BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thanh Duyên

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thanh Duyên

Chuyên ngành

: Giáo dục học (Mầm non)

Mã số

: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỢNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết

luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở

nghiên cứu nào khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên

Trần Thị Thanh Duyên

3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng

dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên của gia đình.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:

Quý Thầy, Cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học

Sài gòn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng

dạy tôi trong suốt thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Sư phạm Thành

phố Hồ Chí Minh.

TS. Nguyễn Thị Hồng Phượng, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo và

động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.

Cán bộ quản lý trường mầm non Hoa Hồng quận Bình Tân, nơi tôi công tác, đã luôn

giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Cán bộ quản lý, giáo viên mầm non của các trường mầm non Hương Sen, mầm non

Hoa Hồng và mầm non 19/5 quận Bình Tân đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi

khảo sát để hoàn thành luận văn.

Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá

trình học tập, làm việc và thực hiện luận văn.

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ đề cương

và hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thành tốt luận văn

này.

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Duyên

4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... 3

LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................................... 4

MỤC LỤC ............................................................................................................................... 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................... 8

MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 9

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ .................................................... 14

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 14

1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài ......................................................................... 14

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước ............................................................................. 14

1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài ............................................................................. 15

1.2.1. Khái niệm biện pháp GD ..................................................................................... 15

1.2.2. Khái niệm GD nhận thức ..................................................................................... 16

1.2.3. Khái niệm GD thái độ, thái độ sống .................................................................... 17

1.2.4. Khái niệm kỹ năng .............................................................................................. 19

1.2.5. Khái niệm năng lượng ......................................................................................... 20

1.2.6. Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm .................. 21

1.2.7. Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả ................. 21

1.3. Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

............................................................................................................................................ 22

1.3.1. Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ........................ 22

1.3.2. Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận

thức- kỹ năng và thái độ ................................................................................................ 23

1.3.3. Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ..................... 25

1.3.4. Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ..................... 27

5

1.3.5. Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

ở các nền GD tiên tiến ................................................................................................... 28

1.4. Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi .................................................. 30

1.5. Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi ....................... 32

1.6. Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi ................................ 33

1.7. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả ................................................................................................................... 36

Tiểu kết chương 1 ................................................................................................................. 37

Chương 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ ................................................... 38

2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề ................................................................... 38

2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề ....................................... 38

2.2.1. Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề .............................................................. 38

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề ....................................................... 39

2.3. Tổ chức nghiên cứu thực trạng vấn đề ..................................................................... 42

2.4. Đối tượng tham gia nghiên cứu thực trạng .............................................................. 42

2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề...................................................................... 42

2.5.1. Thực trạng nhận thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của

CBQL, GVMN và PH của trẻ MG 5-6 tuổi ................................................................... 42

2.5.2. Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi nhận thức

đúng trong việc sử dụng năng lượng ............................................................................. 43

2.5.3. Thực trạng GD thực hành để tập kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả cho trẻ MG 5-6 tuổi ................................................................................................ 49

2.5.4. Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN và PH về hình thức tổ chức GD tiết

kiệm năng lượng cho trẻ ở trường MN .......................................................................... 50

2.5.5. Những khó khăn trong việc vận dụng các biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng

tiết kiệm, hiệu quả .......................................................................................................... 52

6

2.5.6. Thực trạng hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ

5-6 tuổi ở các trường MN .............................................................................................. 53

2.5.7. Thực trạng thực hiện nội dung GD này trong chương trình CSGD MN của Bộ

GD&ĐT ......................................................................................................................... 54

2.5.8. Thực trạng về công tác và kết quả bồi dưỡng GV nhằm GD trẻ MG sử dụng

năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở một số trường MN, quận Bình Tân........................... 56

Tiểu kết chương 2 ................................................................................................................. 59

Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ

MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ ............ 60

3.1. Đề xuất chương trình thực nghiệm GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả ................................................................................................................... 60

3.2. Tổ chức thực nghiệm ................................................................................................. 66

3.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm .............................................................................. 68

Tiểu kết chương 3 ................................................................................................................. 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM .......................................................................... 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 81

PHỤ LỤC .............................................................................................................................. 85

7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : cán bộ quản lý

: chăm sóc CS

: đối chứng ĐC

: giáo dục GD

: giáo viên GV

: hoạt động HĐ

: mẫu giáo MG

: mầm non MN

: nhà xuất bản Nxb

: phụ huynh PH

: trung bình TB

: thực nghiệm TN

8

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, con người sử dụng nguồn năng lượng bị lãng phí, nguồn tài nguyên cạn

kiệt, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời

sống và sự sinh tồn của con người. Nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng này là do sự

thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Vì vậy, ngày nay, việc GD bảo vệ môi trường

trong đó việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả được quan tâm ngay từ bậc học

MN. Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số

79/2006/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết

kiệm và hiệu quả với chủ trương đưa nội dung GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào hệ thống GD quốc dân [26].

Vấn đề đặt ra là ở độ tuổi nào thì trẻ em có thể nhận thức và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả? Nhà GD học A.X Macarencô (1888-1939) cho rằng, những gì trẻ em không

có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và việc GD lại rất khó khăn. Thực tế GD

trẻ em ở nhiều nước cho thấy 5-6 tuổi là giai đoạn hình thành tiền đề của nhân cách, trong

đó đặc biệt là GD trẻ nhận thức, GD cho trẻ có những hành vi và thái độ đúng đắn về thế

giới xung quanh.

Việc GD này cần thực hiện hiệu quả, bền vững, tránh mang tính hình thức hay mang

tính phong trào - mới triển khai thực hiện ồ ạt, sau giai đoạn phát động thì giảm sự quan tâm

và giảm tác động, mất dần tính hiệu quả. Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ GD mới này

không làm tăng nặng chương trình CSGD MN hiện hành, để giải quyết yêu cầu này, Bộ GD

& ĐT chọn quan điểm GD tích hợp, những chỉ đạo ban đầu cũng đã được đề ra bởi Phòng MN- Sở GD & ĐT TP.HCM - làm tiền đề pháp lý cho việc nghiên cứu thử nghiệm GD trẻ

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả [24].

Xuất phát từ những lý do trên vấn đề “Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” được chọn để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả nhằm nâng cao tính khoa học và tính hiệu quả cho việc thực hiện nhiệm vụ GD này ở

các trường MN.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

9

- Nghiên cứu lý thuyết nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài: Lý thuyết được nghiên cứu

theo các vấn đề sau đây:

+ Các khái niệm công cụ của đề tài (biện pháp GD, GD nhận thức, GD thái độ, thái

độ sống, kỹ năng, năng lượng, tiết kiệm, hiệu quả);

+ Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả;

+ Các biện pháp và điều kiện GD nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi;

+ Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ 5- 6 tuổi;

+ Các biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi;

+ Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả.

- Nghiên cứu thực trạng vấn đề: thực trạng về nội dung, phương thức và điều kiện GD trẻ

MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM; rút ra

nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương trình GD

thực nghiệm giải quyết vấn đề nghiên cứu.

- Nghiên cứu thực nghiệm giải quyết vấn đề: biên soạn chương trình GD thực nghiệm và

tổ chức thực nghiệm chương trình này, rút ra nhận xét - đánh giá kết quả GD thực nghiệm.

- Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị.

4. Giả thuyết

Có thể xác định được một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả nếu kết hợp 3 mặt tác động: GD nhận thức - GD thái độ sống tiết kiệm - GD

kỹ năng sử dụng đối tượng hiệu quả.

5. Khách thể - đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: quá trình GD kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

cho trẻ MG.

Đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD (nghĩa rộng) để trẻ MG 5-6 tuổi bước

đầu có nhận thức và có kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

6. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện trong giới hạn sau đây:

- Tập trung vào đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả.

10

- Nghiên cứu trên trẻ MG 5- 6 tuổi và GVMN dạy lớp MG 5-6 tuổi ở 3 trường MN thuộc

địa bàn quận Bình Tân, TPHCM, trong năm học 2012-2013.

- Hiệu quả GD thực nghiệm chỉ trong quá trình tác động 2 tháng, với 40 trẻ MG 5-6 tuổi và

2 GVMN.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp lý luận về việc vận dụng các biện pháp GD năng

lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi, đề ra quan điểm nghiên cứu đề tài và biện luận.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp quan sát

Đối tượng quan sát:

a/ Thực trạng vận dụng các biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả trong trường MN và điều kiện thực tế cho phương thức GD này. (Kết quả

nghiên cứu được dùng để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu).

Việc quan sát được tiến hành ở 3 lớp MG 5- 6 tuổi, trên 6 GVMN ở 3 trường MN

quận Bình Tân (Trường MN Hoa Hồng: 1 lớp/2 giáo viên, trường MN 19/5: 1 lớp/2 giáo

viên, trường MN Hương Sen: 1 lớp/2 giáo viên).

Nội dung quan sát: cách tổ chức quá trình GD, biện pháp GD, HĐ thực hành của trẻ,

điều kiện thực hiện GD.

b/ Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho

trẻ có liên quan vấn đề nghiên cứu. (Kết quả nghiên cứu chủ yếu được khai thác để biên

soạn chương trình GD thực nghiệm).

7.2.2. Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi ý kiến

Đối tượng điều tra ý kiến: PH trẻ 5-6 tuổi, GVMN phụ trách lớp 5- 6 tuổi, CBQL

trường MN có hướng dẫn trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Nội dung điều tra: nhận thức và quan điểm của các đối tượng này về cách xác định

và tổ chức vận dụng những biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng hiệu quả; những thuận lợi

và khó khăn của GVMN và CBQL trường MN trong công tác GD này.

Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:

- Thực trạng chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD: những ưu điểm với hiệu

quả GD, những hạn chế và cơ hội khắc phục.

11

- Có hay không tính đồng bộ trong chiến lược GD hiện nay ở trường MN: GD nhận

thức - GD thái độ - GD kỹ năng.

- Những điều kiện thuận lợi cho khả năng tác động GD đồng bộ này trong thực tế GD

MN.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn (khi cần làm rõ những vấn đề đã điều tra)

Đối tượng phỏng vấn: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi, PH của trẻ MG 5-6 tuổi và chuyên

gia trong lĩnh vực nghiên cứu.

Nội dung phỏng vấn: những vấn đề chưa rõ từ kết quả thu thập qua phiếu hỏi ý kiến.

7.2.4. Phương pháp thực nghiệm

Đối tượng chính tham gia chương trình GD thực nghiệm: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi

và trẻ MG 5-6 tuổi.

Các nhiệm vụ: việc biên soạn chương trình GD thực nghiệm dựa trên cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, việc tổ chức và triển khai chương trình GD thực

nghiệm; việc kiểm nghiệm giá trị khoa học và hiệu quả của những biện pháp GD đã đề ra.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0 để xử lý số liệu. Các thông

số thống kê sử dụng như sau: tần suất, kiểm nghiệm t, điểm trung bình.

8. Đóng góp của đề tài

- Giá trị lý luận:

a/ Đúc kết kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả. Tổng luận những vấn đề chung của việc GD này.

b/ Thử nghiệm và kiểm nghiệm hiệu quả của chiến lược GD đồng bộ cho trẻ trong độ

tuổi từ 5- 6 tuổi: GD nhận thức - GD thái độ sống tiết kiệm và HĐ hiệu quả - GD kỹ năng

sử dụng đối tượng.

c/ Đề xuất một số biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

và xác định những điều kiện cần thiết.

d/ Đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả.

- Giá trị thực tiễn:

a/ Phác họa thực trạng vấn đề GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM, rút ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên

nhân hạn chế, cũng như chỉ ra những khả năng hoàn thiện nhiệm vụ GD này.

12

b/ Đề ra những điều kiện tổ chức vận dụng biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng

lượng tiết kiệm, hiệu quả.

9. Cấu trúc đề tài

Mở đầu

Nội dung nghiên cứu

Chương 1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử dụng năng lượng

tiết kiệm, hiệu quả.

Chương 2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử

dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Chương 3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử

dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

13

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6

TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài

Đáng chú ý là từ thế kỷ 17, J.A.Cômenxki (người Tiệp Khắc) đã xây dựng chương

trình GDMN thời ấy với quan điểm đưa kiến thức rộng đến với trẻ - cho trẻ biết thế nào là

lửa, không khí, nước, mưa, tuyết…[8].

Ở Hàn Quốc và Úc, trẻ em MN được học bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung sử

dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Phương pháp GD là trẻ thực hiện sống tiết kiệm trong

tiêu dùng, tập làm đồ dùng đồ chơi với nguyên vật liệu đã qua sử dụng nhằm hạn chế rác

thải và tiết kiệm- sử dụng lại.

Nga đưa nội dung GD trẻ MG về việc con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Từ

đó, dạy cho trẻ ý thức tiết kiệm.

Mỹ là nước tiêu thụ năng lượng đứng thứ hai (sau Trung Quốc) trên thế giới, với

chương trình Năng lượng và bạn (Energy and you) là một chương trình giáo dục năng lượng

phù hợp với các tiêu chuẩn nội dung khoa học California. Học sinh có cơ hội để kết nối

khoa học lớp học của họ học tập để tiết kiệm năng lượng và bảo tồn. Những đứa trẻ và gia

đình của họ sẽ tìm hiểu những lợi ích của việc bảo tồn năng lượng, và làm thế nào hành

động của họ có thể tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tiền và bảo vệ hành tinh [52].

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước

Nội dung GD bảo vệ môi trường cho trẻ MG 5 tuổi, Trung tâm Nghiên cứu GDMN,

năm 2002 đã đưa ra nội dung các HĐ thực tiễn của trẻ góp phần bảo vệ môi trường: tiết kiệm trong sinh hoạt (tiết kiệm điện, nước, đồ dùng đồ chơi) [9]. Chương trình GDMN thí

điểm 2005-2006 GD trẻ quan tâm đến môi trường, tiết kiệm điện, nước.

Để giải quyết nhiệm vụ triển khai việc GD trẻ MN bảo vệ môi trường, nhóm tác giả

Hoàng Thị Thu Hương – Trần Thị Thu Hòa – Trần Thị Thanh đã gợi ý một số phương pháp,

hình thức để tổ chức GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm theo quan điểm tích hợp chủ đề,

lồng ghép với nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ [13].

Tác giả Hoàng Thị Phương đưa biện pháp tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm nước:

chỉ sử dụng lượng nước cần cho ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân; không nghịch nước,

14

không để nước chảy liên tục khi đánh răng, rửa mặt, rửa tay, rửa cốc chén. Sử dụng các

nguồn năng lượng sạch như: năng lượng mặt trời, gió, thủy điện...[19].

Tác giả Kim Phụng, đề cập đến việc GD thiếu niên tiết kiệm năng lượng qua tiết kiệm

giấy: chủ yếu tổ chức cho trẻ sử dụng lại giấy còn trống, người lớn trò chuyện, làm gương

cho các em làm theo [20].

Tác giả Hoàng Đức Nhuận cùng cộng sự đã đề cập đến việc GD môi trường, trong đó

có nội dung tiết kiệm nước, nguồn tài nguyên, hình thành hành vi bảo vệ nguồn nước, biết

phản ứng cần thiết đối với những hành vi phá hoại lãng phí nguồn nước. Theo nhóm tác giả

trên, thì nội dung này thực hiện một cách tản mạn, thiếu tập trung, không có sự kiểm tra,

đánh giá nên hiệu quả GD thấp. Do đó cần trang bị cho đội ngũ GV hệ thống kiến thức, biện

pháp cần thiết để thực hiện nội dung này. Trong đó, chủ yếu cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên,

người lớn cần theo dõi uốn nắn trẻ trong các HĐ, trong chế độ sinh hoạt hằng ngày [29].

Hai tác giả Lê Xuân Hồng – Nguyễn Thanh Thủy đã đưa ra hoạt động thử nghiệm cho

trẻ thấy được nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước, suy đoán về hậu quả xảy ra, từ đó xây

dựng hành vi thích hợp: phải biết tiết kiệm nước sạch, không đổ nước bẩn thẳng vào đất.

Đồng thời thông qua HĐ tạo hình, làm ra sản phẩm đồ chơi từ nguyên vật liệu đã qua sử

dụng GD trẻ biết tiết kiệm đồ dùng, đồ chơi, giảm thải ra môi trường [10].

Tác giả Trần Lan Hương nhận định cần phải GD ý thức tiết kiệm lâu bền, tiết kiệm

điện, tiết kiệm nước, giảm tiêu thụ, tái sử dụng, tái chế. Tiết kiệm và giảm phế thải là lối

sống hợp lý, văn minh. Tác giả nhấn mạnh tấm gương của người lớn có tác dụng GD với trẻ

rất lớn [12].

Nhìn chung, biện pháp chủ yếu để GD trẻ là tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm ngay

trong sinh hoạt hàng ngày ở trường hay ở nhà, người lớn làm gương; hướng tiếp cận GD là

lồng ghép vào chương trình CSGD MN hiện hành.

1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1. Khái niệm biện pháp GD

Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách làm, cách

giải quyết một vấn đề cụ thể [34].

Theo từ điển của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thì biện pháp là cách

làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể [28].

Từ những khái niệm trên có thể hiểu biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn

đề cụ thể, hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ cụ thể.

15

Theo từ điển Tiếng Việt, hiểu theo nghĩa danh từ thì GD là nói đến quá trình HĐ có ý

thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức,

những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết

trong đời sống.

GD là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi

nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực.

Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý nghĩa.

GD là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh

hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức,

nhân cách.

Theo nghĩa rộng GD là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả

dạy học và các tác động GD khác đến con người. Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là

quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động,

GD lối sống, hành vi...) [31].

Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nằm mục đích thay

đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ. Biện pháp GD MN được hiểu là cách làm cụ thể

trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt

ra ở lứa tuổi MN. Phương pháp mang tính khái quát chung còn biện pháp mang tính cụ thể.

Biện pháp GD có mối quan hệ mật thiết với phương pháp GD và cả hai đều được qui định

bằng HĐ hợp tác cùng nhau giữa nhà GD và trẻ nhằm đạt được mục tiêu GD đã đặt ra ở lứa

tuổi MN [8].

Ở lứa tuổi MN, các biện pháp GD đặc biệt quan trọng, nó làm cho quá trình GD hấp

dẫn trẻ em và phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ. Do đó nâng cao hiệu quả của quá trình GD và làm cho HĐ học trở nên nhẹ nhàng sinh động [5].

1.2.2. Khái niệm GD nhận thức

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái

tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”.

Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách

quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý

tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận

thức là thực tiễn xã hội” [21, tr.9].

16

“GD nhận thức” là khái niệm nghiên cứu của GD học, theo nghĩa rộng được hiểu là

cách thức làm cho người học biết được cái mới thông qua con đường học với giáo viên, học

với bạn bè, học ở cha mẹ, ở truyền thông.

“HĐ nhận thức sơ đẳng góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu HĐ nhận

thức ở trẻ” [4, tr.71].

Dưới sự tổ chức hướng dẫn của nhà GD, trẻ nắm được tri thức có hệ thống, trẻ có

được một số biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh. Ngoài ra, trẻ hứng thú quan tâm, tò

mò về những hiện tượng, sự vật khác nhau ở xung quanh và dần dần có ý thức gần gũi với

môi trường.

Với hệ thống kiến thức, dù sơ đẳng, trẻ được hình thành khả năng định hướng trong

môi trường xung quanh; có khả năng nhận xét đánh giá khách quan các sự kiện, hiện tượng;

hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hợp lý hơn trước [4].

1.2.3. Khái niệm GD thái độ, thái độ sống

Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của

cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng

thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay

một sự việc nào đó”.

Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của

một cá nhân”.

Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế - thái độ

… có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần như: nhận thức, xúc cảm, hành vi”.

Nhà tâm lý học người Mỹ là H.C.Triandis đã đưa một định nghĩa khác về thái độ.

Ông cho rằng: “Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm. Nó gây

tác động đến hành vi nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định. Thái độ của con

người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự

của họ đối với đối tượng đó".

Triandis cho rằng thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Thái độ

có tính ổn định và sẽ thay đổi theo tình huống. R. Marten đã đưa ra định nghĩa: “Thái độ là

xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ

(nhận thức) xúc cảm và hành vi. Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi

vì thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong của nó” [53].

17

Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ. Theo quan điểm của đề

tài, thì càng có được kinh nghiệm sống đúng đắn thì con người càng có khả năng thống nhất

giữa nhận thức, xúc cảm và hành vi. Nếu diễn đạt đơn giản hơn thì thì thái độ của con người

bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự của họ

đối với đối tượng đó.

Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, GD thái độ cho trẻ là quá trình tác động sư phạm có

mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển cho trẻ những xúc cảm, tình cảm lành

mạnh, để hình thành hành vi ứng xử đúng mực với mọi người xung quanh, với thiên nhiên

và bản thân mình. Trên cơ sở đó, hình thành cho trẻ khả năng thích ứng xã hội, thiết lập mối

quan hệ và giao tiếp với người khác, đồng thời phát triển tính tự lực cho trẻ [8]. Mọi hành

động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm. Trẻ thích đối tượng nào thì mới tìm hiểu đối

tượng đó, hành động với đối tượng đó. Tình cảm điều khiển hành vi của trẻ, hành vi của trẻ

tốt hay xấu không phải do nhận thức đầy đủ hay không mà do tình cảm yêu hay ghét [23].

Đối với nhận thức và HĐ, cảm xúc tình cảm có vai trò như một động lực cho quá

trình tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh. Có thể xem xúc cảm, tình cảm là động cơ bền

bỉ nhất ảnh hưởng và chi phối toàn bộ HĐ của con người.

Do đó, trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục

đích yêu cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn,

gây được tình cảm tích cực. Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng để trẻ tích

cực HĐ [23].

Ở lứa tuổi MG, trẻ em rất tích cực lĩnh hội những thái độ, chuẩn đạo đức và những

qui tắc hành vi. Trẻ rất quan tâm đến việc đánh giá về mặt đạo đức những hành động của

con người và luôn hỏi người lớn xem cái gì là tốt, cái gì là xấu, hành động nào của những

người xung quanh là đúng, còn hành động nào là sai.

Trong khi nắm những tiêu chuẩn đạo đức, trẻ bắt đầu không những hiểu ý nghĩa đạo

đức của hành động bản thân và của người khác, mà còn bằng cách nào đó thể nghiệm những

tiêu chuẩn đạo đức đó, có những tình cảm đạo đức nhất định liên quan đến những tiêu chuẩn

ấy. Khi trẻ được tập luyện có hệ thống để quen hoàn thành những nhiệm vụ hết sức đơn giản

đối với người lớn, với bạn, với trẻ nhỏ tuổi, nếu công tác GD tiến hành đúng đắn thì ở trẻ sẽ

xuất hiện những tình cảm của nghĩa vụ. Khi đó, trẻ sẽ cảm thấy vui thích nếu hoàn thành tốt

đẹp những nhiệm vụ nhỏ bé của mình, sẽ tức giận với những bạn không hoàn thành nhiệm

vụ, sẽ cảm thấy bối rối khi chính bản thân mình làm trái với những yêu cầu đã định.

18

Do vậy, GD thái độ giữ vai trò quyết định trong việc phát triển những phẩm chất ý

chí của cá nhân đứa trẻ trong việc hình thành tính cách của nó [5].

Trẻ muốn được khẳng định mình, muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn

nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh. Đặc biệt những động cơ đạo đức, thể hiện thái

độ của trẻ với những người khác có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các

động cơ hành vi, gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực và những qui tắc đạo

đức trong xã hội [14].

1.2.4. Khái niệm kỹ năng

Theo T.A.Ilina, “kỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực hiện được

trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động thực hành này lại

giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [15, tr.5].

V.A. Crutetxki, nhà tâm lý học Xô Viết cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện một hành

động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức hành

động đúng. A.G. Côvaliôv quan niệm: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp

với mục đích và điều kiện hành động.

Hoàng Phê trong từ điển Tiếng việt định nghĩa “kỹ năng là khả năng vận dụng những

kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [30, tr.308].

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành

động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh

nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thục tiễn cho phép.

Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, kỹ năng là khả năng thực hiện, kỹ năng chỉ biểu hiện

thông qua một nội dung. Kỹ năng được hình thành dần dần trong suốt cả cuộc đời. Kỹ năng

vừa mang tính nhận thức vừa mang tính hoạt động chân tay.

Như vậy, theo quan điểm của đề tài, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một

hành động nào đó bằng cách vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có để hành động

phù hợp với thực tiễn.

Sự hình thành kỹ năng chia thành hai bước: một là nắm vững các tri thức về hành

động; hai là thực hiện được hành động theo các tri thức đó. Để có thể thực hiện được hành

động có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập dượt, phải có sự quan sát

mẫu, làm thử. Muốn kỹ năng có sự ổn định và sự mềm dẻo để có thể vận dụng vào những

điều kiện khác tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng, càng kỹ càng. Khi kỹ năng ổn định có

thể vận dụng được vào nhiều tình huống khác nhau. Quá trình hình thành kỹ năng đòi hỏi

19

thực hiện một số lớn hành động thực tiễn. Hình thành các kỹ năng một cách có ý thức, nghĩa

là trẻ hiểu tại sao mình phải làm như vậy và làm như thế nào [15].

1.2.5. Khái niệm năng lượng

Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả thì “Năng lượng bao gồm nhiên

liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài

nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo” [22, tr.1].

Năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ

cấp: than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp là nhiệt năng, điện năng được sinh ra

thông qua quá trình chuyển hoá năng lượng sơ cấp [6].

Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất trên trái đất có nguồn gốc chủ yếu là mặt

trời và năng lượng tàn dư trong lòng đất. Năng lượng mặt trời tồn tại ở các dạng chính: bức

xạ mặt trời, năng lượng sinh học dưới dạng sinh khối, năng lượng chuyển động của thủy

quyển, khí quyển (gió, bão, sóng, các dòng chảy sông suối, các dòng hải lưu).

Năng lượng tàn dư trong lòng trái đất có các dạng chính: các nguồn nước nóng, năng lượng

núi lửa, năng lượng của các khối đất đá nóng trong lòng thạch quyển.

Hiện nay, năng lượng tiêu thụ phổ biến trong các gia đình thường tập trung vào các

loại năng lượng: điện, xăng, dầu, gas, củi, than. Các năng lượng này thuộc dạng không tái

tạo. Nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo đang có nguy cơ cạn kiệt. Trong khi đó,

nhu cầu sử dụng năng lượng của con người gia tăng nhanh chóng cùng với sự phát triển

kinh tế xã hội. Chính đây là tính bức thiết của việc GD con người, từ nhỏ, sử dụng năng

lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Những con số thống kê đáng suy nghĩ về lượng sử dụng năng lượng của con người:

- Thời nguyên thủy: khoảng 2000 kcal/người/ngày dưới dạng thức ăn nguyên khai.

- Sau khi phát hiện ra và sử dụng lửa: khoảng 10.000 kcal/người/ngày.

- Sang thế kỷ XX: gần 70.000 kcal/người/ngày.

- Hiện nay: khoảng 200.000 kcal/người/ngày.

Theo tính toán, mức gia tăng tiêu thụ năng lượng thường có giá trị gấp hai lần mức

gia tăng thu nhập GDP. Do đó, tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để chúng ta bảo tồn

nguồn tài nguyên thiên nhiên [2, tr.6].

Để GD trẻ, nhà GD cần giới hạn biểu tượng về năng lượng trong phạm vi điện, gas, sức

gió, sức nước, ánh sáng mặt trời- là những dạng năng lượng cụ thể, “thấy được” và trẻ có sử

dụng đến trong sinh hoạt.

20

1.2.6. Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm

Tiết kiệm, hiểu theo nghĩa thông thường là hành vi giảm thiểu các lãng phí.

Tiết kiệm là khái niệm kinh tế, có liên quan mật thiết tới việc đầu tư. Tiết kiệm cho phép

tích lũy (dự trữ)…[42]. Tiết kiệm trong kinh tế học là phần thu nhập có thể sử dụng không

được chi vào tiêu dùng. Trong thuật ngữ tài chính cá nhân tiết kiệm đề cập đến việc dự trữ

tiền cho tương lai - loại tiền được gửi trong ngân hàng. Tiết kiệm khác với sự đầu tư, nơi mà

có những rủi ro [44].

Tiết kiệm năng lượng có nghĩa là giảm lượng năng lượng sử dụng trong khi đạt được

một kết quả tương tự sử dụng cuối cùng. Sử dụng năng lượng ít hơn có rất nhiều lợi ích -

bạn có thể tiết kiệm tiền và giúp cho môi trường. Tạo ra năng lượng đòi hỏi nguồn tài

nguyên thiên nhiên quý giá, ví dụ như than, dầu hoặc khí . Vì vậy, sử dụng ít năng lượng

hơn giúp chúng ta bảo tồn các nguồn tài nguyên [54].

Tiết kiệm năng lượng đề cập đến việc giảm năng lượng thông qua sử dụng ít hơn của

một dịch vụ năng lượng [55].

Tiết kiệm năng lượng là một thách thức đòi hỏi các chương trình chính sách, phát triển

công nghệ và thay đổi hành vi.

Như vậy, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm (Energy conservation) là việc tiết kiệm

năng lượng, giảm tiêu thụ năng lượng không tái tạo [44], là việc sử dụng năng lượng một

cách đúng lúc, đúng chỗ - “không dùng nữa thì tắt ngay” [26].

1.2.7. Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả

“Hiệu quả”, được mô tả trong nhiều từ điển, được hiểu như mức độ mà thời gian, công

sức hay chi phí được sử dụng tốt cho công việc hoặc cho mục đích, là nỗ lực để tạo ra một

kết quả cụ thể có hiệu quả với một số lượng tối thiểu, chi phí, hay sức lực không cần thiết.

