intTypePromotion=1

Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông

Chia sẻ: ViTokyo2711 ViTokyo2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
26
lượt xem
0
download

Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này bàn về các biện pháp mà nhóm nghiên cứu đã giúp đỡ giáo viên mới ra trường trong đánh giá quá trình học tập của học sinh. Từ nghiên cứu này có những khuyến nghị giúp việc bồi dưỡng, thực hành sử dụng các kĩ thuật đánh giá quá trình học tập đạt hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1075.2015-0032 Educational Sci., 2015, Vol. 60, No. 2, pp. 67-75 This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ GIÁO VIÊN MỚI RA TRƯỜNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG Chu Cẩm Thơ Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt. Đánh giá là một trong số những khâu trọng yếu. Kết quả của đánh giá tác có thể động trở lại nội dung, cách thức tổ chức việc dạy và học. Trong dạy học môn Toán, ngoài việc nắm vững chuyên môn sư phạm Toán, người giáo viên còn cần có năng lực chẩn đoán, đánh giá học sinh một cách toàn diện. Những giáo viên mới ra trường gặp nhiều khó khăn trong công tác. Họ vừa thiếu kinh nghiệm thực tế, vừa chịu áp lực phải có trách nhiệm tiên phong trong áp dụng các cải cách. Bài viết này bàn về các biện pháp mà nhóm nghiên cứu đã giúp đỡ giáo viên mới ra trường trong đánh giá quá trình học tập của học sinh. Từ nghiên cứu này có những khuyến nghị giúp việc bồi dưỡng, thực hành sử dụng các kĩ thuật đánh giá quá trình học tập đạt hiệu quả. Từ khóa: Đánh giá quá trình học tập, đánh giá lớp học, giáo viên trẻ, phương pháp dạy học môn Toán. 1. Mở đầu Đánh giá là một trong số những khâu trọng yếu, nó có tác dụng như bánh lái ngược không những để đối chiếu với mục tiêu giáo dục và kết quả học tập của cá nhân, mà nó còn tác động trở lại nội dung, cách thức tổ chức việc dạy, việc học. Để xác định tốt nhất mục tiêu giáo dục vi mô và phương pháp dạy học phù hợp với học sinh, người giáo viên cần đánh giá ban đầu hay còn gọi là chẩn đoán về năng lực học sinh, kinh nghiệm, thái độ, những yếu tố tác động vào quá trình giáo dục học sinh đó. Vì thế, trong dạy học môn Toán, ngoài việc nắm vững chuyên môn sư phạm Toán, người giáo viên còn cần có năng lực chẩn đoán, đánh giá học sinh một cách toàn diện. Những giáo viên trẻ gặp nhiều khó khăn trong công tác. Họ vừa thiếu kinh nghiệm thực tế, vừa chịu áp lực phải có trách nhiệm tiên phong trong áp dụng các cải cách vì chính họ là những người được cập nhật những kiến thức, nghiên cứu mới và do đặc điểm tuổi trẻ, họ có điều kiện để thực hiện những biện pháp đổi mới. Trong khi đó quá trình đào tạo ở các trường sư phạm, sinh viên được rèn luyện, hình thành kĩ năng quan sát, đánh giá quá trình. Hơn nữa, những yếu tố về thể chế, quá trình sinh hoạt chuyên môn, được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng trong nhà trường phổ thông cũng đang thiếu hụt những biện pháp giúp họ đánh giá quá trình học tập của học sinh [3]. Bài viết này bàn về các biện pháp mà nhóm nghiên cứu đã giúp đỡ giáo viên mới ra trường trong đánh giá quá trình học tập của học sinh. Cụ thể là nghiên cứu 6 trường hợp giáo viên công tác tại Hà Nội, tốt nghiệp khoa Toán Tin, trường Đại học Sư phạm Hà Nội các năm 2011, 2012, 2013. Ngày nhận bài: 10/10/2014. Ngày nhận đăng: 15/01/2015. Liên hệ: Chu Cẩm Thơ, e-mail: camtho@hnue.edu.vn. 67
