BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Trúc Thủy
BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ 18 – 36 THÁNG TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Trúc Thủy
BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ 18 – 36 THÁNG TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ XUÂN HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài“Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu này.
Tác giả
Nguyễn Thị Trúc Thủy
1
lập cho trẻ 18 - 36 tháng tại các trường mầm non” là công trình nghiên cứu của
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý thầy cô đã giảng
dạy trong chương trình Cao học – Chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục mầm
non) – Khóa 23 cũng như Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện về chất lượng giáo
dục, cũng như truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về giáo dục học mầm
non làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Xuân Hồng đã tận tình hướng dẫn tôi
trong thời gian thực hiện luận văn. Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có
giai đoạn không được thuận lợi như những gì Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo đã cho
tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và giáo viên tại trường
mầm non mà tôi đi khảo sát đã tận tình giúp đỡ trong việc tham gia trả lời bảng
khảo sát cũng như góp ý về những thiếu sót trong bảng khảo sát.
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên
luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và
các anh chị học viên.
Tp.HCM, tháng 09 năm 2014.
Tác giả
2
MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình ảnh
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 9
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................................9
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................................... 11
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ........................................................................................... 11
4. Giả thuyết khoa học .................................................................................................................... 12
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................................. 12
6. Giới hạn phạm vi đề tài............................................................................................................... 12
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................................ 12
8. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu.......................................................................................... 13
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................................................... 14
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................................... 14
1.1.1. Trên thế giới .................................................................................................................... 14
1.1.2. Tại Việt Nam ...................................................................................................................... 15
1.2. Lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng
tại trường mầm non ............................................................................................................... 18
1.2.1. Một số khái niệm công cụ ............................................................................................... 18
1.2.2. Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng là gì? .............. 22
1.2.3. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ........ 24
1.2.4. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập trong ăn uống cho trẻ 18 – 36 tháng.... 27
1.2.5. Yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực ở trẻ 18 – 36 tháng
tại trường mầm non ........................................................................................................ 30
1.2.6. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cho trẻ 18 – 36 tháng ............. 36
1.2.7. Đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng .................................................................... 40
3
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 44
2.1. Khái quát việc tổ chức nghiên cứu thực trạng ..................................................................... 44
2.1.1. Mục đích – Yêu cầu ........................................................................................................ 44
2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ điều tra thực trạng ................................................................... 44
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 44
2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập
cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ........................................................................... 45
2.2.1. Thông tin chung về khách thể nghiên cứu .................................................................... 45
2.2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. ............................................................ 49
2.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
.................................................................................................................................................. 65
2.3.1. Khái quát về thực trạng ................................................................................................. 65
2.3.2. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại trường mầm
non .................................................................................................................................... 66
2.3.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại trường mầm
non .................................................................................................................................... 70
2.4. Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ....................................................................................... 74
2.4.1. Những nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng ............................................................... 74
2.4.2. Những nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập của trẻ ....................................................................................... 78
2.5. Thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ
18 – 36 tháng tại trường mầm non. ....................................................................................... 81
Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN UỐNG TÍCH
CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ ........................................................................... 87
3.1. Xây dựng một số biện pháphình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36
tháng tại trường mầm non ..................................................................................................... 87
3.1.1. Nhóm biện pháp tác động lên trẻ .................................................................................. 87
3.1.2. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường giáo dục mầm non .................................... 96
3.1.3. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình trẻ ............................................. 104
3.2. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp hình thành thái
4
độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ... 116
3.2.3. Khái quát quá trình khảo sát ....................................................................................... 116
3.2.4. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất ........ 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ............................................................... 123
5
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 132
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thành phố Hồ Chí Minh Tp. HCM :
Quận Q. :
giáo dục mầm non GDMN :
Thứ tự TT :
trang Tr. :
tiến sĩ TS. :
ĐLC : độ lệch chuẩn
ĐTB : điểm trung bình
6
Nxb : nhà xuất bản
DANH SÁCH CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Tần số bữa ăn của trẻ tại trường .......................................................... 4950
Bảng 2.2. Thực phẩm bổ sung ngoài các bữa ăn cho trẻ ..................................... 5152
Bảng 2.3. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ .......................................................... 5253
Bảng 2.4. Hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ ......................................................... 5556
Bảng 2.5. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn ................................................................. 5556
Bảng 2.6. Nhân sự hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường ................................ 5758
Bảng 2.7. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh ........................................ 5958
Bảng 2.8. Đánh giá hiểu biết của giáo viên ......................................................... 6162
Bảng 2.9. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của
trẻ 18 – 36 tháng ...................................................................................... 65
Bảng 2.10. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ
18 – 36 tháng ....................................................................................... 6467
Bảng 2.11. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng
tại trường mầm non .............................................................................. 6671
Bảng 2.12. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng
tại trường mầm non .............................................................................. 7072
Bảng 2.13. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái
độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ...................................................... 7476
Bảng 2.14. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái
độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ...................................................... 7880
Bảng 2.15. Bảng số điểm và tỉ lệ % tổng điểm các biện pháp đã được sử dụng
hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng
tại trường mầm non .............................................................................. 8182
Bảng 3.1. Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp
chung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 –
36 tháng tại trường mầm non ........................................................... 117119
Bảng 3.2. Đánh giá về tính cần thiết của những biện pháp cụ thể hình thành
thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18-36 tháng tại trường
7
mầm non .......................................................................................... 118121
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.
Phân bố tỉ lệ giữa giáo viên nhóm lớp 18 – 24 tháng và 25 – 36 tháng ................................................................................................ 4647
Biểu đồ 2.2. Khoảng độ tuổi của giáo viên .......................................................... 4647
Biểu đồ 2.3. Thâm niên công tác của giáo viên ................................................... 4748
Biểu đồ 2.4. Trình độ học vấn của giáo viên ....................................................... 4748
Biểu đồ 2.5. Phân bố số trẻ trong lớp .................................................................. 4849
Biểu đồ 2.6. Phân bố số cô trong lớp ................................................................... 4950
Biểu đồ 2.7. Tần số cử ăn của trẻ tại trường ........................................................ 5051
Biểu đồ 2.8. Tần suất xuất hiện các thực phẩm bổ sung ngoài bữa ăn cho trẻ .... 5152
Biểu đồ 2.9. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ...................................................... 5253
Biểu đồ 2.10. Hình thức tổ chức cho trẻ ăn ........................................................... 5556 Biểu đồ 2.11. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn ............................................................ 5657 Biểu đồ 2.12. Nhân sự hỗ trợ giáo viên tổ chức cho trẻ ăn ................................... 5859 Biểu đồ 2.13. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh về vấn đề ăn uống
của trẻ .............................................................................................. 6061
Biểu đồ 2.14. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của
trẻ 18 – 36 tháng .............................................................................. 6464
Biểu đồ 2.15. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của
trẻ 18 – 36 tháng .............................................................................. 6566 Biểu đồ 2.16. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống .................................. 6768 Biểu đồ 2.17. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống .................................. 6869 Biểu đồ 2.18. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn .................................................... 6970 Biểu đồ 2.19. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống .................................. 7273 Biểu đồ 2.20. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống .................................. 7374 Biểu đồ 2.21. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn .................................................... 7374 Biểu đồ 2.22. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành
thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ........................................... 7778
Biểu đồ 2.23. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành
thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ ........................................... 8081
Biểu đồ 2.24. Các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích
8
cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non ................ 8485
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Hình 3.1. Một số hình ảnh tại “Phiên Chợ Ánh Dương” ....................................... 8990
Hình 3.2. Hoạt động tham quan vườn rau sạch tại Hóc Môn ................................ 9091
Hình 3.3. Hoạt động làm kẹo dẻo .......................................................................... 9192
Hình 3.4. Tài liệu thực đơn trường mầm non Nhật Bản đã gởi cho một phụ
huynh nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ. ................................ 9293
Hình 3.5. Trang trí món ăn phù hợp với chủ đề. ................................................... 9899
Hình 3.6. Một số khuôn tạo hình cơm cho trẻ. ...................................................... 9899
Hình 3.7. Một số cách bày trí thức ăn đơn giản cho trẻ có thể thực hiện tại
trường mầm non ................................................................................... 99100
Hình 3.8. Một số đồ dùng sử sụng cho trẻ ăn .................................................... 101102
Hình 3.9. Hình ảnh những vật dụng một ngày trẻ Nhật Bản mang đi học ........ 102103
Hình 3.10. Các bé trường mầm non Bồ Câu Nhỏ - Q.1 ăn chiều với tiệc tự chọn 104105
Hình 3.11. Sách tham khảo hướng dẫn cách chế biến thức ăn cho trẻ ................ 109110
Hình 3.12. Bài báo, tạp chí về cách chăm sóc trẻ ................................................ 109110
Hình 3.13. Tổ chức các buổi giao lưu, huấn luyện chăm sóc bé ăn dặm ............ 110111
Hình 3.14. Bảng độ thô thực phẩm theo từng giai đoạn ADKN cho bé. ............. 112113
Hình 3.15. Bữa ăn của trẻ ăn dặm theo phương pháp ADKN thường ăn riêng
theo từng món. ................................................................................... 112113
Hình 3.16. Ghế ăn là một trong những đồ dùng không thể thiếu khi tập cho trẻ
ăn dặm theo phương pháp này. .......................................................... 113114
9
Hình 2.17. Hình ảnh các bé ăn dặm theo phương pháp BLW ............................... 11415
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trẻ em chính là những công dân và chủ nhân tương lai của đất nước. Quan tâm
đến trẻ em là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Cùng với thế giới, Việt Nam là
một trong những nước đầu tiên ký vào Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Điều đó
chứng tỏ rằng, trẻ em cần phải được hưởng sự quan tâm cần có của cộng đồng. Bởi tất
cả trẻ em sinh ra –lớn lên cần được sống trong sự quan tâm, nuôi nấng, dạy dỗ để trở
thành công dân hữu ích cho tổ quốc, nguồn nhân lực có đầy đủ phẩm chất và năng lực
để sống và làm việc trong xã hội.
Phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ mầm non là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của ngành giáo dục mầm non nước nhà. Để đạt được điều đó, trước hết cần
phải xây dựng cho trẻ một nền tảng thể lực mạnh khỏe, một tinh thần minh mẫn, linh
hoạt. Trong “Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non” đã viết:
Song song với công tác giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu trong các cơ sở giáo dục mầm non. Mục tiêu của giáo dục
mầm non là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học
lớp một. Để trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh ngay từ những năm tháng đầu
đời cần phải có một chế độ dinh dưỡng hợp lý [39, tr.1].
Phát triển về mặt thể chất chính là một trong các nội dung phát triển toàn diện
hàng đầu cho trẻ – Đây là nền tảng và điều kiện cần để đạt được những kết quả cao
hơn ở các mặt khác. Đứa trẻ có sự phát triển bình thường về thể chất có khả năng phát
triển toàn diện về các mặt còn lại nhiều hơn một đứa trẻ có sức khỏe kém. Phát triển
thể chất cho trẻ mầm non, cụ thể nhóm trẻ 18 – 36 tháng là sự phối hợp chăm sóc giữa
gia đình và trường mầm non, xoay quanh các hoạt động tổ chức cho trẻ ăn, ngủ và các
hoạt động rèn luyện thể chất. Cũng trong lời ngõ của Vụ Giáo dục Mầm Non khi soạn
9
thảo “ Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non” đã có đề cập:
Thời gian hoạt động, ăn, ngủ của trẻ ở trường mầm non chiếm tỷ lệ khá lớn
so với thời gian trong ngày. Vì vậy, cùng với gia đình, trường mầm non có
vai trò quan trọng trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ… [39, tr.1].
Thật vậy, để đảm bảo mục tiêu phát triển thể chất cho trẻ, cần thiết đáp ứng một
chế độ dinh dưỡng phù hợp, chế độ vận động hài hòa giúp trẻ có một cơ thể khỏe
mạnh, phát triển cân đối, thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường mầm non, hình
thành ở trẻ một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân [3, tr.2]. Cụ thể
hơn là tạo lập cho trẻ thái độ ăn uống tích cực và tự lập ngay từ những năm tháng đầu
đời.
Ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Đây là con đường
hữu hiệu nhất đảm bảo cho việc cung cấp đầy đủ các chất cần thiết cho sự phát triển
của trẻ mầm non. Nhưng thực tế cho thấy đã có rất nhiều vấn đề bất cập xảy ra xoay
quanh vấn đề ăn uống của trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non. Nổi bật nhất là tháng 12
năm 2013, báo chí và độc giả bàng hoàng khi xem những đoạn phim ngắn được phát
tán từ vụ bạo hành trẻ tại cơ sở giáo dục mầm non Phương Anh. Nguyên nhân do các
bé khó ăn, hay nôn ói, dẫn đến bảo mẫu đánh đập, hăm dọa... Đây chỉ là một trường
hợp rầm rộ hơn so với các trường hợp khác, nhưng cho chúng ta thấy, đa số các trường
hợp bạo hành trẻ chủ yếu xảy ra trong giờ ăn. Áp lực công việc, sự thiếu hiểu biết về
kiến thức chăm sóc trẻ, cộng với trẻ biếng ăn hay quấy khóc khiến giáo viên dễ nóng
nảy dẫn đến nhiều hành vi xâm hại đến thân thể của trẻ.
Mặc khác, độ tuổi 18 – 36 tháng nhiều trẻ dễ mắc phải những vấn đề tồn tại trong
các bữa ăn trong các cơ sở giáo dục mầm non, điều này gây nên những ảnh hưởng rất
lớn đến chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. Vấn đề này đã và đang đặt ra nhiệm vụ
cho người chăm sóc trẻ tại gia đình và trong các cơ sở giáo dục mầm non là làm thế
nào hình thành cho trẻ thói quen tốt trong ăn uống ngay từ nhỏ, cụ thể hình thành cho
trẻ sự yêu thích và hứng thú khi tham gia bữa ăn cũng như một số thói quen tự phục vụ
bản thân.
Trên một phương diện khác, theo các chuyên gia dinh dưỡng, nguồn dinh dưỡng
đầy đủ rất quan trọng với cơ thể, điều đó càng quan trọng hơn đối với trẻ em vì có hấp
10
thu tốt các thức ăn được cung cấp trực tiếp, trẻ mới có đủ năng lượng cho sự phát triển
toàn diện. Trẻ sẽ không đủ nguồn dinh dưỡng cần thiết nếu như việc ăn uống không
đảm bảo các nhu cầu cả về chất và lượng. Do đó, vấn đề đặt ra cho các trường mầm
non bắt nguồn từ ngay khâu tổ chức bữa ăn, làm thế nào để xây dựng cho trẻ bầu
không khí vui vẻ, thân thiện trong khi ăn cũng như sự hứng thú với các bữa ăn, tạo lập
cho trẻ thái độ tích cực và đồng thời hình thành một số thói quen tự phục vụ cho trẻ.
Muốn làm được điều này, trước hết giáo viên mầm non cần có những hiểu biết về đặc
điểm tâm sinh lí cũng như thói quen, hành vi trong ăn uống của trẻ, đánh giá được mức
độ tích cực và tự lập trong các bữa ăn hàng ngày, đồng thời biết cách xây dựng môi
trường và một số biện pháp phù hợp với sự phối hợp cùng với gia đình đề ra những
biện pháp thích hợp nhằm phát huy tính tích cực và tự lập của trẻ trong những bữa ăn
tại trường cũng như về nhà.
Xuất phát từ nguyện vọng nghiên cứu cùng với những nhu cầu cấp thiết từ thực
tế, luận văn chọn đề tài “Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho
trẻ 18 - 36 tháng tại các trường mầm non”. Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về mặt
lí luận và đề xuất những biện pháp cải thiện có thể ứng dụng vào thực tế trường mầm
non, mục đích góp phần hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ, đáp ứng
những nhu cầu cơ bản, đáp ứng điều kiện cần và tạo điều kiện đủ cho trẻ để đạt được
những kết quả mong muốn cao hơn về mặt giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ, nguyên nhân
gây ảnh hưởng tiêu cực và các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập
cho trẻ. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và
tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ 18 – 36 tháng tại
trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
11
lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được những biện pháp tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại
trường mầm non theo hướng tạo môi trường thân thiện, thoải mái và hấp dẫn trẻ sẽ góp
phần cải thiện thái độ thụ động và hình thành thái độ tích cực và tự lập trong ăn uống ở
trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
5.2. Khảo sát thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ, mức độ hiểu
biết của giáo viên và các biện pháp đã được áp dụng để hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng.
5.3. Đề xuất đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
khi ứng dụng tại trường mầm non.
6. Giới hạn phạm vi đề tài
- Đề tài nghiên cứu thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng,
hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18
– 36 tháng và tìm hiểu một số biện pháp đã được giáo viên áp dụng tại một số trường
mầm non Tp. HCM.
- Đề tài không thử nghiệm các biện pháp tác động mà chỉ dừng lại ở mức độ đề
xuất biện pháp và khảo sát tính cần thiết – tính khả thi của nó.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Qua việc phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan và kết hợp với những vấn
đề lý luận cơ bản của đề tài, luận văn xây dựng một hệ thống các khái niệm công cụ và
khái niệm liên quan để định hướng cho việc xây dựng công cụ nghiên cứu cũng như
toàn bộ quá trình khảo sát thực tiễn về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực
và tự lập của 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được thiết kế nhằm khảo sát và thu nhận thông tin từ cán bộ
12
quản lí, giáo viên mầm non trên diện rộng. Nội dung bảng hỏi gồm có nhiều phần,
giúp thu thập thông tin đa dạng về thực trạng chăm sóc trẻ thông qua việc tổ chức bữa
ăn hàng ngày, tìm hiểu về hiểu biết của giáo viên, cách thức thực hiện và các biện
pháp đã ứng dụng với mục đích hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ
18 – 36 tháng tại trường mầm non.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng bảng hỏi khảo sát sự đồng tình của các chuyên
gia về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất với mục đích hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát bữa ăn của trẻ tại trường mầm non để thu thập thông tin cần thiết cho đề
tài nghiên cứu. Trong quá trình quan sát, người nghiên cứu dựa trên phiếu quan sát để
ghi nhận biểu hiện của trẻ về tính tích cực và tự lập trong ăn uống. Đồng thời kết hợp
với một số biện pháp khác để đi đến kết luận chung về mức độ biểu hiện của trẻ ở từng
nội dung cụ thể hơn.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ nhi, cán bộ phòng mầm non, ban giám
hiệu, giáo viên và phụ huynh để thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá cần thiết liên quan
đến vấn đề. Phương pháp này được tiến hành để tìm hiểu sâu hơn và hỗ trợ cho việc
xác thực hơn tính chính xác trong việc trả lời bảng hỏi.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được và phân
tích các dữ kiện, định lượng số liệu thông qua các thông số: Điểm trung bình, độ lệch
chuẩn, các kiểm nghiệm thống kê, tỉ lệ phần trăm…
8. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
8.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
8.2. Về mặt thực tiễn
Đề tài đóng góp được một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. Chủ yếu là một số thay đổi trong việc
13
bày trí và cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe là một trong những đề tài thu hút sự quan
tâm của chuyên gia dinh dưỡng, nhà tâm lý và giáo dục (nghiên cứu về hành vi ăn
uống, các chứng biếng ăn tâm thần…). Đầu tiên phải nhắc đến chính là Hyporcat (460
– 377 TCN). Ông đã chỉ rõ vai trò của dinh dưỡng trong vấn đề bảo vệ sức khỏe tùy
từng lứa tuổi, tùy vào thời tiết mà có chế độ dinh dưỡng phù hợp, nhất là đối với trẻ
nhỏ. Quan điểm của ông cho rằng: Cơ thể của trẻ cần nhiều nhiệt hơn người lớn do đó
cần dinh dưỡng đầy đủ để phát triển thể chất. Chúng ta thường thấy trẻ nhỏ rất hiếu
động, trẻ càng hiếu động càng tiêu hao nhiều năng lượng dẫn đến những nhu cầu về
dinh dưỡng. Đáp ứng dinh dưỡng cho trẻ là đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển về thể
chất. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết vẫn là đáp ứng dinh dưỡng một cách hợp lí như
Hyporcat nói chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống hợp lý.
Thật vậy, nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng tuổi thọ và sức khỏe khi về già là kết
quả của lối sống khi còn trẻ. Do đó, cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý ngay từ khi còn
trong bào thai và những năm tháng đầu đời. Một con người sinh ra khỏe mạnh, được
chăm sóc hợp lý, trong tương lai sẽ là một người già khỏe mạnh. Vì vậy cần chú ý
dinh dưỡng trong cả cuộc đời. Ăn uống hợp lý phù hợp cho từng độ tuổi, đảm bảo đủ
dưỡng chất, đa dạng thực phẩm kết hợp với hoạt động thể chất rất quan trọng đối với
sức khỏe và cuộc sống của mọi người ở tất cả mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi mầm
non.
Hay nhà phân tâm học người Áo - S. Freud (1835 – 1993) nhận thấy rằng: Sự ăn
uống có ảnh hưởng rất lớn đến cân nặng của trẻ. Ông đã khẳng định: Trong trường hợp
thiếu ăn, các xương cốt vẫn dài ra, trái lại, cân nặng đứng im hay sụt cân. Điều đó cho
thấy được tầm quan trọng của ăn uống đối với trẻ em là rất lớn. Trẻ cần có một chế độ
sinh hoạt hợp lí bên cạnh chế độ dinh dưỡng thích hợp để có thể phát triển cân đối.
Trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ của vườn trẻ mẫu giáo”
(1967) của tác giả M.Đ.Côvryghina mới đưa ra một số vấn đề cần lưu ý khi tổ chức
14
bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non như: Cho trẻ ăn tuỳ thích, không được bắt buộc trẻ
ăn mới có thể giúp dạ dày mới tiết dịch mạnh, giữa các bữa ăn không bao giờ cho ăn
bánh kẹo ngọt, cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm khẩu vị, làm ức chế trung tâm
điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn uống đúng đắn. Ngoài ra, thức ăn có
hình thức đẹp, mùi vị hấp dẫn thì sẽ gây cảm giác thèm ăn của trẻ. Mọi khẩu phần
giành cho trẻ em thì phải cho ăn cùng một lúc để trẻ quen ăn hết khẩu phần.
Cynthia Bulik1 đã chỉ ra tác động của các yếu tố di truyền đến chứng biếng ăn
trong nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng biếng ăn trên cơ sở tác động của các yếu tố
sinh học” Ông khẳng định giữa tình trạng biếng ăn hiện tại của trẻ có vấn để liên quan
đến di truyền từ cha mẹ hay không, tình hình này tồn tại một cách khá lâu dài.
Rexanne Dryden – Edwards khi nghiên cứu mối liên quan giữa não bộ và tình
trạng biếng ăn của trẻ đã cho rằng, sự bất thường của một phần não bộ hoặc một số
vấn đề trong quá trình nuôi dưỡng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng biếng ăn
của trẻ…
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề như:
Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S - “Trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh: Chế độ
dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong môi trường chăm sóc trẻ”;
Gesell A, Ilg FL.
Hành vi ăn của trẻ sơ sinh - Philadelphia: JBJB Lippincott, 1937… Lý giải
những ẩn chứa của chứng rối loạn ăn uống: Một số biện pháp chữa trị và phục hồi
[40]; Ảnh hưởng của môi trường đối với việc ăn uống của trẻ em [45]. Yếu tố quyết
định tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mầm non nông thôn trong Andhra Pradesh
[42]. Các yếu tố của chế độ ăn uống và chế độ ăn uống đầy đủ cho trẻ em mầm non ở
Bangladesh [43]. Ăn uống cho đúng 8-18: Dinh dưỡng giải pháp cho cha mẹ [44]…
1.1.2. Tại Việt Nam
Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh (Thế kỷ XIV) đã từng nói: “Thức ăn là thuốc, thuốc
là thức ăn” Khoa học dinh dưỡng cũng cho chúng ta biết thức ăn, các chất dinh dưỡng
làm vật liệu xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và thay thế thông
qua quá trình hấp thụ và chuyển hoá các chất trong cơ thể. Ngược lại, khi cơ thể không
15
được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là 1 Trường Đại học North Caroline – Do Chapel Hill làm chủ nhiệm đề tài
nguyên nhân gây ra bệnh tật, như suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt.
Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với cơ thể đã được y khoa xác nhận và đặt ra
nhiều nội dung về dinh dưỡng hợp lí cho sức khỏe con người.
Trong quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước, luận văn tìm thấy
một số bài báo, sáng kiến kinh nghiệm, các công trình nghiên cứu cũng như một số
đầu sách có liên quan đến vấn đề như:
“Chất lượng bữa ăn và chế độ dinh dưỡng cho trẻ”2, “Giáo dục dinh dưỡng và
sức khỏe trong trường mầm non”3.
“Một vài nhận xét về tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn của trẻ từ 25 - 60
tháng tại 2 nhà trẻ ở Hà Nội và Hà Tây”4….
Một số luận văn, luận án cũng đề cập đến các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng
và giáo dục dinh dưỡng như:
“Xây dựng thực đơn và dinh dưỡng cho trẻ mầm non tại trường mầm non Bình
Phú”5.
“Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động ở trường mầm non Hồng Thái Tây”6.
“Tình trạng dinh dưỡng trẻ em tuổi nhà trẻ tại Tp. HCM và các yếu tố ảnh
hưởng”7...
Và một số đầu sách như: “Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non”8. “Giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp”9…
Ngoài ra, cần nói đến các nghiên cứu do TS. Huỳnh Văn Sơn và nhóm nghiên
cứu đã thực hiện như:
2 Tác giả Nguyễn Thị Thuận, Tạp chí Khoa học - Công nghệ - Môi trường, năm 2009. 3 Tác giả Lê Thị Mai Hoa, Đặng Hồng Phương, Tạp chí Giáo dục, năm 2008. 4 Tác giả Tuấn Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Yến. Tạp chí Nghiên cứu Y học, năm 2005. 5 Tác giả Dương Thị Mai, năm 2002. 6 Tác giả Nguyễn Thị Miền, năm 2011. 7 Tác giả Đỗ Văn Dũng – Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Dược TP. HCM, năm 1999. 8 Vụ Giáo dục Mầm non 9 Tác giả BS. Lê Thu Hương (Chủ biên), Phạm Thị Mai Chi, Vũ Yến Khanh. Nhà xuất bản Giáo dục, 2008
16
Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi [26].
Thực nghiệm một số biện pháp khắc phục tình trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1
đến 3 tuổi [27].
Thực trạng việc sử dụng các biện pháp khắc phục tình trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ
từ 1 đến 6 tuổi của các phụ huynh hiện nay [28].
Nhận thức của phụ huynh về vấn đề biếng ăn tâm lý ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi [29].
Biểu hiện biếng ăn tâm lý của trẻ từ 1 đến 6 tuổi qua đánh giá của phụ huynh
[30].
Biếng ăn tâm lí [25]…
Về thực trạng ăn uống của trẻ nhỏ, có thể đây là những nghiên cứu gần và cụ thể
nhất về thái độ cũng những biểu hiện ăn uống của trẻ. Nhìn chung, các nghiên cứu này
đã hệ thống hóa được nhiều cơ sở lí luận liên qua đến giáo dục dinh dưỡng và sức
khỏe cho trẻ, nghiên cứu chuyên sâu về các biểu hiện biếng ăn tâm lí, tìm hiểu và phân
tích các nguyên nhân tác động đồng thời đã đề xuất và khảo sát khả thi và thực nghiệm
để chứng thực mức độ thành công của biện pháp. Đây là những kết quả nghiên cứu
tâm huyết, đáng được trân trọng và có ý nghĩa đối với cộng đồng để thay đổi những
quan điểm cũ trong chăm sóc bữa ăn cho trẻ tại nhà. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên
cứu chỉ thực hiện trên đối tượng là trẻ biếng ăn tâm lí và phụ huynh, mục đích của
nghiên cứu nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục tại nhà cho trẻ, chưa đào sâu vào
vấn đề giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ tại trường mầm non.
Theo Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S trong tài liệu tập huấn “Trẻ có thói quen ăn
uống lành mạnh: Chế độ dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong
môi trường chăm sóc trẻ” đã đề cập:
Các thói quen ăn uống và các mô thức hoạt động thể lực suốt đời diễn ra sớm
trong đời của trẻ, thường là khoảng 4 tuổi, do đó việc quan trọng là trẻ phải
phát triển các thói quen ăn uống lành mạnh trong những năm đầu đời để xây
dựng nền tảng cho các thói quen lành mạnh có thể kéo dài đến tuổi trưởng
thành… Người chăm sóc cần phải đảm bảo rằng trải nghiệm của trẻ liên quan
đến thức ăn mang tính tích cực càng nhiều càng tốt. Ngay cả một trải nghiệm
tình cảm tiêu cực liên quan đến thức ăn cũng dẫn đến thái độ không lành mạnh
17
về thức ăn đó hoặc tất cả thức ăn, có thể kéo dài suốt đời [24].
Có thể thấy trên thế giới và ở Việt Nam, vấn đề dinh dưỡng của trẻ mầm non là
một trong những đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà tâm lí,
nhà giáo dục và kể cả phụ huynh của trẻ. Tầm quan trọng của việc hình thành cho trẻ
thói quen ăn uống lành mạnh trong những năm tháng đầu đời đặc biệt được quan tâm,
bởi đây là một trong những giai đoạn quan trọng định hình sớm nhân cách của trẻ. Tuy
nhiên, ta thấy đa số đề tài nghiên cứu chủ yếu thiên về lĩnh vực dinh dưỡng, vệ sinh an
toàn thực phẩm… Một ít nghiên cứu về biện pháp, cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ
mầm non. Hay gần gũi hơn là nhóm nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn xoay
quanh vấn đề biếng ăn của trẻ tại nhà. Riêng về các biện pháp hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập tuy khá quen thuộc, là mục đích mà các giáo viên mầm non và
phụ huynh luôn hướng đến, lại có rất ít đề tài đề cập.
Thực tế cho thấy việc tạo lập cho trẻ những thói quen ăn uống lành mạnh, hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ nhỏ là điều hết sức cần thiết và có ý
nghĩa to lớn. Vì vậy thực hiện nghiên cứu đề tài “Biện pháp hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập ở trẻ mầm non 18 – 36 tháng” là cần thiết.
