BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Trúc Thủy

BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ 18 – 36 THÁNG TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Trúc Thủy

BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ 18 – 36 THÁNG TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. LÊ XUÂN HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài“Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn

gốc.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu này.

Tác giả

Nguyễn Thị Trúc Thủy

1

lập cho trẻ 18 - 36 tháng tại các trường mầm non” là công trình nghiên cứu của

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý thầy cô đã giảng

dạy trong chương trình Cao học – Chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục mầm

non) – Khóa 23 cũng như Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện về chất lượng giáo

dục, cũng như truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về giáo dục học mầm

non làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Xuân Hồng đã tận tình hướng dẫn tôi

trong thời gian thực hiện luận văn. Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có

giai đoạn không được thuận lợi như những gì Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo đã cho

tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và giáo viên tại trường

mầm non mà tôi đi khảo sát đã tận tình giúp đỡ trong việc tham gia trả lời bảng

khảo sát cũng như góp ý về những thiếu sót trong bảng khảo sát.

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện

tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên

luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và

các anh chị học viên.

Tp.HCM, tháng 09 năm 2014.

Tác giả

2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các hình ảnh

MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 9

1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................................9

2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................................... 11

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ........................................................................................... 11

4. Giả thuyết khoa học .................................................................................................................... 12

5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................................. 12

6. Giới hạn phạm vi đề tài............................................................................................................... 12

7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................................ 12

8. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu.......................................................................................... 13

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................................................... 14

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................................... 14

1.1.1. Trên thế giới .................................................................................................................... 14

1.1.2. Tại Việt Nam ...................................................................................................................... 15

1.2. Lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng

tại trường mầm non ............................................................................................................... 18

1.2.1. Một số khái niệm công cụ ............................................................................................... 18

1.2.2. Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng là gì? .............. 22

1.2.3. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ........ 24

1.2.4. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập trong ăn uống cho trẻ 18 – 36 tháng.... 27

1.2.5. Yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực ở trẻ 18 – 36 tháng

tại trường mầm non ........................................................................................................ 30

1.2.6. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cho trẻ 18 – 36 tháng ............. 36

1.2.7. Đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng .................................................................... 40

3

Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 44

2.1. Khái quát việc tổ chức nghiên cứu thực trạng ..................................................................... 44

2.1.1. Mục đích – Yêu cầu ........................................................................................................ 44

2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ điều tra thực trạng ................................................................... 44

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 44

2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập

cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ........................................................................... 45

2.2.1. Thông tin chung về khách thể nghiên cứu .................................................................... 45

2.2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. ............................................................ 49

2.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

.................................................................................................................................................. 65

2.3.1. Khái quát về thực trạng ................................................................................................. 65

2.3.2. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại trường mầm

non .................................................................................................................................... 66

2.3.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại trường mầm

non .................................................................................................................................... 70

2.4. Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ....................................................................................... 74

2.4.1. Những nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ............................................................... 74

2.4.2. Những nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập của trẻ ....................................................................................... 78

2.5. Thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ

18 – 36 tháng tại trường mầm non. ....................................................................................... 81

Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH

CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ ........................................................................... 87

3.1. Xây dựng một số biện pháphình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36

tháng tại trường mầm non ..................................................................................................... 87

3.1.1. Nhóm biện pháp tác động lên trẻ .................................................................................. 87

3.1.2. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường giáo dục mầm non .................................... 96

3.1.3. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình trẻ ............................................. 104

3.2. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp hình thành thái

4

độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ... 116

3.2.3. Khái quát quá trình khảo sát ....................................................................................... 116

3.2.4. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất ........ 116

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ............................................................... 123

5

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 132

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Thành phố Hồ Chí Minh Tp. HCM :

Quận Q. :

giáo dục mầm non GDMN :

Thứ tự TT :

trang Tr. :

tiến sĩ TS. :

ĐLC : độ lệch chuẩn

ĐTB : điểm trung bình

6

Nxb : nhà xuất bản

DANH SÁCH CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1. Tần số bữa ăn của trẻ tại trường .......................................................... 4950

Bảng 2.2. Thực phẩm bổ sung ngoài các bữa ăn cho trẻ ..................................... 5152

Bảng 2.3. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ .......................................................... 5253

Bảng 2.4. Hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ ......................................................... 5556

Bảng 2.5. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn ................................................................. 5556

Bảng 2.6. Nhân sự hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường ................................ 5758

Bảng 2.7. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh ........................................ 5958

Bảng 2.8. Đánh giá hiểu biết của giáo viên ......................................................... 6162

Bảng 2.9. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của

trẻ 18 – 36 tháng ...................................................................................... 65

Bảng 2.10. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ

18 – 36 tháng ....................................................................................... 6467

Bảng 2.11. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng

tại trường mầm non .............................................................................. 6671

Bảng 2.12. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng

tại trường mầm non .............................................................................. 7072

Bảng 2.13. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái

độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ...................................................... 7476

Bảng 2.14. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái

độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ...................................................... 7880

Bảng 2.15. Bảng số điểm và tỉ lệ % tổng điểm các biện pháp đã được sử dụng

hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng

tại trường mầm non .............................................................................. 8182

Bảng 3.1. Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp

chung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 –

36 tháng tại trường mầm non ........................................................... 117119

Bảng 3.2. Đánh giá về tính cần thiết của những biện pháp cụ thể hình thành

thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18-36 tháng tại trường

7

mầm non .......................................................................................... 118121

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1.

Phân bố tỉ lệ giữa giáo viên nhóm lớp 18 – 24 tháng và 25 – 36 tháng ................................................................................................ 4647

Biểu đồ 2.2. Khoảng độ tuổi của giáo viên .......................................................... 4647

Biểu đồ 2.3. Thâm niên công tác của giáo viên ................................................... 4748

Biểu đồ 2.4. Trình độ học vấn của giáo viên ....................................................... 4748

Biểu đồ 2.5. Phân bố số trẻ trong lớp .................................................................. 4849

Biểu đồ 2.6. Phân bố số cô trong lớp ................................................................... 4950

Biểu đồ 2.7. Tần số cử ăn của trẻ tại trường ........................................................ 5051

Biểu đồ 2.8. Tần suất xuất hiện các thực phẩm bổ sung ngoài bữa ăn cho trẻ .... 5152

Biểu đồ 2.9. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ...................................................... 5253

Biểu đồ 2.10. Hình thức tổ chức cho trẻ ăn ........................................................... 5556 Biểu đồ 2.11. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn ............................................................ 5657 Biểu đồ 2.12. Nhân sự hỗ trợ giáo viên tổ chức cho trẻ ăn ................................... 5859 Biểu đồ 2.13. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh về vấn đề ăn uống

của trẻ .............................................................................................. 6061

Biểu đồ 2.14. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của

trẻ 18 – 36 tháng .............................................................................. 6464

Biểu đồ 2.15. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của

trẻ 18 – 36 tháng .............................................................................. 6566 Biểu đồ 2.16. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống .................................. 6768 Biểu đồ 2.17. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống .................................. 6869 Biểu đồ 2.18. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn .................................................... 6970 Biểu đồ 2.19. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống .................................. 7273 Biểu đồ 2.20. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống .................................. 7374 Biểu đồ 2.21. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn .................................................... 7374 Biểu đồ 2.22. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành

thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ........................................... 7778

Biểu đồ 2.23. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành

thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ........................................... 8081

Biểu đồ 2.24. Các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích

8

cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ................ 8485

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1. Một số hình ảnh tại “Phiên Chợ Ánh Dương” ....................................... 8990

Hình 3.2. Hoạt động tham quan vườn rau sạch tại Hóc Môn ................................ 9091

Hình 3.3. Hoạt động làm kẹo dẻo .......................................................................... 9192

Hình 3.4. Tài liệu thực đơn trường mầm non Nhật Bản đã gởi cho một phụ

huynh nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ. ................................ 9293

Hình 3.5. Trang trí món ăn phù hợp với chủ đề. ................................................... 9899

Hình 3.6. Một số khuôn tạo hình cơm cho trẻ. ...................................................... 9899

Hình 3.7. Một số cách bày trí thức ăn đơn giản cho trẻ có thể thực hiện tại

trường mầm non ................................................................................... 99100

Hình 3.8. Một số đồ dùng sử sụng cho trẻ ăn .................................................... 101102

Hình 3.9. Hình ảnh những vật dụng một ngày trẻ Nhật Bản mang đi học ........ 102103

Hình 3.10. Các bé trường mầm non Bồ Câu Nhỏ - Q.1 ăn chiều với tiệc tự chọn 104105

Hình 3.11. Sách tham khảo hướng dẫn cách chế biến thức ăn cho trẻ ................ 109110

Hình 3.12. Bài báo, tạp chí về cách chăm sóc trẻ ................................................ 109110

Hình 3.13. Tổ chức các buổi giao lưu, huấn luyện chăm sóc bé ăn dặm ............ 110111

Hình 3.14. Bảng độ thô thực phẩm theo từng giai đoạn ADKN cho bé. ............. 112113

Hình 3.15. Bữa ăn của trẻ ăn dặm theo phương pháp ADKN thường ăn riêng

theo từng món. ................................................................................... 112113

Hình 3.16. Ghế ăn là một trong những đồ dùng không thể thiếu khi tập cho trẻ

ăn dặm theo phương pháp này. .......................................................... 113114

9

Hình 2.17. Hình ảnh các bé ăn dặm theo phương pháp BLW ............................... 11415

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Trẻ em chính là những công dân và chủ nhân tương lai của đất nước. Quan tâm

đến trẻ em là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Cùng với thế giới, Việt Nam là

một trong những nước đầu tiên ký vào Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Điều đó

chứng tỏ rằng, trẻ em cần phải được hưởng sự quan tâm cần có của cộng đồng. Bởi tất

cả trẻ em sinh ra –lớn lên cần được sống trong sự quan tâm, nuôi nấng, dạy dỗ để trở

thành công dân hữu ích cho tổ quốc, nguồn nhân lực có đầy đủ phẩm chất và năng lực

để sống và làm việc trong xã hội.

Phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ mầm non là một trong những nhiệm vụ

hàng đầu của ngành giáo dục mầm non nước nhà. Để đạt được điều đó, trước hết cần

phải xây dựng cho trẻ một nền tảng thể lực mạnh khỏe, một tinh thần minh mẫn, linh

hoạt. Trong “Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non” đã viết:

Song song với công tác giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một nhiệm vụ

quan trọng hàng đầu trong các cơ sở giáo dục mầm non. Mục tiêu của giáo dục

mầm non là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm

mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học

lớp một. Để trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh ngay từ những năm tháng đầu

đời cần phải có một chế độ dinh dưỡng hợp lý [39, tr.1].

Phát triển về mặt thể chất chính là một trong các nội dung phát triển toàn diện

hàng đầu cho trẻ – Đây là nền tảng và điều kiện cần để đạt được những kết quả cao

hơn ở các mặt khác. Đứa trẻ có sự phát triển bình thường về thể chất có khả năng phát

triển toàn diện về các mặt còn lại nhiều hơn một đứa trẻ có sức khỏe kém. Phát triển

thể chất cho trẻ mầm non, cụ thể nhóm trẻ 18 – 36 tháng là sự phối hợp chăm sóc giữa

gia đình và trường mầm non, xoay quanh các hoạt động tổ chức cho trẻ ăn, ngủ và các

hoạt động rèn luyện thể chất. Cũng trong lời ngõ của Vụ Giáo dục Mầm Non khi soạn

9

thảo “ Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non” đã có đề cập:

Thời gian hoạt động, ăn, ngủ của trẻ ở trường mầm non chiếm tỷ lệ khá lớn

so với thời gian trong ngày. Vì vậy, cùng với gia đình, trường mầm non có

vai trò quan trọng trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ… [39, tr.1].

Thật vậy, để đảm bảo mục tiêu phát triển thể chất cho trẻ, cần thiết đáp ứng một

chế độ dinh dưỡng phù hợp, chế độ vận động hài hòa giúp trẻ có một cơ thể khỏe

mạnh, phát triển cân đối, thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường mầm non, hình

thành ở trẻ một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân [3, tr.2]. Cụ thể

hơn là tạo lập cho trẻ thái độ ăn uống tích cực và tự lập ngay từ những năm tháng đầu

đời.

Ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Đây là con đường

hữu hiệu nhất đảm bảo cho việc cung cấp đầy đủ các chất cần thiết cho sự phát triển

của trẻ mầm non. Nhưng thực tế cho thấy đã có rất nhiều vấn đề bất cập xảy ra xoay

quanh vấn đề ăn uống của trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non. Nổi bật nhất là tháng 12

năm 2013, báo chí và độc giả bàng hoàng khi xem những đoạn phim ngắn được phát

tán từ vụ bạo hành trẻ tại cơ sở giáo dục mầm non Phương Anh. Nguyên nhân do các

bé khó ăn, hay nôn ói, dẫn đến bảo mẫu đánh đập, hăm dọa... Đây chỉ là một trường

hợp rầm rộ hơn so với các trường hợp khác, nhưng cho chúng ta thấy, đa số các trường

hợp bạo hành trẻ chủ yếu xảy ra trong giờ ăn. Áp lực công việc, sự thiếu hiểu biết về

kiến thức chăm sóc trẻ, cộng với trẻ biếng ăn hay quấy khóc khiến giáo viên dễ nóng

nảy dẫn đến nhiều hành vi xâm hại đến thân thể của trẻ.

Mặc khác, độ tuổi 18 – 36 tháng nhiều trẻ dễ mắc phải những vấn đề tồn tại trong

các bữa ăn trong các cơ sở giáo dục mầm non, điều này gây nên những ảnh hưởng rất

lớn đến chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. Vấn đề này đã và đang đặt ra nhiệm vụ

cho người chăm sóc trẻ tại gia đình và trong các cơ sở giáo dục mầm non là làm thế

nào hình thành cho trẻ thói quen tốt trong ăn uống ngay từ nhỏ, cụ thể hình thành cho

trẻ sự yêu thích và hứng thú khi tham gia bữa ăn cũng như một số thói quen tự phục vụ

bản thân.

Trên một phương diện khác, theo các chuyên gia dinh dưỡng, nguồn dinh dưỡng

đầy đủ rất quan trọng với cơ thể, điều đó càng quan trọng hơn đối với trẻ em vì có hấp

10

thu tốt các thức ăn được cung cấp trực tiếp, trẻ mới có đủ năng lượng cho sự phát triển

toàn diện. Trẻ sẽ không đủ nguồn dinh dưỡng cần thiết nếu như việc ăn uống không

đảm bảo các nhu cầu cả về chất và lượng. Do đó, vấn đề đặt ra cho các trường mầm

non bắt nguồn từ ngay khâu tổ chức bữa ăn, làm thế nào để xây dựng cho trẻ bầu

không khí vui vẻ, thân thiện trong khi ăn cũng như sự hứng thú với các bữa ăn, tạo lập

cho trẻ thái độ tích cực và đồng thời hình thành một số thói quen tự phục vụ cho trẻ.

Muốn làm được điều này, trước hết giáo viên mầm non cần có những hiểu biết về đặc

điểm tâm sinh lí cũng như thói quen, hành vi trong ăn uống của trẻ, đánh giá được mức

độ tích cực và tự lập trong các bữa ăn hàng ngày, đồng thời biết cách xây dựng môi

trường và một số biện pháp phù hợp với sự phối hợp cùng với gia đình đề ra những

biện pháp thích hợp nhằm phát huy tính tích cực và tự lập của trẻ trong những bữa ăn

tại trường cũng như về nhà.

Xuất phát từ nguyện vọng nghiên cứu cùng với những nhu cầu cấp thiết từ thực

tế, luận văn chọn đề tài “Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho

trẻ 18 - 36 tháng tại các trường mầm non”. Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về mặt

lí luận và đề xuất những biện pháp cải thiện có thể ứng dụng vào thực tế trường mầm

non, mục đích góp phần hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ, đáp ứng

những nhu cầu cơ bản, đáp ứng điều kiện cần và tạo điều kiện đủ cho trẻ để đạt được

những kết quả mong muốn cao hơn về mặt giáo dục.

2. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ, nguyên nhân

gây ảnh hưởng tiêu cực và các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập

cho trẻ. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và

tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ 18 – 36 tháng tại

trường mầm non.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

11

lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

4. Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được những biện pháp tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại

trường mầm non theo hướng tạo môi trường thân thiện, thoải mái và hấp dẫn trẻ sẽ góp

phần cải thiện thái độ thụ động và hình thành thái độ tích cực và tự lập trong ăn uống ở

trẻ.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

5.2. Khảo sát thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ, mức độ hiểu

biết của giáo viên và các biện pháp đã được áp dụng để hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng.

5.3. Đề xuất đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

khi ứng dụng tại trường mầm non.

6. Giới hạn phạm vi đề tài

- Đề tài nghiên cứu thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng,

hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18

– 36 tháng và tìm hiểu một số biện pháp đã được giáo viên áp dụng tại một số trường

mầm non Tp. HCM.

- Đề tài không thử nghiệm các biện pháp tác động mà chỉ dừng lại ở mức độ đề

xuất biện pháp và khảo sát tính cần thiết – tính khả thi của nó.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Qua việc phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan và kết hợp với những vấn

đề lý luận cơ bản của đề tài, luận văn xây dựng một hệ thống các khái niệm công cụ và

khái niệm liên quan để định hướng cho việc xây dựng công cụ nghiên cứu cũng như

toàn bộ quá trình khảo sát thực tiễn về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực

và tự lập của 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này được thiết kế nhằm khảo sát và thu nhận thông tin từ cán bộ

12

quản lí, giáo viên mầm non trên diện rộng. Nội dung bảng hỏi gồm có nhiều phần,

giúp thu thập thông tin đa dạng về thực trạng chăm sóc trẻ thông qua việc tổ chức bữa

ăn hàng ngày, tìm hiểu về hiểu biết của giáo viên, cách thức thực hiện và các biện

pháp đã ứng dụng với mục đích hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ

18 – 36 tháng tại trường mầm non.

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng bảng hỏi khảo sát sự đồng tình của các chuyên

gia về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất với mục đích hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

7.2.2. Phương pháp quan sát

Quan sát bữa ăn của trẻ tại trường mầm non để thu thập thông tin cần thiết cho đề

tài nghiên cứu. Trong quá trình quan sát, người nghiên cứu dựa trên phiếu quan sát để

ghi nhận biểu hiện của trẻ về tính tích cực và tự lập trong ăn uống. Đồng thời kết hợp

với một số biện pháp khác để đi đến kết luận chung về mức độ biểu hiện của trẻ ở từng

nội dung cụ thể hơn.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ nhi, cán bộ phòng mầm non, ban giám

hiệu, giáo viên và phụ huynh để thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá cần thiết liên quan

đến vấn đề. Phương pháp này được tiến hành để tìm hiểu sâu hơn và hỗ trợ cho việc

xác thực hơn tính chính xác trong việc trả lời bảng hỏi.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được và phân

tích các dữ kiện, định lượng số liệu thông qua các thông số: Điểm trung bình, độ lệch

chuẩn, các kiểm nghiệm thống kê, tỉ lệ phần trăm…

8. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

8.1. Về mặt lý luận

Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

8.2. Về mặt thực tiễn

Đề tài đóng góp được một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. Chủ yếu là một số thay đổi trong việc

13

bày trí và cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

Nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe là một trong những đề tài thu hút sự quan

tâm của chuyên gia dinh dưỡng, nhà tâm lý và giáo dục (nghiên cứu về hành vi ăn

uống, các chứng biếng ăn tâm thần…). Đầu tiên phải nhắc đến chính là Hyporcat (460

– 377 TCN). Ông đã chỉ rõ vai trò của dinh dưỡng trong vấn đề bảo vệ sức khỏe tùy

từng lứa tuổi, tùy vào thời tiết mà có chế độ dinh dưỡng phù hợp, nhất là đối với trẻ

nhỏ. Quan điểm của ông cho rằng: Cơ thể của trẻ cần nhiều nhiệt hơn người lớn do đó

cần dinh dưỡng đầy đủ để phát triển thể chất. Chúng ta thường thấy trẻ nhỏ rất hiếu

động, trẻ càng hiếu động càng tiêu hao nhiều năng lượng dẫn đến những nhu cầu về

dinh dưỡng. Đáp ứng dinh dưỡng cho trẻ là đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển về thể

chất. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết vẫn là đáp ứng dinh dưỡng một cách hợp lí như

Hyporcat nói chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống hợp lý.

Thật vậy, nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng tuổi thọ và sức khỏe khi về già là kết

quả của lối sống khi còn trẻ. Do đó, cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý ngay từ khi còn

trong bào thai và những năm tháng đầu đời. Một con người sinh ra khỏe mạnh, được

chăm sóc hợp lý, trong tương lai sẽ là một người già khỏe mạnh. Vì vậy cần chú ý

dinh dưỡng trong cả cuộc đời. Ăn uống hợp lý phù hợp cho từng độ tuổi, đảm bảo đủ

dưỡng chất, đa dạng thực phẩm kết hợp với hoạt động thể chất rất quan trọng đối với

sức khỏe và cuộc sống của mọi người ở tất cả mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi mầm

non.

Hay nhà phân tâm học người Áo - S. Freud (1835 – 1993) nhận thấy rằng: Sự ăn

uống có ảnh hưởng rất lớn đến cân nặng của trẻ. Ông đã khẳng định: Trong trường hợp

thiếu ăn, các xương cốt vẫn dài ra, trái lại, cân nặng đứng im hay sụt cân. Điều đó cho

thấy được tầm quan trọng của ăn uống đối với trẻ em là rất lớn. Trẻ cần có một chế độ

sinh hoạt hợp lí bên cạnh chế độ dinh dưỡng thích hợp để có thể phát triển cân đối.

Trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ của vườn trẻ mẫu giáo”

(1967) của tác giả M.Đ.Côvryghina mới đưa ra một số vấn đề cần lưu ý khi tổ chức

14

bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non như: Cho trẻ ăn tuỳ thích, không được bắt buộc trẻ

ăn mới có thể giúp dạ dày mới tiết dịch mạnh, giữa các bữa ăn không bao giờ cho ăn

bánh kẹo ngọt, cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm khẩu vị, làm ức chế trung tâm

điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn uống đúng đắn. Ngoài ra, thức ăn có

hình thức đẹp, mùi vị hấp dẫn thì sẽ gây cảm giác thèm ăn của trẻ. Mọi khẩu phần

giành cho trẻ em thì phải cho ăn cùng một lúc để trẻ quen ăn hết khẩu phần.

Cynthia Bulik1 đã chỉ ra tác động của các yếu tố di truyền đến chứng biếng ăn

trong nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng biếng ăn trên cơ sở tác động của các yếu tố

sinh học” Ông khẳng định giữa tình trạng biếng ăn hiện tại của trẻ có vấn để liên quan

đến di truyền từ cha mẹ hay không, tình hình này tồn tại một cách khá lâu dài.

Rexanne Dryden – Edwards khi nghiên cứu mối liên quan giữa não bộ và tình

trạng biếng ăn của trẻ đã cho rằng, sự bất thường của một phần não bộ hoặc một số

vấn đề trong quá trình nuôi dưỡng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng biếng ăn

của trẻ…

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề như:

Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S - “Trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh: Chế độ

dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong môi trường chăm sóc trẻ”;

Gesell A, Ilg FL.

Hành vi ăn của trẻ sơ sinh - Philadelphia: JBJB Lippincott, 1937… Lý giải

những ẩn chứa của chứng rối loạn ăn uống: Một số biện pháp chữa trị và phục hồi

[40]; Ảnh hưởng của môi trường đối với việc ăn uống của trẻ em [45]. Yếu tố quyết

định tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mầm non nông thôn trong Andhra Pradesh

[42]. Các yếu tố của chế độ ăn uống và chế độ ăn uống đầy đủ cho trẻ em mầm non ở

Bangladesh [43]. Ăn uống cho đúng 8-18: Dinh dưỡng giải pháp cho cha mẹ [44]…

1.1.2. Tại Việt Nam

Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh (Thế kỷ XIV) đã từng nói: “Thức ăn là thuốc, thuốc

là thức ăn” Khoa học dinh dưỡng cũng cho chúng ta biết thức ăn, các chất dinh dưỡng

làm vật liệu xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và thay thế thông

qua quá trình hấp thụ và chuyển hoá các chất trong cơ thể. Ngược lại, khi cơ thể không

15

được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là 1 Trường Đại học North Caroline – Do Chapel Hill làm chủ nhiệm đề tài

nguyên nhân gây ra bệnh tật, như suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt.

Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với cơ thể đã được y khoa xác nhận và đặt ra

nhiều nội dung về dinh dưỡng hợp lí cho sức khỏe con người.

Trong quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước, luận văn tìm thấy

một số bài báo, sáng kiến kinh nghiệm, các công trình nghiên cứu cũng như một số

đầu sách có liên quan đến vấn đề như:

“Chất lượng bữa ăn và chế độ dinh dưỡng cho trẻ”2, “Giáo dục dinh dưỡng và

sức khỏe trong trường mầm non”3.

“Một vài nhận xét về tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn của trẻ từ 25 - 60

tháng tại 2 nhà trẻ ở Hà Nội và Hà Tây”4….

Một số luận văn, luận án cũng đề cập đến các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng

và giáo dục dinh dưỡng như:

“Xây dựng thực đơn và dinh dưỡng cho trẻ mầm non tại trường mầm non Bình

Phú”5.

“Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu

giáo 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động ở trường mầm non Hồng Thái Tây”6.

“Tình trạng dinh dưỡng trẻ em tuổi nhà trẻ tại Tp. HCM và các yếu tố ảnh

hưởng”7...

Và một số đầu sách như: “Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non”8. “Giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp”9…

Ngoài ra, cần nói đến các nghiên cứu do TS. Huỳnh Văn Sơn và nhóm nghiên

cứu đã thực hiện như:

2 Tác giả Nguyễn Thị Thuận, Tạp chí Khoa học - Công nghệ - Môi trường, năm 2009. 3 Tác giả Lê Thị Mai Hoa, Đặng Hồng Phương, Tạp chí Giáo dục, năm 2008. 4 Tác giả Tuấn Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Yến. Tạp chí Nghiên cứu Y học, năm 2005. 5 Tác giả Dương Thị Mai, năm 2002. 6 Tác giả Nguyễn Thị Miền, năm 2011. 7 Tác giả Đỗ Văn Dũng – Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Dược TP. HCM, năm 1999. 8 Vụ Giáo dục Mầm non 9 Tác giả BS. Lê Thu Hương (Chủ biên), Phạm Thị Mai Chi, Vũ Yến Khanh. Nhà xuất bản Giáo dục, 2008

16

Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi [26].

Thực nghiệm một số biện pháp khắc phục tình trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1

đến 3 tuổi [27].

Thực trạng việc sử dụng các biện pháp khắc phục tình trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ

từ 1 đến 6 tuổi của các phụ huynh hiện nay [28].

Nhận thức của phụ huynh về vấn đề biếng ăn tâm lý ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi [29].

Biểu hiện biếng ăn tâm lý của trẻ từ 1 đến 6 tuổi qua đánh giá của phụ huynh

[30].

Biếng ăn tâm lí [25]…

Về thực trạng ăn uống của trẻ nhỏ, có thể đây là những nghiên cứu gần và cụ thể

nhất về thái độ cũng những biểu hiện ăn uống của trẻ. Nhìn chung, các nghiên cứu này

đã hệ thống hóa được nhiều cơ sở lí luận liên qua đến giáo dục dinh dưỡng và sức

khỏe cho trẻ, nghiên cứu chuyên sâu về các biểu hiện biếng ăn tâm lí, tìm hiểu và phân

tích các nguyên nhân tác động đồng thời đã đề xuất và khảo sát khả thi và thực nghiệm

để chứng thực mức độ thành công của biện pháp. Đây là những kết quả nghiên cứu

tâm huyết, đáng được trân trọng và có ý nghĩa đối với cộng đồng để thay đổi những

quan điểm cũ trong chăm sóc bữa ăn cho trẻ tại nhà. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên

cứu chỉ thực hiện trên đối tượng là trẻ biếng ăn tâm lí và phụ huynh, mục đích của

nghiên cứu nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục tại nhà cho trẻ, chưa đào sâu vào

vấn đề giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ tại trường mầm non.

Theo Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S trong tài liệu tập huấn “Trẻ có thói quen ăn

uống lành mạnh: Chế độ dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong

môi trường chăm sóc trẻ” đã đề cập:

Các thói quen ăn uống và các mô thức hoạt động thể lực suốt đời diễn ra sớm

trong đời của trẻ, thường là khoảng 4 tuổi, do đó việc quan trọng là trẻ phải

phát triển các thói quen ăn uống lành mạnh trong những năm đầu đời để xây

dựng nền tảng cho các thói quen lành mạnh có thể kéo dài đến tuổi trưởng

thành… Người chăm sóc cần phải đảm bảo rằng trải nghiệm của trẻ liên quan

đến thức ăn mang tính tích cực càng nhiều càng tốt. Ngay cả một trải nghiệm

tình cảm tiêu cực liên quan đến thức ăn cũng dẫn đến thái độ không lành mạnh

17

về thức ăn đó hoặc tất cả thức ăn, có thể kéo dài suốt đời [24].

Có thể thấy trên thế giới và ở Việt Nam, vấn đề dinh dưỡng của trẻ mầm non là

một trong những đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà tâm lí,

nhà giáo dục và kể cả phụ huynh của trẻ. Tầm quan trọng của việc hình thành cho trẻ

thói quen ăn uống lành mạnh trong những năm tháng đầu đời đặc biệt được quan tâm,

bởi đây là một trong những giai đoạn quan trọng định hình sớm nhân cách của trẻ. Tuy

nhiên, ta thấy đa số đề tài nghiên cứu chủ yếu thiên về lĩnh vực dinh dưỡng, vệ sinh an

toàn thực phẩm… Một ít nghiên cứu về biện pháp, cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ

mầm non. Hay gần gũi hơn là nhóm nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn xoay

quanh vấn đề biếng ăn của trẻ tại nhà. Riêng về các biện pháp hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập tuy khá quen thuộc, là mục đích mà các giáo viên mầm non và

phụ huynh luôn hướng đến, lại có rất ít đề tài đề cập.

Thực tế cho thấy việc tạo lập cho trẻ những thói quen ăn uống lành mạnh, hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ nhỏ là điều hết sức cần thiết và có ý

nghĩa to lớn. Vì vậy thực hiện nghiên cứu đề tài “Biện pháp hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập ở trẻ mầm non 18 – 36 tháng” là cần thiết.

Trước hết, luận văn tiến hành tìm hiểu một số vấn đề lí luận làm cơ sở nền tảng

cho quá trình nghiên cứu:

1.2. Lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18

– 36 tháng tại trường mầm non

1.2.1. Một số khái niệm công cụ

1.2.1.1. Khái niệm biện pháp

Theo từ điển Tiếng Việt (1992) – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thì biện pháp

chính là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.

1.2.1.2. Định nghĩa về thái độ

Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với nhiều nghiên

cứu khác nhau xuất hiện những định nghĩa khác nhau về thái độ. Tìm hiểu các định

nghĩa, ta thấy:

Theo từ điển Anh – Việt, “thái độ” - “Attitude” có nghĩa “cách ứng xử, quan

18

điểm của một cá nhân”.

Từ điển Tiếng Việt (1992) thì thái độ là“cách nhìn nhận, hành động của cá nhân

về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể

những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay

một sự việc nào đó”

Hay Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên) nhấn mạnh: “Tâm thế

- thái độ - xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần

nhận thức, xúc cảm, hành vi” [38]. Định nghĩa này ảnh hưởng bởi quan điểm của một

số nhà tâm lý Nga sẽ được trình bày cụ thể ngày tiếp theo. Ta thấy điểm chung, hầu

hết các định nghĩa trên đều có đại ý cho rằng thái độ là cách ứng xử cá nhân đối với

các tình huống, các vấn đề. Dù có khác nhau về cách thể hiện câu chữ nhưng đều được

cấu thành từ nhiều yếu tố phức tạp tạo nên.

Quay ngược lại định nghĩa đầu tiên về “thái độ”, năm 1918, W.I.Thomas và F.Znaniecki10 cho rằng thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay

không hành động khác mà được xã hội chấp nhận. Thái độ là trạng thái tinh thần của

cá nhân đối với một giá trị, đồng thời đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá

nhân.

Năm 1935, G.W.Allport11 đã đưa ra nhận định thái độ là trạng thái sẵn sàng về

mặt tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều

chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và

khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ. Ông cho rằng thái độ trên khía cạnh điều

chỉnh hành vi như một trạng thái tâm lý, thần kinh cho hoạt động. Ở cá nhân, khi sắp

sửa có những hành động diễn ra thì sẽ xuất hiện thái độ nhằm chuẩn bị và điều chỉnh

những hoạt động đó. Allport đã khái quát thái độ là gì đồng thời đề cập đến nguồn gốc,

vai trò và chức năng của nó… Từ đó, ông cho rằng thái độ có một số đặc điểm sau: Là

trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là một trạng thái có

tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ, điều khiển cũng như ảnh

10 hai nhà tâm lý học người Mỹ 11 nhà tâm lý học người Mỹ

19

hưởng đến hành vi của cá nhân.

Từ những nhận định trên, Allport đã định nghĩa thái độ là khái niệm phân biệt

nhất định và quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội hiện đại Mỹ. Định nghĩa này

được nhiều các nhà tâm lý học khác thừa nhận mặc dù ông chưa lưu ý tới ảnh hưởng

của môi trường, nhu cầu, động cơ của cá nhân đối với quá trình hình thành thái độ.

V.N.Miaxisep12 cho rằng thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống

các hành vi của con người…Năm 1935, H.Fillmore đưa ra định nghĩa mới cho rằng

thái độ là sự sẵn sằng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một

biểu tượng trong môi trường, ông khẳng định thái độ là sự định hướng của cá nhân tới

các khía cạnh khác nhau của môi trường, và thái độ là một cấu trúc mang tính động cơ. Năm 1971, H.C.Triandis13 đưa một định nghĩa khác. Ông cho rằng thái độ là

những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm gây tác động đến hành vi nhất

định, ở một giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định. Thái độ của

con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như

cách xử sự của họ đối với đối tượng đó. Định nghĩa này có điểm tương đồng với định

nghĩa của Allport.

Năm 1975, A.Kossakowski và J.Lompcher định nghĩa thái độ là thuộc tính tâm

lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ xã hội. Trong khi đó, khi nghiên cứu

về thái độ, một nhà tâm lý học Xô Viết không sử dụng khái niệm “thái độ”. Mà dùng

thuật ngữ tương đương là “tâm thế” để giải thích hành vi của con người. Tiêu biểu là

Uznatze với “thuyết tâm thế”. Ông cho rằng thái độ không phải là một nội dung cục bộ

của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm

lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng thái toàn

vẹn, xác định của chủ thể…

Khi nghiên cứu về các khái niệm này, Nâyzơ nhận thấy điểm chung hầu hết các

định nghĩa về thái độ đều được xem xét dưới góc độ chức năng của nó. Thái độ định

hướng hành vi, ứng xử của con người. Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của

12 Nhà tâm lý học Xô Viết 13 Nhà tâm lý học người Mỹ

20

những hành vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan. Ý kiến này đã được

H.Hiebsch và M.Worwerg14 công nhận trong cuốn “Nhập môn tâm lý học Macxit”.

Tuy nhiên, tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, lại đề cập nhiều

đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức năng của thái độ, như Davis Myers đã coi

“thái độ” là phản ứng có thiện chí hay không thiện chí về một điều gì đó, hay một

người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định. Hay như

nhà tâm lý học W.J.Mc Guire định nghĩa thái độ là bất cứ sự thể hiện nào đó về mặt

nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về bản thân, về

những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tư tưởng.

Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà

tâm lý học Việt Nam. Có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ theo những khía

cạnh khác nhau, để thống nhất về định nghĩa, làm nền tảng lí luận cho việc xây dựng

biện pháp tác động, luận văn chọn lựa định nghĩa theo từ điển Tâm lý học của tác giả

Vũ Dũng: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức

thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt

đến phản ứng của cá nhân đối với tất cả các khách thể và tình huống mà phản ứng có

mối liên hệ” [8, tr.790].

Về cấu tạo, thái độ có ba thành tố cấu thành: Nhận thức, cảm xúc và hành vi kết

hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập. Hay nói khác đi,

khi cá thể có sự nhận thức hiểu biết về vấn đề, cộng với cảm xúc của bản thân và

mong muốn thể hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi sống. Thái độ là một sản

phẩm phức tạp của một quá trình học tập, lĩnh hội và trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả

những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như

chính trị [8].

1.2.1.3. Thế nào là tích cực? Thế nào là tự lập?

a. Thế nào là tích cực?

Theo Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng: “Tính tích cực là khả năng thực

hiện chuyển động có chủ đích và thay đổi của cơ thể sống dưới tác động của những

tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài – đặc điểm chung của tất cả cơ thể sống,

21

động thái riêng của chúng là nguồn biến đổi hoặc hỗ trợ một cách sống động cho 14 Hai nhà tâm lí học Macxit

những mối liên hệ với môi trường”. Tính tích cực có tính chủ định, khác với tính thích

nghi vì nó bị giới hạn trong một phạm vi hẹp đã định và tính tích cực ổn định với

những mục tiêu đã đặt ra, do đó, nó khác với sự so sánh một cách thụ động với đối

tượng mà chủ thể sẽ gặp trong khi tiến hành hoạt động [8, tr.857].

b. Thế nào là tự lập?