  2. Chu Cẩm Thơ 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Những kĩ thuật đánh giá quá trình học tập của học sinh Đánh giá quá trình học tập được diễn ra trong suốt quá trình dạy học nhằm hỗ trợ cho dạy học có hiệu quả, điều này sẽ đảm bảo cho việc đánh giá toàn diện hơn, đầy đủ hơn, giúp học sinh có nhiều cơ hội hơn để thể hiện mình và giảm bớt sức ép từ việc kiểm tra đánh giá, tạo cho học sinh nhu cầu tự đánh giá. Mặt khác, giúp cho giáo viên điều chỉnh kịp thời phương pháp giảng giảng dạy cho phù hợp, giúp học sinh điều chỉnh cách học, thúc đẩy học sinh cố gắng, tích cực học tập, đòi hỏi đánh giá hướng vào mục đích là giúp cho học sinh tiến bộ hơn (Western and Northern Canadian Protocol, p. 42-43, http://www.edu.gov.mb.ca). Đánh giá quá trình học tập nhấn mạnh vào việc học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn như thế nào, xem người học làm được gì, chúng được tích hợp trong các hoạt động dạy học. Hướng trọng tâm vào đánh giá quá trình học tập những kĩ năng tổng hợp chứ không chỉ là những kĩ năng riêng lẻ, các sự kiện. Nhấn mạnh đến kĩ năng tư duy, thái độ học tập, đánh giá quá trình học tập tạo điều kiện để học sinh hợp tác trong học tập, phát triển các kĩ năng giao tiếp, kích thích được tính tích cực và động cơ học tập [1,12]. Đánh giá cần dựa trên thông tin đa dạng từ nhiều phía, giáo viên đánh giá học sinh, học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau, đánh giá cá nhân, đánh giá theo nhóm.v.v. tùy theo điều kiện và đặc điểm cụ thể của dạy học. Các phương pháp và kĩ thuật đánh giá quá trình học tập đa dạng như vấn đáp, câu hỏi đóng, câu hỏi mở, thực hành, hoàn thành nhiệm vụ, sản phẩm theo nhóm và cá nhân, giải quyết tình huống thực tiễn,... sử dụng các công cụ quan sát chính thức, không chính thức để đánh giá kĩ năng, thái độ (Dr. Lorna Earl and Dr. Steven Katz (2006), Rethinking classroom assessment with purpose in mind, Western and Northern Canadian,Protocol for Collaboration in Education). Tất cả các loại hình đánh giá nêu trên đều sử dụng một số phương pháp khá quen thuộc sau đây: - Vấn đáp: hỏi và trả lời, thông qua đối thoại mà đánh giá trình độ - Quan sát: thông qua các hành vi, cử chỉ, thái độ và các biểu hiện cụ thể của HS trong quá trình học tập mà nhận xét, thường là đánh giá định tính. - Kiểm tra (thi) viết: Đây là phương pháp đánh giá phổ biến nhất, bao gồm hai dạng thức: Trắc nghiệm khách quan và Tự luận - Đánh giá sản phẩm của học sinh: thông qua hồ sơ (portfolios) tích lũy của HS như: kết quả sưu tầm, bài làm ở nhà, bài báo, bài tập nghiên cứu,... - Tự đánh giá: Học sinh tự nhận xét và xác định trình độ,. . . của chính mình. - Lấy ý kiến chuyên gia: Thông qua người có trình độ cao, am hiểu về lĩnh vực chuyên môn mà xác nhận trình độ của người học. Với các chương trình giáo dục theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học, để đánh giá chính xác còn có những phương pháp bổ sung, đó là phương pháp thông qua thực hành, thực hiện, trình diễn (Performance Assessment) như yêu cầu sử dụng công nghệ, chơi các loại nhạc cụ, sửa chữa máy móc, sử dụng ngoại ngữ, thuyết trình về một cuốn sách [2]. Trong việc đánh giá để có những xác nhận, phán quyết chính xác, người ta thường kết hợp nhiều phương pháp và nhiều hình thức khác nhau. 68
  3. Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh... Bảng 1. Hệ thống phương pháp/công cụ và hoạt động đánh giá quá trình học tập [4] Phương pháp/công cụ Mô tả Thu thập thông tin Hỏi Trong lớp, hỏi những câu hỏi có trọng tâm để làm cho người học hiểu bài Thực hiện những quan sát một cách hệ thống trên người học khi họ tư duy và đưa Quan sát ra các ý kiến Bài tập về nhà Giao bài/nhiệm vụ để người học ôn luyện hiểu bài Thực hiện các cuộc thảo luận mang tính “điều tra” với người học về nhận thức Hội thoại và phỏng vấn của họ và những vấn đề họ còn cảm thấy vướng mắc Tạo nên cơ hội cho người học thể hiện kết quả học tập, thông qua những buổi Trình diễn, trình bày trình bày, trình diễn, triển lãm trực tiếp hoặc sử dụng phương tiện truyền thông Trắc nghiệm nhanh, bài kiểm Tạo nên những cơ hội cho người học thể hiện kết quả học tập thông qua tra, thi viết hình thức viết Các nhiệm vụ đánh giá giàu Giao các nhiệm vụ phức hợp, có khả năng khuyến khích người học thể hiện nhận thông tin thức của họ về sự kết nối giữa các khái niệm mà họ đang/đã được học Ứng