Trước hết, luận văn tiến hành tìm hiểu một số vấn đề lí luận làm cơ sở nền tảng
cho quá trình nghiên cứu:
1.2. Lý luận về biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18
– 36 tháng tại trường mầm non
1.2.1. Một số khái niệm công cụ
1.2.1.1. Khái niệm biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt (1992) – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thì biện pháp
chính là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.
1.2.1.2. Định nghĩa về thái độ
Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với nhiều nghiên
cứu khác nhau xuất hiện những định nghĩa khác nhau về thái độ. Tìm hiểu các định
nghĩa, ta thấy:
Theo từ điển Anh – Việt, “thái độ” - “Attitude” có nghĩa “cách ứng xử, quan
18
điểm của một cá nhân”.
Từ điển Tiếng Việt (1992) thì thái độ là“cách nhìn nhận, hành động của cá nhân
về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể
những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay
một sự việc nào đó”
Hay Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên) nhấn mạnh: “Tâm thế
- thái độ - xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần
nhận thức, xúc cảm, hành vi” [38]. Định nghĩa này ảnh hưởng bởi quan điểm của một
số nhà tâm lý Nga sẽ được trình bày cụ thể ngày tiếp theo. Ta thấy điểm chung, hầu
hết các định nghĩa trên đều có đại ý cho rằng thái độ là cách ứng xử cá nhân đối với
các tình huống, các vấn đề. Dù có khác nhau về cách thể hiện câu chữ nhưng đều được
cấu thành từ nhiều yếu tố phức tạp tạo nên.
Quay ngược lại định nghĩa đầu tiên về “thái độ”, năm 1918, W.I.Thomas và F.Znaniecki10 cho rằng thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay
không hành động khác mà được xã hội chấp nhận. Thái độ là trạng thái tinh thần của
cá nhân đối với một giá trị, đồng thời đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá
nhân.
Năm 1935, G.W.Allport11 đã đưa ra nhận định thái độ là trạng thái sẵn sàng về
mặt tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều
chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và
khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ. Ông cho rằng thái độ trên khía cạnh điều
chỉnh hành vi như một trạng thái tâm lý, thần kinh cho hoạt động. Ở cá nhân, khi sắp
sửa có những hành động diễn ra thì sẽ xuất hiện thái độ nhằm chuẩn bị và điều chỉnh
những hoạt động đó. Allport đã khái quát thái độ là gì đồng thời đề cập đến nguồn gốc,
vai trò và chức năng của nó… Từ đó, ông cho rằng thái độ có một số đặc điểm sau: Là
trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là một trạng thái có
tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ, điều khiển cũng như ảnh
10 hai nhà tâm lý học người Mỹ 11 nhà tâm lý học người Mỹ
19
hưởng đến hành vi của cá nhân.
Từ những nhận định trên, Allport đã định nghĩa thái độ là khái niệm phân biệt
nhất định và quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội hiện đại Mỹ. Định nghĩa này
được nhiều các nhà tâm lý học khác thừa nhận mặc dù ông chưa lưu ý tới ảnh hưởng
của môi trường, nhu cầu, động cơ của cá nhân đối với quá trình hình thành thái độ.
V.N.Miaxisep12 cho rằng thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống
các hành vi của con người…Năm 1935, H.Fillmore đưa ra định nghĩa mới cho rằng
thái độ là sự sẵn sằng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một
biểu tượng trong môi trường, ông khẳng định thái độ là sự định hướng của cá nhân tới
các khía cạnh khác nhau của môi trường, và thái độ là một cấu trúc mang tính động cơ. Năm 1971, H.C.Triandis13 đưa một định nghĩa khác. Ông cho rằng thái độ là
những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm gây tác động đến hành vi nhất
định, ở một giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định. Thái độ của
con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như
cách xử sự của họ đối với đối tượng đó. Định nghĩa này có điểm tương đồng với định
nghĩa của Allport.
Năm 1975, A.Kossakowski và J.Lompcher định nghĩa thái độ là thuộc tính tâm
lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ xã hội. Trong khi đó, khi nghiên cứu
về thái độ, một nhà tâm lý học Xô Viết không sử dụng khái niệm “thái độ”. Mà dùng
thuật ngữ tương đương là “tâm thế” để giải thích hành vi của con người. Tiêu biểu là
Uznatze với “thuyết tâm thế”. Ông cho rằng thái độ không phải là một nội dung cục bộ
của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm
lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng thái toàn
vẹn, xác định của chủ thể…
Khi nghiên cứu về các khái niệm này, Nâyzơ nhận thấy điểm chung hầu hết các
định nghĩa về thái độ đều được xem xét dưới góc độ chức năng của nó. Thái độ định
hướng hành vi, ứng xử của con người. Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của
12 Nhà tâm lý học Xô Viết 13 Nhà tâm lý học người Mỹ
20
những hành vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan. Ý kiến này đã được
H.Hiebsch và M.Worwerg14 công nhận trong cuốn “Nhập môn tâm lý học Macxit”.
Tuy nhiên, tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, lại đề cập nhiều
đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức năng của thái độ, như Davis Myers đã coi
“thái độ” là phản ứng có thiện chí hay không thiện chí về một điều gì đó, hay một
người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định. Hay như
nhà tâm lý học W.J.Mc Guire định nghĩa thái độ là bất cứ sự thể hiện nào đó về mặt
nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về bản thân, về
những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tư tưởng.
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà
tâm lý học Việt Nam. Có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ theo những khía
cạnh khác nhau, để thống nhất về định nghĩa, làm nền tảng lí luận cho việc xây dựng
biện pháp tác động, luận văn chọn lựa định nghĩa theo từ điển Tâm lý học của tác giả
Vũ Dũng: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức
thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt
đến phản ứng của cá nhân đối với tất cả các khách thể và tình huống mà phản ứng có
mối liên hệ” [8, tr.790].
Về cấu tạo, thái độ có ba thành tố cấu thành: Nhận thức, cảm xúc và hành vi kết
hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập. Hay nói khác đi,
khi cá thể có sự nhận thức hiểu biết về vấn đề, cộng với cảm xúc của bản thân và
mong muốn thể hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi sống. Thái độ là một sản
phẩm phức tạp của một quá trình học tập, lĩnh hội và trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả
những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như
chính trị [8].
1.2.1.3. Thế nào là tích cực? Thế nào là tự lập?
a. Thế nào là tích cực?
Theo Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng: “Tính tích cực là khả năng thực
hiện chuyển động có chủ đích và thay đổi của cơ thể sống dưới tác động của những
tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài – đặc điểm chung của tất cả cơ thể sống,
21
động thái riêng của chúng là nguồn biến đổi hoặc hỗ trợ một cách sống động cho 14 Hai nhà tâm lí học Macxit
những mối liên hệ với môi trường”. Tính tích cực có tính chủ định, khác với tính thích
nghi vì nó bị giới hạn trong một phạm vi hẹp đã định và tính tích cực ổn định với
những mục tiêu đã đặt ra, do đó, nó khác với sự so sánh một cách thụ động với đối
tượng mà chủ thể sẽ gặp trong khi tiến hành hoạt động [8, tr.857].
b. Thế nào là tự lập?
Tự lập là một trong những đức tính quý của con người. Hình thành tính tự lập ở
trẻ giúp trẻ tự tin trong cuộc sống, biết cách tự chăm sóc bản thân, tự phục vụ, tạo lập
cho trẻ các kỹ năng xã hội, là tiền đề giúp trẻ vượt qua những khó khăn, thử thách
trong cuộc sống [3, tr.7].
Theo Từ điển Tâm lí học của Vũ Dũng: “Tự lập là một phẩm chất của nhân cách
xuất hiện trong sáng kiến, phê bình, tự đánh giá bản thân một cách tương ứng và
trong tình cảm thể hiện trách nhiệm của cá nhân với hoạt động, hành vi của mình”[8
tr.968].
Sự tự lập của cá nhân gắn liền với tư duy làm việc một cách tích cực, với tình
cảm và ý chí. Mối liên hệ này thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Phát triển quá trình tư duy và cảm xúc – ý chí. Đây là tiền đề cần thiết cho
những phán đoán và hành động một cách tự lập.
- Hình thành trong hoạt động phán đoán một cách tự lập và trong những hành
động củng cố, hình thành khả năng của cá nhân qua các hành động nhận thức, qua quá
trình ra quyết định một cách thành công đối với những tình huống khó khăn [8, tr.968].
1.2.2. Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng là
gì?
Như đã nêu phần trên, thái độ có ba thành tố cấu thành: Nhận thức, cảm xúc và
hành vi thể hiện phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập với thế giới xung quanh.
Hay nói cách khác, khi con người nhận biết về sự vật sẽ nảy sinh cảm xúc và có những
hành vi tương thích với xúc cảm của mình đối với sự vật, hiện tượng đó. Ăn uống
cũng vậy, sự nhận biết của trẻ về thức ăn thông qua mùi vị, màu sắc, hình dạng và lợi
ích của từng thực phẩm sẽ tạo được hứng thú cho trẻ, trẻ sẽ ăn với thái độ vui vẻ, tự
giác và độc lập. Hoặc ngược lại, nếu trẻ có cảm xúc tiêu cực với thức ăn thì trẻ sẽ buồn
22
bã, ăn chậm hay thậm chí là chán ăn… Cụ thể, khi cho trẻ làm quen với mùi vị của cà
rốt, trẻ có thể cảm thấy thích màu sắc của cà rốt được cắt thành nhiều hình dạng đáng
yêu mà trẻ thích, mùi vị sau khi hấp mềm thơm ngon đồng thời trẻ biết cà rốt ăn cho
giúp khỏe mạnh và sáng mắt… Trẻ sẽ hình thành sự hứng thú với món cà rốt được hấp
mềm đó, hứng thú của trẻ nếu tích cực sẽ tạo thành hành vi ăn uống tích cực. Trẻ sẽ ăn
trong không khí vui vẻ, trẻ sẽ chủ động lấy thức ăn hay xin thêm khi còn nhu cầu.
Hoặc trường hợp ngược lại nếu trẻ đã từng được ăn, nhưng không cảm thấy thích vì vị
của cà rốt khiến trẻ không hài lòng, trẻ sẽ giảm hứng thú của mình với món ăn mà
người lớn mang lại, đồng thời biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi lắc đầu hay từ chối
món ăn mà trẻ không muốn thử.
Hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập là hình thành nhận thức, cảm xúc
và hành vi tích cực và tự lập cho trẻ trong ăn uống… Thái độ ăn uống tích cực và tự
lập đối với trẻ 18 – 36 tháng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vốn kinh nghiệm
sống còn hạn chế, kỹ năng thao tác đồ vật của trẻ chưa được thành thạo… Do đó, việc
hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ không thể đòi hỏi ở một mức độ
cao như ở người lớn.
Cụ thể, hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng trước
hết là hình thành nhận thức ban đầu của trẻ về món ăn, về một số nguyên liệu chế biến
đơn giản và gần gũi đối với trẻ, về dụng cụ ăn uống và về môi trường xung quanh.
Tiếp theo là hình thành và nuôi dưỡng cảm xúc cho trẻ, giúp trẻ cảm thấy thích thú với
các món ăn qua việc tạo dựng môi trường, sử dụng một số tác động tích cực để có thể
xây dựng hành vi ăn uống tốt, rèn luyện khả năng tự lực của trẻ qua các bữa ăn hàng
ngày dưới sự hỗ trợ của người lớn.
Vậy, có thể tóm tắt một số nội dung việc hình thành thái độ tích cực và tự lập cho
trẻ là hình thành nhận thức, thái độ và hành vi trong ăn uống cụ thể:
− Thứ nhất, hình thành nhận thức ban đầu về thực phẩm và ý nghĩa của chúng
đối với sức khỏe của trẻ.
− Thứ hai, hình thành và nuôi dưỡng những xúc cảm tích cực của trẻ đối với thực
phẩm.
23
− Cuối cùng là rèn luyện cho trẻ những hành vi tích cực và tự lập trong ăn uống.
Để thực hiện được điều đó cần phải có những biện pháp giúp trẻ hình thành thái
độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Vậy biện pháp đó là gì?
Biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập là cách làm tác động lên
trẻ trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về
bữa ăn và một số kỹ năng trong ăn uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh,
hình thành nên thái độ ăn uống tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về
thể chất và tinh thần tạo nền tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.
1.2.3. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36
tháng
Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập dựa trên hành vi ăn uống
của trẻ. Do đó, muốn tìm hiểu nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập
trước hết cần hiểu thế nào là hành vi ăn uống của trẻ:
1.2.3.1. Hành vi ăn uống của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
Theo Wikipedia tiếng Việt “hành vi” là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, là
toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là
nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới.
Theo quan điểm sinh vật học, hành vi là cách sống, cách hoạt động trong môi
trường xã hội nhất định dựa trên sự thích nghi của cơ thể và môi trường.
Theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi thì hành vi được thể hiện không có sự
tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách và nó được biểu thị bằng công thức S R
(với S là kích thích và R là phản ứng). Hai quan điểm trên đều cho rằng hành vi của
con người là những phản ứng trả lời kích thích giúp họ thích nghi với môi trường sống
và bỏ qua các yếu tố chi phối đến sự thực hiện hành vi như tâm lí, ý thức [8]. Như
J.B.J.Watson (1878 – 1958) đã nói:
Hãy đưa cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh, và một thế giới đặc biệt của riêng tôi
để nuôi dạy chúng trong đó, tôi đảm bảo rằng sẽ chọn ngẫu nhiên và đào tạo
chúng trở thành bất kỳ kiểu chuyên gia nào mà tôi muốn: bác sĩ, luật sư, nghệ
24
sĩ, lái buôn, thậm chí là người ăn xin và kẻ cướp, bất kể năng khiếu, thiên
hướng, khuynh hướng, khả năng, nghề nghiệp và chủng tộc của tổ tiên người đó là như thế nào15.
Tuy nhiên, khái niệm “hành vi” chỉ được rõ ràng khi quan điểm Macxit ra đời.
Tâm lí học Macxit cho rằng hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều
chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách. Muốn hình thành hoạt
động tâm lí bên trong phải tổ chức hoạt động bên ngoài. Bởi hành vi chỉ nảy sinh khi
có nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của hoàn cảnh, do đó, nhà giáo dục cần tổ chức các
hoạt động bên ngoài để hình thành hệ thống hành vi cho trẻ.
Theo nghiên cứu về “Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong gian
đoạn từ 1 đến 6 tuổi”, nhóm tác giả đã đúc kết khái niệm về hành vi ăn uống:
Hành vi ăn uống là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu
trúc tâm lý bên trong của chủ thể có ý thức (thích hay không thích, thoải mái
hay căng thẳng…) và chịu sự quy định của các tác nhân kích thích có điều kiện
ăn uống (mùi vị thực phẩm, sự bắt mắt của thức ăn)… hay những tác nhân kích
thích từ môi trường (sự vui vẻ, yên tĩnh hay ồn ào, căng thẳng…)[18, tr.20].
Hành vi ăn uống của trẻ chịu sự chi phối của việc giáo dục dinh dưỡng và thói
quen ăn uống. Thông qua việc cho trẻ làm quen với thức ăn sẽ tạo cho trẻ cảm giác
thích hay không thích với thức ăn, từ đó biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hành vi
ăn uống. Đối với những món ăn trẻ thích, trẻ sẽ tỏ thái độ thích thú khi được ăn trong
những lần tiếp theo. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống hàng ngày cũng là cơ sở hình thành
hành vi ăn uống của trẻ. Về mặt này, chương trình giáo dục mầm non hiện hành đã vận
dụng một cách hợp lí và mang lại hiệu quả cao trong công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ.
Biện pháp tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non là cách làm, cách tổ chức hoạt
động ăn uống cho trẻ trong chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non, nhằm giải
quyết một số vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hòa về thể chất
và tinh thần.
Theo chương trình GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tào (2009), chế độ sinh hoạt là
sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày một cách hợp lí ở các cơ sở GDMN
25
nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lí của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành những nề 15 http://tamlyhocphothong.wordpress.com/
nếp, thói quen tốt và thích nghi với cuộc sống ở nhà trẻ. Ở từng độ tuổi, chương trình
cũng nêu ra cụ thể chế độ sinh hoạt của trẻ cũng như dự kiến thời gian cho từng hoạt
động trong đó có tổ chức bữa ăn cho trẻ. Số bữa ăn tại trường mầm non được quy định
tối thiểu hai bữa chính và một bữa phụ.
- Năng lượng được phân phối cho các bữa ăn:
Ăn trưa chiếm 30 – 35%, ăn chiều 25 – 30%.
Ăn phụ chiếm 5 – 10% tổng năng lượng cần cung cấp cả ngày.
- Tỷ lệ các chất dinh dưỡng được kiến nghị theo cơ cấu:
12 – 15% chất đạm, 35 – 40% chất béo.
45 – 53% chất bột trong năng lượng khẩu phần.
Nước uống khoảng 0.8 – 1.6 lít (kể cả lượng nước trong thức ăn) [1].
Ngoài ra, hành vi ăn uống của trẻ còn chịu ảnh hưởng bởi văn hóa ẩm thực vùng
miền. Do đó, thực đơn của trẻ được xây dựng hàng ngày, theo tuần và theo mùa. Tùy
theo mỗi mùa, mỗi địa phương mà thực đơn của trẻ có thể linh động thay đổi theo từng
đơn vị trường. Tuy nhiên, cần đảm bảo cho trẻ những thực phẩm quen thuộc nhằm
hình thành hành vi ăn uống tốt cho trẻ.
1.2.3.2. Nội dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36
tháng
Bồi dưỡng thói quen ăn uống tốt không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn ảnh
hường đến việc xác định hành vi và đạo đức tốt đẹp về sau. Có thể bắt đầu hình thành
cho trẻ thái độ ăn uống tích cực và tự lập từ các mặt sau đây:
Chuẩn bị cho trẻ trước lúc ăn cơm: Trước lúc ăn cơm tránh cho trẻ ăn vặt, tránh
cao hứng quá độ, biết chủ động kết thúc trò chơi, đi vệ sinh, rửa tay, biết ngồi vào bàn
đúng vị trí… [6, tr.252].
Một số thói quen tích cực trong khi ăn: Tập cho trẻ nhận biết và làm quen được
với chế độ cơm nát và cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau. Thời gian ăn
tương đối, không quá lâu, ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi, không ngậm thức ăn,
biết chờ đến lượt… Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống thông qua các biểu
26
hiện cụ thể: Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa
ăn, trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn. Trẻ không yêu
sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ…[3, tr.6-8].
Ngoài ra còn có một số thói quen như: Không kén ăn, chỉ thích ăn một vài thứ,
ngồi ăn đúng tư thế, không nhồm nhoàm, không vừa ăn vừa chơi, không để thừa cơm,
biết lấy lượng thức ăn vừa đủ nhu cầu…[6, tr.252].
Hình thành cho trẻ thái độ tự lập trong khi ăn, các biểu hiện như: Trẻ tự xúc ăn
bằng thìa, uống nước bằng cốc, trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế,
trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh,trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ
muốn, trẻ biết từ chối khi no… [3, tr.6-8].
1.2.4. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập trong ăn uống cho trẻ 18 –
36 tháng
1.2.4.1. Mầm móng và quá trình hình thành tính tự lập ở trẻ 18 – 36 tháng
Trong tiến trình phát triển, có một thời điểm từ rất sớm, vào khoảng 18 tháng,
đặc biệt phát triển mạnh vào cuối tuổi lên ba, trẻ bắt đầu xuất hiện nguyện vọng độc
lập. Trẻ lên ba muốn được làm người lớn ngay tức khắc, muốn được tự chọn, tự mặc
quần áo, muốn tự cầm muỗng xúc ăn… Thậm chí còn muốn làm thay mẹ các công
việc quét nhà, lặt rau, hay bé trai muốn giúp bố rửa xe… Đó là những công việc mà trẻ
muốn làm để thể hiện sức mạnh của bản thân, để thỏa mãn nhu cầu tự khẳng định “cái
tôi” của mình vừa mới được nảy sinh và để được giống với người lớn [37, tr.365].
Tuy nhiên, do vốn sống và kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế, một số việc trẻ còn
chưa làm thành thạo… Mâu thuẫn nảy sinh giữa mong muốn và khả năng khiến trẻ
gặp phải nhiều vấn đề. Do đó, người lớn cần tạo điều kiện giúp trẻ củng cố những kỹ
năng và kiến thức để có thể hỗ trợ trẻ trong cuộc sống. Ngay khi trẻ có thể tự làm
những điều nhỏ có thể sẽ hình thành nền tảng cho khả năng tự lập từ nhỏ. Vậy nguyện
vọng độc lập của trẻ xuất hiện từ khi nào? Phải chăng khi trẻ bắt đầu tự ý thích về bản
thân, ý thức về sở thích hay những mong muốn của cá nhân trẻ?
Vào cuối độ tuổi ấu nhi, trẻ bắt đầu xuất hiện sự tự ý thức, trẻ ý thức được mình
là một con người riêng biệt, khác với những ý muốn riêng biệt so với những người
xung quanh… Trẻ bắt đầu nhận ra “cái tôi” của mình, nhận biết được “cái tên” của
27
mình và đồng nhất cái tên với bản thân mình do đó tỏ ra thiện chí với những bạn có tên
giống như mình. Sự tự ý thức ở trẻ còn thể hiện thông qua việc trẻ bắt đầu để ý đến
hình dáng bên ngoài của mình. Trẻ muốn tự chọn quần áo cho mình, thích được tự
cầm muỗng xúc ăn, tự chọn loại đồ chơi mà trẻ thích... Ý thức về bản thân là nguồn
gốc làm nảy sinh những ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác từ đó
giúp cho các hoạt động của trẻ ngày càng mang tính tự lập nhiều hơn.
1.2.4.2. Một số biện pháp hình thành thái độ tự lập cho trẻ
Xuất phát từ nguyện vọng độc lập nhưng do một số hạn chế, trẻ chưa thể tự mình
thực hiện hết những điều mà trẻ mong muốn. Đối với người lớn, đôi khi điều đó còn
gây nên phiền phức dẫn đến e ngại khi cho trẻ “tự xúc ăn”, người lớn thường làm thay
trẻ, đút cho trẻ ăn hết khẩu phần ăn để tránh rơi vãi thức ăn hay cho kịp thời gian cho
các công việc khác. Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức rằng, đây chính là thời cơ để
chúng ta rèn luyện cho trẻ thói quen tự lập trong sinh hoạt hằng ngày, cụ thể là thói
quen tự phục vụ trong ăn uống. Trường mầm non và phụ huynh cần phối hợp với nhau
cùng giúp đỡ hình thành cho trẻ những kỹ năng để trẻ có sự tự tin trong ăn uống ngay
từ những năm tháng đầu đời.
Giáo dục tính tự lập cho trẻ cần được bắt đầu ngay từ những năm tháng đầu đời.
Thật vậy, việc hình thành thái độ tự lập trong cuộc sống cũng như trong ăn uống đều
cần được tiến hành từ sớm và thường xuyên theo tuần tự từng bước một. Sau đây là
một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng:
Trước hết, giáo viên và phụ huynh hãy tin tưởng ở trẻ. Khi đứa trẻ xuất hiện sự
tự ý thức sẽ có nguyện vọng tự làm nhiều việc và có khả năng thực hiện nguyện vọng
đó. Vai trò của người lớn là quan tâm, hướng dẫn trẻ cách làm đúng, nhắc nhở trẻ, chỉ
cho trẻ những điều trẻ chưa biết, động viên để trẻ tự quyết định. Việc cố gắng giúp trẻ
thành công trong công việc không chỉ hình thành ở trẻ sự tự tin vào bản thân, trong
mọi công việc trẻ sẽ biết tự dựa vào sức của mình mà còn giúp trẻ sớm thoát khỏi sự
dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ, tăng cường sự tự trọng, tự tin để trẻ tự lĩnh hội những
chi tiết trong cuộc sống. Từ đó giúp trẻ có cảm giác thành công và có thể tự mình làm
một việc gì đó [37]. Khi trẻ muốn được tự xúc ăn, nhưng vận động cơ tay chưa cho
phép trẻ linh hoạt khi xúc thức ăn, làm rơi vãi thức ăn ra bàn hay ăn bẩn ra quần áo.
28
Giáo viên có thể rèn luyện thao tác xúc muỗng cho trẻ qua các hoạt động thao tác với
đồ vật (cho trẻ đút cho búp bê ăn, cho em bé uống nước…), rèn luyện vận động cổ tay
cho trẻ.
Giáo viên và phụ huynh cần tạo cho trẻ môi trường cho trẻ tự lập bằng cách thiết
kế môi trường an toàn để trẻ có thể tự do làm những điều trẻ muốn mà không sợ những
nguy hiểm. Môi trường đối với trẻ có tác dụng làm biến đổi ngầm ngay từ trong ý
thức, muốn dạy trẻ có ý thức tự lập thì phải xây dựng cho trẻ một môi trường sống tự
do, độc lập với những đồ dùng được đặt ở nơi mà trẻ có thể tự lấy chúng. Chẳng hạn,
giáo viên có thể nhờ trẻ xếp muỗng ra đĩa mỗi bàn cho đủ số lượng, bày bình hoa…
Với những vật dùng được đặt ở nơi trẻ đã biết, thấp vừa tầm trẻ có thể tự lấy được [5].
Tạo cho trẻ cơ hội được thực hiện các hoạt động một mình, chấp nhận cho trẻ thử
sai và giúp đỡ trẻ bằng cách trao đổi với trẻ về cách làm này làm mẫu cho chúng xem
trước khi cho chúng thực hiện. Người lớn có thể tham gia các hoạt động cùng trẻ
nhưng tránh không nên giúp hay làm thay trẻ.
Dạy cho trẻ các kỹ năng để trẻ có thể tự phục vụ. Mọi người đều học từ quá trình
khám phá – học tập – học tập – khám phá. Do đó, cần nâng cao khả năng tự làm của
trẻ, dạy cho trẻ những kỹ năng lao động, hướng dẫn trẻ một cách đúng đắn, tỉ mĩ và dễ
hiểu cho trẻ quan sát kĩ xem cô bày bình hoa như thế nào, cô xếp muỗng vào đĩa ra
sao, cách các bạn đã cầm muỗng xúc ăn như thế nào để không rơi vãi thức ăn…
Cần rèn luyện tính tự lập thường xuyên trong ăn uống và tăng dần yêu cầu để
hình thành các thói quen tốt bắt đầu từ việc hướng dẫn nhẹ nhàng, dạy trẻ biết phân
biệt, làm chủ tư duy của mình đến việc cho trẻ được ra quyết định.
Dạy cho trẻ biết nói lên chủ kiến của bản thân, ngay từ việc học cách nói không.
Cụ thể, dạy trẻ biết xin thêm thức ăn khi cần, biết cảm ơn khi được người khác giúp
đỡ, biết xin lỗi khi đã làm sai và biết từ chối khi đã dùng đủ lượng thức ăn trong bữa.
Việc rèn luyện thường xuyên phải đi đối với việc thực hiện các kích thích tích
cực ở trẻ, khi trẻ thích thú với công việc, chúng sẽ làm hăng hái hơn. Trẻ rất thích
được khen, vì vậy người lớn cần có lời khen cho trẻ đúng cách, khi trẻ ăn ngoan hơn
hôm qua, có sự tiến bộ hơn, khi trẻ làm được điều gì tốt (biết nhặt cơm rơi bỏ vào hộp
đựng thức ăn rơi vãi, biết lau miệng bằng khăn giấy thay vì gạt bằng tay…) Tuy nhiên,
29
cần lưu ý, có khen cần có chê, lời khen cần đúng lúc và đúng cách, không nên quá lạm
dụng và cũng không chê bai trẻ nặng lời khiến trẻ mất tự tin vào bản thân, hãy phê
bình trẻ theo cách tích cực “Nếu ngày mai, con ăn ngoan hơn hôm nay, cô sẽ vui hơn”
hay “Hôm nay con ăn chưa ngoan, chưa hết phần ăn, cô nghĩ hôm nay con mệt con ăn
ít đúng không? Mai con ăn nhiều hơn nha!”… Hay nói khác hơn, nếu trẻ chưa làm tốt,
người lớn nên động viên trẻ để có thể hình thành khả năng tự làm việc cho trẻ.
Một số nguyên tắc dạy trẻ tính tự lập: Tuần tự tiến hành, kỹ xảo kích thích, giải
thích cho trẻ hiểu, phải có lòng kiên trì… Việc giáo dục tính tự lập cho trẻ ngày từ
những năm tháng đầu đời không chỉ tạo cho trẻ khả năng tự lập trong sinh hoạt hàng
ngày mà còn quan trọng hơn là tạo lập cho trẻ một nền tảng nhân cách vững vàng để
trở thành người tự tin, năng động, độc lập trong cuộc sống.
1.2.5. Yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực ở trẻ
18 – 36 tháng tại trường mầm non
Thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ được hình thành dưới sự tác động của
nhiều yếu tố như môi trường, cách thức tổ chức của người lớn, tình trạng sức khỏe, thể
trạng của trẻ hay mối liên hệ của trẻ đối với thức ăn, thậm chí là di truyền hay ảnh
hướng những thói quen từ người lớn… Sự lặp đi lặp lại khi tiếp xúc với thực phẩm làm tăng khả năng chấp nhận khẩu vị mới và món ăn mới của trẻ16. Tuy nhiên, để hình
thành nên các thói quen trong ăn uống, chúng ta cần xem xét những yếu tố chính ảnh
hưởng đến thái độ ăn uống tích cực của trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
Yếu tố đầu tiên là ảnh hưởng của yếu tố thể trạng sức khỏe của trẻ.
Yếu tố thể trạng sức khỏe ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành một số thói
quen ăn uống lành mạnh cũng như thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Được
cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thông qua thức ăn là nhu cầu rất quan trọng để trẻ phát
triển. Nhưng bên cạnh đó, việc trẻ có hấp thu tốt hay không còn phụ thuộc các dưỡng
chất được cung cấp, thể trạng và điều kiện hoàn cảnh được hấp thụ. Một trong những
nguyên nhân gây nên những hành vi ăn uống không tốt ở trẻ là do trẻ bệnh. Trẻ có thể
trạng kém sẽ thụ động và ít vận động hơn so với các trẻ khác, do đó năng lượng giải
16Leanne Cooper đến từ tổ chức Sneakys “dinh dưỡng cho trẻ”. Leanne là một chuyên gia dinh dưỡng được công nhận và là mẹ của hai cậu bé năng động.