Tự lập là một trong những đức tính quý của con người. Hình thành tính tự lập ở

trẻ giúp trẻ tự tin trong cuộc sống, biết cách tự chăm sóc bản thân, tự phục vụ, tạo lập

cho trẻ các kỹ năng xã hội, là tiền đề giúp trẻ vượt qua những khó khăn, thử thách

trong cuộc sống [3, tr.7].

Theo Từ điển Tâm lí học của Vũ Dũng: “Tự lập là một phẩm chất của nhân cách

xuất hiện trong sáng kiến, phê bình, tự đánh giá bản thân một cách tương ứng và

trong tình cảm thể hiện trách nhiệm của cá nhân với hoạt động, hành vi của mình”[8

tr.968].

Sự tự lập của cá nhân gắn liền với tư duy làm việc một cách tích cực, với tình

cảm và ý chí. Mối liên hệ này thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Phát triển quá trình tư duy và cảm xúc – ý chí. Đây là tiền đề cần thiết cho

những phán đoán và hành động một cách tự lập.

- Hình thành trong hoạt động phán đoán một cách tự lập và trong những hành

động củng cố, hình thành khả năng của cá nhân qua các hành động nhận thức, qua quá

trình ra quyết định một cách thành công đối với những tình huống khó khăn [8, tr.968].

1.2.2. Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng là

gì?

Như đã nêu phần trên, thái độ có ba thành tố cấu thành: Nhận thức, cảm xúc và

hành vi thể hiện phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập với thế giới xung quanh.

Hay nói cách khác, khi con người nhận biết về sự vật sẽ nảy sinh cảm xúc và có những

hành vi tương thích với xúc cảm của mình đối với sự vật, hiện tượng đó. Ăn uống

cũng vậy, sự nhận biết của trẻ về thức ăn thông qua mùi vị, màu sắc, hình dạng và lợi

ích của từng thực phẩm sẽ tạo được hứng thú cho trẻ, trẻ sẽ ăn với thái độ vui vẻ, tự

giác và độc lập. Hoặc ngược lại, nếu trẻ có cảm xúc tiêu cực với thức ăn thì trẻ sẽ buồn

22

bã, ăn chậm hay thậm chí là chán ăn… Cụ thể, khi cho trẻ làm quen với mùi vị của cà

rốt, trẻ có thể cảm thấy thích màu sắc của cà rốt được cắt thành nhiều hình dạng đáng

yêu mà trẻ thích, mùi vị sau khi hấp mềm thơm ngon đồng thời trẻ biết cà rốt ăn cho

giúp khỏe mạnh và sáng mắt… Trẻ sẽ hình thành sự hứng thú với món cà rốt được hấp

mềm đó, hứng thú của trẻ nếu tích cực sẽ tạo thành hành vi ăn uống tích cực. Trẻ sẽ ăn

trong không khí vui vẻ, trẻ sẽ chủ động lấy thức ăn hay xin thêm khi còn nhu cầu.

Hoặc trường hợp ngược lại nếu trẻ đã từng được ăn, nhưng không cảm thấy thích vì vị

của cà rốt khiến trẻ không hài lòng, trẻ sẽ giảm hứng thú của mình với món ăn mà

người lớn mang lại, đồng thời biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi lắc đầu hay từ chối

món ăn mà trẻ không muốn thử.

Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập là hình thành nhận thức, cảm xúc

và hành vi tích cực và tự lập cho trẻ trong ăn uống… Thái độ ăn uống tích cực và tự

lập đối với trẻ 18 – 36 tháng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vốn kinh nghiệm

sống còn hạn chế, kỹ năng thao tác đồ vật của trẻ chưa được thành thạo… Do đó, việc

hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ không thể đòi hỏi ở một mức độ

cao như ở người lớn.

Cụ thể, hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng trước

hết là hình thành nhận thức ban đầu của trẻ về món ăn, về một số nguyên liệu chế biến

đơn giản và gần gũi đối với trẻ, về dụng cụ ăn uống và về môi trường xung quanh.

Tiếp theo là hình thành và nuôi dưỡng cảm xúc cho trẻ, giúp trẻ cảm thấy thích thú với

các món ăn qua việc tạo dựng môi trường, sử dụng một số tác động tích cực để có thể

xây dựng hành vi ăn uống tốt, rèn luyện khả năng tự lực của trẻ qua các bữa ăn hàng

ngày dưới sự hỗ trợ của người lớn.

Vậy, có thể tóm tắt một số nội dung việc hình thành thái độ tích cực và tự lập cho

trẻ là hình thành nhận thức, thái độ và hành vi trong ăn uống cụ thể:

− Thứ nhất, hình thành nhận thức ban đầu về thực phẩm và ý nghĩa của chúng

đối với sức khỏe của trẻ.

− Thứ hai, hình thành và nuôi dưỡng những xúc cảm tích cực của trẻ đối với thực

phẩm.

23

− Cuối cùng là rèn luyện cho trẻ những hành vi tích cực và tự lập trong ăn uống.

Để thực hiện được điều đó cần phải có những biện pháp giúp trẻ hình thành thái

độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Vậy biện pháp đó là gì?

Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập là cách làm tác động lên

trẻ trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về

bữa ăn và một số kỹ năng trong ăn uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh,

hình thành nên thái độ ăn uống tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về

thể chất và tinh thần tạo nền tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.

1.2.3. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36

tháng

Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập dựa trên hành vi ăn uống

của trẻ. Do đó, muốn tìm hiểu nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập

trước hết cần hiểu thế nào là hành vi ăn uống của trẻ:

1.2.3.1. Hành vi ăn uống của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

Theo Wikipedia tiếng Việt “hành vi” là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, là

toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là

nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới.

Theo quan điểm sinh vật học, hành vi là cách sống, cách hoạt động trong môi

trường xã hội nhất định dựa trên sự thích nghi của cơ thể và môi trường.

Theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi thì hành vi được thể hiện không có sự

tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách và nó được biểu thị bằng công thức S  R

(với S là kích thích và R là phản ứng). Hai quan điểm trên đều cho rằng hành vi của

con người là những phản ứng trả lời kích thích giúp họ thích nghi với môi trường sống

và bỏ qua các yếu tố chi phối đến sự thực hiện hành vi như tâm lí, ý thức [8]. Như

J.B.J.Watson (1878 – 1958) đã nói:

Hãy đưa cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh, và một thế giới đặc biệt của riêng tôi

để nuôi dạy chúng trong đó, tôi đảm bảo rằng sẽ chọn ngẫu nhiên và đào tạo

chúng trở thành bất kỳ kiểu chuyên gia nào mà tôi muốn: bác sĩ, luật sư, nghệ

24

sĩ, lái buôn, thậm chí là người ăn xin và kẻ cướp, bất kể năng khiếu, thiên

hướng, khuynh hướng, khả năng, nghề nghiệp và chủng tộc của tổ tiên người đó là như thế nào15.

Tuy nhiên, khái niệm “hành vi” chỉ được rõ ràng khi quan điểm Macxit ra đời.

Tâm lí học Macxit cho rằng hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều

chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách. Muốn hình thành hoạt

động tâm lí bên trong phải tổ chức hoạt động bên ngoài. Bởi hành vi chỉ nảy sinh khi

có nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của hoàn cảnh, do đó, nhà giáo dục cần tổ chức các

hoạt động bên ngoài để hình thành hệ thống hành vi cho trẻ.

Theo nghiên cứu về “Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong gian

đoạn từ 1 đến 6 tuổi”, nhóm tác giả đã đúc kết khái niệm về hành vi ăn uống:

Hành vi ăn uống là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu

trúc tâm lý bên trong của chủ thể có ý thức (thích hay không thích, thoải mái

hay căng thẳng…) và chịu sự quy định của các tác nhân kích thích có điều kiện

ăn uống (mùi vị thực phẩm, sự bắt mắt của thức ăn)… hay những tác nhân kích

thích từ môi trường (sự vui vẻ, yên tĩnh hay ồn ào, căng thẳng…)[18, tr.20].

Hành vi ăn uống của trẻ chịu sự chi phối của việc giáo dục dinh dưỡng và thói

quen ăn uống. Thông qua việc cho trẻ làm quen với thức ăn sẽ tạo cho trẻ cảm giác

thích hay không thích với thức ăn, từ đó biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hành vi

ăn uống. Đối với những món ăn trẻ thích, trẻ sẽ tỏ thái độ thích thú khi được ăn trong

những lần tiếp theo. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống hàng ngày cũng là cơ sở hình thành

hành vi ăn uống của trẻ. Về mặt này, chương trình giáo dục mầm non hiện hành đã vận

dụng một cách hợp lí và mang lại hiệu quả cao trong công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ.

Biện pháp tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non là cách làm, cách tổ chức hoạt

động ăn uống cho trẻ trong chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non, nhằm giải

quyết một số vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hòa về thể chất

và tinh thần.

Theo chương trình GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tào (2009), chế độ sinh hoạt là

sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày một cách hợp lí ở các cơ sở GDMN

25

nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lí của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành những nề 15 http://tamlyhocphothong.wordpress.com/

nếp, thói quen tốt và thích nghi với cuộc sống ở nhà trẻ. Ở từng độ tuổi, chương trình

cũng nêu ra cụ thể chế độ sinh hoạt của trẻ cũng như dự kiến thời gian cho từng hoạt

động trong đó có tổ chức bữa ăn cho trẻ. Số bữa ăn tại trường mầm non được quy định

tối thiểu hai bữa chính và một bữa phụ.

- Năng lượng được phân phối cho các bữa ăn:

Ăn trưa chiếm 30 – 35%, ăn chiều 25 – 30%.

Ăn phụ chiếm 5 – 10% tổng năng lượng cần cung cấp cả ngày.

- Tỷ lệ các chất dinh dưỡng được kiến nghị theo cơ cấu:

12 – 15% chất đạm, 35 – 40% chất béo.

45 – 53% chất bột trong năng lượng khẩu phần.

Nước uống khoảng 0.8 – 1.6 lít (kể cả lượng nước trong thức ăn) [1].

Ngoài ra, hành vi ăn uống của trẻ còn chịu ảnh hưởng bởi văn hóa ẩm thực vùng

miền. Do đó, thực đơn của trẻ được xây dựng hàng ngày, theo tuần và theo mùa. Tùy

theo mỗi mùa, mỗi địa phương mà thực đơn của trẻ có thể linh động thay đổi theo từng

đơn vị trường. Tuy nhiên, cần đảm bảo cho trẻ những thực phẩm quen thuộc nhằm

hình thành hành vi ăn uống tốt cho trẻ.

1.2.3.2. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36

tháng

Bồi dưỡng thói quen ăn uống tốt không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn ảnh

hường đến việc xác định hành vi và đạo đức tốt đẹp về sau. Có thể bắt đầu hình thành

cho trẻ thái độ ăn uống tích cực và tự lập từ các mặt sau đây:

Chuẩn bị cho trẻ trước lúc ăn cơm: Trước lúc ăn cơm tránh cho trẻ ăn vặt, tránh

cao hứng quá độ, biết chủ động kết thúc trò chơi, đi vệ sinh, rửa tay, biết ngồi vào bàn

đúng vị trí… [6, tr.252].

Một số thói quen tích cực trong khi ăn: Tập cho trẻ nhận biết và làm quen được

với chế độ cơm nát và cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau. Thời gian ăn

tương đối, không quá lâu, ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi, không ngậm thức ăn,

biết chờ đến lượt… Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống thông qua các biểu

26

hiện cụ thể: Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa

ăn, trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn. Trẻ không yêu

sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ…[3, tr.6-8].

Ngoài ra còn có một số thói quen như: Không kén ăn, chỉ thích ăn một vài thứ,

ngồi ăn đúng tư thế, không nhồm nhoàm, không vừa ăn vừa chơi, không để thừa cơm,

biết lấy lượng thức ăn vừa đủ nhu cầu…[6, tr.252].

Hình thành cho trẻ thái độ tự lập trong khi ăn, các biểu hiện như: Trẻ tự xúc ăn

bằng thìa, uống nước bằng cốc, trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế,

trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh,trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ

muốn, trẻ biết từ chối khi no… [3, tr.6-8].

1.2.4. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập trong ăn uống cho trẻ 18 –

36 tháng

1.2.4.1. Mầm móng và quá trình hình thành tính tự lập ở trẻ 18 – 36 tháng

Trong tiến trình phát triển, có một thời điểm từ rất sớm, vào khoảng 18 tháng,

đặc biệt phát triển mạnh vào cuối tuổi lên ba, trẻ bắt đầu xuất hiện nguyện vọng độc

lập. Trẻ lên ba muốn được làm người lớn ngay tức khắc, muốn được tự chọn, tự mặc

quần áo, muốn tự cầm muỗng xúc ăn… Thậm chí còn muốn làm thay mẹ các công

việc quét nhà, lặt rau, hay bé trai muốn giúp bố rửa xe… Đó là những công việc mà trẻ

muốn làm để thể hiện sức mạnh của bản thân, để thỏa mãn nhu cầu tự khẳng định “cái

tôi” của mình vừa mới được nảy sinh và để được giống với người lớn [37, tr.365].

Tuy nhiên, do vốn sống và kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế, một số việc trẻ còn

chưa làm thành thạo… Mâu thuẫn nảy sinh giữa mong muốn và khả năng khiến trẻ

gặp phải nhiều vấn đề. Do đó, người lớn cần tạo điều kiện giúp trẻ củng cố những kỹ

năng và kiến thức để có thể hỗ trợ trẻ trong cuộc sống. Ngay khi trẻ có thể tự làm

những điều nhỏ có thể sẽ hình thành nền tảng cho khả năng tự lập từ nhỏ. Vậy nguyện

vọng độc lập của trẻ xuất hiện từ khi nào? Phải chăng khi trẻ bắt đầu tự ý thích về bản

thân, ý thức về sở thích hay những mong muốn của cá nhân trẻ?

Vào cuối độ tuổi ấu nhi, trẻ bắt đầu xuất hiện sự tự ý thức, trẻ ý thức được mình

là một con người riêng biệt, khác với những ý muốn riêng biệt so với những người

xung quanh… Trẻ bắt đầu nhận ra “cái tôi” của mình, nhận biết được “cái tên” của

27

mình và đồng nhất cái tên với bản thân mình do đó tỏ ra thiện chí với những bạn có tên

giống như mình. Sự tự ý thức ở trẻ còn thể hiện thông qua việc trẻ bắt đầu để ý đến

hình dáng bên ngoài của mình. Trẻ muốn tự chọn quần áo cho mình, thích được tự

cầm muỗng xúc ăn, tự chọn loại đồ chơi mà trẻ thích... Ý thức về bản thân là nguồn

gốc làm nảy sinh những ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác từ đó

giúp cho các hoạt động của trẻ ngày càng mang tính tự lập nhiều hơn.

1.2.4.2. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập cho trẻ

Xuất phát từ nguyện vọng độc lập nhưng do một số hạn chế, trẻ chưa thể tự mình

thực hiện hết những điều mà trẻ mong muốn. Đối với người lớn, đôi khi điều đó còn

gây nên phiền phức dẫn đến e ngại khi cho trẻ “tự xúc ăn”, người lớn thường làm thay

trẻ, đút cho trẻ ăn hết khẩu phần ăn để tránh rơi vãi thức ăn hay cho kịp thời gian cho

các công việc khác. Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức rằng, đây chính là thời cơ để

chúng ta rèn luyện cho trẻ thói quen tự lập trong sinh hoạt hằng ngày, cụ thể là thói

quen tự phục vụ trong ăn uống. Trường mầm non và phụ huynh cần phối hợp với nhau

cùng giúp đỡ hình thành cho trẻ những kỹ năng để trẻ có sự tự tin trong ăn uống ngay

từ những năm tháng đầu đời.

Giáo dục tính tự lập cho trẻ cần được bắt đầu ngay từ những năm tháng đầu đời.

Thật vậy, việc hình thành thái độ tự lập trong cuộc sống cũng như trong ăn uống đều

cần được tiến hành từ sớm và thường xuyên theo tuần tự từng bước một. Sau đây là

một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng:

Trước hết, giáo viên và phụ huynh hãy tin tưởng ở trẻ. Khi đứa trẻ xuất hiện sự

tự ý thức sẽ có nguyện vọng tự làm nhiều việc và có khả năng thực hiện nguyện vọng

đó. Vai trò của người lớn là quan tâm, hướng dẫn trẻ cách làm đúng, nhắc nhở trẻ, chỉ

cho trẻ những điều trẻ chưa biết, động viên để trẻ tự quyết định. Việc cố gắng giúp trẻ

thành công trong công việc không chỉ hình thành ở trẻ sự tự tin vào bản thân, trong

mọi công việc trẻ sẽ biết tự dựa vào sức của mình mà còn giúp trẻ sớm thoát khỏi sự

dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ, tăng cường sự tự trọng, tự tin để trẻ tự lĩnh hội những

chi tiết trong cuộc sống. Từ đó giúp trẻ có cảm giác thành công và có thể tự mình làm

một việc gì đó [37]. Khi trẻ muốn được tự xúc ăn, nhưng vận động cơ tay chưa cho

phép trẻ linh hoạt khi xúc thức ăn, làm rơi vãi thức ăn ra bàn hay ăn bẩn ra quần áo.

28

Giáo viên có thể rèn luyện thao tác xúc muỗng cho trẻ qua các hoạt động thao tác với

đồ vật (cho trẻ đút cho búp bê ăn, cho em bé uống nước…), rèn luyện vận động cổ tay

cho trẻ.

Giáo viên và phụ huynh cần tạo cho trẻ môi trường cho trẻ tự lập bằng cách thiết

kế môi trường an toàn để trẻ có thể tự do làm những điều trẻ muốn mà không sợ những

nguy hiểm. Môi trường đối với trẻ có tác dụng làm biến đổi ngầm ngay từ trong ý

thức, muốn dạy trẻ có ý thức tự lập thì phải xây dựng cho trẻ một môi trường sống tự

do, độc lập với những đồ dùng được đặt ở nơi mà trẻ có thể tự lấy chúng. Chẳng hạn,

giáo viên có thể nhờ trẻ xếp muỗng ra đĩa mỗi bàn cho đủ số lượng, bày bình hoa…

Với những vật dùng được đặt ở nơi trẻ đã biết, thấp vừa tầm trẻ có thể tự lấy được [5].

Tạo cho trẻ cơ hội được thực hiện các hoạt động một mình, chấp nhận cho trẻ thử

sai và giúp đỡ trẻ bằng cách trao đổi với trẻ về cách làm này làm mẫu cho chúng xem

trước khi cho chúng thực hiện. Người lớn có thể tham gia các hoạt động cùng trẻ

nhưng tránh không nên giúp hay làm thay trẻ.

Dạy cho trẻ các kỹ năng để trẻ có thể tự phục vụ. Mọi người đều học từ quá trình

khám phá – học tập – học tập – khám phá. Do đó, cần nâng cao khả năng tự làm của

trẻ, dạy cho trẻ những kỹ năng lao động, hướng dẫn trẻ một cách đúng đắn, tỉ mĩ và dễ

hiểu cho trẻ quan sát kĩ xem cô bày bình hoa như thế nào, cô xếp muỗng vào đĩa ra

sao, cách các bạn đã cầm muỗng xúc ăn như thế nào để không rơi vãi thức ăn…

Cần rèn luyện tính tự lập thường xuyên trong ăn uống và tăng dần yêu cầu để

hình thành các thói quen tốt bắt đầu từ việc hướng dẫn nhẹ nhàng, dạy trẻ biết phân

biệt, làm chủ tư duy của mình đến việc cho trẻ được ra quyết định.

Dạy cho trẻ biết nói lên chủ kiến của bản thân, ngay từ việc học cách nói không.

Cụ thể, dạy trẻ biết xin thêm thức ăn khi cần, biết cảm ơn khi được người khác giúp

đỡ, biết xin lỗi khi đã làm sai và biết từ chối khi đã dùng đủ lượng thức ăn trong bữa.

Việc rèn luyện thường xuyên phải đi đối với việc thực hiện các kích thích tích

cực ở trẻ, khi trẻ thích thú với công việc, chúng sẽ làm hăng hái hơn. Trẻ rất thích

được khen, vì vậy người lớn cần có lời khen cho trẻ đúng cách, khi trẻ ăn ngoan hơn

hôm qua, có sự tiến bộ hơn, khi trẻ làm được điều gì tốt (biết nhặt cơm rơi bỏ vào hộp

đựng thức ăn rơi vãi, biết lau miệng bằng khăn giấy thay vì gạt bằng tay…) Tuy nhiên,

29

cần lưu ý, có khen cần có chê, lời khen cần đúng lúc và đúng cách, không nên quá lạm

dụng và cũng không chê bai trẻ nặng lời khiến trẻ mất tự tin vào bản thân, hãy phê

bình trẻ theo cách tích cực “Nếu ngày mai, con ăn ngoan hơn hôm nay, cô sẽ vui hơn”

hay “Hôm nay con ăn chưa ngoan, chưa hết phần ăn, cô nghĩ hôm nay con mệt con ăn

ít đúng không? Mai con ăn nhiều hơn nha!”… Hay nói khác hơn, nếu trẻ chưa làm tốt,

người lớn nên động viên trẻ để có thể hình thành khả năng tự làm việc cho trẻ.

Một số nguyên tắc dạy trẻ tính tự lập: Tuần tự tiến hành, kỹ xảo kích thích, giải

thích cho trẻ hiểu, phải có lòng kiên trì… Việc giáo dục tính tự lập cho trẻ ngày từ

những năm tháng đầu đời không chỉ tạo cho trẻ khả năng tự lập trong sinh hoạt hàng

ngày mà còn quan trọng hơn là tạo lập cho trẻ một nền tảng nhân cách vững vàng để

trở thành người tự tin, năng động, độc lập trong cuộc sống.

1.2.5. Yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực ở trẻ

18 – 36 tháng tại trường mầm non

Thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ được hình thành dưới sự tác động của

nhiều yếu tố như môi trường, cách thức tổ chức của người lớn, tình trạng sức khỏe, thể

trạng của trẻ hay mối liên hệ của trẻ đối với thức ăn, thậm chí là di truyền hay ảnh

hướng những thói quen từ người lớn… Sự lặp đi lặp lại khi tiếp xúc với thực phẩm làm tăng khả năng chấp nhận khẩu vị mới và món ăn mới của trẻ16. Tuy nhiên, để hình

thành nên các thói quen trong ăn uống, chúng ta cần xem xét những yếu tố chính ảnh

hưởng đến thái độ ăn uống tích cực của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

Yếu tố đầu tiên là ảnh hưởng của yếu tố thể trạng sức khỏe của trẻ.

Yếu tố thể trạng sức khỏe ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành một số thói

quen ăn uống lành mạnh cũng như thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Được

cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thông qua thức ăn là nhu cầu rất quan trọng để trẻ phát

triển. Nhưng bên cạnh đó, việc trẻ có hấp thu tốt hay không còn phụ thuộc các dưỡng

chất được cung cấp, thể trạng và điều kiện hoàn cảnh được hấp thụ. Một trong những

nguyên nhân gây nên những hành vi ăn uống không tốt ở trẻ là do trẻ bệnh. Trẻ có thể

trạng kém sẽ thụ động và ít vận động hơn so với các trẻ khác, do đó năng lượng giải

16Leanne Cooper đến từ tổ chức Sneakys “dinh dưỡng cho trẻ”. Leanne là một chuyên gia dinh dưỡng được công nhận và là mẹ của hai cậu bé năng động.

30

phóng của trẻ cũng ít đi, nhu cầu về dinh dưỡng cũng kém so với các trẻ hiếu động.

Hiểu được điều nay, chúng ta thấy Chương trình GDMN đã chú trong phát triển thể

chất và vận động cho trẻ là rất cần thiết và hợp lí.

Tìm hiểu về chứng biếng ăn – một trong những “căn bệnh”, thường gặp ở trẻ nhỏ

- Luận văn nhận thấy biếng ăn là một trong những biểu hiện cụ thể nhất của thái độ ăn

uống không tích cực và tự lập. Theo Viện dinh dưỡng, biếng ăn là hiện tượng trẻ ăn ít

hơn bình thường, ăn thức ăn chọn lọc, chỉ ăn vài loại thức ăn, có trẻ sợ ăn, từ chối hay

nôn oẹ khi nhìn thấy thức ăn, bữa ăn kéo quá dài (trên 30 phút thậm chí hàng tiếng) do

trẻ không chịu nuốt thức ăn hoặc bỏ ăn do nhiều nguyên nhân gây ra. Biếng ăn bản

thân nó không hẳn là một bệnh mà thường là biểu hiện của nhiều nguyên nhân khác

nhau, có thể do bệnh lý hay tâm lý. Nguyên nhân gây biếng ăn có thể liên quan đến

bệnh tật của trẻ như khi trẻ ốm, mắc phải các bệnh cấp tính, bệnh liên quan đến răng

miệng… Hay liên quan đến dinh dưỡng như thiếu các chất dinh dưỡng, còi xương,

thức ăn chế biến không hợp khẩu vị của trẻ, ép trẻ ăn, áp đặt trẻ làm cho trẻ sợ ăn, trẻ

mãi chơi, ăn uống không có giờ giấc, cho trẻ uống thuốc lẫn thức ăn để trẻ nhận biết

được gây phản xạ sợ hãi, cho trẻ ăn vặt nhiều, uống nước ngọt trước khi ăn bữa chính,

trẻ chưa kịp thích nghi với chế độ ăn mới hoặc ép trẻ ăn quá nhiều dẫn đến ức chế bài

tiết các men tiêu hoá gây chán ăn, thay đổi giờ ăn, người cho ăn, người lớn xung quanh

trẻ có thói quen ăn không mẫu mực làm trẻ bắt chước… [52].

Ngoài ra theo BS. Lê Quang Hào, biếng ăn ở trẻ còn do khẩu phần ăn không cân

đối có nhiều tinh bột, một số trẻ biếng ăn do nguyên nhân tâm lý (gọi là biếng ăn tâm

lý). Khi trẻ bị ốm, mọc răng... Trẻ dễ bị biếng ăn. Chưa kịp ăn ngon miệng trở lại thì bị

người lớn thúc ép ăn, hoặc là trẻ mãi chơi trong khi người lớn thúc ép về mặt thời gian

cho nên trong các bữa ăn trẻ bị quát mắng, thậm chí bị đánh làm cho các cháu sợ bữa

ăn, chỉ cần nghe hoặc nhìn thấy bát bột, bát cơm là trẻ quay đi, trẻ lớn hơn thì chạy

trốn, nhiều cháu cứ hễ thấy bát bột là khóc, buồn nôn. Một số cháu không ăn để

“chống đối” lại người lớn [52].

Thứ hai là tác động của các mối liên kết với thực phẩm.

Mối liên kết này bao gồm thực đơn, cách chế biến, cách bày trí… Một số nghiên

31

cứu cho rằng khi trẻ tiếp xúc nhiều lần với các loại thực phẩm mới rất quan trọng để

hình thành thói quen ăn uống ở trẻ. Phản ứng của trẻ với thức ăn trong những lần sau

chịu ảnh hưởng sâu sắc ngay từ lần đầu. Khi trẻ ăn một loại thực phẩm mà trẻ thích

hay cảm thấy no, những lần sau khi ăn món ấy, trẻ sẽ cảm thấy hấp dẫn và muốn được

ăn. Ngược lại, khi trẻ tiếp xúc món ăn ấy lần đầu nhưng lại gây đau bụng, nôn ọe thì

những lần sau trẻ sẽ có phản ứng không thích, thậm chí từ chối. Việc cung cấp cho trẻ

nhiều sự chọn lựa với thực phẩm góp phần hình thành thái độ ăn uống tích cực và chủ động của trẻ17.

Trẻ 18 – 36 tháng đã qua giai đoạn tập ăn, đã làm quen được nhiều loại thực

phẩm khi ở nhà. Việc cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm, màu sắc đa dạng có thể tăng

thêm cảm giác thèm ăn ở trẻ [6, tr.238]. Khi đi học, trường mầm non thường sử dụng

các thực phẩm quen thuộc, lành tính để chế biến thức ăn cho trẻ do đó, mức độ không

phù hợp về thức ăn của trẻ cũng ít đi, trừ một số trường hợp trẻ bị dị ứng với thức ăn.

Do đó, tác động lớn nhất của mối liên kết với thực phẩm chủ yếu nằm ở cách chế

biến và bày trí thức ăn trong phần ăn của trẻ. Cách chế biến nếu được linh hoạt thay

đổi sẽ tạo cho trẻ sự mới lạ về mùi vị và hương vị, kích thích sự thèm ăn của trẻ, giúp

trẻ không ngán với sự lặp lại thức ăn nhiều lần. Bên cạnh đó, sự trang trí phần ăn của

trẻ cách đẹp mắt cũng hẫp dẫn và kích thích trẻ hơn trong bữa ăn.

Tiếp theo là môi trường tổ chức cho trẻ ăn.

Môi trường tổ chức cho trẻ ăn bao gồm các yếu tố: Địa điểm tổ chức bữa ăn, các

vật dụng ăn uống cho trẻ dùng và cách tổ chức bữa ăn… Trẻ nhỏ có khuynh hướng ăn

giống như người lớn, điều này có thể do khuynh hướng bắt chước của trẻ, hay là kết

quả của việc trẻ phải ăn những thứ đã quy định trong thực đơn. Trẻ nhà trẻ có sự phát

triển trí tuệ nhanh chóng với mọi sự vật xung quanh, trẻ cảm thấy kì lạ và muốn hiểu

biết hết, nhất cử nhất động của người lớn không lọt qua được con mắt của trẻ. Về mặt

ăn uống, trẻ cũng chịu ảnh hưởng không tốt của bố mẹ và người lớn. Do đó muốn hình

thành thói quen tốt cho trẻ trước hết người lớn cần làm gương cho trẻ và bồi dưỡng

cho trẻ những hành vi tốt [6, tr.251].

Ngoài ra, trẻ cũng chịu sự tác động của các hình thức tổ chức bữa ăn, môi trường

32

thoải mái, thoáng đãng với bàn ghế phù hợp, đồ dùng ăn uống xinh xắn, phù hợp với 17Susan J. Crockett, Laura S. Sims

sở thích, thỏa mãn mối quan tâm của trẻ hay cách sắp xếp bữa ăn của giáo viên mang

lại những tác động tích cực hay tiêu cực hình thành thói quen ăn uống ở trẻ [6, tr.251].

Hiện nay ở trường mầm non, có nhiều hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ như: Tổ

chức cho trẻ ăn ngay tại lớp, trẻ ngồi ngay ngắn trên bàn, tổ chức cho trẻ ăn tại phòng

ăn riêng của trường, tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân có mái che… Mỗi hình thức này đều

có những mặt ưu khuyết và phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất của từng trường. Cũng

như vật dụng được dùng cho trẻ ăn, thông thường các trường cho trẻ ăn bằng tô nhỏ và

muỗng hay đĩa nhiều ngăn.

Ngoài ra, ảnh hưởng của môi trường trong nhiều trường hợp còn liên quan đến

thời tiết, khí hậu và đặc điểm vùng miền… Trong giai đoạn đầu đời, trẻ thường hấp

thu tốt nhất các loại khoáng chất và dưỡng chất được cung cấp, giúp trẻ phát triển toàn

diện. Tuy nhiên, khi thời tiết thay đổi và mùa hè trở nên oi bức, trẻ thường trở nên

chán ăn và bỏ bữa hơn. Hay khi trời lạnh, cơ thể trẻ sẽ mau đói hơn, trẻ có nhu cầu

nhiều hơn về thực phẩm để cũng cấp lượng chất cần thiết cho cơ thể để sản sinh ra

nhiệt lượng cơ thể… Hiểu được những yếu tố này, người chăm sóc sẽ có những điều

chỉnh về môi trường hay thời gian ăn cho trẻ sao cho hợp lí.

Ngoài ra, người lớn tránh một số tác động tiêu cực khi tổ chức bữa ăn cho trẻ

như: Không nên quở mắng trẻ khi ăn, điều này có hại cho tiêu hóa và hấp thụ thức ăn

của cả người lớn và trẻ nhỏ. Tạo bầu không khí tâm lí khi ăn uống rất quan trọng, bởi

tinh thần là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động tinh thần của

con người chịu sự điều khiển, khống chế của đại não, ảnh hưởng trực tiếp đến chức

năng của nội tạng. Khi trẻ ăn cơm, màu sắc của thức ăn được ghi nhận ở mắt, mùi vị

trẻ ngửi được, hương vị trẻ nếm được… Tất cả sẽ phát tín hiệu đến vỏ đại nảo, kích

thích sự hưng phấn của trung khu tiết dịch dạ dày dọc theo tủy sống ở vùng khâu hạ

não, làm cho dịch tiêu hóa tiết ra nhiều hơn, dạ dày nhu động nhanh hơn. Sự la mắng

hay ép trẻ khi ăn làm giảm đi hứng thú của trẻ, các chức năng trên bị ức chế, vị toan sẽ

tiết ra ít đi, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa, hấp thụ, gây nên tình trạng biếng ăn ở

trẻ. Ngoài ra, quở trách, đánh mắng trẻ khi ăn có khả năng làm cho thức ăn nhầm vào

khí quản, gây nên những hậu quả nghiệm trọng. Do đó, việc tạo cho trẻ bầu không khí

33

tâm lí thoải mái, vui vẻ là rất quan trọng [6, tr.256-257].

Cuối cùng là sự chăm sóc bữa ăn .

Tác động này có thể nói đến mối quan hệ của người chăm sóc và trẻ. Trẻ 18 – 36

tháng chưa thể tự phục vụ hoàn toàn, trẻ cần sự hỗ trợ của người lớn. Lời khen khi trẻ

làm tốt, sự nhắc nhở khi trẻ chưa tự phục vụ hay làm rơi vải cơm ra ngoài sẽ giúp trẻ

hình thành thói quen tốt trong ăn uống. Tại trường mầm non, giáo viên là người trực

tiếp tổ chức bữa ăn cho trẻ, là người theo sát và hướng dẫn trẻ khi cần.

Nhìn chung, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập của trẻ. Hiểu được những sự tác động này giúp người chăm sóc trẻ có thể

loại trừ những tác nhân ảnh hưởng xấu đến trẻ, đồng thời ứng dụng những tác động

đem lại hiệu quả trong quá trình tổ chức bữa ăn cho trẻ.

Trên cơ sở những tác nhân ảnh hưởng cụ thể trên, luận văn tìm hiểu các chuyên

gia giáo dục mầm non sẽ nói gì về nguyên nhân hình thành thái độ ăn uống không tích

cực và tự lập của trẻ?

Hiệu trưởng trường mầm non T.T – Quận Tân Bình đã đề cập một số nguyên

nhân sau dẫn đến biếng ăn của trẻ tại trường mầm non. Thứ nhất là do phụ huynh quá

quan tâm đến cân nặng và chiều cao của trẻ, đặt áp lực cho nhà trường và giáo viên

cho trẻ ăn hết khẩu phần ăn, hay trẻ chịu ảnh hưởng những thói quen ăn uống từ gia

đình, ba mẹ quá nuông chiều trẻ dẫn đến tình trạng trẻ thụ động, không muốn tự phục

vụ trong các bữa ăn, đòi hỏi giáo viên phải đút mới ăn… Thứ hai, do chính bản thân

trẻ, sẽ thường ăn chậm, ăn ít khi trẻ ốm, hoặc có các dị tật về đường tiêu hóa, trẻ ham

chơi…Thứ ba, cách tổ chức của giáo viên cũng ảnh hưởng đến trẻ…

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hình thành thái độ ăn uống không tích cực và tự

lập ở trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non có thể khái quát thành cách nhóm sau:

Thứ nhất là xuất phát từ bản thân đứa trẻ: Nguyên nhân có thể do trẻ bị bệnh, dị

tật đường tiêu hóa khiến trẻ khó nuốt… Mặt khác, khi trẻ thiếu những kỹ năng tự phục

vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối… Trẻ sẽ thiếu tự tin trong

ăn uống, một số trẻ cầm muỗng xúc thức ăn chưa quen hay bị đổ, cô giáo la mắng trẻ

khiến trẻ sợ, không dám tự tin cầm muỗng xúc ăn, cũng như không dám thử mở nắp

34

hộp khi trẻ chưa từng làm. Hay trẻ có thói quen mè nheo, nhõng nhẻo, thích được

người khác phục vụ thay vì tự làm những công việc trong khả năng của trẻ. Trẻ kén

thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích…

Thứ hai là cách tổ chức môi trường cho trẻ khi ăn: Cách tổ chức môi trường bao

gồm môi trường vật chất và môi trường tâm lí. Cụ thể hơn chính là địa điểm tổ chức

bữa ăn, các vật dụng ăn uống cho trẻ dùng, cách tổ chức bữa ăn và cách thức giáo viên

tổ chức bữa ăn cho trẻ hằng ngày. Nguyên nhân có thể ảnh hưởng xấu đến việc hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ trước hết phải nhắc đến là thực đơn của

trẻ - Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay

cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ sẽ không hấp dẫn được trẻ trong các bữa ăn.

Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ mong

muốn được khám phá. Trong quá trình tổ chức bữa ăn, số trẻ đông ảnh hưởng đến sự

bao quát của cô đối với trẻ cộng thêm áp lực về thời gian khiến giáo viên hối thúc trẻ

ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp giờ. Việc chăm sóc bữa ăn cho trẻ cũng vì vậy có

nhiều hạn chế, có thể do giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách hay thậm chí

la mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm…Hay do áp lực của phụ huynh về sự

phát triển thể chất mà giáo viên ép trẻ ăn hết suất ăn quy định. Bầu không khí tâm lý

khi ăn rất quan trọng không chỉ với người lớn mà còn ở trẻ em. Khi trẻ vui, trẻ sẽ ăn

ngon miệng và tích cực hơn.

Thứ ba là một số thói quen ảnh hưởng từ gia đình: Ngay từ những năm tháng đầu

đời, phụ huynh đã không luyện cho trẻ kỹ năng nhai, nuốt hay cầm muỗng xúc ăn…

Dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn trong ăn uống khi đến trường. Hay việc phụ huynh

nuông chiều, thường làm thay trẻ lâu dần hình thành ở trẻ thói quen dựa dẫm, hưởng

thụ, thay vì tích cực tự phục vụ, trẻ lại thụ động chờ đợi ở người lớn… Một số trường

hợp trẻ đã 2 tuổi nhưng ở nhà ông bà chiều nên thường đút trẻ ăn để không bị bẩn thức

ăn, bữa ăn kết thúc nhanh hơn, trẻ ăn được nhiều hơn… Trẻ không được tập thói quen

tự xúc ăn nên khi đến trường, điều này làm cho trẻ sẽ ngồi thừ chờ đợi cô đút thay vì

tự xúc như các bạn khác… Ngoài ra, một số thói quen trẻ chịu ảnh hưởng từ gia đình

cũng là nguyên nhân hình thành nên thái độ ăn uống không tích cực và tự lập ở trẻ.

Chẳng hạn, một số trẻ trong giai đoạn ăn dặm, ba mẹ thực hiện chế độ ăn cho bé theo

35

phương pháp ăn dặm kiểu Nhật, trẻ được làm quen với từng loại thức ăn riêng biệt, ăn

theo từng món, đến khi vào trường, ăn chung các món với cơm khiến trẻ khó ăn, dễ

dẫn đến chán ăn. Hay trường hợp các bé ăn theo phương pháp ăn dặm Bé chỉ huy

(Baby Led Weaning – BLW) thì trẻ được ăn tự do với việc ăn bốc, thích ăn thô hơn là

thức ăn nhuyễn mềm, khi đến trường mầm non, thói quen này cũng ảnh hưởng không

nhỏ đến thái độ ăn uống của trẻ.

1.2.6. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cho trẻ 18 – 36

tháng

1.2.6.1. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống của trẻ 18 – 36

tháng

Theo Chương trình Giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tào (2009) quy

định một số nội dung chăm sóc dinh dưỡngvà sức khỏe cho trẻ 18 – 36 tháng như sau:

• Nội dung 1: Tập luyện nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt [3].

18 - 24 tháng tuổi 24 - 36 tháng tuổi

− Làm quen với chế độ ăn cơm nát − Làm quen với chế độ ăn cơm và các

và các loại thức ăn khác nhau. loại thức ăn khác nhau.

− Tập luyện nền nếp thói quen tốt

trong ăn uống.

− Làm quen chế độ ngủ 1 giấc − Luyện thói quen ngủ một giấc trưa

− Tập một số thói quen vệ sinh tốt: − Luyện một số thói quen tốt trong sinh

hoạt: Ăn chín, uống chín, rửa tay trước khi

+ Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. ăn, lau mặt, lau miệng, uống nước sau khi

ăn, vứt rác đúng nơi quy định. + “Gọi" cô khi bị ướt, bị bẩn.

• Nội dung 2: Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khoẻ [3].

18 - 24 tháng tuổi 24 - 36 tháng tuổi

− Tập tự xúc ăn bằng thìa, uống − Tập tự phục vụ:

nước bằng cốc.

− Tập ngồi vào bàn ăn.

+ Xúc cơm, uống nước. + Mặc quần áo, đi dép, đi vệ sinh, cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt. − Tập thể hiện khi có nhu cầu ăn, ngủ,

36

vệ sinh. + Chuẩn bị chỗ ngủ.

− Tập nói với người lớn khi có nhu

cầu ăn, ngủ, vệ sinh.

− Tập ra ngồi bô khi có nhu cầu vệ − Tập đi vệ sinh đúng nơi qui định.

sinh, nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh.

− Làm quen với rửa tay, lau mặt. − Tập một số thao tác đơn giản

trong rửa tay, lau mặt.

• Nội dung 3: Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn [3].

- Nhận biết một số vật dụng nguy hiểm, những nơi nguy hiểm không được phép

sờ vào hoặc đến gần.

- Nhận biết một số hành động nguy hiểm và phòng tránh [3, tr.6-8].

Những nội dung trên nhìn chung đã căn cứ vào các đặc điểm phát triển tâm sinh

lí của trẻ, nội dung cũng như từng tiêu chí mà khung chương trình đưa ra phù hợp đối

với sự phát triển cũng như kết quả mong đợi ở trẻ.

1.2.6.2. Tác động của giáo dục dinh dưỡng đến việc hình thành thái độ ăn uống

tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng

Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ là biện pháp can thiệp nhằm thay đổi những tập

quán thói quen và các hành vi liên quan đến dinh dưỡng, nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ18. Trong nghiên cứu về “Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng

ăn trong giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi”, nhóm tác giả đã trình bày khá cụ thể các tác động

của giáo dục dinh dưỡng đối với việc hình thành thói quen ăn uống của trẻ. Có thể tóm

lại một số tác động như sau:

Một là thông qua việc hình thành kỹ năng trong ăn uống cho trẻ có thể hình thành

cho trẻ những hành vi ăn uống đúng, hành vi đúng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo

nên những thói quen tốt. Sự chuyển tiếp từ kỹ năng sang thói quen sẽ hình thành từ

quá trình luyện tập một cách có hệ thống trong cùng điều kiện hoặc điều kiện tương tự.

Và bằng cách đó, thói quen trong mức độ nhất định sẽ tạo thành nhu cầu của trẻ trong

18 http://www.hmu.edu.vn/thuvien

37

các bữa ăn [26].

Hai là giáo dục dinh dưỡng cũng là một nhiệm vụ của giáo dục, giúp trẻ lĩnh hội

các kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe, đồng thời sự tác động từ hành vi ăn uống

của người lớn sẽ tác động đến các giác quan của trẻ, góp phần hình thành các phản xạ

có điều kiện, càng ngày càng bền vững hình thái những thói quen tốt trong ăn uống

[26].

Có thể nói, giáo dục dinh dưỡng tác động nhiều đến việc hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng. Giáo dục dinh dưỡng tạo tiền đề và thúc

đẩy việc hình thành những thói quen ăn uống lành mạnh ở trẻ. Từ việc giúp trẻ hình

thành những hành vi ăn uống tốt theo các phản xạ có điều kiện đến hình thành những

thói quen mang tính ổn định. Giáo dục dinh dưỡng tác động trực tiếp đến thói quen ăn

uống của trẻ và tác động gián tiếp đến nhu cầu ăn uống của trẻ. Trẻ được hình thành

những thói quen tốt trong ăn uống sẽ nảy sinh những nhu cầu và biểu hiện ra bên ngoài

bằng những hành động ăn uống tích cực và tự lập. Hiểu được điều này, ta có thể thấy

được tầm quan trọng của việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ tại trường mầm non [26].

1.2.6.3. Nhu cầu dinh dưỡng trẻ từ 18 – 36 tháng

Ở lứa tuổi này bữa ăn hằng ngày của bé rất quan trọng. Nên tận dụng sữa mẹ để

hỗ trợ thêm cho bé bồi dưỡng cơ thể và chống bệnh tật. Khẩu phần ăn của trẻ cần được

cung cấp đủ năng lượng, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng:

Năng lượng

Năng lượng cần đủ cho hoạt động cơ thể của trẻ và để tích luỹ, giúp thúc đẩy sự

lớn lên của các tổ chức. Ở lứa tuổi này tiêu hao năng lượng của trẻ lớn do trẻ chơi đùa,

đi lại chạy nhảy nhiều. Nhu cầu năng lượng ở lứa tuổi này là 110 Kcal/kg cân nặng,

ước chừng trẻ nặng khoảng 9 – 13 kg, do đó năng lượng cung cấp là 900 - 1300 Kcal.

Năng lượng cần được cung cấp đủ qua bữa ăn của trẻ gồm có: Chủ yếu là chất bột như

bột, cháo, cơm nát, ngoài ra còn có chất đạm, chất béo... Tỷ lệ giữa các thành phần

sinh năng lượng nên là: Đạm 15%, béo 20%, đường bột 65%.

Chất đạm

Chất đạm rất cần cho sự phát triển cơ thể trẻ, đặc biệt là các tế bào não. Với trẻ

nhỏ, cần ưu tiên các loại đạm động vật như: Thịt, sữa, trứng, cá, tôm... Vì chúng có giá

38

trị cao, có đủ các chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, ngoài ra còn

giúp cho cơ thể trẻ khỏe mạnh, tăng sức chống đỡ với bệnh tật. Lượng đạm động vật

trong khẩu phần ăn của trẻ nên đạt từ 50 – 60%. Tuy nhiên, nếu phối hợp tốt đạm động

vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc... ), sẽ tạo nên sự cân đối giúp hấp thụ và sử

dụng đạm tốt hơn. Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 – 3 tuổi là 28 g/ngày. Khi chế độ ăn

thiếu đạm sẽ làm cho trẻ chậm lớn, kém thông minh, nhưng nếu cho trẻ ăn quá nhiều

đạm cũng không tốt vì ảnh hưởng xấu đến gan, thận. Mặt khác, trong quá trình tiêu

hóa, chất đạm tạo ra nhiều sản phẩm gây thối rữa, độc hại. Trong bữa ăn của trẻ chất

đạm chỉ phát huy tác dụng cao khi có đủ năng lượng. Nếu khẩu phần ăn đủ đạm nhưng

thiếu năng lượng trẻ vẫn có thể bị suy dinh dưỡng.

Chất béo

Dầu mỡ vừa cung cấp năng lượng cao, làm tăng cảm giác ngon miệng, lại giúp

trẻ hấp thụ và sử dụng tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K... Rất

cần cho trẻ. Mỗi bát bột, bát cháo, ngoài các thành phần khác (gạo, thịt, rau... ), cần

cho thêm 1 - 2 thìa cà phê mỡ hoặc dầu. Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành

phần các loại mỡ đó có các chất rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ. Nếu trẻ

đã ăn cơm thì nên cho mỡ hoặc dầu vào xào, rán, kho với thức ăn.

Các chất khoáng

Các chất khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động

chức năng sinh lý của cơ thể. Ở lứa tuổi này canxi và phốt pho cần được chú ý để cung

cấp đủ cho trẻ, hằng ngày trẻ cần 400 - 500 mg canxi. Canxi có nhiều trong sữa và các

loại tôm, cua, ốc, trai... Phốt pho có nhiều trong các loại lương thực, ngũ cốc. Cần có

một tỷ lệ thích hợp giữa canxi và phốt pho mới giúp trẻ hấp thụ và sử dụng được hai

loại khoáng chất này. Tỷ lệ tốt nhất giữa canxi/phốt pho = 1/1,5.

Ngoài việc ăn uống đủ, thỉnh thoảng cần cho trẻ ra ngoài tắm nắng tạo điều kiện

cho vitamin D hoạt động, giúp cơ thể chuyển hoá tốt canxi và phốtpho. Chất sắt rất cần

cho sự tạo máu, sắt còn tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể.

Mỗi ngày trẻ cần được cung cấp 6 - 7 mg sắt qua thức ăn. Nguồn sắt tốt có trong thức

ăn động vật là các nội tạng: Tim, gan... Nguồn sắt tốt có trong thức ăn thực vật là đậu

đỗ và các loại rau có màu xanh sẫm. Sắt có trong thức ăn động vật hấp thụ tốt hơn

39

trong thức ăn thực vật nhưng trong rau quả lại có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thụ

và sử dụng sắt có hiệu quả hơn. Ưu tiên nguồn thức ăn động vật, phối hợp với các đậu

đỗ và rau quả nhằm đảm bảo đủ sắt cho cơ thể.

Vitamin

Mọi vitamin đều cần cho trẻ nhưng ở lứa tuổi này người ta quan tâm đến vitamin

A và vitamin C. Hai vitamin này rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho

sự tạo máu, tăng cường sức chống đỡ với bệnh tật. Ở lứa tuổi này nhu cầu vitamin A

chính chỉ có trong các thức ăn động vật như trứng, gan... Rau quả có màu vàng, đỏ, da

cam vừa là nguồn cung cấp caroten (tiền vitamin A) vừa là nguồn cung cấp vitamin C.

Vì vậy, cần cho trẻ ăn rau, quả thường xuyên [3].

1.2.7. Đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng

Đặc điểm tâm lý về khả năng vận động và các hoạt động: Khi bước vào tuổi ấu

nhi, mối quan hệ của trẻ với đồ vật thay đổi đáng kể – Hoạt động với đồ vật là hoạt

động chủ đạo của tuổi ấu nhi. Đồ dùng đối với trẻ không chỉ là đồ chơi mà còn có

những ý nghĩa nhất định với phương thức sử dụng tương ứng. Chẳng hạn như cái thìa

dùng để ăn cơm và có cách cầm muỗng sao cho đúng và không rơi vãi thức ăn. Trẻ 12

– 18 tháng có thể tự ăn bằng thìa, lúc mới bắt đầu tập xúc thì có thể tự xúc được 1/3,

sau đó nhờ người lớn hỗ trợ. Khoảng 3 tuổi, bé có thể tập dùng cơm bằng đũa, tự xúc

ăn trong 20 – 30 phút. Trẻ giai đoạn này có thể thực hiện một số hoạt động thể chất

như chạy, nhảy… Trẻ đang trong giai đoạn phát triển hệ xương và các cơ ngón tay, cổ

tay. Trẻ cầm nắm được các vật nhỏ và thao tác bằng tay với đồ vật. Vào cuối giai

đoạn, trẻ bắt đầu có thể điều khiển ruột và bàng quan theo chủ đích, nghĩa là trẻ bắt

đầu kiểm soát được khi trẻ có nhu cầu đi vệ sinh, đại tiện…

Đặc điểm tâm lý – tình cảm: Tuy nhận thức của trẻ con giới hạn nhưng trẻ đã bắt

đầu nhận thức được sự việc, có thể nói “Không” hay có biểu hiện khi trẻ không thích,

chứ không hoàn toàn đồng ý với sự sắp đặt của người lớn ở độ tuổi hài nhi. Nhận thức

độc lập của trẻ được hình thành, trẻ có thể tự phân biệt ngoại cảnh thông qua quá trình

khám phá thế giới xung quanh. Giai đoạn này trẻ tiếp tục phát triển các kỹ năng và

kinh nghiệm đáp ứng với đối tượng khác. Sự trưởng thành về tình cảm của trẻ em gắn

liền với sự phát triển cảm giác, vận động, sự phát triển của ngôn ngữ và khả năng nhận

40

thức, cùng với sự nhận thức và khẳng định bản thân. Từ những xúc cảm tràn lan,

không phân định xuất hiện kèm theo các nhu cầu được thỏa mãn hay không thỏa mãn

của lứa tuổi bế bồng, theo thời gian phát triển, xúc cảm, tình cảm của trẻ ngày càng

được biệt hóa, được phân định rõ rệt.

Trẻ ấu nhi dễ xúc cảm, đặc điểm này có từ giai đoạn tuổi trước nhưng đến tuổi

này những phản ứng cảm xúc ổn định hơn. Mặc dù tính chất của cảm xúc vẫn mạnh,

có tính bột phát, mãnh liệt, nhưng đã hướng tới một đối tượng khá rõ rệt và ổn định.

Tuy nhiên, nhìn chung trẻ chưa làm chủ được cảm xúc của mình. Xúc cảm tình cảm

của trẻ tuổi này vẫn là vô thức. Trẻ chưa tự nhận ra được tính chất của xúc cảm tình

cảm của mình với người khác. Tuy vậy, trẻ cảm nhận khá chính xác tính chất những

phản ứng xúc cảm của người khác và biết cách ứng xử vừa lòng người khác hoặc bắt

người khác chiều theo ý mình. Lứa tuổi này, một hiện tượng cảm xúc hay gặp ở trẻ là

lo lắng. Càng lớn trẻ càng có nhiều hơn sự lo lắng, nhiều khi nó in dấu khá sâu đậm

trong trí trẻ, làm mất đi cảm giác an toàn, khiến trẻ trở nên sợ hãi. Đối tượng sợ hãi

thường là các con vật, bóng tối, người lạ, thầy thuốc, các hiện tượng tự nhiên như

giông bão...

Đặc điểm tâm lí – trí tuệ: Ở trẻ ấu nhi, hoạt động với đồ vật trở thành chủ đạo.

Chính nhờ vậy mà tâm lí của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí tuệ. Điều quan trọng là

trong khi lĩnh hội những hành động sử dụng các đồ vật sinh hoạt hằng ngày thì đồng

thời trẻ cũng lĩnh hội được những quy tắc hành vi trong xã hội. Thái độ của người lớn

lúc này đồng tình hay phản đối là hết sức quan trọng để củng cố việc nắm vững quy

tắc hành vi xã hội cho trẻ.

Hứng thú ngày càng tăng của trẻ đối với hoạt động kích thích trẻ hướng tới người

lớn, mở rộng giao tiếp với họ để mong được họ giúp đỡ trong việc nắm vững cách

thức sử dụng đồ vật xung quanh. Đó chính là yếu tố làm nảy sinh ở trẻ nhu cầu giao

tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ. Trẻ lên 3 đã biết dùng nhiều đồ vật trong sinh hoạt

hàng ngày, biết tự phục vụ, biết giao tiếp bằng ngôn ngữ với mọi người và biết thực

hiện những quy tắc hành vi sơ đẳng trong xã hội [37, tr.178]. Trẻ mới biết đi có vốn từ

giới hạn trong khoảng 500 – 3000 từ và chỉ có thể hình thành những câu nói 3-4 từ. Về

nhận thức, trẻ trong độ tuổi này chỉ nhận thức trong đầu của trẻ. Điều này có nghĩa là

41

trẻ nhìn nhận mọi thứ dựa vào quan điểm của riêng trẻ. Trẻ cho rằng những gì người

khác nhìn thấy, cảm nhận sẽ giống với cách chúng làm (có nghĩa là chúng làm gì,

chúng cảm nhận như thế nào thì người khác nhìn thấy và cảm nhận giống như trẻ) và

tin rằng người lớn biết hết mọi thứ. Điều này dẫn đến chúng không cần phải giải thích

một cách cụ thể nữa.

Trẻ 18 – 36 tháng bắt đầu có thể xâu chuỗi các kinh nghiệm từ những chi tiết

xung quanh trong trường hợp cụ thể và kết hợp lại để đặt những câu hỏi. Trẻ đang học

để sử dụng trí nhớ và tiếp thu những điều cơ bản của tự lập. Việc nắm vững các hoạt

động với đồ vật và mở rộng giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh tạo

điều kiện cho trẻ phát triển trí tuệ cách mạnh mẽ.

Đặc điểm sự hình thành tiền đề nhân cách ban đầu của trẻ: Giai đoạn này trẻ

chưa thực sự là một nhân cách, nhưng đây là giai đoạn hình thành nên những tiền đề

nhân cách quan trọng như:

− Hình thành cấu tạo tâm lí bên trong - thế giới nội tâm.

− Hình thành sự tự ý thức.

− Hình thành nguyện vọng độc lập và hiện tượng khủng hoảng tâm lý tuổi lên ba.

Một trong những điều này cần chú ý hiện tượng khủng hoảng tâm lí tuổi lên 3,

ảnh hường đến hành vi cũng như thái độ của trẻ đối với cuộc sống, trong đó có các

42

hoạt động dinh dưỡng, sức khỏe.

Tiểu kết chương 1

Thông qua việc thu thập kiến thức, tìm hiểu và phân tích một số nghiên cứu về

vấn đề trên thế giới và ở Việt Nam, luận văn đã hệ thống lại một số khái niệm công cụ

cùng một số vấn đề liên quan đến đề tài. Luận văn trình bày một số nội dung xoay

quanh thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng về hành vi ăn uống, nội

dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến

việc hình thành thái độ ăn uống tích cực cũng như một số biện pháp hình thành thái độ

tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng… Luận văn cho rằng: Biện pháp hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập là cách làm tác động lên trẻ trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn

nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về bữa ăn và một số kỹ năng trong ăn

uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh, hình thành nên thái độ ăn uống

tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần tạo nền

tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.

Đồng thời cũng tìm hiểu và phân tích một số nguyên nhân hình thành thái độ ăn

uống không tích cực và tự lập của trẻ, gồm có những nguyên nhân xuất phát từ bản

thân trẻ, từ cách thức tổ chức cũng như môi trường ăn cho trẻ và ảnh hưởng của gia

đình đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Đây sẽ nền tảng

cho việc tìm hiểu thực trạng trong Chương II cũng như đề xuất một số biện pháp cải

thiện tại Chương III.

Cùng việc giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cũng như tác động của giáo

dục dinh dưỡng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36

tháng… Luận văn cũng nhận thấy việc tổ chức bữa ăn hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập của trẻ vẫn không thể không tách rời với quy định nhu cầu dinh dưỡng

khẩu phần ăn hay phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ 18 – 36 tháng. Đây là

những yếu tố cần và đủ cho việc ứng dụng vào xây dựng biện pháp hình thành thái độ

43

ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ.

Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Thông qua tìm hiểu một số vấn đề về cơ sở lý luận, luận văn xây dựng kế hoạch

khảo sát thực trạng như sau:

2.1. Khái quát việc tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.1.1. Mục đích – Yêu cầu

Luận văn khảo sát thực trạng với mong muốn đi sâu vào thực tế, tìm hiểu và thu

thập những thông tin về các vấn đề liên quan đến thái độ ăn uống tích cực, tự lập cho

trẻ cũng như hiểu biết và biện pháp giáo viên đã thực hiện trong tổ chức bữa ăn hàng

ngày cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non nhằm hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập.

2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ điều tra thực trạng

- Tìm hiểu và đánh giá mức độ hiểu biết của giáo viên về việc tổ chức bữa ăn

hàng ngày cũng như các biện pháp đã sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực và

tự lập cho trẻ.

- Điều tra thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18-36 tháng tại

trường mầm non.

- Tìm hiểu và phân tích nguyên nhân thực trạng.

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu

2.1.3.1. Phương pháp quan sát

Đề tài sử dụng phương pháp quan sát trẻ kết hợp một số phương pháp khác để

tìm hiểu và đánh giá các biểu hiện tích cực và tự lập của trẻ trong các bữa ăn được xác

thực hơn thông qua bảng quan sát (checklist) - gồm các phần sau:

- Phần 1: Thông tin của trẻ: Họ và tên – Tháng tuổi – Nhóm tuổi – Giới tính.

- Phần 2: Biểu hiện của trẻ. Phần này gồm 2 nhóm biểu hiện riêng biệt:

 Nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tích cực.

 Nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tự lập.

- Phần 3: Ghi nhận thông tin thêm và hành vi của giáo viên khi cho trẻ ăn.

44

2.1.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này thiết kế nhằm khảo sát và thu nhận thông tin từ cán bộ quản lí,

giáo viên mầm non trên diện rộng. Đây là phương pháp chủ yếu, được thiết kế bao

gồm các câu hỏi thu thập thông tin về cách thức tổ chức bữa ăn, giáo dục dinh dưỡng,

những biện pháp giáo viên đã thực hiện để hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng. Kết quả thu phiếu được đính kèm ở bảng Phụ lục 5.

Bảng hỏi gồm có 2 phần:

- Phần 1: Thông tin chung về khách thể .

- Phần 2: Nội dung câu hỏi.

Phần nội dung của bảng hỏi gồm 10 câu hỏi được thiết kế theo nhiều dạng: Câu

hỏi có một lựa chọn, câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu hỏi mở…

Cấu trúc của bảng hỏi được thiết kế với các phần như sau: (Phụ lục 2)

- Nội dung và cách thức tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường

mầm non.

- Hiểu biết của giáo viên về các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập.

- Nhận định của giáo viên về nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến thái độ ăn

uống không tích cực và tự lập ở trẻ.

- Tìm hiểu một số biện pháp được giáo viên sử dụng khi cho trẻ ăn nhằm hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

2.1.3.3. Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ nhi, cán bộ phòng mầm non, ban giám

hiệu, giáo viên và phụ huynh trẻ để thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá cần thiết liên

quan đến vấn đề. Phương pháp này tiến hành để tìm hiểu sâu hơn và hỗ trợ cho việc

xác thực hơn tính chính xác trong việc trả lời bảng hỏi (Phụ lục 3).

2.1.3.4. Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được và phân

tích các dữ kiện, định lượng số liệu thông qua các thông số: Tần số, điểm trung bình,

độ lệch chuẩn, các kiểm nghiệm thống kê, tỉ lệ %…

2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

45

2.2.1. Thông tin chung về khách thể nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu này, luận văn khảo sát 156 giáo viên (bao gồm cả cán bộ

quản lý). Trong đó, số giáo viên nhóm 18 – 24 tháng có 63 phiếu chiếm 40,4% và 93

phiếu chiếm 59,6 % giáo viên nhóm lớp 25 – 36 tháng. Tỉ lệ này được biểu hiện bằng

28%

Nhóm 25 - 36 tháng

Nhóm 18 - 24 tháng

72%

Biểu đồ 2.1:

Biểu đồ 2.1. Phân bố tỉ lệ giữa giáo viên nhóm lớp 18 – 24 tháng và 25 – 36 tháng

Thống kê cho thấy 100% giáo viên đều là nữ. Trên thực tế, nữ giới có khả năng

làm việc với trẻ tốt hơn nam giới. Đặc biệt hơn khi khảo sát về độ tuổi ta thấy đa số 26

– 35 tuổi (chiếm 46%) – độ tuổi này ngoài xã hội đã lập gia đình và có con, chính vì

thế có nhiều kinh nghiệm hơn về chăm sóc trẻ 18 – 36 tháng. Biểu đồ 2.2 sẽ cho thấy

cụ thể hơn về mức độ phân bố không đồng đều này: Có 1% giáo viên trên 55 tuổi,

15% từ 46 – 55 tuổi và độ tuổi 36 – 45 tuổi và nhiều hơn là độ tuổi 18 – 25 tuổi (chiếm

23%) – Đây cũng là độ tuổi mới ra trường với thâm niên làm việc chưa cao, chủ yếu là

0 – 5 năm kinh nghiệm trong tổng số 58% giáo viên nhóm khảo sát có thâm niên công

1%

0% 0%

15%

23%

18-25 tuổi

15%

26-35 tuổi

36-45 tuổi

46%

46-55 ttuổi

Trên 55 tuổi

tác từ 5 năm trở lại.

46

Biểu đồ 2.2. Khoảng độ tuổi của giáo viên

Còn lại 42% phân bố tương đối cho các độ tuổi khác, nhiều hơn là 18% giáo viên

có thâm niên 6 – 10 năm. Được biết ở một số trường mỗi năm đều sắp xếp lại giáo

viên theo kinh nghiệm, nguyện vọng và nhu cầu hiện tại. Do đó, thâm niên của giáo

viên chỉ là thể hiện chung trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung, không

11%

0-5 năm

18%

11-15 năm

58%

10%

16-20 năm

6-10 năm

Trên 20 năm

3%

phải trẻ 18 – 36 tháng nói riêng. Biểu đồ 2.3 sẽ biểu hiện cụ thể về điều này:

Biểu đồ 2.3. Thâm niên công tác của giáo viên

Khảo sát về trình độ học vấn của giáo viên – Một trong những thông tin quan

trọng để đánh giá mẫu khảo sát – Chúng tôi thấy có 35% giáo viên ở trình độ cao

đẳng, 34% giáo viên trình độ đại học. Cụ thể kết quả thống kê được trình bày ở Biểu

1% 1%

PT 12/12

10%

34%

19%

Trung cấp

Cao đẳng

35%

Đại học

Sau đại học

Khác

đồ 2.4:

47

Biểu đồ 2.4. Trình độ học vấn của giáo viên

Như vậy, ta thấy, có khoảng 70% giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ có trình đồ từ

cao đẳng, đại học trẻ lên. Trình đồ của giáo viên cũng phản ảnh phần nào được chất

lượng chăm sóc – giáo dục trẻ tại địa bảng nghiên cứu. Ngoài những yếu tố trên, sự

phân bố số cô và số trẻ trong một lớp cũng ảnh hưởng nhiều đến toàn bộ quá trình

11%

10%

46%

0-20 trẻ

20-30 trẻ

33%

30-40 trẻ

Trên 40 trẻ

chăm sóc trẻ. Cụ thể số liệu thống kê được biểu hiện quá Biểu đồ 2.5:

Biểu đồ 2.5. Phân bố số trẻ trong lớp

Biểu đồ 2.5 cho ta thấy: 46% lớp có tổng số trẻ dao động từ 0 – 20 trẻ, 33% dao

động từ 20 – 30 trẻ, còn lại 10% từ 30 – 40 trẻ và 11% trên 40 trẻ/lớp. Theo thống kê

ghi nhận, đa số các trường có khoảng 20 – 30 trẻ/lớp và số giáo viên khoảng 2 – 3

cô/lớp. Vậy trung bình mỗi cô dao động 10 – 15 trẻ/cô. So với những năm trước thì

mức độ phân bố số cô và trẻ có giảm đi, dù vẫn còn ở mức tương đối cao nhưng cũng

là thực tế đáng mừng, bởi tỉ lệ cố và trẻ giảm đi thì chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ

cùng được cải thiện. Giáo viên có thể quan tâm sâu sắc hơn và bao quát trẻ của mình

48

tốt hơn.

3%

6%

12%

1 cô

29%

2 cô

3 cô

50%

4 cô

5 cô

Biểu đồ 2.6. Phân bố số cô trong lớp

Trên đây là một số nhận xét chung về nhóm khảo sát, các yếu tố luận văn đưa ra

đều là những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ, cụ thể

thông qua hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non. Những nội dung này

sẽ cung cấp một số thông tin chung để có cái nhìn tổng quát thực trạng giáo dục mầm

non trong địa bàn nghiên cứu của khóa luận.

2.2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống

tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

2.2.2.1. Thực trạng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

Quá trình tìm hiểu ghi nhận 100% các trường khảo sát đều là có chế độ bán trú.

Do đó, đa số trường tổ chức 3 – 4 bữa ăn/ngày. Cụ thể có 54,5% giáo viên tổ chức 3

bữa và 45,5% tổ chức 4 bữa/ngày cho trẻ tại trường.

Bảng 2.1. Tần số bữa ăn của trẻ tại trường

Số lần ăn Tần suất Tỉ lệ %

1 bữa 0 0

2 bữa 0 0

3 bữa 84 54,5

4 bữa 70 45,5

49

Bảng 2.1 được thể hiện cụ thể hơn qua biểu đồ sau:

0% 0%

46%

1 bữa

54%

2 bữa

3 bữa

4 bữa

Biểu đồ 2.7. Tần số cử ăn của trẻ tại trường

Song song với thông kê số lượng bữa ăn được tổ chức cho trẻ tại trường mầm

non, ta thấy hầu hết các trường đều tổ chức hai bữa ăn chính:

- Bữa sáng với các món nước được thay thế luân phiên như: Nui, mì, bún, bánh

ngọt… Dùng kèm sữa tươi.

- Bữa trưa thường dùng: Cơm nát/cơm thường, món mặn, canh và tráng miệng,

tùy theo từng độ tuổi.

Ngoài ra, để bổ sung thêm dưỡng chất cho trẻ, trường mầm non thường tổ chức

thêm bữa phụ/bữa xế. Trao đổi với giáo viên, chúng tôi thấy: Thời gian tổ chức bữa ăn

ở khối nhà trẻ tương đối hợp lí. Giờ ăn sáng của trẻ diễn ra trong khoảng từ 7h – 7h30,

ăn trưa từ 10h – 10h45 do đặc điểm tâm lí của trẻ nhà trẻ mà trường có thể tổ chức cho

trẻ ăn trong khoảng thời gian sớm hơn và ngắn hơn so với trẻ các nhón lớp khác.

Ngoài ra, bữa xế thường từ khoảng 3h chiều sau khi trẻ ngủ trưa và hoạt động chiều

kết thúc. Một số trường có bữa thứ tư thường cho trẻ ăn dặm thêm trái cây, bánh nhẹ,

sữa, nước trái cây vào khoảng 9h sáng mỗi ngày.

Có thể thấy, số lần tổ chức các bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non khá dày. Việc

trẻ có quá nhiều bữa ăn trong ngày có thể sẽ khiến trẻ cảm thấy sợ nhưng để đảm bảo

dưỡng chất thì các trường vẫn phải thực hiện chế độ ăn uống như vậy. Do đó, mục tiêu

50

cụ thể nên làm không phải là cắt giảm khẩu phần ăn cho trẻ mà là làm thế nào để cải

thiện thái độ ăn uống của trẻ, khiến trẻ cảm thấy ăn là nhu cầu chứ không phải là trách

nhiệm. Và đó cũng là tiêu chí của luận văn này.

Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu một số thực phẩm bổ sung cho bé ngoài bữa

chính, luận văn ghi nhận một số kết quả sau (Phụ lục 1):

Bảng 2.2. Thực phẩm bổ sung ngoài các bữa ăn cho trẻ

Thực phẩm Tần số xuất hiện Tỷ lệ %

1 = Sữa 156/156 100%

2 = Nước trái cây 131/156 84%

3 = Bánh mì/ Bánh kẹo chung 30/156 19,2%

4 = Khác 31/156 19,9%

Theo kết quả trên, 100% trường bổ sung thêm sữa và 84% là bổ sung nước trái

cây cho trẻ. Sữa được bổ sung vào hai bữa: sáng (dùng kèm với thức ăn chính) và trưa

(sau khi các bé ăn cơm xong – do phụ huynh gởi vào trường). Ngoài ra, chế độ cho các

bé suy dinh dưỡng, nhẹ cân hay những trẻ thường ăn rất ít vào bữa trưa, giáo viên

thường cho trẻ dùng thêm sữa cho trẻ sau khi ngủ dậy.

Số trường chuẩn bị cho trẻ bánh mì/bánh kẹo nói chung nhưng con số này chiếm

19,2% là tương đối ít. Một số trẻ có thói quen ăn nhiều bữa nhỏ, sẽ có nhu cầu ăn thêm

156

131

31

30

Sữa

Khác

Nước trái cây

Bánh mì/bánh kẹo nói chung

ngoài giờ. Như vậy sẽ mất đi cơ hội cho trẻ ăn khi có nhu cầu.

Biểu đồ 2.8. Tần suất xuất hiện các thực phẩm bổ sung

51

ngoài bữa ăn cho trẻ

Về địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ: 84,9% giáo viên tổ chức giờ ăn trong lớp.

Con số này chiếm đại đa số, nguyên nhân phụ thuộc nhiều vào tình hình cơ sở vật chất

của trường cũng như để cho việc tổ chức và kiểm tra theo từng nhóm lớp… Còn lại tổ

chức cho trẻ ăn ngoài sân (chiếm 12,6%) và trường có phòng ăn riêng cho trẻ (chiếm

22,6%) chiếm tỉ lệ tương đối ít, xuất hiện đa số ở trường quốc tế và trường tư thục có

mức học phí cao. Tần số và tỉ lệ phần trăm được thể hiện thông qua bảng sau:

Bảng 2.3. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ

TT Địa điểm 1 Tần số Tỷ lệ % 135/156 86,5%

2 20/156 12,8%

Trẻ được ăn trong lớp (Không gian tổ chức chung các hoạt động khác) Trẻ được ăn ngoài sân (Bên ngoài lớp học, dưới bóng cây...) Trường có phòng ăn riêng cho trẻ 3 36/156 23,1%

Biểu đồ 2.9 cho thấy được mức độ chênh lệch về địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ.

Trên thực tế có nhiều địa điểm giúp trẻ cảm thấy thoải mái hơn khi ăn với sự bày trí

không gian cách hợp lý có thể tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, giải quyết được

nhiều vấn đề trong tổ chức bữa ăn cho trẻ. Phòng ăn riêng với các tiện nghi, giáo viên

có thể trang trí phù hợp theo từng chủ đề về dinh dưỡng sức khỏe, nhưng nó phụ thuộc

vào điều kiện kinh tế - cơ sở vật chất của trường. Tuy nhiên, việc tổ chức cho trẻ ăn

ngoài sân thì không khó, vì theo chuẩn thành lập trường hiện nay, hầu hết các trường

đều cần có sân chơi cho trẻ, dù lớn hay nhỏ. Do đó, việc ít tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân

135

36

20

Trẻ được ăn trong lớp Trẻ được ăn ngoài sân Trường có phòng ăn

riêng cho trẻ

chủ yếu là do cách thức tổ chức và nhận định của riêng từng trường.