dụng những phần mềm mang tính hệ thống và thích ứng, gắn liền với kết quả Đánh giá dựa trên máy tính đầu ra của chương trình đào tạo Bắt chước/mô phỏng, Giao các nhiệm vụ mô phỏng hoặc đóng vai nhằm khuyến khích người học thể đóng kịch hiện được nhận thức của họ về sự kết nối giữa các khái niệm mà họ đang/đã học Những ghi chép, mô tả của người học về quá trình người học tổ chức hoạt động Nhật kí học tập học tập Tạo nên những cơ hội cho người học thể hiện nhận thức về những sự kết nối trong Dự án và Điều tra/nghiên cứu quá trình học tập, thông qua điều tra, nghiên cứu và viết báo cáo hoặc sản phẩm tạo tác Diễn giải thông tin Hồ sơ mô tả học tập của sinh viên để xác định mức độ của việc học, các bước tiếp Sự liên tục phát triển theo và báo cáo tiến độ và thành tích đạt được Bảng kiểm Mô tả các tiêu chí để xem xét trong hiểu biết việc học của người học Bảng mô tả tiêu chí đánh giá Bản mô tả các tiêu chí, với từng cấp độ năng lực được mô tả và xác định Những bài viết phản ánh và phỏng đoán được người học duy trì về hoạt động học Bài phản ánh tập đang diễn ra và những việc họ cần làm tiếp theo Là quá trình trong đó người học tự phản ánh về hoạt động học tập của mình, sử Tự đánh giá dụng những tiêu chí đã có để xác định tình trạng hoạt động học tập của mình. Là quá trình trong đó người học tự phản ánh về hoạt động học tập của mình và Đánh giá lẫn nhau của các bạn cùng học, sử dụng các tiêu chí đã có để xác định tình trạng hoạt động học tập của nhau. Ghi lại - Lưu giữ Những ghi chép trọng tâm, mang tính chất mô tả khi quan sát hoạt động học tập Ghi chép của người học trong cả một quá trình Thông tin về chất lượng sản phẩm học tập của người học, có liên quan đến kết Hồ sơ người học quả đầu ra của chương trình đào tạo hoặc kế hoạch học tập cá nhân của người học Những hình ảnh, âm thanh ghi lại những sản phẩm về hoạt động học tập của Video, băng tiếng, hình ảnh người học Một tập hợp hệ thống các sản phẩm của người học, thể hiện mỗi sự hoàn thành, Hồ sơ học tập sự phát trển và phản ánh cả quá trình học tập của người học Giao tiếp/ Trao đổi thông tin Trình bày của người học để thể hiện hoạt động học tập của họ với cha mẹ, các ban Trình diễn, trình bày đánh giá, hoặc những đối tượng khác Hội thảo phụ huynh - người Tạo nên những cơ hội cho giáo viên, cha mẹ, và người học thảo luận và đánh giá học - giáo viên quá trình học tập của người học và kế hoạch cho các giai đoạn tiếp theo Ghi chép chi tiết về những nhiệm vụ hoàn thành của người học, có liên quan đến Ghi chép về thành tích kết quả đầu ra của chương trình đào tạo Là các báo cáo học tập định kì: với điểm số (hoặc một hình tượng thể hiện kết quả Thẻ báo cáo (Report cards) học tập) và thông tin vắn tắt về hoạt động học tập của người học, gửi cho cha mẹ Thông tin vắn tắt hàng ngày gửi cho cha mẹ, đề cập kết quả đầu ra, hoạt động của Bản tin học tập và đánh giá người học và các ví dụ về hoạt động học tập. 69
  4. Chu Cẩm Thơ 2.2. Biện pháp giúp giáo viên đánh giá quá trình học tập của học sinh Trong mục này, chúng tôi tổng hợp các biện pháp, kĩ thuật đánh giá quá trình học tập của học sinh, trong đó biện pháp 2.2.4 được rút ra từ kinh nghiệm của chính chúng tôi. 2.2.1. Lập kế hoạch sử dụng các kĩ thuật đánh giá Lập kế hoạch công tác hay kế hoạch sử dụng các kĩ thuật đánh giá cũng được coi là một biện pháp giúp giáo viên có thể làm cho công việc của mình hiệu quả hơn. Lí do, giáo viên được trang bị rất nhiều kiến thức trong quá trình đào tạo, nhưng thực tế, giáo viên chỉ dùng một hoặc một số kĩ thuật phù hợp với thói quen, kinh nghiệm bản thân và cả thực tiễn dạy học. Cần lưu ý các nguyên tắc dưới đây khi sử dụng các kĩ thuật đánh giá [1]. 1. Không sử dụng bất kì kĩ thuật nào không phải là yêu cầu đòi hỏi của việc đánh giá dựa trên kinh nghiệm và trực giác của giáo viên. 2. Không tạo sự tự đánh giá thành sự tự áp đặt một cách đơn thuần hay tạo gánh nặng cho giáo viên và học sinh. 3. Phải chọn các kĩ thuật có lợi cho cả giáo viên và học sinh. 4. Không được yêu cầu học sinh sử dụng bất kì kĩ thuật nào mà giáo viên chưa thử trước. 