30
phóng của trẻ cũng ít đi, nhu cầu về dinh dưỡng cũng kém so với các trẻ hiếu động.
Hiểu được điều nay, chúng ta thấy Chương trình GDMN đã chú trong phát triển thể
chất và vận động cho trẻ là rất cần thiết và hợp lí.
Tìm hiểu về chứng biếng ăn – một trong những “căn bệnh”, thường gặp ở trẻ nhỏ
- Luận văn nhận thấy biếng ăn là một trong những biểu hiện cụ thể nhất của thái độ ăn
uống không tích cực và tự lập. Theo Viện dinh dưỡng, biếng ăn là hiện tượng trẻ ăn ít
hơn bình thường, ăn thức ăn chọn lọc, chỉ ăn vài loại thức ăn, có trẻ sợ ăn, từ chối hay
nôn oẹ khi nhìn thấy thức ăn, bữa ăn kéo quá dài (trên 30 phút thậm chí hàng tiếng) do
trẻ không chịu nuốt thức ăn hoặc bỏ ăn do nhiều nguyên nhân gây ra. Biếng ăn bản
thân nó không hẳn là một bệnh mà thường là biểu hiện của nhiều nguyên nhân khác
nhau, có thể do bệnh lý hay tâm lý. Nguyên nhân gây biếng ăn có thể liên quan đến
bệnh tật của trẻ như khi trẻ ốm, mắc phải các bệnh cấp tính, bệnh liên quan đến răng
miệng… Hay liên quan đến dinh dưỡng như thiếu các chất dinh dưỡng, còi xương,
thức ăn chế biến không hợp khẩu vị của trẻ, ép trẻ ăn, áp đặt trẻ làm cho trẻ sợ ăn, trẻ
mãi chơi, ăn uống không có giờ giấc, cho trẻ uống thuốc lẫn thức ăn để trẻ nhận biết
được gây phản xạ sợ hãi, cho trẻ ăn vặt nhiều, uống nước ngọt trước khi ăn bữa chính,
trẻ chưa kịp thích nghi với chế độ ăn mới hoặc ép trẻ ăn quá nhiều dẫn đến ức chế bài
tiết các men tiêu hoá gây chán ăn, thay đổi giờ ăn, người cho ăn, người lớn xung quanh
trẻ có thói quen ăn không mẫu mực làm trẻ bắt chước… [52].
Ngoài ra theo BS. Lê Quang Hào, biếng ăn ở trẻ còn do khẩu phần ăn không cân
đối có nhiều tinh bột, một số trẻ biếng ăn do nguyên nhân tâm lý (gọi là biếng ăn tâm
lý). Khi trẻ bị ốm, mọc răng... Trẻ dễ bị biếng ăn. Chưa kịp ăn ngon miệng trở lại thì bị
người lớn thúc ép ăn, hoặc là trẻ mãi chơi trong khi người lớn thúc ép về mặt thời gian
cho nên trong các bữa ăn trẻ bị quát mắng, thậm chí bị đánh làm cho các cháu sợ bữa
ăn, chỉ cần nghe hoặc nhìn thấy bát bột, bát cơm là trẻ quay đi, trẻ lớn hơn thì chạy
trốn, nhiều cháu cứ hễ thấy bát bột là khóc, buồn nôn. Một số cháu không ăn để
“chống đối” lại người lớn [52].
Thứ hai là tác động của các mối liên kết với thực phẩm.
Mối liên kết này bao gồm thực đơn, cách chế biến, cách bày trí… Một số nghiên
31
cứu cho rằng khi trẻ tiếp xúc nhiều lần với các loại thực phẩm mới rất quan trọng để
hình thành thói quen ăn uống ở trẻ. Phản ứng của trẻ với thức ăn trong những lần sau
chịu ảnh hưởng sâu sắc ngay từ lần đầu. Khi trẻ ăn một loại thực phẩm mà trẻ thích
hay cảm thấy no, những lần sau khi ăn món ấy, trẻ sẽ cảm thấy hấp dẫn và muốn được
ăn. Ngược lại, khi trẻ tiếp xúc món ăn ấy lần đầu nhưng lại gây đau bụng, nôn ọe thì
những lần sau trẻ sẽ có phản ứng không thích, thậm chí từ chối. Việc cung cấp cho trẻ
nhiều sự chọn lựa với thực phẩm góp phần hình thành thái độ ăn uống tích cực và chủ động của trẻ17.
Trẻ 18 – 36 tháng đã qua giai đoạn tập ăn, đã làm quen được nhiều loại thực
phẩm khi ở nhà. Việc cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm, màu sắc đa dạng có thể tăng
thêm cảm giác thèm ăn ở trẻ [6, tr.238]. Khi đi học, trường mầm non thường sử dụng
các thực phẩm quen thuộc, lành tính để chế biến thức ăn cho trẻ do đó, mức độ không
phù hợp về thức ăn của trẻ cũng ít đi, trừ một số trường hợp trẻ bị dị ứng với thức ăn.
Do đó, tác động lớn nhất của mối liên kết với thực phẩm chủ yếu nằm ở cách chế
biến và bày trí thức ăn trong phần ăn của trẻ. Cách chế biến nếu được linh hoạt thay
đổi sẽ tạo cho trẻ sự mới lạ về mùi vị và hương vị, kích thích sự thèm ăn của trẻ, giúp
trẻ không ngán với sự lặp lại thức ăn nhiều lần. Bên cạnh đó, sự trang trí phần ăn của
trẻ cách đẹp mắt cũng hẫp dẫn và kích thích trẻ hơn trong bữa ăn.
Tiếp theo là môi trường tổ chức cho trẻ ăn.
Môi trường tổ chức cho trẻ ăn bao gồm các yếu tố: Địa điểm tổ chức bữa ăn, các
vật dụng ăn uống cho trẻ dùng và cách tổ chức bữa ăn… Trẻ nhỏ có khuynh hướng ăn
giống như người lớn, điều này có thể do khuynh hướng bắt chước của trẻ, hay là kết
quả của việc trẻ phải ăn những thứ đã quy định trong thực đơn. Trẻ nhà trẻ có sự phát
triển trí tuệ nhanh chóng với mọi sự vật xung quanh, trẻ cảm thấy kì lạ và muốn hiểu
biết hết, nhất cử nhất động của người lớn không lọt qua được con mắt của trẻ. Về mặt
ăn uống, trẻ cũng chịu ảnh hưởng không tốt của bố mẹ và người lớn. Do đó muốn hình
thành thói quen tốt cho trẻ trước hết người lớn cần làm gương cho trẻ và bồi dưỡng
cho trẻ những hành vi tốt [6, tr.251].
Ngoài ra, trẻ cũng chịu sự tác động của các hình thức tổ chức bữa ăn, môi trường
32
thoải mái, thoáng đãng với bàn ghế phù hợp, đồ dùng ăn uống xinh xắn, phù hợp với 17Susan J. Crockett, Laura S. Sims
sở thích, thỏa mãn mối quan tâm của trẻ hay cách sắp xếp bữa ăn của giáo viên mang
lại những tác động tích cực hay tiêu cực hình thành thói quen ăn uống ở trẻ [6, tr.251].
Hiện nay ở trường mầm non, có nhiều hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ như: Tổ
chức cho trẻ ăn ngay tại lớp, trẻ ngồi ngay ngắn trên bàn, tổ chức cho trẻ ăn tại phòng
ăn riêng của trường, tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân có mái che… Mỗi hình thức này đều
có những mặt ưu khuyết và phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất của từng trường. Cũng
như vật dụng được dùng cho trẻ ăn, thông thường các trường cho trẻ ăn bằng tô nhỏ và
muỗng hay đĩa nhiều ngăn.
Ngoài ra, ảnh hưởng của môi trường trong nhiều trường hợp còn liên quan đến
thời tiết, khí hậu và đặc điểm vùng miền… Trong giai đoạn đầu đời, trẻ thường hấp
thu tốt nhất các loại khoáng chất và dưỡng chất được cung cấp, giúp trẻ phát triển toàn
diện. Tuy nhiên, khi thời tiết thay đổi và mùa hè trở nên oi bức, trẻ thường trở nên
chán ăn và bỏ bữa hơn. Hay khi trời lạnh, cơ thể trẻ sẽ mau đói hơn, trẻ có nhu cầu
nhiều hơn về thực phẩm để cũng cấp lượng chất cần thiết cho cơ thể để sản sinh ra
nhiệt lượng cơ thể… Hiểu được những yếu tố này, người chăm sóc sẽ có những điều
chỉnh về môi trường hay thời gian ăn cho trẻ sao cho hợp lí.
Ngoài ra, người lớn tránh một số tác động tiêu cực khi tổ chức bữa ăn cho trẻ
như: Không nên quở mắng trẻ khi ăn, điều này có hại cho tiêu hóa và hấp thụ thức ăn
của cả người lớn và trẻ nhỏ. Tạo bầu không khí tâm lí khi ăn uống rất quan trọng, bởi
tinh thần là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động tinh thần của
con người chịu sự điều khiển, khống chế của đại não, ảnh hưởng trực tiếp đến chức
năng của nội tạng. Khi trẻ ăn cơm, màu sắc của thức ăn được ghi nhận ở mắt, mùi vị
trẻ ngửi được, hương vị trẻ nếm được… Tất cả sẽ phát tín hiệu đến vỏ đại nảo, kích
thích sự hưng phấn của trung khu tiết dịch dạ dày dọc theo tủy sống ở vùng khâu hạ
não, làm cho dịch tiêu hóa tiết ra nhiều hơn, dạ dày nhu động nhanh hơn. Sự la mắng
hay ép trẻ khi ăn làm giảm đi hứng thú của trẻ, các chức năng trên bị ức chế, vị toan sẽ
tiết ra ít đi, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa, hấp thụ, gây nên tình trạng biếng ăn ở
trẻ. Ngoài ra, quở trách, đánh mắng trẻ khi ăn có khả năng làm cho thức ăn nhầm vào
khí quản, gây nên những hậu quả nghiệm trọng. Do đó, việc tạo cho trẻ bầu không khí
33
tâm lí thoải mái, vui vẻ là rất quan trọng [6, tr.256-257].
Cuối cùng là sự chăm sóc bữa ăn .
Tác động này có thể nói đến mối quan hệ của người chăm sóc và trẻ. Trẻ 18 – 36
tháng chưa thể tự phục vụ hoàn toàn, trẻ cần sự hỗ trợ của người lớn. Lời khen khi trẻ
làm tốt, sự nhắc nhở khi trẻ chưa tự phục vụ hay làm rơi vải cơm ra ngoài sẽ giúp trẻ
hình thành thói quen tốt trong ăn uống. Tại trường mầm non, giáo viên là người trực
tiếp tổ chức bữa ăn cho trẻ, là người theo sát và hướng dẫn trẻ khi cần.
Nhìn chung, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập của trẻ. Hiểu được những sự tác động này giúp người chăm sóc trẻ có thể
loại trừ những tác nhân ảnh hưởng xấu đến trẻ, đồng thời ứng dụng những tác động
đem lại hiệu quả trong quá trình tổ chức bữa ăn cho trẻ.
Trên cơ sở những tác nhân ảnh hưởng cụ thể trên, luận văn tìm hiểu các chuyên
gia giáo dục mầm non sẽ nói gì về nguyên nhân hình thành thái độ ăn uống không tích
cực và tự lập của trẻ?
Hiệu trưởng trường mầm non T.T – Quận Tân Bình đã đề cập một số nguyên
nhân sau dẫn đến biếng ăn của trẻ tại trường mầm non. Thứ nhất là do phụ huynh quá
quan tâm đến cân nặng và chiều cao của trẻ, đặt áp lực cho nhà trường và giáo viên
cho trẻ ăn hết khẩu phần ăn, hay trẻ chịu ảnh hưởng những thói quen ăn uống từ gia
đình, ba mẹ quá nuông chiều trẻ dẫn đến tình trạng trẻ thụ động, không muốn tự phục
vụ trong các bữa ăn, đòi hỏi giáo viên phải đút mới ăn… Thứ hai, do chính bản thân
trẻ, sẽ thường ăn chậm, ăn ít khi trẻ ốm, hoặc có các dị tật về đường tiêu hóa, trẻ ham
chơi…Thứ ba, cách tổ chức của giáo viên cũng ảnh hưởng đến trẻ…
Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hình thành thái độ ăn uống không tích cực và tự
lập ở trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non có thể khái quát thành cách nhóm sau:
Thứ nhất là xuất phát từ bản thân đứa trẻ: Nguyên nhân có thể do trẻ bị bệnh, dị
tật đường tiêu hóa khiến trẻ khó nuốt… Mặt khác, khi trẻ thiếu những kỹ năng tự phục
vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối… Trẻ sẽ thiếu tự tin trong
ăn uống, một số trẻ cầm muỗng xúc thức ăn chưa quen hay bị đổ, cô giáo la mắng trẻ
khiến trẻ sợ, không dám tự tin cầm muỗng xúc ăn, cũng như không dám thử mở nắp
34
hộp khi trẻ chưa từng làm. Hay trẻ có thói quen mè nheo, nhõng nhẻo, thích được
người khác phục vụ thay vì tự làm những công việc trong khả năng của trẻ. Trẻ kén
thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích…
Thứ hai là cách tổ chức môi trường cho trẻ khi ăn: Cách tổ chức môi trường bao
gồm môi trường vật chất và môi trường tâm lí. Cụ thể hơn chính là địa điểm tổ chức
bữa ăn, các vật dụng ăn uống cho trẻ dùng, cách tổ chức bữa ăn và cách thức giáo viên
tổ chức bữa ăn cho trẻ hằng ngày. Nguyên nhân có thể ảnh hưởng xấu đến việc hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ trước hết phải nhắc đến là thực đơn của
trẻ - Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay
cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ sẽ không hấp dẫn được trẻ trong các bữa ăn.
Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ mong
muốn được khám phá. Trong quá trình tổ chức bữa ăn, số trẻ đông ảnh hưởng đến sự
bao quát của cô đối với trẻ cộng thêm áp lực về thời gian khiến giáo viên hối thúc trẻ
ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp giờ. Việc chăm sóc bữa ăn cho trẻ cũng vì vậy có
nhiều hạn chế, có thể do giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách hay thậm chí
la mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm…Hay do áp lực của phụ huynh về sự
phát triển thể chất mà giáo viên ép trẻ ăn hết suất ăn quy định. Bầu không khí tâm lý
khi ăn rất quan trọng không chỉ với người lớn mà còn ở trẻ em. Khi trẻ vui, trẻ sẽ ăn
ngon miệng và tích cực hơn.
Thứ ba là một số thói quen ảnh hưởng từ gia đình: Ngay từ những năm tháng đầu
đời, phụ huynh đã không luyện cho trẻ kỹ năng nhai, nuốt hay cầm muỗng xúc ăn…
Dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn trong ăn uống khi đến trường. Hay việc phụ huynh
nuông chiều, thường làm thay trẻ lâu dần hình thành ở trẻ thói quen dựa dẫm, hưởng
thụ, thay vì tích cực tự phục vụ, trẻ lại thụ động chờ đợi ở người lớn… Một số trường
hợp trẻ đã 2 tuổi nhưng ở nhà ông bà chiều nên thường đút trẻ ăn để không bị bẩn thức
ăn, bữa ăn kết thúc nhanh hơn, trẻ ăn được nhiều hơn… Trẻ không được tập thói quen
tự xúc ăn nên khi đến trường, điều này làm cho trẻ sẽ ngồi thừ chờ đợi cô đút thay vì
tự xúc như các bạn khác… Ngoài ra, một số thói quen trẻ chịu ảnh hưởng từ gia đình
cũng là nguyên nhân hình thành nên thái độ ăn uống không tích cực và tự lập ở trẻ.
Chẳng hạn, một số trẻ trong giai đoạn ăn dặm, ba mẹ thực hiện chế độ ăn cho bé theo
35
phương pháp ăn dặm kiểu Nhật, trẻ được làm quen với từng loại thức ăn riêng biệt, ăn
theo từng món, đến khi vào trường, ăn chung các món với cơm khiến trẻ khó ăn, dễ
dẫn đến chán ăn. Hay trường hợp các bé ăn theo phương pháp ăn dặm Bé chỉ huy
(Baby Led Weaning – BLW) thì trẻ được ăn tự do với việc ăn bốc, thích ăn thô hơn là
thức ăn nhuyễn mềm, khi đến trường mầm non, thói quen này cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến thái độ ăn uống của trẻ.
1.2.6. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cho trẻ 18 – 36
tháng
1.2.6.1. Nội dung giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống của trẻ 18 – 36
tháng
Theo Chương trình Giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tào (2009) quy
định một số nội dung chăm sóc dinh dưỡngvà sức khỏe cho trẻ 18 – 36 tháng như sau:
• Nội dung 1: Tập luyện nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt [3].
18 - 24 tháng tuổi 24 - 36 tháng tuổi
− Làm quen với chế độ ăn cơm nát − Làm quen với chế độ ăn cơm và các
và các loại thức ăn khác nhau. loại thức ăn khác nhau.
− Tập luyện nền nếp thói quen tốt
trong ăn uống.
− Làm quen chế độ ngủ 1 giấc − Luyện thói quen ngủ một giấc trưa
− Tập một số thói quen vệ sinh tốt: − Luyện một số thói quen tốt trong sinh
hoạt: Ăn chín, uống chín, rửa tay trước khi
+ Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. ăn, lau mặt, lau miệng, uống nước sau khi
ăn, vứt rác đúng nơi quy định. + “Gọi" cô khi bị ướt, bị bẩn.
• Nội dung 2: Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khoẻ [3].
18 - 24 tháng tuổi 24 - 36 tháng tuổi
− Tập tự xúc ăn bằng thìa, uống − Tập tự phục vụ:
nước bằng cốc.
− Tập ngồi vào bàn ăn.
+ Xúc cơm, uống nước. + Mặc quần áo, đi dép, đi vệ sinh, cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt. − Tập thể hiện khi có nhu cầu ăn, ngủ,
36
vệ sinh. + Chuẩn bị chỗ ngủ.
− Tập nói với người lớn khi có nhu
cầu ăn, ngủ, vệ sinh.
− Tập ra ngồi bô khi có nhu cầu vệ − Tập đi vệ sinh đúng nơi qui định.
sinh, nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh.
− Làm quen với rửa tay, lau mặt. − Tập một số thao tác đơn giản
trong rửa tay, lau mặt.
• Nội dung 3: Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn [3].
- Nhận biết một số vật dụng nguy hiểm, những nơi nguy hiểm không được phép
sờ vào hoặc đến gần.
- Nhận biết một số hành động nguy hiểm và phòng tránh [3, tr.6-8].
Những nội dung trên nhìn chung đã căn cứ vào các đặc điểm phát triển tâm sinh
lí của trẻ, nội dung cũng như từng tiêu chí mà khung chương trình đưa ra phù hợp đối
với sự phát triển cũng như kết quả mong đợi ở trẻ.
1.2.6.2. Tác động của giáo dục dinh dưỡng đến việc hình thành thái độ ăn uống
tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng
Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ là biện pháp can thiệp nhằm thay đổi những tập
quán thói quen và các hành vi liên quan đến dinh dưỡng, nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ18. Trong nghiên cứu về “Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng
ăn trong giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi”, nhóm tác giả đã trình bày khá cụ thể các tác động
của giáo dục dinh dưỡng đối với việc hình thành thói quen ăn uống của trẻ. Có thể tóm
lại một số tác động như sau:
Một là thông qua việc hình thành kỹ năng trong ăn uống cho trẻ có thể hình thành
cho trẻ những hành vi ăn uống đúng, hành vi đúng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo
nên những thói quen tốt. Sự chuyển tiếp từ kỹ năng sang thói quen sẽ hình thành từ
quá trình luyện tập một cách có hệ thống trong cùng điều kiện hoặc điều kiện tương tự.
Và bằng cách đó, thói quen trong mức độ nhất định sẽ tạo thành nhu cầu của trẻ trong
18 http://www.hmu.edu.vn/thuvien
37
các bữa ăn [26].
Hai là giáo dục dinh dưỡng cũng là một nhiệm vụ của giáo dục, giúp trẻ lĩnh hội
các kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe, đồng thời sự tác động từ hành vi ăn uống
của người lớn sẽ tác động đến các giác quan của trẻ, góp phần hình thành các phản xạ
có điều kiện, càng ngày càng bền vững hình thái những thói quen tốt trong ăn uống
[26].
Có thể nói, giáo dục dinh dưỡng tác động nhiều đến việc hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng. Giáo dục dinh dưỡng tạo tiền đề và thúc
đẩy việc hình thành những thói quen ăn uống lành mạnh ở trẻ. Từ việc giúp trẻ hình
thành những hành vi ăn uống tốt theo các phản xạ có điều kiện đến hình thành những
thói quen mang tính ổn định. Giáo dục dinh dưỡng tác động trực tiếp đến thói quen ăn
uống của trẻ và tác động gián tiếp đến nhu cầu ăn uống của trẻ. Trẻ được hình thành
những thói quen tốt trong ăn uống sẽ nảy sinh những nhu cầu và biểu hiện ra bên ngoài
bằng những hành động ăn uống tích cực và tự lập. Hiểu được điều này, ta có thể thấy
được tầm quan trọng của việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ tại trường mầm non [26].
1.2.6.3. Nhu cầu dinh dưỡng trẻ từ 18 – 36 tháng
Ở lứa tuổi này bữa ăn hằng ngày của bé rất quan trọng. Nên tận dụng sữa mẹ để
hỗ trợ thêm cho bé bồi dưỡng cơ thể và chống bệnh tật. Khẩu phần ăn của trẻ cần được
cung cấp đủ năng lượng, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng:
Năng lượng
Năng lượng cần đủ cho hoạt động cơ thể của trẻ và để tích luỹ, giúp thúc đẩy sự
lớn lên của các tổ chức. Ở lứa tuổi này tiêu hao năng lượng của trẻ lớn do trẻ chơi đùa,
đi lại chạy nhảy nhiều. Nhu cầu năng lượng ở lứa tuổi này là 110 Kcal/kg cân nặng,
ước chừng trẻ nặng khoảng 9 – 13 kg, do đó năng lượng cung cấp là 900 - 1300 Kcal.
Năng lượng cần được cung cấp đủ qua bữa ăn của trẻ gồm có: Chủ yếu là chất bột như
bột, cháo, cơm nát, ngoài ra còn có chất đạm, chất béo... Tỷ lệ giữa các thành phần
sinh năng lượng nên là: Đạm 15%, béo 20%, đường bột 65%.
Chất đạm
Chất đạm rất cần cho sự phát triển cơ thể trẻ, đặc biệt là các tế bào não. Với trẻ
nhỏ, cần ưu tiên các loại đạm động vật như: Thịt, sữa, trứng, cá, tôm... Vì chúng có giá
38
trị cao, có đủ các chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, ngoài ra còn
giúp cho cơ thể trẻ khỏe mạnh, tăng sức chống đỡ với bệnh tật. Lượng đạm động vật
trong khẩu phần ăn của trẻ nên đạt từ 50 – 60%. Tuy nhiên, nếu phối hợp tốt đạm động
vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc... ), sẽ tạo nên sự cân đối giúp hấp thụ và sử
dụng đạm tốt hơn. Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 – 3 tuổi là 28 g/ngày. Khi chế độ ăn
thiếu đạm sẽ làm cho trẻ chậm lớn, kém thông minh, nhưng nếu cho trẻ ăn quá nhiều
đạm cũng không tốt vì ảnh hưởng xấu đến gan, thận. Mặt khác, trong quá trình tiêu
hóa, chất đạm tạo ra nhiều sản phẩm gây thối rữa, độc hại. Trong bữa ăn của trẻ chất
đạm chỉ phát huy tác dụng cao khi có đủ năng lượng. Nếu khẩu phần ăn đủ đạm nhưng
thiếu năng lượng trẻ vẫn có thể bị suy dinh dưỡng.
Chất béo
Dầu mỡ vừa cung cấp năng lượng cao, làm tăng cảm giác ngon miệng, lại giúp
trẻ hấp thụ và sử dụng tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K... Rất
cần cho trẻ. Mỗi bát bột, bát cháo, ngoài các thành phần khác (gạo, thịt, rau... ), cần
cho thêm 1 - 2 thìa cà phê mỡ hoặc dầu. Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành
phần các loại mỡ đó có các chất rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ. Nếu trẻ
đã ăn cơm thì nên cho mỡ hoặc dầu vào xào, rán, kho với thức ăn.
Các chất khoáng
Các chất khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động
chức năng sinh lý của cơ thể. Ở lứa tuổi này canxi và phốt pho cần được chú ý để cung
cấp đủ cho trẻ, hằng ngày trẻ cần 400 - 500 mg canxi. Canxi có nhiều trong sữa và các
loại tôm, cua, ốc, trai... Phốt pho có nhiều trong các loại lương thực, ngũ cốc. Cần có
một tỷ lệ thích hợp giữa canxi và phốt pho mới giúp trẻ hấp thụ và sử dụng được hai
loại khoáng chất này. Tỷ lệ tốt nhất giữa canxi/phốt pho = 1/1,5.
Ngoài việc ăn uống đủ, thỉnh thoảng cần cho trẻ ra ngoài tắm nắng tạo điều kiện
cho vitamin D hoạt động, giúp cơ thể chuyển hoá tốt canxi và phốtpho. Chất sắt rất cần
cho sự tạo máu, sắt còn tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể.
Mỗi ngày trẻ cần được cung cấp 6 - 7 mg sắt qua thức ăn. Nguồn sắt tốt có trong thức
ăn động vật là các nội tạng: Tim, gan... Nguồn sắt tốt có trong thức ăn thực vật là đậu
đỗ và các loại rau có màu xanh sẫm. Sắt có trong thức ăn động vật hấp thụ tốt hơn
39
trong thức ăn thực vật nhưng trong rau quả lại có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thụ
và sử dụng sắt có hiệu quả hơn. Ưu tiên nguồn thức ăn động vật, phối hợp với các đậu
đỗ và rau quả nhằm đảm bảo đủ sắt cho cơ thể.
Vitamin
Mọi vitamin đều cần cho trẻ nhưng ở lứa tuổi này người ta quan tâm đến vitamin
A và vitamin C. Hai vitamin này rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho
sự tạo máu, tăng cường sức chống đỡ với bệnh tật. Ở lứa tuổi này nhu cầu vitamin A
chính chỉ có trong các thức ăn động vật như trứng, gan... Rau quả có màu vàng, đỏ, da
cam vừa là nguồn cung cấp caroten (tiền vitamin A) vừa là nguồn cung cấp vitamin C.
Vì vậy, cần cho trẻ ăn rau, quả thường xuyên [3].
1.2.7. Đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng
Đặc điểm tâm lý về khả năng vận động và các hoạt động: Khi bước vào tuổi ấu
nhi, mối quan hệ của trẻ với đồ vật thay đổi đáng kể – Hoạt động với đồ vật là hoạt
động chủ đạo của tuổi ấu nhi. Đồ dùng đối với trẻ không chỉ là đồ chơi mà còn có
những ý nghĩa nhất định với phương thức sử dụng tương ứng. Chẳng hạn như cái thìa
dùng để ăn cơm và có cách cầm muỗng sao cho đúng và không rơi vãi thức ăn. Trẻ 12
– 18 tháng có thể tự ăn bằng thìa, lúc mới bắt đầu tập xúc thì có thể tự xúc được 1/3,
sau đó nhờ người lớn hỗ trợ. Khoảng 3 tuổi, bé có thể tập dùng cơm bằng đũa, tự xúc
ăn trong 20 – 30 phút. Trẻ giai đoạn này có thể thực hiện một số hoạt động thể chất
như chạy, nhảy… Trẻ đang trong giai đoạn phát triển hệ xương và các cơ ngón tay, cổ
tay. Trẻ cầm nắm được các vật nhỏ và thao tác bằng tay với đồ vật. Vào cuối giai
đoạn, trẻ bắt đầu có thể điều khiển ruột và bàng quan theo chủ đích, nghĩa là trẻ bắt
đầu kiểm soát được khi trẻ có nhu cầu đi vệ sinh, đại tiện…
Đặc điểm tâm lý – tình cảm: Tuy nhận thức của trẻ con giới hạn nhưng trẻ đã bắt
đầu nhận thức được sự việc, có thể nói “Không” hay có biểu hiện khi trẻ không thích,
chứ không hoàn toàn đồng ý với sự sắp đặt của người lớn ở độ tuổi hài nhi. Nhận thức
độc lập của trẻ được hình thành, trẻ có thể tự phân biệt ngoại cảnh thông qua quá trình
khám phá thế giới xung quanh. Giai đoạn này trẻ tiếp tục phát triển các kỹ năng và
kinh nghiệm đáp ứng với đối tượng khác. Sự trưởng thành về tình cảm của trẻ em gắn
liền với sự phát triển cảm giác, vận động, sự phát triển của ngôn ngữ và khả năng nhận
40
thức, cùng với sự nhận thức và khẳng định bản thân. Từ những xúc cảm tràn lan,
không phân định xuất hiện kèm theo các nhu cầu được thỏa mãn hay không thỏa mãn
của lứa tuổi bế bồng, theo thời gian phát triển, xúc cảm, tình cảm của trẻ ngày càng
được biệt hóa, được phân định rõ rệt.
Trẻ ấu nhi dễ xúc cảm, đặc điểm này có từ giai đoạn tuổi trước nhưng đến tuổi
này những phản ứng cảm xúc ổn định hơn. Mặc dù tính chất của cảm xúc vẫn mạnh,
có tính bột phát, mãnh liệt, nhưng đã hướng tới một đối tượng khá rõ rệt và ổn định.
Tuy nhiên, nhìn chung trẻ chưa làm chủ được cảm xúc của mình. Xúc cảm tình cảm
của trẻ tuổi này vẫn là vô thức. Trẻ chưa tự nhận ra được tính chất của xúc cảm tình
cảm của mình với người khác. Tuy vậy, trẻ cảm nhận khá chính xác tính chất những
phản ứng xúc cảm của người khác và biết cách ứng xử vừa lòng người khác hoặc bắt
người khác chiều theo ý mình. Lứa tuổi này, một hiện tượng cảm xúc hay gặp ở trẻ là
lo lắng. Càng lớn trẻ càng có nhiều hơn sự lo lắng, nhiều khi nó in dấu khá sâu đậm
trong trí trẻ, làm mất đi cảm giác an toàn, khiến trẻ trở nên sợ hãi. Đối tượng sợ hãi
thường là các con vật, bóng tối, người lạ, thầy thuốc, các hiện tượng tự nhiên như
giông bão...