52

Biểu đồ 2.9. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ

Trong số các trường được khảo sát, luận văn thấy đại diện cho mô hình tổ chức

cho trẻ ăn ngoài sân - trường mầm non Hoa Hồng Đỏ – Q.9, trẻ được ăn bên cạnh

những trẻ lớp khác và không khí thoáng mát hơn khi ăn ở trong phòng, nhiều trẻ rất

vui vẻ và thoải mái trong giờ ăn. Giáo viên cũng có không gian rộng hơn để có thể đi

lại và bao quát trẻ.

Hình 2.1: Tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân và trong nhà tại trường mầm non Hoa

Hồng Đỏ – Q.9.

Trường hợp ở trường mầm non quốc tế Ngôi Sao Nhỏ ở Q.Bình Tân – Trẻ ăn tại

phòng ăn riêng – Ảnh hưởng bởi mô hình trường mầm non liên kết các bậc học khác

cao hơn. Chính vì thế, trẻ được ăn chung trong nhà ăn theo từng lớp. Đến giờ, giáo

viên cho trẻ đi theo hàng di chuyển về nhà ăn, cùng ăn với trẻ. Bảo mẫu và cấp dưỡng

sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị và giúp đỡ trẻ trong khi ăn. Điều này không lạ ở các

trường quốc tế tại Việt Nam, nhưng lạ đối với các trường công và tư thục. Giáo viên

thường không ăn chung với trẻ để đảm bảo giờ ăn cho trẻ, tuy nhiên, ý kiến chủ quan

của chúng tôi khi quan sát thấy rằng, việc cho trẻ ăn chung với giáo viên như trường

trên cũng có nhiều hiệu quả – Trẻ được ăn chung với giáo viên có thể quan sát và bắt

chước hành vi ăn uống của cô… Vì vậy, khi biết thực trạng này sẽ giúp luận văn có

những hướng gợi ý về địa điểm ăn uống của trẻ cho giáo viên thực hiện. Bởi địa điểm

tổ chức là một trong những nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hình thức tổ chức bữa ăn

53

cho trẻ.

Hình 2.1: Tổ chức cho trẻ tại phòng ăn riêng cùng nhóm trẻ lớn hơn tại trường

mầm non Ngôi Sao Nhỏ – Q.Bình Tân

Về cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ: Bảng 2.4 cho thấy, trường mầm non chủ

yếu cho trẻ ngồi ngay ngắn trên bàn ăn, các hình thức khác rất ít được thực hiện. Cụ

thể: 94,9% giáo viên thường cho trẻ ngồi ngăn ngắn trên bàn – con số chiếm rất cao và

cũng là hình thức khá phổ biến. Chúng ta không thể phủ nhận biện pháp này giúp trẻ

tập trung và ý thức rõ ràng trong giờ ăn. Tuy vậy, nếu thiếu sự thay đổi linh động các

hình thức tổ chức khác dễ khiến trẻ nhàm chán, cảm thấy bị gò bó trong lúc ăn, lâu dài

hình thành thái độ ăn uống thụ động. Tuy hiếm khi giáo viên cho trẻ ngồi trên sàn nhà

(chiếm 1,9%) hay trẻ được chọn nơi mà trẻ muốn ăn (chiếm 3,8%) và tổ chức các bữa

tiệc tự chọn cho trẻ (chiếm 10,9%), đáng lưu ý ở đây, một số ít giáo viên ghi chú đã tổ

chức tại trường của mình nhưng chỉ cho các trẻ độ tuổi lớn hơn. Trao đổi thêm với

giáo viên được biết, nguyên nhân chính do nhà trường chưa có đủ điều kiện để thực

hiện cách đại trà hay do trẻ chưa đáp ứng đủ kỹ năng để tổ chức cho trẻ như trẻ lớp

lớn… Ngoài ra, 10% giáo viên cho trẻ lớp mình ăn chung với khối lớp khác và

0,4%% tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực theo phong trào của trường.

Về mặt bằng chung, các trường có sự linh động và đa dạng các hình thức tổ chức

bữa ăn cho trẻ, nhiều trường đã có sự thay đổi luân phiên 2 – 3 phương pháp với nhau.

54

Tuy nhiên, về mức độ ứng dụng, ta thấy chưa đạt được mức độ hiệu quả cao.

Bảng 2.4. Hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ

TT Hình thức Tần số Tỷ lệ %

1 Ngồi trên bàn ngay ngắn 148/156 94,9%

2 Ngồi bệch dưới sàn nhà 3/156 1,9%

Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn 3 6/156 3,8% (có thể trên bàn hay dưới sàn...)

Tổ chức các bữa ăn cho trẻ tự chọn, tự phục vụ 4 17/156 10,9%

5 Cho trẻ các khối lớp ăn chung với nhau 15/156 10%

6 Tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực 6/156 0,4%

Dưới đây là biểu đồ thể hiện tần số xuất hiện và so sánh tương quan giữa việc

56

9

6

3

2 Ngồi bệch dưới sàn nhà

Ngồi trên bàn ngay ngắn

Cho trẻ các khối lớp ăn chung với nhau

Tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực

Tổ chức các bữa ăn cho trẻ tự chọn, tự phục vụ

2 Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn (có thể trên bàn hay dưới sàn...)

sử dụng các biện pháp thay đổi hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non:

Biểu đồ 2.10. Hình thức tổ chức cho trẻ ăn

Xét đến đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn hàng ngày, Bảng số liệu 2.5 cho thấy:

Bảng 2.5. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn

Đồ dùng TT Tần số Tỉ lệ %

1 Chén 54/156 34,6%

2 Tô nhỏ 114/156 73,1%

55

3 Muỗng 156/156 100%

Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà 4 0/156 0%

Nĩa 5 2/156 1,3%

Dao 6 0/156 0%

7 Khay ăn 3 /nhiều ngăn 15/156 10%

Hầu hết giáo viên đều cho trẻ dùng muỗng khi ăn (chiếm 100%) cùng với chén

(chiếm 34,6%) và tô nhỏ (chiếm 73,1%). Ngoài ra, giáo viên một số trường còn cho trẻ

dùng nĩa và khay nhiều ngăn. Nhưng không một giáo viên nào cho trẻ ăn bằng khay ở

nhà do phụ huynh mang đến lớp hay dao… Nguyên nhân cụ thể do ngại nguy hiểm

đến trẻ và phụ huynh ít hợp tác. Luận văn nhận thấy nếu thỉnh thoảng trẻ được ăn bằng

đồ dùng của trẻ sử dụng tại nhà cũng tạo nên những tác động tích cực, làm tăng hứng

thú của trẻ đối với bữa ăn cũng như tạo nên sự đa dạng về đồ dùng sử dụng ăn uống

159

114

54

15

0

Chén

Tô nhỏ

2 Nĩa

0 Dao

Muỗng Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà

Khay ăn 3 /nhiều ngăn

cho trẻ nhằm có thể lôi cuốn các trẻ khác.

Biểu đồ 2.11. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn

Biểu đồ 2.11 cho thấy sự so sánh giữa các đồ dùng được dùng cho trẻ ăn tại

trường. Luận văn cho rằng, lợi ích việc cho trẻ ăn bằng khay ở nhà giúp trẻ cảm thấy

bữa ăn tại trường mầm non trở nên quen thuộc, cải thiện được bầu không khí tâm lí khi

ăn. Trao đổi giáo viên tại một trường mầm non Q.7, cô cho biết phụ huynh thường

quan tâm việc học của trẻ hơn vàcác hoạt động ngoại khoá, đôi khi giáo viên yêu cầu,

56

nhiều phụ huynh từ chối sự hỗ trợ và ít tham gia cùng trẻ.

Không bàn đến khía cạnh phụ huynh, điều luận văn quan tâm là trường mầm non

và giáo viên có thật sự làm tốt công tác tuyên truyền về chăm sóc và giáo dục trẻ, cung

cấp thông tin cần thiết phụ huynh cũng như tranh thủ sự phối hợp và hỗ trợ này. Cụ

thể, khi hỏi về nhân sự tổ chức bữa ăn cho trẻ, kết quả ghi nhận có 75,6 % là giáo viên

trong lớp, 59,6 % bảo mẫu hay cấp dưỡng phụ trách cho ăn. Các nhân tố khác rất ít khi

tham gia vào hoạt động này.

Bảng 2.6. Nhân sự hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường

TT Nhân sự Tần số Tỉ lệ %

118/156 75,6 % 1 Chỉ các giáo viên trong lớp

93/156 59,6 % 2 Bảo mẫu / Cấp dưỡng

5/156 3,2 % 3 Ban giám hiệu

Phụ huynh 2/156 1,3 % 4

Tình nguyện viên 0/156 0 % 5

Trẻ lớp khác 4/156 2,6 % 6

Bảng 2.6 còn cho thấy hiện này không có một trường mầm non nào tiếp nhận

tình nguyện viên vào trường để tham gia các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ cách

thiện nguyện. Đây là một lực lượng sẵn sàng tham gia góp phần vì mục tiêu cộng đồng

hay có thể là những sinh viên đang theo học tại trường sư phạm chuyên ngành Giáo

dục Mầm non, muốn được đi sát với thực tế hơn, nhằm nâng cao vốn hiểu biết của bản

thân về trường mầm non, cũng như hiểu hơn về đặc điểm tâm lí, giao tiếp với trẻ, làm

quen dần với chế độ làm việc tại trường mầm non… Luận văn nhận thấy, việc tiếp

nhận sự hỗ trợ từ xã hội có thể giúp trẻ giao tiếp tốt hơn với người lớn xung quanh, tạo

cho trẻ sự thoái mái, tự tin trong giao tiếp cũng như có được những niềm vui trong ăn

uống… Ngoài ra, hai nhóm đối tượng mà luận văn quan tâm cũng thấy sự đóng góp rất

hạn chế trong việc hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mâm non, đó chính là phụ

huynh và trẻ lớp lớn. Cụ thể có 1,3 % phụ huynh tham gia hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho

trẻ tại trường và 2,6% trẻ được ăn chung với trẻ lớp khác theo nhu cầu

Trao đổi với chị Thư (Phụ huynh có trẻ 24 tháng) chị cho biết con chị từ nhỏ đã

57

được tập ăn bóc theo phương pháp ăn dặm bé chỉ huy, do đó bé ăn thô được rất sớm và

không thích thức ăn nhuyễn. Chị trao đổi với trường mầm non để con chị có thể ăn

khẩu phần ăn của các bé lớn hơn. Kết quả trẻ thích thú và ăn được nhiều hơn với sự

điểu chỉnh này. Trường hợp này có thể thấy trường mầm non vẫn có thể có sự điểu

chỉnh sao chi phù hợp với từng cá nhân trẻ. Nếu trẻ ăn nhuyễn, giáo viên có thể gởi trẻ

dùng phần ăn của trẻ nhỏ hơn, hay ngược lại như trường hợp trên. Tuy nhiên, cần cho

trẻ hiểu đây chỉ là sự thay đổi tạm thời để con có thể ăn ngon miệng hơn, không phải

là một sự hình phạt cho sự kén ăn của trẻ.

Thực trạng trên cho ta thấy điều đáng quan tâm là nhân tố phụ huynh – là thành

phần quan tâm trẻ nhất và sẵn sàng giúp đỡ khi có con trẻ của họ có nhu cầu lại có rất

118

93

5

4

Ban giám hiệu

2 Phụ huynh

Trẻ lớp lớn

GV trong lớp Bảo mẫu / Cấp

dưỡng

0 Tình nguyện viên

ít sự hỗ trợ. Vậy vấn đề có thể do đâu?

Biểu đồ 2.12. Nhân sự hỗ trợ giáo viên tổ chức cho trẻ ăn

Tìm hiểu cách thức giáo viên và phụ huynh trao đổi thông tin để làm rõ hơn vấn

58

đề trên:

Bảng 2.7. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh

TT

Cách thức giáo viên trao đổi với PH

Tần số

Tỉ lệ %

Giáo viên của trẻ sẽ phụ trách

134/156

85,9 %

1

Trao đổi trong giờ đón/trả trẻ

98/156

62,8 %

2

Bảng thông tin dinh dưỡng, thực đơn hàng tuần tại

114/156

73,1 %

3

lớp

Phiếu theo dõi trẻ mỗi ngày

7/156

4,5 %

4

Phiếu theo dõi trẻ mỗi tuần

7/156

4,5 %

5

Phiếu theo dõi trẻ mỗi tháng

97/156

62,1 %

6

Trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua điện thoại hoặc

7

0/156

0 %

mạng cộng đồng

Dựa vào bảng 2.7, ta thấy giáo viên đã sử dụng nhiều hình thức liên lạc và trao đổi

thông tin với phụ huynh. Việc trao đổi này phần lớn giáo viên của trẻ sẽ phụ trách – do sỉ

số đông, giáo viên thường chia nhỏ lớp thành nhóm nhỏ hơn tùy theo số lượng, mỗi cô sẽ

chịu trách nhiệm mỗi nhóm. Việc trao đổi với phụ huynh sẽ do giáo viên phụ trách nhóm

có 85,9 % giáo viên nghĩ như vậy và thường trao đổi trong giờ đón/trả trẻ (chiếm 62,8 %),

trao đổi qua bảng thông tin dinh dưỡng và thực đơn hàng tuần tại lớp (chiếm 73,1 %) và

phiếu theo dõi bé hàng tháng (chiếm 62,1 %). Các biện pháp còn lại rất ít khi được sử

dụng.

Giáo viên và phụ huynh có thể linh hoạt trao đổi thông tin với nhau về trẻ thông

qua nhiều cách thức khác nhau cách phụ hợp. Nhiều phụ huynh không thể trao đổi

thông tin với giáo viên trong giờ đón trả trẻ có thể xem qua bảng tin lớp học hay

những cách khác. Luận văn quan tâm đến bảng tin lớp học, vì đa số các trường trong

địa bàn khảo sát đều liên lạc với phụ huynh bằng phiều theo hàng tháng, do đó khó thể

nào cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và kịp thời. Do đó bảng tin là một giải

phải được giáo viên chọn lựa để chuyển nội dung liên lạc đến với phụ huynh.

Hầu hết các nhóm lớp trong địa bàn nghiên cứu đều thực hiện bảng tin này, bảng

tin được treo ở một góc trước lớp học để phụ huynh nào cũng có thể chú ý. Tuy nhiên,

đa số các bảng tin hiện nay về dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ chỉ đơn thuần là một vài

bài báo được giáo viên sưu tầm từ sách tạp chí, từ internet… và thực đơn một tuần của

59

trẻ theo từng bữa ăn… Chúng tôi nhận thấy còn quá sơ sài, nội dung còn chưa được

phong phú do đó chưa thật sự hấp dẫn phụ huynh theo dõi, đặc biệt sự phản hồi của

134

114

98

97

8

7

7

Trao đổi trong giờ đón/trả trẻ

Trao đổi trực tiếp với phụ huynh

Giáo viên nhóm trẻ phụ trách

Phiếu theo dõi trẻ mỗi ngày

Phiếu theo dõi trẻ mỗi tuần

Phiếu theo dõi trẻ mỗi tháng

Bảng thông tin dinh dưỡng, thực đơn hàng tuần tại lớp

phụ huynh về bảng tin với giáo viên là hoàn toàn không có.

Biểu đồ 2.13. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh về vấn đề

ăn uống của trẻ

Tổng quát về khách thể nghiên cứu, luận văn nhận thấy việc tổ chức cho trẻ ăn

hình thành tính tích cực và tự lập cho trẻ bắt nguồn từ hiểu biết của giáo viên về vấn

đề này như thế nào. Giáo viên hiểu biết đúng về tinh thần và tầm quan trong của vấn

đề này sẽ có những cách thức tổ chức và biện pháp tác động hợp lí nhằm mang lại hiệu

quả cao hơn trong chăm sóc trẻ tại trường.

2.2.2.2. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực, tự lập của

trẻ 18 – 36 tháng

Trước hết, luận văn đánh giá chung về mức độ hiểu biết của giáo viên về các

biểu hiện thế nào là ăn uống tích cực và tự lập. Thông qua câu hỏi số 8 (Phụ lục 3)

“Theo cô (thầy), biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập là gì?”Đa số giáo viên

đều cho rằng thái độ ăn uống tích cực và tự lập là trẻ vui vẻ khi ăn và tự cầm muỗng

60

xúc ăn. Hiệu trưởng trường mầm non Q.Tân Bình cho biết“Trong không gian thoáng

mát, đối với trẻ 18 – 36 tháng cô tập cho trẻ tự xúc ăn, động viên trẻ ăn hết xuất. cô

không ép trẻ ăn nhanh mà phải ăn trong tâm thế thoải mái, vui, thích và ăn ngon

miệng, ăn hết tiêu chuẩn”. Phát biểu trên mở ra được nhiều khía cạnh của vấn đề, tuy

chưa đi trực tiếp vào khái niệm nhưng đã nêu lên được nhiều biểu hiện thái độ ăn uống

tích cực và tự lập, đồng thời cũng nói lên được những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình

giúp trẻ rèn luyện thói quen tốt trong ăn uống – đó chính là môi trường, là chính giáo

viên đang hướng dẫn và giúp đỡ trẻ.

Để có nhận xét cụ thể về mức độ hiểu biết của giáo viên về vấn đề trên, với mỗi

biểu hiện, giáo viên trả lời đúng tương ứng ghi nhận 1 điểm. Cụ thể theo kết quả thống

kê ở Bảng 2.8 ta thấy, số điểm giáo viên đạt được cao nhất là 5 điểm tương ứng với 5 ý

đúng – chỉ chiếm 11,5% còn lại 33,3% khác giáo viên để trống phần câu hỏi này.

Nguyên nhân có thể do khách quan và chủ quan. Luận văn không đủ thông tin ghi

nhận và đưa nhận xét với mức độ chính xác hơn về hiểu biết của giáo viên thông qua

kết quả trả lời câu hỏi này.

Bảng 2.8. Đánh giá hiểu biết của giáo viên

Tần số

Tỉ lệ %

0 điểm

52

32,7

1 điểm

2

1,3

2 điểm

26

16,4

3 điểm

Giá trị

36

22,6

4 điểm

22

13,8

5 điểm

18

11,3

Tổng

156

98,1

Phiếu lỗi

3

1,9

Tổng cộng

159

100,0

Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết, luận văn tiến hành khảo sát sự hiểu biết của giáo

viênbằng cách liệt kê ra các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập, khảo sát hiểu

biết của giáo viên bằng cách trả lời “Đồng ý” hay “Không đồng ý”.

Tương tự như cách thức trên, cứ mỗi câu đồng ý bằng với một đáp án đúng –

tương ứng đạt 1điểm. Tổng điểm tỉ lệ thuận với hiểu biết của giáo viên. Cụ thể kết quả

61

ghi nhận thông qua bảng sau:

Bảng 2.9. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của trẻ 18

– 36 tháng

Giá trị

4 7 8 9 10 11 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 Tổng cộng Tần số Phần trăm Giá trị % Phần trăm cộng dồn 1,3 5,1 4,5 8,3 0,6 2,6 3,2 3,8 1,9 1,9 7,1 14,1 8,3 5,8 12,2 1,9 14,1 3,2 100.0 1,3 6,4 10,9 19,2 19,9 22,4 25,6 29,5 31,4 33,3 40,4 54,5 62,8 68,6 80,8 82,7 96,8 100,0 1,3 5,1 4,5 8,3 0,6 2,6 3,2 3,8 1,9 1,9 7,1 14,1 8,3 5,8 12,2 1,9 14,1 3,2 100,0 2 8 7 13 1 4 5 6 3 3 11 22 13 9 19 3 22 5 156

Thống kê bảng điểm cho thấy hầu hết giáo viên đều có hiểu biết ít nhiều về thái

độ ăn uống tích cực của trẻ trong độ tuổi 18 – 36 tháng. Cụ thể, ít nhất giáo viên nhận

thức đúng 4 biểu hiện của trẻ (con số này chiếm 1,3%) và cao nhất là 14,1% giáo viên

đáp đúng 19 và 24 biểu hiện. Còn lại rải đều ở các tổng điểm khác. Số giáo viên trả lời

đúng các biểu hiện của trẻ chỉ chiếm 3,2%.

Nếu chia các tổng điểm thành các mức độ:

: Yếu (chiếm 1,3%) - 0 – 5 điểm

- 6 – 10 điểm : Trung bình (chiếm 18,6%)

- 11 – 15 điểm : Trung bình khá (chiếm 10,9%)

- 16 – 20 điểm : Khá (chiếm 51,9 %)

62

- 21 – 25 điểm : Tốt (chiếm 17,2%)

Có thể thấy đa số giáo viên hiểu biết đúng về các biểu hiện của trẻ, 51,9% hiểu

biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Từ 16 đến 25 câu là mức độ khá tốt

có 70%, điều nay cho thấy hiểu biết của giáo viên tuy tương đối cao. Nhiều giáo viên

tuy không trả lời được câu hỏi thế nào là thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ

nhưng khi được liệt kê ra thành những biểu hiện cụ thể, giáo viên vẫn nhận ra được

đâu là những biểu hiệu tích cực và những biểu hiện tự lập. Có thể kết luận, đa số giao

viên đều có những hiểu biết nhất định về những biểu hiện ăn uống của trẻ và những

hiểu biết đó còn nằm ở mức độ rời rạc, chưa được hệ thống lại một cách cụ thể. Hiểu

được điều này, luận văn sẽ bổ sung cơ sở lí luận để giáo viên có thể hiểu rõ hơn về vấn

đề này.

Bên cạnh đó vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong chăm sóc trẻ.

Một số giáo viêncho biết thường quan tâm và dành nhiều thời gian vào tổ chức các

hoạt động cho trẻ, chuẩn bị đồ dùng dạy học, đồ chơi… Nhưng lại ít quan tâm đến

việc tổ chức giờ ăn, do đó thực hiện như một hoạt động cố định, thường nhật, ít có

những thay đổi, đột phá. Hầu hết giáo viên ít khi đầu tư tìm hiểu hay linh động tổ chức

các biện pháp khác nhau để cải thiện bữa ăn cho trẻ. Phần khảo sát các biện pháp giáo

viên đã thực hiện trong tổ chức bữa ăn cho trẻ sẽ được phân tích cụ thể ở các mục bên

Tỉ lệ %

51.90%

18.60%

17.20%

10.90%

1.30% Yếu

Trung Bình

Trung Bình Khá

Khá

Tốt

dưới.

63

Biểu đồ 2.14. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ

ăn uống tích cực của trẻ 18 – 36 tháng

Tương tự như trên, để đánh giá hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tự lập

của trẻ, luận văn cũng liệt kê 15 biểu hiện tính tự lập của trẻ trong ăn uống. Theo kết

quả thống kê, ta thấy có 2,6% giáo viên đạt tối thiểu là 2/15 điểm, 14,1% giáo viên đạt

tối đa 15/15 điểm, chiếm nhiều nhất là 1,79% giáo viên đạt được mức 12 điểm. Kết

quả cụ thể được biểu hiện qua bảng sau:

Bảng 2.10. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng

Tần số Phần trăm Giá trị %

Giá trị

4 1 3 5 7 21 19 28 28 18 22 2,6 0,6 1,9 3,2 4,5 13,5 12,2 17,9 17,9 11,5 14,1 Phần trăm cộng dồn 2,6 3,2 5,1 8,3 12,8 26,3 38,5 56,4 74,4 85,9 100,0 2,6 0,6 1,9 3,2 4,5 13,5 12,2 17,9 17,9 11,5 14,1

156 100,0 100,0 2 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Tổng cộng

Theo bảng 2.10, luận văn chia các tổng điểm thành các mức độ như sau:

: Yếu (chiếm 2,6%) - 0 – 5 điểm

- 6 – 10 điểm : Trung bình khá (chiếm 23,7%)

- 11 – 15 điểm : Tốt (chiếm 76,3%)

Thống kê trên có thấy có 2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu

biết ở mức trung bình khá và nhiếu nhất là 76,3% hiểu biết ở mức độ tốt với các tỉ lệ %

rải đều từ 11 – 15 điểm với các mức độ chênh lệch không cao. Hiểu biết của giáo viên

về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng cao hơn so với hiểu biết các

biểu hiện tích cực. Kết quả này cũng cho thấy về các biểu hiện ăn uống tự lập giáo

64

viên có những hiểu biết cụ thể hơn.

Trung bình khá

Yếu

Tốt

2.6%

23.7%

76.3%

Biểu đồ 2.15. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ

ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng

Kết luận chung: Theo các kết quả thống kê cho thấy, đa số các giáo viên đều hiểu

biết nhất định về các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng.

Tuy mức độ tương đối cao nhưng kết quả cũng cho thấy biểu biết của giáo viên chỉ là

những hiểu biết riêng lẻ, chưa thống nhất và cụ thể về các biểu hiện ăn uống tích cực

và tự lập. Đồng thời các mức độ thấp hơn khác cũng chiếm một con số không nhỏ, đây

là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề ra một số biện pháp nhằm giúp nâng

cao nhận thức của giáo viên, cả về nhận thức về vấn đề và cách thức để giúp trẻ hình

thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.

Sau khi tìm hiểu các yếu tố về phía giáo viên, luận văn tiến hành tìm hiểu thực

trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng theo từng nhóm tuổi.

Trên cơ sở này rút ra một số kết luận chung về thái độ ăn uống của trẻ, kết hợp với

việc khảo sát các biện pháp giáo viên đã áp dụng đi đến tìm hiểu sâu và phân tích các

nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến đến trẻ.

2.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng tại

trường mầm non

2.3.1. Khái quát về thực trạng

Luận văn tiến hành khảo sát trên 173 trẻ. Trong đó 87 trẻ 18 – 24 tháng và 96 trẻ

25 – 36 tháng nhằm điều tra thực trạng về thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở từng độ

65

tuổi.

Việc điều tra thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng

được thực hiện tại: trường mầm non Hoa Hồng Đỏ (Q.9), trường mầm non Bồ Câu

Nhỏ (Q.1) và trường mầm non Ngôi Sao Nhỏ (Q.Bình Tân).

Kết quả điều tra thực trạng trên như sau:

2.3.2. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại

trường mầm non

Trong qua trình khảo sát, thông quan phương pháp quan sát, luận văn ghi nhận

những biểu hiện cụ thể trong quá trình ăn uống của trẻ, từ đó tổng hợp thông tin và

đánh giá theo những biểu hiện được đề cập trong Bảng 2.11.

Bảng 2.11. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại

trường mầm non

TT BIỀU HIỆN TẦN SỐ TỈ LỆ %

54/87 45/87 74/87 68/87 28/87 62% 51,7% 85,1% 78,2% 32,2%

A Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống 1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn 2 Trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức ăn khác nhau 3 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu 4 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi 5 Không ngậm thức ăn B Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống 6 Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn 42/87 48,3%

7 68/87 78,2% Không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn

59/87 67,8%

8 Không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ C Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn 9 Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc 10 Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế 11 Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn 12 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn 13 Trẻ biết từ chối khi no 16,1% 14/87 67,8% 59/87 10,3% 9/87 18/87 20,7% 38/87 43,67%

Để thấy rõ hơn về kết quả này, luận văn thể hiện kết quả thông kê qua Biểu đồ

66

2.16 đồng thời ghi nhận các kết quả như sau:

Một là trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống: Có 54 trẻ (chiếm 62%) trẻ

biết rửa tay trước khi ăn, 45 trẻ (chiếm 51,7%) trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức

ăn khác nhau, 74 trẻ (chiếm 85,1%) trẻ ăn trong thời gian tương đối, không quá lâu, 68

trẻ (chiếm 78,2%) trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng của lứa tuổi (chiếm 55,2%). Các con số

trên đều đạt được ở mức độ cao, riêng biểu hiện trẻ trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại

thức ăn khác nhau chỉ chiếm 51,7%, còn lại 48,3% trẻ vẫn chưa làm quen được với

chế độ cơm nát ở nhà trẻ. Nguyên nhân do trẻ được ăn thức ăn lỏng và nhuyễn từ nhỏ,

dẫn đến một số trẻ khó nuốt thức ăn thô và một số trường hợp khó nuốt. Trẻ chỉ uống

được sữa và ăn những thức ăn loãng… Tuy nhiên, điều đáng quan tâ, là trẻ không

ngậm thức ăn trong khi ăn chỉ chiếm 32,2%. Con số này tương đối ít và có nghĩa là

67,8 trẻ đang có thói quen ăn ngậm ở độ tuổi này. Qua tìm hiểu nguyên nhân ban đầu,

giáo viên cho biết đa số trẻ ăn ngậm vì trẻ chưa thể tự xúc thức ăn, trẻ thường ngồi đợi

người lớn đút thì mới chịu nhai và ăn, thói quen này từ khi trẻ đến lớp đã có, một số trẻ

cô động viên thì từ từ đã hòa nhập được với các bạn, cô vẫn còn đút phụ trẻ nhưng trẻ

đã tự biết xúc cơm khi ăn. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến trẻ ăn ngậm

Tần số

Tỉ lệ %

85.10%

78.20%

62%

55.20%

51.70%

74

68

54

48

45

Trẻ biết rửa tay trước khi ăn

Không ngậm thức ăn

Thời gian ăn tương đối, không quá lâu

Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi

Trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức ăn khác nhau

còn do trẻ bị chán ăn…

67

Biểu đồ 2.16. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống

Nhìn chung, phần nhiều trẻ đều có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống. Nguyên

nhân do thời gian quan sát trẻ rơi vào cuối năm học, đa số các trẻ trong lớp đều chủ

yếu từ 20 – 24 tháng tuổi. Trẻ được cô rèn luyện các thói quen và nề nếp tốt trong quá

trình ăn uống. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều trẻ chưa hình thành được điều này, đây là

đối tượng mà phần đề xuất các biện pháp sẽ hướng đến trong Chương 3.

Hai là biểu hiện về thái độ vui vẻ và tích cực trong ăn uống: Dựa vào biểu đồ

2.17, ta thấy trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn chiếm 48,3% (42/87 trẻ), trẻ không có

biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn chiếm 78,2% (68/87 trẻ), trẻ không

có yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ mới chịu ăn chiếm 67,8% (59/87 trẻ). Khảo sát

cũng cho thấy, số đông trẻ có thái độ vui vẻ và tích cực trong khi ăn. Đáng quan tâm ở

chổ biểu hiện của trẻ trong khi ăn, con số này chưa đạt được quá bán. Qua quan sát các

trẻ còn lại cho chúng ta thấy rằng, đa số trẻ đều ăn trong không khí im lặng, bình

thường và nhiều hơn là ngồi thừ ra trong lúc ăn.

Điều này phản ánh thực trạng thái độ vui vẻ và tích cực trong ăn uống của trẻ đã

có nhưng chưa đồng đều. Số lượng trẻ chưa có những biểu hiện tốt trong ăn uống còn

Tần số

Tỉ lệ %

78.20%

67.80%

48.30%

68

59

42

Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn

Không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ

Không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn

nhiều, cần có những biện pháp tác động trẻ một cách hợp lí.

68

Biểu đồ 2.17. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống

Ba là biểu hiện về thái độ tự lập của trẻ trong khi ăn: 16,1% trẻ có thể tự xúc

ăn bằng muỗng và uống nước bằng cốc. Trẻ đã có thể tự uống nước bằng cốc từ 12

tháng, nhưng tự xúc ăn đa số trẻ còn chưa thực hiện được. Trên 2/3 số trẻ trong nhóm

khảo sát chủ yếu do giáo viên/bảo mẫu đút cho trẻ ăn, một số ít tự xúc được vài

muỗng, 67,8% trẻ chủ động vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế. Số còn lại, trẻ thường

hay đợi cô nhắc đến tên, hay cô nắm tay dắt và bàn ăn trẻ mới vào. Đa số trẻ trong độ

tuổi này đều chưa biết cách biểu hiện cho giáo viên biết khi trẻ có nhu cầu ăn, chỉ

10,3% trẻ làm được điều này. Hầu hết trẻ ăn khi đến bữa, trẻ thường ít đòi ăn hay biểu

hiện trẻ đói cho giáo viên biết so với ở nhà. Trao đổi với phụ huynh, trường hợp bé

Phát, bé biết xin mẹ sữa hay thức ăn khi bé có nhu cầu. Nhưng ở lớp thì giáo viên lại

cho rằng bé không có biểu hiện.

Biểu đồ 2.18 thể hiện cụ thể sự tương quan giữa các biểu hiện về thái độ tự lập

Tần số

Tỉ lệ %

67.80%

43.67%

59

38

20.70%

16.10%

18

14

10.30% 9

Trẻ biết từ chối khi no

Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.

Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn

Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn

Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế

của trẻ khi ăn:

Biểu đồ 2.18. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn

Quá trình quan sát trẻ cũng cho thấy, đa số trẻ ít khi biểu hiện có nhu cầu ăn

69

trước khi đến bữa, trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn, chiếm 20,7% – Số trẻ này

đa số ở trường mầm non Bồ Câu Nhỏ – Q.1. Trẻ được ăn theo kiểu tự chọn, trẻ được

ăn bằng muỗng, nĩa hay ăn bốc nếu trẻ muốn. Còn lại, các điểm khác, đa số đều cho

trẻ ăn theo phần ăn chuẩn bị sẵn của trường. Cuối cùng, trẻ biết từ chối khi nó chiếm

43,67% – Con số này không cao. Quá trình quan sát cũng cho thấy, rất nhiều trẻ khi cô

đút ăn, trẻ không muốn dùng thêm vì không thích thức ăn, do mệt hay đã no nhưng

không dám nói hay lắc đầu.

Từ số liệu được phân tích, ta thấy tồn tại một số vấn đề đáng lưu ý về thái độ ăn

uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng như: Còn 55% trẻ chưa ăn được cơm nát

và nhiều loại thức ăn khác nhau, 52% trẻ ngậm thức ăn lâu trong khi ăn. Trẻ chưa có

biểu hiện vui vẻ trong khi ăn chiếm 58%. Trẻ yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ chiếm

41%. Trẻ chưa thể tự xúc ăn bằng thìa có 83,9%, 89,7% trẻ chưa biết thể hiện khi có

nhu cầu ăn, 79,3% trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và 56,33% trẻ chưa biết

từ chối khi no. Những tồn tại này rơi nhiều vào nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tự lập.

Nguyên nhân chủ yếu do bản thân trẻ còn nhiều hạn chế về vốn kinh nghiệm sống, kỹ

năng - cụ thể là thao tác với đồ vật của trẻ còn yếu… Tuy nhiên, đây là đối tượng mà

luận văn trong chương 3 cần hướng tới.

2.3.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại

trường mầm non

Ở độ tuổi 25 – 36 tháng, biểu hiện của trẻ có nhiều khác biệt hơn trẻ lứa tuổi

nhỏ, kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.12. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại

trường mầm non

BIỀU HIỆN

TẦN SỐ

TỈ LỆ %

TT

Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn

A

uống

1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn

63/96

65,6%

Trẻ làm quen được với chế độ cơm thường

2

74/96

77,1%

và nhiều loại thức ăn khác nhau

3 Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn

57/96

59,2%

4 Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi

88/96

91,7%

70

5 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu

92/96

95,8%

6 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi

96/96

100%

7 Không ngậm thức ăn

86/96

89,6%

8 Biết chờ đến lượt

86/96

89,6%

Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn

B

uống

Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi

82,3%

9

79/96

tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn

Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi

10

87/96

90,6%

chống đối trong lúc ăn

Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý

11

94/96

97,9%

trẻ

C Trẻ có thái độ tự chủ trong khi ăn

Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng

12

36/96

37,5%

cốc.

Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn

13

87/96

90,6%

đúng tư thế

Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn,

14

94/96

97,9%

ngủ, vệ sinh

15 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn

37/96

38,5%

16 Trẻ biết từ chối khi no

86/96

89,6%

Kết quả khảo sát nội dung trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống được thể

hiện ở Biểu đồ 2.19 như sau: Có 65,6% trẻ biết rửa tay trước khi ăn, 77,1% trẻ làm

quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau, 59,2% trẻ biết lau

mặt, uống nước sau khi ăn, 91,7% trẻ biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi quy định,

95,8% trẻ ăn trong thời gian ăn tương đối, không quá lâu (dưới 30 phút), 100% trẻ ăn

đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi, 59,6% trẻ không ngậm thức ăn lâu và 89,6% trẻ

biết chờ đến lượt. Kết quả trên cho thấy đa số trẻ đều có nề nếp và thói quen tốt trong

71

ăn uống.

Tần số

Tỉ lệ %

100%

95.80%

91.70%

89.60%

89.60%

77.10%

65.60%

59.20%

96

92

88

86

86

74

63

57

Biết chờ đến lượt

Không ngậm thức ăn

Trẻ biết rửa tay trước khi ăn

Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn

Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi

Thời gian ăn tương đối, không quá lâu

Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi

Trẻ làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau

Biểu đồ 2.19. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống

Về thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống: Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn

chiếm 48,3%, trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong khi ăn chiếm

90,6% và 67,8% trẻ không yêu sách hay đòi hỏi giáo viên làm theo yêu cầu của trẻ.