Hiệu quả là một khái niệm không định lượng, tương đối mơ hồ, chủ yếu là liên quan

đến việc đạt được mục tiêu.

Hiệu quả là hoàn thành hoặc khả năng để thực hiện một công việc với một chi phí tối

thiểu thời gian và công sức [45].

Hiệu quả là khả năng để làm một cái gì đó hoặc tạo ra một cái gì đó mà không lãng phí

vật liệu, thời gian, năng lượng mà chất lượng mức độ được hiệu quả [35].

Sử dụng năng lượng hiệu quả có nghĩa là sử dụng ít năng lượng hơn để cung cấp cùng

một mức độ công việc, dịch vụ. Nó là một phương pháp để giảm phát thải khí nhà kính của

con người [46].

21

Khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” rộng hơn so với khái niệm “sử dụng năng

lượng hiệu quả”. Trong khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” bao gồm cả những nỗ lực

hoạt động để giảm tiêu thụ năng lượng thông qua việc thay đổi hành vi, ngoài việc sử dụng

năng lượng hiệu quả hơn.

Việc sử dụng năng lượng hiệu quả (Energy efficiency) là việc sử dụng một lượng năng

lượng ít nhất mà vẫn thỏa mãn nhu cầu sử dụng.

“Sử dụng năng lượng hiệu quả là mục tiêu của những nỗ lực nhằm làm giảm lượng

năng lượng cần thiết trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ” [44].

Như vậy, khi sử dụng năng lượng có hiệu quả là đã tiết kiệm. Nhưng, khi sử dụng tiết

kiệm năng lượng thì chưa hẳn đã đạt tính hiệu quả sử dụng nó [43].

“Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ

thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn

bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống” [22, tr.1].

“Như vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng lượng một cách

hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí năng lượng cho hoạt động của

các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt “[6, tr.1].

1.3. Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

1.3.1. Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

Vấn đề ô nhiễm môi trường đang mang tính cấp bách toàn cầu. Trẻ em là những thế

hệ tương lai, cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiết kiệm năng lượng

làm nền tảng cho ý thức, hành động vì môi trường sống của chính mình, gia đình và cộng

động.

Tuổi MN là giai đoạn đầu của quá trình hình thành nhân cách con người, đặt nền

móng cho việc hình thành thái độ đúng đắn của trẻ đối với thế giới xung quanh và giúp trẻ

định hướng trong thế giới đó. Đây cũng là giai đoạn rất nhạy cảm để hình thành ý thức, thái

độ và hành vi. Những kinh nghiệm trong việc sử dụng năng lượng ở giai đoạn này có ý

nghĩa lớn đối với sự phát triển ý thức bảo vệ môi trường trong những gia đoạn tiếp theo

[19].

Theo GD học lứa tuổi, ngay ở giai đoạn lứa tuổi MG, nếu trẻ được lĩnh hội những

chuẩn hành vi đúng thì hành vi và thái độ của trẻ sẽ dễ trở thành bền vững, nếu lĩnh hội sai

cũng dễ uốn nắn hơn các giai đoạn về sau. Vì vậy, đây là giai đoạn thích hợp để GD cho trẻ

22

cách sử dụng năng lượng nhằm bảo vệ môi trường. Hơn thế, việc GD tiết kiệm năng lượng

góp phần cho trẻ phát triển các mặt về nhận thức, yêu lao động, tình cảm đạo đức, kỹ năng

xã hội.

Về nhận thức: qua việc lĩnh hội tri thức về năng lượng, tài nguyên và mối quan hệ

giữa chúng với đời sống con người nhận thức của trẻ sẽ hoàn thiện, tích lũy kinh nghiệm,

hình thành các khái niệm đơn giản. Ngoài ra, trẻ còn có thể lĩnh hội những tri thức khoa học

sơ đẳng “làm thiết bị chạy như thế nào?”, “điện làm quạt chuyển động, quạt quay làm không

khí chuyển động và chúng ta mát”…Việc lĩnh hội tri thức có liên quan trực tiếp đến sự phát

triển ở trẻ khả năng nhận thức (tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng), tập trung chú ý, ngôn

ngữ…

GD tiết kiệm năng lượng góp phần hình thành cho trẻ tình yêu lao động. Khi được

hành động với các đồ dùng thiết bị, vật thật như người lớn thì trẻ sẽ thích thú “vì được xem

là người lớn”, “được làm như người lớn”. Từ đó, trẻ thích tự mình lao động tự phục vụ,

thậm chí “bảo lại” cho người khác để họ làm như mình.

Qua việc sử dụng tiết kiệm năng lượng rèn luyện cho trẻ kỹ năng xã hội. Từ nhận

thức, thái độ tích cực, đúng đắn trong việc sử dụng năng lượng, dẫn đến hành vi sử dụng tiết

kiệm, dần dần trở thành thói quen trong cuộc sống cho trẻ. Lúc này các HĐ của trẻ hằng

ngày đều được tính toán, sắp xếp để tiết kiệm, hiệu quả - không chỉ riêng trong các HĐ sử

dụng năng lượng.

Như vậy, việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả có ý nghĩa lớn lao trong

việc GD bảo vệ môi trường và hình thành nhân cách.

1.3.2. Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận

thức- kỹ năng và thái độ

• Nhận thức quá trình biến đổi hoặc quá trình phát triển của đối tượng:

Các thí nghiệm của N.N. Poddiakov cho phép ông khẳng định rằng trẻ 5- 6 tuổi có

thể quan sát, tự tri giác từng trạng thái của đối tượng trong các thời điểm khác nhau, liên kết

chúng lại trong não và có hình dung (có biểu tượng) về một chuỗi các bước biến đổi hoặc

phát triển của đối tượng. “Sự liên kết các trạng thái lại thành chuỗi” này hầu như rất hiếm

tìm thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi.

Từ đây, có thể khẳng định rằng nếu được GD nhận thức đúng đắn để có hệ thống

kiến thức về sự vật, hiện tượng nào đó thì trẻ 5- 6 tuổi có thể tìm hiểu và suy lý về nguyên

23

nhân - diễn tiến trước mắt - hậu quả lâu sau đó. Cơ sở lý luận này vô cùng có ý nghĩa khoa

học đối với việc nghiên cứu đề tài này .

• Trẻ 5- 6 tuổi có hay không có hệ thống kiến thức?

Trước hết, có thể thấy rằng nếu trẻ 5- 6 tuổi có năng lực liên kết các biểu tượng cụ

thể trong giai đoạn để có được biểu tượng về một chuỗi biến đổi, chuỗi các bước phát triển

của đối tượng và hình dung được cả quá trình biến đổi hay phát triển này trong đầu thì cũng

có nghĩa là các em có thể hệ thống hóa được kiến thức của mình. Kết quả thu được rất đáng

chú ý sau đây trong thí nghiệm của N.N. Poddiakov: trẻ 5- 6 tuổi, nhờ vào năng lực hệ

thống hóa kiến thức mà có thể lập được các mối liên hệ giữa những bước đã hình thành từ

trước (thậm chí từ rất lâu trước kia mà trẻ không thể tri giác trực tiếp) với cái đang diễn ra

bây giờ và cái sẽ xảy đến trong tương lai. Có nghĩa là, trẻ em cần được khảo sát để có

những biểu tượng (hình dung) cụ thể về thế giới xung quanh, để chúng làm tiền đề cho năng

lực hệ thống hóa kiến thức ở trẻ.

Mặt khác, tâm lý học trẻ em (từ 0- 6 tuổi) cho thấy trẻ em 5- 6 tuổi cũng có thể đi

theo lộ trình khác để có thể hệ thống hóa kiến thức của mình: nhận thức những đặc điểm bề

ngoài của sự vật, hiện tượng; phát hiện ra những mối liên hệ bản chất - ẩn bên trong giữa

các sự vật, hiện tượng đó; nhận thức về tính liên tục và trình tự của sự vật, hiện tượng.

• Giải quyết vấn đề bằng hình tượng trong đầu và bằng suy lý:

Rất nhiều nhà tâm lý học (J. Piaget, A.V. Zaporodgets, A.A. Liublinxkaia…) đã

chứng minh rằng sự xuất hiện tư duy trực quan hình ảnh là bước ngoặt trong sự phát triển

nhận thức của trẻ.

Theo N.N. Poddiakov [40], “Không phải chỉ cần giúp trẻ lĩnh hội kiến thức và kỹ

năng đủ là tự trẻ sẽ có bước chuyển từ tư duy trực quan hành động (thường dưới dạng thử -

sai trên đối tượng cụ thể) sang năng lực thao tác bên trong não bằng hình ảnh (tư duy trực

quan hình ảnh). Trẻ cần nhiều hơn thế, chí ít là được hướng dẫn HĐ với đồ vật, đặc biệt với

công cụ, được nói và nghe hiểu, được bắt chước…”. Ông nhấn mạnh sự cần thiết thực hiện

3 bước luyện tập dạng nhận thức bằng hình tượng trong đầu sau đây theo ý tưởng của G.I.

Minskaia, A.V. Zaporodgets (đã thực nghiệm với trẻ em từ năm 1954):

Bước 1. Trẻ được đưa vào tình huống có vấn đề và có vật cụ thể trước mắt để hành

động với vật đó.

Bước 2. Trẻ được quan sát tranh ảnh và được đưa vào tình huống có vấn đề, tự giải

quyết (thao tác bằng hình ảnh trong đầu, không có vật cụ thể để thao tác).

24

Bước 3. Trẻ chỉ nghe lời mô tả của người lớn về tình huống có vấn đề (không có vật

cụ thể cũng không có tranh ảnh…), tự giải quyết (thao tác bằng sự suy lý trong đầu, là tiền

đề của tư duy logic - từ ngữ).

Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng trẻ cần được hướng dẫn để có thể hoạt

động định hướng tìm hiểu sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó dần dần trẻ tự phát hiện ra những

mối quan hệ mang tính bản chất ẩn chứa trong tình huống có vấn

đề ấy.

E.X. Komarova (1973) [38] làm thí nghiệm để chứng minh trẻ sau 4 tuổi hoàn thành

được các bài tập có sử dụng mô hình hóa, sử dụng hình vẽ kiểu sơ đồ với những ký hiệu.

Kết quả là có tới 81% số trẻ sau 5-6 tuổi tự giải quyết vấn đề bằng tư duy trực quan sơ đồ

(là bước chuyển tiếp từ tư duy trực quan hình ảnh sang tư duy logic - từ ngữ) ở kiểu mô

hình phức tạp và cũng đáng kể là có 43% số trẻ này giải quyết được bài tập ở kiểu mô hình

rất phức tạp.

Như vậy, cần đưa ra nhiệm vụ GD trẻ định hướng và phát hiện các mối quan hệ logic

giữa các sự vật, hiện tượng; thiết kế bài dạy trẻ (hoặc HĐ) sao cho trẻ được khảo sát vật thật

(thiết bị chẳng hạn) trong sự an toàn, chuyển sang sử dụng tranh ảnh/phim ảnh rồi chuyển

thành nghe lời mô tả tình huống, sự kiện và tự giải quyết.

Lý thuyết trên đây về sự phát triển tư duy và năng lực hệ thống hóa kiến thức ở trẻ 5-

6 tuổi là cơ sở lý luận quan trọng cho nghiên cứu này.

1.3.3. Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

Xuất phát từ quan điểm hiện đại về chống ô nhiễm không khí, làm sạch môi trường,

con người thường có những động cơ khác nhau để cải thiện việc sử dụng năng lượng hiệu

quả [37], [39], [47]:

- Nỗ lực làm giảm lượng năng lượng cần thiết dẫn đến tiết kiệm chi phí tài chính cho

người tiêu dùng...

- Giảm sử dụng năng lượng cũng được xem là một giải pháp cho vấn đề giảm chất,

khí thải ra ngoài không khí. Việc này giúp kiểm soát lượng khí thải của các loại khí gây hiệu

ứng nhà kính trên toàn cầu.

- Hiệu quả sử dụng năng lượng cũng đạt được bằng cách áp dụng một công nghệ hiệu

quả hơn, điển hình như việc chọn đèn compact sẽ tiết kiệm được đến hai phần ba năng

lượng so với của đèn sợi đốt, sử dụng công tắc điện “có thể làm mờ” hoặc sử dụng thiết bị

cảm ứng với nhiệt độ thân thể (tự động tắt nguồn điện khi người đã đi ra khỏi phòng); việc

25

sử dụng lốp xe cao cấp hơn để giảm ma sát trên mặt đường; việc thay thế một bộ lọc không

khí bị tắc…

- Làm chậm tốc độ cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng trong nước.

- Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên.

- Bật/tắt để chỉ sử dụng lượng ánh sáng cần thiết.

Từ những thông tin tuyên truyền sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và có hiệu

quả nêu trên, rút ra được những nhiệm vụ GD căn bản có thể triển khai cho trẻ 5- 6 tuổi:

a) Hướng dẫn cách sử dụng thông minh:

Trẻ em 5- 6 tuổi cần được tập:

+ Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên: đi ra ngoài để làm việc dưới ánh sáng tự

nhiên; mở cửa sổ, cửa cái, kéo dẹp màn cửa... thay vì chỉ bật sáng đèn trong phòng;

cắt cành hay tán cây che mất ánh sáng trên các hành lang...

+ Tắt khi không cần dùng (chỉ sử dụng lượng ánh sáng, nước, chất đốt...đủ

cần thiết).

+ Nhắc người lớn đem xe “đi bảo trì” để tiết kiệm xăng (đem xe đi kiểm tra).

b) Giải thích về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:

Người lớn - đặc biệt cần phối hợp giữa GV và PH giải thích cho trẻ:

+ “Tiết kiệm điện, nước là tiết kiệm tiền cho cha mẹ”.

+ “Sẽ giảm được khói, khí đen ở xung quanh ta nếu giảm đốt điện hoặc giảm đốt xăng,

dầu khi đi xe”.

+ “Giảm đốt xăng, dầu, giảm thắp sáng bóng đèn điện, giảm đốt lò gas...thì môi trường

sống của chúng ta sẽ mát mẻ hơn”.

+ Giải thích ý nghĩa tiết kiệm điện khi sử dụng thiết bị hiện đại: cùng xem hoặc trò

chuyện với trẻ về ý nghĩa tiết kiệm điện của máy lạnh, quạt hơi nước...có cảm ứng

với nhiệt độ cơ thể người (ngày nay, trẻ có thể bắt gặp các thiết bị này trong các

chương trình quảng cáo trên tivi).

+ Biết một số dạng năng lượng thường được sử dụng: điện, xăng, dầu, rơm, củi, gas,

than, …thông qua một số đồ dùng sử dụng năng lượng.

+ Hiểu được lợi ích của năng lượng để biết tại sao phải sử dụng tiết kiệm

năng lượng.

+ Hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm. Thực hiện một số biện pháp sử

dụng năng lượng hiệu quả.

26

+ Hình thành ý thức tiết kiệm năng lượng: biết thể hiện thái độ khi người xung quanh

sử dụng năng lượng không tiết kiệm [1].

c) Tổ chức đời sống sinh hoạt, việc dạy học cho trẻ sao cho trẻ thực hành sử dụng năng

lượng tiết kiệm, hiệu quả.

1.3.4. Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

1.3.4.1. Hiểu biết về năng lượng

Năng lượng bao gồm: điện, nhiên liệu (xăng, dầu, rơm, rạ, gas, củi, than), năng lượng

mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước.

Điện là một dạng của năng lượng. Điện được tạo ra từ các nhà máy điện như nhà máy

thủy điện, nhà máy nhiệt điện…

Làm thế nào điện đến được các nhà? (Từ nhà máy điện, điện được dẫn theo đường

điện cao thế đến các trạm điện, rồi theo các dây điện, điện được dẫn đến

các nhà).

1.3.4.2. Lợi ích của năng lượng

Lợi ích của điện:

Giúp cho bóng đèn sáng – cung cấp ánh sáng.

Giúp cho quạt, máy điều hòa hoạt động – làm mát hoặc làm ấm nhà ở.

Giúp cho tivi, đài hoạt động để bé và mọi người có thể nghe đài, xem tivi.

Giúp cho máy vi tính hoạt động để cha mẹ, cô giáo làm việc, bé chơi trò chơi trên

máy vi tính.

Giúp cho tủ lạnh hoạt động bảo quản thức ăn không bị ôi thiu.

Điện dùng để nấu chín cơm (nồi cơm điện), nấu chín thức ăn (bếp điện), đun nước sôi

(ấm điện), …

Lợi ích của nhiên liệu:

Xăng dầu giúp cho các phương tiện giao thông như xe máy, xe ôtô, tàu hỏa,… di

chuyển

Xăng dầu giúp cho thuyền, tàu thủy hoạt động trên sông để vận chuyển người và hàng

hóa, giúp ngư dân ra biển đánh bắt tôm cá.

Rơm, rạ, củi, than, gas, dầu hỏa có thể làm chất đốt để nấu chín thức ăn.

Lợi ích của năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước).

Đây là những dạng năng lượng sạch không làm hại đến môi trường như những nguồn năng

lượng khác (than, dầu hỏa, khí gas tự nhiên). Nguồn năng lượng sạch có rất nhiều, không

bao giờ cạn kiệt.

27

Năng lượng mặt trời: mặt trời là nguồn năng lượng, chúng ta có thể lắp đặt những tấm

thu nạp ánh nắng mặt trời để tạo ra điện sử dụng trong nhà, làm khô quần áo thay cho việc

sấy khô hoặc là quần áo, nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm cho cây cối phát

triển, làm cho ô tô chuyển động bằng cách lắp đặt tấm pin mặt trời trên nóc ôtô để tạo ra

điện,

Năng lượng gió: những chiếc tua bin khổng lồ có thể sử dụng năng lượng gió tạo ra

điện. Thuyền buồm chạy được trên sông trên biển nhờ vào sức gió. Chúng ta nhờ sức gió để

thả diều bay trên bầu trời.

Năng lượng nước: con người sử dụng sức nước để giã gạo và cắt gỗ, đặc biệt sử dụng

sức nước để tạo ra điện.

1.3.4.3. Tiết kiệm năng lượng

Tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Với trẻ MN,

sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở trường và ở gia đình là thực hiện những hành việc

phù hợp với khả năng, độ tuổi của mình cụ thể như sau:

Trẻ không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa, máy sưởi đang bật. Biết tắt đèn, tắt

quạt khi ra khỏi phòng. Không được mở cửa tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa

tủ khi không có nhu cầu dùng đến. Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy

tính khi không sử dụng.

Bên cạnh đó trẻ cần biết thực hiện việc đảm bảo an toàn cho mình trong sử dụng điện.

Trẻ luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. Không bao giờ tự

cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất.

Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt. Khi ngửi thấy mùi

khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.

Thông qua việc làm trên hình thành hành vi, thái độ tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Trẻ

chú ý quan sát và bắt chước những việc làm của người lớn: khi ra khỏi phòng thì phải tắt

điện (tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi không dùng). Có thái độ không đồng tình với những người

không có ý thức tiết kiệm năng lượng. Nhận ra người nào sử dụng năng lượng tiết kiệm,

người nào sử dụng không tiết kiệm [2].

1.3.5. Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

ở các nền GD tiên tiến

Hầu hết việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng được tổ chức ở nhà và PH là những người

trực tiếp GD trẻ điều này.

28

Ở Ấn Độ, GD môi trường cho trẻ em bắt đầu từ việc cho trẻ thấy được trách nhiệm của

mình trong việc giúp tiết kiệm môi trường. Trẻ được nghe những lời khuyên về môi trường

và yêu cầu trẻ làm theo. Mặc dù chúng thấy bản thân mình quá nhỏ để thực hiện, nhưng khi

được nghe tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trẻ cũng quan tâm một cách háo hức.

Trong đó, GD cho trẻ tránh lãng phí nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường hôm nay là chuẩn

bị cho ngày mai.

Trong sinh hoạt hằng ngày, trẻ được dạy tắt vòi nước khi giặt xà phòng, chải răng, khi

sử dụng bồn rửa trong vườn. Những điều này PH của trẻ phải là người thực hiện tốt nhất để

GD cho trẻ.

Dạy trẻ hãy thử đi chung xe, đi bộ hoặc đi bằng phương tiện giao thông công cộng..

những việc này giữ cho không khí trong khu phố sạch sẽ, không bị ô nhiễm.

Bên cạnh đó khuyến khích trẻ em ra ngoài chơi hoặc giao nhiệm vụ cho trẻ làm hơn là

cho trẻ trò chơi trên máy vi tính. Đồng thời dạy trẻ tắt màn hình, tắt máy vi tính khi ra

ngoài.

PH trang bị bóng đèn huỳnh quang, nhắc trẻ tắt đèn, tắt quạt và các thiết bị điện tử

khác khi không sử dụng.

Đặc biệt, cho trẻ trồng mảng xanh: tham gia trồng cây trong vườn nhà, hoặc trồng vào

cái nồi nhỏ ở ban công. Đây là cách tuyệt vời để giúp môi trường.

Tiết kiệm giấy. Không sử dụng những chiếc cốc giấy, yêu cầu trẻ dùng khăn, giẻ lau

thay khăn giấy và khăn ăn. Yêu cầu trẻ dùng tạp chí cũ, báo cũ cho việc thủ công và nghệ

thuật. Cắt giảm giấy bất cứ nơi nào có thể sẽ giúp tiết kiệm nhiều cây hơn [49].

Chương trình Energy and you ở California giúp học sinh hiểu về tầm quan trọng của

năng lượng, tầm quan trọng của bóng râm, tầm quan trọng của tiết kiệm năng lượng ở

trường và ở nhà. Từ đó, dạy học sinh trồng cây xanh ở phía nam của ngôi nhà của bạn cung

cấp càng nhiều bóng mát mùa hè như máy điều hòa không khí. Học sinh được dạy mỗi sản

phẩm sử dụng điện có hai chi phí: một là giá mua sản phẩm đó và một là giá trên hóa đơn

tiện ích, tức là số tiền trả chi phí năng lượng mà sản phẩm đó đã tiêu thụ. Đối với một số sản

phẩm năng lượng, chi phí để chạy các sản phẩm có thể lớn hơn chi phí để mua nó nhiều lần.

Mặc dù một số sản phẩm tiết kiệm năng lượng có thể có giá cao hơn, vì chức năng tiết kiệm

điện [52].

Ở Anh, tổ chức BritMum và British Gas đã hợp tác trên một chiến dịch để GD người

dân về bảo tồn năng lượng và giảng dạy trẻ em về tiết kiệm năng lượng xung quanh nhà.

29

Việc đầu tiên là tắt đèn khi bạn ra khỏi phòng. Kế đến là tiết kiệm điện bằng cách đi

ngủ mặc bộ đồ dài tay, dày một chút, thêm một cái mền thay vì bật lò

sưởi ấm.

Tổ chức chơi trò chơi hội đồng. Nghĩa là cùng gặp nhau chơi nhóm với các bạn thay

vì mỗi người bật wifi của mình, hay gọi điện thoại cho nhau…Tương tự là GD trẻ thường

xuyên đi thăm thân nhân hoặc dành nhiều thời gian tại nhà bạn bè của họ, như thế mình

không phải sử dụng năng lượng của nhà mình nhiều.

Khi trẻ muốn sử dụng lò vi sóng thì phải đảm bảo đủ một lượng thực phẩm, không

được ít sẽ tốn năng lượng [48].

Trẻ em Bulgaria được khuyến khích thực hiện “nội quy” cho tiết kiệm năng lượng.

Bao gồm việc tắt đèn, tắt quạt, máy tính, tivi… khi rời khỏi phòng, dùng chăn thay vì dùng

lò sưởi vào mùa đông, không để mở cửa tủ lạnh, đóng rèm cửa trong những ngày hè nóng để

ngăn chặn mặt trời, trong mùa đông, giữ cho rèm cửa mở, giúp ba mẹ của bạn trồng cây che

ngôi nhà của bạn trong những ngày hè….những nội qui này mỗi đứa trẻ thực hiện ở nhà

cùng với người thân [50].

Như vậy, nhìn chung ở một số nước GD trẻ tiết kiệm năng lượng từ nhỏ, bằng việc

thực hiện các hành động đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày như tắt các thiết bị, đồ dùng

khi không dùng đến, đặt ra các nội qui cho trẻ, các hoạt động trồng cây xanh, tận dụng ánh

sáng tự nhiên….Những thói quen này được tập luyện hàng ngày và người lớn là hình mẫu

cho trẻ làm theo.

1.4. Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi

Theo từ điển bách khoa, điều kiện là khái niệm chỉ ra những gì mà nếu không có nó thì

đối tượng không thể tồn tại được. Bản thân đối tượng thể hiện ra như một cái gì có điều

kiện, còn điều kiện lại thể hiện ra như một bộ phận của thế giới với tính nhiều màu vẻ của

nó. Khác với nguyên nhân là cái trực tiếp sản sinh ra một hiện tượng, một sự vật, một quá

trình nhất định, điều kiện là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của đối tượng.

Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, điều kiện GD gồm các điều kiện bên trong như đội ngũ

CBQL, đội ngũ GVMN, cơ sở vật chất, kinh phí tài chính, môi trường cảnh quang sư

phạm… của các cơ sở MN và điều kiện bên ngoài như hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị

của đất nước, hoàn cảnh tự nhiên, môi trường xung quanh cơ sở MN [8].

Trong quá trình GD nhận thức cho trẻ MG 5-6 tuổi, điều kiện cần thiết phải có: môi

trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD; sử dụng kết hợp các hình

30

thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận thức của trẻ; sự kết hợp chặt chẽ

giữa gia đình và trường MN trong công tác GD nhận thức cho trẻ [8].

Môi trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD. Môi trường vật

chất bao gồm không gian trong lớp, các điều kiện, các trang thiết bị, các dụng cụ, tài liệu.

Để kích thích trẻ tích cực HĐ cần tạo ra môi trường “mở” mà mọi thứ trong đó có thể thay

đổi theo mục đích, nội dung GD, theo mức độ phát triển của trẻ, tạo điều kiện phát huy tiềm

năng của mọi trẻ, đảm bảo GD phù hợp với từng cá nhân. Môi trường “mở” này tạo cơ hội

cho trẻ thực hành, trải nghiệm, phát huy sáng kiến, sáng tạo, tạo động cơ bên trong của chủ

thể, kích thích trẻ tích cực HĐ theo đúng khả năng của mình.

GV cần bố trí các khu vực thuận tiện cho trẻ HĐ, tạo điều kiện dễ dàng lựa chọn trò

chơi, chỗ chơi theo ý muốn, giúp trẻ tự tin vào bản thân. Tạo điểm tựa về nhận thức giúp trẻ

định hướng nhanh chóng các khu vực có liên quan đến nội dung GD nhận thức, nội dung

GD năng lượng. Điểm tựa ở đây có thể sử dụng tài liệu trực quan (mô hình, ký hiệu, sơ

đồ...) Các điểm tựa này có thể được tạo ra bằng ngôn ngữ dưới dạng đưa ra các yêu cầu vào

luật chơi, vai chơi...

Lựa chọn đồ dùng đồ chơi, tài liệu cho các HĐ. Các phương tiện này sẽ định hướng

việc lựa chọn các nội dung, HĐ của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ lĩnh hội các kỹ năng sử dụng

chúng.

Sử dụng kết hợp các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận

thức của trẻ, làm tăng hiệu quả GD vì phù hợp với đặc điểm của trẻ MN. Thực tiễn hiện nay

GVMN thường sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp trực quan, dùng lời và thực hành,

trải nghiệm với nhau để GD trẻ. Cũng như khai thác các hình thức HĐ nhóm, cá nhân, tập

thể lớp, tổ chức trong lớp, ngoài sân, HĐ tự do, HĐ theo chủ ý của GV... Việc kết hợp này

tùy thuộc vào ý đồ GD của GV, vào nội dung, yêu cầu của nội dung GD. Chẳng hạn kết hợp

nhóm phương pháp như trên có thể tổ chức trong lớp với ngoài sân, tổ chức cho trẻ theo

nhóm hoặc cá nhân đều thực hiện được. Sự kết hợp này tạo sự mới mẻ, kích thích HĐ của

trẻ.

Về sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Gia đình và nhà trường kết hợp,

phối hợp trước tiên là thống nhất ở nội dung HĐ GD, bao gồm việc nuôi dưỡng, dạy dỗ ở

gia đình và nội dung CS GD ở trường MN.

PH tiếp tục dạy cho trẻ ở nhà những nội dung cháu đã học ở trường MN nhằm củng

cố, duy trì cho trẻ những kiến thức cũng như kỹ năng đã được cô hướng dẫn. Việc phối hợp

31

này có thể tiến hành trong thời gian đón và trả trẻ, trong các cuộc họp PH định kỳ. Qua

những cuộc trao đổi ngắn giữa các bậc cha mẹ và cô giáo MN trong giờ đón trả trẻ, gia đình

và nhà trường nắm được tình hình ăn ngủ, sức khỏe, tâm trạng, HĐ học tập, vui chơi... của

trẻ ở nhà và ở lớp để cô giáo và PH có những điều chỉnh kịp thời về nội dung, phương pháp

biện pháp CS GD [32].

1.5. Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi

Các nghiên cứu tâm lý trẻ em, cho đến nay, hầu như đều khẳng định rằng:

- Trong thời kỳ trước tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể thực hiện những hành động khá phức

tạp với các đồ vật, nhưng chưa nhằm vào việc khám phá chức năng và phương thức sử dụng

nó.

Nhưng từ tuổi MG trẻ em không chỉ nghịch đồ vật hay chỉ chơi với chúng mà còn tìm

hiểu chức năng nhất định và phương thức sử dụng tương ứng. Do đó, trẻ hướng hoạt động

của mình vào việc nắm cách sử dụng đồ vật. Trẻ lĩnh hội những kiến thức về đồ vật, biết

cách sử dụng đồ vật giống như người lớn, trong đó người lớn giữ vai trò của người hướng

dẫn, người cộng tác, người hỗ trợ trong quá trình lĩnh hội này.