Đặc điểm tâm lí – trí tuệ: Ở trẻ ấu nhi, hoạt động với đồ vật trở thành chủ đạo.
Chính nhờ vậy mà tâm lí của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí tuệ. Điều quan trọng là
trong khi lĩnh hội những hành động sử dụng các đồ vật sinh hoạt hằng ngày thì đồng
thời trẻ cũng lĩnh hội được những quy tắc hành vi trong xã hội. Thái độ của người lớn
lúc này đồng tình hay phản đối là hết sức quan trọng để củng cố việc nắm vững quy
tắc hành vi xã hội cho trẻ.
Hứng thú ngày càng tăng của trẻ đối với hoạt động kích thích trẻ hướng tới người
lớn, mở rộng giao tiếp với họ để mong được họ giúp đỡ trong việc nắm vững cách
thức sử dụng đồ vật xung quanh. Đó chính là yếu tố làm nảy sinh ở trẻ nhu cầu giao
tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ. Trẻ lên 3 đã biết dùng nhiều đồ vật trong sinh hoạt
hàng ngày, biết tự phục vụ, biết giao tiếp bằng ngôn ngữ với mọi người và biết thực
hiện những quy tắc hành vi sơ đẳng trong xã hội [37, tr.178]. Trẻ mới biết đi có vốn từ
giới hạn trong khoảng 500 – 3000 từ và chỉ có thể hình thành những câu nói 3-4 từ. Về
nhận thức, trẻ trong độ tuổi này chỉ nhận thức trong đầu của trẻ. Điều này có nghĩa là
41
trẻ nhìn nhận mọi thứ dựa vào quan điểm của riêng trẻ. Trẻ cho rằng những gì người
khác nhìn thấy, cảm nhận sẽ giống với cách chúng làm (có nghĩa là chúng làm gì,
chúng cảm nhận như thế nào thì người khác nhìn thấy và cảm nhận giống như trẻ) và
tin rằng người lớn biết hết mọi thứ. Điều này dẫn đến chúng không cần phải giải thích
một cách cụ thể nữa.
Trẻ 18 – 36 tháng bắt đầu có thể xâu chuỗi các kinh nghiệm từ những chi tiết
xung quanh trong trường hợp cụ thể và kết hợp lại để đặt những câu hỏi. Trẻ đang học
để sử dụng trí nhớ và tiếp thu những điều cơ bản của tự lập. Việc nắm vững các hoạt
động với đồ vật và mở rộng giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh tạo
điều kiện cho trẻ phát triển trí tuệ cách mạnh mẽ.
Đặc điểm sự hình thành tiền đề nhân cách ban đầu của trẻ: Giai đoạn này trẻ
chưa thực sự là một nhân cách, nhưng đây là giai đoạn hình thành nên những tiền đề
nhân cách quan trọng như:
− Hình thành cấu tạo tâm lí bên trong - thế giới nội tâm.
− Hình thành sự tự ý thức.
− Hình thành nguyện vọng độc lập và hiện tượng khủng hoảng tâm lý tuổi lên ba.
Một trong những điều này cần chú ý hiện tượng khủng hoảng tâm lí tuổi lên 3,
ảnh hường đến hành vi cũng như thái độ của trẻ đối với cuộc sống, trong đó có các
42
hoạt động dinh dưỡng, sức khỏe.
Tiểu kết chương 1
Thông qua việc thu thập kiến thức, tìm hiểu và phân tích một số nghiên cứu về
vấn đề trên thế giới và ở Việt Nam, luận văn đã hệ thống lại một số khái niệm công cụ
cùng một số vấn đề liên quan đến đề tài. Luận văn trình bày một số nội dung xoay
quanh thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng về hành vi ăn uống, nội
dung hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến
việc hình thành thái độ ăn uống tích cực cũng như một số biện pháp hình thành thái độ
tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng… Luận văn cho rằng: Biện pháp hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập là cách làm tác động lên trẻ trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn
nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về bữa ăn và một số kỹ năng trong ăn
uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh, hình thành nên thái độ ăn uống
tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần tạo nền
tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.
Đồng thời cũng tìm hiểu và phân tích một số nguyên nhân hình thành thái độ ăn
uống không tích cực và tự lập của trẻ, gồm có những nguyên nhân xuất phát từ bản
thân trẻ, từ cách thức tổ chức cũng như môi trường ăn cho trẻ và ảnh hưởng của gia
đình đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Đây sẽ nền tảng
cho việc tìm hiểu thực trạng trong Chương II cũng như đề xuất một số biện pháp cải
thiện tại Chương III.
Cùng việc giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống cũng như tác động của giáo
dục dinh dưỡng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36
tháng… Luận văn cũng nhận thấy việc tổ chức bữa ăn hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập của trẻ vẫn không thể không tách rời với quy định nhu cầu dinh dưỡng
khẩu phần ăn hay phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ 18 – 36 tháng. Đây là
những yếu tố cần và đủ cho việc ứng dụng vào xây dựng biện pháp hình thành thái độ
43
ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ.
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Thông qua tìm hiểu một số vấn đề về cơ sở lý luận, luận văn xây dựng kế hoạch
khảo sát thực trạng như sau:
2.1. Khái quát việc tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.1. Mục đích – Yêu cầu
Luận văn khảo sát thực trạng với mong muốn đi sâu vào thực tế, tìm hiểu và thu
thập những thông tin về các vấn đề liên quan đến thái độ ăn uống tích cực, tự lập cho
trẻ cũng như hiểu biết và biện pháp giáo viên đã thực hiện trong tổ chức bữa ăn hàng
ngày cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non nhằm hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập.
2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ điều tra thực trạng
- Tìm hiểu và đánh giá mức độ hiểu biết của giáo viên về việc tổ chức bữa ăn
hàng ngày cũng như các biện pháp đã sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực và
tự lập cho trẻ.
- Điều tra thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18-36 tháng tại
trường mầm non.
- Tìm hiểu và phân tích nguyên nhân thực trạng.
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1. Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát trẻ kết hợp một số phương pháp khác để
tìm hiểu và đánh giá các biểu hiện tích cực và tự lập của trẻ trong các bữa ăn được xác
thực hơn thông qua bảng quan sát (checklist) - gồm các phần sau:
- Phần 1: Thông tin của trẻ: Họ và tên – Tháng tuổi – Nhóm tuổi – Giới tính.
- Phần 2: Biểu hiện của trẻ. Phần này gồm 2 nhóm biểu hiện riêng biệt:
Nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tích cực.
Nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tự lập.
- Phần 3: Ghi nhận thông tin thêm và hành vi của giáo viên khi cho trẻ ăn.
44
2.1.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này thiết kế nhằm khảo sát và thu nhận thông tin từ cán bộ quản lí,
giáo viên mầm non trên diện rộng. Đây là phương pháp chủ yếu, được thiết kế bao
gồm các câu hỏi thu thập thông tin về cách thức tổ chức bữa ăn, giáo dục dinh dưỡng,
những biện pháp giáo viên đã thực hiện để hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng. Kết quả thu phiếu được đính kèm ở bảng Phụ lục 5.
Bảng hỏi gồm có 2 phần:
- Phần 1: Thông tin chung về khách thể .
- Phần 2: Nội dung câu hỏi.
Phần nội dung của bảng hỏi gồm 10 câu hỏi được thiết kế theo nhiều dạng: Câu
hỏi có một lựa chọn, câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu hỏi mở…
Cấu trúc của bảng hỏi được thiết kế với các phần như sau: (Phụ lục 2)
- Nội dung và cách thức tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường
mầm non.
- Hiểu biết của giáo viên về các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập.
- Nhận định của giáo viên về nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến thái độ ăn
uống không tích cực và tự lập ở trẻ.
- Tìm hiểu một số biện pháp được giáo viên sử dụng khi cho trẻ ăn nhằm hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
2.1.3.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn chuyên gia dinh dưỡng, bác sĩ nhi, cán bộ phòng mầm non, ban giám
hiệu, giáo viên và phụ huynh trẻ để thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá cần thiết liên
quan đến vấn đề. Phương pháp này tiến hành để tìm hiểu sâu hơn và hỗ trợ cho việc
xác thực hơn tính chính xác trong việc trả lời bảng hỏi (Phụ lục 3).
2.1.3.4. Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được và phân
tích các dữ kiện, định lượng số liệu thông qua các thông số: Tần số, điểm trung bình,
độ lệch chuẩn, các kiểm nghiệm thống kê, tỉ lệ %…
2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
45
2.2.1. Thông tin chung về khách thể nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu này, luận văn khảo sát 156 giáo viên (bao gồm cả cán bộ
quản lý). Trong đó, số giáo viên nhóm 18 – 24 tháng có 63 phiếu chiếm 40,4% và 93
phiếu chiếm 59,6 % giáo viên nhóm lớp 25 – 36 tháng. Tỉ lệ này được biểu hiện bằng
28%
Nhóm 25 - 36 tháng
Nhóm 18 - 24 tháng
72%
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.1. Phân bố tỉ lệ giữa giáo viên nhóm lớp 18 – 24 tháng và 25 – 36 tháng
Thống kê cho thấy 100% giáo viên đều là nữ. Trên thực tế, nữ giới có khả năng
làm việc với trẻ tốt hơn nam giới. Đặc biệt hơn khi khảo sát về độ tuổi ta thấy đa số 26
– 35 tuổi (chiếm 46%) – độ tuổi này ngoài xã hội đã lập gia đình và có con, chính vì
thế có nhiều kinh nghiệm hơn về chăm sóc trẻ 18 – 36 tháng. Biểu đồ 2.2 sẽ cho thấy
cụ thể hơn về mức độ phân bố không đồng đều này: Có 1% giáo viên trên 55 tuổi,
15% từ 46 – 55 tuổi và độ tuổi 36 – 45 tuổi và nhiều hơn là độ tuổi 18 – 25 tuổi (chiếm
23%) – Đây cũng là độ tuổi mới ra trường với thâm niên làm việc chưa cao, chủ yếu là
0 – 5 năm kinh nghiệm trong tổng số 58% giáo viên nhóm khảo sát có thâm niên công
1%
0% 0%
15%
23%
18-25 tuổi
15%
26-35 tuổi
36-45 tuổi
46%
46-55 ttuổi
Trên 55 tuổi
tác từ 5 năm trở lại.
46
Biểu đồ 2.2. Khoảng độ tuổi của giáo viên
Còn lại 42% phân bố tương đối cho các độ tuổi khác, nhiều hơn là 18% giáo viên
có thâm niên 6 – 10 năm. Được biết ở một số trường mỗi năm đều sắp xếp lại giáo
viên theo kinh nghiệm, nguyện vọng và nhu cầu hiện tại. Do đó, thâm niên của giáo
viên chỉ là thể hiện chung trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung, không
11%
0-5 năm
18%
11-15 năm
58%
10%
16-20 năm
6-10 năm
Trên 20 năm
3%
phải trẻ 18 – 36 tháng nói riêng. Biểu đồ 2.3 sẽ biểu hiện cụ thể về điều này:
Biểu đồ 2.3. Thâm niên công tác của giáo viên
Khảo sát về trình độ học vấn của giáo viên – Một trong những thông tin quan
trọng để đánh giá mẫu khảo sát – Chúng tôi thấy có 35% giáo viên ở trình độ cao
đẳng, 34% giáo viên trình độ đại học. Cụ thể kết quả thống kê được trình bày ở Biểu
1% 1%
PT 12/12
10%
34%
19%
Trung cấp
Cao đẳng
35%
Đại học
Sau đại học
Khác
đồ 2.4:
47
Biểu đồ 2.4. Trình độ học vấn của giáo viên
Như vậy, ta thấy, có khoảng 70% giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ có trình đồ từ
cao đẳng, đại học trẻ lên. Trình đồ của giáo viên cũng phản ảnh phần nào được chất
lượng chăm sóc – giáo dục trẻ tại địa bảng nghiên cứu. Ngoài những yếu tố trên, sự
phân bố số cô và số trẻ trong một lớp cũng ảnh hưởng nhiều đến toàn bộ quá trình
11%
10%
46%
0-20 trẻ
20-30 trẻ
33%
30-40 trẻ
Trên 40 trẻ
chăm sóc trẻ. Cụ thể số liệu thống kê được biểu hiện quá Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.5. Phân bố số trẻ trong lớp
Biểu đồ 2.5 cho ta thấy: 46% lớp có tổng số trẻ dao động từ 0 – 20 trẻ, 33% dao
động từ 20 – 30 trẻ, còn lại 10% từ 30 – 40 trẻ và 11% trên 40 trẻ/lớp. Theo thống kê
ghi nhận, đa số các trường có khoảng 20 – 30 trẻ/lớp và số giáo viên khoảng 2 – 3
cô/lớp. Vậy trung bình mỗi cô dao động 10 – 15 trẻ/cô. So với những năm trước thì
mức độ phân bố số cô và trẻ có giảm đi, dù vẫn còn ở mức tương đối cao nhưng cũng
là thực tế đáng mừng, bởi tỉ lệ cố và trẻ giảm đi thì chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ
cùng được cải thiện. Giáo viên có thể quan tâm sâu sắc hơn và bao quát trẻ của mình
48
tốt hơn.
3%
6%
12%
1 cô
29%
2 cô
3 cô
50%
4 cô
5 cô
Biểu đồ 2.6. Phân bố số cô trong lớp
Trên đây là một số nhận xét chung về nhóm khảo sát, các yếu tố luận văn đưa ra
đều là những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ, cụ thể
thông qua hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non. Những nội dung này
sẽ cung cấp một số thông tin chung để có cái nhìn tổng quát thực trạng giáo dục mầm
non trong địa bàn nghiên cứu của khóa luận.
2.2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ ăn uống
tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
2.2.2.1. Thực trạng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
Quá trình tìm hiểu ghi nhận 100% các trường khảo sát đều là có chế độ bán trú.
Do đó, đa số trường tổ chức 3 – 4 bữa ăn/ngày. Cụ thể có 54,5% giáo viên tổ chức 3
bữa và 45,5% tổ chức 4 bữa/ngày cho trẻ tại trường.
Bảng 2.1. Tần số bữa ăn của trẻ tại trường
Số lần ăn Tần suất Tỉ lệ %
1 bữa 0 0
2 bữa 0 0
3 bữa 84 54,5
4 bữa 70 45,5
49
Bảng 2.1 được thể hiện cụ thể hơn qua biểu đồ sau:
0% 0%
46%
1 bữa
54%
2 bữa
3 bữa
4 bữa
Biểu đồ 2.7. Tần số cử ăn của trẻ tại trường
Song song với thông kê số lượng bữa ăn được tổ chức cho trẻ tại trường mầm
non, ta thấy hầu hết các trường đều tổ chức hai bữa ăn chính:
- Bữa sáng với các món nước được thay thế luân phiên như: Nui, mì, bún, bánh
ngọt… Dùng kèm sữa tươi.
- Bữa trưa thường dùng: Cơm nát/cơm thường, món mặn, canh và tráng miệng,
tùy theo từng độ tuổi.
Ngoài ra, để bổ sung thêm dưỡng chất cho trẻ, trường mầm non thường tổ chức
thêm bữa phụ/bữa xế. Trao đổi với giáo viên, chúng tôi thấy: Thời gian tổ chức bữa ăn
ở khối nhà trẻ tương đối hợp lí. Giờ ăn sáng của trẻ diễn ra trong khoảng từ 7h – 7h30,
ăn trưa từ 10h – 10h45 do đặc điểm tâm lí của trẻ nhà trẻ mà trường có thể tổ chức cho
trẻ ăn trong khoảng thời gian sớm hơn và ngắn hơn so với trẻ các nhón lớp khác.
Ngoài ra, bữa xế thường từ khoảng 3h chiều sau khi trẻ ngủ trưa và hoạt động chiều
kết thúc. Một số trường có bữa thứ tư thường cho trẻ ăn dặm thêm trái cây, bánh nhẹ,
sữa, nước trái cây vào khoảng 9h sáng mỗi ngày.
Có thể thấy, số lần tổ chức các bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non khá dày. Việc
trẻ có quá nhiều bữa ăn trong ngày có thể sẽ khiến trẻ cảm thấy sợ nhưng để đảm bảo
dưỡng chất thì các trường vẫn phải thực hiện chế độ ăn uống như vậy. Do đó, mục tiêu
50
cụ thể nên làm không phải là cắt giảm khẩu phần ăn cho trẻ mà là làm thế nào để cải
thiện thái độ ăn uống của trẻ, khiến trẻ cảm thấy ăn là nhu cầu chứ không phải là trách
nhiệm. Và đó cũng là tiêu chí của luận văn này.
Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu một số thực phẩm bổ sung cho bé ngoài bữa
chính, luận văn ghi nhận một số kết quả sau (Phụ lục 1):
Bảng 2.2. Thực phẩm bổ sung ngoài các bữa ăn cho trẻ
Thực phẩm Tần số xuất hiện Tỷ lệ %
1 = Sữa 156/156 100%
2 = Nước trái cây 131/156 84%
3 = Bánh mì/ Bánh kẹo chung 30/156 19,2%
4 = Khác 31/156 19,9%
Theo kết quả trên, 100% trường bổ sung thêm sữa và 84% là bổ sung nước trái
cây cho trẻ. Sữa được bổ sung vào hai bữa: sáng (dùng kèm với thức ăn chính) và trưa
(sau khi các bé ăn cơm xong – do phụ huynh gởi vào trường). Ngoài ra, chế độ cho các
bé suy dinh dưỡng, nhẹ cân hay những trẻ thường ăn rất ít vào bữa trưa, giáo viên
thường cho trẻ dùng thêm sữa cho trẻ sau khi ngủ dậy.
Số trường chuẩn bị cho trẻ bánh mì/bánh kẹo nói chung nhưng con số này chiếm
19,2% là tương đối ít. Một số trẻ có thói quen ăn nhiều bữa nhỏ, sẽ có nhu cầu ăn thêm
156
131
31
30
Sữa
Khác
Nước trái cây
Bánh mì/bánh kẹo nói chung
ngoài giờ. Như vậy sẽ mất đi cơ hội cho trẻ ăn khi có nhu cầu.
Biểu đồ 2.8. Tần suất xuất hiện các thực phẩm bổ sung
51
ngoài bữa ăn cho trẻ
Về địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ: 84,9% giáo viên tổ chức giờ ăn trong lớp.
Con số này chiếm đại đa số, nguyên nhân phụ thuộc nhiều vào tình hình cơ sở vật chất
của trường cũng như để cho việc tổ chức và kiểm tra theo từng nhóm lớp… Còn lại tổ
chức cho trẻ ăn ngoài sân (chiếm 12,6%) và trường có phòng ăn riêng cho trẻ (chiếm
22,6%) chiếm tỉ lệ tương đối ít, xuất hiện đa số ở trường quốc tế và trường tư thục có
mức học phí cao. Tần số và tỉ lệ phần trăm được thể hiện thông qua bảng sau:
Bảng 2.3. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ
TT Địa điểm 1 Tần số Tỷ lệ % 135/156 86,5%
2 20/156 12,8%
Trẻ được ăn trong lớp (Không gian tổ chức chung các hoạt động khác) Trẻ được ăn ngoài sân (Bên ngoài lớp học, dưới bóng cây...) Trường có phòng ăn riêng cho trẻ 3 36/156 23,1%
Biểu đồ 2.9 cho thấy được mức độ chênh lệch về địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ.
Trên thực tế có nhiều địa điểm giúp trẻ cảm thấy thoải mái hơn khi ăn với sự bày trí
không gian cách hợp lý có thể tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, giải quyết được
nhiều vấn đề trong tổ chức bữa ăn cho trẻ. Phòng ăn riêng với các tiện nghi, giáo viên
có thể trang trí phù hợp theo từng chủ đề về dinh dưỡng sức khỏe, nhưng nó phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế - cơ sở vật chất của trường. Tuy nhiên, việc tổ chức cho trẻ ăn
ngoài sân thì không khó, vì theo chuẩn thành lập trường hiện nay, hầu hết các trường
đều cần có sân chơi cho trẻ, dù lớn hay nhỏ. Do đó, việc ít tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân
135
36
20
Trẻ được ăn trong lớp Trẻ được ăn ngoài sân Trường có phòng ăn
riêng cho trẻ
chủ yếu là do cách thức tổ chức và nhận định của riêng từng trường.
52
Biểu đồ 2.9. Địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ
Trong số các trường được khảo sát, luận văn thấy đại diện cho mô hình tổ chức
cho trẻ ăn ngoài sân - trường mầm non Hoa Hồng Đỏ – Q.9, trẻ được ăn bên cạnh
những trẻ lớp khác và không khí thoáng mát hơn khi ăn ở trong phòng, nhiều trẻ rất
vui vẻ và thoải mái trong giờ ăn. Giáo viên cũng có không gian rộng hơn để có thể đi
lại và bao quát trẻ.
Hình 2.1: Tổ chức cho trẻ ăn ngoài sân và trong nhà tại trường mầm non Hoa
Hồng Đỏ – Q.9.
Trường hợp ở trường mầm non quốc tế Ngôi Sao Nhỏ ở Q.Bình Tân – Trẻ ăn tại
phòng ăn riêng – Ảnh hưởng bởi mô hình trường mầm non liên kết các bậc học khác
cao hơn. Chính vì thế, trẻ được ăn chung trong nhà ăn theo từng lớp. Đến giờ, giáo
viên cho trẻ đi theo hàng di chuyển về nhà ăn, cùng ăn với trẻ. Bảo mẫu và cấp dưỡng
sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị và giúp đỡ trẻ trong khi ăn. Điều này không lạ ở các
trường quốc tế tại Việt Nam, nhưng lạ đối với các trường công và tư thục. Giáo viên
thường không ăn chung với trẻ để đảm bảo giờ ăn cho trẻ, tuy nhiên, ý kiến chủ quan
của chúng tôi khi quan sát thấy rằng, việc cho trẻ ăn chung với giáo viên như trường
trên cũng có nhiều hiệu quả – Trẻ được ăn chung với giáo viên có thể quan sát và bắt
chước hành vi ăn uống của cô… Vì vậy, khi biết thực trạng này sẽ giúp luận văn có
những hướng gợi ý về địa điểm ăn uống của trẻ cho giáo viên thực hiện. Bởi địa điểm
tổ chức là một trong những nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hình thức tổ chức bữa ăn
53
cho trẻ.
Hình 2.1: Tổ chức cho trẻ tại phòng ăn riêng cùng nhóm trẻ lớn hơn tại trường
mầm non Ngôi Sao Nhỏ – Q.Bình Tân
Về cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ: Bảng 2.4 cho thấy, trường mầm non chủ
yếu cho trẻ ngồi ngay ngắn trên bàn ăn, các hình thức khác rất ít được thực hiện. Cụ
thể: 94,9% giáo viên thường cho trẻ ngồi ngăn ngắn trên bàn – con số chiếm rất cao và
cũng là hình thức khá phổ biến. Chúng ta không thể phủ nhận biện pháp này giúp trẻ
tập trung và ý thức rõ ràng trong giờ ăn. Tuy vậy, nếu thiếu sự thay đổi linh động các
hình thức tổ chức khác dễ khiến trẻ nhàm chán, cảm thấy bị gò bó trong lúc ăn, lâu dài
hình thành thái độ ăn uống thụ động. Tuy hiếm khi giáo viên cho trẻ ngồi trên sàn nhà
(chiếm 1,9%) hay trẻ được chọn nơi mà trẻ muốn ăn (chiếm 3,8%) và tổ chức các bữa
tiệc tự chọn cho trẻ (chiếm 10,9%), đáng lưu ý ở đây, một số ít giáo viên ghi chú đã tổ
chức tại trường của mình nhưng chỉ cho các trẻ độ tuổi lớn hơn. Trao đổi thêm với
giáo viên được biết, nguyên nhân chính do nhà trường chưa có đủ điều kiện để thực
hiện cách đại trà hay do trẻ chưa đáp ứng đủ kỹ năng để tổ chức cho trẻ như trẻ lớp
lớn… Ngoài ra, 10% giáo viên cho trẻ lớp mình ăn chung với khối lớp khác và
0,4%% tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực theo phong trào của trường.
Về mặt bằng chung, các trường có sự linh động và đa dạng các hình thức tổ chức
bữa ăn cho trẻ, nhiều trường đã có sự thay đổi luân phiên 2 – 3 phương pháp với nhau.
54
Tuy nhiên, về mức độ ứng dụng, ta thấy chưa đạt được mức độ hiệu quả cao.
Bảng 2.4. Hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ
TT Hình thức Tần số Tỷ lệ %
1 Ngồi trên bàn ngay ngắn 148/156 94,9%
2 Ngồi bệch dưới sàn nhà 3/156 1,9%
Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn 3 6/156 3,8% (có thể trên bàn hay dưới sàn...)
Tổ chức các bữa ăn cho trẻ tự chọn, tự phục vụ 4 17/156 10,9%
5 Cho trẻ các khối lớp ăn chung với nhau 15/156 10%
6 Tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực 6/156 0,4%
Dưới đây là biểu đồ thể hiện tần số xuất hiện và so sánh tương quan giữa việc
56
9
6
3
2 Ngồi bệch dưới sàn nhà
Ngồi trên bàn ngay ngắn
Cho trẻ các khối lớp ăn chung với nhau
Tổ chức các buổi sinh hoạt ẩm thực
Tổ chức các bữa ăn cho trẻ tự chọn, tự phục vụ
2 Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn (có thể trên bàn hay dưới sàn...)
sử dụng các biện pháp thay đổi hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non:
Biểu đồ 2.10. Hình thức tổ chức cho trẻ ăn
Xét đến đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn hàng ngày, Bảng số liệu 2.5 cho thấy:
Bảng 2.5. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn
Đồ dùng TT Tần số Tỉ lệ %
1 Chén 54/156 34,6%
2 Tô nhỏ 114/156 73,1%
55
3 Muỗng 156/156 100%
Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà 4 0/156 0%
Nĩa 5 2/156 1,3%
Dao 6 0/156 0%
7 Khay ăn 3 /nhiều ngăn 15/156 10%
Hầu hết giáo viên đều cho trẻ dùng muỗng khi ăn (chiếm 100%) cùng với chén
(chiếm 34,6%) và tô nhỏ (chiếm 73,1%). Ngoài ra, giáo viên một số trường còn cho trẻ
dùng nĩa và khay nhiều ngăn. Nhưng không một giáo viên nào cho trẻ ăn bằng khay ở
nhà do phụ huynh mang đến lớp hay dao… Nguyên nhân cụ thể do ngại nguy hiểm
đến trẻ và phụ huynh ít hợp tác. Luận văn nhận thấy nếu thỉnh thoảng trẻ được ăn bằng
đồ dùng của trẻ sử dụng tại nhà cũng tạo nên những tác động tích cực, làm tăng hứng
thú của trẻ đối với bữa ăn cũng như tạo nên sự đa dạng về đồ dùng sử dụng ăn uống
159
114
54
15
0
Chén
Tô nhỏ
2 Nĩa
0 Dao
Muỗng Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà
Khay ăn 3 /nhiều ngăn
cho trẻ nhằm có thể lôi cuốn các trẻ khác.
Biểu đồ 2.11. Đồ dùng sử dụng cho trẻ ăn
Biểu đồ 2.11 cho thấy sự so sánh giữa các đồ dùng được dùng cho trẻ ăn tại
trường. Luận văn cho rằng, lợi ích việc cho trẻ ăn bằng khay ở nhà giúp trẻ cảm thấy
bữa ăn tại trường mầm non trở nên quen thuộc, cải thiện được bầu không khí tâm lí khi
ăn. Trao đổi giáo viên tại một trường mầm non Q.7, cô cho biết phụ huynh thường
quan tâm việc học của trẻ hơn vàcác hoạt động ngoại khoá, đôi khi giáo viên yêu cầu,
56
nhiều phụ huynh từ chối sự hỗ trợ và ít tham gia cùng trẻ.
Không bàn đến khía cạnh phụ huynh, điều luận văn quan tâm là trường mầm non
và giáo viên có thật sự làm tốt công tác tuyên truyền về chăm sóc và giáo dục trẻ, cung
cấp thông tin cần thiết phụ huynh cũng như tranh thủ sự phối hợp và hỗ trợ này. Cụ
thể, khi hỏi về nhân sự tổ chức bữa ăn cho trẻ, kết quả ghi nhận có 75,6 % là giáo viên
trong lớp, 59,6 % bảo mẫu hay cấp dưỡng phụ trách cho ăn. Các nhân tố khác rất ít khi
tham gia vào hoạt động này.
Bảng 2.6. Nhân sự hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường
TT Nhân sự Tần số Tỉ lệ %
118/156 75,6 % 1 Chỉ các giáo viên trong lớp
93/156 59,6 % 2 Bảo mẫu / Cấp dưỡng
5/156 3,2 % 3 Ban giám hiệu
Phụ huynh 2/156 1,3 % 4
Tình nguyện viên 0/156 0 % 5
Trẻ lớp khác 4/156 2,6 % 6
Bảng 2.6 còn cho thấy hiện này không có một trường mầm non nào tiếp nhận
tình nguyện viên vào trường để tham gia các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ cách
thiện nguyện. Đây là một lực lượng sẵn sàng tham gia góp phần vì mục tiêu cộng đồng
hay có thể là những sinh viên đang theo học tại trường sư phạm chuyên ngành Giáo
dục Mầm non, muốn được đi sát với thực tế hơn, nhằm nâng cao vốn hiểu biết của bản
thân về trường mầm non, cũng như hiểu hơn về đặc điểm tâm lí, giao tiếp với trẻ, làm
quen dần với chế độ làm việc tại trường mầm non… Luận văn nhận thấy, việc tiếp
nhận sự hỗ trợ từ xã hội có thể giúp trẻ giao tiếp tốt hơn với người lớn xung quanh, tạo
cho trẻ sự thoái mái, tự tin trong giao tiếp cũng như có được những niềm vui trong ăn
uống… Ngoài ra, hai nhóm đối tượng mà luận văn quan tâm cũng thấy sự đóng góp rất
hạn chế trong việc hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mâm non, đó chính là phụ
huynh và trẻ lớp lớn. Cụ thể có 1,3 % phụ huynh tham gia hỗ trợ tổ chức bữa ăn cho
trẻ tại trường và 2,6% trẻ được ăn chung với trẻ lớp khác theo nhu cầu
Trao đổi với chị Thư (Phụ huynh có trẻ 24 tháng) chị cho biết con chị từ nhỏ đã
57
được tập ăn bóc theo phương pháp ăn dặm bé chỉ huy, do đó bé ăn thô được rất sớm và
không thích thức ăn nhuyễn. Chị trao đổi với trường mầm non để con chị có thể ăn
khẩu phần ăn của các bé lớn hơn. Kết quả trẻ thích thú và ăn được nhiều hơn với sự
điểu chỉnh này. Trường hợp này có thể thấy trường mầm non vẫn có thể có sự điểu
chỉnh sao chi phù hợp với từng cá nhân trẻ. Nếu trẻ ăn nhuyễn, giáo viên có thể gởi trẻ
dùng phần ăn của trẻ nhỏ hơn, hay ngược lại như trường hợp trên. Tuy nhiên, cần cho
trẻ hiểu đây chỉ là sự thay đổi tạm thời để con có thể ăn ngon miệng hơn, không phải
là một sự hình phạt cho sự kén ăn của trẻ.