72

Kết quả này cũng cho thấy thái độ vui vẻ và tích cực của trẻ trong khi ăn chưa cao.

Tần số

Tỉ lệ %

97.90%

90.60%

82.30%

94

87

79

Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ

Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn

Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn

Biểu đồ 2.20. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống

Về thái độ tự lập trong khi ăn của trẻ: Số trẻ tự xúc ăn bằng muỗng và uống

nước bằng cốc chiếm 37,5% - Con số này cũng rất ít, nhưng so với độ tuổi 18 – 24

tháng thì lứa tuổi này trẻ có thể tự xúc được nhiều hơn, đôi khi chỉ cần giáo viên nhắc

nhở và đút kèm cho trẻ. Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi đúng tư thế chiếm

690,6%. Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn chiếm 90,9%. Trẻ chủ động chọn thức ăn

Tần số

Tỉ lệ %

97.90%

90.60%

89.60%

94

87

86

38.50%

37.50%

37

36

Trẻ biết từ chối khi no

Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.

Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn

Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế

Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh

mà trẻ muốn chiếm 38,5%. Trẻ biết từ chối khi no chiếm 89,6%.

73

Biểu đồ 2.21. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn

Một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25

– 36 tháng: 22,9% trẻ chưa làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức

ăn khác nhau, 17,7% trẻ chưa vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động

tổ chức bữa ăn, 62,5% trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc, 61,6% trẻ chưa

chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn. Những biểu hiện này cũng tập trung ở nhóm

những biểu hiện tự lập của trẻ. Đây là nhóm đối tượng mà luận văn muốn hướng đến

với mục đích cải thiện. Để có những biện pháp cải thiện hiệu quá, cần suy xét đến

những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực

và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

2.4. Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng

2.4.1. Những nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành

thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng

Khi xem xét, đánh giá một thực trạng, chúng ta cần quan tâm và tìm hiểu

nguyên nhân ảnh hưởng. Nó xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau do đó, khi đánh giá

thực trạng về thái độ ăn uống tích cực của trẻ nhà trẻ chúng ta cần quan tâm các

nguyên nhân từ nhiều hướng: Xuất phát từ bản thân trẻ, do cách tổ chức của giáo viên

hay là do nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ. Kết quả dưới đây thể hiện đánh giá

của giáo viên về nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không tích cực và tự lập của

trẻ:

Bảng 2.13. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ

ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ

TT NGUYÊN NHÂN CHUNG Tần số Tỉ lệ %

1 Nguyên nhân xuất phát từ bản thân trẻ 152 97,4

2 Nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên 73 46,8

3 Nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ 141 90,4

Ta thấy 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không

tích cực và tự lập của trẻ trước hết là do các nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân

74

đứa trẻ. Đề cập đến nguyên nhân này, trẻ nhỏ là một cá thể được nuôi dưỡng và chăm

sóc từ sự phối hợp của gia đình và nhà trường. Nhân cách của trẻ cũng được hình

thành từ sự ảnh hưởng của cả gia đình và nhà trường thông qua các quá trình giáo dục

của người lớn. Điều này đóng vai trò quyết định đến sự hình thành nhân cách của

chính đứa trẻ đó.

Thái độ ăn uống tích cực và tự lập của đứa trẻ phụ thuộc trước hết ở chính mỗi

đứa trẻ. Ở độ tuổi 18 – 36 tháng, trẻ còn có nhiều hạn chế về vốn kinh nghiệm vế thế

giới xung quanh cũng như những hạn chế về kỹ năng, kỹ xảo… Chính vì thế, mọi sinh

hoạt của trẻ phụ thuộc vào khá nhiều ở người lớn, ở nhà là phụ thuộc vào gia đình ,

đến trường phụ thuộc vào các cô, trẻ chưa thể tự phục vụ bản thân trong một số hoạt

động…

Bên cạnh đó, khi trẻ mắc một số bệnh hay gặp có thể ảnh hưởng đến khẩu vị ăn

uống như các bệnh nhiễm khuẩn dễ gây ra chứng biếng ăn như viêm V.A, viêm tai,

viêm đường hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, các bệnh cúm, ho gà...Tiêu chảy,

viêm dạ dày, ruột, viêm gan, các bệnh đường mật, một số bệnh lý toàn thân khác: Còi

xương, thiếu máu, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin… Đặc biệt là những bệnh lý về

đường tiêu hoá – Những bệnh này trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi ăn uống của trẻ. Ví

dụ như trường hợp trẻ bị tiêu chảy do tổn thương niêm mạc ruột – nơi sản xuất ra các

men tiêu hoá và hấp thu thức ăn, khi bị tổn thương men tiêu hoá này bị giảm khiến cho

sự hấp thu thức ăn cũng bị giảm đi, trẻ dễ bị đầy bụng do thức ăn không được hấp thu.

Mặt khác, khi tiêu chảy kéo dài sẽ dẫn đến thiếu các vi chất dinh dưỡng tham gia vào

nhiều quá trình chuyển hoá trong cơ thể, tham gia vào cấu tạo các men xúc tác các

phản ứng hoá học trong cơ thể như: Zn, Cu, Fe... Cũng gây nên tình trạng biếng ăn của

trẻ. Chứng biếng ăn sẽ làm cho thái độ ăn uống tích cực của trẻ giảm đi: Trẻ cảm thấy

không vui vẻ khi ăn, thời gian ăn kéo dài, trẻ kén chọn thức ăn, chỉ ăn được một số loại

thức ăn, ăn rất ít, không muốn thử các thức ăn mới, ít quan tâm tới thức ăn và thường

phá quấy trong giờ ăn, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến các biểu hiện chống đối trong

khi ăn…

Đó là một số nguyên nhân do bệnh lý gây nên, ngoài ra, thái độ ăn uống tích

cực và tự lập của trẻ còn chịu ảnh hưởng bởi thói quen của trẻ hàng ngày ở gia đình.

75

Một số trẻ ở nhà là con một, hay ở những gia đình ít con, phụ huynh thường cưng

chiều và làm thay trẻ, hay chiều theo những ý thích của trẻ, lâu dài hình thành thói

quen ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn, nhất là trong ăn uống. Một số trẻ từ giai đoạn ăn

dặm đến khi bắt đầu gởi vào nhà trẻ, các bé vẫn chỉ ăn cháo xay mà chưa ăn được các

độ đặc hơn cũng như độ thô. Như chị Oanh – phụ huynh bé Mỹ Khanh nói “Con tôi 18

tháng vẫn còn ăn cháo xay, cứ có lơn cợn là bé lại nôn ra hết những gì ăn được. Lúc

cho bé ăn dặm, tôi tập cho bé ăn cháo đặc và lợn cợn thấy bé có vẻ không hợp tác nên

tôi cũng không tập, thành quen bây giờ trẻ không ăn thô được”.Một khía cạnh khác

chị VTNQ – vừa là giáo viên, vừa có con gởi lớp độ tuổi nhà trẻ - cho biết “Một số trẻ

ở nhà thì ăn rất chậm và kén chọn, nhưng đến trường lại ăn rất giỏi. Tôi cũng thấy trẻ

ít tự lập vì một số phụ huynhnuông chiều trẻ quá, bất cứ việc gì của trẻ cũng làm thay,

như mặc quần áo khi đi học, đút ăn sáng, cầm đồ dùng của trẻ thay cho trẻ, tôi nghĩ

chính những điều này làm cho trẻ quen dần tính ỷ lại mà không rèn được tính tự lập từ

sớm”. Và khi được hỏi về thái độ ăn uống của con trai cô ở nhà và ở trường, có cho

biết thêm “Con tôi, ở nhà ăn cũng bình thường, trẻ ăn không nhiều, nhưng không bỏ

bữa. Khi đói, trẻ biết gọi mẹ và xin ăn hay đòi uống sữa. Tôi thấy trẻ ăn ngoan và đủ

lượng là được. Đến trường, các cô cũng khen bé tự lập, so với các bạn cùng nhóm lớp,

con tôi ăn ít hơn nhưng bé có thể tự xúc được từ đầu đến cuối, dù có rơi vãi thức ăn.

Bé hiện 22 tháng tuổi”.Có thể thấy, thói quen ăn uống của trẻ tại nhà rất ảnh hưởng

đến thái độ ăn uống của trẻ tại trường, khi phụ huynh đưa trẻ đến trường, thói quen đó

tiếp tục ảnh hưởng đến biểu hiện ăn uống của trẻ hằng ngày. Chính vì vậy, nhiều giáo

viên cho rằng, chính phụ huynh – gia đình của trẻ cũng là một trong những nhân tố

ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ.

Tiếp tục phỏng vấn và ghi nhận một số ý kiến từ các giáo viên khác, cô NTH

cho hay “Theo tôi, trong việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ

chịu ảnh hưởng nhiều phía, nhất là do chính đứa trẻ và thói quen gia đình trẻ đã tạo

thành cho trẻ. Nguyên nhân chủ yếu không phải do cách tổ chức của giáo viên tại

trường mầm non”. Đồng tình với ý kiến đó, cô HY cũng cho rằng:“Gia đình của trẻ

ảnh hưởng rất lớn đến hình thành thái độ ăn uống của trẻ tại trường mầm non, nhiều

phụ huynh rất nuông chiều trẻ, ở nhà thì cho trẻ ăn không đúng cách, ở trường cô tập

76

cho trẻ ăn thô thì về nhà thấy trẻ ăn chậm, mẹ trẻ hay cho ăn xay nhuyễn, cả ở nhà

phụ huynhtoàn đút trẻ nên khi đi học trẻ toàn ngồi đợi cô đút hay khi được nhắc nhở,

gọi tên trẻ mới xúc ăn”.

Vì vậy theo quan điểm của giáo viên, nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc

hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ chủ yếu là do các yếu tố thuộc chính

bản thân trẻ, sau đó là các yếu tố xuất phát từ gia đình và sau cùng là nguyên nhân do

cách tổ chức của giáo viên tại trường mầm non. Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên

nhân do bản thân đứa trẻ, 90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân,

97.4%

90.4%

46.8%

Do bản thân trẻ

Do cách tổ chức của giáo viên

Do gia đình của trẻ

còn lại 46,8% giáo viên cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên.

Biểu đồ 2.22. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến

việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ

Theo sự chênh lệch thể hiện qua Biểu đồ 2.22, có thể thấy nhận định của giáo

viên về nguyên nhân thiên nhiều về các yếu tố từ chính bản thân trẻ và từ gia đình, chỉ

46,8% giáo viên cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên tại trường. Điều

này cũng dễ lí giải, vì hiện nay, cách thức tổ chức bữa ăn tại trường, cụ thể về thời

gian, hàm lượng dinh dưỡng, cách thức tổ chức vệ sinh an toàn thực phẩm, bày trí thức

ăn… Của các trường phần lớn được thống nhất và chỉ đạo của cán bộ quản lý. Các

khâu chuẩn bị cho bữa ăn được quy định cụ thể rõ ràng, giáo viên chỉ làm theo và đảm

bảo bao quát trẻ. Nhiều giáo viên cho rằng chế độ cũng như cách tổ chức của mình

đang làm hoàn toàn hợp lí và đó không phải là nguyên nhân ảnh hưởng nhiều đến trẻ.

Cụ thể qua trò chuyện, cô HN đã nói “Tôi thấy hiện tại cách tổ chức của trường lớp

hiện tại là hợp lí, không ảnh hưởng đến thái độ ăn uống của trẻ. Cũng cách thức đó,

77

chúng tôi thực hiện đúng theo chỉ đạo, nhiều trẻ vẫn ăn vui vẻ và ăn hết suất…”

Ngược lại với quan điểm đó, cô BCT cho rằng “Theo tôi, nếu giáo viên thay đổi cách

thức tổ chức bữa ăn thì sẽ tốt hơn. Nhưng điều kiện không cho phép, số trẻ hiện nay

vẫn đông, trong khi một lớp 2 – 3 cô nhiều khi chúng tôi làm không xuể. Cho nên giờ

ăn của trẻ tôi thường làm xong trách nhiệm và rất ít đầu tư như các giờ hoạt động

chung, hoạt động góc…”. Mỗi ý kiến của giáo viên cho thấy mỗi yếu tố khác nhau ảnh

hưởng đến thói quen ăn uống của đứa trẻ, để thấy cụ thể hơn, luận văn tiến hành tìm

hiểu và phân tích một số nguyên nhân cụ thể sau:

2.4.2. Những nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành

thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ

Bảng 2.14. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ

ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ

TT NGUYÊN NHÂN CỤ THỂ Tần số Tỷ lệ %

105 67,3 1

122 142 143 78,2 91,0 91,7 2 3 4

142 91,0 5

119 76,3 6

124 79,5 7

92 59,0 8

93 59,6 9

78 50,0 10

102 90 65,4 57,7 11 12

109 69,9 13

138 88,5 14

78

140 89,7 15 Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối… Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích Trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo Trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống Trẻ thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm, chờ đợi cô Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách Giáo viên hối thúc trẻ ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp giờ Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ mong muốn được khám phá Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm… Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ Trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình Phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số công việc đơn giản: Lách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp.

Từ những nguyên nhân chung ở trên, khi tìm hiểu cách cụ thể hơn từng khía cạnh

một xoay quanh vấn đề. Ta thấy nguyên nhân trước hết ảnh hưởng đến thái độ ăn uống

tích cực và tự lập của trẻ là do trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống,

chiếm 91,7% tổng số giáo viên. Như đã phân tích cụ thể ở trên, một số bệnh liên quan

đến vấn đề ăn uống có ảnh hưởng rất lớn đến biểu hiện cũng như hành vi ăn của trẻ.

Trẻ mệt mỏi cũng giảm đi cảm giác thèm ăn cũng ít đi, trẻ hay ngồi thừ trong khi ăn,

không cảm thấy vui vẻ và ăn uống như cực hình đối với trẻ…

Hai nguyên nhân tiếp theo mà nhóm giáo viên nhận định là do trẻ có thói quen

nhõng nhẽo, mè nheo và thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm, chờ đợi

cô (chiếm 91%). Chính thói quen nhõng nhẽo và mè nheo của trẻ dẫn đến trẻ luôn

mong đợi có người lớn phục vụ mình nên thường ít chủ động trong bữa ăn, không tự

cầm muỗng xúc ăn, chỉ ăn khi được cô nhắc nhở và động viên.

Tiếp theo là hai nguyên nhân do phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số

công việc đơn giản: Xách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp (chiếm 89,7%)

và trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình (chiếm 88,5%)

Nguyên nhân tiếp theo có ảnh hưởng lớn là do giáo viên thường hối thúc trẻ ăn

nhanh hay làm thay cho trẻ cho kịp giờ (chiếm chiếm 79,5%), chính điều này làm cho

trẻ thiếu tự tin trong các thao tác, cơ hội để trẻ trải nghiệm với thực tế ít đi, trẻ dần dần

thiếu tự lập khi tự phục vụ bản thân. Giáo viên thấy trẻ ăn chậm, thời gian không đủ để

chờ đợi trẻ, nên thường cho trẻ ăn cho nhanh để bắt đầu chuyển sang giờ hoạt động

khác.

Một số nguyên nhân khác được thống kê và sắp xếp theo tỉ lệ phần trăm như sau:

− Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích chiếm 78,2 %.

− Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách chiếm 76,3 %.

− Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt,

quá quan trọng cân nặng của trẻ chiếm 69,9 %.

− Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống

hút, lột vỏ chuối… Chiếm 67,3 %.

79

− Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định chiếm 65,4 %.

− Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay

cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ chiếm 59,6 %.

− Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô chiếm 59 %.

− La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm… Chiếm 57,7 %.

− Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ

mong muốn được khám phá chiếm 50 %.

Khảo sát các nguyên nhân cụ thể cũng cho ta một kết quả thiên về các yếu tố từ

chính bản thân và gia đình của trẻ. Các yếu tố về cách thức tổ chức của giáo viên ngoài

hối thúc và làm thay trẻ còn có chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách, thường ép trẻ

ăn hết suất ăn quy định, thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách

khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ hayla mắng, hù dọa trẻ khi trẻ

không ăn, ăn chậm… Và môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay

đổi so với trẻ mong muốn được khám phá… Hầu hết các nguyên nhân trên đều có trên

50% sự nhận định của giáo viên, tỉ lệ % cho thấy có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng

tiêu cực đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Trong đó, đáng

chú ý là nguyên nhân do áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn

càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ (chiếm 69,9 %), chính vì nguyên

nhân này nên kéo theo việc giáo viên ép trẻ ăn hết suất ăn quy định thay vì cho trẻ lựa

Tần số

Tỉ lệ %

91.00% 91.70% 91.00%

88.50% 89.70%

78.20%

76.30% 79.50%

69.90%

67.30%

65.40%

59.00% 59.60%

57.70%

50.00%

143

142

142

140

138

124

122

119

109

105

102

93

92

90

78

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

chọn ăn theo nhu cầu. Sau đây là biểu đồ so sánh tỉ lệ các nguyên nhân cụ thể:

Biểu đồ 2.23. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái

80

độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ

2.5. Thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.

Việc khảo sát một số biện pháp giáo viên đã thực hiện để hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ nhằm mục đích tìm hiểu sâu về mức độ áp dụng từ đó

thấy được những biện pháp chưa được đầu tư, để có thể tập trung phân tích và đưa ra

giải pháp cải thiện.

Việc khảo sát được thực hiện thông qua bảng hỏi và sự quan sát thực tế.Thông

tin thu thập được từ bảng hỏi được phân ra làm 2 nhóm: Nhóm những biện pháp chung

và nhóm những biện pháp cụ thể. Kết quả thống kê % về tần số xuất hiệnđược đính

kèm ở Phụ lục 1.

Từ kết quả thu thập đó, luận văn quy số điểm cho từng sự lựa chọn theo quy tắc

sau:

− Chưa bao giờ = 0 điểm

− Hiếm khi = 1 điểm

− Thỉnh thoảng = 2 điểm

− Thường xuyên = 3 điểm

− Luôn luôn = 4 điểm

Với số điểm như vậy, trên tổng mẫu là 156 thì tổng số điểm tối đa một câu hỏi có

thể đạt được sẽ là 156*4 = 624 điểm. Ta có kết quả:

Bảng 2.15. Bảng số điểm và tỉ lệ % tổng điểm các biện pháp đã được sử dụng

hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường

mầm non

Câu Nội dung

81

C11.1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn C11.2 Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm C11.3 Khích lệ trẻ trong khi ăn C11.4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích C11.5 Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau C11.6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu Số điểm 313 259 346 134 271 180 Tỉ lệ % 50% 42% 55% 21% 43% 29%

C11.7 120 19% Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động…

C11.8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định C11.9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn 142 279 23% 45%

C11.10 71 11% Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…

C11.11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc C11.12 Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới C11.13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện 355 294 235 57% 47% 38%

C11.14 275 44%

C11.15 331 53% Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn uống của trẻ tại nhà

C11.16 Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ C11.17 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn 269 95 43% 15%

C11.18 226 36%

C11.19 61 10% Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các hoạt động học tập và vui chơi Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ đang ăn

C11.20 Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ năng tự phục vụ C11.21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn C11.22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn 337 144 144 54% 23% 23%

Luận văn chia nhóm các biện pháp trên thành ba nhóm tùy vào mức độ sử dụng

của giáo viên như sau:

Nhóm các biện pháp được trên50 % giáo viên sử dụng: Nhìn vào bảng số liệu,

ta thấy biện pháp khen ngợi và khích lệ trẻ khi cho trẻ ăn được giáo viên sử dụng nhiều

nhất. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cho trẻ tự xúc khi ăn được khá nhiều giáo viên sử

dụng khi tổ chức cho trẻ ăn tại trường. Sau đó đến trao đổi với phụ huynh về sở thích

cũng như thói quen ăn uống của trẻ tại trường mầm non. Điều này cho thấy giáo viên

thấy được tầm quan trọng của phụ huynh trẻ và sự phối hợp giữa trường mầm non và

gia đình trong chăm sóc và giáo dục trẻ.

Nhóm các biện pháp được từ 25 – 50% giáo viên sử dụng. Nhìn vào tỉ lệ phần

trăm các biện pháp giáo viên có thể thấy đây là nhóm biện pháp thường xuyên được

ứng dụng. Cụ thể từng biện pháp như sau:

82

- Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới, chiếm 47%.

- Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn, chiếm 45%.

- Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động

khác nhau, chiếm 44%.

- Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau, chiếm 43%.

- Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ, chiếm 43%.

- Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm, chiếm 42%.

- Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện, chiếm 38%.

- Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các hoạt động học tập

và vui chơi, chiếm 36%.

- Cho trẻ ăn theo nhu cầu, chiếm 26%.

Nhiều giáo viên cho rằng có sử dụng biện pháp tập cho trẻ làm quen nhiều loại

thực phẩm mới nhưng trên thực tế quan sát cho thấy, vì quan điểm an toàn và tâm lí

ngại thay đổi khi sử dụng nguyên vật liệu mới cho trẻ. Đa số các trường đều chọn cách

sử dụng các nguyên liệu lành tính, quen thuộc đối với trẻ hơn… Điều đặc biệt mà

chúng ta có thể thấy là ở trường mầm non, thực đơn thường xoanh quanh các loại thịt

heo, thịt gà, thịt bò, trứng… Còn lại thịt vịt hay cá ít khi thấy xuất hiện trong bảng

thực đơn.

Bên cạnh 26% giáo viên tôn trọng nhu cầu ăn uống của trẻ thì vẫn còn nhiều giáo

viên ép trẻ ăn hết suất, cụ thể chỉ có 23% giáo viên không dùng biện pháp này đối với

trẻ. Con số này quá ít, cho thấy vẫn còn nhiều trường cho trẻ ăn theo suất, đánh đồng

mọi trẻ như nhau. Do đó, trước hết muốn thay đổi nhận thức cộng đồng, bản thân giáo

viên cần là người hiểu trẻ và tôn trọng trẻ trước.

Cuối cùng, nhóm các biện pháp được ít giáo viên sử dụng, cụ thể như sau:

- Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định, chiếm 23%.

- Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn, chiếm 23%.

- Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn, chiếm 23%.

- Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích, chiếm 21%.

- Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động… Chiếm

19%.

83

- Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn, chiếm 15%.

- Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn

nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…Chiếm 11%.

- Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ đang ăn, chiếm

400

57%

350

55%

54%

53%

50%

300

47%

45%

44%

43%

43%

42%

250

38%

36%

200

29%

355

346

337

331

313

150

294

23% 23%

23%

279

275

271

269

21%

259

19%

235

226

100

15%

180

144 144

11%

142

134

10%

120

50

95

71

61

0

Điểm

Tỉ lệ %

10%.

Biểu đồ 2.24. Các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực

và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

Nhìn chung, về mức độ hiểu biết, luận văn đánh giá giáo viên đã có nhận thức về

nhiều biện pháp có thể ứng dụng khi tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non. Tuy

nhiên, về mức độ ứng dụng chưa rộng, tỉ lệ phần phần phản ảnh được điều này không

cao. Tìm hiều về nguyên nhân, một cán bộ quan lí cho biết, những biểu hiện trên hầu

hết là những biểu hiện đã được nhà trường chỉ đạo và tập huấn cho các cô. Tuy nhiên,

trong quá trình thực hiện, các cô có làm, nhưng làm ở mức độ trung bình khá, chưa

toát lên hết được nội dung của biện pháp. Nguyên nhân có thể do các cô thấy điều đó

84

chưa cần thiết, trẻ chưa đủ kinh nghiệm để lĩnh hội những điều cô trao đổi với trẻ như

việc giới thiệu thực đơn và cung cấp kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ trước mỗi bữa

ăn… Ở lứa tuổi này, trẻ chưa sử dùng được từ nhiều, do đó, giáo viên không thấy được

kết quả trong các hoạt động nên dần dần bỏ qua. Nhà trường cũng thường xuyên có

nhiều biện pháp để giúp đỡ thêm cho các cô. Hiểu được thực trạng này, luận văn có

thể tìm hiểu thêm và đề xuất những biện pháp thiết thực có thể giúp các cô có thêm

công cụ tổ chức hoạt động ăn uống cho trẻ tại trường mầm non.

Tiểu kết chương 2

Chương 2 nêu lên cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua những phương pháp khảo

sát, thống kê và đánh giá. Quá trình điều ra thực trạng cho thấy một số nội dung chính

như sau:

Thứ nhất, kết quả thông kê chung về địa bàn nghiên cứu: 100% giáo viên đều là

nữ, 46% trong số đó ở độ tuổi 26 – 35 tuổi. Thâm niên công tác của giáo viên 58% từ

0 – 5 năm. Trình độ học vấn đa số là cao đẳng và đại học. Trung bình số cô và số trẻ

dao đông 10 – 15 trẻ/cô.

Thứ hai, điều tra về thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ

ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non, với các nội dung

chính:

Về thực trạng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non, luận văn

rút ra một số nhận định sau: Đa số các trường mầm non đều tổ chức từ 3-4 bữa ăn tại

trường. Sữa là thực phẩm được hầu hết các trường dùng để bổ sung bên cạnh các bữa

chính,84.9% giáo viên tổ chức giờ ăn trong lớp, 93,1% giáo viên thường cho trẻ ngồi

ngăn ngắn trên bàn. Hầu hết giáo viên đều cho trẻ dùng muỗng khi ăn (chiếm 100%)

cùng với chén (chiếm 34%) và tô nhỏ (chiếm 71,7%). Giáo viên và bảo mẫu là hai

nhân sự chính tổ chức hoạt động ăn uống cho trẻ. Ngoài ra, để phối hợp chăm sóc trẻ

với phụ huynh, đa số trường đều trao đổi qua bảng thông tin dinh dưỡng– Thực đơn

hàng tuần tại lớp và phiếu theo dõi bé hàng tháng.

Hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36

tháng có 51,9% hiểu biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Hiểu biết của

85

giáo viên tuy tương đối cao, nhưng vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong

chăm sóc trẻ. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 –

36 tháng có2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu biết ở mức trung

bình khá và nhiếu nhất là 76,3%. Đây là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề

ra một số biện pháp nhắm giúp nâng cao nhận thức của giáo viên để giúp trẻ hình

thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.

Thứ ba, thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng của trẻ tại

trường mầm non, luận văn nhận thấy vẫn còn một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý:

Nhóm trẻ 18 – 24 tháng: Còn 55% trẻ chưa ăn được cơm nát và nhiều loại thức

ăn khác nhau, 52% trẻ ngậm thức ăn lâu trong khi ăn. Trẻ chưa có biểu hiện vui vẻ

trong khi ăn chiếm 58%. Trẻ yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ chiếm 41%. Trẻ chưa

thể tự xúc ăn bằng thìa có 83,9%, 89,7% trẻ chưa biết thể hiện khi có nhu cầu ăn, 79,3%

trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và 56,33% trẻ chưa biết từ chối khi no.

Nhóm trẻ 25 – 36 tháng: 22,9% trẻ chưa làm quen được với chế độ cơm thường

và nhiều loại thức ăn khác nhau, 17,7% trẻ chưa vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi

tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn, 62,5% trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng

cốc, 61,6% trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn.

Thứ tư, nguyên nhân ảnh hưởng việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng: Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân do bản thân đứa

trẻ, 90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân, còn lại 46,8% giáo viên

cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên. Luận văn cũng điều tra từng

nguyên nhân cụ thể trong những nguyên nhân chung trên để hiểu sâu hơn nhằm tìm ra

các biện pháp tác động đúng và hiệu quả.

Cuối cùng là thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích

cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. Thông qua phần tìm hiểu thực

tiễn này, luận văn cũng có cái nhìn chung về các biện pháp giáo viên đã và đang sử

dụng để tạo lập thói quen tốt trong ăn uống của trẻ, bên cạnh đó, luận văn nhận thấy

rằng các biện pháp giáo viên ứng dụng chưa thật phong phú và chưa áp dụng hết mức

để có thể đem lại những hiệu quả cao trong giáo dục cho trẻ. Đây là cơ hội để luận văn

có thể hệ thống lại và chi tiết hóa một số biện pháp, cũng như đề xuất những biện pháp

86

mới trong chương tiếp theo.

Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN

UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ

3.1. Xây dựng một số biện pháphình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho

trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

Vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non không phải là một vấn đề mới

mẻ. Tại trường mầm non và các cơ sở chăm sóc trẻ, việc tiếp cận và đề xuất các biện

pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cần chú ý đảm bảo một số yêu cầu

sau:

− Các biện pháp không tách rời hoạt động tổ chức bữa ăn và xuất phát từ hành vi

chăm sóc trẻ mầm non.

− Các biện pháp đề xuất chung cho độ tuổi nhà trẻ (18 – 36 tháng). Trong từng

trường hợp cụ thể và phụ thuộc vào tình hình chung mỗi trường mà có sự cải biên, cải

tiến hay cụ thể hóa sao cho phù hợp với tình hình thực tế.

− Công tác chăm sóc và giáo dục trẻ là tổ hợp cần có sự liên phối giữa nhà

trường và gia đình. Do đó, trong một số nhóm biện pháp đều có những yêu cầu cũng

như cách thức thực hiện dành cho phía nhà trường và cả giáo viên.

Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng các nhóm biện pháp hình thành thái độ ăn

uống tích cực và tự lập cho trẻ dựa trên các mối quan hệ của trẻ với các đối tượng. Cụ

thể như sau:

− Nhóm biện pháp tác động trẻ.

− Nhóm biện pháp tác động môi trường giáo dục mầm non: Nhà trường, giáo

viên, bảo mẫu/cấp dưỡng…

− Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình và phụ huynh trẻ.

3.1.1. Nhóm biện pháp tác động lên trẻ

Nhóm biện pháp này cần một số yêu cầu sau:

• Về phía cơ sở giáo dục:

Các cơ sở giáo dục cần nắm tình hình chung của cơ sở: Trình độ nhận thức, hiểu

biết của giáo viên và cán bộ cấp dưỡng, quan sát kịp thời có những điều chỉnh các hoạt

87

động tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ…

• Về phía giáo viên mầm non:

− Giáo viên mầm non cần có hiểu biết kiến thức cơ bản về sức khoẻ dinh dưỡng

của trẻ theo từng giai đoạn, từng độ tuổi nhất định.

− Giáo viên mầm non cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cụ thể là nhà bếp và

bộ phận cấp dưỡng để nắm được các loại thực phẩm và cách chế biến món ăn để giúp

ích cho việc trò chuyện với trẻ.

− Giáo viên mầm non cần nắm được sở thích cũng như điểm đặc biệt trong thói

quen ăn uống của từng cá nhân trẻ: Trẻ thích ăn gì, các loại thức ăn mà trẻ dị ứng...

Cũng như những kỹ năng của trẻ để giao nhiệm vụ phù hợp với trẻ.

− Thường xuyên trao đổi với phụ huynh để biết thêm thông tin về tình hình sức

khoẻ và dinh dưỡng của trẻ.

3.1.1.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua

giáo dục dinh dưỡng

Thông qua các hoạt động hàng ngày, giáo viên cần tạo cho trẻ cơ hội để trẻ bày

tỏ sở thích ăn uống của trẻ, ghi nhận và cùng lên thực đơn với bộ phận cấp dưỡng, có

thể bằng một số cách như sau:

− Quan sát và trò chuyện với trẻ trong giờ ăn, giờ chơi và cụ thể trong từng bữa

ăn. Giáo viên nên có sự ghi chép nếu thấy trẻ có biểu hiện thích thú với các món trẻ

được ăn, để có thể ghi nhận mức độ hứng thú của trẻ với thức ăn và thay đổi nếu thực

đơn không được sự đón nhận của nhiều trẻ trong lớp.

− Tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều loại nguyên liệu, nhiều loại thực phẩm

khác nhau bằng nhiều cách như thông qua các hoạt động có chủ đích, hoạt động với đồ

vậy, hoạt động ngoài trời…

− Cung cấp thông tin về nguồn dinh dưỡng của từng loại cho bé. Giáo viên có thể

giới thiệu về món ăn cũng như thành phần dinh dưỡng, lợi ích của thực phẩm trước các

bữa ăn.

− Tạo cơ hội cho trẻ biểu hiện sở thích món ăn. Ví dụ: Con thích ăn bánh mì,

chiên lên… Con thích ăn cà rốt, mẹ luộc mềm… Giáo viên có thể hỏi “Ở nhà con hay

88

ăn gì? Con thích ăn gì nhất?...”

Hình 3.1. Một số hình ảnh tại “Phiên chợ Ánh Dương”

Trường mầm non Ánh Dương – Quận 3 – Tp. HCM.

Nguồn: Website của trường

Ngoài ra, có thể sử dụng một số điều kiện có sẵn của trường để tổ chức một số

hoạt động cho trẻ tích hợp với giáo dục trẻ các nội dung khác như tổ chức các buổi

ngoại khóa tham quan vườn rau, chế biến một số món đơn giản, sinh hoạt ẩm thực theo

mùa để trẻ được giao lưu ẩm thực giữa các lớp, sự có mặt của phụ huynh trong những

89

ngày này cũng ảnh hưởng rất tốt đến trẻ. Hay tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm

thực tế với các hoạt động tham quan vườn rau, tham quan nhà bếp trường của

trường…

Hình 3.2. Hoạt động tham quan vườn rau sạch tại Hóc Môn

Trường mầm non Quận Phú Nhuận – Tp. HCM.

Nguồn: Giáo viên của trường cung cấp

Mặt khác, giáo viên có thể tổ chức cho trẻ những buổi học tích hợp hay những

buổi thực hành kỹ năng về các chủ đề về dinh dưỡng và thực phẩm, qua đó trẻ có thể

tự tay chọn những loại thực phẩm mà trẻ muốn, chế biến thức ăn theo cách trẻ thích,

trang trí đẹp mắt và thưởng thức thành quả của mình làm ra. Trẻ sẽ được làm quen với

việc chế biến thức ăn, cảm thấy quen thuộc với các loại thực phẩm, giúp cho “khoảng

cách” giữa trẻ và thực phẩm trở nên thân thuộc hơn. Cũng qua những hoạt động này,

giáo viên sẽ biết được sở thích ăn uống của từng trẻ.

− Do đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng còn hạn chế ở một số mặt, nên

việc cho trẻ thực hành chế biến thức ăn không phải đơn giản. Tuy nhiên, giáo viên có

thể thực hiện ở mức độ thấp, phù hợp với lứa tuổi. Có thể cho bé làm bánh mì - bằng

cách nhào bột và nắn ổ bánh mà trẻ muốn, sau đó nhờ các cô nhà bếp nướng cho trẻ

ăn. Cùng với việc kết hợp các loại bơ, mứt… Cho trẻ quét lên bánh sẽ tạo nhiều hứng

thú cho trẻ trong ăn uống. Trẻ được làm quen một số món ăn đơn giản và được thưởng

90

thức những món ăn trực tiếp chúng làm ra…

Hình 3.3. Hoạt động làm kẹo dẻo

Trường mầm non Khải Tâm – Tp. HCM.

Nguồn: Website của trường

Ngoài ra, giáo viên có thể tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông

qua việc trao đổi với phụ huynh bằng cách gởi thực đơn hàng tuần của trường đến phụ

huynh và ghi nhận ý kiển phản hồi. Đây là phương pháp được một số trường mầm non

tại Nhật thực hiện. Bằng cách dùng những tài liệu về thực đơn, trường mầm non gởi

cho một phụ huynh nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ. Tài liệu này được gởi

đến cho phụ huynh với mong muốn nhận được phản hồi của phụ huynh về thực đơn

mà trẻ sẽ được dùng trong 2 tuần tới. Tài liệu chỉ ra cụ thể các nguyên liệu được dùng

được chế biến theo nhiều cách khác nhau, sau đó, phụ huynh có thể chọn món thích

hợp với con mình hay có thể gợi ý những món khác không có trong thực đơn vì lí do

con của họ dị ứng hay không thích loại thực phẩm đó. Hình 3.4. là tài liệu một phụ

huynh bên Nhật nhận được hàng tháng, tài liệu thể hiện rất cụ thể các thực phẩm sẽ

được chọn lựa để nấu cho trẻ trong thời gian sắp tới, đồng thời đưa ra một số món dự

kiến sẽ nấu từ nguyên liệu đó cho phụ huynh tham khảo.

Trường mầm non sẽ ghi nhận những ý kiến của phụ huynh để bổ sung vào thực

đơn của nhóm trẻ một cách hợp lý hơn. Ngoài ra, để làm tăng thêm hứng thú của trẻ,

hàng ngày đa số trường mầm non thường cho các trẻ biết trước món mà chúng sẽ được

ăn trong bữa trưa, bằng cách bày trí các món ăn một cách hấp dẫn và đặt ở nơi dễ gây

91

sự chú ý của trẻ. Phụ huynh khi đưa trẻ đến trường cũng thường cho trẻ xem các món

mà chúng sẽ ăn trong ngày, đồng thời trò chuyện thêm với trẻ về các món ăn cũng như

bồi dưỡng thêm hành vi ăn uống tốt cho trẻ.

Hình 3.4. Tài liệu thực đơn trường mầm non Nhật Bản đã gởi cho một phụ huynh

nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ.

Nguồn: Một phụ huynh sống tại Nhật cung cấp

3.1.1.2. Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với những

kĩ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống.