- Khi lĩnh hội những hành động sử dụng đồ vật trong sinh hoạt hàng ngày thì đồng thời

trẻ cũng lĩnh hội được những qui tắc hành vi trong xã hội. Về điểm này, thái độ của người

lớn khi họ tham gia sinh hoạt, trước mắt trẻ, mỗi ngày là rất quan trọng, vì bằng cách làm

gương chúng ta dạy trẻ sử dụng đúng các đồ vật.

Ngoài ra những ý tưởng của O.A. Frolova (1981) [36], sau đây thật đặc biệt hữu ích

cho việc GD trẻ MG sử dụng đồ vật:

+ Trẻ MG chưa thể tự mình khảo sát đồ vật một cách đầy đủ và đúng. Trẻ em thường

bị thu hút bởi những đặc điểm nổi trội của đồ vật, thay vì tìm kiếm cách sử dụng đúng hay

thu thập các chức năng của đồ vật.

+ Một biện pháp hữu hiệu là người lớn dùng lời nói để giới thiệu, giải thích, định

hướng chú ý khảo sát ở trẻ. Nếu GV chỉ dùng những biện pháp trực quan, bỏ qua biện pháp

lời nói định hướng hành vi cho trẻ thì trẻ khó có thể tự hệ thống kiến thức của mình; còn

nếu GV chỉ dùng lời nói để dạy trẻ mà bỏ qua những hoạt động thực hành, trải nghiệm của

trẻ thì kiến thức ở trẻ chỉ mang tính “tưởng tượng”, thiếu thực tế. …

+ Biện pháp tổ chức cho trẻ vừa khảo sát vừa so sánh, đối chiếu các kết quả hành

động khác nhau trên đồ vật sẽ giúp trẻ sớm nhận ra những nguyên lý sử dụng đồ vật.

32

+ Đặc biệt hơn, nên tổ chức cho trẻ được khảo sát đồ vật một cách có mục đích và

trong nhiều dạng HĐ khác nhau: trên giờ học, trong lao động tự phục vụ hàng ngày, HĐ

trong môi trường tự nhiên và môi trường XH, trong các trò chơi.

Tóm lại, O.A. Frolova khẳng định, bằng các thí nghiệm của mình, rằng:

- Trong mỗi dạng HĐ trên, người lớn có thể dẫn dắt việc khảo sát và học tập sử dụng đồ

vật với những mục tiêu khác nhau; do vậy chọn lựa hình thức HĐ nào để dạy trẻ là

tùy thuộc mục tiêu GD (nghĩa rộng) của mình;

- HĐ khảo sát đồ vật giữ vai trò tiền đề cho việc GD trẻ cách sử dụng đồ vật;

- Tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận đồ vật, chủ động sử dụng chúng cùng với người lớn là biện

pháp tốt cho việc giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm về cách sử dụng đồ vật.

Từ những kinh nghiệm trên đây về biện pháp GD trẻ sử dụng đồ vật, có thể rút ra

hướng tác động GD trẻ sau đây:

- Có thể vận dụng hầu hết các nhóm biện pháp căn bản để GD (nghĩa rộng) cho trẻ

MG, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, cách sử dụng và chức năng của đồ vật. Kết hợp các biện pháp:

làm mẫu, chỉ dẫn bằng lời, cùng tham gia vào hoạt động với trẻ; giải thích giảng giải, nhắc

nhở động viên, các bài tập luyện tập, các trò chơi…Đồng thời sử dụng các biện pháp giao

việc, giao nhiệm vụ, tổ chức các hoạt động của trẻ, tạo các tình huống sư phạm, ghi nhớ,

nhắc nhở, chỉ dẫn nhằm luyện tập, củng cố các hành vi, kỹ năng [16].

- Đồng bộ tác động GD lên 3 mặt: nhận thức (để có kiến thức) - tập làm (để có kỹ năng)

và thái độ (trải nghiệm, để có thể tự chỉnh hành vi thành hợp lý hơn- là tiền đề của ý thức).

- Việc tổ chức cho trẻ học cách sử dụng đúng đắn các đồ vật cần được diễn ra dưới nhiều

hình thức HĐ khác nhau và có định hướng, đề ra các mục tiêu GD (nghĩa rộng) rõ ràng

trong từng dạng HĐ đó.

1.6. Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi

Theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, trẻ tiếp nhận

tình cảm từ người khác rất nhạy, đồng thời đáp ứng lại bằng tình cảm của mình đối với họ

cũng rất nhanh. Chính vì vậy, những tác động GD thái độ sống đến với trẻ trước hết bằng

con đường tình cảm. Thông qua tình cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành.

Đối với trẻ, việc dùng lý lẽ hay mệnh lệnh sẽ không có tác dụng tích cực.

Biện pháp này cần được hiểu theo hai chiều: chiều thứ nhất là bằng tình thương yêu

gắn bó của mình, người lớn hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra

tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình cảm của người lớn bằng những hành vi, cử chỉ, thái

33

độ tốt đẹp của trẻ. Đây là biện pháp chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình hình thành các thái

độ và hành vi ứng xử của trẻ [14].

Trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục đích yêu

cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn, gây được

tình cảm tích cực. Cô phải nhẹ nhàng, tình cảm để trẻ yêu mến cô từ đó mới chinh phục

được tình cảm của trẻ, dễ dàng sai bảo trẻ thực hiện yêu cầu đặt ra và phục tùng tiêu chuẩn

đạo đức. Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng HĐ để trẻ tích cực HĐ. Luôn

chú ý động viên, khen ngợi để trẻ phấn khởi, tích cực HĐ và HĐ có hiệu quả [23].

Cũng theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, GD thái độ

(xúc cảm, tình cảm) các biện pháp sau đây có vai trò rất lớn:

Biện pháp dùng trò chơi: Chơi đối với trẻ MG thường gợi ra nhiều hứng thú say mê,

vì trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của cháu. Cũng như nghệ thuật, chơi là

người bạn đồng hành, là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không phát triển được.Trẻ học

được các kỹ năng xã hội như chia sẻ, nhường nhịn nhau... Đặc biệt, qua trò chơi sắm vai, trẻ

mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, nổi bật là những mối quan hệ xã hội hiểu hiện các

chuẩn mực đạo đức. Khi tham gia trò chơi, trẻ trải nghiệm những thái độ, tập luyện những

hành vi ứng xử đối với những người xung quanh và qua đó mà trẻ học làm người.

Biện pháp dùng nghệ thuật. Trong GD thái độ sống tiết kiệm những lời răn dạy dù

được nhắc đi nhắc lại nhiều lần cũng khó gợi lên những cảm xúc tích cực ở trẻ, giúp trẻ có

những thái độ và hành vi ứng xử tốt đẹp đối với con người và cuộc sốnng xung quanh,

nhưng một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, câu chuyện, bài hát, tranh ảnh...) lại có thể làm

được điều đó một cách dễ dàng.

Biện pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. Trong

sinh hoạt hằng ngày, gần như bất cứ lúc nào trẻ cũng phải thể hiện thái độ của mình với thế

giới xung quanh bằng những hành vi ứng xử. Việc ứng xử đó có lúc đúng nhưng cũng có

nhiều lúc sai, nên người lớn cần kiên trì theo dõi, bảo ban đúng lúc. Thường xuyên tập luyện

hành vi ứng xử mọi nơi mọi lúc sẽ dễ hình thành động hình. Cô giáo cần tạo cơ hội để trẻ

được trải nghiệm, thể hiện các mối quan hệ, ứng xử với con người và sự vật, hiện tượng

xung quanh.

Biện pháp làm gương cho trẻ noi theo. Do tính hay bắt chước, trẻ thường làm theo

người lớn, nếu người lớn thể hiện hành vi ứng xử tốt, lời nói hay, thì đó là tấm gương cho

trẻ học tập, trái lại những hành vi chưa đúng, chưa hay cũng được trẻ bắt chước nhanh

chóng.

34

Biện pháp khen chê đúng lúc, đúng mực. Khi trẻ làm vệc tốt cần khen ngay bằng

những lời biểu dương ngọt ngào, những phần thưởng mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất

để khuyến khích động viên trẻ. Ngược lại khi trẻ làm một việc chưa tốt. Người lớn cần tỏ

thái độ chê trách, không đồng ý, làm cho trẻ biết được như vậy là xấu, không ai ưa để trẻ

không lặp lại những hành vi xấu đó nữa. Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê.

Nên chúng ta cần biết khêu gợi lòng tự hào đúng lúc đúng chỗ để hình thành những phẩm

chất cho trẻ.

Biện pháp thống nhất các tác động GD. Việc thống nhất những tác động GD không chỉ

được thực hiện trong mỗi trường MN hay trong mỗi gia đình mà còn phải thống nhất tư

tưởng và hành động GD giữa trường MN với các gia đình, giữa cô giáo với cha mẹ các

cháu. Điều này rất cần cho sự hình thành và phát triển thái độ sống tiết kiệm cho trẻ. Trong

sự kết hợp này, phần chủ động thuộc về phía cô giáo của trường MN. Vì cô là người được

trang bị những tri thức khoa học nuôi dạy trẻ, là người gần gũi trẻ trong suốt cả ngày nên có

thể phát hiện những biểu hiện thái độ đúng và chưa đúng của mỗi trẻ và có khả năng tìm ra

biện pháp GD, cách giải quyết phù hợp với quy luật phát triển của trẻ.

Sự kết hợp giữa GV và PH trong việc GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ có thể tiến

hành ở thời điểm nhận trẻ và trả trẻ là thuận lợi nhất. Trong thời gian ít ỏi đó, GV có thể

trao đổi với PH những biểu hiện tốt và chưa tốt của từng trẻ và những biện pháp GD để PH

thực hiện ở nhà với cháu. Ngược lại, PH cũng tranh thủ thời gian này để phản ánh với GV

biết về tính nết của con mình, nhằm từng bước hình thành cho trẻ thái độ sống tiết kiệm.

Việc GD này được thực hiện qua các giờ học, thông qua các chủ đề và tiến hành mọi

lúc mọi nơi, trong HĐ chơi, HĐ lao động, dạo chơi tham quan và trong sinh hoạt hằng ngày

[14].

Ở trong gia đình [4], cha mẹ ông bà có thể GD trẻ thái độ, kỹ năng lao động. GD trẻ

làm việc gì cũng phải đến nơi đến chốn, có trách nhiệm hoàn thành việc đó, phù hợp với khả

năng của mình khi được ba mẹ giao. Khi sử dụng nước phải tắt và kiểm tra xem đã tắt hẳn

hay chưa... GD trẻ các kỹ năng cụ thể dù đối với hoạt động đơn giản nhất: đưa tay bật, tắt

công tắc đèn, công tắc tivi... đến những hoạt động khó hơn như điều chỉnh nhiệt độ máy

điều hòa, đóng kín cửa tủ lạnh...

Bên cạnh đó, GD trẻ có ý thức trách nhiệm quý sản phẩm lao động, nghĩa là phải biết

sử dụng đúng mức, vừa phải các sản phẩm, vật dụng hàng ngày của cá nhân và gia đình.

35

Nói cách khác là phải có ý thức thái độ cần cù trong lao động, tiết kiệm trong chi tiêu,

không sử dụng lãng phí.

Để thực hiện những nội dung trên thì nền tảng vững chắc là sự gương mẫu của cha mẹ.

Sự gương mẫu của cha mẹ và người lớn trong gia đình phải thể hiện ngay trong lời ăn tiếng

nói, cử chỉ, hành động, cách ứng xử với mọi người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.

Sự gương mẫu của cha mẹ trong nếp sống hàng ngày trực tiếp tác động đến nhận thức, tình

cảm, niềm tin và hành động của trẻ.

Sự gương mẫu của cha mẹ là cơ sở tạo nên uy tín làm tăng thêm lòng kính trọng,

thương yêu, tin cậy, tự giác theo những điều cha mẹ sai bảo, khuyên nhủ. Đối với trẻ, việc

gương mẫu của cha mẹ có tác dụng như những động tác mẫu mực để con bắt chước, sự

gương mẫu đó được coi như chân lý giản dị, sáng rõ như ban ngày. “Không gì có thể tác

dụng lên tâm hồn non nớt của trẻ mạnh hơn quyền lực của sự làm gương, còn giữa muôn

vàn tấm gương thì không có gì gây ấn tượng sâu sắc và bền chặt bằng sự mẫu mực của bố

mẹ” (N.I.Nôvicốp).

1.7. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả

Trên quan điểm GD lồng ghép và không làm nặng thêm chương trình GD trẻ hiện

hành, việc xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD thực nghiệm sẽ hoàn toàn dựa trên

chương trình CSGD MN mới 2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi.

Những tiêu chí đánh giá sau đây được chọn trong nghiên cứu này:

• Về nhận thức:

- Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống (Chỉ số 57).

• Về thái độ:

- Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) (Chỉ số 33).

- Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 32).

- Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 40).

- Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai (Chỉ số 34).

• Về hành vi:

- Tắt vòi nước khi không dùng đến (Chương trình CSGD MN).

- Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng (Chương trình CSGD MN).

- Thường hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng) (Chỉ số 56).

36

- Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng (dù gặp khó

khăn) (Chỉ số 31).

- Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào

(Chương trình CSGD MN).

Những tiêu chí này được sử dụng nhằm xác định mức độ đạt hiệu quả của các biện

pháp GD thực nghiệm của đề tài.

Tiểu kết chương 1

Để nghiên cứu đầy đủ và đảm bảo tính khoa học, đề tài dựa trên cơ sở lý luận đã nêu ra ở

trên, về:

- Khả năng nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi về các vấn đề phức hợp và năng lực hệ thống

hóa kiến thức của mình - làm tiền đề cho việc hình thành thói quen và GD thái độ

cho trẻ nói chung.

- Nội hàm của vấn đề “GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” và chuyển tải

thành nội dung GD phù hợp độ tuổi 5-6.

- Lý luận GD (nghĩa rộng) nhận thức - hành vi - thái độ cho trẻ cuối tuổi MG, đặc biệt

về các nhiệm vụ GD - nội dung GD và từ đó tìm hiểu tính thích hợp của các biện

pháp GD.

- Kinh nghiệm vận dụng các nhóm biện pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả ở các nước và trong nước.

37

Chương 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6

TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ

2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề

Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả của GV cho trẻ. Qua đó, xác định:

- Những biện pháp GD được vận dụng trong thực tế GDMN ở một số trường MN.

- Hiệu quả cũng như hạn chế của chúng, nguyên nhân của mặt hạn chế,

- Định hướng khắc phục.

2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề

2.2.1. Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề

Nội dung nghiên cứu xoay quanh vấn đề thực trạng vận dụng các phương thức và điều

kiện GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN của

TPHCM; những điều kiện thực tế cho những phương thức GD này.

Cụ thể:

- Nhận thức và quan điểm GD; những thuận lợi, khó khăn của GVMN, của CBQL

trường MN trong nhiệm vụ GD này.

- Thực trạng của việc lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch GD sử dụng năng lượng hiệu

quả.

- Cách tổ chức quá trình GD, biện pháp GD, (đặc biệt quan tâm những HĐ thực hành

của trẻ), điều kiện thực hiện GD.

- Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho trẻ

có liên quan vấn đề nghiên cứu; những thuận lợi, khó khăn của GVMN, của CBQL trường

MN trong công tác GD này.

- Nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương

trình GD thực nghiệm nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu.

Nội dung điều tra chủ yếu được phân bố ở hai phần:

1 cho mỗi đối tượng (GVMN, CBQL,

a/ Nội dung các bảng hỏi (Anket), gồm 30 câu0F

1 Xem phụ lục 1

PH) nhằm tìm hiểu về:

38

- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả (câu 2, 10, 12, 13, 18, 24, 28).

- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

(câu 1, 4, 5, 6, 7, 8, 17, 25, 26).

- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi thái độ đúng

trong việc sử dụng năng lượng (câu 3, 11, 21).

- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi kỹ năng tiết kiệm

năng lượng (14, 15, 16, 20).

- Ý kiến của CBQL, GVMN và PH về các biện pháp đạt hiệu quả GD trẻ tiết kiệm

năng lượng câu (9, 19, 20, 22, 23, 27, 28, 29, 30).

b/ Nội dung đàm thoại với GVMN về cách lập kế hoạch GD:

- Anh (Chị) lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức GD nội dung này dựa trên cơ sở nào?

- Nội dung GD tiết kiệm năng lượng được phân bổ như thế nào trong kế hoạch? (Mức

độ thường xuyên: hàng ngày? hàng tuần? hàng tháng?).

- Kế hoạch có thường xuyên điều chỉnh, thay đổi không? Điều chỉnh như thế nào?

Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:

- Thực trạng nhận thức vấn đề của người lớn.

- Thực trạng chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD: hiệu quả GD, những hạn

chế và định hướng khắc phục.

- Có hay không tính đồng bộ trong chiến lược GD hiện nay ở trường MN: GD nhận

thức - GD thái độ - GD kỹ năng.

- Những điều kiện thuận lợi cho khả năng tác động GD đồng bộ này trong thực tế GD

MN.

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp quan sát và

phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là chủ đạo, còn lại các phương pháp đàm thoại, nghiên

cứu hồ sơ là phương pháp bổ trợ.

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các thời điểm tổ chức HĐ CSGD trẻ trong

ngày nhằm xác định thực trạng GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Tiến hành

quan sát qua dự giờ, ghi chép trên 6 GVMN dạy lớp MG 5- 6 tuổi và 120 trẻ MG 5-6 tuổi ở

3 trường MN quận Bình Tân (trường MN Hoa Hồng: 40 cháu, 2 GVMN; trường MN 19/5:

39

40 cháu, 2 GVMN; trường MN Hương Sen: 40 cháu, 2 GVMN). Mỗi nhóm lớp được quan

sát 3 ngày liên tục. Phân tích, nhận định kết quả thực trạng.

- Điều tra bằng anket: nhằm rút ra những khó khăn thường gặp của GVMN trong việc

GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; đặc biệt quan tâm các biện pháp tác động

lên trẻ, điều kiện vận dụng chúng và hiệu quả tác động của những biện pháp GD này.

Phiếu điều tra được phát cho 32 CBQL, 30 GVMN và 45 PH của trẻ MG 5-6 tuổi. Thu

lại phiếu và thống kê xác định khó khăn và thuận lợi của CBQL, của GVMN và PH trong tổ

chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng.

Cách tính điểm kết quả từ các bảng hỏi:

Các bảng hỏi được xử lý thông tin bằng phần mềm SPSS 16.0:

* Tính phần trăm (%) và vẽ biểu đồ cho những câu có nhiều lựa chọn.

* Tính điểm trung bình và và vẽ biểu đồ cho những câu có ba mức độ, đối tượng khảo

sát chỉ chọn một mức độ.

* Tính theo điểm trung bình: mức cao là 1 đến 1.5 điểm, mức trung bình từ 1.51 đến

2.5 điểm, mức thấp từ 2.51 đến 3 điểm.

- Nghiên cứu chương trình CSGD trẻ 5-6 tuổi: Đọc kỹ, phân tích các mục tiêu - nội

dung GD - HĐ gợi dẫn - các minh chứng trong chương trình hiện hành có liên quan vấn đề

GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng, năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với CBQL và GV chủ nhiệm lớp nhằm tìm hiểu

việc lập kế hoạch tổ chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng.

- Phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng

lượng hiệu quả: Tiêu chí được xây dựng trên cơ sở nội dung chương trình CSGD MN mới

2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi.

40

Bảng 2.1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục trẻ 5- 6 tuổi

sử dụng năng lượng hiệu quả

Stt Nội dung tiêu chí Ghi chú

Về nhận thức:

1 Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống (Chỉ số 57)

Về thái độ:

2 Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) (Chỉ số 33)

3 Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 32)

4 Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng (Chỉ số 40)

lượng

5 Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai (Chỉ số 34)

Về hành vi:

6 Tắt vòi nước khi không dùng đến

7 Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng.

(Chương trình CSGD MN) (Chương trình CSGD MN) (Chỉ số 56) 8 Có hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng)

9 Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở (Chỉ số 31)

nửa chừng (dù gặp khó khăn)

10 Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở (Chương trình

rộng cửa ra vào... CSGD MN)

41

2.3. Tổ chức nghiên cứu thực trạng vấn đề

Chương trình nghiên cứu được tiến hành trong 5 tuần.

Trong 2 tuần đầu: Phát phiếu hỏi cho các đối tượng nghiên cứu và thu lại; quan sát ở

nhóm lớp ghi chép kết hợp xem hồ sơ kế hoạch;

Từ tuần thứ 3 đến tuần 5: xử lý sơ bộ thông tin nhận được, sàng lọc những ý kiến chưa

làm rõ và phỏng vấn làm rõ.

2.4. Đối tượng tham gia nghiên cứu thực trạng

- 30 GVMN dạy lớp MG 5- 6 tuổi, 120 trẻ MG 5-6 tuổi, 45 PH các cháu MG 5-6 tuổi,

32 CBQL trường MN công lập, tư thục trên địa bàn quận Bình Tân.

- GV sư phạm: 5 (2 GV trường Đại học Sài Gòn TPHCM, 3 GV trường Cao Đẳng Sư

phạm Trung ương TPHCM). Chuyên viên Phòng GD & ĐT quận: 02.

2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề

2.5.1. Thực trạng nhận thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của

CBQL, GVMN và PH của trẻ MG 5-6 tuổi

Qua điều tra bằng bảng hỏi về ý kiến của CBQL, GVMN và PH lớp MG 5-6 tuổi,

chúng tôi thu được kết quả như sau:

2.5.1.1. Về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 2, 10, 12, 13,

18, 24, 28)

Phần lớn số ý kiến ở cả 3 nhóm đối tượng cho thấy sự nhận thức mục tiêu thiết thực và

mục tiêu GD của việc sử dụng tiết kiệm năng lượng (là giảm được một khoản chi phí sinh

hoạt, có được thói quen tốt và làm gương cho trẻ em).

Đại đa số ý kiến thể hiện sự nhận thức cao ở người lớn (nhà GD và PH) về sự cần thiết

phải GD trẻ 5- 6 tuổi tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, họ chưa nhìn ra “cần GD trẻ tiết

kiệm xăng dầu”, kể cả CBQL (31.2%) và GVMN (6.7%).

Sự nhận thức này của người lớn còn nhiều hạn chế:

Khoảng 45,5% số ý kiến của người lớn quan tâm đến việc “làm giảm khí thải độc ra

môi trường”, trong khi chỉ có 32,7% nghĩ đến việc tiết kiệm xăng khi tắt máy xe ở các điểm

dừng. Vẫn còn 17.8% số ý kiến tưởng là “đã có thu nhập cao thì không cần tiết kiệm năng

lượng”, chưa nhìn thấy ý nghĩa sâu xa hơn của việc tiết kiệm năng lượng.

Chỉ có khoảng 25% số người lớn này biết rằng dùng máy phát điện khi bị mất điện có

thể làm cho xung quanh chúng ta nóng hơn.

2.5.1.2. Về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 1, 4, 5, 6, 7, 8, 17, 25,

26)

42

Vẫn còn ý kiến của 10% số GVMN và 6.7% số PH quan niệm rằng “mặc dù không

cần sử dụng điện liên tục thì cũng không tắt/mở công tắc điện nhiều lần trong ngày vì dễ

làm hư hỏng công tắc”; 15.6% số PH cho rằng “thay thế bếp điện bằng bếp gas hoặc bếp

dầu nếu thu nhập thấp”.

Có con số đáng kể CBQL chưa có thói quen “tắt khi không cần dùng”: 37.5% trong

việc sử dụng điện, nước ở cơ quan; 53.1% trong việc sử dụng gas, xăng.

Chưa có nhiều người lớn ý thức về việc muốn thay các thiết bị trong nhà nhằm tiết

kiệm năng lượng.

2.5.2. Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi nhận thức

đúng trong việc sử dụng năng lượng

2.5.2.1. Thực trạng đầu tư hoặc điều chỉnh trang thiết bị trong trường MN nhằm GD

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy việc đầu tư trang bị nhằm GD tiết kiệm năng

lượng chưa được quan tâm và trang bị đầy đủ ở nhiều trường MN. Phổ biến nhất chỉ có tài

liệu tham khảo cho GV, phim dạy học, tranh ảnh. Có nghĩa là điều kiện về GV được trang bị

kiến thức cơ bản, khoa học về năng lượng cũng như những nội dung, biện pháp sử dụng

năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, nắm vững nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ

chức cho trẻ về vấn đề này, cách lập kế hoạch theo quan điểm tích hợp trong tổ chức thực

hiện. Còn những điều kiện cơ sở vật chất khác chưa được trang bị. CBQL cũng nhận thấy sự

thiếu thốn này qua kết quả 9.4% của CBQL cho rằng không có trang bị gì mới so với trước

đây.

Thực tế quan sát tại nhóm lớp (dự giờ ở 3 lớp 5-6 tuổi), người nghiên cứu nhận thấy

rằng về cơ sở vật chất hầu như không có trang bị gì về vấn đề GD tiết kiệm năng lượng.

Cụ thể đó là chưa xây dựng các biện pháp kỹ thuật tiết kiệm điện, nhiên liệu như thực

hiện hai chế độ ánh sáng: ánh sáng đi lại sinh hoạt, ánh sáng làm việc, mở rộng hoặc mở

thêm các cửa sổ và lắp kính chuyên dụng để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên... Vì lớp nào,

phòng nào cũng chỉ một loại đèn huỳnh quang 1.2m, một chế độ sáng vốn sẳn có của đèn.

Trường MN Hương Sen và MN 19/5 phòng ốc rộng, đón được ánh sáng tự nhiên nên sáng

sủa, thoáng mát có thể không sử dụng hoặc sử dụng một nửa số đèn, quạt là đủ sáng và mát,

nhưng thực tế đèn, quạt được mở tối đa khi có trẻ trong lớp. Do khuôn viên chật hẹp và kết

cấu xây dựng cồng kềnh nên trường MN Hoa Hồng thiếu không gian, không đón gió và ánh

sáng. Bởi thế đèn và quạt các lớp mở hết công suất khi trẻ HĐ.

43

Về điều kiện xây dựng các giải pháp hành chánh tiết kiệm điện, nhiên liệu chưa thấy

quy định chế độ và thời gian sử dụng các trang thiết bị trong nhà trường. Chỉ có 1/3 trường

MN trên dán khẩu hiệu ở mỗi lớp, mỗi bộ phận (bếp, văn phòng) “tắt đèn, tắt quạt khi ra

khỏi phòng”. Đầu năm học mỗi CB, GV, công nhân viên nhà trường đều viết cam kết việc

sử dụng điện tiết kiệm và đảm bảo an toàn

về điện.

Qua tham khảo các góc tuyên truyền của lớp thì chưa thấy đưa nội dung GD này cho

PH xem để phối hợp với nhà trường GD trẻ (3/3 lớp). Đồng thời qua quan sát các giờ đón và

trả trẻ cũng chưa nghe thấy việc trao đổi giữa GVMN và PH về nội dung GD này. Nhiều

GV nói về sự mỏi mệt trong nghiệp vụ, hầu như ít có thời gian và nhiệt tình GD trẻ tiết kiệm

năng lượng; mặt khác, cũng theo nhiều GVMN, thì PH ít quan tâm đến nhiệm vụ GD này.

Một lý do “cản trở GD” khác, là “Bây giờ tuyên truyền chuẩn 5 tuổi lúc nào cũng phải thực

hiện, mà nội dung và hình ảnh rồi minh chứng của nó nhiều lắm, chiếm hết chỗ rồi. Chưa kể

tuyên truyền về dịch bệnh cũng “nóng hổi”. Với lại GD năng lượng lâu lâu mới có nên

không đưa lên, dạy cái gì cũng đưa lên bảng tuyên truyền thì nhiều lắm”.

Như vậy, thực tế việc trang bị những điều kiện cho việc GD tiết kiệm năng lượng cho

trẻ chủ yếu tập trung vào tài liệu cho GV sử dụng, cũng như một số phương tiện dạy học.

Có khẩu hiệu nhắc nhở mọi người thực hiện tiết kiệm. Còn việc chuẩn bị trang thiết bị tạo

môi trường để tiết kiệm năng lượng cũng như công tác phối hợp với PH thì chưa được quan

tâm.

Điều này được rõ ràng hơn với bảng số liệu dưới đây:

44

Bảng 2.2. Mức độ chuẩn bị những điều kiện cho giáo dục tiết kiệm năng lượng

Nội dung Chưa được Hoàn toàn Điểm

chuẩn bị tốt chưa được TB

chuẩn bị

a) Người lớn làm gương: ít nhất là người lớn ở 26 4 1.1

nhà, ở trường.

b) Đồ dùng, thiết bị đảm bảo tiết kiệm năng lượng. 15 15 1.5

c) Tài liệu tham khảo và phương tiện dạy học dành 26 4 1.1

cho GV.

d) Chương trình GD toàn xã hội sử dụng năng 16 14 1.47

lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Số liệu bảng 2.2 cho thấy điều kiện về tấm gương của người lớn cho trẻ noi theo ít

nhất là người lớn ở nhà, ở trường và điều kiện trang bị tài liệu tham khảo và phương tiện

dạy học dành cho GV đều đạt 26/30, điểm trung bình ở mức cao (1.1) nghĩa là có sự chuẩn

bị nhưng chưa được tốt vẫn có thể chấp nhận được. Trong khi trang bị đồ dùng, thiết bị đảm

bảo tiết kiệm năng lượng đạt 50%. Mặc dù điểm trung bình còn nằm trong mức cao (1.5)

nhưng gần chạm mức trung bình 1.51. Có nghĩa là nội dung này hoàn toàn chưa được chuẩn

bị. Điều này trùng khớp với kết quả khảo sát việc trang bị những điều kiện cho việc GD tiết

kiệm năng lượng và quan sát thực tế của người nghiên cứu. Nội dung này sẽ được đề xuất

trong nghiên cứu thực nghiệm.