Thực trạng trên cho ta thấy điều đáng quan tâm là nhân tố phụ huynh – là thành
phần quan tâm trẻ nhất và sẵn sàng giúp đỡ khi có con trẻ của họ có nhu cầu lại có rất
118
93
5
4
Ban giám hiệu
2 Phụ huynh
Trẻ lớp lớn
GV trong lớp Bảo mẫu / Cấp
dưỡng
0 Tình nguyện viên
ít sự hỗ trợ. Vậy vấn đề có thể do đâu?
Biểu đồ 2.12. Nhân sự hỗ trợ giáo viên tổ chức cho trẻ ăn
Tìm hiểu cách thức giáo viên và phụ huynh trao đổi thông tin để làm rõ hơn vấn
58
đề trên:
Bảng 2.7. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh
TT
Cách thức giáo viên trao đổi với PH
Tần số
Tỉ lệ %
Giáo viên của trẻ sẽ phụ trách
134/156
85,9 %
1
Trao đổi trong giờ đón/trả trẻ
98/156
62,8 %
2
Bảng thông tin dinh dưỡng, thực đơn hàng tuần tại
114/156
73,1 %
3
lớp
Phiếu theo dõi trẻ mỗi ngày
7/156
4,5 %
4
Phiếu theo dõi trẻ mỗi tuần
7/156
4,5 %
5
Phiếu theo dõi trẻ mỗi tháng
97/156
62,1 %
6
Trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua điện thoại hoặc
7
0/156
0 %
mạng cộng đồng
Dựa vào bảng 2.7, ta thấy giáo viên đã sử dụng nhiều hình thức liên lạc và trao đổi
thông tin với phụ huynh. Việc trao đổi này phần lớn giáo viên của trẻ sẽ phụ trách – do sỉ
số đông, giáo viên thường chia nhỏ lớp thành nhóm nhỏ hơn tùy theo số lượng, mỗi cô sẽ
chịu trách nhiệm mỗi nhóm. Việc trao đổi với phụ huynh sẽ do giáo viên phụ trách nhóm
có 85,9 % giáo viên nghĩ như vậy và thường trao đổi trong giờ đón/trả trẻ (chiếm 62,8 %),
trao đổi qua bảng thông tin dinh dưỡng và thực đơn hàng tuần tại lớp (chiếm 73,1 %) và
phiếu theo dõi bé hàng tháng (chiếm 62,1 %). Các biện pháp còn lại rất ít khi được sử
dụng.
Giáo viên và phụ huynh có thể linh hoạt trao đổi thông tin với nhau về trẻ thông
qua nhiều cách thức khác nhau cách phụ hợp. Nhiều phụ huynh không thể trao đổi
thông tin với giáo viên trong giờ đón trả trẻ có thể xem qua bảng tin lớp học hay
những cách khác. Luận văn quan tâm đến bảng tin lớp học, vì đa số các trường trong
địa bàn khảo sát đều liên lạc với phụ huynh bằng phiều theo hàng tháng, do đó khó thể
nào cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và kịp thời. Do đó bảng tin là một giải
phải được giáo viên chọn lựa để chuyển nội dung liên lạc đến với phụ huynh.
Hầu hết các nhóm lớp trong địa bàn nghiên cứu đều thực hiện bảng tin này, bảng
tin được treo ở một góc trước lớp học để phụ huynh nào cũng có thể chú ý. Tuy nhiên,
đa số các bảng tin hiện nay về dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ chỉ đơn thuần là một vài
bài báo được giáo viên sưu tầm từ sách tạp chí, từ internet… và thực đơn một tuần của
59
trẻ theo từng bữa ăn… Chúng tôi nhận thấy còn quá sơ sài, nội dung còn chưa được
phong phú do đó chưa thật sự hấp dẫn phụ huynh theo dõi, đặc biệt sự phản hồi của
134
114
98
97
8
7
7
Trao đổi trong giờ đón/trả trẻ
Trao đổi trực tiếp với phụ huynh
Giáo viên nhóm trẻ phụ trách
Phiếu theo dõi trẻ mỗi ngày
Phiếu theo dõi trẻ mỗi tuần
Phiếu theo dõi trẻ mỗi tháng
Bảng thông tin dinh dưỡng, thực đơn hàng tuần tại lớp
phụ huynh về bảng tin với giáo viên là hoàn toàn không có.
Biểu đồ 2.13. Cách thức giáo viên trao đổi với phụ huynh về vấn đề
ăn uống của trẻ
Tổng quát về khách thể nghiên cứu, luận văn nhận thấy việc tổ chức cho trẻ ăn
hình thành tính tích cực và tự lập cho trẻ bắt nguồn từ hiểu biết của giáo viên về vấn
đề này như thế nào. Giáo viên hiểu biết đúng về tinh thần và tầm quan trong của vấn
đề này sẽ có những cách thức tổ chức và biện pháp tác động hợp lí nhằm mang lại hiệu
quả cao hơn trong chăm sóc trẻ tại trường.
2.2.2.2. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực, tự lập của
trẻ 18 – 36 tháng
Trước hết, luận văn đánh giá chung về mức độ hiểu biết của giáo viên về các
biểu hiện thế nào là ăn uống tích cực và tự lập. Thông qua câu hỏi số 8 (Phụ lục 3)
“Theo cô (thầy), biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập là gì?”Đa số giáo viên
đều cho rằng thái độ ăn uống tích cực và tự lập là trẻ vui vẻ khi ăn và tự cầm muỗng
60
xúc ăn. Hiệu trưởng trường mầm non Q.Tân Bình cho biết“Trong không gian thoáng
mát, đối với trẻ 18 – 36 tháng cô tập cho trẻ tự xúc ăn, động viên trẻ ăn hết xuất. cô
không ép trẻ ăn nhanh mà phải ăn trong tâm thế thoải mái, vui, thích và ăn ngon
miệng, ăn hết tiêu chuẩn”. Phát biểu trên mở ra được nhiều khía cạnh của vấn đề, tuy
chưa đi trực tiếp vào khái niệm nhưng đã nêu lên được nhiều biểu hiện thái độ ăn uống
tích cực và tự lập, đồng thời cũng nói lên được những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
giúp trẻ rèn luyện thói quen tốt trong ăn uống – đó chính là môi trường, là chính giáo
viên đang hướng dẫn và giúp đỡ trẻ.
Để có nhận xét cụ thể về mức độ hiểu biết của giáo viên về vấn đề trên, với mỗi
biểu hiện, giáo viên trả lời đúng tương ứng ghi nhận 1 điểm. Cụ thể theo kết quả thống
kê ở Bảng 2.8 ta thấy, số điểm giáo viên đạt được cao nhất là 5 điểm tương ứng với 5 ý
đúng – chỉ chiếm 11,5% còn lại 33,3% khác giáo viên để trống phần câu hỏi này.
Nguyên nhân có thể do khách quan và chủ quan. Luận văn không đủ thông tin ghi
nhận và đưa nhận xét với mức độ chính xác hơn về hiểu biết của giáo viên thông qua
kết quả trả lời câu hỏi này.
Bảng 2.8. Đánh giá hiểu biết của giáo viên
Tần số
Tỉ lệ %
0 điểm
52
32,7
1 điểm
2
1,3
2 điểm
26
16,4
3 điểm
Giá trị
36
22,6
4 điểm
22
13,8
5 điểm
18
11,3
Tổng
156
98,1
Phiếu lỗi
3
1,9
Tổng cộng
159
100,0
Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết, luận văn tiến hành khảo sát sự hiểu biết của giáo
viênbằng cách liệt kê ra các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập, khảo sát hiểu
biết của giáo viên bằng cách trả lời “Đồng ý” hay “Không đồng ý”.
Tương tự như cách thức trên, cứ mỗi câu đồng ý bằng với một đáp án đúng –
tương ứng đạt 1điểm. Tổng điểm tỉ lệ thuận với hiểu biết của giáo viên. Cụ thể kết quả
61
ghi nhận thông qua bảng sau:
Bảng 2.9. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tích cực của trẻ 18
– 36 tháng
Giá trị
4 7 8 9 10 11 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 Tổng cộng Tần số Phần trăm Giá trị % Phần trăm cộng dồn 1,3 5,1 4,5 8,3 0,6 2,6 3,2 3,8 1,9 1,9 7,1 14,1 8,3 5,8 12,2 1,9 14,1 3,2 100.0 1,3 6,4 10,9 19,2 19,9 22,4 25,6 29,5 31,4 33,3 40,4 54,5 62,8 68,6 80,8 82,7 96,8 100,0 1,3 5,1 4,5 8,3 0,6 2,6 3,2 3,8 1,9 1,9 7,1 14,1 8,3 5,8 12,2 1,9 14,1 3,2 100,0 2 8 7 13 1 4 5 6 3 3 11 22 13 9 19 3 22 5 156
Thống kê bảng điểm cho thấy hầu hết giáo viên đều có hiểu biết ít nhiều về thái
độ ăn uống tích cực của trẻ trong độ tuổi 18 – 36 tháng. Cụ thể, ít nhất giáo viên nhận
thức đúng 4 biểu hiện của trẻ (con số này chiếm 1,3%) và cao nhất là 14,1% giáo viên
đáp đúng 19 và 24 biểu hiện. Còn lại rải đều ở các tổng điểm khác. Số giáo viên trả lời
đúng các biểu hiện của trẻ chỉ chiếm 3,2%.
Nếu chia các tổng điểm thành các mức độ:
: Yếu (chiếm 1,3%) - 0 – 5 điểm
- 6 – 10 điểm : Trung bình (chiếm 18,6%)
- 11 – 15 điểm : Trung bình khá (chiếm 10,9%)
- 16 – 20 điểm : Khá (chiếm 51,9 %)
62
- 21 – 25 điểm : Tốt (chiếm 17,2%)
Có thể thấy đa số giáo viên hiểu biết đúng về các biểu hiện của trẻ, 51,9% hiểu
biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Từ 16 đến 25 câu là mức độ khá tốt
có 70%, điều nay cho thấy hiểu biết của giáo viên tuy tương đối cao. Nhiều giáo viên
tuy không trả lời được câu hỏi thế nào là thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ
nhưng khi được liệt kê ra thành những biểu hiện cụ thể, giáo viên vẫn nhận ra được
đâu là những biểu hiệu tích cực và những biểu hiện tự lập. Có thể kết luận, đa số giao
viên đều có những hiểu biết nhất định về những biểu hiện ăn uống của trẻ và những
hiểu biết đó còn nằm ở mức độ rời rạc, chưa được hệ thống lại một cách cụ thể. Hiểu
được điều này, luận văn sẽ bổ sung cơ sở lí luận để giáo viên có thể hiểu rõ hơn về vấn
đề này.
Bên cạnh đó vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong chăm sóc trẻ.
Một số giáo viêncho biết thường quan tâm và dành nhiều thời gian vào tổ chức các
hoạt động cho trẻ, chuẩn bị đồ dùng dạy học, đồ chơi… Nhưng lại ít quan tâm đến
việc tổ chức giờ ăn, do đó thực hiện như một hoạt động cố định, thường nhật, ít có
những thay đổi, đột phá. Hầu hết giáo viên ít khi đầu tư tìm hiểu hay linh động tổ chức
các biện pháp khác nhau để cải thiện bữa ăn cho trẻ. Phần khảo sát các biện pháp giáo
viên đã thực hiện trong tổ chức bữa ăn cho trẻ sẽ được phân tích cụ thể ở các mục bên
Tỉ lệ %
51.90%
18.60%
17.20%
10.90%
1.30% Yếu
Trung Bình
Trung Bình Khá
Khá
Tốt
dưới.
63
Biểu đồ 2.14. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ
ăn uống tích cực của trẻ 18 – 36 tháng
Tương tự như trên, để đánh giá hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tự lập
của trẻ, luận văn cũng liệt kê 15 biểu hiện tính tự lập của trẻ trong ăn uống. Theo kết
quả thống kê, ta thấy có 2,6% giáo viên đạt tối thiểu là 2/15 điểm, 14,1% giáo viên đạt
tối đa 15/15 điểm, chiếm nhiều nhất là 1,79% giáo viên đạt được mức 12 điểm. Kết
quả cụ thể được biểu hiện qua bảng sau:
Bảng 2.10. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng
Tần số Phần trăm Giá trị %
Giá trị
4 1 3 5 7 21 19 28 28 18 22 2,6 0,6 1,9 3,2 4,5 13,5 12,2 17,9 17,9 11,5 14,1 Phần trăm cộng dồn 2,6 3,2 5,1 8,3 12,8 26,3 38,5 56,4 74,4 85,9 100,0 2,6 0,6 1,9 3,2 4,5 13,5 12,2 17,9 17,9 11,5 14,1
156 100,0 100,0 2 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Tổng cộng
Theo bảng 2.10, luận văn chia các tổng điểm thành các mức độ như sau:
: Yếu (chiếm 2,6%) - 0 – 5 điểm
- 6 – 10 điểm : Trung bình khá (chiếm 23,7%)
- 11 – 15 điểm : Tốt (chiếm 76,3%)
Thống kê trên có thấy có 2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu
biết ở mức trung bình khá và nhiếu nhất là 76,3% hiểu biết ở mức độ tốt với các tỉ lệ %
rải đều từ 11 – 15 điểm với các mức độ chênh lệch không cao. Hiểu biết của giáo viên
về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng cao hơn so với hiểu biết các
biểu hiện tích cực. Kết quả này cũng cho thấy về các biểu hiện ăn uống tự lập giáo
64
viên có những hiểu biết cụ thể hơn.
Trung bình khá
Yếu
Tốt
2.6%
23.7%
76.3%
Biểu đồ 2.15. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ
ăn uống tự lập của trẻ 18 – 36 tháng
Kết luận chung: Theo các kết quả thống kê cho thấy, đa số các giáo viên đều hiểu
biết nhất định về các biểu hiện thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng.
Tuy mức độ tương đối cao nhưng kết quả cũng cho thấy biểu biết của giáo viên chỉ là
những hiểu biết riêng lẻ, chưa thống nhất và cụ thể về các biểu hiện ăn uống tích cực
và tự lập. Đồng thời các mức độ thấp hơn khác cũng chiếm một con số không nhỏ, đây
là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề ra một số biện pháp nhằm giúp nâng
cao nhận thức của giáo viên, cả về nhận thức về vấn đề và cách thức để giúp trẻ hình
thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.
Sau khi tìm hiểu các yếu tố về phía giáo viên, luận văn tiến hành tìm hiểu thực
trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng theo từng nhóm tuổi.
Trên cơ sở này rút ra một số kết luận chung về thái độ ăn uống của trẻ, kết hợp với
việc khảo sát các biện pháp giáo viên đã áp dụng đi đến tìm hiểu sâu và phân tích các
nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến đến trẻ.
2.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng tại
trường mầm non
2.3.1. Khái quát về thực trạng
Luận văn tiến hành khảo sát trên 173 trẻ. Trong đó 87 trẻ 18 – 24 tháng và 96 trẻ
25 – 36 tháng nhằm điều tra thực trạng về thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở từng độ
65
tuổi.
Việc điều tra thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36 tháng
được thực hiện tại: trường mầm non Hoa Hồng Đỏ (Q.9), trường mầm non Bồ Câu
Nhỏ (Q.1) và trường mầm non Ngôi Sao Nhỏ (Q.Bình Tân).
Kết quả điều tra thực trạng trên như sau:
2.3.2. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại
trường mầm non
Trong qua trình khảo sát, thông quan phương pháp quan sát, luận văn ghi nhận
những biểu hiện cụ thể trong quá trình ăn uống của trẻ, từ đó tổng hợp thông tin và
đánh giá theo những biểu hiện được đề cập trong Bảng 2.11.
Bảng 2.11. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng tại
trường mầm non
TT BIỀU HIỆN TẦN SỐ TỈ LỆ %
54/87 45/87 74/87 68/87 28/87 62% 51,7% 85,1% 78,2% 32,2%
A Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống 1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn 2 Trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức ăn khác nhau 3 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu 4 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi 5 Không ngậm thức ăn B Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống 6 Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn 42/87 48,3%
7 68/87 78,2% Không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn
59/87 67,8%
8 Không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ C Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn 9 Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc 10 Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế 11 Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn 12 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn 13 Trẻ biết từ chối khi no 16,1% 14/87 67,8% 59/87 10,3% 9/87 18/87 20,7% 38/87 43,67%
Để thấy rõ hơn về kết quả này, luận văn thể hiện kết quả thông kê qua Biểu đồ
66
2.16 đồng thời ghi nhận các kết quả như sau:
Một là trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống: Có 54 trẻ (chiếm 62%) trẻ
biết rửa tay trước khi ăn, 45 trẻ (chiếm 51,7%) trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức
ăn khác nhau, 74 trẻ (chiếm 85,1%) trẻ ăn trong thời gian tương đối, không quá lâu, 68
trẻ (chiếm 78,2%) trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng của lứa tuổi (chiếm 55,2%). Các con số
trên đều đạt được ở mức độ cao, riêng biểu hiện trẻ trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại
thức ăn khác nhau chỉ chiếm 51,7%, còn lại 48,3% trẻ vẫn chưa làm quen được với
chế độ cơm nát ở nhà trẻ. Nguyên nhân do trẻ được ăn thức ăn lỏng và nhuyễn từ nhỏ,
dẫn đến một số trẻ khó nuốt thức ăn thô và một số trường hợp khó nuốt. Trẻ chỉ uống
được sữa và ăn những thức ăn loãng… Tuy nhiên, điều đáng quan tâ, là trẻ không
ngậm thức ăn trong khi ăn chỉ chiếm 32,2%. Con số này tương đối ít và có nghĩa là
67,8 trẻ đang có thói quen ăn ngậm ở độ tuổi này. Qua tìm hiểu nguyên nhân ban đầu,
giáo viên cho biết đa số trẻ ăn ngậm vì trẻ chưa thể tự xúc thức ăn, trẻ thường ngồi đợi
người lớn đút thì mới chịu nhai và ăn, thói quen này từ khi trẻ đến lớp đã có, một số trẻ
cô động viên thì từ từ đã hòa nhập được với các bạn, cô vẫn còn đút phụ trẻ nhưng trẻ
đã tự biết xúc cơm khi ăn. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến trẻ ăn ngậm
Tần số
Tỉ lệ %
85.10%
78.20%
62%
55.20%
51.70%
74
68
54
48
45
Trẻ biết rửa tay trước khi ăn
Không ngậm thức ăn
Thời gian ăn tương đối, không quá lâu
Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi
Trẻ ăn được cơm nát và nhiều loại thức ăn khác nhau
còn do trẻ bị chán ăn…
67
Biểu đồ 2.16. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống
Nhìn chung, phần nhiều trẻ đều có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống. Nguyên
nhân do thời gian quan sát trẻ rơi vào cuối năm học, đa số các trẻ trong lớp đều chủ
yếu từ 20 – 24 tháng tuổi. Trẻ được cô rèn luyện các thói quen và nề nếp tốt trong quá
trình ăn uống. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều trẻ chưa hình thành được điều này, đây là
đối tượng mà phần đề xuất các biện pháp sẽ hướng đến trong Chương 3.
Hai là biểu hiện về thái độ vui vẻ và tích cực trong ăn uống: Dựa vào biểu đồ
2.17, ta thấy trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn chiếm 48,3% (42/87 trẻ), trẻ không có
biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn chiếm 78,2% (68/87 trẻ), trẻ không
có yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ mới chịu ăn chiếm 67,8% (59/87 trẻ). Khảo sát
cũng cho thấy, số đông trẻ có thái độ vui vẻ và tích cực trong khi ăn. Đáng quan tâm ở
chổ biểu hiện của trẻ trong khi ăn, con số này chưa đạt được quá bán. Qua quan sát các
trẻ còn lại cho chúng ta thấy rằng, đa số trẻ đều ăn trong không khí im lặng, bình
thường và nhiều hơn là ngồi thừ ra trong lúc ăn.
Điều này phản ánh thực trạng thái độ vui vẻ và tích cực trong ăn uống của trẻ đã
có nhưng chưa đồng đều. Số lượng trẻ chưa có những biểu hiện tốt trong ăn uống còn
Tần số
Tỉ lệ %
78.20%
67.80%
48.30%
68
59
42
Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn
Không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ
Không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn
nhiều, cần có những biện pháp tác động trẻ một cách hợp lí.
68
Biểu đồ 2.17. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống
Ba là biểu hiện về thái độ tự lập của trẻ trong khi ăn: 16,1% trẻ có thể tự xúc
ăn bằng muỗng và uống nước bằng cốc. Trẻ đã có thể tự uống nước bằng cốc từ 12
tháng, nhưng tự xúc ăn đa số trẻ còn chưa thực hiện được. Trên 2/3 số trẻ trong nhóm
khảo sát chủ yếu do giáo viên/bảo mẫu đút cho trẻ ăn, một số ít tự xúc được vài
muỗng, 67,8% trẻ chủ động vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế. Số còn lại, trẻ thường
hay đợi cô nhắc đến tên, hay cô nắm tay dắt và bàn ăn trẻ mới vào. Đa số trẻ trong độ
tuổi này đều chưa biết cách biểu hiện cho giáo viên biết khi trẻ có nhu cầu ăn, chỉ
10,3% trẻ làm được điều này. Hầu hết trẻ ăn khi đến bữa, trẻ thường ít đòi ăn hay biểu
hiện trẻ đói cho giáo viên biết so với ở nhà. Trao đổi với phụ huynh, trường hợp bé
Phát, bé biết xin mẹ sữa hay thức ăn khi bé có nhu cầu. Nhưng ở lớp thì giáo viên lại
cho rằng bé không có biểu hiện.
Biểu đồ 2.18 thể hiện cụ thể sự tương quan giữa các biểu hiện về thái độ tự lập
Tần số
Tỉ lệ %
67.80%
43.67%
59
38
20.70%
16.10%
18
14
10.30% 9
Trẻ biết từ chối khi no
Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.
Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn
Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn
Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế
của trẻ khi ăn:
Biểu đồ 2.18. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn
Quá trình quan sát trẻ cũng cho thấy, đa số trẻ ít khi biểu hiện có nhu cầu ăn
69
trước khi đến bữa, trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn, chiếm 20,7% – Số trẻ này
đa số ở trường mầm non Bồ Câu Nhỏ – Q.1. Trẻ được ăn theo kiểu tự chọn, trẻ được
ăn bằng muỗng, nĩa hay ăn bốc nếu trẻ muốn. Còn lại, các điểm khác, đa số đều cho
trẻ ăn theo phần ăn chuẩn bị sẵn của trường. Cuối cùng, trẻ biết từ chối khi nó chiếm
43,67% – Con số này không cao. Quá trình quan sát cũng cho thấy, rất nhiều trẻ khi cô
đút ăn, trẻ không muốn dùng thêm vì không thích thức ăn, do mệt hay đã no nhưng
không dám nói hay lắc đầu.
Từ số liệu được phân tích, ta thấy tồn tại một số vấn đề đáng lưu ý về thái độ ăn
uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 24 tháng như: Còn 55% trẻ chưa ăn được cơm nát
và nhiều loại thức ăn khác nhau, 52% trẻ ngậm thức ăn lâu trong khi ăn. Trẻ chưa có
biểu hiện vui vẻ trong khi ăn chiếm 58%. Trẻ yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ chiếm
41%. Trẻ chưa thể tự xúc ăn bằng thìa có 83,9%, 89,7% trẻ chưa biết thể hiện khi có
nhu cầu ăn, 79,3% trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và 56,33% trẻ chưa biết
từ chối khi no. Những tồn tại này rơi nhiều vào nhóm biểu hiện thái độ ăn uống tự lập.
Nguyên nhân chủ yếu do bản thân trẻ còn nhiều hạn chế về vốn kinh nghiệm sống, kỹ
năng - cụ thể là thao tác với đồ vật của trẻ còn yếu… Tuy nhiên, đây là đối tượng mà
luận văn trong chương 3 cần hướng tới.
2.3.3. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại
trường mầm non
Ở độ tuổi 25 – 36 tháng, biểu hiện của trẻ có nhiều khác biệt hơn trẻ lứa tuổi
nhỏ, kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.12. Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25 – 36 tháng tại
trường mầm non
BIỀU HIỆN
TẦN SỐ
TỈ LỆ %
TT
Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn
A
uống
1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn
63/96
65,6%
Trẻ làm quen được với chế độ cơm thường
2
74/96
77,1%
và nhiều loại thức ăn khác nhau
3 Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn
57/96
59,2%
4 Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi
88/96
91,7%
70
5 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu
92/96
95,8%
6 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi
96/96
100%
7 Không ngậm thức ăn
86/96
89,6%
8 Biết chờ đến lượt
86/96
89,6%
Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn
B
uống
Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi
82,3%
9
79/96
tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn
Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi
10
87/96
90,6%
chống đối trong lúc ăn
Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý
11
94/96
97,9%
trẻ
C Trẻ có thái độ tự chủ trong khi ăn
Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng
12
36/96
37,5%
cốc.
Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn
13
87/96
90,6%
đúng tư thế
Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn,
14
94/96
97,9%
ngủ, vệ sinh
15 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn
37/96
38,5%
16 Trẻ biết từ chối khi no
86/96
89,6%
Kết quả khảo sát nội dung trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống được thể
hiện ở Biểu đồ 2.19 như sau: Có 65,6% trẻ biết rửa tay trước khi ăn, 77,1% trẻ làm
quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau, 59,2% trẻ biết lau
mặt, uống nước sau khi ăn, 91,7% trẻ biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi quy định,
95,8% trẻ ăn trong thời gian ăn tương đối, không quá lâu (dưới 30 phút), 100% trẻ ăn
đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi, 59,6% trẻ không ngậm thức ăn lâu và 89,6% trẻ
biết chờ đến lượt. Kết quả trên cho thấy đa số trẻ đều có nề nếp và thói quen tốt trong
71
ăn uống.
Tần số
Tỉ lệ %
100%
95.80%
91.70%
89.60%
89.60%
77.10%
65.60%
59.20%
96
92
88
86
86
74
63
57
Biết chờ đến lượt
Không ngậm thức ăn
Trẻ biết rửa tay trước khi ăn
Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn
Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi
Thời gian ăn tương đối, không quá lâu
Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi
Trẻ làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau
Biểu đồ 2.19. Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống
Về thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống: Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong khi ăn
chiếm 48,3%, trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong khi ăn chiếm
90,6% và 67,8% trẻ không yêu sách hay đòi hỏi giáo viên làm theo yêu cầu của trẻ.
72
Kết quả này cũng cho thấy thái độ vui vẻ và tích cực của trẻ trong khi ăn chưa cao.
Tần số
Tỉ lệ %
97.90%
90.60%
82.30%
94
87
79
Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ
Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống đối trong lúc ăn
Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn
Biểu đồ 2.20. Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống
Về thái độ tự lập trong khi ăn của trẻ: Số trẻ tự xúc ăn bằng muỗng và uống
nước bằng cốc chiếm 37,5% - Con số này cũng rất ít, nhưng so với độ tuổi 18 – 24
tháng thì lứa tuổi này trẻ có thể tự xúc được nhiều hơn, đôi khi chỉ cần giáo viên nhắc
nhở và đút kèm cho trẻ. Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi đúng tư thế chiếm
690,6%. Trẻ biết thể hiện khi có nhu cầu ăn chiếm 90,9%. Trẻ chủ động chọn thức ăn
Tần số
Tỉ lệ %
97.90%
90.60%
89.60%
94
87
86
38.50%
37.50%
37
36
Trẻ biết từ chối khi no
Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.
Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn
Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư thế
Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh
mà trẻ muốn chiếm 38,5%. Trẻ biết từ chối khi no chiếm 89,6%.
73
Biểu đồ 2.21. Trẻ có thái độ tự lập trong khi ăn
Một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 25
– 36 tháng: 22,9% trẻ chưa làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức
ăn khác nhau, 17,7% trẻ chưa vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động
tổ chức bữa ăn, 62,5% trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc, 61,6% trẻ chưa
chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn. Những biểu hiện này cũng tập trung ở nhóm
những biểu hiện tự lập của trẻ. Đây là nhóm đối tượng mà luận văn muốn hướng đến
với mục đích cải thiện. Để có những biện pháp cải thiện hiệu quá, cần suy xét đến
những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực
và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
2.4. Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng
2.4.1. Những nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành
thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng
Khi xem xét, đánh giá một thực trạng, chúng ta cần quan tâm và tìm hiểu
nguyên nhân ảnh hưởng. Nó xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau do đó, khi đánh giá
thực trạng về thái độ ăn uống tích cực của trẻ nhà trẻ chúng ta cần quan tâm các
nguyên nhân từ nhiều hướng: Xuất phát từ bản thân trẻ, do cách tổ chức của giáo viên
hay là do nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ. Kết quả dưới đây thể hiện đánh giá
của giáo viên về nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không tích cực và tự lập của
trẻ:
Bảng 2.13. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ
ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ
TT NGUYÊN NHÂN CHUNG Tần số Tỉ lệ %
1 Nguyên nhân xuất phát từ bản thân trẻ 152 97,4
2 Nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên 73 46,8
3 Nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ 141 90,4
Ta thấy 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không
tích cực và tự lập của trẻ trước hết là do các nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân
74
đứa trẻ. Đề cập đến nguyên nhân này, trẻ nhỏ là một cá thể được nuôi dưỡng và chăm
sóc từ sự phối hợp của gia đình và nhà trường. Nhân cách của trẻ cũng được hình
thành từ sự ảnh hưởng của cả gia đình và nhà trường thông qua các quá trình giáo dục
của người lớn. Điều này đóng vai trò quyết định đến sự hình thành nhân cách của
chính đứa trẻ đó.