92

* Mục đích:

Trẻ lên 2 đã xuất hiện ý thức tự lập, trẻ mong muốn được tự tay mình thực hiện

các thao tác… Nắm được đặc điểm tâm lý này, giáo viên và phụ huynh nên cho trẻ có

thời gian, cơ hội và nhẫn nại với trẻ. Có thể trẻ sẽ làm rơi, hỏng đồ dùng, bừa bộn khi

mong muốn được thực hiện những kỹ năng và thao tác còn chưa thành thạo nhưng đó

chính là những cơ hội có thể giúp trẻ tự lập.

Việc hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ và tự lập có vai trò rất quan trong

trong đời sống hàng ngày cũng như sự phát triển tâm sinh lí của trẻ. Trẻ tự lập sẽ tự tin

hơn trong cuộc sống. Trẻ ý thức được trẻ cần gì và cần làm gì để đáp ứng nhu cầu đó.

Một lớp học có nhiều trẻ tự lập, giáo viên cũng nhẹ nhàng hơn trong mọi việc.

Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng có thể giành cho trẻ thời gian và sự

kiên nhẫn để có thể hình thành cho trẻ ngay từ đâu. Khi ở nhà, trẻ được phụ huynh

nuông chiều, nhiều phụ huynh thường hay làm thay trẻ vì nghĩ trẻ còn nhỏ chưa biết

nhiều, ngại cho trẻ thử nghiệm vì sợ nguy hiểm… Đến lớp, với sỉ số đông, giáo viên

lại ngại cho trẻ tự thực hiện vì ngại thời gian, đợi trẻ này thì chậm các trẻ khác. Do đó,

thay vì cho trẻ tự xúc ăn từng muỗng, chờ đợi trẻ ăn chậm nhưng ăn hết phần ăn của

mình… Giáo viên thường làm thay trẻ để nhanh xong công việc mà không bị cháy

giáo án. Do đó, khi suy nghĩ đề xuất biện pháp giúp trẻ tự lập và ăn uống tích cực,

chúng tôi nghĩ việc tập cho trẻ những kỹ năng và thói quen tốt trong ăn uống có thể

giúp trẻ tự tin hơn trong ăn uống, trẻ có thể chủ động làm những điều mà trẻ thích hơn.

Với mục đích giúp trẻ thành thục một số kỹ năng cần thiết đơn giản và phù hợp

với từng độ tuổi của trẻ, một số kỹ năng tự phục vụ sẽ giúp trẻ tự tin trong quá trình ăn

uống. Trẻ sẽ chủ động lấy muỗng xúc ăn nếu chúng đã từng làm qua hay làm thành

thục điều đó, có thể ăn nhanh chóng món bánh plan mà chúng thích nếu chúng biết

cách mở nhanh hộp thức ăn của chúng.

Giáo viên có thể trang bị cho trẻ một số kỹ năng cần thiết, giúp trẻ biết cách: Mở

nắp hộp, giờ nào việc đó, giúp cho trẻ sớm làm quen với khung giờ các hoạt động, cắm

ống hút bình sữa, ngồi bàn ăn ngay ngắn, cầm muỗng đúng cách, vệ sinh cá nhân

chuẩn bị trước giờ ăn: Lau mặt, rửa tay, chủ động ngồi vào bàn ăn… Nhận biết thức ăn

và lợi ích của từng loại thức ăn, dạy trẻ biết nói “Có, xin vui lòng…” và “Không, cảm

93

ơn cô/bạn”, Đồng thời, giáo dục trẻ một số thói quen ăn uống vệ sinh và văn minh:

Không chen lấn khi lấy thức ăn, biết nhường nhịn và chia sẽ sở thích chung với các

bạn, ăn uống không rơi vãi, biết dùng khăn lau miệng thay vì chùi lên áo, dùng tay

quẹt… Tập cho trẻ nhận biết và làm quen với nhiều loại thực phẩm mới.

* Yêu cầu - Cách thực hiện:

Giáo viên cần nắm đặc điểm tâm sinh lý theo từng giai đoạn, từng lứa tuổi của trẻ

để lựa chọn nội dung, cách thức hình thành các kỹ năng sử dụng đồ dùng cơ bản cho

trẻ. Có những tác động kịp thời để hình thành từng bước cho trẻ, thường xuyên quan

sát, động viên nhắc nhở trẻ tự thực hiện các nhu cầu của bản thân. Với các trẻ đã thành

thục, giáo viên có thể yêu cầu trẻ giúp đỡ những trẻ chậm hơn. Trong suốt quá trình ăn

giáo viên cần cho trẻ thời gian kèm theo những lời động viên, vẻ mặt tươi cười, nhắc

nhở trẻ xúc ăn.

Giáo viên có thể hình thành và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ trong những giờ

hoạt động chung (hoạt động cùng nhau của trẻ với người lớn) hoạt động độc lập của

trẻ trong môi trường vật chất mang tính phát triển, hoặc trong các hoạt động giáo dục

trực tiếp (hoạt động với cá nhân trẻ, với nhóm trẻ, với cả lớp).

Về phía trường mầm non, cán bộ quản lí cần tạo cơ hội khuyến khích cô giáo cho

trẻ được hoạt động độc lập trong bữa ăn bằng cách. Không đặt nặng vấn đề cho trẻ ăn

hết suất quy định mà ăn theo nhu cầu, theo khả năng. Cần phối hợp và tuyên truyền

với phụ huynh nắm được tầm quan trọng của sự phát triển thể chất (chiều cao và cân

nặng) nhưng không quá nặng nề vào các chỉ số, quan trong là trẻ có tăng trưởng và

linh động tham gia các hoạt động hàng ngày.

3.1.1.3. Biện pháp 3: Một số cách chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn

Để giờ ăn đến với trẻ như một giờ chơi, nếu như giờ hoạt động có chủ đích giáo

viên luôn tìm mọi cách gây hứng thú, gợi mở và lôi kéo trẻ tò mò mong muốn được

tham gia, khám phá… Thì giờ ăn cũng không ngoại lệ. Giáo viên cũng cần sự mời gọi

và lôi cuốn trẻ vào các món ăn, vào thời gian ăn để trẻ có thể bày tỏ mong muốn hay

không mong muốn trước giờ ăn. Nếu trẻ đã sẵn sàng, giáo viên có lợi thế khi tổ chức

bữa ăn cho trẻ, nếu trẻ chưa sẵn sàng, các trò chơi hay một câu chuyện ngắn sẽ giúp

ích và làm cho giờ ăn của trẻ bắt đầu một cách nhẹ nhàng và hơn nữa, đôi khi là một

94

hiệu lệnh có ích đối với một số trẻ. Cũng có một số trẻ khi bị ốm, thường ngồi thừ ra,

biểu hiện không chờ đợi khi đến giờ ăn, giáo viên không quan tâm đến biểu hiện của

trẻ, vẫn ép ăn trong trạng thái trẻ không hợp tác sẽ có thể dẫn đến mốt số trường hợp

trẻ nôn ọe, sợ giờ ăn vào những lần sau…

Giáo viên có thể chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng trước bữa ăn bằng những cách

sau:

• Hiệu lệnh để trẻ xác định đã đến giờ ăn, các hoạt động khác có thể tiếp tục vào

buổi chiều sau khi trẻ thức dậy. Hiệu lệnh có thể là tiếng chuông, ngưng nhạc, lời nói

của cô hay là một bài thơđể tất cả các trẻ cùng đọc lớn như “Giờ chơi” (Phụ lục 7)

Hoặc có thể hát biến thể lời bài hát “Kìa con bướm vàng” như:

Giờ ăn đến rồi!

Giờ ăn đến rồi, giờ ăn đến rồi

Nào bạn ơi, nào bạn ơi

Mau rửa tay xong vô bàn

Mau rửa tay xong vô bàn

Ta cùng ăn, ta cùng ăn.

• Tạo cơ hội cho trẻ tham gia bày bàn ăn cùng cô. Chẳng hạn như phụ cô bày

bàn ăn, xếp nỉa ra dĩa, bày bình hoa, lấy hộp khăn giấy… Tùy theo khả năng của trẻ có

thể.

• Một số bài thơ trẻ có thể đọc trong lúc vệ sinh cá nhân, vừa nhắc nhở trẻ các

thao tác, vừa giúp trẻ tập trung vào “nhiệm vụ” cũng như giảm tiếng ồn trong lúc

chuẩn bị giờ ăn như “Rửa tay”…

Hay với bài đồng dao “Trò chơi giã gạo”, trẻ vừa làm động tác giã gạo vừa đọc.

Hoặc có thể cô đọc cho trẻ làm theo các động tác đã quy định:

Giã gạo (tay bé làm đông tác giã) thổi cơm trưa (hai tay che miệng thổi)

Còn thừa để đến tối (hai tay vỗ nhẹ vào đùi)

Ai đến vay thì nói dối (hay tay vỗ chéo vào vai)

Hết gạo rồi chống cối lên (hai tay dơ cao lên phía trên)

Các động tác trong bài đồng dao giáo viên có thể thay đổi những động tác từ đơn

95

giản đến phức tạp, tùy theo khả năng và điều kiện tổ chức của lớp học trong giờ ăn.

Mục đích chủ yếu giúp trẻ đỡ nhàm chán trong khi chờ đợi, dẫn dắt vào bữa ăn cách

vui vẻ hơn là giữ thái độ lo lắng và sợ sệt mỗi khi giờ ăn bắt đầu.

* Đọc thơ cùng trẻ các bài thơ có liên quan đến các món ăn mà hôm nay trẻ dùng

bữa.

Bên cạnh đó, có thể cho trẻ đọc thơ và làm một số động tác đơn giản khi bắt

đầu giờ ăn như bài thơ “Giờ ăn”, “Đến Giờ ăn”… (Phụ lục 7)

* Cho trẻ hoạt động nhẹ khi đã chuẩn bị ngồi vào bàn ăn. Những hoạt động này

có thể cho trẻ làm trong khi ngồi chờ đợi cô chia cơm. Sự phân công một cô chia cơm ,

một cô cùng ngồi với trẻ và một cô hướng dẫn trẻ vận động nhẹ . Một số trò chơi có

thể áp dụng trong khoảng thời gian này như: “Con thỏ, ăn cỏ”, “Cô bảo, cô bảo”, “Các

loại bánh”… (Phụ lục 7)

3.1.2. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường giáo dục mầm non

Một số yêu cầu:

• Về phía giáo viên mầm non:

− Giáo viên cùng tham gia vào việc lên kế hoạch thực đơn của trường.

− Giáo viên cầm nắm rõ tình hình ăn uống của từng trẻ trong lớp. Phân nhóm

phân loại các trẻ có một số đặc điểm chung để có những biện pháp tác động một cách

hợp lí.

− Giáo viên thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe

của trẻ thông qua biểu đồ tăng trưởng. Thực hiện khám sức khỏe, cân nặng định kì cho

trẻ theo lịch của trường.

− Không nên ép trẻ ăn hết suất, tạo cho trẻ không gian thoải mái để trẻ được chọn

loại và lượng thức ăn vừa đủ mà trẻ thích theo khả năng của mỗi trẻ.

− Chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho trẻ trước bữa ăn.

− Không cho trẻ uống sữa, ăn vặt gần bữa ăn chính.

− Phối hợp với phụ huynh trẻ.

• Về phía nhà quản lí

− Tạo điều kiện để giáo viên mầm non và bộ phận cấp dưỡng có thể làm việc

96

chung với nhau, cùng lên kế hoạch tổ chức bữa ăn cho trẻ.

− Tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ nhằm phát hiện các trường hợp bất

thường cách kịp thời.

• Về phía bộ phần cấp dưỡng

− Bộ phận cấp dưỡng cần có kiến thức cơ bản về sức khỏedinh dưỡng của trẻ

từng giai đoạn, từng độ tuổi nhất định.

− Bộ phận cấp dưỡng và giáo viên cần có sự liên hệ với nhau để hỗ trợ và đóng

góp ý kiến tổ chức bữa ăn theo ý thích và hứng thú của trẻ.

− Thay đổi về hình thức và kích thước của thức ăn

3.1.2.1. Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ

* Mục đích:

Sự thay đổi về cách chế biến và bày trí thức ăn sẽ giúp trẻ thích thú, tăng thêm sự

tích cực trong các bữa ăn của trẻ. Trẻ có thể sẽ thích miếng cà rốt màu đỏ được hầm

mềm cắt thành hình những nốt nhạc, ngôi sao, những trái tim… Hơn là những hạt cà

rốt được cắt nhỏ nấu chung với nhiều loại nguyên liệu khác. Có thể do sáng nay trẻ

được xem thỏ con ăn cà rốt, hay cô giáo dạy cho trẻ nhận biết về màu đỏ…

• Cách thực hiện: Trường mầm non có thể thay đổi cách thức chế biến, bày trí thức ăn và hình thức

* Yêu cầu:

tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non theo những cách thức sau:

Thứ nhất, thay đổi cách chế biến thức ăn bằng cách cho trẻ luân phiên các món

ăn thường xuyên: Cơm, cháo, bún, miếng, bánh mì, bánh canh…

Thực đơn mỗi ngày nên có 2 – 3 món cho trẻ được chọn lựa theo sở thích. Việc

chuẩn bị một bữa trưa nhiều món ăn sẽ gây khó khăn cho bộ phận cấp dưỡng, tuy

nhiên, giữa các lớp, các khối lớp, giáo viên có thể thay đổi lượng phần ăn với nhau để

món ăn của trẻ được đa dạng hơn. Một số trẻ không thích ăn cơm nhưng hôm đó lại

thích ăn bánh mì, giáo viên cũng có thể linh động cho trẻ ăn phần bánh của buổi chiều.

Thứ hai, thay đổi cách bày trí thức ăn sao cho đẹp mắt và thu hút trẻ. Những bữa

ăn đầy sắc màu và hình khối không những khiến trẻ thích thú, hào hứng mà còn kích

97

thích trí sáng tạo bay bổng tuyệt vời của trẻ.

Hình 3.5. Trang trí món ăn phù hợp với chủ đề.

Nguồn: Internet

Trường mầm non có thể trang trí phần ăn của trẻ theo sở thích và sự quan tâm

của trẻ, tùy theo chủ đề hôm đó trẻ được học. Chẳng hạn, hôm nay trẻ được học về

những chú thỏ, phần cơm trưa của trẻ có thể được nén cơm lại thành hình chú thỏ dễ

thương, dùng thức ăn trang trí xung quanh. Trẻ sẽ thích thú hơn khi được gặp lại điều

mà chúng quan tâm. Để làm được những món này trường mầm non có thể trang bị

những khuôn tạo hình như:

Hình 3.6. Một số khuôn tạo hình cơm cho trẻ.

Nguồn: Internet

Bên cạnh đó, tùy theo sở thích ăn uống của trẻ, trường mầm non có thể chế biến

98

và bày trí những món ăn quen thuộc được các bé yêu thích như Hình 3.7.:

Món soup buổi sáng hay buổi xế Trái cây kết thành xâu như ăn quà vặt

Thịt, cá, trứng kết thành xâu Những nắm cơm ngộ nghĩnh

Hình 3.7. Một số cách bày trí thức ăn đơn giản cho trẻ có thể thực hiện tại

trường mầm non

3.1.2.2. Biện pháp 5: Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ

Để thay đổi giữa các hình thức tổ chức cho trẻ ăn, giáo viên có thể tổ chức cho

trẻ ăn giao lưu với nhóm trẻ lớp khác. Nhờ một số phụ huynh có thời gian đến trường,

cùng tham gia vào hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ trong lớp. Thông qua nhà trường

có thể tiếp nhận các nhóm sinh viên hay nhóm tình nguyện đến trường cùng tham gia

99

giờ ăn với trẻ.

Tạo cho trẻ môi trường ăn uống vui vẻ, thân thiện là tạo bầu không khí tâm lí

khi ăn uống:

− Giáo viên luôn cười khi tổ chức giờ ăn cho trẻ.

− Không nên ép trẻ ăn hết phần ăn đã chuẩn bị sẵn mà hãy để trẻ ăn đủ lượng thức

ăn mà trẻ cảm thấy cần.

− Giáo viên không nên quát mắng trẻ khi trẻ chậm chạp, trẻ ăn chậm hay thậm chí

làm rơi vãi thức ăn ra bàn…

− Không nên dùng một số câu nói để hù dọa, làm ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ khi

ăn.

− Động viên khuyến khích trẻ khi ăn.

− Nhẹ nhàng nhắc nhở trẻ khi cần thiết: Phương ơi, con cầm muỗng xúc ăn đi con!

hay Minh ơi, con ăn nhanh lên rồi ra chơi cùng các bạn!

− Một số việc nhẹ, giáo viên có thể yêu cầu trẻ giúp cô, nhưng cần có sự phân công

cụ thể tránh cho các trẻ tranh giành nhau, luân phiên giữa các trẻ để trẻ nào cũng

có được niềm vui khi được giúp đỡ người khác…

− Không đánh đập, la mắng hay nổi giận khi trẻ có hành vi chống đối hay biếng ăn

mà phải quan sát và trò chuyện với trẻ để nắm được nguyên nhân và tìm cách

khắc phục...

− Bổ sung dưỡng chất cho trẻ ăn ít bằng cách cho trẻ uống thêm sữa.

− Tổ chức cho trẻ thi đua trong ăn uống để tạo không khí vui vẻ khi ăn.

Bên cạnh đó, sự thay đổi về dụng cụ ăn cũng giúp trẻ mang lại niềm vui trong

ăn uống. Với hình thức này, trường mầm non có thể thực hiện bằng những cách như

sau:

Từ khâu mua sắm vật tư và trang thiết bị của trường, trường mầm non có thể

phân theo khối hay chia số lượng ra, một phần chén, một phần tô, một phần đĩa ba

100

ngăn… Nếu nhiều màu khác nhau thì càng tốt…

Chén Muỗng – Nĩa Vẹo

Đĩa hai ngăn Đĩa ba ngăn

Đĩa Khay ăn nhiều ngăn

Hình 3.8. Một số đồ dùng sử sụng cho trẻ ăn

− Mỗi bữa ăn bộ phận cấp dưỡng sẽ phân dụng cụ ăn theo từng lớp, phù hợp với món

101

ăn theo ngày ăn của từng nhóm trẻ.

− Mỗi tuần, giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén và nĩa của

mình ở nhà. Phụ huynh có thể chuẩn bị cho trẻ mang theo khi đến lớp và trẻ sau khi

vệ sinh cá nhân và thay đồ sẽ tự lấy chén - muỗng của mình ra dùng cơm. Hoặc có

thể hôm đó, giáo viên chỉ nhờ phụ huynh mang đũa, muống của trẻ (tùy theo sự

phối hợp của giáo viên và phụ huynh trong lớp). Hình 3.9 là những đồ dùng mà trẻ

tại một trường mầm non Nhật Bản đi học cần mang theo. Ngoài muỗng, nĩa, đũa,

ca uống và khăn trải phục vụ cho bữa ăn tại trường, trẻ chỉ mang theo một bộ đồ và

chiếc nón. Đây là những món mà trẻ bắt buộc phải mang đi hàng ngày, sau khi

dùng xong, trẻ bỏ vào túi và sẽ được vệ sinh dụng cụ khi về nhà. Đây được xem là

một biện pháp giúp duy trì sự hỗ trợ và quan tâm của phụ huynh đối với việc gởi

trẻ tại trường cũng như tập dần cho trẻ sự tự lập – Trẻ cần được học cách tự phục

vụ những nhu cầu cơ bản của bản thân.

Hình 3.9. Hình ảnh những vật dụng một ngày trẻ Nhật Bản mang đi học

− Giáo viên cũng cần chuẩn bị một số dụng cụ phòng sẵn, trong những trường hợp

phụ huynh không chuẩn bị cho trẻ của mình, hạn chế tính trạng thiếu hụt.

Một ngày trong tuần, nhà trường và giáo viên có thể kêu gọi vận động phụ

huynh thực hiện “Hộp cơm cho bé đến trường” - Đây là mô hình dễ thấy ở các trường

mầm non Nhật Bản. Khi trẻ có các buổi ngoại khóa hay cuối tuần, phụ nữ Nhật thường

102

chuẩn bị cho các con của mình những hộp cơm Bento được trang trí một cách đẹp mắt

và đủ các loại nhóm chất. Hộp cơm Bento giúp trẻ thích thú khi khoe với bạn sự chuẩn

bị cũng như niềm vui của trẻ khi nói về mẹ của mình với các trẻ khác…

Trường mầm non có thể tổ chức nhiều hình thức ăn uống khác nhau cho trẻ như

ngồi bàn tròn, ăn tự chọn… Bữa ăn tự chọn (buffet) thường thu hút trẻ với đa dạng các

món ăn, và đặc biệt, khi tham gia các bữa ăn tự chọn, trẻ được chọn thức ăn mà trẻ

muốn. Với cách thức tổ chức đơn giản và sự hỗ trợ đúng cách của giáo viên thì

phương pháp này hoàn toàn có thể áp dụng cho các trẻ nhà trẻ.

Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc của giáo dục là hướng đến cá nhân

mỗi đứa trẻ. Giáo viên cần có sự linh động trong việc tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường

mầm non, không nên nhất quán, nguyên tắc với mọi trẻ mà cần nương theo trẻ để thực

hiện. Với một số trường hợp khác biệt của một số trẻ, giáo viên cần có các biện pháp

phù hợp theo từng trường hợp.

Với những trẻ ăn chậm do cơ địa: Miệng trẻ nhỏ không ăn được nhiều thức ăn

một lúc, họng hầu hẹp trẻ khó nuốt…Giáo viên cần đút muỗng nhỏ, động viên trẻ và

cho trẻ có thời gian nhai, cho trẻ ăn loãng và nhuyễn hơn so với các bạn cùng tuổi.

Với những trẻ ăn uống kém do bệnh lí như suy dinh dưỡng, nhiễm ký sinh trùng

(giun, sán…) nhiễm trùng (viêm đường hô hấp, viêm amiđan…) và virus, một số bệnh

lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), rối loạn đường tiêu hóa… Giáo viên cần phối hợp

với gia đình để có sự phối hợp trong nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.

Với một số trẻ có những trường hợp khó nuốt do không được tập ăn thô, không

biết nhai do phụ huynh thường xuyên cho ăn cháo nhuyễn, giáo viên mầm non có chế

độ ăn riêng khi chia cơm cho trẻ - Các trẻ này phần ăn của trẻ thường loãng, nhuyễn,

thức ăn mềm và nhỏ hơn các trẻ khác. Sau đó, thay đổi độ thô dần dần lên để tập lại

cho trẻ kỹ năng nhai nuốt đồng thời liên hệ với phụ huynh để cùng thực hiện sự thay

đổi tăng dần về độ thô trong các bữa ăn cho trẻ…

Với một số trẻ ăn thô tốt, nhất là các bé đã từng được phụ huynh cho ăn dặm

theo phương pháp BLW (Baby Led Weaning),giáo viên có thể cho các trẻ này đổi lớp,

ăn chung với các anh chị lớp trên để trẻ có thể được ăn thức ăn theo độ thô mà trẻ

muốn…Và ngược lại, để trẻ có thể ăn được độ thô mà trẻ có thể, nhưng không làm ảnh

103

hưởng đến hoạt động chung cũng như giờ ăn của các trẻ khác trong lớp.

Hình 3.10. Các bé trường mầm non Bồ Câu Nhỏ - Q.1ăn chiều với tiệc tự chọn

(Các bé ăn theo phương pháp BLW)

Nguồn: Website của trường

Ngoài ra, việc thay đổi địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ: Ăn trong lớp, phòng ăn

cho trẻ, ăn ngoài trời… Cũng đem lại sự mới lạ và thay đổi bầu không khí trong khi ăn

đối với trẻ. Biện pháp này còn phù thuộc vào điều kiện không gian và cơ sở vật chất

của từng trường. Tuy nhiên, trường mầm non có thể linh động tổ chức bữa ăn cho trẻ ở

những môi trường khác nhau tùy vào tình hình thực tế để đem lại sự mới lạ cho các bé.

3.1.3. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình trẻ

3.1.3.1. Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn

theo khả năng

Nhận thức của phụ huynh phần nào ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và giáo

dục trẻ. Trường mầm non và giáo viên mầm non cần giúp phụ huynh nhận thức một số

nội dung sau:

− Thứ nhất, trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ thuộc về cả gia đình và trường

mầm non.

− Thứ hai, phụ huynh cần hợp tác và hỗ trợ giáo viên một cách chặt chẽ.

− Thứ ba, phụ huynh không quá đặt nặng vào vấn đề tăng cân của trẻ, tạo áp lực

trong ăn uống đối với trẻ cũng như công tác tổ chức của giáo viên.

− Thứ tư, nhất quán quan điểm “Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng” ở

• Mục đích:

104

trường và cả khi trở về nhà.

Chúng ta không thể phủ nhận, vấn đề các phụ huynh hay quan tâm khi gởi con

đi nhà trẻ chính là trẻ tăng cân bao nhiêu, chiều cao như thế nào? Nếu tháng đó bé

không có chuyển biến theo hướng phát triển (chưa nói đến sụt cân, hay đứng chiều

cao) thì cũng là nỗi lo lắng của cha mẹ và trở thành áp lực của nhà trường.

Sự thay đổi về mặt nhận thức của cộng đồng không phải cổ vũ cho việc bỏ đói

trẻ hay để mặc trẻ khi nào muốn ăn thì ăn, đói thì ăn, không thì thôi. Nhưng trước hết,

thái độ của chính phụ huynh trẻ sẽ giúp cho các cô giáo cảm thấy nhẹ nhàng trong việc

tổ chức bữa ăn cho trẻ. Thiết nghĩ nếu phụ huynh không đặt mục tiêu là tăng cân, các

cô giáo cũng không phải ép trẻ ăn, hay thậm chí dùng bạo lực để trẻ ăn hết suất. Do

đó, nhóm biện pháp này cũng thật sự cần thiết và cần được tuyên truyền đến phụ

• Yêu cầu - Cách thực hiện:

huynh bằng nhiều cách.

Để thay đổi nhận thức của phụ huynh trẻ, trước hết trường mầm non cần tạo

điều kiện cho phụ huynh được đến trường và tham gia vào hoạt động của con. Bằng

cách mời và khuyến khích phụ huynh của các trẻ trong lớp cùng đến tham gia tổ chức

bữa ăn cho các trẻ trong lớp. Trong những biện pháp trên, chúng tôi cũng đã nên lên

một số biện pháp giáo viên có thể sử dụng để thu hút sợ tham gia hỗ trợ của phụ

huynh. Khi phụ huynh được trải nghiệm những gì con được học và được làm ở trường,

phụ huynh sẽ phần nào hiểu được công việc của cô giáo mầm non, cũng như sức ăn

của con ở trường, sự phối hợp của gia đình và trường mầm non trong các hoạt động

chăm sóc và giáo dụctrẻ cũng được tốt hơn.

Cụ thể, giáo viên có thể mời phụ huynh cùng góp phần với cô trong các hoạt

động liên quan đến dinh dưỡng, chắc chắn rằng các bé lười ăn sẽ có những hiệu quả

cải thiện đáng mừng khi mẹ/ba của bé đến lớp và cùng làm món xà lách trộn/trái cây

trộn với các trẻ khác… Sự phối hợp và hỗ trợ của phụ huynh sẽ mang lại nhiều niềm

vui cho trẻ trong các hoạt động - điều này sẽ được chi tiết hơn trong nhóm các biện

pháp tác động phụ huynh trẻ được trình bày ở phần sau.

Giáo viên cũng có thể dùng bảng tin thực phẩm cho bé “Hôm nay, bé thích ăn

105

gì?” để liên lạc, trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết cũng như nhận lại phản hồi

của phụ huynh về trẻ của mình. Và một số biện pháp có thể giúp truyền thông và nâng

cao phối hợp giữa trường mầm non và phụ huynh trẻ như:

* Bảng tin lớp học: Mỗi lớp học cần có bảng tin để trao đổi với phụ huynh về

vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ.

Ngoài một số nội dung giáo viên đã làm tốt, luận văn đề xuất một số ý sau:

− Thực đơn hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng theo dự kiến - mục này sẽ giúp

phụ huynh theo dõi và cho ý kiến về các thực phẩm trẻ mình không thích hay bị

dị ứng… Có thể can thiệp và ý kiến để thay đổi thực đơn khi quá nhiều trẻ không

thích ăn hay không phù hợp với thức ăn hôm đó theo thực đơn đã lên.

− Hình ảnh hoạt động tổ chức bữa ăn hàng ngày của trẻ: Hình ảnh sẽ ấn tượng và

lôi cuốn sự chú ý của phụ huynh hơn, nhằm hướng phụ huynh quan tâm theo dõi

bảng tin để nắm bắt các hoạt động của trẻ ở trường, đồng thời xem qua những

mục tin quan trọng khác…

− Một số bài báo màu có nội dung vệ sinh bệnh học, dinh dưỡngvà sức khỏeđể

cung cấp kiến thức cho phụ huynh theo mùa…

− Điều quan trọng không thể thiếu là “hòm thư” - Đây là điều các trường mầm non

hay qua, bảng tin tại trường mầm non chỉ đơn phương cung cấp thông tin cho

phụ huynh và không có không gian cho phụ huynh góp phần và phản hồi ý kiến

cũng như cung cấp cho giáo viên thông tin hàng ngày của trẻ. Nhiều phụ huynh

khi đưa đón trẻ không có nhiều thời gian trò chuyện với cô, hay nhiều trẻ do ba

đưa đón… Hòm thư sẽ giúp phụ huynh đưa ra suy nghĩ của mình và giáo viên

mầm non có thể dễ dàng nắm bắt và tiếp cận hơn.

* Tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu giữa các phụ huynh: Những giờ họp

phụ huynh định kì hay thường xuyên hơn là giờ đón trả trẻ, giáo viên có thể trò chuyện

và trao đổi với phụ huynh để có thể cùng phụ huynh nhận ra một số thái độ ăn uống

tích cực và tự lập của trẻ (đã được và chưa được) để cùng có những biện pháp giúp trẻ

ở trường cũng như về nhà. Từ đó, phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc ăn

uống tự lập, khuyến khích phụ huynh tạo điều kiện cho bé chủ động và khả năng tự

phục vụ trong ăn uống tại nhà.

106

Gợi ý một số nội dung giáo viên và phụ huynh có thể trao đổi với nhau như:

− Lượng ăn của trẻ ngày hôm nay (so với mọi hôm) - Giúp phụ huynh biết được trẻ

đã ăn đủ lượng cần thiết hôm nay chưa và có bữa phụ khi về nhà (đặc biệt các trẻ

béo phì).

− Biểu hiện bệnh của trẻ nếu có (giúp phụ huynh kịp thời quan sát và phát hiện bệnh,

nhằm tìm hiểu nguyên nhân trẻ biếng ăn sinh lí hay bệnh lí mà có cách can thiệp

kịp thời).

− Một số kĩ năng trẻ có thể làm được - Giúp cho phụ huynh hỗ trợ và cho trẻ tự thao

tác khi về nhà.

− Nội dung mà hôm nay trong giờ ăn cô đã dạy - Giúp phụ huynh biết được và tiếp

tục củng cố cho trẻ khi về nhà...

3.1.3.2. Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm

• Mục đích:

tháng đầu đời

Từ lúc lọt lòng mẹ, đối với trẻ, việc gì cũng cần phải “học”. Từ việc học thế nào

bú ti mẹ, nuốt được sữa, biết khóc khi đói, lắc đầu khi no… Đến ăn uống cũng là vấn

đề mà cần người lớn “dạy” cho trẻ. Một số quan niệm cho rằng, ăn uống là bẩm sinh,

bây giờ không biết thì lớn lên cũng sẽ biết. Đúng thật như vậy. Nếu gia đình và nhà

trường không tập cho trẻ ăn, lớn lên, trẻ cũng có thể ăn cơm, cũng biết chọn cho mình

những món ăn mà trẻ thích. Tuy nhiên, nếu có điền kiện có thể làm cho những điều

này ở trẻ sớm có hơn, góp phần hình thành sớm thái độ ăn uống tích cực và tự lập hơn

cho trẻ, hơn nữa góp phần hình thành nên tính cách con người của trẻ: Biết tự tin trong

ăn uống, tự tin trong những việc thông thường của bản thân, trẻ cũng dễ dàng tự tin

vào các việc khác.

Nhóm biện pháp này tuy không ứng dụng nhiều trong bậc học mầm non, nhưng

qua đó, cũng giúp cho phụ huynh nắm được sự quan trọng của việc hình thành thái độ

ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ và sự liên thông của giai đoạn ăn dặm đối với việc tổ

• Yêu cầu và cách thực hiện:  Về phía phụ huynh

107

chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ giai đoạn nhà trẻ.

− Phụ huynh cần có kiến thức cơ bản về dinh dưỡngvà sức khỏe của trẻ theo từng

giai đoạn, từng độ tuổi. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi lượng thông tin và kiến

thức bùng nổ trên các báo mạng, phụ huynh cần sáng suốt, tỉnh táo khi chọn lọc thông

tin và kiểm chứng thông tin khi muốn áp dụng cho trẻ của mình. Tốt nhất nên tham

khảo một số trang báo uy tín đã được khuyến cáo và áp dụng một cách linh động tùy

thuộc vào trẻ, không nên cứng nhắc và khư khư theo nguyên tắc sẽ tạo ra nhiều áp lực

cho cả phụ huynh và cho chính trẻ.

− Phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các cơ sở chăm sóc sức khỏe y tế để có

chế độ chăm sóc trẻ, kịp thời phát hiện và can thiệp những biểu hiện bất thường.

− Thực hiện đúng và đủ việc kiểm tra sức khỏe định kì, theo dõi sự tăng trưởng

về chiều cao và cân nặng của bé.

• Về phía các cơ sở giáo dục và cơ sở y tế

Thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa trường mầm

non và phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Ở nước ta hiện nay, việc chọn

trường cho con theo ý phụ huynh tuy trở nên phổ biến, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn

nhiều gia đình không đủ khả năng, vẫn cho con theo học đúng tuyến vào những trường

phường, trường quận. Đây là cơ hội tốt để cán bộ phòng ban có thể tuyên truyền hiệu

quả cách chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ – Tạo tiền đề cho sự chuẩn bị cho trẻ đến

trường.

Các cơ sở y tế, phòng ban chức năng nắm bắt được số trẻ chuẩn bị đến trường

trong khu vực của mình để có thể cung cấp một số ấn phẩm về nhà: Cách cho trẻ ăn

dặm, một số thực đơn cho trẻ thời kì ăn dặm và chuẩn bị đến vườn trẻ, một số bệnh

thường gặp ở trẻ em và cách phòng tránh… Một số quận tại Nhật Bản vẫn hay dùng

cách này để tuyên tuyền cho phụ huynh trong công tác này, quận sẽ gởi sách, tài liệu

về ăn dặm kiểu Nhật cho phụ huynh tham khảo – Từ những nguyên tắc, cách chuẩn bị,

cách chế biến, cách trữ đông, thực đơn gợi ý… Đến cách cho bé ăn như thế nào để có

thể kích thích trẻ ăn, tập cho trẻ ăn theo độ đặc và độ thô lớn dần, biết nhai nuốt thức

108

ăn, biết tự xúc ăn và làm thế nào để trẻ ăn một cách tự lập…

Hình 3.11. Sách tham khảo hướng dẫn cách chế biến thức ăn cho trẻ

Nguồn: Tạp chí Afamily.vn

Hình 3.12. Bài báo, tạp chí về cách chăm sóc trẻ

109

Nguồn: Tạp chí Afamily.vn

Hình 3.13. Tổ chức các buổi giao lưu, huấn luyện chăm sóc bé ăn dặm

Nguồn: Tạp chí Afamily.vn

Một khía cạnh khác của biện pháp này, giáo viên mầm non cũng cần điều tra về

cách phụ huynh đã sử dụng trong quá trình cho trẻ ăn dặm tại nhà. Điều này giúp cô

hiểu hơn về trẻ, có các biện pháp tác động với trẻ một cách liên tục cùng với sự phối

hợp của phụ huynh. Đặc biệt là trong vấn đề cho trẻ ăn theo độ thô phù hợp với lứa

tuổi và với cá nhân từng trẻ

Đây là điều hết sức cần thiết. Bằng cách khuyến khích và thiết lập cho trẻ một

thói quen ăn uống tốt sớm sẽ hình thành ở trẻ một thái độ tích cực và hành vi lành

mạnh đối với việc ăn uống. Những thái độ này sẽ kéo dài đến suốt đời đối với trẻ.

Nhiều bậc cha mẹ không thể nhớ được những niềm vui trong việc ăn uống, khi

hồi tưởng về quãng thời gian trước kia của mình [2, tr.13].

Không ít trong chúng ta đã trải qua tuổi thơ với những hình ảnh như “Ngồi đấy

cho đến khi nào ăn hết mới thôi!” Hay nhiều lần có thể chúng ta nghe những mẩu

chuyện nhỏ về việc khi trẻ khó ăn, nếu nôn thức ăn ra sẽ bị bắt phạt ăn lại phần ói của

mình… Việc chúng ta từng trải qua cũng có thể xảy ra đối với trẻ của mình. Do đó,

việc trang bị những kĩ năng và kiến thức tốt về phương pháp tổ chức cho trẻ ăn dặm sẽ

giúp đỡ rất nhiều trong việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ từ

110

những năm đầu đời. Một số phương pháp ăn dặm hiện nay đang được ưa chuộng và

các bậc phụ huynh ứng dụng rộng rãi:

Trước tiên cần đề cập đến là phương pháp ăn dặm theo kiểu truyền thống.Đây là

phương pháp phổ biến nhất, thường bắt đầu khi bé 4 – 5 tháng. Điểm đặc trưng của

phương pháp này chính là ăn chung các loại thực phẩm nấu chín sau đó xay nhuyễn,

đến giai đoạn trẻ mọc răng sẽ chuyển sang ăn cháo dần.

