điều kiện cho GV dự giờ, học tập việc thực hiện nội dung GD mới một cách kịp
thời.
2.3. Đối với Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo
- Cập nhật, giới thiệu hoặc cung cấp nguồn tài liệu cho nội dung mới một cách kịp
thời.
- Cần xem xét khi triển khai nội dung GD mới, vì nội dung chương trình GD MN hiện
nay có quá nhiều, nhất là dành cho trẻ MG 5-6 tuổi. Dễ tạo áp lực cho trường, cho GV.
Chưa kể làm cho chương trình mang tính phong trào, không hiệu quả.
2.4. Các lực lượng khác
79
- Cần tuyên truyền nâng cao ý thức của mọi người về sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả.
- Cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc thực hiện nội dung GD
này cho trẻ. Vì sự thống nhất về nhận thức, thái độ, hành vi trong việc tiết kiệm năng lượng
của gia đình và nhà trường là tiền đề vững chắc để hình thành cho trẻ thói quen tốt.
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Tổ chức thực hiện nội dung GD sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả trong trường MN, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Hướng dẫn GD trẻ MN sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả tại gia đình, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Giáo dục gia đình, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Thị Sinh (2004), GD học Mầm non, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
6. Chính phủ (số 102/2003/NĐ-CP/2003), Nghị định Về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả.
7. A.V.Da-Pa-Rô-Giét (1977), Tâm lý học tập 2, Phạm Minh Hạc lược dịch,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình GD học mầm non, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
9. Trần Thị Thu Hòa (2008), Giúp bé bảo vệ môi trường tập 2, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
10. Lê Xuân Hồng, Nguyễn Thanh Thủy (2007), Sổ tay GVMN Những hoạt động
giáo dục trẻ bảo vệ môi trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
11. Lê Thị Huệ, Trần Thị Hương, Phạm Thị Tâm (2011), Thiết kế các hoạt động có chủ
đích, hoạt động góc và hoạt động ngoài trời cho trẻ 5-6 tuổi chủ đề Thế giới thực
vật, các hiện tượng tự nhiên, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
12. Trần Lan Hương (2008), Sổ tay GVMN Hỏi đáp về giáo dục bảo vệ môi trường trong
trường mầm non, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
13. Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị Thanh (2011), Hướng dẫn thực
hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
14. Lê Thu Hương, Lương Thị Bình, Phan Lan Anh (2008), Tổ chức hoạt động GD tình
cảm xã hội cho trẻ MN theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
15. T.A.Ilina (1978), Giáo dục học tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
81
16. Vũ Thị Ngân (1996), Các vấn đề chung về giáo dục học mầm non, trường Cao đẳng Sư
phạm Mẫu giáo Trung ương 3.
17. Nhiều tác giả (2008), Thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề môi trường,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Nhiều tác giả (2008), Thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề nước và các
hiện tượng tự nhiên, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
19. Hoàng Thị Phương (2011), Giáo trình Giáo dục Môi trường cho trẻ MN, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
20. Kim Phụng (2013), Tiết kiệm nước, Nxb Văn hóa Thông tin.
21. Nguyễn Thị Phú Quý (2012), Khảo sát sự phát triển nhận thức cuả trẻ 3-4 tuổi ở một số
trường mầm non tại Tp. HCM, Luận văn cao học Tâm lý học, trường Đại học Sư
phạm Tp. HCM.
22. Quốc Hội (2010), Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; luật số
50/2010/QH12, ngày 17/6/2010.
23. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2005), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Hà
Nội.
24. Sở Giáo dục và Đào tạo Tp. HCM (số 1171/KH-GDĐT-MN/2012), “Tập huấn Phương
pháp tích hợp nội dung GD năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG”, Công văn.
25. Huỳnh Văn Sơn và Lê Thị Hân (2012), Giáo trình tâm lý học đại cương, Nxb Đại học
Sư phạm Tp. HCM.
26. Thủ tướng Chính phủ (số 79/2006/QĐ-TTg/2006), “Phê duyệt Chương trình mục tiêu
quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả”, Công văn.
27. Trần Thị Trọng, Phạm Thị Sửu (2000), Tuyển tập trò chơi, bài hát, thơ truyện mẫu giáo
5-6 tuổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
28. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Từ
điển Bách khoa.
29. Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân số và môi trường (1998), Tài liệu hướng dẫn về
giáo dục môi trường ở mẫu giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
30. Nguyễn Quang Uẩn (2010), “Một số vấn đề lý luận về kỹ năng sống”, Tuyển tập
nghiên cứu về tâm lý – giáo dục, 308.
31. Nguyễn Quang Uẩn (2001), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội.
82
32. Đinh Văn Vang (2008), Giáo trình Giáo dục học Mầm non, Nxb Giáo dục,
Hà Nội .
33. Viện chiến lược và Chương trình Giáo dục (2008), Tổ chức hoạt động nhận thức cho
trẻ Mầm non theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
34. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin.
Tiếng Anh
35. Dictionary.reference.com/browse.
36. O.A. Frolova (1981), Sensornoe vocpitanhie v detskom sadu, Prosveshenhie.
37. Sophie Hebden (2006-06-22), "Invest in clean technology says IEA report",
Scidev.net. Retrieved 2010-07-16.
38. E.X. Komarova (1973), Vocbitanhie samastoiatennosti I aktivnostiu deteido
schoolnovo vozpacta, Tezicu dokladov k Konferensii 6/6/1973, Moskva.
39. Diesendorf, Mark (2007), Greenhouse Solutions with Sustainable Energy,
UNSW Press, p. 86.
40. N.N.Poddiakov (1977), Mushlenie doschoolnika (Bản tiếng Nga), Moskva
Proshveshenie, p.147-149.
41. Unabridged Based on the Random House Dictionary, © Random House,
Inc, 2013.
42. “Random House unabridged Dictionairy”, Random House, 2006.
43. Dietz, T. et al (2009), Household actions can provide a behavioral wedge to rapidly
reduce U.S. carbon emissions, PNAS. 106(44).
44. Wikipedia
45. www.ask.com
46. www.bgs.ac.uk
47. "Wireless smart meter by ecowizard", Ecowizard.net, Retrieved 2010-07-16
48. http://www.britishgas.co.uk/energy-efficiency/smart-meters.html
49. http://www.indiaparenting.com/raising-children/253_3470/environmental-tips-for-
kids.html.
50. http://www.kids.esdb.bg/efficiency.html
51. https://littlekidsubs.nationalgeographic.com
52. http://k12e3.org/kids_grades_k-2.php
53. http://m.facebook.com/note.php?note_id=140877766019919.
83
54. http://en.wikipedia.org/wiki/Energy_conservation
55. http://www.academia.edu/838612/Unintended_Consequences_of_Green_Technologies.
84
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Phiếu thăm dò ý kiến.
Phụ lục 2 : Kết quả thống kê SPSS.
Phụ lục 3 : Hồ sơ triển khai chuyên đề cấp Quận của Tổ mầm non.
Phụ lục 4 : Chi tiết các hoạt động chương trình thực nghiệm.
Phụ lục 5 : Phiếu đánh giá mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Phụ lục 6 : Hình ảnh.