Thái độ ăn uống tích cực và tự lập của đứa trẻ phụ thuộc trước hết ở chính mỗi
đứa trẻ. Ở độ tuổi 18 – 36 tháng, trẻ còn có nhiều hạn chế về vốn kinh nghiệm vế thế
giới xung quanh cũng như những hạn chế về kỹ năng, kỹ xảo… Chính vì thế, mọi sinh
hoạt của trẻ phụ thuộc vào khá nhiều ở người lớn, ở nhà là phụ thuộc vào gia đình ,
đến trường phụ thuộc vào các cô, trẻ chưa thể tự phục vụ bản thân trong một số hoạt
động…
Bên cạnh đó, khi trẻ mắc một số bệnh hay gặp có thể ảnh hưởng đến khẩu vị ăn
uống như các bệnh nhiễm khuẩn dễ gây ra chứng biếng ăn như viêm V.A, viêm tai,
viêm đường hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, các bệnh cúm, ho gà...Tiêu chảy,
viêm dạ dày, ruột, viêm gan, các bệnh đường mật, một số bệnh lý toàn thân khác: Còi
xương, thiếu máu, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin… Đặc biệt là những bệnh lý về
đường tiêu hoá – Những bệnh này trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi ăn uống của trẻ. Ví
dụ như trường hợp trẻ bị tiêu chảy do tổn thương niêm mạc ruột – nơi sản xuất ra các
men tiêu hoá và hấp thu thức ăn, khi bị tổn thương men tiêu hoá này bị giảm khiến cho
sự hấp thu thức ăn cũng bị giảm đi, trẻ dễ bị đầy bụng do thức ăn không được hấp thu.
Mặt khác, khi tiêu chảy kéo dài sẽ dẫn đến thiếu các vi chất dinh dưỡng tham gia vào
nhiều quá trình chuyển hoá trong cơ thể, tham gia vào cấu tạo các men xúc tác các
phản ứng hoá học trong cơ thể như: Zn, Cu, Fe... Cũng gây nên tình trạng biếng ăn của
trẻ. Chứng biếng ăn sẽ làm cho thái độ ăn uống tích cực của trẻ giảm đi: Trẻ cảm thấy
không vui vẻ khi ăn, thời gian ăn kéo dài, trẻ kén chọn thức ăn, chỉ ăn được một số loại
thức ăn, ăn rất ít, không muốn thử các thức ăn mới, ít quan tâm tới thức ăn và thường
phá quấy trong giờ ăn, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến các biểu hiện chống đối trong
khi ăn…
Đó là một số nguyên nhân do bệnh lý gây nên, ngoài ra, thái độ ăn uống tích
cực và tự lập của trẻ còn chịu ảnh hưởng bởi thói quen của trẻ hàng ngày ở gia đình.
75
Một số trẻ ở nhà là con một, hay ở những gia đình ít con, phụ huynh thường cưng
chiều và làm thay trẻ, hay chiều theo những ý thích của trẻ, lâu dài hình thành thói
quen ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn, nhất là trong ăn uống. Một số trẻ từ giai đoạn ăn
dặm đến khi bắt đầu gởi vào nhà trẻ, các bé vẫn chỉ ăn cháo xay mà chưa ăn được các
độ đặc hơn cũng như độ thô. Như chị Oanh – phụ huynh bé Mỹ Khanh nói “Con tôi 18
tháng vẫn còn ăn cháo xay, cứ có lơn cợn là bé lại nôn ra hết những gì ăn được. Lúc
cho bé ăn dặm, tôi tập cho bé ăn cháo đặc và lợn cợn thấy bé có vẻ không hợp tác nên
tôi cũng không tập, thành quen bây giờ trẻ không ăn thô được”.Một khía cạnh khác
chị VTNQ – vừa là giáo viên, vừa có con gởi lớp độ tuổi nhà trẻ - cho biết “Một số trẻ
ở nhà thì ăn rất chậm và kén chọn, nhưng đến trường lại ăn rất giỏi. Tôi cũng thấy trẻ
ít tự lập vì một số phụ huynhnuông chiều trẻ quá, bất cứ việc gì của trẻ cũng làm thay,
như mặc quần áo khi đi học, đút ăn sáng, cầm đồ dùng của trẻ thay cho trẻ, tôi nghĩ
chính những điều này làm cho trẻ quen dần tính ỷ lại mà không rèn được tính tự lập từ
sớm”. Và khi được hỏi về thái độ ăn uống của con trai cô ở nhà và ở trường, có cho
biết thêm “Con tôi, ở nhà ăn cũng bình thường, trẻ ăn không nhiều, nhưng không bỏ
bữa. Khi đói, trẻ biết gọi mẹ và xin ăn hay đòi uống sữa. Tôi thấy trẻ ăn ngoan và đủ
lượng là được. Đến trường, các cô cũng khen bé tự lập, so với các bạn cùng nhóm lớp,
con tôi ăn ít hơn nhưng bé có thể tự xúc được từ đầu đến cuối, dù có rơi vãi thức ăn.
Bé hiện 22 tháng tuổi”.Có thể thấy, thói quen ăn uống của trẻ tại nhà rất ảnh hưởng
đến thái độ ăn uống của trẻ tại trường, khi phụ huynh đưa trẻ đến trường, thói quen đó
tiếp tục ảnh hưởng đến biểu hiện ăn uống của trẻ hằng ngày. Chính vì vậy, nhiều giáo
viên cho rằng, chính phụ huynh – gia đình của trẻ cũng là một trong những nhân tố
ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ.
Tiếp tục phỏng vấn và ghi nhận một số ý kiến từ các giáo viên khác, cô NTH
cho hay “Theo tôi, trong việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ
chịu ảnh hưởng nhiều phía, nhất là do chính đứa trẻ và thói quen gia đình trẻ đã tạo
thành cho trẻ. Nguyên nhân chủ yếu không phải do cách tổ chức của giáo viên tại
trường mầm non”. Đồng tình với ý kiến đó, cô HY cũng cho rằng:“Gia đình của trẻ
ảnh hưởng rất lớn đến hình thành thái độ ăn uống của trẻ tại trường mầm non, nhiều
phụ huynh rất nuông chiều trẻ, ở nhà thì cho trẻ ăn không đúng cách, ở trường cô tập
76
cho trẻ ăn thô thì về nhà thấy trẻ ăn chậm, mẹ trẻ hay cho ăn xay nhuyễn, cả ở nhà
phụ huynhtoàn đút trẻ nên khi đi học trẻ toàn ngồi đợi cô đút hay khi được nhắc nhở,
gọi tên trẻ mới xúc ăn”.
Vì vậy theo quan điểm của giáo viên, nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc
hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ chủ yếu là do các yếu tố thuộc chính
bản thân trẻ, sau đó là các yếu tố xuất phát từ gia đình và sau cùng là nguyên nhân do
cách tổ chức của giáo viên tại trường mầm non. Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên
nhân do bản thân đứa trẻ, 90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân,
97.4%
90.4%
46.8%
Do bản thân trẻ
Do cách tổ chức của giáo viên
Do gia đình của trẻ
còn lại 46,8% giáo viên cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên.
Biểu đồ 2.22. Nguyên nhân chung ảnh hưởng không tốt đến
việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ
Theo sự chênh lệch thể hiện qua Biểu đồ 2.22, có thể thấy nhận định của giáo
viên về nguyên nhân thiên nhiều về các yếu tố từ chính bản thân trẻ và từ gia đình, chỉ
46,8% giáo viên cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên tại trường. Điều
này cũng dễ lí giải, vì hiện nay, cách thức tổ chức bữa ăn tại trường, cụ thể về thời
gian, hàm lượng dinh dưỡng, cách thức tổ chức vệ sinh an toàn thực phẩm, bày trí thức
ăn… Của các trường phần lớn được thống nhất và chỉ đạo của cán bộ quản lý. Các
khâu chuẩn bị cho bữa ăn được quy định cụ thể rõ ràng, giáo viên chỉ làm theo và đảm
bảo bao quát trẻ. Nhiều giáo viên cho rằng chế độ cũng như cách tổ chức của mình
đang làm hoàn toàn hợp lí và đó không phải là nguyên nhân ảnh hưởng nhiều đến trẻ.
Cụ thể qua trò chuyện, cô HN đã nói “Tôi thấy hiện tại cách tổ chức của trường lớp
hiện tại là hợp lí, không ảnh hưởng đến thái độ ăn uống của trẻ. Cũng cách thức đó,
77
chúng tôi thực hiện đúng theo chỉ đạo, nhiều trẻ vẫn ăn vui vẻ và ăn hết suất…”
Ngược lại với quan điểm đó, cô BCT cho rằng “Theo tôi, nếu giáo viên thay đổi cách
thức tổ chức bữa ăn thì sẽ tốt hơn. Nhưng điều kiện không cho phép, số trẻ hiện nay
vẫn đông, trong khi một lớp 2 – 3 cô nhiều khi chúng tôi làm không xuể. Cho nên giờ
ăn của trẻ tôi thường làm xong trách nhiệm và rất ít đầu tư như các giờ hoạt động
chung, hoạt động góc…”. Mỗi ý kiến của giáo viên cho thấy mỗi yếu tố khác nhau ảnh
hưởng đến thói quen ăn uống của đứa trẻ, để thấy cụ thể hơn, luận văn tiến hành tìm
hiểu và phân tích một số nguyên nhân cụ thể sau:
2.4.2. Những nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành
thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ
Bảng 2.14. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ
ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ
TT NGUYÊN NHÂN CỤ THỂ Tần số Tỷ lệ %
105 67,3 1
122 142 143 78,2 91,0 91,7 2 3 4
142 91,0 5
119 76,3 6
124 79,5 7
92 59,0 8
93 59,6 9
78 50,0 10
102 90 65,4 57,7 11 12
109 69,9 13
138 88,5 14
78
140 89,7 15 Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối… Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích Trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo Trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống Trẻ thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm, chờ đợi cô Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách Giáo viên hối thúc trẻ ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp giờ Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ mong muốn được khám phá Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm… Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ Trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình Phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số công việc đơn giản: Lách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp.
Từ những nguyên nhân chung ở trên, khi tìm hiểu cách cụ thể hơn từng khía cạnh
một xoay quanh vấn đề. Ta thấy nguyên nhân trước hết ảnh hưởng đến thái độ ăn uống
tích cực và tự lập của trẻ là do trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống,
chiếm 91,7% tổng số giáo viên. Như đã phân tích cụ thể ở trên, một số bệnh liên quan
đến vấn đề ăn uống có ảnh hưởng rất lớn đến biểu hiện cũng như hành vi ăn của trẻ.
Trẻ mệt mỏi cũng giảm đi cảm giác thèm ăn cũng ít đi, trẻ hay ngồi thừ trong khi ăn,
không cảm thấy vui vẻ và ăn uống như cực hình đối với trẻ…
Hai nguyên nhân tiếp theo mà nhóm giáo viên nhận định là do trẻ có thói quen
nhõng nhẽo, mè nheo và thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm, chờ đợi
cô (chiếm 91%). Chính thói quen nhõng nhẽo và mè nheo của trẻ dẫn đến trẻ luôn
mong đợi có người lớn phục vụ mình nên thường ít chủ động trong bữa ăn, không tự
cầm muỗng xúc ăn, chỉ ăn khi được cô nhắc nhở và động viên.
Tiếp theo là hai nguyên nhân do phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số
công việc đơn giản: Xách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp (chiếm 89,7%)
và trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình (chiếm 88,5%)
Nguyên nhân tiếp theo có ảnh hưởng lớn là do giáo viên thường hối thúc trẻ ăn
nhanh hay làm thay cho trẻ cho kịp giờ (chiếm chiếm 79,5%), chính điều này làm cho
trẻ thiếu tự tin trong các thao tác, cơ hội để trẻ trải nghiệm với thực tế ít đi, trẻ dần dần
thiếu tự lập khi tự phục vụ bản thân. Giáo viên thấy trẻ ăn chậm, thời gian không đủ để
chờ đợi trẻ, nên thường cho trẻ ăn cho nhanh để bắt đầu chuyển sang giờ hoạt động
khác.
Một số nguyên nhân khác được thống kê và sắp xếp theo tỉ lệ phần trăm như sau:
− Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích chiếm 78,2 %.
− Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách chiếm 76,3 %.
− Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt,
quá quan trọng cân nặng của trẻ chiếm 69,9 %.
− Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở nắp hộp, cắm ống
hút, lột vỏ chuối… Chiếm 67,3 %.
79
− Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định chiếm 65,4 %.
− Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách khác nhau hay
cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ chiếm 59,6 %.
− Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô chiếm 59 %.
− La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm… Chiếm 57,7 %.
− Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay đổi so với trẻ
mong muốn được khám phá chiếm 50 %.
Khảo sát các nguyên nhân cụ thể cũng cho ta một kết quả thiên về các yếu tố từ
chính bản thân và gia đình của trẻ. Các yếu tố về cách thức tổ chức của giáo viên ngoài
hối thúc và làm thay trẻ còn có chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách, thường ép trẻ
ăn hết suất ăn quy định, thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều cách
khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ hayla mắng, hù dọa trẻ khi trẻ
không ăn, ăn chậm… Và môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không thay
đổi so với trẻ mong muốn được khám phá… Hầu hết các nguyên nhân trên đều có trên
50% sự nhận định của giáo viên, tỉ lệ % cho thấy có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng
tiêu cực đến việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Trong đó, đáng
chú ý là nguyên nhân do áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn
càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ (chiếm 69,9 %), chính vì nguyên
nhân này nên kéo theo việc giáo viên ép trẻ ăn hết suất ăn quy định thay vì cho trẻ lựa
Tần số
Tỉ lệ %
91.00% 91.70% 91.00%
88.50% 89.70%
78.20%
76.30% 79.50%
69.90%
67.30%
65.40%
59.00% 59.60%
57.70%
50.00%
143
142
142
140
138
124
122
119
109
105
102
93
92
90
78
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
chọn ăn theo nhu cầu. Sau đây là biểu đồ so sánh tỉ lệ các nguyên nhân cụ thể:
Biểu đồ 2.23. Nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái
80
độ ăn uống tích cực và tự lập ở trẻ
2.5. Thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non.
Việc khảo sát một số biện pháp giáo viên đã thực hiện để hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ nhằm mục đích tìm hiểu sâu về mức độ áp dụng từ đó
thấy được những biện pháp chưa được đầu tư, để có thể tập trung phân tích và đưa ra
giải pháp cải thiện.
Việc khảo sát được thực hiện thông qua bảng hỏi và sự quan sát thực tế.Thông
tin thu thập được từ bảng hỏi được phân ra làm 2 nhóm: Nhóm những biện pháp chung
và nhóm những biện pháp cụ thể. Kết quả thống kê % về tần số xuất hiệnđược đính
kèm ở Phụ lục 1.
Từ kết quả thu thập đó, luận văn quy số điểm cho từng sự lựa chọn theo quy tắc
sau:
− Chưa bao giờ = 0 điểm
− Hiếm khi = 1 điểm
− Thỉnh thoảng = 2 điểm
− Thường xuyên = 3 điểm
− Luôn luôn = 4 điểm
Với số điểm như vậy, trên tổng mẫu là 156 thì tổng số điểm tối đa một câu hỏi có
thể đạt được sẽ là 156*4 = 624 điểm. Ta có kết quả:
Bảng 2.15. Bảng số điểm và tỉ lệ % tổng điểm các biện pháp đã được sử dụng
hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường
mầm non
Câu Nội dung
81
C11.1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn C11.2 Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm C11.3 Khích lệ trẻ trong khi ăn C11.4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích C11.5 Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau C11.6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu Số điểm 313 259 346 134 271 180 Tỉ lệ % 50% 42% 55% 21% 43% 29%
C11.7 120 19% Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động…
C11.8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định C11.9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn 142 279 23% 45%
C11.10 71 11% Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…
C11.11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc C11.12 Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới C11.13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện 355 294 235 57% 47% 38%
C11.14 275 44%
C11.15 331 53% Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn uống của trẻ tại nhà
C11.16 Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ C11.17 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn 269 95 43% 15%
C11.18 226 36%
C11.19 61 10% Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các hoạt động học tập và vui chơi Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ đang ăn
C11.20 Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ năng tự phục vụ C11.21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn C11.22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn 337 144 144 54% 23% 23%
Luận văn chia nhóm các biện pháp trên thành ba nhóm tùy vào mức độ sử dụng
của giáo viên như sau:
Nhóm các biện pháp được trên50 % giáo viên sử dụng: Nhìn vào bảng số liệu,
ta thấy biện pháp khen ngợi và khích lệ trẻ khi cho trẻ ăn được giáo viên sử dụng nhiều
nhất. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cho trẻ tự xúc khi ăn được khá nhiều giáo viên sử
dụng khi tổ chức cho trẻ ăn tại trường. Sau đó đến trao đổi với phụ huynh về sở thích
cũng như thói quen ăn uống của trẻ tại trường mầm non. Điều này cho thấy giáo viên
thấy được tầm quan trọng của phụ huynh trẻ và sự phối hợp giữa trường mầm non và
gia đình trong chăm sóc và giáo dục trẻ.
Nhóm các biện pháp được từ 25 – 50% giáo viên sử dụng. Nhìn vào tỉ lệ phần
trăm các biện pháp giáo viên có thể thấy đây là nhóm biện pháp thường xuyên được
ứng dụng. Cụ thể từng biện pháp như sau:
82
- Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới, chiếm 47%.
- Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn, chiếm 45%.
- Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động
khác nhau, chiếm 44%.
- Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau, chiếm 43%.
- Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ, chiếm 43%.
- Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm, chiếm 42%.
- Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện, chiếm 38%.
- Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các hoạt động học tập
và vui chơi, chiếm 36%.
- Cho trẻ ăn theo nhu cầu, chiếm 26%.
Nhiều giáo viên cho rằng có sử dụng biện pháp tập cho trẻ làm quen nhiều loại
thực phẩm mới nhưng trên thực tế quan sát cho thấy, vì quan điểm an toàn và tâm lí
ngại thay đổi khi sử dụng nguyên vật liệu mới cho trẻ. Đa số các trường đều chọn cách
sử dụng các nguyên liệu lành tính, quen thuộc đối với trẻ hơn… Điều đặc biệt mà
chúng ta có thể thấy là ở trường mầm non, thực đơn thường xoanh quanh các loại thịt
heo, thịt gà, thịt bò, trứng… Còn lại thịt vịt hay cá ít khi thấy xuất hiện trong bảng
thực đơn.
Bên cạnh 26% giáo viên tôn trọng nhu cầu ăn uống của trẻ thì vẫn còn nhiều giáo
viên ép trẻ ăn hết suất, cụ thể chỉ có 23% giáo viên không dùng biện pháp này đối với
trẻ. Con số này quá ít, cho thấy vẫn còn nhiều trường cho trẻ ăn theo suất, đánh đồng
mọi trẻ như nhau. Do đó, trước hết muốn thay đổi nhận thức cộng đồng, bản thân giáo
viên cần là người hiểu trẻ và tôn trọng trẻ trước.
Cuối cùng, nhóm các biện pháp được ít giáo viên sử dụng, cụ thể như sau:
- Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định, chiếm 23%.
- Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn, chiếm 23%.
- Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn, chiếm 23%.
- Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích, chiếm 21%.
- Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động… Chiếm
19%.
83
- Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn, chiếm 15%.
- Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn
nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…Chiếm 11%.
- Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ đang ăn, chiếm
400
57%
350
55%
54%
53%
50%
300
47%
45%
44%
43%
43%
42%
250
38%
36%
200
29%
355
346
337
331
313
150
294
23% 23%
23%
279
275
271
269
21%
259
19%
235
226
100
15%
180
144 144
11%
142
134
10%
120
50
95
71
61
0
Điểm
Tỉ lệ %
10%.
Biểu đồ 2.24. Các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực
và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
Nhìn chung, về mức độ hiểu biết, luận văn đánh giá giáo viên đã có nhận thức về
nhiều biện pháp có thể ứng dụng khi tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non. Tuy
nhiên, về mức độ ứng dụng chưa rộng, tỉ lệ phần phần phản ảnh được điều này không
cao. Tìm hiều về nguyên nhân, một cán bộ quan lí cho biết, những biểu hiện trên hầu
hết là những biểu hiện đã được nhà trường chỉ đạo và tập huấn cho các cô. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện, các cô có làm, nhưng làm ở mức độ trung bình khá, chưa
toát lên hết được nội dung của biện pháp. Nguyên nhân có thể do các cô thấy điều đó
84
chưa cần thiết, trẻ chưa đủ kinh nghiệm để lĩnh hội những điều cô trao đổi với trẻ như
việc giới thiệu thực đơn và cung cấp kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ trước mỗi bữa
ăn… Ở lứa tuổi này, trẻ chưa sử dùng được từ nhiều, do đó, giáo viên không thấy được
kết quả trong các hoạt động nên dần dần bỏ qua. Nhà trường cũng thường xuyên có
nhiều biện pháp để giúp đỡ thêm cho các cô. Hiểu được thực trạng này, luận văn có
thể tìm hiểu thêm và đề xuất những biện pháp thiết thực có thể giúp các cô có thêm
công cụ tổ chức hoạt động ăn uống cho trẻ tại trường mầm non.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 nêu lên cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua những phương pháp khảo
sát, thống kê và đánh giá. Quá trình điều ra thực trạng cho thấy một số nội dung chính
như sau:
Thứ nhất, kết quả thông kê chung về địa bàn nghiên cứu: 100% giáo viên đều là
nữ, 46% trong số đó ở độ tuổi 26 – 35 tuổi. Thâm niên công tác của giáo viên 58% từ
0 – 5 năm. Trình độ học vấn đa số là cao đẳng và đại học. Trung bình số cô và số trẻ
dao đông 10 – 15 trẻ/cô.
Thứ hai, điều tra về thực trạng hiểu biết của giáo viên về việc hình thành thái độ
ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non, với các nội dung
chính:
Về thực trạng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non, luận văn
rút ra một số nhận định sau: Đa số các trường mầm non đều tổ chức từ 3-4 bữa ăn tại
trường. Sữa là thực phẩm được hầu hết các trường dùng để bổ sung bên cạnh các bữa
chính,84.9% giáo viên tổ chức giờ ăn trong lớp, 93,1% giáo viên thường cho trẻ ngồi
ngăn ngắn trên bàn. Hầu hết giáo viên đều cho trẻ dùng muỗng khi ăn (chiếm 100%)
cùng với chén (chiếm 34%) và tô nhỏ (chiếm 71,7%). Giáo viên và bảo mẫu là hai
nhân sự chính tổ chức hoạt động ăn uống cho trẻ. Ngoài ra, để phối hợp chăm sóc trẻ
với phụ huynh, đa số trường đều trao đổi qua bảng thông tin dinh dưỡng– Thực đơn
hàng tuần tại lớp và phiếu theo dõi bé hàng tháng.
Hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36
tháng có 51,9% hiểu biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Hiểu biết của
85
giáo viên tuy tương đối cao, nhưng vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong
chăm sóc trẻ. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 –
36 tháng có2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu biết ở mức trung
bình khá và nhiếu nhất là 76,3%. Đây là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề
ra một số biện pháp nhắm giúp nâng cao nhận thức của giáo viên để giúp trẻ hình
thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.
Thứ ba, thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng của trẻ tại
trường mầm non, luận văn nhận thấy vẫn còn một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý:
Nhóm trẻ 18 – 24 tháng: Còn 55% trẻ chưa ăn được cơm nát và nhiều loại thức
ăn khác nhau, 52% trẻ ngậm thức ăn lâu trong khi ăn. Trẻ chưa có biểu hiện vui vẻ
trong khi ăn chiếm 58%. Trẻ yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ chiếm 41%. Trẻ chưa
thể tự xúc ăn bằng thìa có 83,9%, 89,7% trẻ chưa biết thể hiện khi có nhu cầu ăn, 79,3%
trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và 56,33% trẻ chưa biết từ chối khi no.
Nhóm trẻ 25 – 36 tháng: 22,9% trẻ chưa làm quen được với chế độ cơm thường
và nhiều loại thức ăn khác nhau, 17,7% trẻ chưa vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi
tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn, 62,5% trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng
cốc, 61,6% trẻ chưa chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn.
Thứ tư, nguyên nhân ảnh hưởng việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng: Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân do bản thân đứa
trẻ, 90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân, còn lại 46,8% giáo viên
cho rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên. Luận văn cũng điều tra từng
nguyên nhân cụ thể trong những nguyên nhân chung trên để hiểu sâu hơn nhằm tìm ra
các biện pháp tác động đúng và hiệu quả.
Cuối cùng là thực trạng sử dụng các biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích
cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non. Thông qua phần tìm hiểu thực
tiễn này, luận văn cũng có cái nhìn chung về các biện pháp giáo viên đã và đang sử
dụng để tạo lập thói quen tốt trong ăn uống của trẻ, bên cạnh đó, luận văn nhận thấy
rằng các biện pháp giáo viên ứng dụng chưa thật phong phú và chưa áp dụng hết mức
để có thể đem lại những hiệu quả cao trong giáo dục cho trẻ. Đây là cơ hội để luận văn
có thể hệ thống lại và chi tiết hóa một số biện pháp, cũng như đề xuất những biện pháp
86
mới trong chương tiếp theo.
Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ ĂN
UỐNG TÍCH CỰC VÀ TỰ LẬP CHO TRẺ
3.1. Xây dựng một số biện pháphình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho
trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
Vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non không phải là một vấn đề mới
mẻ. Tại trường mầm non và các cơ sở chăm sóc trẻ, việc tiếp cận và đề xuất các biện
pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cần chú ý đảm bảo một số yêu cầu
sau:
− Các biện pháp không tách rời hoạt động tổ chức bữa ăn và xuất phát từ hành vi
chăm sóc trẻ mầm non.
− Các biện pháp đề xuất chung cho độ tuổi nhà trẻ (18 – 36 tháng). Trong từng
trường hợp cụ thể và phụ thuộc vào tình hình chung mỗi trường mà có sự cải biên, cải
tiến hay cụ thể hóa sao cho phù hợp với tình hình thực tế.
− Công tác chăm sóc và giáo dục trẻ là tổ hợp cần có sự liên phối giữa nhà
trường và gia đình. Do đó, trong một số nhóm biện pháp đều có những yêu cầu cũng
như cách thức thực hiện dành cho phía nhà trường và cả giáo viên.
Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng các nhóm biện pháp hình thành thái độ ăn
uống tích cực và tự lập cho trẻ dựa trên các mối quan hệ của trẻ với các đối tượng. Cụ
thể như sau:
− Nhóm biện pháp tác động trẻ.
− Nhóm biện pháp tác động môi trường giáo dục mầm non: Nhà trường, giáo
viên, bảo mẫu/cấp dưỡng…
− Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình và phụ huynh trẻ.
3.1.1. Nhóm biện pháp tác động lên trẻ
Nhóm biện pháp này cần một số yêu cầu sau:
• Về phía cơ sở giáo dục:
Các cơ sở giáo dục cần nắm tình hình chung của cơ sở: Trình độ nhận thức, hiểu
biết của giáo viên và cán bộ cấp dưỡng, quan sát kịp thời có những điều chỉnh các hoạt
87
động tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ…
• Về phía giáo viên mầm non:
− Giáo viên mầm non cần có hiểu biết kiến thức cơ bản về sức khoẻ dinh dưỡng
của trẻ theo từng giai đoạn, từng độ tuổi nhất định.
− Giáo viên mầm non cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cụ thể là nhà bếp và
bộ phận cấp dưỡng để nắm được các loại thực phẩm và cách chế biến món ăn để giúp
ích cho việc trò chuyện với trẻ.
− Giáo viên mầm non cần nắm được sở thích cũng như điểm đặc biệt trong thói
quen ăn uống của từng cá nhân trẻ: Trẻ thích ăn gì, các loại thức ăn mà trẻ dị ứng...
Cũng như những kỹ năng của trẻ để giao nhiệm vụ phù hợp với trẻ.
− Thường xuyên trao đổi với phụ huynh để biết thêm thông tin về tình hình sức
khoẻ và dinh dưỡng của trẻ.
3.1.1.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua
giáo dục dinh dưỡng
Thông qua các hoạt động hàng ngày, giáo viên cần tạo cho trẻ cơ hội để trẻ bày
tỏ sở thích ăn uống của trẻ, ghi nhận và cùng lên thực đơn với bộ phận cấp dưỡng, có
thể bằng một số cách như sau:
− Quan sát và trò chuyện với trẻ trong giờ ăn, giờ chơi và cụ thể trong từng bữa
ăn. Giáo viên nên có sự ghi chép nếu thấy trẻ có biểu hiện thích thú với các món trẻ
được ăn, để có thể ghi nhận mức độ hứng thú của trẻ với thức ăn và thay đổi nếu thực
đơn không được sự đón nhận của nhiều trẻ trong lớp.
− Tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều loại nguyên liệu, nhiều loại thực phẩm
khác nhau bằng nhiều cách như thông qua các hoạt động có chủ đích, hoạt động với đồ
vậy, hoạt động ngoài trời…
− Cung cấp thông tin về nguồn dinh dưỡng của từng loại cho bé. Giáo viên có thể
giới thiệu về món ăn cũng như thành phần dinh dưỡng, lợi ích của thực phẩm trước các
bữa ăn.
− Tạo cơ hội cho trẻ biểu hiện sở thích món ăn. Ví dụ: Con thích ăn bánh mì,
chiên lên… Con thích ăn cà rốt, mẹ luộc mềm… Giáo viên có thể hỏi “Ở nhà con hay
88
ăn gì? Con thích ăn gì nhất?...”
Hình 3.1. Một số hình ảnh tại “Phiên chợ Ánh Dương”
Trường mầm non Ánh Dương – Quận 3 – Tp. HCM.