Không thể phủ nhận một số ưu điểm của phương pháp này, một là dạ dày của bé

sẽ không phải làm việc “quá tải” sớm và hai là phương pháp này rất phù hợp cho

những mẹ bận rộn và không có thời gian chế biến cầu kì. Nhưng thực tế khi áp dụng,

phụ huynh thường gặp một số lỗi sau:

Vì trẻ ăn nhuyễn nhiều nên khả năng ăn thô kém, đôi khi đã 2 tuổi vẫn phải ăn

cơm nhá, rất mất vệ sinh hay như việc ninh xương nấu cháo cho trẻ, cho bé đi

ăn rong, vừa ăn vừa hò hét, nhảy múa… Nấu chung nguyên liệu sẽ khiến bé khó cảm nhận mùi vị, từ đó sinh chán ăn, biếng ăn, kén chọn thực phẩm sau này.19

Có thể thấy, việc cho trẻ ăn theo phương pháp này chưa mang lại một số ưu điểm

cần có trong giai đoạn tập cho trẻ ăn dặm. Mặc khác, phương pháp này vẫn còn đặt

nặng tư tưởng cho trẻ ăn hết suất (thường là chén/tô nhỏ) do đó, người chăm sóc trẻ dễ

nhầm lẫn việc cho trẻ ăn hết suất với cho trẻ ăn theo nhu cầu. Bình thường bé ăn một

chén thì hôm nay hay hôm sau lượng ăn của bé vẫn như vậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng

nhồi nhét cho trẻ, dần dẫn gây nên trạng thái chán ăn và sợ thức ăn ở trẻ nhỏ.

Một phương pháp gần đây được biết đến với tinh thần ăn uống là niềm vui, trẻ ăn

tích cực và vui vẻ với nhu cầu và hứng thú của bản thân, đó chính là phương pháp ăn

dặm kiểu Nhật (ADKN) cùng khẩu hiệu “Hãy tiếp xúc với trẻ bằng tấm lòng bao

dung, rộng mở và chia sẻ cùng trẻ bữa ăn dặm vui vẻ”[32, tr.3].

Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết các đặc điểm của phương pháp này như:

− Cho bé ăn thô đúng thời điểm: Phương pháp này phân chia độ thô của trẻ theo

từng giai đoạn cụ thể, tỉ lệ 1:5 tương ứng 5 tháng, trẻ ăn thức ăn nhuyễn qua ray lưới,

tỉ lệ 1:7 tương ứng bé 7 tháng tuổi… Cùng mỗi tỉ lệ, đều có độ thô khác nhau và tăng

111

dần lên. Phương pháp này chia thành nhiều giai đoạn nhỏ: Khi bé 5-6 tháng tuổi; bé 7 19Theo Báo Phunuso.net tổng hợp - http://phunuso.net/so-sanh-3-phuong-phap-an-dam-baby-led-weaning-an- dam-kieu-nhat-an-dam-truyen-thong.html

– 8 tháng tuổi; khi bé 9 – 11 tháng tuổi và 12 – 15 tháng tuổi.

Hình 3.14. Bảng độ thô thực phẩm theo từng giai đoạn ADKN

cho bé.

Nguồn: Internet

Ăn riêng từng loại thức ăn: Khác với ăn dặm truyền thống, một khay thức ăn của

trẻ ăn dặm kiểu Nhật bao giờ cũng đủ ba nhóm thực phẩm: Tinh bột, vitamin và chất

đạm theo tiêu chuẩn “vàng – đỏ – xanh”. Những loại thực phẩm này được chế biến

riêng biệt và không trộn lẫn.

Hình 3.15. Bữa ăn của trẻ ăn dặm theo phương pháp ADKN thường ăn riêng theo

từng món.

112

Nguồn: Internet

Để trẻ tập ăn nhạt, tập ăn từng loại thực phẩm từ rau củ đến thịt cá để làm quen

dần. Trong 1 – 2 năm đầu, người Nhật không hoặc hạn chế cho trẻ con ăn muối, đường

hay các gia vị khác. Quan tâm cung cấp cho trẻ những món ăn với hương vị tự nhiên

của nguyên liệu.

Tinh thần của ăn dặm kiểu Nhật: Cho bé ăn trên ghế, không ăn rong, bật tivi. Khi

trẻ không ăn nữa, tuyệt đối không thúc ép nhồi nhét. Việc cho trẻ ngồi ghế giúp các bé

ý thức được rõ ràng về giờ ăn, tập luyện thói quen tốt khi ăn.

Hình 3.16. Ghế ăn là một trong những đồ dùng không thể thiếu khi tập cho trẻ ăn

dặm theo phương pháp này.

Nguồn: Internet

Ưu điểm dễ nhận thấy nhất của phương pháp ăn dặm kiểu Nhật đó là trẻ sẽ có

khả năng ăn thô sớm hơn rất nhiều so với các bé theo phương pháp ăn dặm truyền

thống. Thêm vào đó, việc ăn riêng từng loại thức ăn sẽ giúp bé làm quen tốt hơn với

mùi vị của từng loại thực phẩm, không bị hỗn hợp, không nảy sinh tâm lý ngán ăn. Ăn

nhạt sẽ tốt hơn cho thận của trẻ. Và một điều quan trong nhất: Đó chính là tinh thần

“kiểu Nhật”: Không thúc ép trẻ ăn, không tạo tâm lý sợ hãi khi ăn uống. Thiết lập cho

bé thói quen ngồi ăn ngay từ lúc bé giúp trẻ ăn nhanh và tập trung hơn.

Chính vì những nguyên nhân trên, phương pháp ADKN đã được phụ huynh ứng

dụng ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều bé thành công với phương pháo

113

này – hình thành cho các bé thái độ ăn uống tích cực và tự lập thì vẫn còn nhiều trường

hợp thất bại hay áp dụng nữa với vì nhiều lí do: Phụ huynh mất nhiều thời gian và

công sức giai đoạn đầu. Chuẩn bị cho con từng món ăn riêng biệt, chế biến và bảo

quản thường rất phức tạp.

Bên cạnh phương pháp ADKN, phương pháp ăn dặm bé chỉ huy - Baby Led

Weaning (BLW) cũng là một trong những biện pháp mang lại nhiều hiệu quả. Ăn cùng

bé, cùng lúc, cùng bàn là tinh thần chính của phương pháp ăn dặm này. Không có quấy

bột, cũng không có cháo loãng. Trẻ ăn theo phương pháp BLW sẽ tự ăn và ăn thô y

như người lớn ngay từ lần ăn dặm đầu tiên. Phương pháp này cho rằng sữa vẫn là thức

ăn chính và việc ăn dặm chỉ để bé làm quen với các loại thực phẩm. Do đó, tập nhai là

điều mà các mẹ hay chú trọng hơn khi cho con mình sử dụng phương pháp này.

Hình 2.17. Hình ảnh các bé ăn dặm theo phương pháp BLW

Nguồn: Internet

Điểm khác biệt của phương pháp BLW là không thìa, không xúc, không bát đũa.

Trẻ sẽ được dùng thức ăn nguyên miếng được hầm mềm. Thức ăn đặt trước mặt trẻ và

trẻ sẽ ăn bốc, tự cầm tay những thức ăn mình yêu thích để cho vào miệng. “Baby

leads” có nghĩa là để con tự chỉ huy, tự quyết định mình sẽ ăn gì. Hay nói khác đi “Bé

quyết định thời điểm bắt đầu và kết thúc quá trình ăn dặm”. [11, tr.16]

Thời gian đầu, trẻ có thể sẽ không ăn, cầm ném thức ăn lung tung, thậm chí bóp

nát, cho vào miệng mút rồi vứt…..Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian làm quen với thực

114

phẩm, con sẽ tự hình thành phản xạ cắn, nhai rồi nuốt. Từ đó, tiến thẳng đến giai đoạn

tự mình xúc thìa. Có thể tóm tắt một số ưu điểm của BLW như sau:20

− Tạo điều kiện cho bé khám phá mùi vị, kết cấu, màu sắc của mỗi loại thức ăn

riêng biệt.

− Giúp trẻ phát triển phối hợp tay – mắt, sự khéo léo và kỹ năng nhai.

− Trẻ sẽ có khả năng tự cầm thìa xúc từ rất sớm rất.

− Cho phép bé ăn với khối lượng bé cần, theo thời gian của riêng bé, do đó tạo

được thói quen ăn uống tốt sau này.

− Mẹ không cần tốn thời gian chuẩn bị đồ ăn riêng cho con vì bé sẽ ăn ngay như

một thành viên trong mâm cơm gia đình. (Có thể chế biến thức ăn của con nhừ).

Ngoài các phương pháp trên còn có một số quan điểm khác về hình thành thói

quen ăn uống tốt cho trẻ từ những năm tháng đầu đời. “Con chỉ cần nếm thử thôi” là

một trong những nội dung được cuốn sách “Dạy con kiểu Pháp – Trẻ em Pháp không

ném thức ăn” đề cập đến hay một lần nữa nhấn mạnh “các bậc phụ huynh nên giữ thái

độ bình tĩnh và vui vẻ trong suốt bữa ăn và quan trọng nhất là tiếp tục theo đuổi mục

tiêu của mình, thậm chí nếu con cái họ không chịu ăn một miếng nào.”[12, tr.188]

Trong cuốn “Phương pháp giáo dục con của người Do Thai” tác giả cũng đề cập

“ăn uống không chỉ đúng giờ mà cần có điều độ” Người Do Thái yêu cầu rất nghiêm

khắc trong việc ăn uống. Ngoài những quy định về chủng loại thức ăn, họ còn yêu cầu

mọi người trong gia đình cân ăn uống mức độ, không được tùy tiện. Từ việc nghiêm

khắc với con cái, ngay từ nhỏ, trẻ con của người Do Thái đã được hình thành thói quen

ăn uống hợp lý. Một số quy định cụ thể của họ về ăn uống như sau: Ăn uống có mức

độ, ăn uống đúng giờ và ăn uống đúng tư thế. [14, tr.203-205]

Có thể thấy, mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh riêng, nắm được những

phương pháp này, giáo viên sẽ nhận thấy, ăn uống không chỉ đơn thuần một giờ ăn mà

còn có thể là một giờ học tập và vui chơi. Tạo không khí vui vẻ cho trẻ trong bữa ăn

cũng như bầu không khí thoải mái khi ăn là điều hết sức quan trọng và cần thiết, cần

20Theo Báo Phunuso.net tổng hợp - http://phunuso.net/so-sanh-3-phuong-phap-an-dam-baby-led-weaning-an- dam-kieu-nhat-an-dam-truyen-thong.html

115

phải được cải thiện trên chính trẻ của lớp mình.

3.2. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp hình thành thái

độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

3.2.3. Khái quát quá trình khảo sát

Để khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất nhằm hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non,

chúng tôi tiến hành khảo sát trên 10 trường mầm non với một đại diện cán bộ quản lí

thông qua việc trả lời phiếu phỏng vấn bảng câu hỏi. Trong đó, để đánh giá số liệu

thống kê thu thập được từ ý kiến của các cán bộ quản lí, chúng tôi quy ước về mức độ

• Thang điểm đánh giá tính cần thiết 0,00 – 1,00: Không cần thiết

được tính theo thang điểm như sau:

1,01 – 2,00: Ít cần thiết

2,01 - 3,00: Tương đối cần thiết

3,01 – 4,00: Khá cần thiết

• Thang điểm đánh giá tính khả thi 0,00 – 1,00: Không khả thi

4,01 – 5,00: Rất cần thiết

1,01 – 2,00: Ít khả thi

2,01 - 3,00: Tương đối khả thi

3,01 – 4,00: Khá khả thi

4,01 – 5,00: Rất khả thi

Thông qua quá trình khảo sát và thông kê, chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến

về vấn đề và đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất như

sau:

3.2.4. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã

đề xuất

116

3.2.4.2. Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp chung

Bảng 3.1. Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp chung

hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường

mầm non

Tính cần Tính khả thi

thiết ĐLC Nội dung

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông 3,7 0,949 3,7 1,059 qua giáo dục dinh dưỡng

Hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với

những kỹ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn 4 0,816 4 0,667

uống

Chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn 3,7 0,823 4,1 0,568

Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ 3 0,667 2,8 0,789

Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ 3,9 0,738 3,5 0,85

Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu 3 0,667 3,1 0,738 cầu – Ăn theo khả năng

Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực và tự lập 3,5 1,08 3,3 0,949 trong những năm tháng đầu đời

Với kết quả phân tích thống kê mức độ cần thiết và khả thi các biện pháp trên, ta

thấy đa số đều cho rằng việc áp dụng những biện pháp này là cần thiết và khả thi. Hầu

hết khảo sát đều cho kết quả từ ĐTB 3 trở lên, điều này có nghĩa mức độ thấp nhất của

các biện pháp là tương đối khả thi và tương đối cần thiết với ĐLC không cao. Trong

đó, có một số đáng lưu ý như sau:

Một là, hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao

tác với đồ dùng phục vụ ăn uống là nhóm biện pháp có mức độ cần thiết và khả thi đạt

mức khá (ĐTB 4) - Điều này khá hợp lí vì đây cũng là một trong những mục tiêu của

giáo dục là rèn luyện cho trẻ các kỹ năng sống để có thể thích nghi tốt với môi trường

117

sống.

Hai là, biện pháp thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ được đánh giá

mức độ cần thiết trung bình nhưng mức độ khả thi thì chỉ 2,8 - đặt mức dưới trung

bình. Phần phân tích các biện pháp cụ thể sẽ nói rõ hơn về vấn đề này.

Ba là, thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng

cũng là nhóm biện pháp có mức đánh giá ở mức trung bình – ĐTB 3. Con số này tuy

vẫn đạt ở mức độ trung bình, nhưng đây là chỉ số thấp so với các chỉ số khác.

Bốn là, ĐLC ở mỗi chỉ số không quá cao, điều này phản ảnh mức độ đồng ý của

các giáo viên tương đối ngang nhau, các có ý kiến không quá chênh lệch nhau, vì thế

ĐLC không lớn hơn 1. Điều này cũng cho thấy những biện pháp này nhận được ý kiến

tương đối giống nhau của các trường được khảo sát.

Năm là, việc các trường nhận thấy những biện pháp này là cần thiết chưa có

nghĩa là những biện pháp này khả thi, bởi để thực hiện những biện pháp này còn phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Cơ sở vật chất của trường; trình độ của giáo viên;

nhận thức của phụ huynh và học sinh cũng như sự quyết tâm của cán bộ quản lý. Vì

thế mức độ khả thi của biện pháp cũng có sự thay đổi. Tuy vậy, sự khác nhau giữa tính

cần thiết và mức độ khả thi trên thực tế là không quá lớn.

Cụ thể, chúng ta tiến hành khảo sát trong các biện pháp cụ thể:

3.2.4.3. Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp cụ thể

Bảng 3.2. Đánh giá về tính cần thiết của những biện pháp cụ thểhình thành thái

độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18-36 tháng tại trường mầm non

TT Biện pháp Tính cần thiết Tính khả thi ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua giáo dục dinh dưỡng 1 0,675 4,3 4 0,816

3,9 0,316 3,5 0,527 2

3,4 0,966 3,4 0,966 3 Quan sát và trò chuyện với trẻ Cung cấp thông tin về nguồn dinh dưỡng của từng loại cho bé Tổ chức các buổi tham quan vườn rau - Tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nguyên liệu và chế biến thực phẩm

Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống

118

3,8 0,422 2,8 0,632 4 Hình thành các kỹ năng sử dụng đồ dùng cơ bản cho trẻ: Cầm muỗng tự xúc ăn, cắm

ống hút, mở nắp hộp, lột vỏ chuối…

5 3,9 0,738 3,9 0,568

6 3,6 0,966 3,6 0,699 Quan sát trẻ để có những tác động kịp thời để hình thành thói quen cho trẻ theo từng bước Thường xuyên quan sát, động viên nhắc nhở trẻ tự thực hiện các nhu cầu của bản thân

Biện pháp 3: Chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn

7 3,7 0,823 4 0,816

8 3,9 0,738 3,3 0,949

9 3,8 0,789 3,8 0,422

10 3,5 0,972 4,1 0,738 Dùng hiệu lệnh để trẻ biết được chuẩn bị vào hoạt động ăn uống Tổ chức cho trẻ đọc thơ, chơi những trò chơi nhỏ, hát bài hát có chủ đề về thế giới thực vật, thực phẩm, những thói quen tốt trong ăn uống… Tạo cơ hội cho trẻ tham gia bày bàn ăn cùng cô Vận động nhẹ bằng những trò chơi tại chổ trong lúc trẻ chờ đợi giáo viên chuẩn bị bàn ăn và chia cơm

Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ

11 4 0,816 3,9 0,876

12 3,6 0,843 3,5 0,972 Thay đổi đa dạng các hình thức chế biến thức ăn cho trẻ: Cơm, cháo, bún, miếng, bánh mì, bánh canh… Thay đổi cách bày trí thức ăn sao cho đẹp mắt và thu hút trẻ

Biện pháp 5: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng

13 3,2 0,789 3,2 0,632

14 3,7 0,949 3,4 0,516

15 2,9 0,568 3,7 0,675

16 3,9 0,738 3,6 0,843

17 3,5 0,85 3 0,667

119

18 3,1 0,738 3,3 0,823 Tổ chức cho trẻ ăn giao lưu với nhóm trẻ lớp khác Nhờ một số phụ huynh có thời gian đến trường, cùng tham gia vào hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ trong lớp Thông qua nhà trường có thể tiếp nhận các nhóm sinh viên hay nhóm tình nguyện đến trường cùng tham gia giờ ăn với trẻ Tạo cho trẻ môi trường ăn uống vui vẻ, thân thiện là tạo bầu không khí tâm lí khi ăn uống Không nên ép trẻ ăn hết phần ăn đã chuẩn bị sẵn mà hãy để trẻ ăn đủ lượng thức ăn mà trẻ cảm thấy cần Giáo viên không nên quát mắng/hù doạ trẻ khi trẻ chậm chạp, trẻ ăn chậm hay thậm

chí làm rơi vãi thức ăn ra bàn…

3,4 0,516 3,9 0,738 19

3,4 0,516 3,9 0,738 20

3,6 0,966 3,1 0,568 21

2.9 0.876 3.7 0,483 22

Động viên khuyến khích, nhẹ nhàng nhắc nhở trẻ khi cần Tao cơ hội nhờ trẻ giúp cô với sự phân công cụ thể và luân phiên giữa các trẻ để trẻ nào cũng có được niềm vui khi được giúp đỡ người khác… Tổ chức cho trẻ thi đua trong ăn uống để tạo không khí vui vẻ khi ăn Giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén và nĩa của mình ở nhà Tổ chức nhiều hình thức ăn uống cho trẻ 0,527 3,5 4 0,943

23 Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng

3,7 0,823 3,3 0,483 24

3,3 0,949 3,6 0,516 25

3,6 0,699 3,8 0,632 26

3,5 0,707 3,2 0,919 27 Tạo điều kiện cho phụ huynh được đến trường và tham gia vào hoạt động của con Liên lạc, trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết cũng như nhận lại phản hồi của phụ huynh về trẻ Trao đổi với phụ huynh về vấn đề dinh dưỡngvà sức khỏe của trẻ thông qua bản tin lớp học Tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu giữa phụ huynh trẻ

Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực và tự lập trong những năm tháng đầu đời

3,1 0,876 3,1 1,101 28

3,6 0,843 3,7 0,823 29

3,6 0,699 3,7 0,675 30

Thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa trường mầm non và phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ Thực hiện đúng và đủ việc kiểm tra sức khỏe định kì, theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao và cân nặng của bé. Giáo viên điều tra và thu thập thông tin về cách thức phụ huynh cho trẻ ăn dặm để bổ sung hồ sơ trẻ và có các biện pháp tổ chức giờ ăn phù hợp

Nhìn vào bảng số liệu trên, luận văn rút ra được một số kết luậnnhư sau: Nhìn

chung ở từng biện pháp cụ thể các trường đều đồng ý có thể áp dụng cho trẻ, cụ thể

ĐTB của các chỉ số đều từ 3 trở lên - mức tương đối cần thiết và tương đối khả thi. Và

120

khả thi hay cần thiết không còn phù thuộc vào nhiều yếu tố khác. ĐLC ở mỗi chỉ số

không quá cao có ý nghĩa độ chênh lệch các câu trả lời không nhiều, tạo nên sự tin

tưởng cho việc có thể ứng dụng các biện pháp vào thực tiễn.

Bên cạnh đó, số liệu ghi nhận được cũng phản ánh một số điểm đáng lưu ý:

Thứ nhất, trong nhóm biện pháp 2, biện pháp hình thành các kỹ năng sử dụng đồ

dùng cơ bản cho trẻ: Cầm muỗng tự xúc ăn, cắm ống hút, mở nắp hộp, lột vỏ chuối…

Có mức độ cần thiết ĐTB 3,8 nhưng mức độ khả thi chỉ đạt 2,8. Phần đông giáo viên

cho rằng biện pháp này là cần thiết nhưng chưa khả thi có thể do nguyên nhân đến từ

trẻ như đã phân tích ở phần nguyên nhân, hay cũng có thể do luận văn chưa nêu cụ thể

hoá các biện pháp khiến cho giáo viên mơ hồ về cách thức thực hiện chúng trong thực

tế.

Thứ hai, ở nhóm biện pháp 5, biện pháp thông qua nhà trường có thể tiếp nhận

các nhóm sinh viên hay tình nguyện viên đến trường cùng tham gia giờ ăn với trẻ nhận

được ĐTB 2,9 về mức độ cần thiết nhưng mức độ khả thi lại cao hơn – ĐTB 3,7. Điều

này nghe có vẻ trái ngược với thực tế, tính cần thiết tương đối cao hơn tính khả thi.

Nhưng trong trường hợp này, hoàn toàn không vô nghĩa, có thể giáo viên cho rằng

nhân lực hiện tại ở nhà trường tham gia và hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ vừa đủ,

không cần bổ sung thêm, cũng có thể do tâm lí ngại tiếp nhận người ngoài vào trường,

hay chưa thật sự tin tưởng và kinh nghiệm cũng như hiểu biết của sinh viên/nhóm tình

nguyện đối với công tác chăm sóc trẻ… Nên nhà trường còn e ngại ở cách làm này.

Tuy nhiên, ở phần khả thi thì cho thấy đánh giá của số đông - với ĐLC 0,675 – ở mức

độ tương đối cao. Điều này cho thấy, tuy chưa thật cần thiết nhưng phương pháp này

cũng khá khả thi - một số trường cũng có thể áp dụng phương pháp này.

Thứ ba, biện pháp giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén

và nĩa của mình ở nhà có trung bình 2,9 đồng tình cho là cần thiết nhưng khả thi thì

đạt ĐTB 3,7. Điều này có lẽ phụ thuộc vào tâm lý ngại thay đổi. Các trường thường

giữ những cách cũ vì đã là thói quen, hơn nữa việc thay đổi cũng chưa thực sự cần

thiết khi nhà trường đã tạm hài lòng với những đồ dùng mà nhà trường đang sử dụng.

Tóm lại,việc phân tích tính cần thiết và khả thi nhằm giúp luận văn có cái nhìn

121

cách cụ thể hơnkhi áp dụng những biện pháp vào thực tế các trường. Thông qua thống

kê này luận văn nhận thấy hầu như các trường đều tin tưởng vào những biện pháp trên.

Tuy chưa phải ở mức độ cao nhất nhưng đây cũng là một kết quả đáng mừng.

Tiểu kết chương 3

Có thể nhận thấy một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập

cho trẻ 18 – 36 tháng được đề cập như: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ

thông qua giáo dục dinh dưỡng, hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với

những kĩ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống. Một số cách chuẩn bị tâm thế

của trẻ trước giờ ăn, thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ, thay đổi cách thức

tổ chức bữa ăn cho trẻ, thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn

theo khả năng, tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm tháng đầu đời

đều là những biện pháp cần thiết và lý thú để ứng dụng trong công tác chăm sóc trẻ, cụ

thể là hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ. Trong từng nhóm biện pháp, luận văn có nêu

lên cụ thể các phương pháp nhỏ để giáo viên có thể thuận tiện nghiên cứu và ứng

dụng. Nổi bật hơn là hai nhóm biện pháp thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ

và thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.

Các biện pháp cụ thể đã được đưa ra nhằm bổ sung và làm rõ cho các nhóm biện

pháp chung. Từ đó, luận văn đã khảo sát tính cần thiết và tính khả thi, nhận thấy rằng,

hầu hết các biện pháp được đề xuất đều cần thiết và khả thi. Điều này minh chứng cho

tính khoa học và thực tiễn của các biện pháp nhằm hình thành ở trẻ 18 – 36 tháng thái

122

độ ăn uống tích cực và tự lập.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM

1. Kết luận

Từ việc nghiên cứu đề tài này, luận văn rút ra một số kết luận sau:

1. Bồi dưỡng thói quen ăn uống tốt không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn ảnh

hường đến việc xác định hành vi và đạo đức tốt đẹp về sau. Hình thành thái độ ăn uống

tích cực và tự lập là một nội dung lớn trong việc luyện tập thói quen ăn uống lành

mạnh ở trẻ. Hình thành thái độ tích cực và tự lập cho trẻ là hình thành nhận thức, thái

độ và hành vi trong ăn uống cụ thể: Hình thành nhận thức ban đầu về thực phẩm và ý

nghĩa của chúng đối với sức khỏe của trẻ đồng thời nuôi dưỡng những xúc cảm tích

cực của trẻ đối với thực phẩm trong bữa ăn, rèn luyện cho trẻ những hành vi tích cực

và tự lập trong ăn uống. Để thực hiện được điều đó cần phải có những biện pháp giúp

trẻ hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Biện pháp hình thành thái độ

ăn uống tích cực và tự lập là tập hợp những phương pháp – cách làm tác động lên trẻ

trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về bữa

ăn và một số kỹ năng trong ăn uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh, hình

thành nên thái độ ăn uống tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể

chất và tinh thần tạo nền tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.

2. Kết quả thống kê cho ta thấy hai vấn đến chính:

Hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36

tháng có 51,9% hiểu biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Hiểu biết của

giáo viên tuy tương đối cao, nhưng vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong

chăm sóc trẻ. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 –

36 tháng có 2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu biết ở mức trung

bình khá và nhiếu nhất là 76,3%. Đây là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề

ra một số biện pháp nhắm giúp nâng cao nhận thức của giáo viên để giúp trẻ hình

thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.

Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng của trẻ tại trường

mầm non, luận văn nhận thấy vẫn còn một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý: 37% trẻ chưa

123

làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau, 58% trẻ chưa

vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn, 86% trẻ tự xúc

ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc, 89,7% trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và

56,33% trẻ biết từ chối khi no. Đây là nhóm đối tượng mà luận văn muốn hướng đến

với mục đích cải thiện.

3. Nguyên nhân chính ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống

tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng thuộc về bản thân đứa trẻ, sau đó là những

nguyên nhân ảnh hướng thói quen từ gia đình, cuối cùng là nguyên nhân do cách tổ

chức của giáo viên. Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân do bản thân đứa trẻ,

90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân, còn lại 46,8% giáo viên cho

rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên… Xét trên bình diện các nguyên nhân

cụ thể, đây là các nguyên nhân lớn nhất ảnh hưởng đến thái độ ăn uống tích cực và tự

lập của trẻ là do trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống, chiếm 91,7% tổng

số giáo viên, trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo và thích được người lớn phục vụ,

có thói quen dựa giẫm, chờ đợi cô (chiếm 91%), phụ huynh nuông chiều và làm thay

trẻ một số công việc đơn giản: Xách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp

(chiếm 89,7%) và trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình (chiếm

88,5%).

4. Các biện pháp giáo viên mầm non thường sử dụng trong quá trình chăm sóc và

giáo dục trẻ, trong 22 biện pháp được liệt kế và khảo sát với giáo viên, luận văn nhận

thấy hầu hết các biện pháp đều có sự ứng dụng trong thực tế. Tuy nhiên, mức độ ứng

dụng còn tương đối thấp. Luận văn chia làm ba nhóm:

Nhóm có mức độ ứng dụng trên 50% chiếm 3 biện pháp: Khen ngợi và khích lệ

trẻ, cho trẻ tự xúc khi và trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn

uống của trẻ tại trường mầm non.

Nhóm các biện pháp được từ 25 - 50% giáo viên sử dụng: Tập cho trẻ làm quen

nhiều loại thực phẩm mới, tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn, giúp trẻ nhận

biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau, có biện pháp

phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau, trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống

của trẻ, cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm, giáo dục thông qua

124

hình thức kể chuyện, lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các

hoạt động học tập và vui chơi và cho trẻ ăn theo nhu cầu.

Cuối cùng, nhóm các biện pháp được ít giáo viên sử dụng: Không ép trẻ ăn hết

suất ăn quy định; cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn, dùng hiệu lệnh báo hiệu

giờ ăn, cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích; tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một

trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động, tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn,

tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi

ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân… Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ

thô thức ăn trẻ đang ăn.

5. Để hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng, luận

văn để xuất một số biện pháp như sau:

− Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua giáo

dục dinh dưỡng

− Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với những kĩ năng

thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống.

− Biện pháp 3: Một số cách chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn.

− Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ.

− Biện pháp 5: Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.

− Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo

khả năng

− Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm tháng

đầu đời.

6. Các biện pháp trên đã được khảo cứu về tính cần thiết và tính khả thi. Kết quả

thống kê đã cho thấy hầu hết các biện pháp đề xuất đều cần thiết và khả thi. Chỉ số ghi

nhận được cũng ở các mức độ ngang nhau, trội hơn các biện pháp khác là cách thức

hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao tác với đồ

dùng phục vụ ăn uống. Luận văn cũng nhận thấy đây thật sự là điều cần thiết cho trẻ,

nếu trẻ có những kiến thức và kỹ năng tốt, trẻ sẽ tự tin và có thể thực hiện tốt những

125

điều mà người lớn mong muốn.

2. Kiến nghị sư phạm

• Đối với giáo viên mầm non − Thứ nhất, có thể áp dụng các biện pháp khái quát và các biện pháp cụ thể đã

Từ việc nghiên cứu đề tài này, luận văn rút ra một số kiến nghị sư phạm sau:

được đề xuất trong hoạt động tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ.

− Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của bản thân để hiểu biết hơn về trẻ, trau dồi

kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.

− Thứ ba, cần tuyên truyền kiến thức chăm sóc giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ

đến với phụ huynh.

− Thứ tư, cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục

• Đối với phụ huynh − Cần phối hợp và giữ mối liên hệ tốt với giáo viên và trường mầm non.

trẻ

− Thường xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình sức khoẻ, thói quen và hành

• Đối với các cơ sở GDMN − Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, huấn luyện nhằm bồi dưỡng và nâng

vi ăn uống của trẻ, kịp thời phát hiện những dấu hiệu là để can thiệp cách hợp lí.

cao kiến thức cần thiết cho giáo viên.

− Quan sát và kịp thời chỉ đạo trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, luôn tìm tòi

những biện pháp, cách thức mới, hiệu quả và áp dụng vào thực tiễn để cải thiện thực

• Đối với các tổ chức khác − Các trường sư phạm cần tạo lập và duy trì mối quan hệ gắn bó với các trường

trạng cụ thể của từng trường.

mầm non, có thể gởi sinh viên đến thực tập, đồng thời tạo điều kiện cho các sinh viên

đến trường tham gia vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ với tư cách tình nguyện

viên.

− Trường sư phạm các cơ quan chức năng cao hơn cần mở các buổi hội thảo

chuyên đề, chuyển tải nội dung các nghiên cứu sư phạm phổ biến cho các trường mầm

126

non.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Annette Kast-Zahn (2014), Mỗi đứa trẻ đều có thể tự kiểm soát bản thân, Nxb

Thái Hà.

Annette Kast-Zahn (2014), Mỗi đứa trẻ đều có thể tự ăn ngon miệng, Nxb Thái 2.

Hà.

3. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục Mầm non.

4. Bộ Y tế (2006), Dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm, Nxb Y học.

5. Thanh Bình (2012), Bé lớn lên trong sự tự lập, Nxb Văn hóa – Thông tin.

6. Mách Ái Chân, Vương Phát Vị, Trần Phụng (Người dịch) (2008), Làm gì khi trẻ

biếng ăn?, Nxb Đà Nẵng.

7. Hàn Nguyệt Kim Chi, Hoàng Thu Hương, Nguyễn Thị Sinh Thảo (2006), Sự phát

triển thể chất và Tâm - Vận động của trẻ từ 0 đến 6 tuổi, Viện Chiến lược và

Chương trình Giáo dục, Nxb Giáo dục.

8. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lí học, Nxb Từ điển Bách Khoa, Việt Nam.

9. Nguyễn Lân Đính (2006), Chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ từ 0 đến 6 tuổi, Nxb Y

học.

10. Từ Giấy, Hà Huy Khôi (1988), Một số vấn đề dinh dưỡng thực hành, Nxb Y học,

1988.

11. Gill Rapley và Tracey Murkett (2014) , Baby-led Weaning – Phương pháp ăn

dặm bé chỉ huy, Nxb Lao động Xã hội.

12. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1981), Phương pháp luận khoa học giáo dục, Viện

khoa học giáo dục.

13. Lê Thị Hân – Huỳnh Văn Sơn (2012), Giáo trình Tâm lí học đại cương, Nxb Đại

học Sư phạm Tp. HCM.

14. Trần Hân (2014), Phương pháp giáo dục con của người Do Thái (Giúp trẻ tự tin

bước vào cuộc sống), Nxb Văn hóa – Thông tin.

15. Trần Hân (2014), Phương pháp giáo dục con của người Mỹ (Giúp trẻ tự lập

127

trưởng thành)), Nxb Hồng Bàng.

16. Lê Thị Mai Hoa, Lê Trọng Sơn (2009), Giáo trình dinh dưỡng trẻ em, Nxb Đại

học Sư phạm Hà Nội.

17. Lê Thu Hương, Giáo dục dinh dưỡng sức khỏe cho trẻ mầm non theo hướng tích

hợp, Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Trung tâm Nghiên cứu Chiến

lược và Phát triển Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo dục.

18. Võ Thị Minh Huệ (2012), Con muốn tự lập: Kỹ năng sống dành cho trẻ, Nxb

Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp Tp. HCM.

19. Đới Hiểu Huyên (2013), 85 tình huống trao đổi giữa phụ huynh và giáo viên mầm

non, Nxb Văn hóa Thông tin.

20. Đoàn Thị Phương Lan (2007), Giáo trình dinh dưỡng trẻ mầm non, Nxb Giáo

dục.

21. Nguyễn Thị Ninh (2014), Ăn dặm không nước mắt, Nxb Nhã Nam.

22. Pamela Druckerman (2014), Dạy con kiểu Pháp (Trẻ em Pháp không ném thức

ăn, Nxb Thái Hà và Nxb Lao đông – Xã hội.

23. Đặng Hồng Phương, Lê Thị Mai Hoa, Giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe trong

trường mầm non, Tạp chí Giáo dục, số 183 (2008), 55-57.

24. Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S, Trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh: Chế độ dinh

dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong môi trường chăm sóc trẻ.

25. Huỳnh Văn Sơn (2009), Biếng ăn tâm lí, Tạp chí Mẹ và con, (12).

26. Huỳnh Văn Sơn (2011), Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong giai

đoạn từ 1 đến 6 tuổi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã số:

CS.2011.19.124, Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM.

27. Huỳnh Văn Sơn (2012), Thực nghiệm một số biện pháp khắc phục tình trạng

biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã

số: CS.2012.19.01, Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM.

28. Huỳnh Văn Sơn (2012), Thực trạng việc sử dụng các biện pháp khắc phục tình

trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi của các phụ huynh hiện nay, Tạp chí

128

Tâm lí học.

29. Huỳnh Văn Sơn (2011), Nhận thức của phụ huynh về vấn đề biếng ăn tâm lý ở trẻ

từ 1 đến 6 tuổi, Tạp chí khoa học ĐHSP – Đại học Huế, Tập 1, số 01 (17), tr.

119- 125

30. Huỳnh Văn Sơn (2011), Biểu hiện biếng ăn tâm lý của trẻ từ 1 đến 6 tuổi qua

đánh giá của phụ huynh, Tạp chí khoa học ĐHSP Tp. HCM, Tập 1, số 28 (62),

tr. 23-32

31. Minh Thư (2004), Hướng dẫn trẻ tự lập trong cuộc sống, Nxb Thanh Hóa.

32. Tsutsumi Chiharu (2013), Ăn dặm kiểu Nhật, Nxb Lao động Xã hội.

33. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm

non, Nxb Đại học Sư phạm, Tp Hồ Chí Minh.