Trường hợp tương tự với nội dung “chương trình GD toàn xã hội sử dụng năng lượng

tiết kiệm và hiệu quả”, tức là công tác tuyên truyền phối hợp với PH dù điểm trung bình ở

mức cao (1.47), nhưng số lượng ở mức đánh giá hoàn toàn chưa được chuẩn bị tỉ lệ đến

46.7% rất đáng để suy nghĩ. Con số này cũng gần với kết quả quan sát.

Tóm lại, kết quả trên cho phép chúng ta khẳng định rằng cần quan tâm nhiều hơn đến

việc chuẩn bị những điều kiện phục vụ cho việc GD tiết kiệm năng lượng cho trẻ từ điều

kiện về cơ sở vật chất và con người.

2.5.2.2. Thực trạng sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng của GVMN

45

Bảng 2.3. Biện pháp giáo dục trẻ tiết kiệm năng lượng của giáo viên mầm non

Kết quả Thứ Các biện pháp Tỉ lệ Trung tự

% bình

1 Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 100.0 1.0

2 Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 86.7 1.17

3 Làm gương cho trẻ hàng ngày 100.0 1.0

4 Tạo tình huống có vấn đề 70.0 1.37

5 Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 50.0 1.53

6 Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 73.3 1.27

7 Tổ chức làm thí nghiệm 30.0 1.97

Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm 8 36.7 1.77 tiết kiệm năng lượng hơn

9 Tuyên truyền đến PH bằng nhiều cách 76.7 1.23

Kết quả số liệu bảng 2.3 cho ta thấy biện pháp dùng trực quan và làm gương cho trẻ

hằng ngày là chiếm tỉ lệ cao nhất, với điểm trung bình là 1.0 tương ứng với mức cao. Kết

quả này rất phù hợp với đặc điểm hay bắt chước và kiểu tư duy trực quan của trẻ MN, cũng

phù hợp với thực trạng những điều kiện trang bị cho việc GD tiết kiệm năng lượng. Đây là

hai biện pháp GV sử dụng nhiều, tuy nhiên theo phiếu điều tra với biện pháp này GV gặp

khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu hình ảnh vì không có thời gian, vì nhà chưa có sử dụng

internet nên “dùng ké” với GV khác dẫn đến tình trạng với bao nhiêu tư liệu đó chuyền từ

lớp này qua lớp khác.

Kế đến biện pháp trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền chiếm

86.7%, đạt mức cao với số điểm trung bình 1.17. Như thế biện pháp này được GV đánh giá

cao, vì tiện lợi, ít dùng phương tiện trực quan và có thể dạy vào bất kỳ thời điểm nào trong

ngày. Chính vì sự thuận tiện trên mà đa số GVMN lạm dụng biện pháp này để “dạy chay”

cho trẻ. Điều này chưa phù hợp với đặc điểm lứa tuổi MN cần kết hợp trực quan.

Trao đổi về biện pháp này, GVMN có một số ý kiến cụ thể. GV trường MN 19/5 cho

biết: “Trò chuyện hay dạy bài hát, bài thơ trẻ mau thuộc, vì nội dung tiết kiệm năng lượng

rất khô khan nên việc đưa vào bài thơ, bài hát hay câu chuyện trẻ sẽ dễ nhớ hơn, nhưng đề

46

tài này không có nhiều bài hát bài thơ để dạy cho trẻ”. Trong khi GV trường MN Hoa Hồng

chia sẻ: “Dạy về tiết kiệm năng lượng chủ yếu là nói cho trẻ hiểu là nhiều, chưa tổ chức đủ

hoạt động thực hành của trẻ, vì “sợ dùng nước dễ bị đổ tháo, vương vãi. Việc GD liên quan

tới điện càng khó hơn vì phải đảm bảo an toàn cho trẻ”.

Tuyên truyền đến PH bằng nhiều cách là biện pháp tiếp theo được chọn ở mức cao

tương ứng điểm trung bình 1.23 với 76.7%. Như vậy cho thấy rằng GVMN cũng nhận thức

được sự cần thiết kết hợp với PH trong việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng, mặc dù theo kết

quả quan sát ở trên thì chưa thấy có sự phối hợp này. Như vậy thì đây chỉ là con số nhỏ hay

là GV nhận thức như thế nhưng thực tế lại làm khác? Qua trao đổi với một số GV được biết

năm học 2012-2013 Tổ MN mới triển khai thực hiện nội dung này nên GV còn lúng túng,

chưa thể hiện được hết trên các hình thức tổ chức trong đó có tuyên truyền với PH, các

trường năm nay thực hiện chuyên đề cấp quận nên mọi tập trung đều dồn vào nội dung

tuyên truyền chuẩn 5 tuổi là chính, vì vậy GV khó thể đưa nội dung GD tiết kiệm năng

lượng vào công tác phối hợp với PH. Với ý kiến trên và số liệu thống kê được, cho phép

chúng ta nhận định rằng biện pháp này được đánh giá cao nhưng trong thực tế chưa được

thực thi vì nhiều lý do khách quan: nội dung tuyên truyền nhiều, PH chưa quan tâm nội

dung GD này cho trẻ, bị chi phối bởi các nội dung nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị. Đây là

vấn đề cần quan tâm trong chương trình thực nghiệm của đề tài.

Tương tự, biện pháp tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống chiếm

73.3%, với điểm trung bình 1.27 tương ứng với mức độ cao. Qua trao đổi với GV và quan

sát ở nhóm lớp, chúng tôi thấy rằng biện pháp này được sử dụng hầu như mỗi ngày, không

chỉ riêng với nội dung tiết kiệm năng lượng mà với tất cả các nội dung GD khác. Số lượng

8/30 chiếm 26.7% người không chọn biện pháp này cho biết rằng: “Trong sử dụng nước thì

có thể cho bé thực hành, GV quan sát nhắc nhở, còn trong sử dụng điện thì không dám. Bởi

vì các công tắc đèn, quạt đều thiết kế cố định cao hơn tầm tay với của trẻ là một, thứ hai nữa

là an toàn cho trẻ trên hết, không dám dùng các thiết bị hay dụng cụ có điện cho trẻ thực

hành”. Bên cạnh đó, theo quan sát thực tế, khi có GV đứng cạnh nhắc nhở thì trẻ mới làm

đúng, lúc GV không chú ý đến là trẻ hay nghịch nước hoặc không tắt vòi nước, vì GV

không phải lúc nào cũng theo sát được với trẻ. Mặc dù vậy, vẫn có một vài trẻ nhớ lời nhắc

nhở của cô mà làm đúng dù cô không có ở đó.

Tạo tình huống có vấn đề trong tiết kiệm năng lượng thường chỉ có cúp điện, cúp nước

rồi cho trẻ suy nghĩ bàn bạc hướng giải quyết, có trẻ đưa ý kiến cũng hay như mở cửa sổ, ra

sân học... biện pháp này cũng thường được sử dụng. Kết quả khảo sát biện pháp này cũng

47

đạt ở mức độ cao với điểm trung bình là 1.37, tỉ lệ 70%. Nhưng thực tế quan sát thì chưa

thấy GV dùng biện pháp này trong tổ chức HĐ cho trẻ dù ở nội dung GD nào.

Làm mẫu cách sử dụng năng lượng, biện pháp này chiếm tỉ lệ 50% số người lựa chọn,

đạt điểm trung bình là 1.53, xếp loại trung bình. Đối với trẻ MN, nội dung GD này rất cần

mẫu của cô để trẻ có thể thực hành để hình thành kỹ năng, nhưng theo khảo sát thì biện

pháp này chỉ có 15/30 GV chọn. Phải chăng GV gặp khó khăn khi sử dụng biện pháp này.

GV trường MN 19/5 chia sẻ về sự khó khăn thực hiện biện pháp GD này, vì cô làm mẫu tốt

nhưng khi tổ chức thực hành học trò thì đông, trẻ nhốn nháo, khó bao quát từng trẻ; khó sử

dụng nước để GD vì nhà vệ sinh chật chội, nhưng thực hành trong sử dụng điện thì “không

biết tổ chức như thế nào”. Cũng qua thực tế quan sát, chúng tôi thấy rằng việc làm mẫu cho

trẻ chủ yếu trong sử dụng tiết kiệm nước như: rửa tay, rửa mặt, nước uống. Trong sử dụng

tiết kiệm điện chỉ có thao tác tắt mở công tắc đèn, tắt mở ti vi đầu đĩa bằng remote, nhưng

chủ yếu là GV làm, trẻ không được làm vì công tắc cao hơn trẻ và GV phải bảo quản tốt các

thiết bị điện nên không dám để cho trẻ làm.

Biện pháp tổ chức làm thí nghiệm chỉ đạt 30%, xếp loại trung bình với điểm trung

bình là 1.97. Theo đó, là tỉ lệ phân vân 43.3%, còn 26.7% cho rằng biện pháp này không

phù hợp. Kết quả trên cho thấy làm thí nghiệm trong nội dung GD này chưa được sử dụng.

Qua trao đổi với GV thì nội dung GD này mới, chưa biết tổ chức cụ thể như thế nào, mà làm

thí nghiệm đòi hỏi nhiều thời gian trong khi GD tiết kiệm năng lượng chỉ lồng ghép nên

không phù hợp lắm”.

Song song đó, biện pháp tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm

tiết kiệm năng lượng hơn xếp loại trung bình, tương ứng điểm trung bình 1.77 với tỉ lệ

36.7%. Với thực tế quan sát trong phần thực trạng trang bị những điều kiện phục vụ cho

việc GD tiết kiệm năng lượng thì kết quả này cụ thể cho thực tế trên. Các trường công lập

thường HĐ theo định mức kinh phí của ngân sách nhà nước phân bổ, mỗi khi mua sắm, sửa

chữa phải lên dự toán đầu năm tài chánh, và đợi đến lúc được khoản kinh phí đó thì đã qua

một học kỳ của năm học, nên việc tham mưu trên thường ít đề xuất. Kết quả này phản ánh

đúng thực tế.

Như vậy, qua kết quả điều tra với kết quả quan sát thực tế, các biện pháp GV sử dụng

trong GD trẻ tiết kiệm năng lượng tập trung vào biện pháp phổ biến là dùng trực quan: cho

trẻ xem phim, tranh ảnh. Đồng thời, người lớn làm gương cho trẻ hằng ngày. Kế đến là dùng

thơ ca, bài hát, chuyện kể để dạy cho trẻ. Bên cạnh đó, biện pháp phối hợp với PH cũng

48

được sử dụng, nhưng thực tế biện pháp này chưa được khai thác, với nhiều lý do khách

quan.

Thuận lợi là các biện pháp này quen thuộc với GD trẻ MN, GV sử dụng thành thạo.

Tuy nhiên cũng gặp khó khăn, nổi trội nhất là nội dung GD này mới nên tư liệu tranh ảnh,

bài hát thơ ca chưa nhiều, điều kiện trang bị cho việc GD này chưa được quan tâm đầu tư.

Nên sử dụng

Còn phân vân Không thích hợp

120

100

100

100

86.7

)

82.2

%

(

80

m ă r t

60

n ầ h p

ệ l ỉ

40

T

13.3

20

11.1

4.4

2.2

0

0

0

0

0

a. Trò chuyện với trẻ

c. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng

b. Làm gương cho trẻ hàng ngày

d. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống

2.5.2.3. Thực trạng sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng của PH

Biểu đồ 2.1. Biện pháp giáo dục trẻ tiết kiệm năng lượng của phụ huynh

Theo biểu đồ 2.1, thì biện pháp a và b được chọn với tỉ lệ cao (100%). Theo PH thì

hai biện pháp này có thể thực hiện dễ dàng. Còn biện pháp làm mẫu thì phải cân nhắc vì sự

an toàn cho trẻ. Biện pháp còn lại thì không phải lúc nào cũng giám sát để nhắc nhở trẻ

được, vì lứa tuổi của trẻ năng động. Như vậy, ý kiến của PH và GVMN có điểm tương đồng

nhau trong việc sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng. Điều này cho ta kết

luận, cả GVMN và PH đều có cách sử dụng biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng lượng giống

nhau, như thế rất thuận lợi trong việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc GD

nội dung này cho trẻ.

2.5.3. Thực trạng GD thực hành để tập kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả cho trẻ MG 5-6 tuổi

Quan sát thực tế, việc GD kỹ năng chủ yếu vào các giờ vệ sinh: sử dụng tiết kiệm

nước khi rửa tay, rửa mặt, chải răng, sử dụng nước uống. Kỹ năng sử dụng điện năng rất ít,

trẻ không được hành động với những đồ dùng, trang thiết bị điện. Chỉ một vài trẻ cao lớn có

thể với tay tắt được công tắc điện và sợi dây nối với công tắc quạt gắn tường. Còn với xăng

49

dầu thì trẻ hoàn toàn không được thực hành kỹ năng nào. Điều này hợp lý với lứa tuổi của

trẻ.

Bảng 2.4. Biện pháp giáo dục kỹ năng tiết kiệm năng lượng cho trẻ

Kết quả Thứ Các biện pháp tự Tỉ lệ % Trung bình

1 Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh 100.0 1.0

2 Làm gương cho trẻ hàng ngày 100.0 1.0

3 Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 50.0 1.53

4 Theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 73.3 1.27

Theo số liệu bảng 2.4 biện pháp dùng trực quan và làm gương cho trẻ vẫn được sử

dụng nhiều như phần trên. GV cho biết khi dùng trực quan trẻ nhìn thấy mẫu, cách làm. Gần

hơn là tấm gương của người lớn quanh trẻ có tác động thường xuyên hơn. Tương tự, biện

pháp tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống chiếm 73.3%, với điểm

trung bình 1.27 tương ứng với mức độ cao. Qua trao đổi với GV và quan sát ở nhóm lớp,

chúng tôi thấy rằng biện pháp này được có hiệu quả đối với trẻ, vì khi có GV đứng cạnh

nhắc nhở thì trẻ mới làm đúng, lúc GV không chú ý đến là trẻ hay nghịch nước hoặc không

tắt vòi nước, vì GV không phải lúc nào cũng theo sát được với trẻ.

2.5.4. Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN và PH về hình thức tổ chức GD tiết

kiệm năng lượng cho trẻ ở trường MN

Nhận thức về hình thức tổ chức GD nội dung tiết kiệm năng lượng cho trẻ ở mỗi đối

tượng khảo sát có sự khác nhau rõ rệt.

Bảng 2.5. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về hình thức tổ chức giáo

dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

CBQL GVMN Hình thức N Tỉ lệ % N Tỉ lệ %

Chủ yếu dạy trên giờ học, có mục đích yêu cầu 5 15.6 8 26.6

chuyên biệt về GD sử dụng năng lượng.

Lồng ghép vào một số chủ đề. 25 78.1 12 40.0

Lồng ghép vào càng nhiều chủ đề càng tốt. 2 6.3 5 16.7

Ý kiến khác. 0 0 5 16.7

Qua bảng 2.5, ở CBQL phần lớn cho rằng nội dung này thực hiện lồng ghép vào một

số chủ đề với số người chọn là 25/32, tỉ lệ 78.1%, nhóm đối tượng này nhận thức quan điểm

50

tích hợp sẽ làm HĐ nhận thức được nhẹ nhàng, không gò ép. Điều này phù hợp quan điểm

chỉ đạo của Sở Giáo dục. Tuy nhiên, với vai trò sẽ tập huấn lại cho GV, thì con số còn lại

7/32 (21.9%) không phải là ít. Minh chứng cụ thể là chỉ có 12/30 (40%) GV nhận thức đúng

việc sử dụng hình thức thực hiện nội dung GD này, còn hơn một nửa còn lại nhận thức

chưa sát với chỉ đạo. Chẳng hạn 26.6% GV cho rằng thực hiện nội dung này chủ yếu dạy

trên giờ học, có mục đích yêu cầu chuyên biệt về GD sử dụng năng lượng. Nghĩa là trong

thực hiện chương trình CSGD, vốn dĩ “quá tải” nay phải bổ sung một mảng nội dung GD

nữa.

Nhiều GV khác (chiếm 16.7% số người được hỏi) lập luận rằng nội dung GD khô

khan, khó tổ chức HĐ sinh động phù hợp trên giờ học, GV đồng ý lồng ghép vào càng nhiều

chủ đề càng tốt. Xuất phát từ áp lực kiểm tra của CBQL và áp lực theo yêu cầu của chuẩn

phát triển trẻ 5 tuổi, GV có tâm lý “thà dư hơn thiếu”, dẫn đến việc thực hiện chương trình

một cách dàn trải, ôm đồm làm cho “rối càng thêm rối”. Đó cũng là tình trạng phổ biến của

đa số GVMN nói chung và GV dạy lớp 5-6 tuổi nói riêng. Một số ý kiến khác thì chọn hình

thức GD mọi lúc mọi nơi (chiếm tỉ lệ 16.7%).

Về phía PH “Biết là cần dạy con, nhưng chưa kịp dạy vì hàng ngày chúng tôi rất bận

rộn. Rất muốn GV dạy điều này cho con chúng tôi”, có 6.7% PH suy nghĩ như thế. Thực tế

có đến 40 người (88,9%) mong mỏi GVMN dạy con mình nội dung tiết kiệm năng lượng

thường xuyên mỗi ngày.

Bảng 2.6. Nhận thức của phụ huynh về hình thức dạy trẻ tiết kiệm năng lượng

ở trường mầm non

Hình thức PH

Tỉ lệ % N

Hàng ngày 88.9 40

Trong đợt phát động phong trào 11.1 5

Tổng cộng 100 45

Có 11.1% số PH được hỏi thì nghĩ nên dạy trẻ trong các đợt phát động, “vì bé còn rất

nhỏ”. Do vậy, khi khảo sát mức độ cần thiết GD nội dung này cho trẻ 5-6 tuổi, kết quả có

4.4% PH cho rằng không cần thiết phải GD trẻ tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, số còn lại

95.6% đồng ý cần thiết phải dạy cho con trẻ. Bên cạnh đó 100% CBQL và GVMN đều thấy

cần thiết dạy cho trẻ.

51

Như vậy, đa số PH và tất cả CBQL, GVMN được khảo sát đều cho rằng nội dung GD

sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là nội dung GD cần thiết cho trẻ. Nội dung này được

PH đánh giá cao và hy vọng trường MN GD cho trẻ hằng ngày. Trong khi CBQL chỉ yêu

cầu mức độ lồng ghép phù hợp ở một số chủ đề. Thực tế, GVMN thực hiện lồng ghép được

càng nhiều chủ đề càng tốt. Tóm lại, thực trạng sử dụng hình thức cho nội dung GD này cần

quan tâm ở GVMN. Vì đây là lực lượng trực tiếp thực hiện nội dung này trên trẻ, có vai trò

quyết định hiệu quả hay không hiệu quả.

2.5.5. Những khó khăn trong việc vận dụng các biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng

tiết kiệm, hiệu quả

Kết quả khảo sát cho thấy có 3 khó khăn cơ bản: năng lực nhận thức của độ tuổi (5- 6

tuổi), thời gian và sự kết hợp GD với PH.

Cả 3 nhóm đối tượng điều tra này đều nghĩ rằng, 5- 6 tuổi là lứa tuổi mà trẻ còn rất hạn

chế về khả năng nhận thức, chưa ý thức đến sự kiên trì thực hành để tập thành kỹ năng và

thành thói quen.

Ngoài ra, trẻ 5- 6 tuổi rất thích chơi với nước để nghịch nước, thay vì học cách sử

dụng nước một cách tiết kiệm. Vì vậy, nếu không được theo dõi nhắc nhở là trẻ khó chuyển

từ kỹ năng thành thói quen.

Một vấn đề là sự an toàn cho bé. Do trẻ còn nhỏ, chưa từng được tiếp xúc với các thiết

bị điện nên sợ rủi ro, từ đó không cho cháu tự ý sử dụng. Điều này rất hợp lý với tâm trạng

của các bậc PH.

Như thế, theo khảo sát thì từ CBQL, PH đến GVMN đều cho rằng trẻ 5-6 tuổi còn nhỏ,

chưa phù hợp với nội dung GD tiết kiệm năng lượng, làm cho việc GD này không thuận lợi.

Bên cạnh đó, cũng do đặc điểm lứa tuổi của trẻ còn nhỏ nên khó có thể làm đúng theo khi

người lớn làm mẫu hoặc hướng dẫn. Do đó, việc dùng các biện pháp làm mẫu, làm gương

cho trẻ hằng ngày gặp khó khăn. Ở biện pháp này, theo một số ý kiến nhận định do bản thân

người lớn chưa gương mẫu trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm nên khó GD được trẻ.

Khó khăn nữa là thời gian luyện tập. Để GD trẻ thực hiện được việc tiết kiệm năng

lượng cần nhắc nhở trẻ hằng ngày, trong các tình huống đời sống. GVMN một ngày ở lớp

với hơn 40 trẻ 5-6 tuổi rất bận rộn: nội dung chuyên môn, báo cáo số liệu đột xuất... hầu như

rất khó nhắc nhở trẻ.

Ngoài ra, GVMN không có thời gian để tìm kiếm nguồn tư liệu cho nội dung GD này

như hình ảnh, các video clip vì thực tế việc trang bị phương tiện để dạy trực quan rất ít, nên

dẫn đến có một vài tư liệu mà cả trường cùng sử dụng cho mọi lứa tuổi MG.

Tương tự biện pháp dùng trực quan, biện pháp trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác

bài hát tuyên truyền gây hứng thú giúp trẻ dễ nhớ, nhưng hiện tại nguồn bài thơ, truyện, bài

52

hát tuyên truyền cho nội dung này ít, đặc biệt dành cho trẻ MG càng khó tìm. Mà GV không

có thời gian để sưu tầm, chưa đủ khả năng để sáng tác.

Về phía PH, hàng ngày cũng rất bận rộn với công việc khó có thời gian theo dõi, nhắc

nhở trẻ nên khó hình thành thói quen này do “không có thời gian chú ý đến việc cháu sử

dụng nước như thế nào, còn điện thì thấy bé đến gần ổ điện là nhắc liền, nguy hiểm”.

Như vậy, cả GVMN và PH đều không có thời gian tổ chức GD một cách có hệ thống.

Sự phối hợp giữa PH và GVMN cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng các biện pháp GD

tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Theo khảo sát CBQL và GVMN thì PH rất ít quan tâm đến nội

dung GD này. Ở trường cô giáo cố gắng dạy trẻ cách sử dụng tiết kiệm nhưng về nhà PH

không quan tâm, nhắc nhở trẻ, không gương mẫu, đôi lúc làm trái lại những gì cô dạy nên

khó giúp trẻ hình thành được thói quen.

Điều này còn thể hiện trong thực tế quan sát ở bảng tuyên truyền của lớp: chưa thấy

nội dung GD này trên bảng tuyên truyền. Song song đó, qua quan sát giờ đón trả trẻ, chưa

nghe GV có sự trao đổi với PH về nội dung tiết kiệm năng lượng.

Ngoài những khó khăn trong các biện pháp trên chiếm đa số, thì một số ít khó khăn ở

các biện pháp khác cũng đáng quan tâm. Cụ thể, với biện pháp tham mưu cấp chủ quản thay

các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn thì CBQL gặp khó khăn trong việc

tìm nguồn kinh phí.

Bên cạnh đó, biện pháp tạo tình huống có vấn đề và tổ chức làm thí nghiệm là hai biện

pháp đánh giá khó khăn nhiều nhất, nhiều ý kiến đánh giá hai biện pháp này không khả thi.

Tạo tình huống có vấn đề GVMN ít sử dụng, còn làm thí nghiệm thì không cụ thể và nếu thí

nghiệm với điện càng khó vì nguy hiểm cho trẻ. Do đó, qua thực tế quan sát ở nhóm lớp

không thấy GV sử dụng hai biện pháp này cho nội dung GD tiết kiệm năng lượng.

Tóm lại, theo khảo sát, khó khăn trong sử dụng các biện pháp GD trẻ tiết kiệm năng

lượng vì đặc điểm lứa tuổi của trẻ còn nhỏ nên trò chuyện trẻ mau chán, tổ chức làm thí

nghiệm trẻ không hiểu; làm mẫu làm gương thì trẻ hay quên, khó thực hiện đúng, ngay cả

bản thân người lớn cũng chưa làm gương được; nguồn tư liệu trực quan ít, mà GV không có

thời gian để tìm kiếm để đầu tư tổ chức các HĐ nên biện pháp trực quan gặp khó khăn; bài

hát, thơ truyện cũng không nhiều làm cho việc trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài

hát tuyên truyền không phong phú; biện pháp tổ chức theo dõi nhắc nhở trẻ thực hành trong

đời sống không thuận lợi do bận rộn, không đủ thời gian từ PH đến GVMN; tham mưu cấp

chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn khó ở chỗ không tìm

được nguồn kinh phí; PH ít quan tâm đến nội dung GD này dẫn đến công tác phối hợp chưa

có, làm cho công tác tuyên truyền đến PH khó thực hiện.

2.5.6. Thực trạng hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ

5-6 tuổi ở các trường MN

53

Thực trạng này được khảo sát chủ yếu qua việc quan sát trẻ thực hành hằng ngày ở

trường MN và qua trao đổi trò chuyện với PH.

Quan sát 120 trẻ MG 5-6 tuổi, ở 3 trường MN khác nhau. Thời điểm quan sát giờ vệ

sinh trước và sau khi ăn, lúc trẻ uống nước, ra sân chơi. Đa số trẻ mở nước to khi rửa tay,

rửa mặt và chải răng, để vòi nước chảy khi không dùng đến, chưa chú ý khi tắt vòi nước,

chưa gạt vòi nước tắt hẳn còn để nước chảy rò rỉ.

Khi chải răng có bé dùng ca đựng nước, có trẻ không dùng ca mà trực tiếp trên vòi

nước, để vòi nước chảy khi đang chải răng.

Trường MN 19/5 có trang bị máy sấy tay trong nhà vệ sinh. Trẻ sấy tay theo ý thích.

Trẻ đứng đưa tay vào máy trong thời gian dài, có trẻ thực hiện nhiều lần. Trẻ vừa sấy tay

vừa cười, rủ bạn khác cùng chơi với mình. Vì nhà vệ sinh chật, trẻ vào đông nên cô chưa

bao quát, nhắc nhở trẻ kịp thời.

Như thế, có thể hằng ngày cô không GD, nhắc nhở trẻ hoặc không cho cháu sử dụng

máy sấy tay nên trẻ thấy thích thú khi được dùng đến.

Trong lúc thực hiện trẻ không chú ý đến việc mình đang sử dụng nước mà trẻ nhìn vào

gương, nhìn bạn, nói chuyện, đùa giỡn trong khi để nước chảy.

Nước uống: tắt vòi không kỹ, nước còn chảy ra ngoài. Trẻ hứng nước nhiều, uống

không hết đổ ra ngoài.

Một số trẻ biết dùng nước tiết kiệm nhưng không thường xuyên, đợi cô nhắc nhở.

Bảng 2.7. Kết quả quan sát mức độ hành vi của trẻ trong sử dụng

năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

Mức độ Tổng cộng

Cao Trung bình Thấp

10 24 86 120 N

Điểm TB 2.63

Như vậy, kỹ năng sử dụng năng lượng của trẻ ở mức độ thấp. Trong đó, số trẻ ở mức

độ thấp chiếm hơn 2/3 mẫu khảo sát. Điều này rất đáng quan tâm.

2.5.7. Thực trạng thực hiện nội dung GD này trong chương trình CSGD MN của Bộ

GD&ĐT

54

Theo chương trình CSGD MN mới 2009 của Bộ GD&ĐT, trong lĩnh vực nhận thức

GD trẻ biết về thời tiết (nắng, mưa, gió, bão, nóng, lạnh) làm thay đổi trong sinh hoạt

(người, cây, con vật).

Ngày, đêm, mặt trời, mặt trăng: sự khác nhau ở quang cảnh, sinh hoạt.

Nước: nước có ở đâu, lợi ích, tác hại (người, cây, con vật). Trạng thái thay đổi của

nước (lỏng, cứng, hơi..), đặc điểm, tính chất (không màu, không mùi, trong suốt giống thủy

tinh: thấy được vật trong đó). Bé làm gì để sử dụng nước tiết kiệm.

Ô nhiễm nước (nước sạch - nước bẩn)  làm gì để bảo vệ khỏi sự ô nhiễm.

Không khí, ánh sáng: sự cần thiết cho đời sống, phân biệt tối - sáng, ánh sáng tự nhiên

- nhân tạo. Bé có thể làm gì để tiết kiệm điện.

Thế nào là môi trường sống tốt, làm gì để bảo vệ môi trường.

Thiên nhiên: nước (tính chất, trạng thái, nước bốc hơi, …). Không khí, sức gió. Mối

quan hệ giữa môi trường sống (ánh sáng, không khí, nước, đất…) với sự tồn tại, trưởng

thành của cây.

Như vậy, với những nội dung trên cho thấy rằng việc GD tiết kiệm năng lượng có hai

nội dung: tiết kiệm nước, tiết kiệm điện. Hai nội dung này được đưa vào lĩnh vực nhận thức

về các hiện tượng tự nhiên. Do đó, khi tổ chức HĐ cho trẻ GV thường chú trọng nước là

một dạng thể của hiện tượng tự nhiên chứ chưa được xem với vai trò tạo ra năng lượng.