Phụ lục 1
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN (Dành cho CBQL, GVMN, PH)
85
Lời ngỏ:
Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Chúng tôi cần thu thập ý kiến từ phía giáo viên mầm non dạy trẻ 5-6 tuổi. Những ý kiến sát thực tế và thể hiện quan điểm của bạn sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy cho đề tài này. Trân trọng cám ơn. A. Thông tin cá nhân - Nơi công tác: ...................................................................................................................... - Trình độ chuyên môn: Trung cấp SPMN Cao đẳng SPMN Đại học SPMN - Thâm niên công tác: Dưới 5 năm Từ 5 năm đến 10 năm Trên 10 năm B. Nội dung câu hỏi Vui lòng đánh dấu X vào 01 câu trả lời phù hợp với quan điểm của bạn nhất. 1. Theo bạn, hành vi nào dưới đây là hợp lý: a) Mặc dù không cần sử dụng điện liên tục thì cũng không tắt/mở công tắc điện nhiều lần trong
ngày (vì dễ làm hư hỏng công tắc).
b) Thay thế bếp điện bằng bếp ga hoặc bếp dầu (nếu thu nhập thấp). c) Tắt công tắc điện khi không cần sử dụng. 2. Theo bạn, thông thường chúng ta tiết kiệm năng lượng là vì: a) Để giảm khí thải. b) Giảm được một khoản chi phí sinh hoạt. c) Tập được thói quen tốt, để làm gương cho trẻ em. d) Đây là chủ trương của Nhà nước, mỗi người dân đều phải thực hiện. 3. Cho đến nay, bạn có cập nhật thông tin về việc giáo dục trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả chưa? a) Có, do tôi quan tâm vấn đề này để đón đầu đổi mới. b) Có, do tôi đang thực hiện việc giáo dục này cho trẻ. c) Có, nhưng chỉ xem qua vì tò mò. d) Có nghe nói đến, nhưng chưa có thời gian cập nhật thông tin về vấn đề này. 4. Ở cơ quan, bạn có thói quen “tắt khi không cần dùng” trong việc sử dụng điện, nước không? a) Có, luôn luôn. b) Có, nhưng chưa thường xuyên. c) Chưa tập thói quen này. 5. Theo bạn, cách sử dụng điện nào dưới đây được xem là không hợp lý (chưa hiệu quả)? a) Cúp cầu dao điện khi ra khỏi nhà. b) Không mở cửa tủ lạnh trong khoảng thời gian dài c) Tắt tivi bằng remote. Bạn hãy lý giải vì sao chọn phương án đó: .................................................................................................................................................... 6. Cho đến nay, bạn từng được tuyên truyền nội dung nào sau đây trong việc tiết kiệm xăng, dầu? (Bạn có thể chọn một hoặc nhiều phương án): a) Tắt máy xe khi có tín hiệu dừng (đèn đỏ) trên giao thông đường bộ. b) Tắt máy xe khi phải chờ (chờ đón người thân, chờ do kẹt xe,…). c) Chọn con đường ngắn hơn để đi. d) Chưa nghe qua nội dung nào. 7. Bạn có thói quen “tắt khi không cần dùng” trong việc sử dụng xăng, dầu không? a) Có, luôn luôn. b) Có, nhưng chưa thường xuyên. c) Chưa tập thói quen này.
86
8. Bạn có cho rằng giáo dục mầm non có nhiệm vụ giúp trẻ em hiểu: “con người cần tiết kiệm ga và xăng dầu” không? a) Tôi nghĩ rằng đó là một nhiệm vụ giáo dục quan trọng. b) Đó là một nhiệm vụ giáo dục, nhưng không bắt buộc phải thực hiện. c) Đó không phải là một nhiệm vụ giáo dục ở bậc học mầm non. 9. Theo bạn, trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi có cần thiết biết sử dụng nước và điện tiết kiệm, hiệu quả hay không? a) Cần thiết. Vì: ......................................................................................................................... b) Không cần thiết. Vì: .............................................................................................................. c) Ý kiến khác: ......................................................................................................................... 10. Bạn chọn cách giải thích nào sau đây cho trẻ 5- 6 tuổi? a) “Bé phải tiết kiệm vì người lớn muốn như vậy, nếu bé tiết kiệm thì sẽ được khen là bé ngoan”. b) “Bé cần tiết kiệm điện, nước để ba mẹ có thêm tiền để dành; ba mẹ sẽ mua được những thứ có
lợi hơn cho cả nhà …như sách vở nè, đồ dùng cho bé…”.
c) “Bé đã lớn, cần chuẩn bị kỹ năng sống để vào lớp một nên phải biết tiết kiệm điện, nước”. 11. Theo bạn, để giảm việc thải khói, thải khí đen vào môi trường khi đi xe, chúng ta có thể làm gì? a) ................................................................................................................................................ b) ............................................................................................................................................... c) ................................................................................................................................................ 12. Mọi người đều nghĩ rằng: “dùng máy phát điện khi bị mất điện” có thể: a) Làm cho xung quanh chúng ta mát mẻ hơn. Vì: ................................................................... b) Làm cho xung quanh chúng ta nóng hơn. Vì: ....................................................................... c) Ý kiến khác: ......................................................................................................................... Vì:......................................................................................................................................... 13. Bạn chọn cách nào để giúp trẻ 5- 6 tuổi hiểu đúng về ý nghĩa của việc tắt máy xe ở các điểm dừng lâu? a) Xe máy đang chạy sẽ thải khói ra xung quanh. Khi dừng xe ở đèn đỏ, cần nhắc ba mẹ tắt máy xe
để giảm khí độc tỏa ra xung quanh.
b) Khi ở điểm dừng xe lâu thì con nhắc ba mẹ tắt máy xe để đỡ gây tiếng ồn. d) Câu trả lời khác của bạn: .................................................................................................. 14. Theo bạn, cách nói nào phù hợp với việc giáo dục trẻ 5-6 tuổi: a) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm con mỏi mắt, mà còn hao điện và làm căn phòng bị nóng lên. b) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm con mờ mắt, khi chơi con nhờ ba mẹ chỉnh màn hình sáng lên
để con nhìn rõ.
c) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm ba mẹ không thích, nên con chỉ chơi trong khoảng thời gian ba
mẹ cho phép.
15. Bạn chọn cách nói nào để dạy trẻ nội dung sau đây: a) Khi mẹ ủi quần áo, bàn ủi nóng lên làm cho mẹ nóng nực nên đổ mồ hôi. Con có thể nhắc mẹ mở
quạt.
b) Khi mẹ ủi quần áo, bàn ủi nóng lên làm cho mẹ nóng nực nên đổ mồ hôi. Sau khi ủi xong, tắt bàn
ủi mẹ sẽ hết nóng.
c) Khi ủi quần áo, mẹ bị đổ mồ hôi. Con có thể an ủi mẹ cố chịu đựng và sẽ đi tắm sau khi ủi xong. 16. Bạn dạy gì cho bé 5- 6 tuổi để giáo dục sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả? a) Nhắc mẹ chọn chế độ giặt ít hao nước nhất dù có nhiều quần áo trong máy giặt. b) Nhắc ba mẹ thay tất cả các vòi nước đang bị rò nước cả ngày đêm. c) Sau khi rửa sạch rau củ, thấy nước rửa còn trong, dùng nước này để rửa chén. 17. Bạn không chọn cách nào để dạy bé 5- 6 tuổi? a) Tắm bằng vòi sen. b) Dùng ca múc nước, chậu nước để tắm. c) Tắm bồn để giữ lượng nước ổn định. 18. Bạn đã từng hướng dẫn trẻ trong lớp về nội dung giáo dục nào dưới đây? a) Tiết kiệm điện.