5. Cần phải nhớ rằng việc thực thi một kĩ thuật đánh giá và phân tích sự phản hồi sẽ có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn dự kiến. Việc biết rõ điều gì giáo viên đang tìm kiếm sẽ giúp cho việc xác định kĩ thuật nào được chọn, và giải thích các kết quả như thế nào. Bảng gợi ý sau đây gợi ý những nội dung để giúp giáo viên có thể lập được kế hoạc sử dụng công cụ/kĩ thuật đánh giá phù hợp [1,9]: Bản kế hoạch sử dụng kĩ thuật đánh giá 1. Giáo viên muốn biết điều gì? 2. Kĩ thuật nào giáo viên sẽ sử dụng để nhận thông tin đó? Tại sao? 3. Giáo viên sẽ giới thiệu kĩ thuật này cho học sinh như thế nào? 4. Cần bao nhiêu thời gian để thực hiện kĩ thuật này? 5. Làm thế nào để giáo viên biết kĩ thuật này thành công hay không? 6. Giáo viên sẽ tạo ra sự thay đổi nào trong giảng dạy sau khi nhận được kết quả trên? 2.2.2. Sử dụng các kĩ thuật đánh giá lớp học trong quá trình tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học Để nâng cao chất lượng dạy học của mình, giáo viên cần phải xác định rõ ràng mục đích và mục tiêu dạy học; cần phải nhận được sự phản hồi rõ ràng và toàn diện về mức độ đạt được mục tiêu và mục đích dạy học [2]. Việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy và học có hiệu quả nhất được thực hiện bởi giáo viên dựa trên các câu hỏi do chính giáo viên xây dựng từ các câu trả lời cho các vấn đề hay nội dung trong quá trình dạy học. Sự thách thức óc tìm tòi, nghiên cứu là nguồn gốc mạnh mẽ của động cơ, sự phát triển và đổi mới cho giáo viên, và sự nghiên cứu lớp học có thể cung cấp những thách thức đó. Vì thế, để thực hiện tốt vai trò tổ chức, định hướng, kiểm tra hoạt động học của học sinh, giáo viên cần phát triển các kĩ thuật đánh giá lớp học để có thể sử dụng cho việc đánh giá quá trình học tập của học sinh. Với việc áp dụng các kĩ thuật này, giáo viên có thể gần như tức thời xác định được học sinh đã học được gì và điều chỉnh ngay trong bài học tiếp theo [8]. Nếu như các phương pháp đánh giá truyền thống về việc học của học sinh thường diễn ra vào cuối kì học (khi đã quá muộn để điều chỉnh) thì ngược lại, đánh giá lớp học là phương pháp đánh giá việc học của học 70
  5. Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh... sinh và những phản ứng của họ đối với phương pháp dạy học của giáo viên. Mục tiêu của đánh giá lớp học là cải thiện cả người dạy và người học. Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo viên cần sử dụng đa dạng các kĩ thuật đánh giá lớp học. Các kĩ thuật được giới thiệu sau đây được Phan Thanh Hội tổng hợp, giới thiệu [1] giới thiệu một số kĩ thuật đánh giá lớp học cụ thể. a. Điểm mờ nhất Kĩ thuật này sẽ giúp giáo viên xác định được các điểm quan trọng của bài học mà học sinh đã bỏ lỡ bằng cách yêu cầu học sinh ghi ra điều mà học sinh chưa nhận thức được, khó khăn trong bài học. Áp dụng kĩ thuật này sau bài giảng hoặc bài học: - Giao phiếu cho học sinh và dành cho học sinh khoảng 3 phút để trả lời. Tùy mục tiêu sử dụng, giáo viên có thể yêu cầu học sinh trả lời nặc danh hoặc không nặc danh. - Không sử dụng kĩ thuật này sau tất cả các bài học, nếu không nó sẽ trở nên đơn điệu và thông tin thu được sẽ không có ích. b. Phiếu một phút Kĩ thuật này rất hữu ích vì nó khuyến khích các học sinh ít nói đặt câu hỏi. Phiếu một phút (hoặc nhiều hơn nếu cần) có thể sử dụng sau bài học hoặc bắt đầu bài học mới để ôn tập bài trước. Học sinh trả lời câu hỏi cho biết mục tiêu bài học có đạt được hay không. Học sinh trả lời câu hỏi cho biết phần nào của bài học có thể cần phải ôn lại. c. Phiếu liệt kê - Sử dụng kĩ thuật này khi ta muốn đánh giá sự ghi nhớ của học sinh. Hãy liệt kê 5-7 từ hoặc ngữ để định nghĩa hay mô tả.... . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . - Sử dụng kĩ thuật này ngay sau bài học hoặc muộn hơn với mục đích ôn tập. - Cần hạn chế số tiêu chí, thời gian cho phép hoặc cả hai. - Khi xem lại phiếu, hãy so sánh các điểm mà học sinh liệt kê với các điểm mà giáo viên mong đợi. Nếu có những sự bỏ sót đáng chú ý nào đó, giáo viên sẽ biết cần phải ôn lại cái gì cho học sinh. - Chú ý rằng kĩ thuật này chỉ cho phép giáo viên khám phá xem học sinh nhớ lại được gì; nó không thể hiện học sinh có hiểu hết những điều đó hay không. d. Phiếu áp dụng - Kĩ thuật này giúp giáo viên xác định xem học sinh có thực sự hiểu nội dung kiến thức vừa học hay không. - Kĩ thuật này có thể được sử dụng sau bài học. Giáo viên phát phiếu và cho học sinh 10 phút để trả lời. - Thông tin thu được sẽ cho giáo viên biết học sinh mới chỉ nhớ nội dung kiến thức hay biết chúng có thể được sử dụng như thế nào. - Nếu có những vấn đề hay khuynh hướng trái ngược, giáo viên có thể thảo luận về chúng với cả lớp. e. Ma trận ghi nhớ - Giáo viên có thể sử dụng ma trận với bao nhiêu hàng và cột tùy ý, điền trước tiêu đề của các hàng và các cột để học sinh điền nội dung phù hợp vào các ô trống. Mục đích của kĩ thuật này là đánh giá sự nhớ lại thông tin và khả năng phân loại thông tin của học sinh. - Kĩ thuật này có thể được sử dụng ngay sau bài học, hoặc muộn hơn với mục đích ôn tập. Nó cũng có thể được sử dụng như là một công cụ tiền đánh giá. - Viết tiêu đề thích hợp vào các cột hoặc hàng rồi để trống các ô. - Đặt giới hạn thời gian (ví dụ là 10 phút) và hướng dẫn học sinh điền vào ô trống các từ mà học sinh cho là có thể chính xác. Giáo viên có thể giới hạn về số lượng từ (Ví dụ 2 từ trong mỗi ô). 71
  6. Chu Cẩm Thơ - Khi xem lại phiếu, giáo viên cần xác định xem học sinh đã làm tốt ở chỗ nào? Chỗ nào làm không tốt? f. Tóm tắt một câu - Tóm tắt một câu có thể xác định xem học sinh có hiểu đầy đủ ý nghĩa của chủ đề hay không. Bằng cách trả lời 7 câu hỏi, học sinh có thể viết một câu tóm tắt chủ đề. Các câu tóm tắt này sẽ giúp giáo viên đánh giá sự hiểu của học sinh và cũng sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tư duy của mình. - Lựa chọn một chủ đề quan trọng mà bạn muốn học sinh tóm tắt và cho học sinh 10-15 phút để thực hiện ở cuối bài học. g. Phiếu tổng kết Kĩ thuật tổng kết cho biết học sinh đã học được gì từ bài học. Nó cũng giúp cho việc phát triển kĩ năng giao tiếp của học sinh. - Kĩ thuật này được sử dụng hiệu quả nhất trong lớp học, nhưng cũng có thể được sử dụng như là một bài tập về nhà. Tuy nhiên, học sinh có thể không siêng năng làm bài tập về nhà nếu học sinh biết sẽ không được chấm điểm. - Giáo viên cần phải luyện tập kĩ thuật này vài lần cho học sinh trước khi học sinh có kĩ năng sử dụng nó. - Học sinh có thể được giữ lại bản sao của phiếu để nghiên cứu tiếp. 2.2.3. Viết nhật kí lớp học và tạo diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm Theo nghiên cứu của James H. Stronge [17] những phẩm chất của người giáo viên giảng dạy hiệu quả bao gồm: Sự quan tâm; Biết lắng nghe; Sự thấu hiểu; Hiểu rõ học sinh; Sự công bằng và tôn trọng; Giao tiếp thân mật với học sinh; Lòng nhiệt tình và động lực học tập; Thái độ của giáo viên với nghề dạy học; Thực hành chiêm nghiệm. Để giảm bớt những khó khăn cũng như tăng cơ hội chiêm nghiệm về bản thân, thì việc viết nhật kí là một biện pháp tốt giúp giáo viên tự điều chỉnh. Biện pháp này được khuyến nghị sử dụng cùng với tư tưởng và các kĩ thuật được áp dụng phổ biến trong mô hình nghiên cứu bài học (Lesson study) [3,12-14]. Bảng 2. Bảng gợi ý suy ngẫm và thảo luận về giờ học khi viết nhật kí buổi dạy Nội dung hoạt động Biểu hiện của học sinh Nguyên nhân, biện pháp Hoạt động 1 - Tên hoạt động - Cảm xúc, thái độ, hành vi, trả Vì... - Nội dung của hoạt động, nhiệm lời câu hỏi, Nên... vụ, câu hỏi, bài tập... - Bài tập, sản phẩm... Có thể là... Hoạt động 2. . . Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, giáo viên thường dành nhiều thời gian chia sẻ trên mạng hơn là đối thoại trực tiếp. Khuyến nghị của biện pháp này là giáo viên có thể thành lập/ tham gia các nhóm kín, những hộp thư chung để chia sẻ và học tập lẫn nhau. 2.2.4. Điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh thông qua đánh giá bài kiểm tra Dựa trên các nghiên cứu được trình bày trong [6,8], giáo viên cần tập trung vào nghiên cứu các bài kiểm tra của học sinh, tận dụng tối đa giờ trả bài. Khi chấm bài gặp lỗi sai của học sinh, giáo viên cần tập trung vào các vấn đề sau: (1) Đánh dẫu lỗi sai, (2) Giải thích, (3) Sửa vào bài, (4) Ghi nhật kí lỗi sai và cố gắng chỉ ra nguyên nhân, (5) Chữa những lỗi sai điển hình trên lớp. Giáo viên cần xem lại (4) để thiết kế những hoạt động dự kiến sai lầm dễ mắc của học sinh. Từ đó giúp học sinh trưởng thành hơn. 72
  7. Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh... 2.3. Bình luận kết quả nghiên cứu Trong hai năm 2012, 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm giúp đỡ 6 giáo viên trẻ về việc sử dụng các kĩ thuật để nâng cao hiệu quả của đánh giá quá trình học tập của học sinh. Các giáo viên tham gia thử nghiệm bao gồm Phan Kim Chi, Nguyễn Hữu Hải (tốt nghiệp 2011), Nguyễn Quỳnh Anh, Vũ Anh Tuấn (Tốt nghiệp 2012), Hoàng Thanh Bình, Đặng Thị Minh Tâm (Tốt nghiệp 2013) giảng dạy tại trường Nguyễn Tất Thành, Alpha school (theo mô hình lớp học truyền thống), trung tâm Topper, trung tâm POMATH (theo mô hình nhóm nhỏ với sự phân hóa cao). Sáu giáo viên này cùng tự nguyện tham gia nhóm nghiên cứu và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giảng dạy. Các bước nghiên cứu bao gồm: 1. Đào tạo bổ sung để nhận thức đúng về vai trò của đánh giá quá trình học tập của học sinh, có thể biết thêm những kĩ thuật đánh giá hiệu quả (biện pháp lập kế hoạch, sử dụng kĩ thuật [7]). Chúng tôi đã chia sẻ và rèn luyện cho các giáo viên này các kĩ thuật, biện pháp được nêu ở mục 2.2 để tăng hiểu biết cho GV về đánh giá quá trình học tập. GV tự luyện tập và luyện tập theo nhóm bằng phương pháp vi mô để rèn luyện kĩ năng. 2. Thực hành, áp dụng: chia sẻ trong nhóm sinh hoạt chuyên môn với sự giúp đỡ của chuyên gia (viết nhật kí, chia sẻ,...). Trong nội dung này, chúng tôi đồng hành với GV trong các bài giảng hoặc qua các video ghi hình. Chúng tôi áp dụng mô hình nghiên cứu bài học (Lesson study) để giúp GV làm quen và rèn luyện mô hình sinh hoạt chuyên môn này. Kết quả cho thấy, khi được đào tạo các giáo viên đều có biến chuyển nhận thức về vai trò của đánh giá, hào hứng thực hành, sử dụng các kĩ thuật (thông qua chia sẻ nhật kí đào tạo). Những biện pháp giáo viên thường sử dụng đó là: lập kế hoạch và viết nhật kí, chia sẻ trên diễn đàn, trên nhóm. Giáo viên thường dùng kĩ thuật: Câu hỏi một phút và phiếu học tập. Tuy nhiên, khi sang giai đoạn (2), giáo viên gặp những khó khăn sau: - Kì vọng quá mức, ôm đồm các kĩ thuật mà không hình dung ra sự cần thiết của phối hợp kĩ thuật hoặc chỉ áp dụng từ từ (6/6 GV gặp khó khăn này). Khi lập kế hoạch, giáo viên thường chưa trả lời được: vì sao sử dụng kĩ thuật này mà không phải là sử dụng kĩ thuật khác, những hạn chế của kĩ thuật, ham sử dụng nhiều kĩ thuật, bị "cháy thời gian" vì học sinh chưa có thói quen (5/6 GV gặp khó khăn này). - Lúng túng khi lựa chọn kĩ thuật. Điều này xảy ra trong 3 tháng đầu đối với cả 6 giáo viên. Một số giáo viên như Tâm [6], vì lí do chịu áp lực từ hiệu quả dạy học theo tiêu chí truyền thống nên giáo viên này chưa thực sự thấy cần thiết phải thành thạo một số kĩ thuật mới. Khi đó, chúng tôi phải giúp Tâm sử dụng các kĩ thuật để việc đánh giá truyền thống có hiệu quả hơn (chấm bài và chữa bài). - Chưa sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá quá trình học tập. Giáo viên Hải, Quỳnh Anh, Tuấn thực hành sử dụng các kĩ thuật kết hợp với đổi mới hình thức tổ chức, dạy học bằng dự án, tổ chức nhóm hợp tác. Họ lúng túng khi quy đổi về kết quả truyền thống. Trong chia sẻ, họ băn khoăn vì tính ưu việt của kĩ thuật nếu các tiêu chí đánh giá đó không được quy ra điểm. Bên cạnh đó, vì ham sử dụng nhiều kĩ thuật nên chính họ gặp khó khăn bị lẫn lộn, làm loãng mục tiêu dạy học. - Thấy khó khăn, gần như không áp dụng. Đó là trường hợp của giáo viên Chi. Do mục đích dạy học là "luyện thi" nên những kĩ thuật nhằm điều chỉnh quá trình học tập không thấy có nhiều hiệu quả (trích nhật kí và chia sẻ). 