* Kế hoạch chương trình của trường, của lớp

Qua xem hồ sơ của 6 GVMN ở 3 trường MN, nhận thấy rằng: hầu hết các kế hoạch

chương trình dạy của trẻ 5-6 tuổi gồm các nội dung ở từng lĩnh vực GD được phân bố vào

các HĐ trong ngày, từ đón trẻ đến trả trẻ. Ở lứa tuổi này, việc đưa nội dung theo chủ đề là

phổ biến, còn các giờ kỹ năng đều lồng ghép vào chủ đề. Tuy nhiên, nội dung GD tiết kiệm

năng lượng chưa thấy thể hiện trong kế hoạch, có chăng chỉ là những nội dung của chương

GDMN mới của Bộ GD. Có thể chấp nhận điểm này vì kế hoạch ở giai đoạn này mang tính

chung chung theo chương trình khung của Bộ, mức độ cụ thể là ở nhóm lớp.

Từ kế hoạch năm học của trường, GVMN chủ động lựa chọn chủ đề, nội dung sắp xếp

vào từng tháng trong năm học. Khi phân bổ vào từng tháng GVMN dựa vào tình hình học

sinh của trẻ ở lớp mình, cũng như xem thời điểm nào phù hợp với nội dung, chủ đề gì. Tuy

nhiên, theo tìm hiểu thì hầu như các kế hoạch này đều do CBQL đưa xuống từ sự thống

nhất giữa tổ trưởng chuyên môn và GV. Như vậy, vẫn có sự bàn bạc của GV. Theo tham

khảo kế hoạch của 3 lớp 5-6 tuổi thì nội dung GD này vẫn còn sơ xài, rất ít nội dung. GV

55

cho biết: “GD tiết kiệm năng lượng chỉ lồng ghép nếu có thể. Chương trình lớp 5-6 tuổi vừa

dạy kỹ năng, vừa thực hiện theo chủ đề, vừa lồng ghép nội dung chuẩn 5 tuổi đã không đủ

thời gian, nên nội dung này có cũng được, không có cũng không sao”. Chính vì lý do đó mà

hầu hết các kế hoạch tháng đều không có.

Như vậy, nội dung GD này chưa được GV quan tâm trong hồ sơ soạn giảng. Mặc dù

nội dung này GV thực hiện GD trẻ hằng ngày trong các giờ vệ sinh.

2.5.8. Thực trạng về công tác và kết quả bồi dưỡng GV nhằm GD trẻ MG sử dụng

năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở một số trường MN, quận Bình Tân

Sau khi được phòng MN - Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM tổ chức học tập bồi dưỡng

thực hiện nội dung GD này, tổ MN phòng Giáo dục và Đào tạo quận Bình Tân triển khai

đến các trường qua chuyên đề cấp quận “Phương pháp tích hợp nội dung GD sử dụng năng

2.

lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG” 1F

Chuyên đề được tổ chức trong 01 ngày (27/02/2013) tại một trường MN công lập và

một trường MN dân lập - tư thục. Chuyên đề tổ chức 06 HĐ học cho trẻ MG: 01 HĐ cho trẻ

3-4 tuổi, 03 HĐ cho trẻ 4-5 tuổi và 02 HĐ cho trẻ 5-6 tuổi. Qua các hình thức tổ chức trên

thấy rằng chuyên đề chỉ tập trung thực hiện nội dung GD này vào HĐ học, chưa chú trọng

đưa vào các HĐ khác trong ngày. Như vậy, trẻ chỉ được làm quen với nội dung này thông

qua giờ học, nếu GV không tổ chức trên giờ học thì trẻ sẽ không được lĩnh hội, chưa kể đến

GV chưa nắm được cách tổ chức nội dung này trong các giờ HĐ khác trong ngày vì chuyên

đề chưa tổ chức hình thức này.

Thông thường, giờ học đi sâu về nhận thức hơn là thực hành, nghĩa là chưa quan tâm

đến hình thành kỹ năng và thái độ trong thực tế cho trẻ. Vì có thể trên giờ học trẻ nhận thức

được, hiểu được thái độ mình phải như thế nào cho phù hợp nhưng khi thực hành trong thực

tế trẻ hay thay đổi theo tình huống, theo kiểu bắt chước bạn khi không có sự giám sát, nhắc

nhở của người lớn. Điều này cho thấy chưa có sự đồng bộ giữa GD nhận thức, GD thái độ

và hình thành kỹ năng trong chuyên đề này. Thực trạng này cần quan tâm trong chương

trình thực nghiệm.

Tuy nhiên việc đưa nội dung này tập trung vào hình thức tổ chức giờ học. Có 2 giờ học cho

trẻ 5-6 tuổi theo chuyên đề.

a) Giờ học thứ nhất với đề tài “Nước với đời sống con người”. Mục đích yêu cầu:

2 Xem phụ lục 3.

- Trẻ biết được lợi ích của nước đối với đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người.

56

- Trẻ biết một số loại nước trong tự nhiên.

- Phát triển khả năng quan sát, phán đoán, ngôn ngữ cho trẻ.

- GD trẻ biết sử dụng nước sạch, biết tiết kiệm nước và biết bảo vệ nguồn nước của

mình.

Với yêu cầu trên, giờ học được tiến hành bằng 3 HĐ:

- HĐ 1: cho trẻ xem tranh, đàm thoại về công dụng của nước. Cô viết các từ chỉ công

dụng của nước lên bảng. GD trẻ phải biết tiết kiệm nước mọi lúc mọi nơi.

- HĐ 2: cho trẻ xem file trình chiếu về các loại nước. Đàm thoại về sự ô nhiễm của

nước, mình phải làm gì để bảo vệ nguồn nước.

- HĐ 3: Chia nhóm, cho trẻ chọn những hành động đúng sai khi sử dụng nước trong

sinh hoạt hằng ngày.

b) Giờ học thứ hai “Đồ dùng sử dụng điện”. Mục đích yêu cầu:

- Trẻ biết gọi tên và phân biệt được đồ dùng bằng điện.

- Trẻ biết lợi ích của năng lượng điện.

- GD trẻ biết sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng điện.

Giờ học này được tổ chức với 2 HĐ:

- HĐ 1: cho trẻ đọc bài vè về các đồ dùng sử dụng điện. Đàm thoại về đặc điểm cách

vận hành các loại đồ dùng đó. Tìm những đồ dùng đó trong các hình có sẳn trong rổ. GD trẻ

không được tự ý cắm điện, không chọc tay vào ổ điện, không được đứng dưới cột điện khi

trời mưa.

Tiếp theo, cho trẻ xem đoạn clip về tiết kiệm điện. Đàm thoại nội dung đoạn phim. GD

trẻ khi không sử dụng điện phải biết tiết kiệm: ra khỏi phòng tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi đi

ngủ hoặc không xem nữa.

- HĐ 2: cho trẻ kết nhóm, mỗi nhóm một bức tranh, đánh dấu vào những hành động

đúng trong sử dụng tiết kiệm điện, trẻ tự kiểm tra.

Qua mục đích yêu cầu của 2 giờ học chúng ta thấy rằng nội GD nhận thức được đưa ra

một cách đầy đủ từ nhận thức về đặc điểm của đối tượng: đồ dùng điện, các loại nước đến

lợi ích, công dụng. Bên cạnh đó, yêu cầu hình thành kỹ năng cũng được quan tâm như GD

trẻ biết sử dụng nước sạch, biết tiết kiệm nước và biết bảo vệ nguồn nước của mình, GD trẻ

biết sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng điện. Song việc hình thành kỹ năng này chỉ

qua lời nói như là “dặn dò” của GV đối với trẻ chứ chưa có thực hành cụ thể nào.

Đáng quan tâm trong mục đích yêu cầu này là chưa thấy đưa ra nội dung GD thái độ

cho trẻ. Đó là thái độ (tự giác, vui thích...) khi sử dụng nước, điện một cách tiết kiệm. Vì

57

nhận thức, kỹ năng trẻ có thể lĩnh hội được, làm được nhưng thái độ, tình cảm đối với việc

tiết kiệm không có thì trẻ không hứng thú, không thích từ đó trẻ sẽ làm theo ý của mình khi

không có ai “canh chừng”. Như vậy, nhận thức hành vi đó sẽ không bền vững.

Về biện pháp tổ chức của chuyên đề. Nổi bật ở 2 giờ học của chuyên đề là biện pháp

dùng trực quan: hình ảnh trên file trình chiếu, đoạn clip, hình ảnh bài tập cho trẻ. Theo sau

đó là biện pháp đàm thoại với trẻ về nội dung của các giáo cụ trực quan trên. Theo quan sát,

thì trẻ hứng thú theo dõi các đoạn clip. Tuy nhiên hạn chế do màn hình tivi và máy laptop

nhỏ và bố trí cao, xa tầm mắt nên trẻ khó xem, chen nhau, một số trẻ không chú ý vì không

được nhìn thấy.

Bên cạnh đó, GV sử dụng bài vè với nhịp điệu nhanh, vui tươi, trẻ hứng thú đọc làm

sinh động giờ học. Ở hai biện pháp này trẻ ngồi một chỗ là nhiều, chưa được di chuyển, vận

động.

Dùng bài tập làm theo nhóm là biện pháp GD trẻ biết phối hợp để thực hiện nhiệm vụ

được giao. Biện pháp này trẻ được thực hành trên giấy, qua những hình ảnh đúng, sai trong

việc sử dụng điện, nước.

Sau khi dự chuyên đề, một số trường đã nhận định: “Từ đề tài khó chuyển tải, cô đã

nhẹ nhàng tích hợp vào câu chuyện, tiết dạy một cách hiệu quả. Tôi rất thích HĐ này”. Như

vậy, chuyên đề đã giúp GV nắm được việc thực hiện nhiệm vụ GD này qua ý kiến phản hồi

trên. Đây là mặt ưu của chuyên đề này.

Tiếp sau đó, chuyên viên Phòng GD, tổ MN cũng đã triển khai thực hiện nội dung GD

này căn cứ vào một số văn bản pháp lý về tiết kiệm năng lượng. Triển khai ở bậc học MN

thực hiện GD theo quan điểm tích hợp vào các chủ đề, không tổ chức riêng biệt làm nặng

thêm chương trình. Sử dụng các biện pháp như trực quan, đàm thoại, làm mẫu, người lớn

gương mẫu, thí nghiệm, thực hành.... Thực hiện GD vào các thời điểm trong chế độ sinh

hoạt ở trường MN. Đồng thời phối hợp với PH trong thực hiện nhiệm vụ này.

Như thế, qua việc tổ chức chuyên đề GD trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả của quận Bình Tân, tổ MN đã triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Phòng MN – Sở

Giáo dục và Đào tạo TPHCM về biện pháp, hình thức, quan điểm thực hiện rất cụ thể. Tuy

nhiên, tổ chức HĐ lại chú trọng vào giờ học, chưa tổ chức nội dung này vào các giờ khác

trong chế độ sinh hoạt. Mặt khác, chưa quan tâm đến việc GD thái độ cho trẻ trong nhiệm

vụ GD này, nghĩa là chưa có sự tác động GD đồng bộ cho trẻ, mặc dù văn bản triển khai có

đề cập đến vấn đề này.

58

Tiểu kết chương 2

Qua nghiên cứu thực trạng việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả, có thể rút ra một số ý như sau:

- Phần đông người lớn xung quanh trẻ (CBQL, GVMN và PH) nhận thức được ý

nghĩa tiết kiệm năng lượng hướng đến mục tiêu thiết thực trong đời sống và hướng đến việc

làm gương cho trẻ nhiều hơn là hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường. Chính vì thế mà

nhận thức về cách tiết kiệm năng lượng cũng chưa thành thói quen và cũng chưa có sự

chuẩn bị sẵn sàng trang bị những điều kiện về vật chất và con người cho việc này.

- Việc chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD cho trẻ gặp khó khăn, do: quan

niệm của người lớn “trẻ còn rất nhỏ, khó GD năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, PH và GV

bận rộn công việc nên thiếu thời gian dành cho việc GD trẻ hàng ngày, cũng là do sự rời rạc

chưa thống nhất trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Do đó có thể kết luận rằng hiệu quả GD này chưa cao, kỹ năng của trẻ còn ở mức độ

thấp.

- Về hình thức tổ chức GD: phần lớn nhà GD và nhà quản lý chỉ mới chú trọng vào giờ

học, chưa khai thác hình thức ngoài giờ học (GD trong sinh hoạt, phối hợp với GD gia

đình). Do vậy, chỉ mới GD nhận thức và một số kỹ năng sử dụng năng lượng đúng, chưa thể

giúp trẻ chuyển thành thái độ. Trong vài giờ học, cũng như điều kiện sinh hoạt ở lớp/ trường

MN thì trẻ cũng chỉ tập được vài kỹ năng.

- Việc trang bị những điều kiện thuận lợi cho việc GD này chưa có: cơ sở vật chất,

giáo cụ dạy học, tấm gương của người lớn, sự phối hợp giữa GV và PH.

59

Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU

QUẢ

3.1. Đề xuất chương trình thực nghiệm GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả

3.1.1. Mục đích GD thực nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng

năng lượng, tiết kiệm hiệu quả trong trường MN và kiểm nghiệm hiệu quả của những biện

pháp này.

3.1.2. Cơ sở thiết kế chương trình thực nghiệm

Việc tìm ra một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng tiết kiệm, hiệu quả được

xây dựng trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

- Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (ý

nghĩa – các nhiệm vụ GD - nội dung GD - kinh nghiệm về phương pháp GD ở các nền GD

tiên tiến).

- Thực trạng sử dụng biện pháp GD của CBQL, GVMN và PH trong việc thực hiện nội

dung GD này.

- Thực trạng kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của trẻ 5-6 tuổi.

- Thực trạng tác động đồng bộ GD nhận thức, thái độ và hành vi cho trẻ.

- Quan điểm đổi mới trong GD nói chung và GDMN nói riêng. Từ những năn 90 của

thế kỷ XX, bậc học MN Việt Nam đã tiến hành đổi mới GDMN theo hướng tích hợp theo

chủ đề. Quan điểm này hướng đến việc:

+ Tăng cường cho trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng các hành động trên đối

tượng cụ thể, trên cơ sở đó chuyển dần sang giải quyết vấn đề trên tranh ảnh và giải quyết

tình huống qua lời mô tả sự kiện, hiện tượng.

+ Quan tâm đến đặc điểm cá nhân của trẻ, cá biệt hóa trong công tác GD trẻ ở trường

MN.

+ Vận dụng các hình thức tổ chức HĐ GD linh hoạt và mềm dẻo phù hợp với khả năng

thực tế của trẻ.

+ Tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, được hoạt động và lĩnh hội theo

nhiều cách, đặc biệt lưu ý đến trẻ học như thế nào hơn là trẻ học cái gì. Không tách rời giữa

60

học và chơi, khuyến khích GV sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau, phát huy

tính tích cực của trẻ [10].

- Các điều kiện thực tế thuận lợi cho việc GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả ở trường MN.

3.1.3. Đối tượng tham gia chương trình GD thực nghiệm

- 2 GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi và 40 trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN Hoa Hồng, quận

Bình Tân, TP HCM.

3.1.4. Nhiệm vụ chương trình GD thực nghiệm

- GD trẻ nhận thức được ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng (điện, nước) tiết kiệm,

hiệu quả.

- Hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ.

- GD trẻ thái độ tự giác khi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

- Trong đó, nhiệm vụ GD nhận thức và thái độ làm nền tảng cho việc hình thành kỹ

năng. Vì nếu chỉ dạy kỹ năng thì khó GD được ý thức, sự tự giác của trẻ, kết quả GD kỹ

năng sẽ không bền vững.

3.1.5. Nội dung chương trình GD thực nghiệm

Các nhiệm vụ của chương trình thực nghiệm (nêu trên) được cụ thể hóa thành hệ thống

nội dung sau đây:

Hiểu biết về năng lượng

Năng lượng bao gồm: điện, nhiên liệu (xăng, dầu, rơm, rạ, gas, củi, than), năng lượng

mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước.

Điện là một dạng của năng lượng. Điện được tạo ra từ các nhà máy điện như nhà máy

thủy điện, nhà máy nhiệt điện…

Làm thế nào điện đến được các nhà? (Từ nhà máy điện, điện được dẫn theo đường

điện cao thế đến các trạm điện, rồi theo các dây điện, điện được dẫn đến các nhà).

Lợi ích của năng lượng

Lợi ích của điện:

Giúp cho bóng đèn sáng – cung cấp ánh sáng.

Giúp cho quạt, máy điều hòa hoạt động – làm mát hoặc làm ấm nhà ở.

Giúp cho tivi, đài hoạt động để bé và mọi người có thể nghe đài, xem tivi.

Giúp cho máy vi tính hoạt động để cha mẹ, cô giáo làm việc, bé chơi trò chơi trên

máy vi tính.

Giúp cho tủ lạnh hoạt động bảo quản thức ăn không bị ôi thiu.

61

Điện dùng để nấu chín cơm (nồi cơm điện), nấu chín thức ăn (bếp điện), đun nước sôi

(ấm điện), …

Lợi ích của nhiên liệu:

Xăng dầu giúp cho các phương tiện giao thông như xe máy, xe ôtô, tàu hỏa,… di

chuyển.

Xăng dầu giúp cho thuyền, tàu thủy hoạt động trên sông để vận chuyển người và hàng

hóa, giúp ngư dân ra biển đánh bắt tôm cá.

Rơm, rạ, củi, than, gas, dầu hỏa có thể làm chất đốt để nấu chín thức ăn.

Lợi ích của năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước).

Đây là những dạng năng lượng sạch không làm hại đến môi trường như những nguồn năng

lượng khác (than, dầu hỏa, khí gas tự nhiên). Nguồn năng lượng sạch có rất nhiều, không

bao giờ cạn kiệt.

Năng lượng mặt trời: mặt trời là nguồn năng lượng, chúng ta có thể lắp đặt những tấm

thu nạp ánh nắng mặt trời để tạo ra điện sử dụng trong nhà, làm khô quần áo thay cho việc

sấy khô hoặc là quần áo, nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm cho cây cối phát

triển, làm cho ô tô chuyển động bằng cách lắp đặt tấm pin mặt trời trên nóc ôtô để tạo ra

điện.

Năng lượng gió: những chiếc tua bin khổng lồ có thể sử dụng năng lượng gió tạo ra

điện. Thuyền buồm chạy được trên sông trên biển nhờ vào sức gió. Chúng ta nhờ sức gió để

thả diều bay trên bầu trời.

Năng lượng nước: con người sử dụng sức nước để giã gạo và cắt gỗ, đặc biệt sử dụng

sức nước để tạo ra điện.

Tiết kiệm năng lượng

Tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Với trẻ MN,

sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở trường và ở gia đình là thực hiện những hành việc

phù hợp với khả năng, độ tuổi của mình cụ thể như sau:

Trẻ không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa, máy sưởi đang bật. Biết tắt đèn, tắt

quạt khi ra khỏi phòng. Không được mở cửa tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa

tủ khi không có nhu cầu dùng đến. Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy

tính khi không sử dụng.

Bên cạnh đó trẻ cần biết thực hiện việc đảm bảo an toàn cho mình trong sử dụng điện.

Trẻ luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. Không bao giờ tự

62

cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất.

Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt. Khi ngửi thấy mùi

khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.

Thông qua việc làm trên hình thành hành vi, thái độ tiết kiệm năng lượng cho trẻ. Trẻ

chú ý quan sát và bắt chước những việc làm của người lớn: khi ra khỏi phòng thì phải tắt

điện (tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi không dùng). Có thái độ không đồng tình với những người

không có ý thức tiết kiệm năng lượng. Nhận ra người nào sử dụng năng lượng tiết kiệm,

người nào sử dụng không tiết kiệm.

Nội dung GD thực nghiệm này được triển khai dưới nhiều hình thức tổ chức GD

3:

(nghĩa rộng) 2F

- Các giờ học (2 giờ): HĐ theo chủ đề, phối hợp nhiều dạng HĐ (nhận biết, khám phá,

làm logo, bảng cổ động, thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường và

phối hợp phụ huynh để trẻ được liên tục thực hiện tại nhà...).

- HĐ chơi: mang tính tích hợp cao trong GD trẻ (HĐ chơi được tổ chức sao cho đảm

bảo hứng thú, nhu cầu và ý tưởng chơi từ trẻ). Nội dung lồng ghép GD trẻ sử dụng năng

lượng tiết kiệm và hiệu quả được GV khơi gợi từ trước, đặc biệt sau các giờ học về vấn đề

này và trước giờ trả trẻ (dặn dò về nhà thực hiện và trải nghiệm) để trẻ có tâm thế và năng

lực chơi mà không bị gò ép, bắt buộc ngay trước hay trong giờ chơi.

- HĐ GD trong sinh hoạt

* Trò chuyện sáng và sinh hoạt chiều.

* Đọc thơ, vè, nghe kể chuyện.

* Làm vệ sinh cá nhân.

- Lễ hội

- Đóng kịch về tiết kiệm năng lượng

- Công tác phối hợp với PH (vào các giờ đón trả trẻ, các buổi họp PH, thông qua bảng

tuyên truyền, tư vấn).

3.1.6. Phương pháp GD thực nghiệm

Trong các HĐ đều kết hợp vận dụng nhiều biện pháp. Đặc biệt khai thác nhóm biện

pháp thực hành (tạo cơ hội thử - sai và kết hợp giải thích ý nghĩa hành vi, tạo ra các qui

3 Xem phụ lục 4.

trình thao tác và lập sơ đồ cho trẻ từng bước tập kỹ năng), làm mẫu trên giờ học, tác động

63

bằng tình cảm và khích lệ, nhắc nhở uốn nắn hành vi của trẻ trong đời sống hàng ngày (ở

trường và ở nhà), nêu gương - đánh giá hành vi.

Hình thức tổ chức: khai thác cả 3 hình thức:

Giờ học, ngoài giờ học.

HĐ trong phòng lớp, tổ chức HĐ ngoài trời.

HĐ cá nhân, nhóm, tập thể.

3.1.7. Thời gian thực nghiệm

Chương trình thiết kế cho 8 tuần (18/3 đến 17/5/2013), được triển khai trên 2 nhóm

thực nghiệm (nhóm thực nghiệm 1 và 2, mỗi nhóm 1 GVMN và 20 cháu 5-6 tuổi).

3.1.8. Cách đánh giá thực nghiệm

Hiệu quả chương trình thực nghiệm được đánh giá qua quan sát, trò chuyện với trẻ, ghi

chép, lập phiếu đánh giá theo tiêu chí. Có 3 tiêu chí, trong mỗi tiêu chí có các mức độ biểu

hiện. Mức độ thấp 0 điểm, mức độ TB 1 điểm, mức độ cao 2 điểm. Điểm đánh giá xếp loại

tiêu chí là tổng điểm các biểu hiện.

a) Tiêu chí về mặt nhận thức

- Mức độ thấp (0 điểm): Trẻ không biết ý nghĩa của việc tiết kiệm.

- Mức độ TB (1 điểm): Trẻ biết tiết kiệm nước, điện, xăng dầu là tiết kiệm tiền.

- Mức độ cao (2 điểm): Trẻ biết tiết kiệm năng lượng là bảo vệ môi trường.

- Phương tiện đánh giá: trò chuyện, đặt câu hỏi với trẻ: Tại sao mình phải tiết kiệm

nước (điện, xăng dầu)?

b) Tiêu chí về mặt thái độ

- Mức độ thấp (từ 1 đến 3 điểm):

+ Trẻ quên không tắt khi không dùng đến.

+ Trẻ thực hiện một cách ép buộc.

+ Không điều chỉnh hành vi mặc dù được người khác nhắc nhở.

+ Thấy người khác làm sai, không dám nhắc nhở.

- Mức độ TB (từ 4 đến 6 điểm):

+ Trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng đợi người khác nhắc nhở.

+ Trẻ không tỏ vẻ vui hay buồn khi thực hiện nhiệm vụ này.

+ Điều chỉnh hành vi nhưng đợi nhắc nhở nhiều lần.

+ Thấy người khác làm sai méc với cô giáo hoặc nói với bạn khác.

- Mức độ cao (từ 7 đến 8 điểm):

64

+ Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc

nhở.

+ Trẻ có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm.

+ Biết điều chỉnh hành vi ngay khi được nhắc nhở.

+ Thấy người khác làm sai nhắc liền với người đó.

- Phương tiện đánh giá: Quan sát trẻ vào giờ giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, tạo tình

huống: người lớn làm sai hoặc bạn làm sai, quan sát cách ứng xử của trẻ.

c) Tiêu chí về mặt hành vi

- Mức độ thấp (từ 1 đến 4 điểm):

+ Trẻ không tắt vòi nước khi không dùng đến.

+ Chưa biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng.

+ Không thực hiện hành động đúng.

+ Thực hiện tiết kiệm bỏ dở nửa chừng (bắt chước bạn hoặc không nhớ)

+ Chưa biết làm gì.

- Mức độ TB (từ 5 đến 7 điểm):

+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến nhưng chưa thường xuyên.

+ Biết tắt đèn, tắt quạt đợi nhắc nhở.

+ Làm đúng, đôi lúc làm sai.

+ Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. Có lúc quên, rồi

nhớ thực hiện tiếp (thực hiện không liên tục).

+ Bắt chước theo bạn.

- Mức độ cao (từ 8 đến 10 điểm):

+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến một cách thường xuyên.

+ Biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng một cách thường xuyên.

+ Thực hiện hành động đúng trong tiết kiệm năng lượng.

+ Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện.

+ Biết đưa ra phương án và thực hiện: kèo rèm, mở cửa...

- Phương tiện đánh giá: Quan sát quá trình trẻ thực hành vào giờ vệ sinh, trước khi ra

sân chơi, tạo tình huống.

- Kết quả thực nghiệm được phân tích, tổng hợp theo tiêu chí đánh giá, xếp loại cho trẻ

cả về định tính và định lượng.

65

+ Về định tính: phân tích, đánh giá kết quả các tư liệu thu thập được dựa vào các

phiếu đánh giá của từng trẻ, các biên bản quan sát quá trình thực nghiệm, các

biên bản ghi chép trao đổi với GV thực nghiệm.

+ Về mặt định lượng: xử lý số liệu với phần mềm SPSS 16. để tính điểm TB (mức

thấp là từ 0 đến 0.5 điểm, mức TB từ 0.6 đến 1.5 điểm, mức cao từ 1.51 đến 2

điểm).

3.2. Tổ chức thực nghiệm

3.2.1. Điều kiện thực nghiệm

Nhóm TN và nhóm nhóm ĐC không có sự khác biệt về số lượng, điều kiện CSGD. Cơ

sở vật chất phòng nhóm, đồ dùng, đồ chơi như nhau.

Trình độ GV ở hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng như nhau: cùng tốt nghiệp

Đại học Sư phạm MN và có thâm niên công tác CS GD trẻ 5-10 năm. GV có ý thức tự giác

thực hiện yêu cầu chuyên môn.

Sự khác biệt giữa nhóm ĐC và nhóm TN:

- Nhóm ĐC: GV tự soạn giáo án, tự chuẩn bị đồ dùng dạy học và tổ chức HĐ với hình

thức, phương pháp, biện pháp bình thường như trước giờ thực hiện.

- Nhóm TN: GV soạn giáo án, lên kế hoạch và tổ chức với hình thức, phương pháp,

biện pháp theo nội dung chương trình TN.

3.2.2. Tiến hành thực nghiệm

3.2.2.1. Tập huấn GV nhóm TN

- Mục đích tập huấn: giúp GV nắm được nội dung và cách thực hiện chương trình TN.

- Hình thức tổ chức việc tập huấn: trao đổi, giảng giải.

- Đối tượng: 2 GV có trình độ ngang nhau (Đại học MN), GV thường (không là GV

giỏi) dạy lớp MG 5-6 tuổi và 40 cháu MG 5-6 tuổi.

- Nội dung: cách soạn giáo án và dạy trong đời sống sinh hoạt.

* Cách soạn giáo án: tập trung phần GD nhận thức và thái độ cho trẻ.

* Dạy trong đời sống sinh hoạt: GV là mẫu cho trẻ trong việc sử dụng tiết kiệm năng

lượng, theo dõi quan sát, nhắc nhở trẻ.

- Trao đổi, thảo luận để thống nhất tiến hành. Cùng với GV thực nghiệm chuẩn bị các

điều kiện, phương tiện cần thiết cho thực nghiệm. Tuy nhiên khuyến khích, ủng hộ sự sáng

tạo của GV nếu sự sáng tạo đó hợp lý, phù hợp với mục đích chung của thực nghiệm.

3.2.2.2. Các bước tiến hành thực nghiệm

Bước 1: Tiến hành đo đầu vào trước TN

66

- Trước khi tiến hành TN, người nghiên cứu tiến hành đo mức độ nhận thức, thái độ và

kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của trẻ ở cả nhóm TN và ĐC bằng việc

quan sát, dùng bài tập, câu hỏi, ghi chép biểu hiện và hành vi của trẻ. Sau đó căn cứ vào các

30

27

26

23

25

22

19

20

17

16

16

15

15

13

15

11

g n ợ ư l ố S

10

7

6

5

2

2

2

1

0

Thấp

Cao

Thấp

Cao

Thấp

Cao

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Nhận thức

Thái độ

Hành vi

TN

ĐC

tiêu chí để đánh giá, xếp loại mức độ.

Biểu đồ 3.1. Mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

Qua biểu đồ 3.1 cho ta thấy giữa nhóm ĐC và nhóm TN có sự chênh lệch về mức độ

sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả nhưng không đáng kể.

Bảng 3.1. Điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

trước thực nghiệm

Mẫu Số lượng Nhận thức Thái độ Hành vi

Nhóm ĐC 40 0.8 0.5 1.2

Nhóm TN 40 0.7 0.5 1.3

Tương tự, bảng 3.1 thể hiện số điểm TB của hai nhóm đạt mức độ TB ở nhận thức và

hành vi, mức độ thấp ở thái độ của trẻ. Tuy có sự chênh lệch nhưng

không nhiều.