87
b) Tiết kiệm nước. c) Tiết kiệm xăng dầu. 19. Hiện nay, trường của bạn đang thực hiện việc giáo dục sử dụng năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi như thế nào? a) Chủ yếu dạy trên giờ học, có mục đích yêu cầu chuyên biệt về giáo dục sử dụng năng lượng. b) Lồng ghép vào một số chủ đề. c) Lồng ghép vào càng nhiều chủ đề càng tốt. d) Ý kiến khác: 20. Trường bạn đã tổ chức tập huấn “giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” như thế nào? (Bạn có thể chọn một hoặc nhiều phương án) a) Trường tổ chức tập huấn cho các giáo viên và công nhân viên của trường. b) Cử một số giáo viên dự hoạt động mẫu do Tổ Mầm non Phòng GD&ĐT tổ chức. c) Giáo viên tự tham khảo tài liệu. d) Ý kiến khác: ................................................................................................................. 21. Nhà trường đã trang bị những điều kiện vật chất cho việc giáo dục này như thế nào? a) Rất đầy đủ: tranh posters tuyên truyền, băng rôn-khẩu hiệu, tranh ảnh, phim dạy học, tài liệu tham khảo cho giáo viên, phương tiện dạy học, thay các thiết bị có sử dụng năng lượng (điện, nước, gas, xăng dầu…) để thực thi tiết kiệm hiệu quả ngay trong nhà trường.
b) Tương đối đầy đủ: tranh posters tuyên truyền, băng rôn-khẩu hiệu, tranh ảnh, phim dạy học, tài
liệu tham khảo cho giáo viên, phương tiện dạy học.
c) Chưa có trang bị cụ thể: chỉ có một số tài liệu tham khảo cho giáo viên, tranh posters tuyên
truyền, băng rôn-khẩu hiệu.
Nội dung
d) Không có gì mới so với trước đây. 22. Theo bạn, điều kiện nào dưới đây chưa được chuẩn bị tốt hoặc hoàn toàn chưa được chuẩn bị trong khi đã chỉ đạo giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả? Chưa được chuẩn bị tốt
Hoàn toàn chưa được chuẩn bị
a) Người lớn làm gương: ít nhất là người lớn ở nhà, ở trường. b) Đồ dùng, thiết bị đảm bảo tiết kiệm năng lượng. c) Tài liệu tham khảo và phương tiện dạy học dành cho giáo viên. d) Chương trình tập huấn hiệu quả cho giáo viên và CBQL- không chỉ tập huấn một lần/một đợt kiểu phong trào. e) Kế hoạch giảm tải công việc cho giáo viên trong giai đoạn mới bắt đầu thực hiện một nhiệm vụ giáo dục mới. g) Chương trình giáo dục toàn xã hội sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 23. Bạn đã tổ chức thực hiện việc giáo dục này như thế nào? a) Hàng ngày. b) Theo kế hoạch, từ đầu và sẽ kéo dài cho tới cuối đợt phát động. c) Trên một số tiết học có người dự giờ: cụ thể là (mấy) …..tiết. d) Chưa dạy gì, vì tôi là giáo viên “ít được Hiệu phó chuyên môn để ý tới trong các phong trào”. 24. Bạn đã thực hiện giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: a) Trên tiết học. b) Trong hoạt động chơi, đặc biệt là chơi đóng vai. c) Trong sinh hoạt: lúc trẻ làm vệ sinh cá nhân, dặn dò trước khi trẻ ra về…. d) Khác: ..................................................................................................................................... 25. Những khó khăn cụ thể của bạn trong quá trình giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả?
88
.................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... 26. Những khó khăn cụ thể của những giáo viên mầm non khác (mà bạn biết cụ thể) trong quá trình giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả? .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... 27. Đánh giá của bạn về hiệu quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục này trên trẻ: a) Hiệu quả cao. b) Hiệu quả, nhưng không cao. c) Chưa hiệu quả. d) Không hiệu quả. Lý do: ........................................................................................................................................ 28. Ý kiến của bạn về những biện pháp dưới đây trong việc giáo dục tiết kiệm năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi? (Mời bạn đánh dấu X vào ô thích hợp)
Biện pháp
Nên sử dụng
Còn phân vân
Không thích hợp
1. Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 2. Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 3. Làm gương cho trẻ hàng ngày 4. Tạo tình huống có vấn đề 5. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 6. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 7. Tổ chức làm thí nghiệm 8. Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn 9. Tuyên truyền đến phụ huynh bằng nhiều cách 10. Khác:
29. Với những biện pháp đã thực hiện, bạn gặp khó khăn gì? (Nếu có khó khăn mời bạn viết vào ô thích hợp)
Khó khăn lớn nhất (nếu có)
Biện pháp 1. Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 2. Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 3. Làm gương cho trẻ hàng ngày
4. Tạo tình huống có vấn đề
5. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng
6. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 7.Tổ chức làm thí nghiệm 8. Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong
89
trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn 9. Tuyên truyền đến phụ huynh bằng nhiều cách 10. Khác: 30. Theo bạn để đánh giá hiệu quả của việc giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cần dựa vào tiêu chí nào? a) Trẻ có nhận thức thế nào là sử dụng tiết kiệm, thế nào là không tiết kiệm b) Trẻ có kỹ năng tiết kiệm nước, điện trong sinh hoạt c) Trẻ nhận biết hành động đúng, sai trong việc thực hiện tiết kiệm năng lượng d) Trẻ tự giác thực hiện không cần người khác nhắc nhở e) Ý kiến khác:
90
....................................................................................................................................................
Trân trọng cám ơn.
Phụ lục 2
KẾT QUẢ THỐNG KÊ PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN
[DataSet1] C:\Users\tai\AppData\Local\Temp\Rar$DI00.552\CHI DUYEN - CBQL.sav Frequency Table
c1
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
2
6.2
6.2
6.2
2
3
100.0
93.8
93.8
30
Total
100.0
32
100.0 c2
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
15.6
15.6
15.6
5
2
50.0
34.4
34.4
11
3
93.8
43.8
43.8
14
4
100.0
6.2
6.2
2
Total
100.0
32
100.0 c3
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
15.6
15.6
15.6
5
2
87.5
71.9
71.9
23
4
100.0
12.5
12.5
4
Total
100.0
100.0
32
c4
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
1
62.5
62.5
20
62.5
Valid
2
37.5
37.5
12
100.0
100.0
100.0
32
Total
91
c5
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
8
25.0
25.0
25.0
2
5
15.6
40.6
15.6
3
19
59.4
100.0
59.4
Total
32
100.0
100.0
c7
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
15
46.9
46.9
46.9
2
17
53.1
100.0
53.1
Total
32
100.0
100.0 c8
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
12
37.5
37.5
37.5
2
18
56.2
93.8
56.2
3
2
6.2
100.0
6.2
Total
32
100.0
100.0 c9
Cumulative Percent
Frequency
Percent
Valid Percent
32
100.0
100.0
Valid
1
100.0 c10
Cumulative Percent
Frequency
Percent
Valid Percent
1
3
9.4
9.4
9.4
Valid
2
28
87.5
96.9
87.5
3
1
3.1
100.0
3.1
Total
32
100.0
100.0
c12
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
1
Valid
14
43.8
43.8
43.8
2
14
43.8
43.8
87.5
92
3
4
12.5
12.5
100.0
Total
32
100.0
100.0
c13
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
62.5
20
62.5
62.5
2
28.1
9
28.1
90.6
3
6.2
2
6.2
96.9
4
3.1
1
3.1
100.0
Total
32
100.0
100.0 c14
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
40.6
13
40.6
40.6
2
21.9
7
21.9
62.5
3
37.5
12
37.5
100.0
Total
32
100.0
100.0 c15
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
37.5
12
37.5
37.5
2
40.6
13
40.6
78.1
3
21.9
7
21.9
100.0
Total
32
100.0
100.0 c21
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
25.0
8
25.0
25.0
2
28.1
9
28.1
53.1
3
37.5
12
37.5
90.6
4
9.4
3
9.4
100.0
Total
32
100.0
100.0 c23
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
65.6
21
65.6
65.6
2
31.2
10
31.2
96.9
3
3.1
1
3.1
100.0
Total
100.0
32
100.0
93
c30.2
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
co
56.2
18
56.2
56.2
khong
43.8
14
100.0
43.8
Total
100.0
32
100.0
c30.3
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
co
56.2
18
56.2
56.2
khong
43.8
14
100.0
43.8
Total
100.0
32
100.0
c30.4
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
co
34.4
11
34.4
34.4
khong
65.6
21
100.0
65.6
Total
100.0
32
100.0
c30.5
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
co
3.1
1
3.1
3.1
khong
96.9
31
100.0
96.9
Total
100.0
32
100.0
94
-Test [DataSet1] D:\duyen\tiet kiem nang luong\DE CUONG THANG 12.2012\THUC NGHIEM\Tong h op sau TN.sav Group Statistics
Nhom
N
Mean
Std. Deviation
Std. Error Mean
Nhanthuc TN
40
1.3000
.46410
.07338
Thaido
Hanhvi
DC TN DC TN DC
40 40 40 40 40
1.0500 1.4000 1.0000 1.8000 1.5000
.55238 .49614 .64051 .40510 .50637
.08734 .07845 .10127 .06405 .08006
Independent Samples Test
Levene's Test for Equality of Variances
t-test for Equality of Means
95% Confidence Interval of the Difference
F
Sig.