Nguồn: Website của trường
Ngoài ra, có thể sử dụng một số điều kiện có sẵn của trường để tổ chức một số
hoạt động cho trẻ tích hợp với giáo dục trẻ các nội dung khác như tổ chức các buổi
ngoại khóa tham quan vườn rau, chế biến một số món đơn giản, sinh hoạt ẩm thực theo
mùa để trẻ được giao lưu ẩm thực giữa các lớp, sự có mặt của phụ huynh trong những
89
ngày này cũng ảnh hưởng rất tốt đến trẻ. Hay tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm
thực tế với các hoạt động tham quan vườn rau, tham quan nhà bếp trường của
trường…
Hình 3.2. Hoạt động tham quan vườn rau sạch tại Hóc Môn
Trường mầm non Quận Phú Nhuận – Tp. HCM.
Nguồn: Giáo viên của trường cung cấp
Mặt khác, giáo viên có thể tổ chức cho trẻ những buổi học tích hợp hay những
buổi thực hành kỹ năng về các chủ đề về dinh dưỡng và thực phẩm, qua đó trẻ có thể
tự tay chọn những loại thực phẩm mà trẻ muốn, chế biến thức ăn theo cách trẻ thích,
trang trí đẹp mắt và thưởng thức thành quả của mình làm ra. Trẻ sẽ được làm quen với
việc chế biến thức ăn, cảm thấy quen thuộc với các loại thực phẩm, giúp cho “khoảng
cách” giữa trẻ và thực phẩm trở nên thân thuộc hơn. Cũng qua những hoạt động này,
giáo viên sẽ biết được sở thích ăn uống của từng trẻ.
− Do đặc điểm phát triển của trẻ 18 – 36 tháng còn hạn chế ở một số mặt, nên
việc cho trẻ thực hành chế biến thức ăn không phải đơn giản. Tuy nhiên, giáo viên có
thể thực hiện ở mức độ thấp, phù hợp với lứa tuổi. Có thể cho bé làm bánh mì - bằng
cách nhào bột và nắn ổ bánh mà trẻ muốn, sau đó nhờ các cô nhà bếp nướng cho trẻ
ăn. Cùng với việc kết hợp các loại bơ, mứt… Cho trẻ quét lên bánh sẽ tạo nhiều hứng
thú cho trẻ trong ăn uống. Trẻ được làm quen một số món ăn đơn giản và được thưởng
90
thức những món ăn trực tiếp chúng làm ra…
Hình 3.3. Hoạt động làm kẹo dẻo
Trường mầm non Khải Tâm – Tp. HCM.
Nguồn: Website của trường
Ngoài ra, giáo viên có thể tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông
qua việc trao đổi với phụ huynh bằng cách gởi thực đơn hàng tuần của trường đến phụ
huynh và ghi nhận ý kiển phản hồi. Đây là phương pháp được một số trường mầm non
tại Nhật thực hiện. Bằng cách dùng những tài liệu về thực đơn, trường mầm non gởi
cho một phụ huynh nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ. Tài liệu này được gởi
đến cho phụ huynh với mong muốn nhận được phản hồi của phụ huynh về thực đơn
mà trẻ sẽ được dùng trong 2 tuần tới. Tài liệu chỉ ra cụ thể các nguyên liệu được dùng
được chế biến theo nhiều cách khác nhau, sau đó, phụ huynh có thể chọn món thích
hợp với con mình hay có thể gợi ý những món khác không có trong thực đơn vì lí do
con của họ dị ứng hay không thích loại thực phẩm đó. Hình 3.4. là tài liệu một phụ
huynh bên Nhật nhận được hàng tháng, tài liệu thể hiện rất cụ thể các thực phẩm sẽ
được chọn lựa để nấu cho trẻ trong thời gian sắp tới, đồng thời đưa ra một số món dự
kiến sẽ nấu từ nguyên liệu đó cho phụ huynh tham khảo.
Trường mầm non sẽ ghi nhận những ý kiến của phụ huynh để bổ sung vào thực
đơn của nhóm trẻ một cách hợp lý hơn. Ngoài ra, để làm tăng thêm hứng thú của trẻ,
hàng ngày đa số trường mầm non thường cho các trẻ biết trước món mà chúng sẽ được
ăn trong bữa trưa, bằng cách bày trí các món ăn một cách hấp dẫn và đặt ở nơi dễ gây
91
sự chú ý của trẻ. Phụ huynh khi đưa trẻ đến trường cũng thường cho trẻ xem các món
mà chúng sẽ ăn trong ngày, đồng thời trò chuyện thêm với trẻ về các món ăn cũng như
bồi dưỡng thêm hành vi ăn uống tốt cho trẻ.
Hình 3.4. Tài liệu thực đơn trường mầm non Nhật Bản đã gởi cho một phụ huynh
nhằm tìm hiểu về sở thích ăn uống của trẻ.
Nguồn: Một phụ huynh sống tại Nhật cung cấp
3.1.1.2. Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với những
kĩ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống.
92
* Mục đích:
Trẻ lên 2 đã xuất hiện ý thức tự lập, trẻ mong muốn được tự tay mình thực hiện
các thao tác… Nắm được đặc điểm tâm lý này, giáo viên và phụ huynh nên cho trẻ có
thời gian, cơ hội và nhẫn nại với trẻ. Có thể trẻ sẽ làm rơi, hỏng đồ dùng, bừa bộn khi
mong muốn được thực hiện những kỹ năng và thao tác còn chưa thành thạo nhưng đó
chính là những cơ hội có thể giúp trẻ tự lập.
Việc hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ và tự lập có vai trò rất quan trong
trong đời sống hàng ngày cũng như sự phát triển tâm sinh lí của trẻ. Trẻ tự lập sẽ tự tin
hơn trong cuộc sống. Trẻ ý thức được trẻ cần gì và cần làm gì để đáp ứng nhu cầu đó.
Một lớp học có nhiều trẻ tự lập, giáo viên cũng nhẹ nhàng hơn trong mọi việc.
Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng có thể giành cho trẻ thời gian và sự
kiên nhẫn để có thể hình thành cho trẻ ngay từ đâu. Khi ở nhà, trẻ được phụ huynh
nuông chiều, nhiều phụ huynh thường hay làm thay trẻ vì nghĩ trẻ còn nhỏ chưa biết
nhiều, ngại cho trẻ thử nghiệm vì sợ nguy hiểm… Đến lớp, với sỉ số đông, giáo viên
lại ngại cho trẻ tự thực hiện vì ngại thời gian, đợi trẻ này thì chậm các trẻ khác. Do đó,
thay vì cho trẻ tự xúc ăn từng muỗng, chờ đợi trẻ ăn chậm nhưng ăn hết phần ăn của
mình… Giáo viên thường làm thay trẻ để nhanh xong công việc mà không bị cháy
giáo án. Do đó, khi suy nghĩ đề xuất biện pháp giúp trẻ tự lập và ăn uống tích cực,
chúng tôi nghĩ việc tập cho trẻ những kỹ năng và thói quen tốt trong ăn uống có thể
giúp trẻ tự tin hơn trong ăn uống, trẻ có thể chủ động làm những điều mà trẻ thích hơn.
Với mục đích giúp trẻ thành thục một số kỹ năng cần thiết đơn giản và phù hợp
với từng độ tuổi của trẻ, một số kỹ năng tự phục vụ sẽ giúp trẻ tự tin trong quá trình ăn
uống. Trẻ sẽ chủ động lấy muỗng xúc ăn nếu chúng đã từng làm qua hay làm thành
thục điều đó, có thể ăn nhanh chóng món bánh plan mà chúng thích nếu chúng biết
cách mở nhanh hộp thức ăn của chúng.
Giáo viên có thể trang bị cho trẻ một số kỹ năng cần thiết, giúp trẻ biết cách: Mở
nắp hộp, giờ nào việc đó, giúp cho trẻ sớm làm quen với khung giờ các hoạt động, cắm
ống hút bình sữa, ngồi bàn ăn ngay ngắn, cầm muỗng đúng cách, vệ sinh cá nhân
chuẩn bị trước giờ ăn: Lau mặt, rửa tay, chủ động ngồi vào bàn ăn… Nhận biết thức ăn
và lợi ích của từng loại thức ăn, dạy trẻ biết nói “Có, xin vui lòng…” và “Không, cảm
93
ơn cô/bạn”, Đồng thời, giáo dục trẻ một số thói quen ăn uống vệ sinh và văn minh:
Không chen lấn khi lấy thức ăn, biết nhường nhịn và chia sẽ sở thích chung với các
bạn, ăn uống không rơi vãi, biết dùng khăn lau miệng thay vì chùi lên áo, dùng tay
quẹt… Tập cho trẻ nhận biết và làm quen với nhiều loại thực phẩm mới.
* Yêu cầu - Cách thực hiện:
Giáo viên cần nắm đặc điểm tâm sinh lý theo từng giai đoạn, từng lứa tuổi của trẻ
để lựa chọn nội dung, cách thức hình thành các kỹ năng sử dụng đồ dùng cơ bản cho
trẻ. Có những tác động kịp thời để hình thành từng bước cho trẻ, thường xuyên quan
sát, động viên nhắc nhở trẻ tự thực hiện các nhu cầu của bản thân. Với các trẻ đã thành
thục, giáo viên có thể yêu cầu trẻ giúp đỡ những trẻ chậm hơn. Trong suốt quá trình ăn
giáo viên cần cho trẻ thời gian kèm theo những lời động viên, vẻ mặt tươi cười, nhắc
nhở trẻ xúc ăn.
Giáo viên có thể hình thành và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ trong những giờ
hoạt động chung (hoạt động cùng nhau của trẻ với người lớn) hoạt động độc lập của
trẻ trong môi trường vật chất mang tính phát triển, hoặc trong các hoạt động giáo dục
trực tiếp (hoạt động với cá nhân trẻ, với nhóm trẻ, với cả lớp).
Về phía trường mầm non, cán bộ quản lí cần tạo cơ hội khuyến khích cô giáo cho
trẻ được hoạt động độc lập trong bữa ăn bằng cách. Không đặt nặng vấn đề cho trẻ ăn
hết suất quy định mà ăn theo nhu cầu, theo khả năng. Cần phối hợp và tuyên truyền
với phụ huynh nắm được tầm quan trọng của sự phát triển thể chất (chiều cao và cân
nặng) nhưng không quá nặng nề vào các chỉ số, quan trong là trẻ có tăng trưởng và
linh động tham gia các hoạt động hàng ngày.
3.1.1.3. Biện pháp 3: Một số cách chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn
Để giờ ăn đến với trẻ như một giờ chơi, nếu như giờ hoạt động có chủ đích giáo
viên luôn tìm mọi cách gây hứng thú, gợi mở và lôi kéo trẻ tò mò mong muốn được
tham gia, khám phá… Thì giờ ăn cũng không ngoại lệ. Giáo viên cũng cần sự mời gọi
và lôi cuốn trẻ vào các món ăn, vào thời gian ăn để trẻ có thể bày tỏ mong muốn hay
không mong muốn trước giờ ăn. Nếu trẻ đã sẵn sàng, giáo viên có lợi thế khi tổ chức
bữa ăn cho trẻ, nếu trẻ chưa sẵn sàng, các trò chơi hay một câu chuyện ngắn sẽ giúp
ích và làm cho giờ ăn của trẻ bắt đầu một cách nhẹ nhàng và hơn nữa, đôi khi là một
94
hiệu lệnh có ích đối với một số trẻ. Cũng có một số trẻ khi bị ốm, thường ngồi thừ ra,
biểu hiện không chờ đợi khi đến giờ ăn, giáo viên không quan tâm đến biểu hiện của
trẻ, vẫn ép ăn trong trạng thái trẻ không hợp tác sẽ có thể dẫn đến mốt số trường hợp
trẻ nôn ọe, sợ giờ ăn vào những lần sau…
Giáo viên có thể chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng trước bữa ăn bằng những cách
sau:
• Hiệu lệnh để trẻ xác định đã đến giờ ăn, các hoạt động khác có thể tiếp tục vào
buổi chiều sau khi trẻ thức dậy. Hiệu lệnh có thể là tiếng chuông, ngưng nhạc, lời nói
của cô hay là một bài thơđể tất cả các trẻ cùng đọc lớn như “Giờ chơi” (Phụ lục 7)
Hoặc có thể hát biến thể lời bài hát “Kìa con bướm vàng” như:
Giờ ăn đến rồi!
Giờ ăn đến rồi, giờ ăn đến rồi
Nào bạn ơi, nào bạn ơi
Mau rửa tay xong vô bàn
Mau rửa tay xong vô bàn
Ta cùng ăn, ta cùng ăn.
• Tạo cơ hội cho trẻ tham gia bày bàn ăn cùng cô. Chẳng hạn như phụ cô bày
bàn ăn, xếp nỉa ra dĩa, bày bình hoa, lấy hộp khăn giấy… Tùy theo khả năng của trẻ có
thể.
• Một số bài thơ trẻ có thể đọc trong lúc vệ sinh cá nhân, vừa nhắc nhở trẻ các
thao tác, vừa giúp trẻ tập trung vào “nhiệm vụ” cũng như giảm tiếng ồn trong lúc
chuẩn bị giờ ăn như “Rửa tay”…
Hay với bài đồng dao “Trò chơi giã gạo”, trẻ vừa làm động tác giã gạo vừa đọc.
Hoặc có thể cô đọc cho trẻ làm theo các động tác đã quy định:
Giã gạo (tay bé làm đông tác giã) thổi cơm trưa (hai tay che miệng thổi)
Còn thừa để đến tối (hai tay vỗ nhẹ vào đùi)
Ai đến vay thì nói dối (hay tay vỗ chéo vào vai)
Hết gạo rồi chống cối lên (hai tay dơ cao lên phía trên)
Các động tác trong bài đồng dao giáo viên có thể thay đổi những động tác từ đơn
95
giản đến phức tạp, tùy theo khả năng và điều kiện tổ chức của lớp học trong giờ ăn.
Mục đích chủ yếu giúp trẻ đỡ nhàm chán trong khi chờ đợi, dẫn dắt vào bữa ăn cách
vui vẻ hơn là giữ thái độ lo lắng và sợ sệt mỗi khi giờ ăn bắt đầu.
* Đọc thơ cùng trẻ các bài thơ có liên quan đến các món ăn mà hôm nay trẻ dùng
bữa.
Bên cạnh đó, có thể cho trẻ đọc thơ và làm một số động tác đơn giản khi bắt
đầu giờ ăn như bài thơ “Giờ ăn”, “Đến Giờ ăn”… (Phụ lục 7)
* Cho trẻ hoạt động nhẹ khi đã chuẩn bị ngồi vào bàn ăn. Những hoạt động này
có thể cho trẻ làm trong khi ngồi chờ đợi cô chia cơm. Sự phân công một cô chia cơm ,
một cô cùng ngồi với trẻ và một cô hướng dẫn trẻ vận động nhẹ . Một số trò chơi có
thể áp dụng trong khoảng thời gian này như: “Con thỏ, ăn cỏ”, “Cô bảo, cô bảo”, “Các
loại bánh”… (Phụ lục 7)
3.1.2. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường giáo dục mầm non
Một số yêu cầu:
• Về phía giáo viên mầm non:
− Giáo viên cùng tham gia vào việc lên kế hoạch thực đơn của trường.
− Giáo viên cầm nắm rõ tình hình ăn uống của từng trẻ trong lớp. Phân nhóm
phân loại các trẻ có một số đặc điểm chung để có những biện pháp tác động một cách
hợp lí.
− Giáo viên thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe
của trẻ thông qua biểu đồ tăng trưởng. Thực hiện khám sức khỏe, cân nặng định kì cho
trẻ theo lịch của trường.
− Không nên ép trẻ ăn hết suất, tạo cho trẻ không gian thoải mái để trẻ được chọn
loại và lượng thức ăn vừa đủ mà trẻ thích theo khả năng của mỗi trẻ.
− Chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho trẻ trước bữa ăn.
− Không cho trẻ uống sữa, ăn vặt gần bữa ăn chính.
− Phối hợp với phụ huynh trẻ.
• Về phía nhà quản lí
− Tạo điều kiện để giáo viên mầm non và bộ phận cấp dưỡng có thể làm việc
96
chung với nhau, cùng lên kế hoạch tổ chức bữa ăn cho trẻ.
− Tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ nhằm phát hiện các trường hợp bất
thường cách kịp thời.
• Về phía bộ phần cấp dưỡng
− Bộ phận cấp dưỡng cần có kiến thức cơ bản về sức khỏedinh dưỡng của trẻ
từng giai đoạn, từng độ tuổi nhất định.
− Bộ phận cấp dưỡng và giáo viên cần có sự liên hệ với nhau để hỗ trợ và đóng
góp ý kiến tổ chức bữa ăn theo ý thích và hứng thú của trẻ.
− Thay đổi về hình thức và kích thước của thức ăn
3.1.2.1. Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ
* Mục đích:
Sự thay đổi về cách chế biến và bày trí thức ăn sẽ giúp trẻ thích thú, tăng thêm sự
tích cực trong các bữa ăn của trẻ. Trẻ có thể sẽ thích miếng cà rốt màu đỏ được hầm
mềm cắt thành hình những nốt nhạc, ngôi sao, những trái tim… Hơn là những hạt cà
rốt được cắt nhỏ nấu chung với nhiều loại nguyên liệu khác. Có thể do sáng nay trẻ
được xem thỏ con ăn cà rốt, hay cô giáo dạy cho trẻ nhận biết về màu đỏ…
• Cách thực hiện: Trường mầm non có thể thay đổi cách thức chế biến, bày trí thức ăn và hình thức
* Yêu cầu:
tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non theo những cách thức sau:
Thứ nhất, thay đổi cách chế biến thức ăn bằng cách cho trẻ luân phiên các món
ăn thường xuyên: Cơm, cháo, bún, miếng, bánh mì, bánh canh…
Thực đơn mỗi ngày nên có 2 – 3 món cho trẻ được chọn lựa theo sở thích. Việc
chuẩn bị một bữa trưa nhiều món ăn sẽ gây khó khăn cho bộ phận cấp dưỡng, tuy
nhiên, giữa các lớp, các khối lớp, giáo viên có thể thay đổi lượng phần ăn với nhau để
món ăn của trẻ được đa dạng hơn. Một số trẻ không thích ăn cơm nhưng hôm đó lại
thích ăn bánh mì, giáo viên cũng có thể linh động cho trẻ ăn phần bánh của buổi chiều.
Thứ hai, thay đổi cách bày trí thức ăn sao cho đẹp mắt và thu hút trẻ. Những bữa
ăn đầy sắc màu và hình khối không những khiến trẻ thích thú, hào hứng mà còn kích
97
thích trí sáng tạo bay bổng tuyệt vời của trẻ.
Hình 3.5. Trang trí món ăn phù hợp với chủ đề.
Nguồn: Internet
Trường mầm non có thể trang trí phần ăn của trẻ theo sở thích và sự quan tâm
của trẻ, tùy theo chủ đề hôm đó trẻ được học. Chẳng hạn, hôm nay trẻ được học về
những chú thỏ, phần cơm trưa của trẻ có thể được nén cơm lại thành hình chú thỏ dễ
thương, dùng thức ăn trang trí xung quanh. Trẻ sẽ thích thú hơn khi được gặp lại điều
mà chúng quan tâm. Để làm được những món này trường mầm non có thể trang bị
những khuôn tạo hình như:
Hình 3.6. Một số khuôn tạo hình cơm cho trẻ.
Nguồn: Internet
Bên cạnh đó, tùy theo sở thích ăn uống của trẻ, trường mầm non có thể chế biến
98
và bày trí những món ăn quen thuộc được các bé yêu thích như Hình 3.7.:
Món soup buổi sáng hay buổi xế Trái cây kết thành xâu như ăn quà vặt
Thịt, cá, trứng kết thành xâu Những nắm cơm ngộ nghĩnh
Hình 3.7. Một số cách bày trí thức ăn đơn giản cho trẻ có thể thực hiện tại
trường mầm non
3.1.2.2. Biện pháp 5: Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ
Để thay đổi giữa các hình thức tổ chức cho trẻ ăn, giáo viên có thể tổ chức cho
trẻ ăn giao lưu với nhóm trẻ lớp khác. Nhờ một số phụ huynh có thời gian đến trường,
cùng tham gia vào hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ trong lớp. Thông qua nhà trường
có thể tiếp nhận các nhóm sinh viên hay nhóm tình nguyện đến trường cùng tham gia
99
giờ ăn với trẻ.
Tạo cho trẻ môi trường ăn uống vui vẻ, thân thiện là tạo bầu không khí tâm lí
khi ăn uống:
− Giáo viên luôn cười khi tổ chức giờ ăn cho trẻ.
− Không nên ép trẻ ăn hết phần ăn đã chuẩn bị sẵn mà hãy để trẻ ăn đủ lượng thức
ăn mà trẻ cảm thấy cần.
− Giáo viên không nên quát mắng trẻ khi trẻ chậm chạp, trẻ ăn chậm hay thậm chí
làm rơi vãi thức ăn ra bàn…
− Không nên dùng một số câu nói để hù dọa, làm ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ khi
ăn.
− Động viên khuyến khích trẻ khi ăn.
− Nhẹ nhàng nhắc nhở trẻ khi cần thiết: Phương ơi, con cầm muỗng xúc ăn đi con!
hay Minh ơi, con ăn nhanh lên rồi ra chơi cùng các bạn!
− Một số việc nhẹ, giáo viên có thể yêu cầu trẻ giúp cô, nhưng cần có sự phân công
cụ thể tránh cho các trẻ tranh giành nhau, luân phiên giữa các trẻ để trẻ nào cũng
có được niềm vui khi được giúp đỡ người khác…
− Không đánh đập, la mắng hay nổi giận khi trẻ có hành vi chống đối hay biếng ăn
mà phải quan sát và trò chuyện với trẻ để nắm được nguyên nhân và tìm cách
khắc phục...
− Bổ sung dưỡng chất cho trẻ ăn ít bằng cách cho trẻ uống thêm sữa.
− Tổ chức cho trẻ thi đua trong ăn uống để tạo không khí vui vẻ khi ăn.
Bên cạnh đó, sự thay đổi về dụng cụ ăn cũng giúp trẻ mang lại niềm vui trong
ăn uống. Với hình thức này, trường mầm non có thể thực hiện bằng những cách như
sau:
Từ khâu mua sắm vật tư và trang thiết bị của trường, trường mầm non có thể
phân theo khối hay chia số lượng ra, một phần chén, một phần tô, một phần đĩa ba
100
ngăn… Nếu nhiều màu khác nhau thì càng tốt…
Chén Muỗng – Nĩa Vẹo
Đĩa hai ngăn Đĩa ba ngăn
Đĩa Khay ăn nhiều ngăn
Hình 3.8. Một số đồ dùng sử sụng cho trẻ ăn
− Mỗi bữa ăn bộ phận cấp dưỡng sẽ phân dụng cụ ăn theo từng lớp, phù hợp với món
101
ăn theo ngày ăn của từng nhóm trẻ.
− Mỗi tuần, giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén và nĩa của
mình ở nhà. Phụ huynh có thể chuẩn bị cho trẻ mang theo khi đến lớp và trẻ sau khi
vệ sinh cá nhân và thay đồ sẽ tự lấy chén - muỗng của mình ra dùng cơm. Hoặc có
thể hôm đó, giáo viên chỉ nhờ phụ huynh mang đũa, muống của trẻ (tùy theo sự
phối hợp của giáo viên và phụ huynh trong lớp). Hình 3.9 là những đồ dùng mà trẻ
tại một trường mầm non Nhật Bản đi học cần mang theo. Ngoài muỗng, nĩa, đũa,
ca uống và khăn trải phục vụ cho bữa ăn tại trường, trẻ chỉ mang theo một bộ đồ và
chiếc nón. Đây là những món mà trẻ bắt buộc phải mang đi hàng ngày, sau khi
dùng xong, trẻ bỏ vào túi và sẽ được vệ sinh dụng cụ khi về nhà. Đây được xem là
một biện pháp giúp duy trì sự hỗ trợ và quan tâm của phụ huynh đối với việc gởi
trẻ tại trường cũng như tập dần cho trẻ sự tự lập – Trẻ cần được học cách tự phục
vụ những nhu cầu cơ bản của bản thân.
Hình 3.9. Hình ảnh những vật dụng một ngày trẻ Nhật Bản mang đi học
− Giáo viên cũng cần chuẩn bị một số dụng cụ phòng sẵn, trong những trường hợp
phụ huynh không chuẩn bị cho trẻ của mình, hạn chế tính trạng thiếu hụt.
Một ngày trong tuần, nhà trường và giáo viên có thể kêu gọi vận động phụ
huynh thực hiện “Hộp cơm cho bé đến trường” - Đây là mô hình dễ thấy ở các trường
mầm non Nhật Bản. Khi trẻ có các buổi ngoại khóa hay cuối tuần, phụ nữ Nhật thường
102
chuẩn bị cho các con của mình những hộp cơm Bento được trang trí một cách đẹp mắt
và đủ các loại nhóm chất. Hộp cơm Bento giúp trẻ thích thú khi khoe với bạn sự chuẩn
bị cũng như niềm vui của trẻ khi nói về mẹ của mình với các trẻ khác…
Trường mầm non có thể tổ chức nhiều hình thức ăn uống khác nhau cho trẻ như
ngồi bàn tròn, ăn tự chọn… Bữa ăn tự chọn (buffet) thường thu hút trẻ với đa dạng các
món ăn, và đặc biệt, khi tham gia các bữa ăn tự chọn, trẻ được chọn thức ăn mà trẻ
muốn. Với cách thức tổ chức đơn giản và sự hỗ trợ đúng cách của giáo viên thì
phương pháp này hoàn toàn có thể áp dụng cho các trẻ nhà trẻ.
Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc của giáo dục là hướng đến cá nhân
mỗi đứa trẻ. Giáo viên cần có sự linh động trong việc tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường
mầm non, không nên nhất quán, nguyên tắc với mọi trẻ mà cần nương theo trẻ để thực
hiện. Với một số trường hợp khác biệt của một số trẻ, giáo viên cần có các biện pháp
phù hợp theo từng trường hợp.
Với những trẻ ăn chậm do cơ địa: Miệng trẻ nhỏ không ăn được nhiều thức ăn
một lúc, họng hầu hẹp trẻ khó nuốt…Giáo viên cần đút muỗng nhỏ, động viên trẻ và
cho trẻ có thời gian nhai, cho trẻ ăn loãng và nhuyễn hơn so với các bạn cùng tuổi.
Với những trẻ ăn uống kém do bệnh lí như suy dinh dưỡng, nhiễm ký sinh trùng
(giun, sán…) nhiễm trùng (viêm đường hô hấp, viêm amiđan…) và virus, một số bệnh
lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), rối loạn đường tiêu hóa… Giáo viên cần phối hợp
với gia đình để có sự phối hợp trong nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
Với một số trẻ có những trường hợp khó nuốt do không được tập ăn thô, không
biết nhai do phụ huynh thường xuyên cho ăn cháo nhuyễn, giáo viên mầm non có chế
độ ăn riêng khi chia cơm cho trẻ - Các trẻ này phần ăn của trẻ thường loãng, nhuyễn,
thức ăn mềm và nhỏ hơn các trẻ khác. Sau đó, thay đổi độ thô dần dần lên để tập lại
cho trẻ kỹ năng nhai nuốt đồng thời liên hệ với phụ huynh để cùng thực hiện sự thay
đổi tăng dần về độ thô trong các bữa ăn cho trẻ…
Với một số trẻ ăn thô tốt, nhất là các bé đã từng được phụ huynh cho ăn dặm
theo phương pháp BLW (Baby Led Weaning),giáo viên có thể cho các trẻ này đổi lớp,
ăn chung với các anh chị lớp trên để trẻ có thể được ăn thức ăn theo độ thô mà trẻ
muốn…Và ngược lại, để trẻ có thể ăn được độ thô mà trẻ có thể, nhưng không làm ảnh
103
hưởng đến hoạt động chung cũng như giờ ăn của các trẻ khác trong lớp.
Hình 3.10. Các bé trường mầm non Bồ Câu Nhỏ - Q.1ăn chiều với tiệc tự chọn
(Các bé ăn theo phương pháp BLW)
Nguồn: Website của trường
Ngoài ra, việc thay đổi địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ: Ăn trong lớp, phòng ăn
cho trẻ, ăn ngoài trời… Cũng đem lại sự mới lạ và thay đổi bầu không khí trong khi ăn
đối với trẻ. Biện pháp này còn phù thuộc vào điều kiện không gian và cơ sở vật chất
của từng trường. Tuy nhiên, trường mầm non có thể linh động tổ chức bữa ăn cho trẻ ở
những môi trường khác nhau tùy vào tình hình thực tế để đem lại sự mới lạ cho các bé.
3.1.3. Nhóm biện pháp tác động lên môi trường gia đình trẻ
3.1.3.1. Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn
theo khả năng
Nhận thức của phụ huynh phần nào ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và giáo
dục trẻ. Trường mầm non và giáo viên mầm non cần giúp phụ huynh nhận thức một số
nội dung sau:
− Thứ nhất, trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ thuộc về cả gia đình và trường
mầm non.
− Thứ hai, phụ huynh cần hợp tác và hỗ trợ giáo viên một cách chặt chẽ.
− Thứ ba, phụ huynh không quá đặt nặng vào vấn đề tăng cân của trẻ, tạo áp lực
trong ăn uống đối với trẻ cũng như công tác tổ chức của giáo viên.
− Thứ tư, nhất quán quan điểm “Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng” ở
• Mục đích:
104
trường và cả khi trở về nhà.
Chúng ta không thể phủ nhận, vấn đề các phụ huynh hay quan tâm khi gởi con
đi nhà trẻ chính là trẻ tăng cân bao nhiêu, chiều cao như thế nào? Nếu tháng đó bé
không có chuyển biến theo hướng phát triển (chưa nói đến sụt cân, hay đứng chiều
cao) thì cũng là nỗi lo lắng của cha mẹ và trở thành áp lực của nhà trường.
Sự thay đổi về mặt nhận thức của cộng đồng không phải cổ vũ cho việc bỏ đói
trẻ hay để mặc trẻ khi nào muốn ăn thì ăn, đói thì ăn, không thì thôi. Nhưng trước hết,
thái độ của chính phụ huynh trẻ sẽ giúp cho các cô giáo cảm thấy nhẹ nhàng trong việc
tổ chức bữa ăn cho trẻ. Thiết nghĩ nếu phụ huynh không đặt mục tiêu là tăng cân, các
cô giáo cũng không phải ép trẻ ăn, hay thậm chí dùng bạo lực để trẻ ăn hết suất. Do
đó, nhóm biện pháp này cũng thật sự cần thiết và cần được tuyên truyền đến phụ
• Yêu cầu - Cách thực hiện:
huynh bằng nhiều cách.