Về thái độ ở mức độ thấp bằng nhau (0.5). Điều đáng quan tâm ở đây chính là thái độ

của trẻ. Trong lúc thực hiện trẻ không chú ý đến việc mình đang sử dụng nước mà trẻ nhìn

vào gương, nhìn bạn, nói chuyện, đùa giỡn trong khi để nước chảy. Khi được nhắc nhở thì

67

trẻ có sửa chữa, nhưng làm cho nhanh để đi ra ngoài. Trẻ chưa biết nhắc bạn khi bạn làm

sai.

Về nhận thức ở mức TB, nhóm ĐC nhiều hơn 0.1 so với nhóm TN. Khi được hỏi ý

nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng thì chỉ có 2 trẻ nhóm ĐC và 1 trẻ nhóm TN biết tiết

kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống, 11 trẻ nhóm ĐC và 13 bé nhóm TN không

biết trả lời. Số còn lại đa số trẻ đều nói tiết kiệm điện, nước là để tiết kiệm tiền.

Ngược lại, về hành vi nhóm ĐC ít hơn nhóm TN 0.1 và cả hai nhóm cũng ở mức TB.

Đa số trẻ mở nước to khi rửa tay, rửa mặt và chải răng, để vòi nước chảy khi không dùng

đến, chưa chú ý khi tắt vòi nước, chưa gạt vòi nước tắt hẳn còn để nước chảy rò rỉ. Khi chải

răng có bé dùng ca đựng nước, có trẻ không dùng ca mà trực tiếp trên vòi nước, để vòi nước

chảy khi đang chải răng. Đa số trẻ chưa biết thường xuyên quan sát và có hành vi tận dụng

ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào, làm việc ngoài trời hoặc ra sảnh...

Nước uống: tắt vòi không kỹ, nước còn chảy ra ngoài. Trẻ hứng nước nhiều, uống

không hết đổ ra ngoài.

Nhìn chung, việc chọn nhóm ĐC và TN bước đầu cho thấy hai nhóm tương đương

nhau về mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Bước 2: Tiến hành thực nghiệm

Với nội dung chương trình thực nghiệm GV phân bổ vào 6 tuần kết hợp với nội dung

chương trình CSGD của lớp đang thực hiện. GV tổ chức hai HĐ học để GD nhận thức cho

trẻ. Song song đó, tổ chức các nội dung trò chơi, các nội dung khác vào các giờ sinh hoạt

hằng ngày nhằm củng cố hình thành kỹ năng

cho trẻ.

Bên cạnh đó GV thường xuyên trao đổi, phối hợp với PH để cùng GD trẻ về nội dung

này. Thực hiện bảng tuyên truyền thay đổi nội dung GD này hằng tuần.

Giao nhiệm vụ về nhà cho trẻ về cách sử dụng nước, sử dụng tivi, máy vi tính, đèn

quạt một cách tiết kiệm, hiệu quả.

Bước 3: Tiến hành đo đầu ra sau TN

Sau khi tiến hành TN xong, người nghiên cứu kết hợp với GV đo cuối TN bằng các

tiêu chí như đo đầu vào TN. Chúng tôi tiến hành quan sát, đặt câu hỏi, dùng bài tập và trao

đổi với PH ở cả hai nhóm ĐC và TN. Sau đó căn cứ vào các tiêu chí để đánh giá, xếp loại

mức độ.

3.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

3.3.1. Kết quả trên nhóm ĐC

68

3.3.1.1. Kết quả điểm TB nhóm ĐC

Bảng 3.2. Điểm trung bình nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm

Các mặt Trước TN Sau TN

Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại

Nhận thức 0.8 TB 1.1

Thái độ 0.5 Thấp 1 TB

Hành vi 1.2 TB 1.5

Theo bảng 3.2, ta thấy mặt nhận thức và hành vi của trẻ ở nhóm này đạt ở mức TB cả

trước TN và sau TN. Tuy nhiên, điểm số ở mặt hành vi sau TN là 1.5, nghĩa là cận mức cao

(1.51). Còn mặt thái độ trước TN ở mức độ thấp, sau TN đạt mức TB. Có nghĩa là có sự cải

thiện tốt hơn.

Nhìn chung, mặc dù xếp loại TB nhưng điểm số sau TN cao hơn số điểm trước TN.

Như vậy, hiệu quả tác động ở nhóm này có tiến bộ trong GD trẻ sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả.

3.3.1.2. Kết quả mức độ sử dụng năng lượng trên các mặt nhận thức, thái độ, hành vi

nhóm ĐC

Hiệu quả này được cụ thể ở từng mặt như sau:

Bảng 3.3. Mức độ của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm

Thời điểm Nhận thức Thái độ Hành vi

Thấp TB Cao Thấp TB Cao Thấp TB Cao

Trước TN 11 27 2 23 15 2 7 17 16

Sau TN 5 28 7 8 24 8 0 20 20

Kết quả của bảng 3.3 ta thấy rằng, sau TN số lượng ở mức độ thấp từ nhận thức, thái

độ, hành vi đều giảm. Thay vào đó, ở mức độ TB và cao tăng lên rõ rệt.

3.3.2. Kết quả nhóm TN sau khi tiến hành TN

3.3.2.1. Kết quả điểm TB nhóm TN

69

Bảng 3.4. Điểm trung bình nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm

Các mặt Trước TN Sau TN

Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại

Nhận thức 0.7 TB 1.3 TB

Thái độ 0.5 Thấp 1.4

Hành vi 1.3 TB 1.8 Cao

Bảng số liệu trên thể hiện nổi trội là mặt thái độ sau TN tăng lên xấp xỉ 3 lần trước TN,

từ mức độ thấp lên mức độ TB. Tăng ở mức độ cao tiếp theo là mặt hành vi, sau TN tăng

0.5, từ TB lên mức cao. Về mặt nhận thức mặc dù vẫn đạt mức TB nhưng số điểm chênh

lệch so với trước TN là 0.6. Số điểm tăng này nói lên ý nghĩa hiệu quả tác động của chương

trình TN.

3.3.2.2. Kết quả mức độ sử dụng năng lượng trên các mặt nhận thức, hành vi, thái

độ nhóm TN

Bảng 3.5. Mức độ nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm

Thời điểm Nhận thức Thái độ Hành vi

Thấp TB Cao Thấp TB Cao Thấp TB Cao

Trước TN 13 26 1 22 16 2 6 15 19

Sau TN 0 28 12 0 24 16 0 8 32

So với thời điểm trước TN, sau TN số lượng trẻ ở mức độ thấp đều là 0. Cho thấy sự

chuyển biến của trẻ sau khi được tác động. Đặc biệt hơn là số lượng trẻ đạt mức cao và mức

cao và mức TB tăng lên đáng kể. Cụ thể, nhận thức ở mức độ cao sau TN tăng 11 trẻ so với

trước TN là 1 trẻ. Tương tự mức độ cao về mặt thái độ, hành vi cũng tăng đáng kể. Mức TB

có tăng từ mức độ thấp lên, có giảm vì số giảm đó được nâng lên ở mức độ cao. Như vậy,

kết quả ở nhóm TN sau khi tác động bằng chương trình TN thì số lượng trẻ tập trung ở các

mức độ TB và cao, không còn trẻ ở mức độ thấp.

3.3.3. Kết quả hai nhóm ĐC và TN sau khi tiến hành TN

3.3.3.1. Kết quả điểm TB

70

Bảng 3.6. Điểm trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

sau thực nghiệm

Nhóm ĐC Nhóm TN Các mặt sig Điểm TB Xếp loại Điểm TB Xếp loại

Nhận thức 1.1 TB 1.3 TB 0.03

Thái độ 1.0 TB 1.4 TB 0.00

Hành vi 1.5 TB 1.8 Cao 0.00

Qua bảng điểm TB ta thấy xếp loại ở mức độ cao và TB, không có xếp loại thấp ở cả

hai nhóm. Tuy nhiên điểm số ở nhóm TN cao hơn nhóm ĐC ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ

và hành vi. Đặc biệt, hành vi nhóm TN đạt ở mức độ cao với điểm số 1.8, trong khi mặt

hành vi nhóm ĐC là 1.5 đạt mức TB dù cận mức

cao 1.51.

Bên cạnh đó, kiểm nghiệm t với sig lớn nhất =0.03<0.05 cho thấy sự khác biệt trên là

có ý nghĩa.

3.3.3.2. Kết quả mức độ của nhóm ĐC và TN sau tiến hành TN

Xem biểu đồ 3.2 cho chúng ta thấy rằng, về mặt nhận thức ở mức độ TB cả hai nhóm

đều có số trẻ đạt bằng nhau 28 trẻ, chiếm 70% ở mỗi mẫu nghiên cứu. Đa số các trẻ ở mức

độ này biết ý nghĩa việc tiết kiệm điện, nước, xăng dầu là để tiết kiệm tiền cho cha mẹ, một

số trẻ khi được hỏi còn nói “con phải tiết kiệm nước để bà ngoại dưới quê có nước xài”. Bên

cạnh đó, còn 5/40 trẻ (12.5%) ở nhóm ĐC chưa biết ý nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng.

Những trẻ này thuộc nhóm trẻ thụ động, ít tham gia tích cực các HĐ GV tổ chức. Ở mức

thấp thì nhóm TN không còn trẻ nào. Số trẻ ở nhóm này tập trung vào mức cao là 12 trẻ,

chiếm 30% mẫu TN. Tỉ lệ này cao hơn nhóm ĐC là 12%. Sự khác biệt ở mặt nhận thức giữa

nhóm ĐC và TN có ý nghĩa qua độ chênh lệch điểm TB giữa hai nhóm là 0.1, ứng với

sig=0.03<0.05.

71

35

32

28

28

30

24

24

25

20

20

20

16

15

g n ợ ư l ố S

12

8

8

8

10

7

5

5

0

0

0

0

0

Thấp

TB

Cao

Thấp

TB

Cao

Thấp

TB

Cao

Nhận thức

Thái độ

Hành vi

Nhóm ĐC Nhóm TN

Biểu đồ 3.2. Mức độ của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

Về mặt thái độ, đa số trẻ sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng

lượng. Dần dần, trẻ tự giác tắt khi không dùng mà không cần người khác nhắc nhở. Ở cả hai

nhóm đều đạt 60% ở mức TB. Tức là trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng có sự nhắc nhở

của cô giáo, của cha mẹ. Nghĩa là bé biết điều chỉnh hành vi khi được nhắc nhở. Vì thế trẻ

không vui cũng không buồn khi thực hiện nhiệm vụ này. Vì bản thân chưa tự tin thực hiện

nhiệm vụ này nên trẻ chưa mạnh dạn nhắc nhở bạn mà chỉ méc với cô giáo hoặc nói với bạn

khác.

Điều quan tâm là số lượng trẻ đạt mức độ cao ở nhóm TN gấp đôi mức này của nhóm

ĐC. Trong khi nhóm ĐC có 8 trẻ (chiếm 20%) thì nhóm TN có đến 16 trẻ (chiếm 40%) mẫu

đạt mức cao. Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc

nhở, có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm, biết điều chỉnh hành vi ngay khi

được nhắc nhở và thấy người khác làm sai thì trẻ biết nhắc nhở họ.

Nhóm ĐC vẫn còn 20% trẻ ở mức độ thấp. Phần lớn các bé này thực hiện việc sử dụng

tiết kiện nước sinh hoạt trong vệ sinh, nước uống hằng ngày theo sở thích, không thể hiện sự

hứng thú, vui thích khi phải mở nước vừa phải, tắt vòi nước trong chi chải răng, hứng nước

uống không mở to...Kết hợp trao đổi với PH thì những bé này ở nhà chưa chú ý đến việc tiết

kiệm trong sử dụng điện: bé tỏ vẻ “quạo” khi mẹ tắt đèn trong phòng khi bé đi lấy nước

uống, bé thích mở tủ lạnh đứng hóng mát, chưa chú ý đóng cửa khi mở máy điều hòa, không

nghe bé nói đến việc tắt máy xe khi dừng đèn đỏ.

Qua quan sát thái độ ở hai nhóm có sự khác nhau rõ rệt.

72

Nhóm ĐC: trẻ thực hiện việc tiết kiệm năng lượng chưa tự giác, hầu như lúc nào trong

ngày khi ra ngoài sân hay trước khi ngủ GV đều phải “ đánh tiếng” nhắc nhở trẻ tắt đèn tắt

quạt. Khi trẻ làm vệ sinh hầu như trẻ nào cô cũng “nhắc chừng” mà chưa quan sát xem trẻ

làm đúng hay chưa, trẻ nào cần quan tâm, trẻ nào cần để bé tự lực. Do đó, nghe GV nói rất

nhiều, tạo cảm giác căng thẳng, ồn ào, gò bó cho cô và trẻ. Chính vì thế, cô như là người

“nhắc tuồng” cho trẻ, trẻ chưa được chủ động làm để thấy mình hay chỗ nào, chỗ nào cần

uốn nắn. Một số trẻ làm qua loa qua, rồi đi ra ngoài, không vui vẻ cũng không có gì hứng

thú. Tuy nhiên, có một trẻ tự mình làm tốt, dù cô nói cô nói, trẻ làm cứ làm. Biết mạnh dạn

nhắc bạn “tắt nước kìa, cô la đó”.

Trong khi đó, ở nhóm TN, trẻ thể hiện sự hứng thú trong việc sử dụng nước. Khi rửa

tay, rửa mặt thay vì hằng ngày bé phải vừa thực hiện thao tác vệ sinh vừa nói qui trình thực

hiện thì hôm nay bé vừa làm vừa đọc “Mở nước nhẹ êm, khi bé rửa tay, nhớ xoay tắt vòi,

khi không dùng đến, nhắc bạn chớ quên, ngay cả chải răng, không để nước văng, tràn lan

tung tóe, tung toé cái mà tung tóe!” Hoặc khi uống nước cũng lẩm nhẩm: khi bé uống nước

cũng phải từ từ, để tránh uống dư lấy vừa lấy đủ, lấy đủ cái mà lấy đủ”. Thấy bạn làm chưa

đúng thì tự nhắc nhau để điều chỉnh. Một số trẻ có vai trò thủ lĩnh nhắc bạn như mình là

người lớn “đã nói mở nước vừa vừa thôi, văng tùm lum kìa hỏng thấy hả ”. Trước khi ra sân

chơi thì các bé tranh nhau tắt đèn, tắt quạt dù đã được phân công nhóm nào trực tuần nào.

Rõ ràng ở hai nhóm thể hiện hai cách GD khác nhau dù chung mục tiêu là GD thái độ

tích cực cho trẻ trong việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng. Có thể nói rằng lựa chọn

phương pháp biện pháp, tạo bầu không khí tâm lý ảnh hưởng rất lớn đến kết quả GD, đặc

biệt là GD về thái độ cho trẻ. Vì khi có cảm xúc, tình cảm, sự thoải mái thì trẻ mới có thể

có hứng thú, động lực trong thái độ của mình.

Như vậy, về mặt thái độ của trẻ trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm thì ở nhóm

TN và nhóm ĐC tuy tương đương nhau ở mức độ TB nhưng mức độ cao ở nhóm TN cao

gấp đôi nhóm kia và không còn số trẻ ở mức độ thấp. Sự khác biệt này có ý nghĩa với sig =

0.00 < 0.05.

73

90

80

80

70

60

50

50

50

m ă r t

40

n ầ h P

30

20

20

10

0

TB

Cao

Nhóm ĐC Nhóm TN

Biểu đồ 3.3. Mức độ hành vi của trẻ sau thực nghiệm

Về mặt hành vi, ở cả hai nhóm đều không có trẻ ở mức độ thấp. Tỉ lệ mức độ cao ở

nhóm TN trội hơn tỉ lệ của nhóm ĐC là 30%. Sự khác biệt này có ý nghĩa với sig = 0.00 <

0.05.

Theo các biểu hiện của tiêu chí đánh giá cũng như qua quan sát, trò chuyện với trẻ và

PH thì các trẻ ở mức độ này thường xuyên “tắt khi không dùng đến” một cách tự giác,

không cần nhắc nhở. Trong quá trình sử dụng trẻ thường hành động đúng, không làm sai:

cháu biết lúc nào mở nước to, mở nước vừa và nhỏ, ở nhà tắt/mở tivi trực tiếp với nút bấm,

“ba tắt bằng remote là tốn điện cho cái đèn nhỏ nhỏ màu đỏ nó sáng”...

Trong lớp MN, công tắc đèn, quạt treo tường thường cao hơn tầm tay của trẻ, đối với

những trẻ không cao hoặc duy dinh dưỡng thấp còi thì rất khó để tắt đèn tắt quạt, trẻ vẫn cố

tìm cách để thực hiện: trẻ thấp vừa vừa thì dùng ghế đứng lên tắt/mở, hoặc nhảy nhảy cố với

tới, có trẻ tìm gậy thể dục làm vật trung gian, có trẻ nhờ bạn tắt. Trường hợp một số vòi

nước bị rò rỉ chưa thay, trẻ tắt hoài mà nước vẫn còn chảy nhỏ nhỏ, có trẻ dùng ca hứng

nước để chải răng, có trẻ loay hoay tắt qua tắt lại nhiều lần thì nước không còn chảy. Nghĩa

là trẻ thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng, dù gặp trở

ngại.

Ở tiêu chí hành vi này, biểu hiện thường xuyên quan sát và có hành vi tận dụng ánh

sáng tự nhiên ở nhóm TN có 19/40 trẻ đạt mức độ cao trong khi nhóm ĐC không có trẻ nào

đạt như vậy, chỉ ở mức thấp (19/40 trẻ) và TB (21/40 trẻ). Một số PH phàn nàn: ở nhà quen

rồi, như quán tính bước vô phòng là mở đèn, mở máy lạnh, nay bé về mở cửa ra hết, kéo

màn luôn, bụi lắm cô ơi!”. Kết quả quan sát ở chương 2 cũng đã thể hiện rõ thực trạng này

74

ở CBQL và GV. Điều này cho thấy, người lớn đã quen với hành động vào phòng là mở đèn,

mở quạt, chưa quan tâm đến không khí, ánh sáng xung quanh nên việc GD trẻ điều này cho

trẻ còn hạn chế. Tuy nhiên, gần 50% trẻ nhóm TN đạt mức độ cao ở biểu hiện này nói riêng

(trẻ biết kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào...) và 80% ở mặt hành vi nói chung đã thể hiện

được sự cố gắng, sự gương mẫu và tâm huyết của GV trong tiến hành tổ chức chương trình

TN. Một GV nhóm TN chia sẻ: lúc mới thực hiện thì thấy nhiều khó khăn, nhưng dần dần

thấy thích. Bây giờ, khi nghe trẻ đọc lẩm bẩm mấy câu vè, hay hát theo lời nhạc tự biên thấy

trong lòng rất vui, ý nghĩa nhất là bản thân trẻ hình thành được thói quen tốt và chính GV

cũng được hoàn thiện mình hơn trong quá trình thực hiện chương trình GD TN”.

Tóm lại, qua kết quả đo được sau khi tiến hành TN ở nhóm ĐC và nhóm TN, chúng

tôi thấy rằng mức độ các mặt nhận thức, thái độ, hành vi kỹ năng của trẻ ở nhóm TN đều

cao hơn so với mức độ của trẻ ở nhóm ĐC, qua sự chênh lệch điểm số TB ở từng mặt cũng

như kiểm nghiệm sự khác biệt này có ý nghĩa với sig đều nhỏ hơn 0.05. Điều này chứng

minh, chương trình TN có hiệu quả trong việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết

kiệm, hiệu quả.

Tiểu kết chương 3

Vấn đề nghiên cứu được giải quyết bằng cách vận dụng phối hợp các nhóm biện

pháp sau đây:

- Tác động nhằm hình thành kiến thức: sử dụng các phương tiện trực quan, lời nói, bài

luyện tập, trò chơi.

- Biện pháp thực hành (trong điều kiện an toàn) nhằm GD kỹ năng.

- Biện pháp phối hợp GD (theo nghĩa rộng) với gia đình.

- Tạo cơ hội cho trẻ được HĐ với sơ đồ (lập sẳn) được làm theo qui trình.

- Biện pháp GD thái độ: làm gương, giải thích ý nghĩa hành vi, khích lệ, nhắc nhở, nêu

gương, đánh giá hành vi.

Kết quả thực nghiệm cho thấy:

1. Về mặt định tính:

• So với thời điểm trước TN, sau TN phần lớn trẻ có sự chuyển biến sau khi được tác

động GD, cả về mặt nhận thức lẫn mặt hành vi và thái độ.

• Đa số trẻ TN biết ý nghĩa việc tiết kiệm điện, nước, xăng dầu. Nhiều nhất là “để tiết

kiệm tiền cho cha mẹ, tránh lãng phí”.

75

• Về mặt thái độ, trẻ tiến bộ rõ rệt- từ tình trạng “đa số trẻ sẵn sàng điều chỉnh hành vi

chưa đúng để tiết kiệm năng lượng” tiến lên tình trạng “trẻ tự giác tắt khi không dùng mà

không cần người khác nhắc nhở”. Có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm, thấy

người khác làm sai thì trẻ biết nhắc nhở họ.

• Việc lựa chọn hợp lý các nhóm biện pháp, tạo bầu không khí tâm lý ảnh hưởng rất

lớn đến kết quả GD, đặc biệt là GD về thái độ cho trẻ.

• Mức độ đạt các mặt nhận thức, thái độ, hành vi kỹ năng của trẻ ở nhóm TN đều cao

hơn so với mức độ của trẻ ở nhóm ĐC.

• Nhóm trẻ TN đạt tất cả các tiêu chí đánh giá.

Như vậy, các biện pháp GD được chọn và triển khai trong đề tài là hiệu quả.

2. Về mặt định lượng:

Ở nhóm ĐC do vẫn thực hiện GD trẻ nội dung tiết kiệm năng lượng theo nội dung,

biện pháp và hình thức hàng ngày GV vẫn tổ chức (còn nhiều hạn chế) nên hiệu quả của

việc GD này trên trẻ có sự biến đổi chưa đáng kể. Cụ thể: trước và sau thời điểm tiến hành

TN, điểm TB chệnh lệch lần lượt vể nhận thức, thái độ, hành vi là 0.3, 0.5 và 0,3.

Trong khi đó, ở nhóm TN, tiến hành GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

theo kế hoạch của chương trình GD TN thì kết quả cho sự biến đội rõ rệt hơn. Đó là số điểm

TB về nhận thức, thái độ, hành vi có sự chênh lệch cao hơn so với nhóm ĐC lần lượt là 0.6,

0.9, 0.5.

Kết quả sự khác biệt này có ý nghĩa với kiểm nghiệm t, sig<0.05.

Như vậy, chứng tỏ chương trình GD TN có hiệu quả trong việc GD trẻ MG 5-6 tuổi sử

dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM

1. Kết luận

GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nội dung GD bảo vệ

môi trường cho trẻ MN. Nội dung GD này được lồng ghép vào nội dung chương trình CS

GD trẻ. Việc lựa chọn nội dung để GD cho trẻ trong lĩnh vực này cần xuất phát từ thực tế

của trẻ, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, hướng tới việc hình thành ý thức và kỹ

năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Đặc biệt, đối với trẻ MG 5-6 tuổi là lứa tuổi

tiền học đường, việc lĩnh hội nội dung GD này rất có ý nghĩa cho trẻ, vì những gì hình thành

ở giai đoạn này mang tính bền vững hơn.

Dựa vào kết quả nghiên cứu trên của đề tài, chúng tôi đưa ra một vài kết luận như sau:

1.1. Về kết quả nghiên cứu lý luận

- Đề tài đưa ra một số vấn đề chung về GD tiết kiệm năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi.

Những cơ sở lý luận về biện pháp cũng như điều kiện để GD nhận thức, thái độ và hình

thành kỹ năng về nội dung GD này cho trẻ. Đúc kết kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ

em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả

GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

1.2. Về kết quả nghiên cứu thực trạng

- Phần đông người lớn xung quanh trẻ (CBQL, GVMN và PH) nhận thức được ý

nghĩa tiết kiệm năng lượng hướng đến mục tiêu thiết thực trong đời sống và hướng đến việc

làm gương cho trẻ nhiều hơn là hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường. Chính vì thế mà

nhận thức về cách tiết kiệm năng lượng cũng chưa thành thói quen và cũng chưa có sự

chuẩn bị sẵn sàng trang bị những điều kiện về vật chất và con người cho việc này.

- Việc chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD cho trẻ gặp khó khăn, do: quan

niệm của người lớn “trẻ còn rất nhỏ, khó GD năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, PH và GV

bận rộn công việc nên thiếu thời gian dành cho việc GD trẻ hàng ngày, cũng là do sự rời rạc

chưa thống nhất trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Chính vì thế, có thể kết luận rằng hiệu quả GD này chưa cao, kỹ năng của trẻ còn ở

mức độ thấp.

- Về hình thức tổ chức GD: phần lớn nhà GD và nhà quản lý chỉ mới chú trọng vào giờ

học, chưa khai thác hình thức ngoài giờ học (GD trong sinh hoạt, phối hợp với GD gia

đình). Do vậy, chỉ mới GD nhận thức và một số kỹ năng sử dụng năng lượng đúng, chưa

77

thể giúp trẻ chuyển thành thái độ. Trong vài giờ học, cũng như điều kiện sinh hoạt ở lớp/

trường MN thì trẻ cũng chỉ tập được vài kỹ năng.

- Việc trang bị những điều kiện thuận lợi cho việc GD này chưa có: cơ sở vật chất,

giáo cụ dạy học, tấm gương của người lớn, sự phối hợp giữa GV và PH.

1.3. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của để tài, chúng tôi đề ra chương

trình TN với các biện pháp GD như sau

Nội dung GD được tổ chức triển khai theo hướng tích hợp (tích hợp chương trình GD

thực nghiệm với chương trình CSGD trẻ hiện hành) và dạy học theo chủ đề. Ngoài ra,

hướng tiếp cận GD “học mà chơi, chơi mà học” cũng được đảm bảo.

Những biện pháp GD (nghĩa rộng) trong chương trình sau đây đã được vận dụng thực

nghiệm:

a. Tác động nhằm hình thành kiến thức: sử dụng các phương tiện trực quan, lời nói, bài

luyện tập, trò chơi.

b. Biện pháp thực hành nhằm GD kỹ năng: trẻ được tổ chức thực hành hằng ngày cách

sử dụng đồ vật (vòi nước, công tắc điện...) và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong

điều kiện an toàn ở trường và ở nhà. Đặc biệt khai thác thực nghiệm của trẻ nhằm tạo ra

nhiều cơ hội cho trẻ được quan sát, phân tích, so sánh, thử-sai (trong điều kiện an toàn).

c. Biện pháp phối hợp GD (theo nghĩa rộng) với gia đình: tư vấn PH, trao đổi hằng

ngày, nhắc nhở, theo dõi khả năng của trẻ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, cập

nhật bảng tin tuyên truyền đến PH.

d. Tạo cơ hội cho trẻ được HĐ với sơ đồ (lập sẳn) được làm theo qui trình.

e. Biện pháp GD thái độ: làm gương, giải thích ý nghĩa hành vi, khích lệ, nhắc nhở,

nêu gương, đánh giá hành vi.

Các biện pháp trên được tổ chức vận dụng dưới đa dạng hình thức: giờ học, giờ chơi,

giờ ăn, giờ ngủ, HĐ ngoài trời, trò chuyện sáng, sinh hoạt chiều...

Các biện pháp trên được tiến hành TN và mang lại những kết quả khả quan trong việc

GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Kết quả này phù hợp với giả

thuyết khoa học mà chúng tôi đặt ra.

2. Kiến nghị sư phạm

2.1. Đối với GV

78

- GV là người trực tiếp thực hiện nội dung GD này nên cần nắm rõ về nội dung,

phương pháp cũng như hình thức tổ chức. Đồng thời cần hiểu rõ về đặc điểm phát triển tâm

sinh lý của trẻ để lựa chọn tác động phù hợp.

- Bản thân GV phải tích cực tìm hiểu, sưu tầm những tư liệu, hình ảnh, đồ dùng dạy

học khi có triển khai nội dung GD mới để có thể chủ động trong CS

GD trẻ.

- Tham gia các lớp bồi dưỡng để tiếp cận những nội dung GD mới cũng như hướng đổi

mới của Ngành.

- Khắc phục tâm lý ngại khó, ngại nhiều trong thực hiện chương trình CS GD trẻ MG

5- 6 tuổi, nhất là giai đoạn hiện nay với tích hợp nhiều nội dung mang tính cấp bách như

ứng phó giảm nhẹ thiên tai, tình yêu quê hương biển đảo...

- Đối với trẻ, cô là hình tượng, là chuẩn trong hành vi, thái độ ứng xử nên mỗi GV cần

rèn luyện, thực hiện hành vi đúng, khả năng kềm chế để làm gương cho trẻ trong sinh hoạt

hằng ngày.

2.2. Đối với CBQL trường MN

- Triển khai kịp thời nội dung GD mới. Đồng thời trang bị những điều kiện tối thiểu

cho nội dung GD này.

- Bản thân CBQL cũng là tấm gương về lối sống cho tập thể nhà trường, trong đó có

trẻ. Do đó, CBQL cần thực hiện sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm,

hiệu quả.

- Xây dựng chế độ kiểm tra, thưởng phạt hợp lý nhằm khuyến khích tinh thần làm việc

của mọi người trong nhiệm vụ GD này.

- Trong công tác kiểm tra, dự giờ cần góp ý trên tinh thần xây dựng.

- Xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh giúp tập thể giảm áp lực trong công tác.

- Tạo điều kiện cho GV dự giờ, học tập việc thực hiện nội dung GD mới một cách kịp

thời.