t
df
Sig. (2- tailed)
Mean Difference
Std. Error Difference
Lower
Upper
1.354
.248 2.192
78
.031
.25000
.11407
.02290
.47710
Nhan thuc
Equal variances assumed
2.192 75.748
.031
.25000
.11407
.02279
.47721
Equal variances not assumed
Thai do
1.000
.320 3.122
78
.003
.40000
.12810
.14497
.65503
Equal variances assumed
3.122 73.412
.003
.40000
.12810
.14472
.65528
Equal variances not assumed
Hanh vi
21.937
.000 2.926
78
.004
.30000
.10253
.09587
.50413
Equal variances assumed
2.926 74.414
.005
.30000
.10253
.09572
.50428
Equal variances not assumed
Phụ lục 3
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
QUẬN BÌNH TÂN TỔ MẦM NON
95
Bình Tân, ngày 20 tháng 02 năm 2013
BÁO CÁO TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ “PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ CHO TRẺ MẪU GIÁO” Người thực hiện: Bùi Thị Thanh Hạnh
- Địa điểm tổ chức: Trường MN Sen Hồng, MNTT Bảo Ngọc. - Thời gian tổ chức: ngày 27 tháng 02 năm 2013. - Đối tượng tham dự: 179 người/2trường (Trường MN Sen Hồng, MNTT Bảo Ngọc)
• Trường MNTT Bảo Ngọc: 85 người (các trường, lớp thuộc phường Bình Hưng Hòa,
BHHA, BHHB).
• Trường MN Sen Hồng: 94 người (các trường, lớp thuôc các phường còn lại). Trong đó:
- Trường Công lập – Tư thục: 2 người (1 CBQL+1 GV) x 45 đ/vị = 90 người. - Nhóm lớp Tư thục: 1 người x 93 đ/vị = 89 người. - Phòng GD&ĐT: 03 người. - Trường Bồi dưỡng Giáo dục: 01 người.
DIỄN TIẾN
Phần I: từ 7giờ 30 đến 8 giờ 30 - Ổn định, điểm danh, nêu mục đích yêu cầu - Phân nhóm dự thực tế. Phần 2: từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 - Dự thực tế hoạt động học tại các nhóm lớp - Tham quan môi trường - Thảo luận nhóm
* Trường MN Sen Hồng: 1. Phạm Thị Thanh Nguyên: lớp 3-4 tuổi 2. Hà Thị Thủy Tiên: lớp 4-5 tuổi (1). 3. Nguyễn Thị Hương: lớp 5-6 tuổi (2). * Trường MNTT Bảo Ngọc: 1. Lê Thị Lan: lớp 4-5 tuổi (2) 2. Lê Thị Thúy An: lớp 4-5 t (4) 3. Nguyễn Thị Hương: lớp 5-6 tuổi (2)
Phần 3: từ 9 giờ 30 đến 11 giờ 30
- Nghe báo cáo quá trình thực hiện chuyên đề của Hiệu trưởng. - Giải đáp thắc mắc - Bồi dưỡng chuyên đề - Chỉ đạo triển khai chuyên đề của Lãnh đạo.
96
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG
I. Mục đích chuyên đề: - Giúp CBQL-GV nắm nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả trong trường MN, gia đình trẻ. - Giúp GV thực hiện, tổ chức tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG trong trường MN. II. Nội dung bồi dưỡng chuyên đề:
1. Cung cấp một số căn cứ, văn bản pháp lý liên quan đến nội dung chuyên đề: - Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về BVMT trong thời ký đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước.
- Quyết định 1363 của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 10 năm 2001 về việc phê duyệt đề
án: “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”.
- Chỉ thị số 02/2005/CT-Bộ GD&ĐT ngày 31 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT. Đặc biệt các nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2010 là việc triển khai thực hiện đề án ở tất cả các cấp học.
- Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt chương trình mục
tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn 2006-2015.
- Công văn số 5981-BGDĐT-KHCNMT ngày 07 tháng 9 năm 2011 của Bộ GD&ĐT về việc triển khai tập huấn giáo viên cốt cán các tỉnh về phương pháp tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào các môn học.
- Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai một số chương trình dự án có liên quan đến môi trường và
biến đổi khí hậu. + Đề án “đưa các nội dung BVMT vào nội dung giáo dục quốc dân”. + Chương trình kiên cố hóa trường học. + Chương trình chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. + Dự án giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 2. Nội dung chuyên đề: a). Nội dung tổ chức thực hiện nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
trong trường MN:
- Một số hiểu biết cơ bản về năng lượng. - Hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào chương
trình giáo dục mầm non.
- Trách nhiệm của Nhà trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục trẻ sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả.
b). Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: - Hiểu biết về năng lượng. - Lợi ích của năng lượng. - Các hoạt động, phương pháp thực hiện nội dung giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả.
- Xây dựng mọi trường giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. c). Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình: - Một số vần đề chung về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại gia đình. - Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình. - Trách nhiệm của gia đình trong việc phố hợp với nhà trường giáo dục trẻ MG sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. 3. Một số lưu ý: * Mục tiêu GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường MN, trong gia đình. - Cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về nguồn năng lượng, những lợi ích từ năng
lượng.
- Bước đầu có thói quen đơn giản về tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, học tập. - Hình thành cho trẻ ý thức giáo dục BVMT, thể hiện qua thói quen, kỹ năng hành động và
các hành vi phù hợp với môi trường.