34. Nguyễn Ánh Tuyết (1998), Giáo dục học, Nxb Giáo Dục.

35. Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Những tình huống trong giáo dục mầm non, Nxb Giáo

dục.

36. Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

37. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non – Những vấn đề lý luận và thực

tiễn, Nxb Đại học Sư Phạm.

38. Nguyễn Khắc Viện (1991), Tâm lý học trẻ em hiểu theo phân tâm học, Nxb Khoa

học xã hội – Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý trẻ em Hà Nội, Tr.42-45.

39. Vụ Giáo dục Mầm non, Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non.

Tiếng Anh

40. David B. Herzog, Debra L. Franko, Pat Cable (2008), Unlocking the mysteries of

eating disorders: A life-saving guide to your child’s treatment and recovery.

to eat an grow. Đường dẫn: 41. Ellyn Satter, Your Child Knows How

http://ellynsatterinstitute.org/cms-assets/documents/99492-

435802.comchap2.pdf.

42. P. Yasoda Devi and P. Geervani, Determinants of nutrition status of rural

preschool children in Andhra Pradesh, India.

129

Đường dẫn: http://archive.unu.edu/unupress/food/8F154e/8F154E0c.htm

43. Rafiqul Huda Chaudhury, Determinants of dietary intake and dietary adequacy

for pre-school children in Bangladesh, Bangladesh Institute of Development

Studies, Dhaka, Bangladesh.

Đường dẫn: http://archive.unu.edu/unupress/food/8F064e/8F064E04.htm

44. Sandra K. Nissenberg, Barbara N. Pearl (2002), Eating right from 8 to 18:

Nutrition solutions for parents.

45. Susan L. Averett and David C. Stifel (2006) , Gray Matter with a Side of Fries:

The Cognitive and Behavioral Effects of Childhood Malnutrition in the United

States.

46. Susan J. Crockett, Laura S. Sims (1995), Environmental influences on children's

eating.

Tiếng Nhật

47. 食欲とホルモンについて. Đường dẫn: http://xn--okw778g.net/hormone.html.

(Tạm dịch: Thần kinh và cảm giác ngon miệng.)

48. 乳幼児の摂食・嚥下指導マニュアル. Đường dẫn:

https://docs.google.com/file/d/0BzBynw06tnbTcGVBaGpWdmVHSzg/edit

(Tạm dịch: Biện pháp chữa trị chứng khó nuốt ở trẻ)

Đường dẫn: http://www.kobayashi- 49. 子供の食欲不振.

med.com/illness_text/illness_120121.htm

(Tạm dịch: Biếng ăn ở trẻ em)

50. 堤ちはる:第3章section1、エネルギー、栄養素、代謝に関する基礎知識

、小児栄養改定4版、改定・保育士養成講座編纂委員会編集、p.52-74、全国

社会福祉協議会、東京、2009年3月.

Một số trang web

130

Trang Web: http://www.aiiku.or.jp/index.htm 51.

Trang web: http://viendinhduong.vn 52.

131

Trang web: https://www.huggies.com.vn 53.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1.

SỐ LIỆU THỐNG KÊ

CAC_THUC_PHAM_BO_SUNG

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

2

1.3

1.3

1.3

23

1

16.0

14.7

14.7

72

1,2

62.2

46.2

46.2

21

1,2,3

75.6

13.5

13.5

7

1,2,3,4

80.1

4.5

4.5

21

1,2,4

93.6

13.5

13.5

2

1,3

94.9

1.3

1.3

5

2

98.1

3.2

3.2

3

4

100.0

1.9

1.9

156

100.0

Total

100.0 DIA_DIEM_TO_CHUC_BUA_AN

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

111

71.2

71.2

1

71.2

8

1,2

76.3

5.1

5.1

1

1,2,3

76.9

.6

.6

2

1,3

78.2

1.3

1.3

11

2

85.3

7.1

7.1

23

3

100.0

14.7

14.7

156

Total

100.0

100.0

HINH_THUC_TO_CHUC_BUA_AN

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

1

77.6

77.6

Valid

121

77.6

.6

.6

1,2,4,5,6

1

78.2

2.6

2.6

1,3

4

80.8

132

1,4

3

1.9

1.9

82.7

1,4,6

6

3.8

3.8

86.5

1,4.5

4

2.6

2.6

89.1

1,5

6

3.8

3.8

92.9

2

2

1.3

1.3

94.2

2,3

2

1.3

1.3

95.5

4

3

1.9

1.9

97.4

5

4

2.6

2.6

100.0

156

100.0

Total

100.0 VAT_DUNG_KHI_CHO_TRE_AN

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

3

1.9

1.9

1.9

1,2

3

1.9

1.9

3.8

1,2,3

97

62.2

62.2

66.0

1,2,3,5

2

1.3

1.3

67.3

1,2,3,7

8

5.1

5.1

72.4

1,3

35

22.4

22.4

94.9

1,3,7

3

1.9

1.9

96.8

1,7

5

3.2

3.2

100.0

156

Total

100.0

100.0 NHAN_SU_HO_TRO_TO_CHUC_BUA_AN_CHO_TRE

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

2

1.3

1.3

1.3

Valid

1

66

42.3

42.3

43.6

1,2

36

23.1

23.1

66.7

1,2,3

5

3.2

3.2

69.9

1,2,4

2

1.3

1.3

71.2

1,2,6

4

2.6

2.6

73.7

2

40

25.6

25.6

99.4

2,6

1

.6

.6

100.0

Total

156

100.0

100.0

133

HINH_THUC_TRAO_DOI_VOI_PHU_HUYNH

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

1

24

15.4

15.4

15.4

1,2

16

10.3

10.3

25.6

3.8

29.5

1,2,3

6

3.8

1.3

30.8

1,2,3,4

2

1.3

1.9

32.7

1,2,3,4,5,6

3

1.9

1.3

34.0

1,2,3,6

2

1.3

5.8

39.7

1,2,5

9

5.8

9.6

49.4

1,2,5,6

15

9.6

12.2

12.2

61.5

1,2,6

19

5.1

66.7

1,3

8

5.1

1.3

67.9

1,4,6

2

1.3

2.6

70.5

1,5

4

2.6

3.2

73.7

1,5,6

5

3.2

16

10.3

10.3

84.0

1,6

5.1

89.1

2

8

5.1

1.9

91.0

2,2

3

1.9

6.4

97.4

2,3

10

6.4

1.3

98.7

2,3,5

2

1.3

1.3

100.0

3

2

1.3

Total

156

100.0

100.0 DANH_GIA_NHAN_XET_GV

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

0

52

Valid

33.3

33.3

33.3

1

2

1.3

34.6

1.3

2

26

16.7

51.3

16.7

3

36

23.1

74.4

23.1

4

22

14.1

88.5

14.1

5

18

11.5

100.0

11.5

Total

156

100.0

100.0

134

HIEU_BIET_CUA_GIAO_VIEN_VE_BIEU_HIEN_AN_UONG_T ICH_CUC

Frequency Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid 4

1.3

2

1.3

1.3

5.1

8

5.1

6.4

7

4.5

7

4.5

10.9

8

8.3

13

8.3

19.2

9

.6

1

.6

19.9

10

2.6

4

2.6

22.4

11

3.2

5

3.2

25.6

14

3.8

6

3.8

29.5

15

1.9

3

1.9

31.4

16

1.9

3

1.9

33.3

17

7.1

11

7.1

40.4

18

14.1

22

14.1

54.5

19

8.3

13

8.3

62.8

20

5.8

9

5.8

68.6

21

12.2

19

12.2

80.8

22

1.9

3

1.9

82.7

23

14.1

22

14.1

96.8

24

3.2

5

3.2

100.0

25

Total

156

100.0

100.0

HIEU_BIET_CUA_GIAO_VIEN_VE_BIEU_HIEN_AN_UONG_T U_LAP

Frequency Percent Valid Percent

Cumulative Percent

2.6

4

2.6

2.6

Valid 2

.6

1

.6

3.2

6

1.9

3

1.9

5.1

7

3.2

5

3.2

8.3

8

4.5

7

4.5

12.8

9

13.5

21

13.5

26.3

10

12.2

19

12.2

38.5

11

17.9

28

17.9

56.4

12

135

17.9

13

28

17.9

74.4

11.5

14

18

11.5

85.9

14.1

15

22

14.1

100.0

Total

156

100.0

100.0

NGUYEN_NHAN_XUAT_PHAT_TU_CHINH_BAN_THAN_TRE

Frequency Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

152

97.4

97.4

97.4

Khong

4

2.6

2.6

100.0

156

Total

100.0

100.0 NGUYEN_NHAN_DO_CACH_TO_CHUC_CUA_GIAO_VIEN

Frequency Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

73

46.8

46.8

46.8

Khong

83

53.2

53.2

100.0

156

Total

100.0

100.0 NGUYEN_NHAN_TU_CHINH_GIA_DINH_TRE

Frequency Percent Valid Percent

Cumulative Percent

90.4

Valid

Co

141

90.4

90.4

100.0

Khong

15

9.6

9.6

Total

156

100.0

100.0 C10b.1

Cumulative Percent

Frequency

Percent Valid Percent

67.3

Valid

Co

105

67.3

67.3

100.0

Khong

51

32.7

32.7

Total

156

100.0

100.0

136

C10b.2

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

74

47.4

47.4

47.4

Khong

82

100.0

52.6

52.6

Total

156

100.0

100.0 C10b.3

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

122

78.2

78.2

78.2

Khong

34

100.0

21.8

21.8

Total

156

100.0

100.0 C10b.4

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

142

91.0

91.0

91.0

Khong

14

100.0

9.0

9.0

Total

156

100.0

100.0 C10b.5

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

141

90.4

90.4

90.4

Khong

15

100.0

9.6

9.6

Total

156

100.0

100.0 C10b.6

Cumulative Percent

Frequency

Percent Valid Percent

89.7

89.7

Valid

Co

140

89.7

100.0

10.3

Khong

16

10.3

100.0

Total

156

100.0

137

C10b.7

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

143

91.7

91.7

91.7

Khong

13

8.3

100.0

8.3

Total

156

100.0

100.0 C10b.8

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

142

91.0

91.0

91.0

Khong

14

9.0

100.0

9.0

Total

156

100.0

100.0 C10b.9

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

119

76.3

76.3

76.3

Khong

37

23.7

100.0

23.7

Total

156

100.0

100.0 C10b.10

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

124

79.5

79.5

79.5

Khong

32

20.5

100.0

20.5

Total

156

100.0

100.0 C10b.11

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

92

59.0

59.0

59.0

Khong

64

41.0

100.0

41.0

Total

156

100.0

100.0

138

C10b.12

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

93

59.6

59.6

59.6

Khong

63

40.4

100.0

40.4

Total

156

100.0

100.0 C10b.13

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

78

50.0

50.0

50.0

Khong

78

50.0

100.0

50.0

Total

156

100.0

100.0 C10b.14

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

70

44.9

44.9

44.9

Khong

86

55.1

100.0

55.1

Total

156

100.0

100.0 C10b.15

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

87

55.8

55.8

55.8

Khong

69

44.2

100.0

44.2

Total

156

100.0

100.0 C10b.16

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

86

55.1

55.1

55.1

Khong

70

44.9

44.9

100.0

Total

156

100.0

100.0

139

C10b.17

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

102

65.4

65.4

65.4

Khong

54

100.0

34.6

34.6

Total

156

100.0

100.0

C10b.18

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

90

57.7

57.7

57.7

Khong

66

100.0

42.3

42.3

Total

156

100.0

100.0 C10b.19

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

91

58.3

58.3

58.3

Khong

65

100.0

41.7

41.7

Total

156

100.0

100.0 C10b.20

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

2

1.3

1.3

1.3

Co

117

76.3

75.0

75.0

Khong

37

100.0

23.7

23.7

Total

156

100.0

100.0 C10b.21

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

109

69.9

69.9

69.9

Khong

47

100.0

30.1

30.1

Total

156

100.0

100.0

140

C10b.22

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

138

88.5

88.5

88.5

Khong

18

100.0

11.5

11.5

Total

156

100.0

100.0 C10b.23

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Co

139

89.1

89.1

89.1

Khong

17

100.0

10.9

10.9

Total

156

100.0

100.0 C10b.24

Cumulative Percent

Frequency

Percent Valid Percent

Valid

Co

140

89.7

89.7

89.7

Khong

16

100.0

10.3

10.3

Total

156

100.0

100.0 C11.1

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid

Hiem khi

1.9

1.9

3

1.9

Luon luon

29.5

29.5

46

31.4

Thinh thoang

12.2

12.2

19

43.6

Thuong xuyen

56.4

56.4

88

100.0

Total

100.0

156

100.0 C11.2

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

Valid Chua bao gio

3.8

3.8

6

3.8

Hiem khi

8.3

8.3

13

12.2

Luon luon

25.0

25.0

39

37.2

141

17.9

55.1

Thinh thoang

28

17.9

44.9

100.0

Thuong xuyen

70

44.9

100.0

Total

156

100.0 C11.3

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

5.8

5.8

9

Valid

Hiem khi

5.8

44.2

50.0

69

Luon luon

44.2

1.9

51.9

3

Thinh thoang

1.9

48.1

100.0

75

Thuong xuyen

48.1

Total

156

100.0

100.0

C11.4

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

17.3

17.3

27

Valid Chua bao gio

17.3

14.7

32.1

23

Hiem khi

14.7

9.6

41.7

15

Luon luon

9.6

34.6

76.3

54

Thinh thoang

34.6

23.7

100.0

37

Thuong xuyen

23.7

100.0

Total

156

100.0 C11.5

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

.6

.6

1

Valid Chua bao gio

.6

14.1

14.7

22

Hiem khi

14.1

35.3

50.0

55

Luon luon

35.3

14.7

64.7

23

Thinh thoang

14.7

35.3

100.0

55

Thuong xuyen

35.3

100.0

Total

156

100.0

142

C11.6

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

16

Valid Chua bao gio

10.3

10.3

10.3

23

Hiem khi

14.7

25.0

14.7

33

Luon luon

21.2

46.2

21.2

47

Thinh thoang

30.1

76.3

30.1

37

Thuong xuyen

23.7

100.0

23.7

Total

156

100.0

100.0 C11.7

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

38

Valid Chua bao gio

24.4

24.4

24.4

35

Hiem khi

22.4

46.8

22.4

8

Luon luon

5.1

51.9

5.1

36

Thinh thoang

23.1

75.0

23.1

39

Thuong xuyen

25.0

100.0

25.0

Total

156

100.0

100.0 C11.8

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

10

Valid Chua bao gio

6.4

6.4

6.4

21

Hiem khi

13.5

19.9

13.5

21

Luon luon

13.5

33.3

13.5

71

Thinh thoang

45.5

78.8

45.5

33

Thuong xuyen

21.2

100.0

21.2

Total

156

100.0

100.0

143

C11.9

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

2.6

4

Valid Chua bao gio

2.6

2.6

9.0

14

Hiem khi

9.0

11.5

26.3

41

Luon luon

26.3

37.8

12.2

19

Thinh thoang

12.2

50.0

50.0

78

Thuong xuyen

50.0

100.0

Total

156

100.0

100.0 C11.10

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

53.2

83

Valid Chua bao gio

53.2

53.2

19.9

31

Hiem khi

19.9

73.1

6.4

10

Luon luon

6.4

79.5

13.5

21

Thinh thoang

13.5

92.9

7.1

11

Thuong xuyen

7.1

100.0

Total

156

100.0

100.0 C11.11

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

.6

1

Valid Chua bao gio

.6

.6

44.2

69

Luon luon

44.2

44.9

3.8

6

Thinh thoang

3.8

48.7

51.3

80

Thuong xuyen

51.3

100.0

156

Total

100.0

100.0 C11.12

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

3.2

5

Valid

Hiem khi

3.2

3.2

34.6

54

Luon luon

34.6

37.8

18.6

29

Thinh thoang

18.6

56.4

43.6

68

Thuong xuyen

43.6

100.0

Total

156

100.0

100.0

144

C11.13

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

7.1

11

Valid

Hiem khi

7.1

7.1

14.1

22

Luon luon

21.2

14.1

27.6

43

Thinh thoang

48.7

27.6

51.3

80

Thuong xuyen

100.0

51.3

156

Total

100.0

100.0 C11.14

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

7.7

12

Valid

Hiem khi

7.7

7.7

16.0

25

Luon luon

23.7

16.0

14.1

22

Thinh thoang

37.8

14.1

62.2

97

Thuong xuyen

100.0

62.2

156

Total

100.0

100.0 C11.15

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

1.3

2

Valid Chua bao gio

1.3

1.3

1.3

2

Hiem khi

2.6

1.3

35.3

55

Luon luon

37.8

35.3

7.1

11

Thinh thoang

44.9

7.1

55.1

86

Thuong xuyen

100.0

55.1

100.0

Total

156

100.0 C11.16

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

2.6

4

Valid Chua bao gio

2.6

2.6

5.8

9

Hiem khi

8.3

5.8

17.3

27

Luon luon

25.6

17.3

16.0

25

Thinh thoang

41.7

16.0

58.3

91

Thuong xuyen

100.0

58.3

145

C11.16

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

2.6

4

2.6

2.6

Valid Chua bao gio

5.8

9

5.8

8.3

Hiem khi

17.3

27

17.3

25.6

Luon luon

16.0

25

16.0

41.7

Thinh thoang

58.3

91

58.3

100.0

Thuong xuyen

Total

156

100.0

100.0 C11.17

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

46.2

72

46.2

46.2

Valid Chua bao gio

14.7

23

14.7

60.9

Hiem khi

3.2

5

3.2

64.1

Luon luon

16.7

26

16.7

80.8

Thinh thoang

19.2

30

19.2

100.0

Thuong xuyen

Total

156

100.0

100.0 C11.18

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

1.9

3

1.9

1.9

Valid Chua bao gio

11.5

18

11.5

13.5

Hiem khi

20.5

32

20.5

34.0

Luon luon

26.3

41

26.3

60.3

Thinh thoang

39.7

62

39.7

100.0

Thuong xuyen

100.0

Total

156

100.0 C11.19

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

91

Valid Chua bao gio

58.3

58.3

58.3

34

Hiem khi

21.8

21.8

80.1

6

Luon luon

3.8

3.8

84.0

146

Thinh thoang

14

9.0

92.9

9.0

Thuong xuyen

11

7.1

100.0

7.1

Total

156

100.0

100.0 C11.20

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

1

Valid

Hiem khi

.6

.6

.6

53

Luon luon

34.0

34.6

34.0

10

Thinh thoang

6.4

41.0

6.4

92

Thuong xuyen

59.0

100.0

59.0

156

Total

100.0

100.0 C11.21

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

48

Valid Chua bao gio

30.8

30.8

30.8

15

Hiem khi

9.6

40.4

9.6

15

Luon luon

9.6

50.0

9.6

36

Thinh thoang

23.1

73.1

23.1

42

Thuong xuyen

26.9

100.0

26.9

Total

156

100.0

100.0

C11.22

Frequency

Percent Valid Percent

Cumulative Percent

51

Valid Chua bao gio

32.7

32.7

32.7

8

Hiem khi

5.1

37.8

5.1

24

Luon luon

15.4

53.2

15.4

43

Thinh thoang

27.6

80.8

27.6

30

Thuong xuyen

19.2

100.0

19.2

Total

156

100.0

100.0

147

Phụ lục 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM

PHIẾU PHỎNG VẤN

(Dành cho cán bộ quản lí và chuyên gia về dinh dưỡng)

A. Thông tin khách thể:

- Giới tính: ………………………………………………..

- Công viện hiện tại: ……………………………………………….

- Địa chỉ cơ quan: ……………………………………………….

- Thâm niên công việc: ……………………………………………….

B. Nội dung phỏng vấn:

- Anh/chị hiểu thế nào là thái độ ăn uống tích cực và tự lập?

- Anh/chị vui lòng nêu một số biểu hiện mà anh chị biết?

- Theo anh chị, đâu là nguyên nhân gây nên những ảnh hưởng xấu đến việc hình

thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng?

- Anh chị nghĩ gì về cách thức tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ hiện nay tại

trường mầm non?

- Ý kiến của anh chị về viêc thiết kế thực đơn và trang trí bữa ăn cho trẻ tại cơ sở

mình hiện nay?

- Theo anh chị, những điều đó ảnh hưởng như thế nào đến thái độ ăn uống của

trẻ?

- Theo anh chị, cách thức đó đã phù hợp chưa, cần thay đổi hay cải thiện gì

không? Cụ thể?

- Anh chị hãy cho biết một số biện pháp mà anh chị cho rằng sẽ mang lại hiệu

quả tích cực cho việc hình thành những thói quen ăn lành mạnh cho trẻ?

148

- Anh chị nghĩ gì nếu chúng ta áp dụng biện pháp… này tại trường các anh chị?

Phụ lục 3.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN

Kính chào Quý cô (thầy)!

Chúng tôi đang nghiên cứu về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36

tháng tại trường mầm non nhằm tìm ra một số biện pháp tác động giúp giáo viên

cũng như phụ huynh hình thành thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ. Mong Quý

cô (thầy) trả lời các thông tin sau:

A. Thông tin chung về cô (thầy)

1. Giới tính: ………….………….

2. Độ tuổi: ………….………….

3. Thâm niên công tác: ………….………….

4. Trình độ học vấn: ………….………….………….

5. Số trẻ trong lớp của cô (thầy)? ………….………….

6. Lớp cô (thầy) có bao nhiêu giáo viên? ………….………….

7. Lớp cô (thầy) có bảo mẫu/cấp dưỡng hay không? Bao nhiêu người?

………….………….

8. Một số thông tin cá nhân (Thông tin được giữ kín, Quý cô (thầy) có thể điền

hoặc để trống)

Họ và tên: ………….………….………….………….

Điện thoại: ………….………….………….………….

Email: ………….………….………….………….

B. Nội dung câu hỏi:

149

1. Tại lớp, cô (thầy) thường tổ chức bữa ăn cho trẻ vào các thời gian nào?

Tên gọi Thời gian

Số bữa ăn

Bữa 1

Bữa 2

Bữa 3

Bữa 4

Hình thức món ăn (cơm, cháo, soup, canh, món mặn, tráng miệng…)

2. Ngoài các bữa ăn trên, trường cô (thầy) thường bổ sung thực phẩm khác cho trẻ

150

hay không?

 Sữa  Bánh mì / Bánh kẹo chung

 Nước trái cây  Thực phẩm khác: …….….

3. Cô (thầy) thường tổ chức cho trẻ ăn ở đâu?

 Trẻ được ăn trong lớp (Không gian tổ chức chung các hoạt động khác)

 Trẻ được ăn ngoài sân (Bên ngoài lớp học, dưới bóng cây…)

 Trường có phòng ăn riêng cho trẻ

4. Cô (thầy) thường tổ chức bữa ăn cho trẻ dưới các hình thức nào sau đây?

 Ngồi bàn tròn ngay ngắn

 Ngồi bệch dưới sàn nhà

 Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn (có thể trên bàn hay dưới sàn…)

5. Trẻ trong lớp cô (thầy) thường dùng những vật dụng nào khi ăn uống?

 Nĩa  Chén

 Dao  Tô nhỏ

 Khay ăn 3 (nhiều) ngăn  Muỗng

 Đồ dùng khác:  Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà

…………………….. (phụ huynh mang đến lớp)

151

6. Thầy cô thường tổ chức bữa ăn cho trẻ với sự hỗ trợ và giúp đỡ của:

 Chỉ các giáo viên tronglớp

 Giáo viên cấp dưỡng

 Bảo mẫu

 Ban giảm hiệu

 Phụ huynh

 Tình nguyện viên

 Trẻ lớp lớn

 Ý kiến khác:………………

7. Theo cô (thầy), thái độ ăn uống tích cực và tự lập là gì?

……………………………………………………………...……………………………

………………………………………………………………...…………………………

8. Theo cô thầy, trong hoạt động ăn uốngở trường trẻ 18 – 36 tháng có những biểu

hiện tích cực và tự lập nào?

Biểu hiệu tích cực:

……………………………………………………………...……………………………

………………………………………………………………...…………………………

Biểu hiện tự lập:

……………………………………………………………...……………………………

………………………………………………………………...…………………………

9. Cô (thầy) thường hình thành thái độ tích cực và tự lập cho trẻ trong ăn uống bằng

những cách nào?

MỨC ĐỘ THỰC HIỆN

TT TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

Chưa

Hiếm

Thỉnh

Thường

Luôn

bao giờ

khi

thoảng

xuyên

luôn

152

1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn

Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ 2

ăn chậm

3 Khích lệ trẻ trong khi ăn

4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích

Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác 5

nhau

6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu

Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, 7

thi đua hay giờ hoạt động…

8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định

9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn

Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác

10 nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi

ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…

11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc

Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm 12

mới

13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện

Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại 14

thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau

Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như 15

thói quen ăn uống của trẻ tại nhà

Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn 16

uống của trẻ

Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực 17

153

đơn

Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen

18 ăn uống vào các hoạt động học tập và vui

chơi

Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ 19

thô thức ăn trẻ đang ăn

Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ 20

năng tự phục vụ

21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn

22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn

Ý kiến khác. Vui lòng ghi thêm câu trả lời của cô (thầy).

……………………………………………………………...……………………………

………………………………………………………………...…………………………

10. Theo cô (thầy) những biểu hiện cụ thể nào sau đây là biểu hiện thái độ ăn uống

tích cực, tự lập của trẻ 18 – 36 tháng? (Có thể chọn nhiều câu trả lời cô (thầy)

cho rằng đúng)

STT BIỂU HIỆN ĐÚNG SAI

Biểu hiện tích cực của trẻ khi ăn:

Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong bữa ăn 1

Trẻ đặt câu hỏi với cô về món ăn 2

Trẻ thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn 3

Trẻ không xao lãng trong khi ăn 4

Trẻ không từ chối khi đến giờ ăn 5

Trẻ không làm rơi vãi thức ăn trong khi ăn 6

154

Trẻ không ăn nhanh, ăn vội để được chơi 7

Trẻ tập trung vào bữa ăn 8

Trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng cấn thiết theo lứa tuổi 9

10 Trẻ ăn được nhiều loại thực phẩm khác nhau

11 Trẻ không kén ăn rau/thịt hat bất kì thực phẩm nào đó

Trẻ ăn được nhiểu món ăn chế biến theo nhiều cách khác 12 nhau

13 Thời gian ăn tương đối, không ngâm quá lâu

14 Trẻ ăn hết suất (trong khả năng và nhu cầu của trẻ)

Trẻ không ngậm thức ăn lâu trong miệng, mà không chịu 15 nhai, nuốt

Trẻ biết đến giờ cất đồ chơi để tham gia vào bữa ăn cùng 16 bạn

Biểu hiện tự lập của trẻ khi ăn:

Trẻ có thể tự cầm muỗng xúc ăn 1

Trẻ biết cách dùng nỉa khi ăn 2

Trẻ biết một số kỹ năng tự phục vụ: lau mặt, rửa tay, mở 3 nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối…

Trẻ ăn được nhiều độ thô khác nhau phù hợp với độ tuổi 4

Trẻ biết cách bày trí bàn ăn phụ cô 5

Trẻ nhận biết được các loại thực phẩm mà trẻ thích 6

Trẻ chọn món ăn mà trẻ muốn 7

155

Trẻ biết cất chén, nỉa đúng chổ sau khi ăn xong 8

9 Trẻ biết từ chối khi trẻ no

10 Trẻ biết kêu đói khi có nhu cầu ăn

11 Không muốn cô đút cho ăn

12 Trẻ biết xếp hàng khi lấy thức ăn

13 Trẻ biết chờ đến lượt của mình

Trẻ biết vị trí đặt để một số vật dùng cần thiết sử dụng 14 trong bữa ăn

15 Trẻ ngồi im chờ đến lượt cô đút ăn

Trẻ biết nhờ sợ giúp đỡ của người lớn khi gặp khó khăn 16 trong ăn uống

Trẻ có thể nói lên cảm nhận của trẻ về món ăn (ngon, 17 không ngon, mặn, nhạt, thích, không thích…)

Một số biểu hiện khác:

……………………………………………………………...……………………………

………………………………………………………………...…………………………

11. Theo cô (thầy) nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không tích cực và tự lập

của trẻ trong lớp là do đâu?

STT NGUYÊN NHÂN Có Không

Những nguyên nhân chung:

Nguyên nhân xuất phát từ bản thân trẻ 1

Nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên 2

156

Nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ 3

Những nguyên nhân cụ thể:

1 Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở

nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối…

2 Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích

3 Trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo

4 Trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống

5 Trẻ thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm,

chờ đợi cô

6 Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách

7 Giáo viên hối thúc trẻ ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp

giờ

8 Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô

9 Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều

cách khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ

10 Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không

thay đổi so với trẻ mong muốn được khám phá

11 Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định

12 La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm…

13 Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn

càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ

14 Trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia

đình

15 Phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số công việc

đơn giản: Lách túi, cất dép, cất nón… cho trẻ khi trẻ đến

lớp.

157

Chân thành cảm ơn sự hợp tác và hỗ trợ của Quý thầy cô!

Phụ lục 4

BẢNG CHECK LIST

Thông tin chung A.

1. Họ và tên bé: ………….………….………….………….

2. Tháng tuổi: ………….………….………….………….

3. Một số thông tin chung? ………….…………………………………………...…

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

B. Nội dung quan sát:

Lần Lần Lần Ghi TT BIỀU HIỆN 1 2 3 chú

A Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống

1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn

Trẻ làm quen được với chế độ cơm nát/thường và 2 nhiều loại thức ăn khác nhau

3 Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn

4 Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi

5 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu

6 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi

7 Không ngậm thức ăn

8 Biết chờ đến lượt

B Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống

Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia 9 hoạt động tổ chức bữa ăn

Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống 10 đối trong lúc ăn

11 Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ

158

C Trẻ có thái độ tự chủ trong khi ăn

12 Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.

Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư 13 thế

Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ 14 sinh

15 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn

16 Trẻ biết từ chối khi no

Thông tin thêm:

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

……………………………………….…………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………….……………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………….……………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

………………………………………………….………………………………………

…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

……………………….…………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………….…

159

………………………………………………………………………………………….

Phụ lục 5

KẾT QUẢ THU PHIẾU ĐIỀU TRA

TT Trường Mầm non Số phiếu nhận về hợp lệ Số phiếu phát ra

11 1 12

9 2 10 Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 1 – điểm 1) Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 1 – điểm 3)

9 Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 2) 3 10

6 Trường MN Bồ Câu Nhỏ - Quận 1 4 6

4 Trường MN Quận Tân Phú 5 6

6 Trường MN Super Kids – Quận 3 6 10

8 Trường MN Tái Thiết – Quận 11 7 12

8 Trường MN 11 – Quận Tân Bình 8 10

6 Trường MN Hồng Hoa – Quận Tân Bình 9 10

8 10 Trường MN Ngôi Sao Nhỏ - Quận Bình Tân 10

6 11 Trường MN Chú Ong Nhỏ - Quận 7 10

6 12 Trường MN Thiên Lý – Quận Tân Phú 10

8 13 Trường MN Đại Việt Mỹ - Quận Gò Vấp 10

11 14 Trường MN Sơn Ca – Quận Phú Nhuận 15

6 15 Trường MN Quận 7 8

6 16 Trường MN Bắc Mỹ - Quận 2 8

2 17 Trường MN Hoa Hồng 4 – Quận Tân Bình 6

4 18 Trường MN – Quận Bình Thạnh 4

4 19 Trường MN Thực Hành – Quận 11 4

5 20 Trường MN Hải Yén – Quận 3 12

17 21 45 Giáo viên đang học liên thông hệ cao đẳng tại trường Bách Việt

160

156 TỔNG CỘNG

Phụ lục 6

Bảng 2.15. Tỉ lệ phẩn trăm thống kê các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự

lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non

Chưa

Hiếm

Thỉnh

Thường

Luôn

Câu

Nội dung

bao giờ

thoảng

xuyên

luôn

khi

C11.1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn

2%

12%

0%

56%

29%

8%

18%

4%

45%

25%

C11.2 Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm

C11.3 Khích lệ trẻ trong khi ăn

6%

2%

0%

48%

44%

17%

15%

35%

24%

10%

C11.4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích

1%

14%

15%

35%

35%

C11.5 Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau

C11.6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu

10%

15%

30%

24%

21%

Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ

24%

22%

23%

25%

5%

C11.7

hoạt động…

C11.8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định

6%

13%

46%

21%

13%

3%

9%

12%

50%

26%

C11.9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn

Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: ngồi bàn,

53%

20%

13%

7%

6%

C11.10

ngồi dưới sàn nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ngoài sân…

161

C11.11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc

1%

0%

4%

51%

44%

0%

3%

19%

44%

35%

C11.12 Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới

C11.13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện

0%

7%

28%

51%

14%

Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua

0%

8%

14%

62%

16%

C11.14

các hoạt động khác nhau

Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn

1%

1%

7%

55%

35%

C11.15

uống của trẻ tại nhà

3%

6%

16%

58%

17%

C11.16 Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ

46%

15%

17%

19%

3%

C11.17 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn

Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các

2%

12%

26%

40%

21%

C11.18

hoạt động học tập và vui chơi

Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ

58%

22%

9%

7%

4%

C11.19

đang ăn

0%

1%

6%

59%

34%

C11.20 Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ năng tự phục vụ

31%

10%

23%

27%

10%

C11.21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn

C11.22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn

33%

5%

28%

19%

15%

162

Phụ lục 7

MỘT SỐ BÀI THƠ – BÀI HÁT

Giờ chơi RỬA TAY

Bạn ơi hết giờ rồi Miếng xà phòng nho nhỏ

Nhanh tay cất đồ chơi Em xát lên bàn tay

Nhẹ tay thôi bạn nhé Nước máy đây trong vắt

Cất đồ chơi đi nào Em rửa đôi bàn tay

Khăn mặt đây thơm phức

Em lau khô bàn tay

Đôi bàn tay be bé

Nay rửa sạch, xinh xinh

Tất cả lớp chúng mình

Cùng giơ tay vỗ vỗ

Rau ngót, rau đay

Nếu canh ăn mát

Là nắm rau đay

Mát ruột mi hay

Là mớ rau ngót

Muốn có vị ngọt

Nấu với cá tôm

Canh ăn với cơm

Trẻ nào cũng thích .

Họ nhà cam quýt Ăn quả

163

Em là cam quýt Bé ăn nhiều quả

Người khỏe mạnh ra Cùng loài,khác tên

Bé ăn quả na Khi bé quả xanh

Càng thêm rắn chắc Lớn lên quả chín

Bé ăn quả mận Quả thì hơi đỏ

Da dẻ hồng hào Quả thì màu vàng

Bé ăn quả đào Mỗi quả một vị

Sạch răng sạch lưỡi Quả thì ngòn ngọt

Bé ăn quả bưởi Quả thì chua chua

Nhiều sinh tố C Này các bạn ơi

Bé ăn quả lê Quýt cam rất bổ

Càng thêm mang mát Khi ăn phải rửa

Bé ăn nhiều quả Thật sạch, lau khô

Bé ăn nhiều vào Rồi bóc vỏ ra

Khỏe mạnh, hồng hào Mùi vị thơm phức

Chăm ngoan học giỏi. Ngon lành làm sao

Mát lạnh làm sao

Giúp em mau lớn.

Giờ ăn

Đến giờ ăn cơm

Vào bàn bạn nhé

Nào thìa, bát, đĩa

Xúc cho gọn gàng

Chớ có vội vàng

Cơm rơi, cơm vãi.

Đến giờ ăn

Đến giờ ăn (vỗ tay)

Ngồi ngay ngắn (ngồi ngay ngắn

164

Không qua phải (xoay phải lắc tay)

Không qua trái (xoay trái lắc tay)

Phải cầm muỗng (đưa tay phải ra)

Trái giữ tô (đưa tay trái ra)

Hạt cơm rớt (chỉ tay - lắc tay phải)

Khăn giấy lau (chỉ tay - lắc tay trái)

Mau mau mau (vỗ tay)

Vào sọt rác (động tác quang giấy vào thùng rác)

 Trò chơi “Con thỏ”: “Con thỏ - Ăn cỏ - Uống nước - Chui vô hang - Nằm ngủ”

kèm theo những hiệu lệnh của cô, trẻ sẽ có những động tác phù hợp. Trẻ nào làm

sai sẽ bị phạt nhẹ.

 Trò chơi “Cô bảo, cô bảo”: trẻ sẽ làm theo các hiệu lệnh của cô như: đưa tay trái

lên, đưa tay phải lên, đưa tay cần muỗng lên, hát một bài, đọc bài thờ…

 Trò chơi “Các loại bánh”: mỗi loại bánh tương ứng với một động tác, khi cô gọi

tên bánh nào trẻ sẽ làm theo động tác đó.

Ví dụ:

 Bánh ú (Trẻ phồng miệng lớn lên)

 Bánh plan (Trẻ quay tròn hai tay vào nhau)

 Bánh tráng (Trẻ xòe bán tay xoay xoay như tráng bánh)

 Bánh bao (Trẻ xoay qua ôm trẻ bên cạnh mình)

165

 Bánh xe (Trẻ lắc tay và nói lớn “Không, không, không ăn được”)...

Phụ lục 8

166

MỘT SỐ HÌNH ẢNH GIỜ ĂN CỦA TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON

167

168