2.3. Đối với Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo

- Cập nhật, giới thiệu hoặc cung cấp nguồn tài liệu cho nội dung mới một cách kịp

thời.

- Cần xem xét khi triển khai nội dung GD mới, vì nội dung chương trình GD MN hiện

nay có quá nhiều, nhất là dành cho trẻ MG 5-6 tuổi. Dễ tạo áp lực cho trường, cho GV.

Chưa kể làm cho chương trình mang tính phong trào, không hiệu quả.

2.4. Các lực lượng khác

79

- Cần tuyên truyền nâng cao ý thức của mọi người về sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả.

- Cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc thực hiện nội dung GD

này cho trẻ. Vì sự thống nhất về nhận thức, thái độ, hành vi trong việc tiết kiệm năng lượng

của gia đình và nhà trường là tiền đề vững chắc để hình thành cho trẻ thói quen tốt.

80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

quả, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Tổ chức thực hiện nội dung GD sử dụng năng lượng

tiết kiệm, hiệu quả trong trường MN, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Hướng dẫn GD trẻ MN sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả tại gia đình, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Giáo dục gia đình, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Thị Sinh (2004), GD học Mầm non, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội.

6. Chính phủ (số 102/2003/NĐ-CP/2003), Nghị định Về sử dụng năng lượng tiết kiệm và

hiệu quả.

7. A.V.Da-Pa-Rô-Giét (1977), Tâm lý học tập 2, Phạm Minh Hạc lược dịch,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

8. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình GD học mầm non, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

9. Trần Thị Thu Hòa (2008), Giúp bé bảo vệ môi trường tập 2, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

10. Lê Xuân Hồng, Nguyễn Thanh Thủy (2007), Sổ tay GVMN Những hoạt động

giáo dục trẻ bảo vệ môi trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

11. Lê Thị Huệ, Trần Thị Hương, Phạm Thị Tâm (2011), Thiết kế các hoạt động có chủ

đích, hoạt động góc và hoạt động ngoài trời cho trẻ 5-6 tuổi chủ đề Thế giới thực

vật, các hiện tượng tự nhiên, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

12. Trần Lan Hương (2008), Sổ tay GVMN Hỏi đáp về giáo dục bảo vệ môi trường trong

trường mầm non, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

13. Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị Thanh (2011), Hướng dẫn thực

hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

14. Lê Thu Hương, Lương Thị Bình, Phan Lan Anh (2008), Tổ chức hoạt động GD tình

cảm xã hội cho trẻ MN theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

15. T.A.Ilina (1978), Giáo dục học tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

81

16. Vũ Thị Ngân (1996), Các vấn đề chung về giáo dục học mầm non, trường Cao đẳng Sư

phạm Mẫu giáo Trung ương 3.

17. Nhiều tác giả (2008), Thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề môi trường,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

18. Nhiều tác giả (2008), Thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề nước và các

hiện tượng tự nhiên, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

19. Hoàng Thị Phương (2011), Giáo trình Giáo dục Môi trường cho trẻ MN, Nxb Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

20. Kim Phụng (2013), Tiết kiệm nước, Nxb Văn hóa Thông tin.

21. Nguyễn Thị Phú Quý (2012), Khảo sát sự phát triển nhận thức cuả trẻ 3-4 tuổi ở một số

trường mầm non tại Tp. HCM, Luận văn cao học Tâm lý học, trường Đại học Sư

phạm Tp. HCM.

22. Quốc Hội (2010), Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; luật số

50/2010/QH12, ngày 17/6/2010.

23. Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2005), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Hà

Nội.

24. Sở Giáo dục và Đào tạo Tp. HCM (số 1171/KH-GDĐT-MN/2012), “Tập huấn Phương

pháp tích hợp nội dung GD năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG”, Công văn.

25. Huỳnh Văn Sơn và Lê Thị Hân (2012), Giáo trình tâm lý học đại cương, Nxb Đại học

Sư phạm Tp. HCM.

26. Thủ tướng Chính phủ (số 79/2006/QĐ-TTg/2006), “Phê duyệt Chương trình mục tiêu

quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả”, Công văn.

27. Trần Thị Trọng, Phạm Thị Sửu (2000), Tuyển tập trò chơi, bài hát, thơ truyện mẫu giáo

5-6 tuổi, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

28. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Từ

điển Bách khoa.

29. Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân số và môi trường (1998), Tài liệu hướng dẫn về

giáo dục môi trường ở mẫu giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

30. Nguyễn Quang Uẩn (2010), “Một số vấn đề lý luận về kỹ năng sống”, Tuyển tập

nghiên cứu về tâm lý – giáo dục, 308.

31. Nguyễn Quang Uẩn (2001), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội.

82

32. Đinh Văn Vang (2008), Giáo trình Giáo dục học Mầm non, Nxb Giáo dục,

Hà Nội .

33. Viện chiến lược và Chương trình Giáo dục (2008), Tổ chức hoạt động nhận thức cho

trẻ Mầm non theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

34. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin.

Tiếng Anh

35. Dictionary.reference.com/browse.

36. O.A. Frolova (1981), Sensornoe vocpitanhie v detskom sadu, Prosveshenhie.

37. Sophie Hebden (2006-06-22), "Invest in clean technology says IEA report",

Scidev.net. Retrieved 2010-07-16.

38. E.X. Komarova (1973), Vocbitanhie samastoiatennosti I aktivnostiu deteido

schoolnovo vozpacta, Tezicu dokladov k Konferensii 6/6/1973, Moskva.

39. Diesendorf, Mark (2007), Greenhouse Solutions with Sustainable Energy,

UNSW Press, p. 86.

40. N.N.Poddiakov (1977), Mushlenie doschoolnika (Bản tiếng Nga), Moskva

Proshveshenie, p.147-149.

41. Unabridged Based on the Random House Dictionary, © Random House,

Inc, 2013.

42. “Random House unabridged Dictionairy”, Random House, 2006.

43. Dietz, T. et al (2009), Household actions can provide a behavioral wedge to rapidly

reduce U.S. carbon emissions, PNAS. 106(44).

44. Wikipedia

45. www.ask.com

46. www.bgs.ac.uk

47. "Wireless smart meter by ecowizard", Ecowizard.net, Retrieved 2010-07-16

48. http://www.britishgas.co.uk/energy-efficiency/smart-meters.html

49. http://www.indiaparenting.com/raising-children/253_3470/environmental-tips-for-

kids.html.

50. http://www.kids.esdb.bg/efficiency.html

51. https://littlekidsubs.nationalgeographic.com

52. http://k12e3.org/kids_grades_k-2.php

53. http://m.facebook.com/note.php?note_id=140877766019919.

83

54. http://en.wikipedia.org/wiki/Energy_conservation

55. http://www.academia.edu/838612/Unintended_Consequences_of_Green_Technologies.

84

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Phiếu thăm dò ý kiến.

Phụ lục 2 : Kết quả thống kê SPSS.

Phụ lục 3 : Hồ sơ triển khai chuyên đề cấp Quận của Tổ mầm non.

Phụ lục 4 : Chi tiết các hoạt động chương trình thực nghiệm.

Phụ lục 5 : Phiếu đánh giá mức độ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Phụ lục 6 : Hình ảnh.

Phụ lục 1

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN (Dành cho CBQL, GVMN, PH)

85

Lời ngỏ:

Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Chúng tôi cần thu thập ý kiến từ phía giáo viên mầm non dạy trẻ 5-6 tuổi. Những ý kiến sát thực tế và thể hiện quan điểm của bạn sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy cho đề tài này. Trân trọng cám ơn. A. Thông tin cá nhân - Nơi công tác: ...................................................................................................................... - Trình độ chuyên môn: Trung cấp SPMN Cao đẳng SPMN Đại học SPMN - Thâm niên công tác: Dưới 5 năm Từ 5 năm đến 10 năm Trên 10 năm B. Nội dung câu hỏi Vui lòng đánh dấu X vào 01 câu trả lời phù hợp với quan điểm của bạn nhất. 1. Theo bạn, hành vi nào dưới đây là hợp lý: a) Mặc dù không cần sử dụng điện liên tục thì cũng không tắt/mở công tắc điện nhiều lần trong

ngày (vì dễ làm hư hỏng công tắc).

b) Thay thế bếp điện bằng bếp ga hoặc bếp dầu (nếu thu nhập thấp). c) Tắt công tắc điện khi không cần sử dụng. 2. Theo bạn, thông thường chúng ta tiết kiệm năng lượng là vì: a) Để giảm khí thải. b) Giảm được một khoản chi phí sinh hoạt. c) Tập được thói quen tốt, để làm gương cho trẻ em. d) Đây là chủ trương của Nhà nước, mỗi người dân đều phải thực hiện. 3. Cho đến nay, bạn có cập nhật thông tin về việc giáo dục trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả chưa? a) Có, do tôi quan tâm vấn đề này để đón đầu đổi mới. b) Có, do tôi đang thực hiện việc giáo dục này cho trẻ. c) Có, nhưng chỉ xem qua vì tò mò. d) Có nghe nói đến, nhưng chưa có thời gian cập nhật thông tin về vấn đề này. 4. Ở cơ quan, bạn có thói quen “tắt khi không cần dùng” trong việc sử dụng điện, nước không? a) Có, luôn luôn. b) Có, nhưng chưa thường xuyên. c) Chưa tập thói quen này. 5. Theo bạn, cách sử dụng điện nào dưới đây được xem là không hợp lý (chưa hiệu quả)? a) Cúp cầu dao điện khi ra khỏi nhà. b) Không mở cửa tủ lạnh trong khoảng thời gian dài c) Tắt tivi bằng remote. Bạn hãy lý giải vì sao chọn phương án đó: .................................................................................................................................................... 6. Cho đến nay, bạn từng được tuyên truyền nội dung nào sau đây trong việc tiết kiệm xăng, dầu? (Bạn có thể chọn một hoặc nhiều phương án): a) Tắt máy xe khi có tín hiệu dừng (đèn đỏ) trên giao thông đường bộ. b) Tắt máy xe khi phải chờ (chờ đón người thân, chờ do kẹt xe,…). c) Chọn con đường ngắn hơn để đi. d) Chưa nghe qua nội dung nào. 7. Bạn có thói quen “tắt khi không cần dùng” trong việc sử dụng xăng, dầu không? a) Có, luôn luôn. b) Có, nhưng chưa thường xuyên. c) Chưa tập thói quen này.

86

8. Bạn có cho rằng giáo dục mầm non có nhiệm vụ giúp trẻ em hiểu: “con người cần tiết kiệm ga và xăng dầu” không? a) Tôi nghĩ rằng đó là một nhiệm vụ giáo dục quan trọng. b) Đó là một nhiệm vụ giáo dục, nhưng không bắt buộc phải thực hiện. c) Đó không phải là một nhiệm vụ giáo dục ở bậc học mầm non. 9. Theo bạn, trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi có cần thiết biết sử dụng nước và điện tiết kiệm, hiệu quả hay không? a) Cần thiết. Vì: ......................................................................................................................... b) Không cần thiết. Vì: .............................................................................................................. c) Ý kiến khác: ......................................................................................................................... 10. Bạn chọn cách giải thích nào sau đây cho trẻ 5- 6 tuổi? a) “Bé phải tiết kiệm vì người lớn muốn như vậy, nếu bé tiết kiệm thì sẽ được khen là bé ngoan”. b) “Bé cần tiết kiệm điện, nước để ba mẹ có thêm tiền để dành; ba mẹ sẽ mua được những thứ có

lợi hơn cho cả nhà …như sách vở nè, đồ dùng cho bé…”.

c) “Bé đã lớn, cần chuẩn bị kỹ năng sống để vào lớp một nên phải biết tiết kiệm điện, nước”. 11. Theo bạn, để giảm việc thải khói, thải khí đen vào môi trường khi đi xe, chúng ta có thể làm gì? a) ................................................................................................................................................ b) ............................................................................................................................................... c) ................................................................................................................................................ 12. Mọi người đều nghĩ rằng: “dùng máy phát điện khi bị mất điện” có thể: a) Làm cho xung quanh chúng ta mát mẻ hơn. Vì: ................................................................... b) Làm cho xung quanh chúng ta nóng hơn. Vì: ....................................................................... c) Ý kiến khác: ......................................................................................................................... Vì:......................................................................................................................................... 13. Bạn chọn cách nào để giúp trẻ 5- 6 tuổi hiểu đúng về ý nghĩa của việc tắt máy xe ở các điểm dừng lâu? a) Xe máy đang chạy sẽ thải khói ra xung quanh. Khi dừng xe ở đèn đỏ, cần nhắc ba mẹ tắt máy xe

để giảm khí độc tỏa ra xung quanh.

b) Khi ở điểm dừng xe lâu thì con nhắc ba mẹ tắt máy xe để đỡ gây tiếng ồn. d) Câu trả lời khác của bạn: .................................................................................................. 14. Theo bạn, cách nói nào phù hợp với việc giáo dục trẻ 5-6 tuổi: a) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm con mỏi mắt, mà còn hao điện và làm căn phòng bị nóng lên. b) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm con mờ mắt, khi chơi con nhờ ba mẹ chỉnh màn hình sáng lên

để con nhìn rõ.

c) Chơi trò chơi điện tử nhiều sẽ làm ba mẹ không thích, nên con chỉ chơi trong khoảng thời gian ba

mẹ cho phép.

15. Bạn chọn cách nói nào để dạy trẻ nội dung sau đây: a) Khi mẹ ủi quần áo, bàn ủi nóng lên làm cho mẹ nóng nực nên đổ mồ hôi. Con có thể nhắc mẹ mở

quạt.

b) Khi mẹ ủi quần áo, bàn ủi nóng lên làm cho mẹ nóng nực nên đổ mồ hôi. Sau khi ủi xong, tắt bàn

ủi mẹ sẽ hết nóng.

c) Khi ủi quần áo, mẹ bị đổ mồ hôi. Con có thể an ủi mẹ cố chịu đựng và sẽ đi tắm sau khi ủi xong. 16. Bạn dạy gì cho bé 5- 6 tuổi để giáo dục sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả? a) Nhắc mẹ chọn chế độ giặt ít hao nước nhất dù có nhiều quần áo trong máy giặt. b) Nhắc ba mẹ thay tất cả các vòi nước đang bị rò nước cả ngày đêm. c) Sau khi rửa sạch rau củ, thấy nước rửa còn trong, dùng nước này để rửa chén. 17. Bạn không chọn cách nào để dạy bé 5- 6 tuổi? a) Tắm bằng vòi sen. b) Dùng ca múc nước, chậu nước để tắm. c) Tắm bồn để giữ lượng nước ổn định. 18. Bạn đã từng hướng dẫn trẻ trong lớp về nội dung giáo dục nào dưới đây? a) Tiết kiệm điện.

87

b) Tiết kiệm nước. c) Tiết kiệm xăng dầu. 19. Hiện nay, trường của bạn đang thực hiện việc giáo dục sử dụng năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi như thế nào? a) Chủ yếu dạy trên giờ học, có mục đích yêu cầu chuyên biệt về giáo dục sử dụng năng lượng. b) Lồng ghép vào một số chủ đề. c) Lồng ghép vào càng nhiều chủ đề càng tốt. d) Ý kiến khác: 20. Trường bạn đã tổ chức tập huấn “giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” như thế nào? (Bạn có thể chọn một hoặc nhiều phương án) a) Trường tổ chức tập huấn cho các giáo viên và công nhân viên của trường. b) Cử một số giáo viên dự hoạt động mẫu do Tổ Mầm non Phòng GD&ĐT tổ chức. c) Giáo viên tự tham khảo tài liệu. d) Ý kiến khác: ................................................................................................................. 21. Nhà trường đã trang bị những điều kiện vật chất cho việc giáo dục này như thế nào? a) Rất đầy đủ: tranh posters tuyên truyền, băng rôn-khẩu hiệu, tranh ảnh, phim dạy học, tài liệu tham khảo cho giáo viên, phương tiện dạy học, thay các thiết bị có sử dụng năng lượng (điện, nước, gas, xăng dầu…) để thực thi tiết kiệm hiệu quả ngay trong nhà trường.

b) Tương đối đầy đủ: tranh posters tuyên truyền, băng rôn-khẩu hiệu, tranh ảnh, phim dạy học, tài

liệu tham khảo cho giáo viên, phương tiện dạy học.

c) Chưa có trang bị cụ thể: chỉ có một số tài liệu tham khảo cho giáo viên, tranh posters tuyên

truyền, băng rôn-khẩu hiệu.

Nội dung

d) Không có gì mới so với trước đây. 22. Theo bạn, điều kiện nào dưới đây chưa được chuẩn bị tốt hoặc hoàn toàn chưa được chuẩn bị trong khi đã chỉ đạo giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả? Chưa được chuẩn bị tốt

Hoàn toàn chưa được chuẩn bị

a) Người lớn làm gương: ít nhất là người lớn ở nhà, ở trường. b) Đồ dùng, thiết bị đảm bảo tiết kiệm năng lượng. c) Tài liệu tham khảo và phương tiện dạy học dành cho giáo viên. d) Chương trình tập huấn hiệu quả cho giáo viên và CBQL- không chỉ tập huấn một lần/một đợt kiểu phong trào. e) Kế hoạch giảm tải công việc cho giáo viên trong giai đoạn mới bắt đầu thực hiện một nhiệm vụ giáo dục mới. g) Chương trình giáo dục toàn xã hội sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 23. Bạn đã tổ chức thực hiện việc giáo dục này như thế nào? a) Hàng ngày. b) Theo kế hoạch, từ đầu và sẽ kéo dài cho tới cuối đợt phát động. c) Trên một số tiết học có người dự giờ: cụ thể là (mấy) …..tiết. d) Chưa dạy gì, vì tôi là giáo viên “ít được Hiệu phó chuyên môn để ý tới trong các phong trào”. 24. Bạn đã thực hiện giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: a) Trên tiết học. b) Trong hoạt động chơi, đặc biệt là chơi đóng vai. c) Trong sinh hoạt: lúc trẻ làm vệ sinh cá nhân, dặn dò trước khi trẻ ra về…. d) Khác: ..................................................................................................................................... 25. Những khó khăn cụ thể của bạn trong quá trình giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả?

88

.................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... 26. Những khó khăn cụ thể của những giáo viên mầm non khác (mà bạn biết cụ thể) trong quá trình giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả? .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... 27. Đánh giá của bạn về hiệu quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục này trên trẻ: a) Hiệu quả cao. b) Hiệu quả, nhưng không cao. c) Chưa hiệu quả. d) Không hiệu quả. Lý do: ........................................................................................................................................ 28. Ý kiến của bạn về những biện pháp dưới đây trong việc giáo dục tiết kiệm năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi? (Mời bạn đánh dấu X vào ô thích hợp)

Biện pháp

Nên sử dụng

Còn phân vân

Không thích hợp

1. Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 2. Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 3. Làm gương cho trẻ hàng ngày 4. Tạo tình huống có vấn đề 5. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng 6. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 7. Tổ chức làm thí nghiệm 8. Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn 9. Tuyên truyền đến phụ huynh bằng nhiều cách 10. Khác:

29. Với những biện pháp đã thực hiện, bạn gặp khó khăn gì? (Nếu có khó khăn mời bạn viết vào ô thích hợp)

Khó khăn lớn nhất (nếu có)

Biện pháp 1. Dùng trực quan: cho trẻ xem phim, tranh ảnh, truyện tranh 2. Trò chuyện với trẻ, kể chuyện, khai thác bài hát tuyên truyền 3. Làm gương cho trẻ hàng ngày

4. Tạo tình huống có vấn đề

5. Làm mẫu cách sử dụng năng lượng

6. Tổ chức và theo dõi, nhắc nhở trẻ thực hành trong đời sống 7.Tổ chức làm thí nghiệm 8. Tham mưu cấp chủ quản thay các thiết bị trong

89

trường nhằm tiết kiệm năng lượng hơn 9. Tuyên truyền đến phụ huynh bằng nhiều cách 10. Khác: 30. Theo bạn để đánh giá hiệu quả của việc giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cần dựa vào tiêu chí nào? a) Trẻ có nhận thức thế nào là sử dụng tiết kiệm, thế nào là không tiết kiệm b) Trẻ có kỹ năng tiết kiệm nước, điện trong sinh hoạt c) Trẻ nhận biết hành động đúng, sai trong việc thực hiện tiết kiệm năng lượng d) Trẻ tự giác thực hiện không cần người khác nhắc nhở e) Ý kiến khác:

90

....................................................................................................................................................

Trân trọng cám ơn.

Phụ lục 2

KẾT QUẢ THỐNG KÊ PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN

[DataSet1] C:\Users\tai\AppData\Local\Temp\Rar$DI00.552\CHI DUYEN - CBQL.sav Frequency Table

c1

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

2

6.2

6.2

6.2

2

3

100.0

93.8

93.8

30

Total

100.0

32

100.0 c2

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

15.6

15.6

15.6

5

2

50.0

34.4

34.4

11

3

93.8

43.8

43.8

14

4

100.0

6.2

6.2

2

Total

100.0

32

100.0 c3

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

15.6

15.6

15.6

5

2

87.5

71.9

71.9

23

4

100.0

12.5

12.5

4

Total

100.0

100.0

32

c4

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

1

62.5

62.5

20

62.5

Valid

2

37.5

37.5

12

100.0

100.0

100.0

32

Total

91

c5

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

8

25.0

25.0

25.0

2

5

15.6

40.6

15.6

3

19

59.4

100.0

59.4

Total

32

100.0

100.0

c7

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

15

46.9

46.9

46.9

2

17

53.1

100.0

53.1

Total

32

100.0

100.0 c8

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

12

37.5

37.5

37.5

2

18

56.2

93.8

56.2

3

2

6.2

100.0

6.2

Total

32

100.0

100.0 c9

Cumulative Percent

Frequency

Percent

Valid Percent

32

100.0

100.0

Valid

1

100.0 c10

Cumulative Percent

Frequency

Percent

Valid Percent

1

3

9.4

9.4

9.4

Valid

2

28

87.5

96.9

87.5

3

1

3.1

100.0

3.1

Total

32

100.0

100.0

c12

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

1

Valid

14

43.8

43.8

43.8

2

14

43.8

43.8

87.5

92

3

4

12.5

12.5

100.0

Total

32

100.0

100.0

c13

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

62.5

20

62.5

62.5

2

28.1

9

28.1

90.6

3

6.2

2

6.2

96.9

4

3.1

1

3.1

100.0

Total

32

100.0

100.0 c14

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

40.6

13

40.6

40.6

2

21.9

7

21.9

62.5

3

37.5

12

37.5

100.0

Total

32

100.0

100.0 c15

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

37.5

12

37.5

37.5

2

40.6

13

40.6

78.1

3

21.9

7

21.9

100.0

Total

32

100.0

100.0 c21

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

25.0

8

25.0

25.0

2

28.1

9

28.1

53.1

3

37.5

12

37.5

90.6

4

9.4

3

9.4

100.0

Total

32

100.0

100.0 c23

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

65.6

21

65.6

65.6

2

31.2

10

31.2

96.9

3

3.1

1

3.1

100.0

Total

100.0

32

100.0

93

c30.2

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

co

56.2

18

56.2

56.2

khong

43.8

14

100.0

43.8

Total

100.0

32

100.0

c30.3

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

co

56.2

18

56.2

56.2

khong

43.8

14

100.0

43.8

Total

100.0

32

100.0

c30.4

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

co

34.4

11

34.4

34.4

khong

65.6

21

100.0

65.6

Total

100.0

32

100.0

c30.5

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

co

3.1

1

3.1

3.1

khong

96.9

31

100.0

96.9

Total

100.0

32

100.0

94

-Test [DataSet1] D:\duyen\tiet kiem nang luong\DE CUONG THANG 12.2012\THUC NGHIEM\Tong h op sau TN.sav Group Statistics

Nhom

N

Mean

Std. Deviation

Std. Error Mean

Nhanthuc TN

40

1.3000

.46410

.07338

Thaido

Hanhvi

DC TN DC TN DC

40 40 40 40 40

1.0500 1.4000 1.0000 1.8000 1.5000

.55238 .49614 .64051 .40510 .50637

.08734 .07845 .10127 .06405 .08006

Independent Samples Test

Levene's Test for Equality of Variances

t-test for Equality of Means

95% Confidence Interval of the Difference

F

Sig.

t

df

Sig. (2- tailed)

Mean Difference

Std. Error Difference

Lower

Upper

1.354

.248 2.192

78

.031

.25000

.11407

.02290

.47710

Nhan thuc

Equal variances assumed

2.192 75.748

.031

.25000

.11407

.02279

.47721

Equal variances not assumed

Thai do

1.000

.320 3.122

78

.003

.40000

.12810

.14497

.65503

Equal variances assumed

3.122 73.412

.003

.40000

.12810

.14472

.65528

Equal variances not assumed

Hanh vi

21.937

.000 2.926

78

.004

.30000

.10253

.09587

.50413

Equal variances assumed

2.926 74.414

.005

.30000

.10253

.09572

.50428

Equal variances not assumed

Phụ lục 3

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

QUẬN BÌNH TÂN TỔ MẦM NON

95

Bình Tân, ngày 20 tháng 02 năm 2013

BÁO CÁO TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ “PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ CHO TRẺ MẪU GIÁO” Người thực hiện: Bùi Thị Thanh Hạnh

- Địa điểm tổ chức: Trường MN Sen Hồng, MNTT Bảo Ngọc. - Thời gian tổ chức: ngày 27 tháng 02 năm 2013. - Đối tượng tham dự: 179 người/2trường (Trường MN Sen Hồng, MNTT Bảo Ngọc)

• Trường MNTT Bảo Ngọc: 85 người (các trường, lớp thuộc phường Bình Hưng Hòa,

BHHA, BHHB).

• Trường MN Sen Hồng: 94 người (các trường, lớp thuôc các phường còn lại). Trong đó:

- Trường Công lập – Tư thục: 2 người (1 CBQL+1 GV) x 45 đ/vị = 90 người. - Nhóm lớp Tư thục: 1 người x 93 đ/vị = 89 người. - Phòng GD&ĐT: 03 người. - Trường Bồi dưỡng Giáo dục: 01 người.

DIỄN TIẾN

Phần I: từ 7giờ 30 đến 8 giờ 30 - Ổn định, điểm danh, nêu mục đích yêu cầu - Phân nhóm dự thực tế. Phần 2: từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 - Dự thực tế hoạt động học tại các nhóm lớp - Tham quan môi trường - Thảo luận nhóm

* Trường MN Sen Hồng: 1. Phạm Thị Thanh Nguyên: lớp 3-4 tuổi 2. Hà Thị Thủy Tiên: lớp 4-5 tuổi (1). 3. Nguyễn Thị Hương: lớp 5-6 tuổi (2). * Trường MNTT Bảo Ngọc: 1. Lê Thị Lan: lớp 4-5 tuổi (2) 2. Lê Thị Thúy An: lớp 4-5 t (4) 3. Nguyễn Thị Hương: lớp 5-6 tuổi (2)

Phần 3: từ 9 giờ 30 đến 11 giờ 30

- Nghe báo cáo quá trình thực hiện chuyên đề của Hiệu trưởng. - Giải đáp thắc mắc - Bồi dưỡng chuyên đề - Chỉ đạo triển khai chuyên đề của Lãnh đạo.

96

NỘI DUNG BỒI DƯỠNG

I. Mục đích chuyên đề: - Giúp CBQL-GV nắm nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả trong trường MN, gia đình trẻ. - Giúp GV thực hiện, tổ chức tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG trong trường MN. II. Nội dung bồi dưỡng chuyên đề:

1. Cung cấp một số căn cứ, văn bản pháp lý liên quan đến nội dung chuyên đề: - Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về BVMT trong thời ký đẩy mạnh

CNH, HĐH đất nước.

- Quyết định 1363 của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 10 năm 2001 về việc phê duyệt đề

án: “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”.

- Chỉ thị số 02/2005/CT-Bộ GD&ĐT ngày 31 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT. Đặc biệt các nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2010 là việc triển khai thực hiện đề án ở tất cả các cấp học.

- Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt chương trình mục

tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn 2006-2015.

- Công văn số 5981-BGDĐT-KHCNMT ngày 07 tháng 9 năm 2011 của Bộ GD&ĐT về việc triển khai tập huấn giáo viên cốt cán các tỉnh về phương pháp tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào các môn học.

- Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai một số chương trình dự án có liên quan đến môi trường và

biến đổi khí hậu. + Đề án “đưa các nội dung BVMT vào nội dung giáo dục quốc dân”. + Chương trình kiên cố hóa trường học. + Chương trình chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. + Dự án giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 2. Nội dung chuyên đề: a). Nội dung tổ chức thực hiện nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

trong trường MN:

- Một số hiểu biết cơ bản về năng lượng. - Hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào chương

trình giáo dục mầm non.

- Trách nhiệm của Nhà trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục trẻ sử dụng năng lượng

tiết kiệm, hiệu quả.

b). Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: - Hiểu biết về năng lượng. - Lợi ích của năng lượng. - Các hoạt động, phương pháp thực hiện nội dung giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm,

hiệu quả.

- Xây dựng mọi trường giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. c). Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình: - Một số vần đề chung về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại gia đình. - Giáo dục trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình. - Trách nhiệm của gia đình trong việc phố hợp với nhà trường giáo dục trẻ MG sử dụng

năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. 3. Một số lưu ý: * Mục tiêu GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường MN, trong gia đình. - Cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về nguồn năng lượng, những lợi ích từ năng

lượng.

- Bước đầu có thói quen đơn giản về tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, học tập. - Hình thành cho trẻ ý thức giáo dục BVMT, thể hiện qua thói quen, kỹ năng hành động và

các hành vi phù hợp với môi trường.