97
* Nội dung GD: - Được thực hiện ở 3 độ tuổi (3-4 tuổi, 4-5 tuổi, 5-6 tuổi). Nội dung hướng tới hình thành và
giáo dục đồng bộ cả kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đặc biệt quan tâm đến GD hành vi thái độ ứng xử trong việc BVMT (sử dụng tiết kiệm năng lượng). Cụ thể:
+ Hiểu biết về năng lượng: điện, nhiên liệu, năng lượng mặt trời, năng lượng gió,
năng lượng nước…
+ Lợi ích của năng lượng. + Tiết kiệm năng lượng
- Không xây dựng một chương trình riêng lẻ, các nội dung giáo dục được biên soạn lồng ghép vào các nội dung của chương trình giáo dục trẻ, tránh không làm năng thêm chương trình. - Những nội dung phải phù hợp, gần gũi với trẻ trong đời sống, trong sinh hoạt và học tập. - Cần thực hiện tích hợp GD ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động dưới mọi hình thức GD khi
có thể.
* Một số phương pháp được sử dụng: - Phương pháp thực hành trải nghiệm - Phương pháp dùng trò chơi. - Phương pháp giải quyết các tình huống có vần đề: Tình huống có thể xuất hiện tự nhiên
- Thí nghiệm đơn giả trẻ trực tiếp thực hiện. - Lao động vệ sinh, chăm sóc cây cối. - Phương pháp dùng lời: kể chuyện, câu hỏi, đàm thoại, câu đố, đọc thơ… - Phương pháp trực quan minh họa: quan sát thực tế, tranh ảnh, thí nghiệm minh họa. - Phương pháp dùng tình cảm và khích lệ. - Tấm gương của người lớn, của bạn về thái độ và hành vi trong việc sử dụng năng lượng
Người báo cáo
Bùi Thị Thanh Hạnh
Phụ lục 4
hặc tình huống được tạo ra. tiết kiệm, hiệu quả.
NỘI DUNG CHI TIẾT CÁC HĐ CHƯƠNG TRÌNH TN
* Giờ học thứ nhất: Giờ trái đất I. Mục đích-yêu cầu: - Trẻ biết được khoảng thời gian gọi là “Giờ trái đất”, nguyên tắc: “tắt điện khi không dùng nữa”. - Trẻ biết được ý nghĩa, việc làm cụ thể để hưởng ứng Giờ trái đất. - Tạo cơ hội cho trẻ tự tin thảo luận, cùng làm. II. Phương pháp: - Trực quan - Đàm thoại - Thực hành - Dạy học theo nhóm III. Phương tiện dạy học:
98
- Thiết bị điện tử: máy chiếu, laptop, đầu đĩa. - Một số hình ảnh về logo Giờ trái đất - Đoạn phim Giờ trái đất - Một số đồ dùng, dụng cụ cổ động: mũ nón, quạt, bong bóng, cờ. - Tờ bướm tuyên truyền - 3 chiếc xe đạp mini - Nhạc bài hát: “Cả tuần đều ngoan” - Bút sáp. IV. Tiến trình hoạt động: Cấu trúc thời gian
Nội dung Tạo hứng thú
1. Mở bài:
2. Phát triển bài: 2.1. Hoạt động 1: 2.2. Hoạt động 2: 2.3. Hoạt động 3:
Cùng xem nào! Nhà thiết kế logo Tuyên truyền viên nhỏ tuổi Củng cố lại nội dung bài học Nhận xét lớp Giao nhiệm vụ về nhà
3. Kết luận: 3.1. Tổng kết bài học: 3.2. Đánh giá: 3.3. Hướng dẫn học tập:
Hoạt động của cô và trẻ - Hát và vận động “Cả tuần đều ngoan” - Cô trò chuyện với trẻ về tháng, tuần, những ngày có ý nghĩa trong tháng 3. - Trò chuyện về những ngày đặc biệt trong tháng 3. - Giới thiệu ngày 23/3 – xem hình ảnh minh họa qua powerpoint. - Xem phim hưởng ứng “Giờ trái đất” - Trò chuyện về đoạn phim vừa xem - Cho trẻ xem hình ảnh về hậu quả khi trái đất nóng dần lên – trò chuyện. - Xem hình ảnh tuyên truyền hưởng ứng “Giờ trái đất”. - Trẻ đi vòng quanh lớp quan sát, trò chuyện về các logo “Giờ trái đất” - Chia trẻ làm 4 nhóm nhỏ (5trẻ/nhóm). Cô giao nhiệm vụ nhóm tự thảo luận và chọn một nội dung để thiết kế logo cổ động giờ trái đất. Làm xong một bé đại diện nói về logo của mình. - Tạo hình logo, hình ảnh tuyên truyền hưởng ứng “Giờ trái đất” lên các đồ dùng, dụng cụ cổ động. - Trẻ xếp hàng, lấy đồ dùng, dụng cụ cổ động vừa làm xong chụp ảnh. Sau đó đi đến các lớp khác để tuyên truyền “Giờ trái đất”. - Cô và trẻ đàm thoại lại: * Ý nghĩa giờ trái đất * Mọi người làm gì vào giờ trái đất? * Bản thân trẻ làm được gì vào giờ trái đất, hằng ngày làm gì để tiết kiệm điện? - Cô nhận xét về thái độ, kỹ năng của trẻ. Từ đó khen ngợi, nhắc nhở trẻ. - Trẻ có thể thực hiện tiết kiệm điện ở nhà như: không mở cửa tủ lạnh lâu, nhắc người thân tắt điện khi không dùng đến, tắt ti vi bằng nút bấm của tivi… Lần sau vào lớp kể cho cô và các bạn nghe những việc mình làm được ở nhà.