3. Kết luận Từ các nghiên cứu thực nghiệm đối với 6 giáo viên, cùng với tham khảo các tài liệu [8,10] chúng tôi có thể rút ra các kết luận sau: 1. Đánh giá với tư cách là một khâu, một bộ phận không thể thiếu của dạy học, được thực 73
  8. Chu Cẩm Thơ hiện sau một quá trình học tập nhất định, đó là quá trình thu thập, xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm đúng đắn của giáo viên, của các nhà quản lí, của chính bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến bộ hơn. Kết quả của kiểm tra, đánh giá giúp cho các nhà quản lí có cơ sở đi đến những quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung dạy học, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, xác định hiệu quả hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên hay một chương trình cụ thể nào đó. Để khuyến khích giáo viên làm tốt đánh giá quá trình học tập của học sinh thì đòi hỏi có sự thống nhất về thể chế của nhà trường. Với sự ra đời của các công văn hướng dẫn sự tự chủ của chương trình nhà trường, về đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ giáo dục và đào tạo thì cần thêm một bước nữa để giúp các nhà quản lí, nhà giáo biết cách sử dụng kĩ thuật đánh giá quá trình, đặc biệt là sự "quy đổi" kết quả đánh giá tương ứng với những đánh giá truyền thống. 2. Khi sử dụng một phương pháp đánh giá nào đó đều có ảnh hưởng đến cách dạy của giáo viên cách học của học sinh. Do đó, việc yêu cầu giáo viên sử dụng các kĩ thuật đánh giá cụ thể là một việc cần thiết. Tuy nhiên, tần suất sử dụng là một vấn đề được quan tâm. Sự phong phú của kĩ thuật được sử dụng một mặt làm giáo viên phải linh hoạt, chuyên môn vững vàng, một mặt lại làm học sinh không thể chủ quan theo kiểu "học gì thi nấy", "biết được đánh giá gì để học đối phó". 3. Tạo ra môi trường và khuyến khích giáo viên. Trước hết giáo viên cần nhận thức đúng đắn, với tinh thần khoa học về vai trò, ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá; đồng thời coi kiểm tra, đánh giá là động lực thay đổi cải tiến từng bước chất lượng các hoạt động giảng dạy, giáo dục của mình. Giúp họ được tự chủ tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng về đánh giá nói chung và kiến thức, kĩ năng soạn các loại bài kiểm tra nói riêng. Mỗi giáo viên giảng dạy các bộ môn phải được học tập trang bị đủ kiến thức và kĩ năng để tự mỗi người làm chủ quá trình giảng dạy, gắn quá trình giảng dạy với việc đánh giá kết quả học tập của từng học sinh; mỗi giáo viên cần nâng cao khả năng đánh giá đúng thực chất năng lực của từng học sinh. 4. Việc sinh hoạt chuyên môn, cần tạo môi trường để giáo viên được chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm và rèn luyện các kĩ năng: lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu dạy học, giáo dục; phát triển các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục; quản lí, chấm điểm và giải thích các kết quả đạt được từ các phương pháp đánh giá của giáo viên và các yếu tố khác; sử dụng các kết quả đánh giá khi có những quyết định về học sinh, kế hoạch dạy học, phát triển chương trình và đổi mới trường học; phát triển những năng lực đã có của học sinh khi sử dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá; thông tin những kết quả đánh giá đến học sinh, phụ huynh học sinh, các nhà giáo dục và những người quan tâm khác; năng nhận biết và tránh sử dụng bất hợp pháp các phương pháp và thông tin làm sai lệch kết quả kiểm tra, đánh giá; ..v..v.. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phan Thị Thanh Hội, 2012. Đánh giá trong lớp học. Tài liệu sinh hoạt xemina về đổi mới đồng bộ Phương pháp dạy học, Kiểm tra đánh giá, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. [3] Lê Đức Ngọc, 2013. Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện kiểm tra đánh giá trong giáo dục đào tạo. Kỉ yếu Hội thảo Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục trong nhà trường phổ thông, Bộ giáo dục và đào tạo, tr. 43-57. [4] Trần Trung Ninh, 2013. Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng Nghiên cứu bài học. Tài liệu tập huấn tổ trưởng chuyên môn, Bộ Giáo dục và Đào tạo. [5] Chu Cẩm Thơ, 2013. Một số trao đổi về phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá môn Toán phổ thông. Kỉ yếu Hội thảo Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục trong nhà trường phổ thông, Bộ giáo dục và đào tạo, tháng 12, tr. 83-89. [6] Chu Cẩm Thơ, 2014. Rèn luyện năng lực quan sát hành vi học sinh cho sinh viên sư phạm. Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Tập 59, số 2A, tr. 29-35. 74
  9. Biện pháp giúp đỡ giáo viên mới ra trường đánh giá quá trình học tập của học sinh... [7] Chu Cẩm Thơ, 2014. Biện pháp kiểm tra đánh giá của giáo viên giúp điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh trong dạy học môn Toán ở THCS. Tạp chí giáo dục, số 335, tr. 32-35. [8] Kathleen Stupupf Jongsina, Northside schools, San Antonie, 1989. The reading teacher. Proquest central, pp. 264. [9] Margaret. E. McIntosh, Formative assessment Mathematics, 1997. The clearing house. Proquest central, pp. 92. [10] Margaret Imhof, Chiristin Picard, 2009. View on using portfolio in teacher education. Teaching and teacher education, pp. 149-154. [11] NUS, 2001. Learning to teach, teaching to learn: a handbook for NUS teachers, 4th . National University of Singapore. [12] Ruthven, K., 2005. Improving the development and warranting of good practice in teaching. Cambridge Journal of Education, 35(3), pp. 407-426. [13] Saito, E., Harun, I., Kuboki, I., and Sumar, H., 2007. A study on the partnership between school and university to improve mathematics and science education in Indonesia. International Journal of Educational Development, 27 (2), pp. 94-204. [14] Saito, E., Harun, I., Kuboki, I., and Tachibana, H., 2006. Indonesian lesson study in practice: Case study of Indonesian mathematics science teacher education project. Journal of In-service Education, 32 (2), pp. 171-184. [15] Saito, E., Sumar, H., Harun, I., Ibrohim, K. I., and Tachibana, H., 2006. Development of school-based in- service training under an Indonesian mathematics and science teacher education project. Improving Schools, 9 (1), tr. 47-59. [16] Sphilemon Ntenza, 2006. Education studies in Mathematics. Springer, 61: pp. 321-345. [17] James H. Stronge, 2007. Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả. Dịch giả: Lê Văn Canh, Nxb Giáo dục Việt Nam. ABSTRACT Measure that could help young teachers assess formative learning Assessment is the important part of the teaching process and assessment results can affect the content and the method of teaching mathematics. Mathematics teachers need not only specialist knowledge but also the ability to assess their students comprehensively. Young teachers often have difficulties in the teaching process. They lack experience and they feel that they are under pressure. This paper focuses on ways to carry out assessments as learning that study groups helped young teachers and gives them some advices to implement measures effectively. Keywords: Assessment as learning, classroom assessment, young teachers, mathematics teaching methods. 75
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2