97

* Nội dung GD: - Được thực hiện ở 3 độ tuổi (3-4 tuổi, 4-5 tuổi, 5-6 tuổi). Nội dung hướng tới hình thành và

giáo dục đồng bộ cả kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đặc biệt quan tâm đến GD hành vi thái độ ứng xử trong việc BVMT (sử dụng tiết kiệm năng lượng). Cụ thể:

+ Hiểu biết về năng lượng: điện, nhiên liệu, năng lượng mặt trời, năng lượng gió,

năng lượng nước…

+ Lợi ích của năng lượng. + Tiết kiệm năng lượng

- Không xây dựng một chương trình riêng lẻ, các nội dung giáo dục được biên soạn lồng ghép vào các nội dung của chương trình giáo dục trẻ, tránh không làm năng thêm chương trình. - Những nội dung phải phù hợp, gần gũi với trẻ trong đời sống, trong sinh hoạt và học tập. - Cần thực hiện tích hợp GD ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động dưới mọi hình thức GD khi

có thể.

* Một số phương pháp được sử dụng: - Phương pháp thực hành trải nghiệm - Phương pháp dùng trò chơi. - Phương pháp giải quyết các tình huống có vần đề: Tình huống có thể xuất hiện tự nhiên

- Thí nghiệm đơn giả trẻ trực tiếp thực hiện. - Lao động vệ sinh, chăm sóc cây cối. - Phương pháp dùng lời: kể chuyện, câu hỏi, đàm thoại, câu đố, đọc thơ… - Phương pháp trực quan minh họa: quan sát thực tế, tranh ảnh, thí nghiệm minh họa. - Phương pháp dùng tình cảm và khích lệ. - Tấm gương của người lớn, của bạn về thái độ và hành vi trong việc sử dụng năng lượng

Người báo cáo

Bùi Thị Thanh Hạnh

Phụ lục 4

hặc tình huống được tạo ra. tiết kiệm, hiệu quả.

NỘI DUNG CHI TIẾT CÁC HĐ CHƯƠNG TRÌNH TN

* Giờ học thứ nhất: Giờ trái đất I. Mục đích-yêu cầu: - Trẻ biết được khoảng thời gian gọi là “Giờ trái đất”, nguyên tắc: “tắt điện khi không dùng nữa”. - Trẻ biết được ý nghĩa, việc làm cụ thể để hưởng ứng Giờ trái đất. - Tạo cơ hội cho trẻ tự tin thảo luận, cùng làm. II. Phương pháp: - Trực quan - Đàm thoại - Thực hành - Dạy học theo nhóm III. Phương tiện dạy học:

98

- Thiết bị điện tử: máy chiếu, laptop, đầu đĩa. - Một số hình ảnh về logo Giờ trái đất - Đoạn phim Giờ trái đất - Một số đồ dùng, dụng cụ cổ động: mũ nón, quạt, bong bóng, cờ. - Tờ bướm tuyên truyền - 3 chiếc xe đạp mini - Nhạc bài hát: “Cả tuần đều ngoan” - Bút sáp. IV. Tiến trình hoạt động: Cấu trúc thời gian

Nội dung Tạo hứng thú

1. Mở bài:

2. Phát triển bài: 2.1. Hoạt động 1: 2.2. Hoạt động 2: 2.3. Hoạt động 3:

Cùng xem nào! Nhà thiết kế logo Tuyên truyền viên nhỏ tuổi Củng cố lại nội dung bài học Nhận xét lớp Giao nhiệm vụ về nhà

3. Kết luận: 3.1. Tổng kết bài học: 3.2. Đánh giá: 3.3. Hướng dẫn học tập:

Hoạt động của cô và trẻ - Hát và vận động “Cả tuần đều ngoan” - Cô trò chuyện với trẻ về tháng, tuần, những ngày có ý nghĩa trong tháng 3. - Trò chuyện về những ngày đặc biệt trong tháng 3. - Giới thiệu ngày 23/3 – xem hình ảnh minh họa qua powerpoint. - Xem phim hưởng ứng “Giờ trái đất” - Trò chuyện về đoạn phim vừa xem - Cho trẻ xem hình ảnh về hậu quả khi trái đất nóng dần lên – trò chuyện. - Xem hình ảnh tuyên truyền hưởng ứng “Giờ trái đất”. - Trẻ đi vòng quanh lớp quan sát, trò chuyện về các logo “Giờ trái đất” - Chia trẻ làm 4 nhóm nhỏ (5trẻ/nhóm). Cô giao nhiệm vụ nhóm tự thảo luận và chọn một nội dung để thiết kế logo cổ động giờ trái đất. Làm xong một bé đại diện nói về logo của mình. - Tạo hình logo, hình ảnh tuyên truyền hưởng ứng “Giờ trái đất” lên các đồ dùng, dụng cụ cổ động. - Trẻ xếp hàng, lấy đồ dùng, dụng cụ cổ động vừa làm xong chụp ảnh. Sau đó đi đến các lớp khác để tuyên truyền “Giờ trái đất”. - Cô và trẻ đàm thoại lại: * Ý nghĩa giờ trái đất * Mọi người làm gì vào giờ trái đất? * Bản thân trẻ làm được gì vào giờ trái đất, hằng ngày làm gì để tiết kiệm điện? - Cô nhận xét về thái độ, kỹ năng của trẻ. Từ đó khen ngợi, nhắc nhở trẻ. - Trẻ có thể thực hiện tiết kiệm điện ở nhà như: không mở cửa tủ lạnh lâu, nhắc người thân tắt điện khi không dùng đến, tắt ti vi bằng nút bấm của tivi… Lần sau vào lớp kể cho cô và các bạn nghe những việc mình làm được ở nhà.

99

* Giờ học thứ hai: Đồ dùng điện I. Mục đích-yêu cầu: - Trẻ biết được ý nghĩa của việc tiết kiệm điện: là để giảm khí thải, bảo vệ môi trường của chúng ta. - Trẻ nhận biết và bày tỏ thái độ của mình với các hành động đúng sai trong việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. - Giáo dục trẻ biết tắt điện khi không cần dùng nữa. II. Phương pháp: - Trực quan - Đàm thoại - Thực hành III. Phương tiện dạy học: - Thiết bị điện tử: laptop. - Một số hình ảnh về đồ dùng điện. - Đoạn phim về tiết kiệm điện. - Nhạc bài hát Hỏng dám đâu. - Bút lông. IV. Tiến trình hoạt động: Cấu trúc thời gian

Hoạt động của cô và trẻ

1. Mở bài: 2. Phát triển bài: 2.1. Hoạt động 1: 2.2. Hoạt động 2: 2.3. Hoạt động 3:

Nội dung Tạo hứng thú Cùng xem nào! Đồ dùng điện Tiết kiệm điện

Củng cố lại nội dung bài học

- Cho trẻ xem đoạn clip về cách tiết kiệm điện. - Cô đàm thoại với trẻ về nội dung đoạn clip: + Hãy kể các đồ dùng có trong đoạn phim? + Cho trẻ xem lại để kiểm chứng. - Hãy kể xem trong lớp mình có những đồ dùng điện nào? Kể tên và đếm số lượng. - Hãy nói công dụng của các đồ dùng đó. - Khi các đồ dùng đó hoạt động, các con đứng gần xem có cảm giác như thế nào? (Hơi nóng tỏa ra xung quanh, các đồ dùng nóng lên). - Vì sao lại như vậy? - Cho trẻ suy nghĩ và phát biểu theo hiểu biết của trẻ. - Khi các thiết bị hoạt động cần một lượng điện năng, khi đó, bản thân nó sẽ tỏa nhiệt làm cho xung quanh chúng ta nóng lên, dần dần không khí cũng nóng lên làm chúng ta khó chịu. Vì vậy, chúng ta cần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả điện để môi trường chúng ta mát mẻ hơn. - Cho trẻ chia làm hai nhóm, tìm và nối các thiết bị dùng điện. - Trò chơi kết thúc khi bài hát chấm dứt. - Kiểm tra và nhận xét. - Cho trẻ xem đoạn clip về cách tiết kiệm điện: sơn tường màu sáng, tận dung ánh sáng tự nhiên bằng cách mở cửa sổ, cửa ra vào. - Trước khi ra ngoài sân chơi chúng ta phải làm gì để tiết kiệm điện. - Cô và trẻ đàm thoại lại: * Ý nghĩa việc tiết kiệm điện

3. Kết luận: 3.1. Tổng kết bài học:

100

Nhận xét lớp Giao nhiệm vụ về nhà

3.2. Đánh giá: 3.3. Hướng dẫn học tập:

* Mọi người làm gì để tiết kiệm điện? * Bản thân trẻ hằng ngày làm được gì để tiết kiệm điện? - Cô nhận xét về thái độ, kỹ năng của trẻ. Từ đó khen ngợi, nhắc nhở trẻ. - Trẻ có thể thực hiện tiết kiệm điện ở nhà như: không mở cửa tủ lạnh lâu, nhắc người thân tắt điện khi không dùng đến, tắt ti vi bằng nút bấm của tivi…

• Kế hoạch tổ chức HĐ chơi

HĐ vui chơi mang tính tích hợp cao trong GD trẻ. HĐ chơi được tổ chức đáp ứng nhu cầu

của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

• Kế hoạch tổ chức HĐ chơi

Trò chơi giả bộ: Bé làm nội trợ Yêu cầu:

- Dạy trẻ có ý thức tiết kiệm nước, điện và các nguyên liệu, thu gom đồ dùng gọn gàng sau khi làm xong. Chủ động thực hiện hành động chơi với các tình tiết khác nhau theo sự hướng dẫn của cô trong tình huống giả bộ và vật thay thế. - Thực hiện hành động chơi theo các bạn; theo sự gợi ý thường xuyên của cô.

Chuẩn bị:

- Đồ chơi nấu ăn trong góc gia đình.

Cách chơi:

- Trẻ sắm vai ba, mẹ, anh, chị nấu ăn cho gia đình.

Biện pháp:

- Trò chuyện, đàm thoại, khơi gợi kinh nghiệm cho trẻ. - Hướng dẫn cháu chơi. - Quan sát, hỗ trợ trẻ chơi. - Khen ngợi, động viên trẻ chơi tốt.

Hình thức: - HĐ vui chơi trong lớp.

Trò chơi có luật:

* Trò chơi vận động: giọt nước yêu thương. Yêu cầu: - Trẻ có biểu hiện hứng thú khi được chơi với nhau. - Rèn khả năng chú ý quan sát. - Trẻ biết thực hiện thao tác tắt mở các đồ dùng, thiết bị sử dụng điện. Chuẩn bị: - Tranh ảnh, họa báo. - Kéo, hồ, giấy, bút lông. - Khung ảnh. - Nguyên vật liệu trang trí. - Giấy A4. - Bút chì màu. - Tranh mẫu, vật mẫu trong góc chơi. - Các đồ dùng thiết bị có sẳn trong lớp, trường. * Trò chơi học tập

Đếm các đồ dùng điện trong gia đình Lập bảng những việc bé tiết kiệm năng lượng ở nhà. Phân biệt những hành động đúng sai trong sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Nối điện với các đồ dùng sử dụng điện HĐ khám phá, trải nghiệm: cách tắt, mở quạt điện, bóng đèn, tivi, máy vi tính.

101

Thi xem ai thực hành đúng, nhanh. Yêu cầu:

- Rèn các kỹ năng sử dụng bút. - Phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ. - Trẻ biết lập bảng. - Rèn khả năng chú ý quan sát. - Trẻ biết thực hiện thao tác tắt mở các đồ dùng, thiết bị sử dụng điện.

Cách chơi:

- Cho trẻ xem tranh, các tờ rơi quảng cáo, nhớ lại những đồ dùng điện có trong gia đình mình. - Sau đó mô tả cách sử dụng mọi người trong nhà như thế nào. Cho trẻ nhận định như vậy là có sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hay chưa. Giải thích vì sao. - Dùng bảng những hành động đúng và chưa đúng trong việc sử dụng năng lượng. Cho trẻ lựa chọn những việc mình đã làm được ở nhà gắn vào một bảng. Những việc chưa làm được vào một bảng. So sánh việc nào nhiều hơn. Vì sao con chưa làm được. Khích lệ trẻ cố gắng làm được.

Biện pháp:

- Cô giới thiệu trò chơi. - Đàm thoại, giới thiệu luật chơi. - Cho cháu chơi. - Cô tổ chức, quan sát cháu chơi. - Cho trẻ thực hành, thử và sai. Cô quan sát, hướng dẫn trẻ thực hành. Hình thức: - HĐ học. - HĐ chơi trong lớp, ngoài sân. Chơi ngoài sân:

+ Tưới cây, chăm sóc hoa kiểng. + Quan sát nhận biết các phương tiện giao thông sử dụng điện, xăng dầu

Yêu cầu: - Trẻ biết chăm sóc cây xanh, hoa kiểng. - Biết sử dụng nước một cách tiết kiệm, hiệu quả lúc tưới cây, lúc vệ sinh sau khi chơi xong: không để nước chảy tràn, đi cẩn thận không làm đổ nước bừa bãi, mở nước vừa phải khi rửa, rửa xong vòi nước phải tắt hẳn. - Nhận biết phương tiện nào di chuyển bằng điện, phương tiện nào chuyển động bằng xăng dầu. - So sánh sự khác nhau giữa các phương tiện đó. Chuẩn bị: - Bình tưới cho trẻ. - Hệ thống vòi nước dưới sân. - Sân có chỗ cho trẻ quan sát đường xe chạy qua. Cách chơi: - Cháu nhặt lá vàng cho cây. Tưới nước cho cây. Biện pháp: - Trò chuyện, đàm thoại về ý nghĩa của việc chăm sóc cây và vệ sinh sau khi chơi. - GD trẻ dùng nước tránh để lãng phí. - Quan sát, nhắc nhở cháu khi chơi. - Khen ngợi trẻ chơi tốt. - Cho trẻ quan sát. - Cô đàm thoại cùng với trẻ. Hình thức: - Cho cháu HĐ ngoài sân, vườn trường.

• Kế hoạch HĐ GD trong sinh hoạt

* Trò chuyện sáng và sinh hoạt chiều - Trò chuyện, đàm thoại với trẻ về ý nghĩa của việc tiết kiệm năng lượng (năng lượng điện, nước, xăng dầu):

102

+ Bảo vệ môi trường sống. + Tiết kiệm khoản tiền để đóng tiền học, mua tập tô màu cho con.... - Đàm thoại về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: + Không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa đang bật. + Biết tắt đèn, tắt quạt khi ra khỏi phòng. + Không được mở cách tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa tủ khi không có nhu cầu dùng đến. + Tắt đài khi không nghe. Tắt tivi khi không xem. Tắt máy tính khi không sử dụng. + Luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện. + Không bao giờ tự cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất. + Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt.

+ Khi ngửi thấy mùi khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn.

* Đọc thơ, vè, nghe kể chuyện về tiết kiệm năng lượng GV và trẻ phát hiện, khen ngợi những hành vi tốt của trẻ như hứng nước vừa đủ uống, không tràn ra ngoài, biết kiểm tra vòi nước đã tắt hẳn chưa, biết kéo rèm cửa sổ cho sáng sủa...Nhắc nhở những hành vi chưa đúng: chưa tắt nước khi đang chải răng, mở nước vừa phải không văng nước ra ngoài...

* Làm vệ sinh cá nhân

Hướng dẫn cách sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả khi rửa tay, rửa mặt, chải răng, rửa ca.

* HĐ lễ hội: lồng ghép vào chương trình văn nghệ tổng kết năm học.

+ Biểu diễn thời trang giấy: tiết kiệm, tận dụng lại những vật liệu còn tái sử dụng được như giấy, nylon, áo mưa cũ... để làm thành những bộ trang phục cho bé. Với thông điệp bảo vệ môi trường sống.

Chuẩn bị: 5 bộ thời trang cho bé được thiết kế từ giấy báo cũ, dây nylon, giấy gói quà đã

qua sử dụng, nắp hộp sữa, vỏ ốc, vỏ sò, chai nhựa đã dùng, đĩa giấy, áo mưa cũ.

Bộ thứ tư: Màu đỏ là lửa nhưng là lửa nhiệt quyết, với thiết kế từ bao nylon chúng tôi

Nhận xét: Bộ thứ nhất: San hô và vỏ ốc là những chất liệu tạo nên họa tiết rất đáng yêu, gợi cảm hứng sáng tạo nên phong cách dễ thương cho những ai yêu biển. Hình ảnh sóng dập dềnh, tài nguyên biển dồi dào cho đời sống chúng ta nhiều lợi ích. Đừng lãng phí tài nguyên và cùng chung tay bảo vệ môi trường biển. Bộ thứ hai: Này là áo hoa, này là nón xinh cô em cất bước trông như nụ hồng. Từ nguồn giấy báo, tờ rơi quảng cáo với những hoa văn nhẹ nhàng, điểm chút sắc màu tươi tắn tạo sự nhí nhảnh, dễ thương cho cô nàng tiểu thư. Bộ thứ ba: Không phải kim cương hay dát vàng, nhưng bộ trang phục này luôn lấp lánh và đầy bí ẩn. Dù đã qua sử dụng nhưng giấy gói quà vẫn tạo nên một phong cách sang trọng, rạng rỡ như nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời. Đi mưa không sợ nước, bước trong nắng đẹp rạng ngời. xin chia sẻ ý tưởng: hãy chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ màu xanh của trái đất chúng ta.

Chuẩn bị: Mô hình một số đồ dùng, thiết bị sử dụng trong gia đình: Quạt máy: cánh quạt bằng nhựa cho trẻ cầm, nón là làm lồng bên ngoài của quạt máy với

Bộ thứ năm: Tinh nghịch, năng động và lịch lãm. Sản phẩm dược làm từ chiếc áo mưa cũ đã rách, sự kết hợp sắc màu xanh, đỏ, vàng với ý nghĩa: mọi hành vi đúng đều được hình thành từ những bước cơ bản. Từ những vật liệu, đồ dùng đơn giản cùng với sự bay bổng trong ý tưởng thiết kế, chúng tôi xin gửi đến thông điệp “hành vi nhỏ hôm nay sẽ thành thói quen lớn ngày mai. Hãy chung tay vì môi trường sống của chính chúng ta”. * Đóng kịch về tiết kiệm năng lượng dòng chữ: bạn hãy tắt khi không sử dụng.

Máy vi tính: màn hình bằng lịch cũ, bàn phím không còn sử dụng. Bếp gas bằng làm từ dây nylon và mouse bitis. Thông điệp: sử dụng gas an toàn, tiết kiệm. Bình nước bằng bitis và dây nylon.

103

Máy giặt, tủ lạnh, mô hình máy casset, ti vi từ thùng cactong, giấy roki. Kịch bản: Các bạn nhỏ hóa trang vào từng đồ dùng, thiết bị, đi ra giới thiệu về mình cùng các bạn khác

(trên nhạc nền): Quạt máy: Mình là quạt máy dễ thương xin chào các bạn, khi cắm điện vào thì những cánh quạt của mình quay quay quay, sẽ làm cho mọi người mát mẻ. Mình là máy casset xinh xinh, các bạn có thể nghe nhạc, nghe kể chuyện. Nếu không có điện thì mình không hát được đâu. Chúng tớ là tivi, máy vi tính dễ thương. Có chúng mình các bạn được xem phim hoạt hình, ca nhạc, chơi game vui ơi là vui, các bạn có thích mình không? Bếp gas là mình, mình ở trong bếp phụ mẹ nấu nướng. Phải có bình gas mình mới có thể cho lửa cháy lên được đó các bạn. Tôi là bình nước cho các bạn nước uống. Mình rất quan trọng đó nha nên các bạn không được đổ nước bừa bãi nhé. Còn tớ là em út trong nhà, tủ lạnh ngoan hiền giúp giữ thức ăn tươi ngon. Mình chỉ tỏa hơi mát khi có dòng điện đi qua. Một cô bé sử dụng các đồ dùng và thiết bị này một cách cẩu thả: mở quạt máy vù vù, ti vi bật liên tục, tủ lạnh mở cửa đứng hóng hơi mát, mở casset nghe nhạc hết cỡ, chơi game máy vi tính thả ga, mở nước chảy to... Cô bé bật đồng loạt các đồ dùng, thiết bị dù không còn dùng đến vẫn để tất cả cùng hoạt động, cô bé tỏ vẻ thích thú vì điều đó. Bỗng: Bùm! Một tiếng nổ to làm cô bé hoảng hốt, các đồ dùng, thiết bị tỏa khói, ngừng hoạt động, mặt buồn xo. Một cô tiên xuất hiện trong bộ đồ lấp lánh làm từ vật liệu đã qua sử dụng. Cô hướng dẫn cô bé tắt các thiết bị khi không dùng đến: không mở tủ lạnh quá lâu; sử dụng gas an toàn, tiết kiệm; ngắt điện khi không dùng nữa, tiết kiệm điện và bảo quản đồ dùng thiết bị.

Sau đó, cô tiên, cô bé và các bạn đồ dùng vui lên, cùng nhau đọc vè tiết kiệm:

Nghe vẻ nghe ve, nghe vè tiết kiệm Mở nước nhẹ êm, khi bé rửa tay Nhớ xoay tắt vòi, khi không dùng đến Nhắc bạn chớ quên, ngay cả chải răng Không để nước văng, tràn lan tung tóe Khi bé uống nước cũng phải từ từ Để tránh uống dư lấy vừa lấy đủ Lấy đủ cái mà lấy đủ!!!!!!!!! Lúc ra khỏi phòng tắt đèn tắt quạt Nhớ bấm trực tiếp khi tắt ti vi Khi dùng tủ lạnh chớ mở cửa lâu Màn hình vi tính sáng đủ tầm nhìn Cũng không để ninh chế độ chờ lâu Chờ lâu cái mà chờ lâu !!!!!!!!!! Ông bà cha mẹ chú dì cô cậu Khi dùng xăng dầu cũng nên tiết kiệm Nhớ tắt máy xe khi dừng đủ lâu Nếu đi đâu gần thì cần xe đạp An toàn tiết kiệm cùng lên xe buýt Xe buýt cái mà xe buýt !!!!!!!!! Cùng nhau tiết kiệm điện nước xăng dầu Đất nước mạnh giàu môi trường sạch sẽ Sạch sẽ cái mà sạch sẽ !!!!!!!

Tự biên

104

Tiếp tục cùng biểu diễn tốp ca bài Hát nhau nghe, cải biên theo điệu Bắc kim thang. Lời 1: Hát nhau nghe, cùng nhau tiết kiệm. Điện gia dùng cùng điện cộng cộng. Thấy sáng đèn không dùng thì tắt. Chung tay ta góp sức đồng lòng. Để dòng điện sáng choang mọi nơi.

Lời 2: Nước cho ta dùng trong sinh hoạt. Điện xăng dầu lại càng quan trọng. Bé nhớ nè: không dùng thì tắt. Chớ lãng phí tiền của mẹ cha. Lo cho con khôn lớn học hành. Mai thành đạt cả nhà mến yêu càng yêu. * Thực hiện công tác phối hợp với PH vào các giờ đón trả trẻ, các buổi họp PH, thông qua

bảng tuyên truyền.

Sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình có ý nghĩa rất lớn trong công tác CS GD trẻ nói chung và trong việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng nói riêng. Qua trao đổi, trò chuyện với PH, GV giao nhiệm vụ về nhà theo dõi nhắc nhở trẻ trong việc thực hành hành vi sử dụng điện, nước tiết kiệm để hình thành thói quen. Bên cạnh đó, giúp trẻ duy trì những kỹ năng mà GV đã dạy ở lớp. - Trao đổi với PH về thực hành của trẻ ở nhà trong việc sử dụng năng lượng: trẻ mở cửa tủ lạnh có để lâu hay không, trẻ sử dụng vòi nước hay nước uống như thế nào, trẻ có biết tắt đèn, tắt quạt khi ra khỏi phòng hay không, trẻ xem tivi, chơi máy vi tính như thế nào... - Trao đổi PH cách nhắc nhở bé sử dụng tiết kiệm, hiệu quả: tiết kiệm nước, điện ba mẹ có thêm khoản tiền để mua áo mới cho con đi học, mua bút màu cho con tô... Đặc biệt, khi tiết kiệm năng lượng sẽ góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta. - PH làm gương cho trẻ trong cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. - Trao đổi, giao nhiệm vụ về nhà cho trẻ: PH quan sát nhắc nhở trẻ cách sử dụng nước, điện một cách tiết kiệm. - PH trò chuyện, khích lệ, khen ngợi trẻ khi trẻ làm đúng. - Đưa các nội dung GD về tiết kiệm năng lượng lên bảng tuyên truyền của lớp: bài hát (sưu tầm, sáng tác), thơ, vè, nội dung chương trình thực nghiệm, hình ảnh minh họa. - Lồng ghép nội dung GD này vào buổi họp PH cuối năm học./.

105

Phụ lục 5

PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ CỦA TRẺ MG 5-6 TUỔI

Người quan sát: .................................................................................................. Tên trẻ: ............................................................................................................... Lớp: .................................................................................................................... Ngày quan sát: .................................................................................................... Địa điểm: ............................................................................................................

Stt

Nội dung tiêu chí

Xếp loại

Thấp (0điểm)

Cao (2điểm)

Mức độ Trung Bình (1điểm)

Về nhận thức: 1

Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống

Về thái độ: 2

3

4

Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng lượng Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai

5 Về hành vi: 6 7 8

9

10

Tắt vòi nước khi không dùng đến Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng Thường hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng) Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng (dù gặp khó khăn) Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào...

Cách đánh giá:

a) Tiêu chí về mặt nhận thức

- Mức độ thấp (0 điểm): Trẻ không biết ý nghĩa của việc tiết kiệm. - Mức độ TB (1 điểm): Trẻ biết tiết kiệm nước, điện, xăng dầu là tiết kiệm tiền. - Mức độ cao (2 điểm): Trẻ biết tiết kiệm năng lượng là bảo vệ môi trường. - Phương tiện đánh giá: trò chuyện, đặt câu hỏi với trẻ: Tại sao mình phải tiết kiệm nước (điện, xăng dầu)?

b) Tiêu chí về mặt thái độ

- Mức độ thấp (tổng điểm 4 tiêu chí từ 1 đến 3 điểm):

+ Trẻ quên không tắt khi không dùng đến. + Trẻ thực hiện một cách ép buộc. + Không điều chỉnh hành vi mặc dù được người khác nhắc nhở. + Thấy người khác làm sai, không dám nhắc nhở.

106

- Mức độ TB (tổng điểm từ 4 đến 6 điểm):

+ Trẻ thực hiện tắt khi không dùng nhưng đợi người khác nhắc nhở. + Trẻ không tỏ vẻ vui hay buồn khi thực hiện nhiệm vụ này. + Điều chỉnh hành vi nhưng đợi nhắc nhở nhiều lần. + Thấy người khác làm sai méc với cô giáo hoặc nói với bạn khác.

- Mức độ cao (tổng điểm từ 7 đến 8 điểm):

+ Trẻ biết tắt vòi nước, công tắc đèn, quạt khi không dùng đến, không cần nhắc nhở. + Trẻ có thái độ vui vẻ, hào hứng khi thực hiện tiết kiệm. + Biết điều chỉnh hành vi ngay khi được nhắc nhở. + Thấy người khác làm sai nhắc liền với người đó.

- Phương tiện đánh giá: Quan sát trẻ vào giờ giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, t ạo tình huống: người lớn làm sai hoặc bạn làm sai, quan sát cách ứng xử của trẻ.

c) Tiêu chí về mặt hành vi - Mức độ thấp (tổng điểm từ 1 đến 4 điểm):

+ Trẻ không tắt vòi nước khi không dùng đến. + Chưa biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng. + Không thực hiện hành động đúng. + Thực hiện tiết kiệm bỏ dở nửa chừng (bắt chước bạn hoặc không nhớ) + Chưa biết làm gì.

- Mức độ TB (tổng điểm từ 5 đến 7 điểm):

+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến nhưng chưa thường xuyên. + Biết tắt đèn, tắt quạt đợi nhắc nhở. + Làm đúng, đôi lúc làm sai. + Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. Có lúc quên, rồi nhớ thực

hiện tiếp (thực hiện không liên tục). + Bắt chước theo bạn.

- Mức độ cao (tổng điểm từ 8 đến 10 điểm):

+ Trẻ biết tắt vòi nước khi không dùng đến một cách thường xuyên. + Biết tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng một cách thường xuyên. + Thực hiện hành động đúng trong tiết kiệm năng lượng. + Thực hiện tiết kiệm trong suốt quá trình sử dụng: nước, điện. + Biết đưa ra phương án và thực hiện: kèo rèm, mở cửa...

- Phương tiện đánh giá: Quan sát quá trình trẻ thực hành vào giờ vệ sinh, trước khi ra sân chơi, tạo tình huống.

Phụ lục 6

107

Hình 2.2. Cháu dùng máy sấy tay trong thời

Hình 2.1. Bé mở nước to khi rửa tay

gian dài và cùng cười đùa

Hình 2.3. Bảng tuyên truyền chưa thấy nội dung GD trẻ tiết kiệm năng nượng

Hình 2.4. Bảng tuyên truyền chủ yếu là nội dung tuyên truyền chuẩn phát triển 5 tuổi

Hình 3.1. Thực hiện bản tin tuyên truyền với PH

Hình 3.2. GD trẻ tiết kiệm nước sinh hoạt trong giờ rửa tay, rửa mặt

108

Hình 3.3. GD trẻ sử dụng nước uống

Hình 3.4. Hướng dẫn cháu sử dụng vòi nước tiết kiệm nước

Hình 3.5. Các bé biểu diễn thời trang giấy

Hình 3.6. Các cháu diễn tiểu phẩm về tiết kiệm

trong Lễ tổng kết năm học

năng lượng trong Lễ tổng kết năm học

109