99
* Giờ học thứ hai: Đồ dùng điện I. Mục đích-yêu cầu: - Trẻ biết được ý nghĩa của việc tiết kiệm điện: là để giảm khí thải, bảo vệ môi trường của chúng ta. - Trẻ nhận biết và bày tỏ thái độ của mình với các hành động đúng sai trong việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. - Giáo dục trẻ biết tắt điện khi không cần dùng nữa. II. Phương pháp: - Trực quan - Đàm thoại - Thực hành III. Phương tiện dạy học: - Thiết bị điện tử: laptop. - Một số hình ảnh về đồ dùng điện. - Đoạn phim về tiết kiệm điện. - Nhạc bài hát Hỏng dám đâu. - Bút lông. IV. Tiến trình hoạt động: Cấu trúc thời gian
Hoạt động của cô và trẻ
1. Mở bài: 2. Phát triển bài: 2.1. Hoạt động 1: 2.2. Hoạt động 2: 2.3. Hoạt động 3:
Nội dung Tạo hứng thú Cùng xem nào! Đồ dùng điện Tiết kiệm điện
Củng cố lại nội dung bài học
- Cho trẻ xem đoạn clip về cách tiết kiệm điện. - Cô đàm thoại với trẻ về nội dung đoạn clip: + Hãy kể các đồ dùng có trong đoạn phim? + Cho trẻ xem lại để kiểm chứng. - Hãy kể xem trong lớp mình có những đồ dùng điện nào? Kể tên và đếm số lượng. - Hãy nói công dụng của các đồ dùng đó. - Khi các đồ dùng đó hoạt động, các con đứng gần xem có cảm giác như thế nào? (Hơi nóng tỏa ra xung quanh, các đồ dùng nóng lên). - Vì sao lại như vậy? - Cho trẻ suy nghĩ và phát biểu theo hiểu biết của trẻ. - Khi các thiết bị hoạt động cần một lượng điện năng, khi đó, bản thân nó sẽ tỏa nhiệt làm cho xung quanh chúng ta nóng lên, dần dần không khí cũng nóng lên làm chúng ta khó chịu. Vì vậy, chúng ta cần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả điện để môi trường chúng ta mát mẻ hơn. - Cho trẻ chia làm hai nhóm, tìm và nối các thiết bị dùng điện. - Trò chơi kết thúc khi bài hát chấm dứt. - Kiểm tra và nhận xét. - Cho trẻ xem đoạn clip về cách tiết kiệm điện: sơn tường màu sáng, tận dung ánh sáng tự nhiên bằng cách mở cửa sổ, cửa ra vào. - Trước khi ra ngoài sân chơi chúng ta phải làm gì để tiết kiệm điện. - Cô và trẻ đàm thoại lại: * Ý nghĩa việc tiết kiệm điện
3. Kết luận: 3.1. Tổng kết bài học:
100
Nhận xét lớp Giao nhiệm vụ về nhà
3.2. Đánh giá: 3.3. Hướng dẫn học tập:
* Mọi người làm gì để tiết kiệm điện? * Bản thân trẻ hằng ngày làm được gì để tiết kiệm điện? - Cô nhận xét về thái độ, kỹ năng của trẻ. Từ đó khen ngợi, nhắc nhở trẻ. - Trẻ có thể thực hiện tiết kiệm điện ở nhà như: không mở cửa tủ lạnh lâu, nhắc người thân tắt điện khi không dùng đến, tắt ti vi bằng nút bấm của tivi…
• Kế hoạch tổ chức HĐ chơi
HĐ vui chơi mang tính tích hợp cao trong GD trẻ. HĐ chơi được tổ chức đáp ứng nhu cầu
của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
• Kế hoạch tổ chức HĐ chơi
Trò chơi giả bộ: Bé làm nội trợ Yêu cầu:
- Dạy trẻ có ý thức tiết kiệm nước, điện và các nguyên liệu, thu gom đồ dùng gọn gàng sau khi làm xong. Chủ động thực hiện hành động chơi với các tình tiết khác nhau theo sự hướng dẫn của cô trong tình huống giả bộ và vật thay thế. - Thực hiện hành động chơi theo các bạn; theo sự gợi ý thường xuyên của cô.
Chuẩn bị:
- Đồ chơi nấu ăn trong góc gia đình.
Cách chơi:
- Trẻ sắm vai ba, mẹ, anh, chị nấu ăn cho gia đình.
Biện pháp:
- Trò chuyện, đàm thoại, khơi gợi kinh nghiệm cho trẻ. - Hướng dẫn cháu chơi. - Quan sát, hỗ trợ trẻ chơi. - Khen ngợi, động viên trẻ chơi tốt.
Hình thức: - HĐ vui chơi trong lớp.
Trò chơi có luật:
* Trò chơi vận động: giọt nước yêu thương. Yêu cầu: - Trẻ có biểu hiện hứng thú khi được chơi với nhau. - Rèn khả năng chú ý quan sát. - Trẻ biết thực hiện thao tác tắt mở các đồ dùng, thiết bị sử dụng điện. Chuẩn bị: - Tranh ảnh, họa báo. - Kéo, hồ, giấy, bút lông. - Khung ảnh. - Nguyên vật liệu trang trí. - Giấy A4. - Bút chì màu. - Tranh mẫu, vật mẫu trong góc chơi. - Các đồ dùng thiết bị có sẳn trong lớp, trường. * Trò chơi học tập
Đếm các đồ dùng điện trong gia đình Lập bảng những việc bé tiết kiệm năng lượng ở nhà. Phân biệt những hành động đúng sai trong sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Nối điện với các đồ dùng sử dụng điện HĐ khám phá, trải nghiệm: cách tắt, mở quạt điện, bóng đèn, tivi, máy vi tính.
101
Thi xem ai thực hành đúng, nhanh. Yêu cầu:
- Rèn các kỹ năng sử dụng bút. - Phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ. - Trẻ biết lập bảng. - Rèn khả năng chú ý quan sát. - Trẻ biết thực hiện thao tác tắt mở các đồ dùng, thiết bị sử dụng điện.
Cách chơi:
- Cho trẻ xem tranh, các tờ rơi quảng cáo, nhớ lại những đồ dùng điện có trong gia đình mình. - Sau đó mô tả cách sử dụng mọi người trong nhà như thế nào. Cho trẻ nhận định như vậy là có sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hay chưa. Giải thích vì sao. - Dùng bảng những hành động đúng và chưa đúng trong việc sử dụng năng lượng. Cho trẻ lựa chọn những việc mình đã làm được ở nhà gắn vào một bảng. Những việc chưa làm được vào một bảng. So sánh việc nào nhiều hơn. Vì sao con chưa làm được. Khích lệ trẻ cố gắng làm được.
Biện pháp:
- Cô giới thiệu trò chơi. - Đàm thoại, giới thiệu luật chơi. - Cho cháu chơi. - Cô tổ chức, quan sát cháu chơi. - Cho trẻ thực hành, thử và sai. Cô quan sát, hướng dẫn trẻ thực hành. Hình thức: - HĐ học. - HĐ chơi trong lớp, ngoài sân. Chơi ngoài sân:
+ Tưới cây, chăm sóc hoa kiểng. + Quan sát nhận biết các phương tiện giao thông sử dụng điện, xăng dầu
Yêu cầu: - Trẻ biết chăm sóc cây xanh, hoa kiểng. - Biết sử dụng nước một cách tiết kiệm, hiệu quả lúc tưới cây, lúc vệ sinh sau khi chơi xong: không để nước chảy tràn, đi cẩn thận không làm đổ nước bừa bãi, mở nước vừa phải khi rửa, rửa xong vòi nước phải tắt hẳn. - Nhận biết phương tiện nào di chuyển bằng điện, phương tiện nào chuyển động bằng xăng dầu. - So sánh sự khác nhau giữa các phương tiện đó. Chuẩn bị: - Bình tưới cho trẻ. - Hệ thống vòi nước dưới sân. - Sân có chỗ cho trẻ quan sát đường xe chạy qua. Cách chơi: - Cháu nhặt lá vàng cho cây. Tưới nước cho cây. Biện pháp: - Trò chuyện, đàm thoại về ý nghĩa của việc chăm sóc cây và vệ sinh sau khi chơi. - GD trẻ dùng nước tránh để lãng phí. - Quan sát, nhắc nhở cháu khi chơi. - Khen ngợi trẻ chơi tốt. - Cho trẻ quan sát. - Cô đàm thoại cùng với trẻ. Hình thức: - Cho cháu HĐ ngoài sân, vườn trường.
• Kế hoạch HĐ GD trong sinh hoạt
* Trò chuyện sáng và sinh hoạt chiều - Trò chuyện, đàm thoại với trẻ về ý nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng (năng lượng điện, nước, xăng dầu):
102
+ Bảo vệ môi trường sống. + Tiết kiệm khoản tiền để đóng tiền học, mua tập tô màu cho con.... - Đàm thoại về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: + Không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa đang bật. + Biết tắt đèn, tắt quạt khi ra khỏi phòng. + Không được mở cách tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa tủ khi không có nhu cầu dùng đến. + Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy tính khi không sử dụng. + Luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. + Không bao giờ tự cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất. + Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt.
+ Khi ngửi thấy mùi khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.
* Đọc thơ, vè, nghe kể chuyện về tiết kiệm năng lượng GV và trẻ phát hiện, khen ngợi những hành vi tốt của trẻ như hứng nước vừa đủ uống, không tràn ra ngoài, biết kiểm tra vòi nước đã tắt hẳn chưa, biết kéo rèm cửa sổ cho sáng sủa...Nhắc nhở những hành vi chưa đúng: chưa tắt nước khi đang chải răng, mở nước vừa phải không văng nước ra ngoài...
* Làm vệ sinh cá nhân
Hướng dẫn cách sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả khi rửa tay, rửa mặt, chải răng, rửa ca.
* HĐ lễ hội: lồng ghép vào chương trình văn nghệ tổng kết năm học.
+ Biểu diễn thời trang giấy: tiết kiệm, tận dụng lại những vật liệu còn tái sử dụng được như giấy, nylon, áo mưa cũ... để làm thành những bộ trang phục cho bé. Với thông điệp bảo vệ môi trường sống.
Chuẩn bị: 5 bộ thời trang cho bé được thiết kế từ giấy báo cũ, dây nylon, giấy gói quà đã
qua sử dụng, nắp hộp sữa, vỏ ốc, vỏ sò, chai nhựa đã dùng, đĩa giấy, áo mưa cũ.
Bộ thứ tư: Màu đỏ là lửa nhưng là lửa nhiệt quyết, với thiết kế từ bao nylon chúng tôi
Nhận xét: Bộ thứ nhất: San hô và vỏ ốc là những chất liệu tạo nên họa tiết rất đáng yêu, gợi cảm hứng sáng tạo nên phong cách dễ thương cho những ai yêu biển. Hình ảnh sóng dập dềnh, tài nguyên biển dồi dào cho đời sống chúng ta nhiều lợi ích. Đừng lãng phí tài nguyên và cùng chung tay bảo vệ môi trường biển. Bộ thứ hai: Này là áo hoa, này là nón xinh cô em cất bước trông như nụ hồng. Từ nguồn giấy báo, tờ rơi quảng cáo với những hoa văn nhẹ nhàng, điểm chút sắc màu tươi tắn tạo sự nhí nhảnh, dễ thương cho cô nàng tiểu thư. Bộ thứ ba: Không phải kim cương hay dát vàng, nhưng bộ trang phục này luôn lấp lánh và đầy bí ẩn. Dù đã qua sử dụng nhưng giấy gói quà vẫn tạo nên một phong cách sang trọng, rạng rỡ như nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời. Đi mưa không sợ nước, bước trong nắng đẹp rạng ngời. xin chia sẻ ý tưởng: hãy chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ màu xanh của trái đất chúng ta.
Chuẩn bị: Mô hình một số đồ dùng, thiết bị sử dụng trong gia đình: Quạt máy: cánh quạt bằng nhựa cho trẻ cầm, nón là làm lồng bên ngoài của quạt máy với
Bộ thứ năm: Tinh nghịch, năng động và lịch lãm. Sản phẩm dược làm từ chiếc áo mưa cũ đã rách, sự kết hợp sắc màu xanh, đỏ, vàng với ý nghĩa: mọi hành vi đúng đều được hình thành từ những bước cơ bản. Từ những vật liệu, đồ dùng đơn giản cùng với sự bay bổng trong ý tưởng thiết kế, chúng tôi xin gửi đến thông điệp “hành vi nhỏ hôm nay sẽ thành thói quen lớn ngày mai. Hãy chung tay vì môi trường sống của chính chúng ta”. * Đóng kịch về tiết kiệm năng lượng dòng chữ: bạn hãy tắt khi không sử dụng.
Máy vi tính: màn hình bằng lịch cũ, bàn phím không còn sử dụng. Bếp gas bằng làm từ dây nylon và mouse bitis. Thông điệp: sử dụng gas an toàn, tiết kiệm. Bình nước bằng bitis và dây nylon.
103
Máy giặt, tủ lạnh, mô hình máy casset, ti vi từ thùng cactong, giấy roki. Kịch bản: Các bạn nhỏ hóa trang vào từng đồ dùng, thiết bị, đi ra giới thiệu về mình cùng các bạn khác
(trên nhạc nền): Quạt máy: Mình là quạt máy dễ thương xin chào các bạn, khi cắm điện vào thì những cánh quạt của mình quay quay quay, sẽ làm cho mọi người mát mẻ. Mình là máy casset xinh xinh, các bạn có thể nghe nhạc, nghe kể chuyện. Nếu không có điện thì mình không hát được đâu. Chúng tớ là tivi, máy vi tính dễ thương. Có chúng mình các bạn được xem phim hoạt hình, ca nhạc, chơi game vui ơi là vui, các bạn có thích mình không? Bếp gas là mình, mình ở trong bếp phụ mẹ nấu nướng. Phải có bình gas mình mới có thể cho lửa cháy lên được đó các bạn. Tôi là bình nước cho các bạn nước uống. Mình rất quan trọng đó nha nên các bạn không được đổ nước bừa bãi nhé. Còn tớ là em út trong nhà, tủ lạnh ngoan hiền giúp giữ thức ăn tươi ngon. Mình chỉ tỏa hơi mát khi có dòng điện đi qua. Một cô bé sử dụng các đồ dùng và thiết bị này một cách cẩu thả: mở quạt máy vù vù, ti vi bật liên tục, tủ lạnh mở cửa đứng hóng hơi mát, mở casset nghe nhạc hết cỡ, chơi game máy vi tính thả ga, mở nước chảy to... Cô bé bật đồng loạt các đồ dùng, thiết bị dù không còn dùng đến vẫn để tất cả cùng hoạt động, cô bé tỏ vẻ thích thú vì điều đó. Bỗng: Bùm! Một tiếng nổ to làm cô bé hoảng hốt, các đồ dùng, thiết bị tỏa khói, ngừng hoạt động, mặt buồn xo. Một cô tiên xuất hiện trong bộ đồ lấp lánh làm từ vật liệu đã qua sử dụng. Cô hướng dẫn cô bé tắt các thiết bị khi không dùng đến: không mở tủ lạnh quá lâu; sử dụng gas an toàn, tiết kiệm; ngắt điện khi không dùng nữa, tiết kiệm điện và bảo quản đồ dùng thiết bị.
Sau đó, cô tiên, cô bé và các bạn đồ dùng vui lên, cùng nhau đọc vè tiết kiệm:
Nghe vẻ nghe ve, nghe vè tiết kiệm Mở nước nhẹ êm, khi bé rửa tay Nhớ xoay tắt vòi, khi không dùng đến Nhắc bạn chớ quên, ngay cả chải răng Không để nước văng, tràn lan tung tóe Khi bé uống nước cũng phải từ từ Để tránh uống dư lấy vừa lấy đủ Lấy đủ cái mà lấy đủ!!!!!!!!! Lúc ra khỏi phòng tắt đèn tắt quạt Nhớ bấm trực tiếp khi tắt ti vi Khi dùng tủ lạnh chớ mở cửa lâu Màn hình vi tính sáng đủ tầm nhìn Cũng không để ninh chế độ chờ lâu Chờ lâu cái mà chờ lâu !!!!!!!!!! Ông bà cha mẹ chú dì cô cậu Khi dùng xăng dầu cũng nên tiết kiệm Nhớ tắt máy xe khi dừng đủ lâu Nếu đi đâu gần thì cần xe đạp An toàn tiết kiệm cùng lên xe buýt Xe buýt cái mà xe buýt !!!!!!!!! Cùng nhau tiết kiệm điện nước xăng dầu Đất nước mạnh giàu môi trường sạch sẽ Sạch sẽ cái mà sạch sẽ !!!!!!!
Tự biên
104
Tiếp tục cùng biểu diễn tốp ca bài Hát nhau nghe, cải biên theo điệu Bắc kim thang. Lời 1: Hát nhau nghe, cùng nhau tiết kiệm. Điện gia dùng cùng điện cộng cộng. Thấy sáng đèn không dùng thì tắt. Chung tay ta góp sức đồng lòng. Để dòng điện sáng choang mọi nơi.
Lời 2: Nước cho ta dùng trong sinh hoạt. Điện xăng dầu lại càng quan trọng. Bé nhớ nè: không dùng thì tắt. Chớ lãng phí tiền của mẹ cha. Lo cho con khôn lớn học hành. Mai thành đạt cả nhà mến yêu càng yêu. * Thực hiện công tác phối hợp với PH vào các giờ đón trả trẻ, các buổi họp PH, thông qua
bảng tuyên truyền.
Sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình có ý nghĩa rất lớn trong công tác CS GD trẻ nói chung và trong việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng nói riêng. Qua trao đổi, trò chuyện với PH, GV giao nhiệm vụ về nhà theo dõi nhắc nhở trẻ trong việc thực hành hành vi sử dụng điện, nước tiết kiệm để hình thành thói quen. Bên cạnh đó, giúp trẻ duy trì những kỹ năng mà GV đã dạy ở lớp. - Trao đổi với PH về thực hành của trẻ ở nhà trong việc sử dụng năng lượng: trẻ mở cửa tủ lạnh có để lâu hay không, trẻ sử dụng vòi nước hay nước uống như thế nào, trẻ có biết tắt đèn, tắt quạt khi ra khỏi phòng hay không, trẻ xem tivi, chơi máy vi tính như thế nào... - Trao đổi PH cách nhắc nhở bé sử dụng tiết kiệm, hiệu quả: tiết kiệm nước, điện ba mẹ có thêm khoản tiền để mua áo mới cho con đi học, mua bút màu cho con tô... Đặc biệt, khi tiết kiệm năng lượng sẽ góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta. - PH làm gương cho trẻ trong cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. - Trao đổi, giao nhiệm vụ về nhà cho trẻ: PH quan sát nhắc nhở trẻ cách sử dụng nước, điện một cách tiết kiệm. - PH trò chuyện, khích lệ, khen ngợi trẻ khi trẻ làm đúng. - Đưa các nội dung GD về tiết kiệm năng lượng lên bảng tuyên truyền của lớp: bài hát (sưu tầm, sáng tác), thơ, vè, nội dung chương trình thực nghiệm, hình ảnh minh họa. - Lồng ghép nội dung GD này vào buổi họp PH cuối năm học./.
105
Phụ lục 5
PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ CỦA TRẺ MG 5-6 TUỔI
Người quan sát: .................................................................................................. Tên trẻ: ............................................................................................................... Lớp: .................................................................................................................... Ngày quan sát: .................................................................................................... Địa điểm: ............................................................................................................
Stt
Nội dung tiêu chí
Xếp loại
Thấp (0điểm)
Cao (2điểm)
Mức độ Trung Bình (1điểm)
Về nhận thức: 1
Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống
Về thái độ: 2
3
4
Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng lượng Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai
5 Về hành vi: 6 7 8
9
10
Tắt vòi nước khi không dùng đến Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng Thường hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng) Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng (dù gặp khó khăn) Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào...
Cách đánh giá:
a) Tiêu chí về mặt nhận thức
- Mức độ thấp (0 điểm): Trẻ không biết ý nghĩa của việc tiết kiệm. - Mức độ TB (1 điểm): Trẻ biết tiết kiệm nước, điện, xăng dầu là tiết kiệm tiền. - Mức độ cao (2 điểm): Trẻ biết tiết kiệm năng lượng là bảo vệ môi trường. - Phương tiện đánh giá: trò chuyện, đặt câu hỏi với trẻ: Tại sao mình phải tiết kiệm nước (điện, xăng dầu)?
b) Tiêu chí về mặt thái độ
- Mức độ thấp (tổng điểm 4 tiêu chí từ 1 đến 3 điểm):
+ Trẻ quên không tắt khi không dùng đến. + Trẻ thực hiện một cách ép buộc. + Không điều chỉnh hành vi mặc dù được người khác nhắc nhở. + Thấy người khác làm sai, không dám nhắc nhở.
106
- Mức độ TB (tổng điểm từ 4 đến 6 điểm):
+ Trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng đợi người khác nhắc nhở. + Trẻ không tỏ vẻ vui hay buồn khi thực hiện nhiệm vụ này. + Điều chỉnh hành vi nhưng đợi nhắc nhở nhiều lần. + Thấy người khác làm sai méc với cô giáo hoặc nói với bạn khác.
- Mức độ cao (tổng điểm từ 7 đến 8 điểm):
+ Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc nhở. + Trẻ có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm. + Biết điều chỉnh hành vi ngay khi được nhắc nhở. + Thấy người khác làm sai nhắc liền với người đó.
- Phương tiện đánh giá: Quan sát trẻ vào giờ giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, t ạo tình huống: người lớn làm sai hoặc bạn làm sai, quan sát cách ứng xử của trẻ.
c) Tiêu chí về mặt hành vi - Mức độ thấp (tổng điểm từ 1 đến 4 điểm):
+ Trẻ không tắt vòi nước khi không dùng đến. + Chưa biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng. + Không thực hiện hành động đúng. + Thực hiện tiết kiệm bỏ dở nửa chừng (bắt chước bạn hoặc không nhớ) + Chưa biết làm gì.
- Mức độ TB (tổng điểm từ 5 đến 7 điểm):
+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến nhưng chưa thường xuyên. + Biết tắt đèn, tắt quạt đợi nhắc nhở. + Làm đúng, đôi lúc làm sai. + Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. Có lúc quên, rồi nhớ thực
hiện tiếp (thực hiện không liên tục). + Bắt chước theo bạn.
- Mức độ cao (tổng điểm từ 8 đến 10 điểm):
+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến một cách thường xuyên. + Biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng một cách thường xuyên. + Thực hiện hành động đúng trong tiết kiệm năng lượng. + Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. + Biết đưa ra phương án và thực hiện: kèo rèm, mở cửa...
- Phương tiện đánh giá: Quan sát quá trình trẻ thực hành vào giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, tạo tình huống.
Phụ lục 6
107
Hình 2.2. Cháu dùng máy sấy tay trong thời
Hình 2.1. Bé mở nước to khi rửa tay
gian dài và cùng cười đùa
Hình 2.3. Bảng tuyên truyền chưa thấy nội dung GD trẻ tiết kiệm năng nượng
Hình 2.4. Bảng tuyên truyền chủ yếu là nội dung tuyên truyền chuẩn phát triển 5 tuổi
Hình 3.1. Thực hiện bản tin tuyên truyền với PH
Hình 3.2. GD trẻ tiết kiệm nước sinh hoạt trong giờ rửa tay, rửa mặt
108
Hình 3.3. GD trẻ sử dụng nước uống
Hình 3.4. Hướng dẫn cháu sử dụng vòi nước tiết kiệm nước
Hình 3.5. Các bé biểu diễn thời trang giấy
Hình 3.6. Các cháu diễn tiểu phẩm về tiết kiệm
trong Lễ tổng kết năm học
năng lượng trong Lễ tổng kết năm học