Để thay đổi nhận thức của phụ huynh trẻ, trước hết trường mầm non cần tạo
điều kiện cho phụ huynh được đến trường và tham gia vào hoạt động của con. Bằng
cách mời và khuyến khích phụ huynh của các trẻ trong lớp cùng đến tham gia tổ chức
bữa ăn cho các trẻ trong lớp. Trong những biện pháp trên, chúng tôi cũng đã nên lên
một số biện pháp giáo viên có thể sử dụng để thu hút sợ tham gia hỗ trợ của phụ
huynh. Khi phụ huynh được trải nghiệm những gì con được học và được làm ở trường,
phụ huynh sẽ phần nào hiểu được công việc của cô giáo mầm non, cũng như sức ăn
của con ở trường, sự phối hợp của gia đình và trường mầm non trong các hoạt động
chăm sóc và giáo dụctrẻ cũng được tốt hơn.
Cụ thể, giáo viên có thể mời phụ huynh cùng góp phần với cô trong các hoạt
động liên quan đến dinh dưỡng, chắc chắn rằng các bé lười ăn sẽ có những hiệu quả
cải thiện đáng mừng khi mẹ/ba của bé đến lớp và cùng làm món xà lách trộn/trái cây
trộn với các trẻ khác… Sự phối hợp và hỗ trợ của phụ huynh sẽ mang lại nhiều niềm
vui cho trẻ trong các hoạt động - điều này sẽ được chi tiết hơn trong nhóm các biện
pháp tác động phụ huynh trẻ được trình bày ở phần sau.
Giáo viên cũng có thể dùng bảng tin thực phẩm cho bé “Hôm nay, bé thích ăn
105
gì?” để liên lạc, trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết cũng như nhận lại phản hồi
của phụ huynh về trẻ của mình. Và một số biện pháp có thể giúp truyền thông và nâng
cao phối hợp giữa trường mầm non và phụ huynh trẻ như:
* Bảng tin lớp học: Mỗi lớp học cần có bảng tin để trao đổi với phụ huynh về
vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ.
Ngoài một số nội dung giáo viên đã làm tốt, luận văn đề xuất một số ý sau:
− Thực đơn hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng theo dự kiến - mục này sẽ giúp
phụ huynh theo dõi và cho ý kiến về các thực phẩm trẻ mình không thích hay bị
dị ứng… Có thể can thiệp và ý kiến để thay đổi thực đơn khi quá nhiều trẻ không
thích ăn hay không phù hợp với thức ăn hôm đó theo thực đơn đã lên.
− Hình ảnh hoạt động tổ chức bữa ăn hàng ngày của trẻ: Hình ảnh sẽ ấn tượng và
lôi cuốn sự chú ý của phụ huynh hơn, nhằm hướng phụ huynh quan tâm theo dõi
bảng tin để nắm bắt các hoạt động của trẻ ở trường, đồng thời xem qua những
mục tin quan trọng khác…
− Một số bài báo màu có nội dung vệ sinh bệnh học, dinh dưỡngvà sức khỏeđể
cung cấp kiến thức cho phụ huynh theo mùa…
− Điều quan trọng không thể thiếu là “hòm thư” - Đây là điều các trường mầm non
hay qua, bảng tin tại trường mầm non chỉ đơn phương cung cấp thông tin cho
phụ huynh và không có không gian cho phụ huynh góp phần và phản hồi ý kiến
cũng như cung cấp cho giáo viên thông tin hàng ngày của trẻ. Nhiều phụ huynh
khi đưa đón trẻ không có nhiều thời gian trò chuyện với cô, hay nhiều trẻ do ba
đưa đón… Hòm thư sẽ giúp phụ huynh đưa ra suy nghĩ của mình và giáo viên
mầm non có thể dễ dàng nắm bắt và tiếp cận hơn.
* Tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu giữa các phụ huynh: Những giờ họp
phụ huynh định kì hay thường xuyên hơn là giờ đón trả trẻ, giáo viên có thể trò chuyện
và trao đổi với phụ huynh để có thể cùng phụ huynh nhận ra một số thái độ ăn uống
tích cực và tự lập của trẻ (đã được và chưa được) để cùng có những biện pháp giúp trẻ
ở trường cũng như về nhà. Từ đó, phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc ăn
uống tự lập, khuyến khích phụ huynh tạo điều kiện cho bé chủ động và khả năng tự
phục vụ trong ăn uống tại nhà.
106
Gợi ý một số nội dung giáo viên và phụ huynh có thể trao đổi với nhau như:
− Lượng ăn của trẻ ngày hôm nay (so với mọi hôm) - Giúp phụ huynh biết được trẻ
đã ăn đủ lượng cần thiết hôm nay chưa và có bữa phụ khi về nhà (đặc biệt các trẻ
béo phì).
− Biểu hiện bệnh của trẻ nếu có (giúp phụ huynh kịp thời quan sát và phát hiện bệnh,
nhằm tìm hiểu nguyên nhân trẻ biếng ăn sinh lí hay bệnh lí mà có cách can thiệp
kịp thời).
− Một số kĩ năng trẻ có thể làm được - Giúp cho phụ huynh hỗ trợ và cho trẻ tự thao
tác khi về nhà.
− Nội dung mà hôm nay trong giờ ăn cô đã dạy - Giúp phụ huynh biết được và tiếp
tục củng cố cho trẻ khi về nhà...
3.1.3.2. Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm
• Mục đích:
tháng đầu đời
Từ lúc lọt lòng mẹ, đối với trẻ, việc gì cũng cần phải “học”. Từ việc học thế nào
bú ti mẹ, nuốt được sữa, biết khóc khi đói, lắc đầu khi no… Đến ăn uống cũng là vấn
đề mà cần người lớn “dạy” cho trẻ. Một số quan niệm cho rằng, ăn uống là bẩm sinh,
bây giờ không biết thì lớn lên cũng sẽ biết. Đúng thật như vậy. Nếu gia đình và nhà
trường không tập cho trẻ ăn, lớn lên, trẻ cũng có thể ăn cơm, cũng biết chọn cho mình
những món ăn mà trẻ thích. Tuy nhiên, nếu có điền kiện có thể làm cho những điều
này ở trẻ sớm có hơn, góp phần hình thành sớm thái độ ăn uống tích cực và tự lập hơn
cho trẻ, hơn nữa góp phần hình thành nên tính cách con người của trẻ: Biết tự tin trong
ăn uống, tự tin trong những việc thông thường của bản thân, trẻ cũng dễ dàng tự tin
vào các việc khác.
Nhóm biện pháp này tuy không ứng dụng nhiều trong bậc học mầm non, nhưng
qua đó, cũng giúp cho phụ huynh nắm được sự quan trọng của việc hình thành thái độ
ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ và sự liên thông của giai đoạn ăn dặm đối với việc tổ
• Yêu cầu và cách thực hiện: Về phía phụ huynh
107
chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ giai đoạn nhà trẻ.
− Phụ huynh cần có kiến thức cơ bản về dinh dưỡngvà sức khỏe của trẻ theo từng
giai đoạn, từng độ tuổi. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi lượng thông tin và kiến
thức bùng nổ trên các báo mạng, phụ huynh cần sáng suốt, tỉnh táo khi chọn lọc thông
tin và kiểm chứng thông tin khi muốn áp dụng cho trẻ của mình. Tốt nhất nên tham
khảo một số trang báo uy tín đã được khuyến cáo và áp dụng một cách linh động tùy
thuộc vào trẻ, không nên cứng nhắc và khư khư theo nguyên tắc sẽ tạo ra nhiều áp lực
cho cả phụ huynh và cho chính trẻ.
− Phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các cơ sở chăm sóc sức khỏe y tế để có
chế độ chăm sóc trẻ, kịp thời phát hiện và can thiệp những biểu hiện bất thường.
− Thực hiện đúng và đủ việc kiểm tra sức khỏe định kì, theo dõi sự tăng trưởng
về chiều cao và cân nặng của bé.
• Về phía các cơ sở giáo dục và cơ sở y tế
Thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa trường mầm
non và phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Ở nước ta hiện nay, việc chọn
trường cho con theo ý phụ huynh tuy trở nên phổ biến, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn
nhiều gia đình không đủ khả năng, vẫn cho con theo học đúng tuyến vào những trường
phường, trường quận. Đây là cơ hội tốt để cán bộ phòng ban có thể tuyên truyền hiệu
quả cách chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ – Tạo tiền đề cho sự chuẩn bị cho trẻ đến
trường.
Các cơ sở y tế, phòng ban chức năng nắm bắt được số trẻ chuẩn bị đến trường
trong khu vực của mình để có thể cung cấp một số ấn phẩm về nhà: Cách cho trẻ ăn
dặm, một số thực đơn cho trẻ thời kì ăn dặm và chuẩn bị đến vườn trẻ, một số bệnh
thường gặp ở trẻ em và cách phòng tránh… Một số quận tại Nhật Bản vẫn hay dùng
cách này để tuyên tuyền cho phụ huynh trong công tác này, quận sẽ gởi sách, tài liệu
về ăn dặm kiểu Nhật cho phụ huynh tham khảo – Từ những nguyên tắc, cách chuẩn bị,
cách chế biến, cách trữ đông, thực đơn gợi ý… Đến cách cho bé ăn như thế nào để có
thể kích thích trẻ ăn, tập cho trẻ ăn theo độ đặc và độ thô lớn dần, biết nhai nuốt thức
108
ăn, biết tự xúc ăn và làm thế nào để trẻ ăn một cách tự lập…
Hình 3.11. Sách tham khảo hướng dẫn cách chế biến thức ăn cho trẻ
Nguồn: Tạp chí Afamily.vn
Hình 3.12. Bài báo, tạp chí về cách chăm sóc trẻ
109
Nguồn: Tạp chí Afamily.vn
Hình 3.13. Tổ chức các buổi giao lưu, huấn luyện chăm sóc bé ăn dặm
Nguồn: Tạp chí Afamily.vn
Một khía cạnh khác của biện pháp này, giáo viên mầm non cũng cần điều tra về
cách phụ huynh đã sử dụng trong quá trình cho trẻ ăn dặm tại nhà. Điều này giúp cô
hiểu hơn về trẻ, có các biện pháp tác động với trẻ một cách liên tục cùng với sự phối
hợp của phụ huynh. Đặc biệt là trong vấn đề cho trẻ ăn theo độ thô phù hợp với lứa
tuổi và với cá nhân từng trẻ
Đây là điều hết sức cần thiết. Bằng cách khuyến khích và thiết lập cho trẻ một
thói quen ăn uống tốt sớm sẽ hình thành ở trẻ một thái độ tích cực và hành vi lành
mạnh đối với việc ăn uống. Những thái độ này sẽ kéo dài đến suốt đời đối với trẻ.
Nhiều bậc cha mẹ không thể nhớ được những niềm vui trong việc ăn uống, khi
hồi tưởng về quãng thời gian trước kia của mình [2, tr.13].
Không ít trong chúng ta đã trải qua tuổi thơ với những hình ảnh như “Ngồi đấy
cho đến khi nào ăn hết mới thôi!” Hay nhiều lần có thể chúng ta nghe những mẩu
chuyện nhỏ về việc khi trẻ khó ăn, nếu nôn thức ăn ra sẽ bị bắt phạt ăn lại phần ói của
mình… Việc chúng ta từng trải qua cũng có thể xảy ra đối với trẻ của mình. Do đó,
việc trang bị những kĩ năng và kiến thức tốt về phương pháp tổ chức cho trẻ ăn dặm sẽ
giúp đỡ rất nhiều trong việc hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ từ
110
những năm đầu đời. Một số phương pháp ăn dặm hiện nay đang được ưa chuộng và
các bậc phụ huynh ứng dụng rộng rãi:
Trước tiên cần đề cập đến là phương pháp ăn dặm theo kiểu truyền thống.Đây là
phương pháp phổ biến nhất, thường bắt đầu khi bé 4 – 5 tháng. Điểm đặc trưng của
phương pháp này chính là ăn chung các loại thực phẩm nấu chín sau đó xay nhuyễn,
đến giai đoạn trẻ mọc răng sẽ chuyển sang ăn cháo dần.
Không thể phủ nhận một số ưu điểm của phương pháp này, một là dạ dày của bé
sẽ không phải làm việc “quá tải” sớm và hai là phương pháp này rất phù hợp cho
những mẹ bận rộn và không có thời gian chế biến cầu kì. Nhưng thực tế khi áp dụng,
phụ huynh thường gặp một số lỗi sau:
Vì trẻ ăn nhuyễn nhiều nên khả năng ăn thô kém, đôi khi đã 2 tuổi vẫn phải ăn
cơm nhá, rất mất vệ sinh hay như việc ninh xương nấu cháo cho trẻ, cho bé đi
ăn rong, vừa ăn vừa hò hét, nhảy múa… Nấu chung nguyên liệu sẽ khiến bé khó cảm nhận mùi vị, từ đó sinh chán ăn, biếng ăn, kén chọn thực phẩm sau này.19
Có thể thấy, việc cho trẻ ăn theo phương pháp này chưa mang lại một số ưu điểm
cần có trong giai đoạn tập cho trẻ ăn dặm. Mặc khác, phương pháp này vẫn còn đặt
nặng tư tưởng cho trẻ ăn hết suất (thường là chén/tô nhỏ) do đó, người chăm sóc trẻ dễ
nhầm lẫn việc cho trẻ ăn hết suất với cho trẻ ăn theo nhu cầu. Bình thường bé ăn một
chén thì hôm nay hay hôm sau lượng ăn của bé vẫn như vậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng
nhồi nhét cho trẻ, dần dẫn gây nên trạng thái chán ăn và sợ thức ăn ở trẻ nhỏ.
Một phương pháp gần đây được biết đến với tinh thần ăn uống là niềm vui, trẻ ăn
tích cực và vui vẻ với nhu cầu và hứng thú của bản thân, đó chính là phương pháp ăn
dặm kiểu Nhật (ADKN) cùng khẩu hiệu “Hãy tiếp xúc với trẻ bằng tấm lòng bao
dung, rộng mở và chia sẻ cùng trẻ bữa ăn dặm vui vẻ”[32, tr.3].
Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết các đặc điểm của phương pháp này như:
− Cho bé ăn thô đúng thời điểm: Phương pháp này phân chia độ thô của trẻ theo
từng giai đoạn cụ thể, tỉ lệ 1:5 tương ứng 5 tháng, trẻ ăn thức ăn nhuyễn qua ray lưới,
tỉ lệ 1:7 tương ứng bé 7 tháng tuổi… Cùng mỗi tỉ lệ, đều có độ thô khác nhau và tăng
111
dần lên. Phương pháp này chia thành nhiều giai đoạn nhỏ: Khi bé 5-6 tháng tuổi; bé 7 19Theo Báo Phunuso.net tổng hợp - http://phunuso.net/so-sanh-3-phuong-phap-an-dam-baby-led-weaning-an- dam-kieu-nhat-an-dam-truyen-thong.html
– 8 tháng tuổi; khi bé 9 – 11 tháng tuổi và 12 – 15 tháng tuổi.
Hình 3.14. Bảng độ thô thực phẩm theo từng giai đoạn ADKN
cho bé.
Nguồn: Internet
Ăn riêng từng loại thức ăn: Khác với ăn dặm truyền thống, một khay thức ăn của
trẻ ăn dặm kiểu Nhật bao giờ cũng đủ ba nhóm thực phẩm: Tinh bột, vitamin và chất
đạm theo tiêu chuẩn “vàng – đỏ – xanh”. Những loại thực phẩm này được chế biến
riêng biệt và không trộn lẫn.
Hình 3.15. Bữa ăn của trẻ ăn dặm theo phương pháp ADKN thường ăn riêng theo
từng món.
112
Nguồn: Internet
Để trẻ tập ăn nhạt, tập ăn từng loại thực phẩm từ rau củ đến thịt cá để làm quen
dần. Trong 1 – 2 năm đầu, người Nhật không hoặc hạn chế cho trẻ con ăn muối, đường
hay các gia vị khác. Quan tâm cung cấp cho trẻ những món ăn với hương vị tự nhiên
của nguyên liệu.
Tinh thần của ăn dặm kiểu Nhật: Cho bé ăn trên ghế, không ăn rong, bật tivi. Khi
trẻ không ăn nữa, tuyệt đối không thúc ép nhồi nhét. Việc cho trẻ ngồi ghế giúp các bé
ý thức được rõ ràng về giờ ăn, tập luyện thói quen tốt khi ăn.
Hình 3.16. Ghế ăn là một trong những đồ dùng không thể thiếu khi tập cho trẻ ăn
dặm theo phương pháp này.
Nguồn: Internet
Ưu điểm dễ nhận thấy nhất của phương pháp ăn dặm kiểu Nhật đó là trẻ sẽ có
khả năng ăn thô sớm hơn rất nhiều so với các bé theo phương pháp ăn dặm truyền
thống. Thêm vào đó, việc ăn riêng từng loại thức ăn sẽ giúp bé làm quen tốt hơn với
mùi vị của từng loại thực phẩm, không bị hỗn hợp, không nảy sinh tâm lý ngán ăn. Ăn
nhạt sẽ tốt hơn cho thận của trẻ. Và một điều quan trong nhất: Đó chính là tinh thần
“kiểu Nhật”: Không thúc ép trẻ ăn, không tạo tâm lý sợ hãi khi ăn uống. Thiết lập cho
bé thói quen ngồi ăn ngay từ lúc bé giúp trẻ ăn nhanh và tập trung hơn.
Chính vì những nguyên nhân trên, phương pháp ADKN đã được phụ huynh ứng
dụng ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều bé thành công với phương pháo
113
này – hình thành cho các bé thái độ ăn uống tích cực và tự lập thì vẫn còn nhiều trường
hợp thất bại hay áp dụng nữa với vì nhiều lí do: Phụ huynh mất nhiều thời gian và
công sức giai đoạn đầu. Chuẩn bị cho con từng món ăn riêng biệt, chế biến và bảo
quản thường rất phức tạp.
Bên cạnh phương pháp ADKN, phương pháp ăn dặm bé chỉ huy - Baby Led
Weaning (BLW) cũng là một trong những biện pháp mang lại nhiều hiệu quả. Ăn cùng
bé, cùng lúc, cùng bàn là tinh thần chính của phương pháp ăn dặm này. Không có quấy
bột, cũng không có cháo loãng. Trẻ ăn theo phương pháp BLW sẽ tự ăn và ăn thô y
như người lớn ngay từ lần ăn dặm đầu tiên. Phương pháp này cho rằng sữa vẫn là thức
ăn chính và việc ăn dặm chỉ để bé làm quen với các loại thực phẩm. Do đó, tập nhai là
điều mà các mẹ hay chú trọng hơn khi cho con mình sử dụng phương pháp này.
Hình 2.17. Hình ảnh các bé ăn dặm theo phương pháp BLW
Nguồn: Internet
Điểm khác biệt của phương pháp BLW là không thìa, không xúc, không bát đũa.
Trẻ sẽ được dùng thức ăn nguyên miếng được hầm mềm. Thức ăn đặt trước mặt trẻ và
trẻ sẽ ăn bốc, tự cầm tay những thức ăn mình yêu thích để cho vào miệng. “Baby
leads” có nghĩa là để con tự chỉ huy, tự quyết định mình sẽ ăn gì. Hay nói khác đi “Bé
quyết định thời điểm bắt đầu và kết thúc quá trình ăn dặm”. [11, tr.16]
Thời gian đầu, trẻ có thể sẽ không ăn, cầm ném thức ăn lung tung, thậm chí bóp
nát, cho vào miệng mút rồi vứt…..Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian làm quen với thực
114
phẩm, con sẽ tự hình thành phản xạ cắn, nhai rồi nuốt. Từ đó, tiến thẳng đến giai đoạn
tự mình xúc thìa. Có thể tóm tắt một số ưu điểm của BLW như sau:20
− Tạo điều kiện cho bé khám phá mùi vị, kết cấu, màu sắc của mỗi loại thức ăn
riêng biệt.
− Giúp trẻ phát triển phối hợp tay – mắt, sự khéo léo và kỹ năng nhai.
− Trẻ sẽ có khả năng tự cầm thìa xúc từ rất sớm rất.
− Cho phép bé ăn với khối lượng bé cần, theo thời gian của riêng bé, do đó tạo
được thói quen ăn uống tốt sau này.
− Mẹ không cần tốn thời gian chuẩn bị đồ ăn riêng cho con vì bé sẽ ăn ngay như
một thành viên trong mâm cơm gia đình. (Có thể chế biến thức ăn của con nhừ).
Ngoài các phương pháp trên còn có một số quan điểm khác về hình thành thói
quen ăn uống tốt cho trẻ từ những năm tháng đầu đời. “Con chỉ cần nếm thử thôi” là
một trong những nội dung được cuốn sách “Dạy con kiểu Pháp – Trẻ em Pháp không
ném thức ăn” đề cập đến hay một lần nữa nhấn mạnh “các bậc phụ huynh nên giữ thái
độ bình tĩnh và vui vẻ trong suốt bữa ăn và quan trọng nhất là tiếp tục theo đuổi mục
tiêu của mình, thậm chí nếu con cái họ không chịu ăn một miếng nào.”[12, tr.188]
Trong cuốn “Phương pháp giáo dục con của người Do Thai” tác giả cũng đề cập
“ăn uống không chỉ đúng giờ mà cần có điều độ” Người Do Thái yêu cầu rất nghiêm
khắc trong việc ăn uống. Ngoài những quy định về chủng loại thức ăn, họ còn yêu cầu
mọi người trong gia đình cân ăn uống mức độ, không được tùy tiện. Từ việc nghiêm
khắc với con cái, ngay từ nhỏ, trẻ con của người Do Thái đã được hình thành thói quen
ăn uống hợp lý. Một số quy định cụ thể của họ về ăn uống như sau: Ăn uống có mức
độ, ăn uống đúng giờ và ăn uống đúng tư thế. [14, tr.203-205]
Có thể thấy, mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh riêng, nắm được những
phương pháp này, giáo viên sẽ nhận thấy, ăn uống không chỉ đơn thuần một giờ ăn mà
còn có thể là một giờ học tập và vui chơi. Tạo không khí vui vẻ cho trẻ trong bữa ăn
cũng như bầu không khí thoải mái khi ăn là điều hết sức quan trọng và cần thiết, cần
20Theo Báo Phunuso.net tổng hợp - http://phunuso.net/so-sanh-3-phuong-phap-an-dam-baby-led-weaning-an- dam-kieu-nhat-an-dam-truyen-thong.html
115
phải được cải thiện trên chính trẻ của lớp mình.
3.2. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp hình thành thái
độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
3.2.3. Khái quát quá trình khảo sát
Để khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất nhằm hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non,
chúng tôi tiến hành khảo sát trên 10 trường mầm non với một đại diện cán bộ quản lí
thông qua việc trả lời phiếu phỏng vấn bảng câu hỏi. Trong đó, để đánh giá số liệu
thống kê thu thập được từ ý kiến của các cán bộ quản lí, chúng tôi quy ước về mức độ
• Thang điểm đánh giá tính cần thiết 0,00 – 1,00: Không cần thiết
được tính theo thang điểm như sau:
1,01 – 2,00: Ít cần thiết
2,01 - 3,00: Tương đối cần thiết
3,01 – 4,00: Khá cần thiết
• Thang điểm đánh giá tính khả thi 0,00 – 1,00: Không khả thi
4,01 – 5,00: Rất cần thiết
1,01 – 2,00: Ít khả thi
2,01 - 3,00: Tương đối khả thi
3,01 – 4,00: Khá khả thi
4,01 – 5,00: Rất khả thi
Thông qua quá trình khảo sát và thông kê, chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến
về vấn đề và đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất như
sau:
3.2.4. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã
đề xuất
116
3.2.4.2. Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp chung
Bảng 3.1. Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp chung
hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường
mầm non
Tính cần Tính khả thi
thiết ĐLC Nội dung
ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC
Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông 3,7 0,949 3,7 1,059 qua giáo dục dinh dưỡng
Hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với
những kỹ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn 4 0,816 4 0,667
uống
Chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn 3,7 0,823 4,1 0,568
Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ 3 0,667 2,8 0,789
Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ 3,9 0,738 3,5 0,85
Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu 3 0,667 3,1 0,738 cầu – Ăn theo khả năng
Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực và tự lập 3,5 1,08 3,3 0,949 trong những năm tháng đầu đời
Với kết quả phân tích thống kê mức độ cần thiết và khả thi các biện pháp trên, ta
thấy đa số đều cho rằng việc áp dụng những biện pháp này là cần thiết và khả thi. Hầu
hết khảo sát đều cho kết quả từ ĐTB 3 trở lên, điều này có nghĩa mức độ thấp nhất của
các biện pháp là tương đối khả thi và tương đối cần thiết với ĐLC không cao. Trong
đó, có một số đáng lưu ý như sau:
Một là, hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao
tác với đồ dùng phục vụ ăn uống là nhóm biện pháp có mức độ cần thiết và khả thi đạt
mức khá (ĐTB 4) - Điều này khá hợp lí vì đây cũng là một trong những mục tiêu của
giáo dục là rèn luyện cho trẻ các kỹ năng sống để có thể thích nghi tốt với môi trường
117
sống.
Hai là, biện pháp thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ được đánh giá
mức độ cần thiết trung bình nhưng mức độ khả thi thì chỉ 2,8 - đặt mức dưới trung
bình. Phần phân tích các biện pháp cụ thể sẽ nói rõ hơn về vấn đề này.
Ba là, thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng
cũng là nhóm biện pháp có mức đánh giá ở mức trung bình – ĐTB 3. Con số này tuy
vẫn đạt ở mức độ trung bình, nhưng đây là chỉ số thấp so với các chỉ số khác.
Bốn là, ĐLC ở mỗi chỉ số không quá cao, điều này phản ảnh mức độ đồng ý của
các giáo viên tương đối ngang nhau, các có ý kiến không quá chênh lệch nhau, vì thế
ĐLC không lớn hơn 1. Điều này cũng cho thấy những biện pháp này nhận được ý kiến
tương đối giống nhau của các trường được khảo sát.
Năm là, việc các trường nhận thấy những biện pháp này là cần thiết chưa có
nghĩa là những biện pháp này khả thi, bởi để thực hiện những biện pháp này còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Cơ sở vật chất của trường; trình độ của giáo viên;
nhận thức của phụ huynh và học sinh cũng như sự quyết tâm của cán bộ quản lý. Vì
thế mức độ khả thi của biện pháp cũng có sự thay đổi. Tuy vậy, sự khác nhau giữa tính
cần thiết và mức độ khả thi trên thực tế là không quá lớn.
Cụ thể, chúng ta tiến hành khảo sát trong các biện pháp cụ thể:
3.2.4.3. Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp cụ thể
Bảng 3.2. Đánh giá về tính cần thiết của những biện pháp cụ thểhình thành thái
độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18-36 tháng tại trường mầm non
TT Biện pháp Tính cần thiết Tính khả thi ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC
Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua giáo dục dinh dưỡng 1 0,675 4,3 4 0,816
3,9 0,316 3,5 0,527 2
3,4 0,966 3,4 0,966 3 Quan sát và trò chuyện với trẻ Cung cấp thông tin về nguồn dinh dưỡng của từng loại cho bé Tổ chức các buổi tham quan vườn rau - Tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nguyên liệu và chế biến thực phẩm
Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống
118
3,8 0,422 2,8 0,632 4 Hình thành các kỹ năng sử dụng đồ dùng cơ bản cho trẻ: Cầm muỗng tự xúc ăn, cắm
ống hút, mở nắp hộp, lột vỏ chuối…
5 3,9 0,738 3,9 0,568
6 3,6 0,966 3,6 0,699 Quan sát trẻ để có những tác động kịp thời để hình thành thói quen cho trẻ theo từng bước Thường xuyên quan sát, động viên nhắc nhở trẻ tự thực hiện các nhu cầu của bản thân
Biện pháp 3: Chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn
7 3,7 0,823 4 0,816
8 3,9 0,738 3,3 0,949
9 3,8 0,789 3,8 0,422
10 3,5 0,972 4,1 0,738 Dùng hiệu lệnh để trẻ biết được chuẩn bị vào hoạt động ăn uống Tổ chức cho trẻ đọc thơ, chơi những trò chơi nhỏ, hát bài hát có chủ đề về thế giới thực vật, thực phẩm, những thói quen tốt trong ăn uống… Tạo cơ hội cho trẻ tham gia bày bàn ăn cùng cô Vận động nhẹ bằng những trò chơi tại chổ trong lúc trẻ chờ đợi giáo viên chuẩn bị bàn ăn và chia cơm
Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ
11 4 0,816 3,9 0,876
12 3,6 0,843 3,5 0,972 Thay đổi đa dạng các hình thức chế biến thức ăn cho trẻ: Cơm, cháo, bún, miếng, bánh mì, bánh canh… Thay đổi cách bày trí thức ăn sao cho đẹp mắt và thu hút trẻ
Biện pháp 5: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng
13 3,2 0,789 3,2 0,632
14 3,7 0,949 3,4 0,516
15 2,9 0,568 3,7 0,675
16 3,9 0,738 3,6 0,843
17 3,5 0,85 3 0,667
119
18 3,1 0,738 3,3 0,823 Tổ chức cho trẻ ăn giao lưu với nhóm trẻ lớp khác Nhờ một số phụ huynh có thời gian đến trường, cùng tham gia vào hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ trong lớp Thông qua nhà trường có thể tiếp nhận các nhóm sinh viên hay nhóm tình nguyện đến trường cùng tham gia giờ ăn với trẻ Tạo cho trẻ môi trường ăn uống vui vẻ, thân thiện là tạo bầu không khí tâm lí khi ăn uống Không nên ép trẻ ăn hết phần ăn đã chuẩn bị sẵn mà hãy để trẻ ăn đủ lượng thức ăn mà trẻ cảm thấy cần Giáo viên không nên quát mắng/hù doạ trẻ khi trẻ chậm chạp, trẻ ăn chậm hay thậm
chí làm rơi vãi thức ăn ra bàn…
3,4 0,516 3,9 0,738 19
3,4 0,516 3,9 0,738 20
3,6 0,966 3,1 0,568 21
2.9 0.876 3.7 0,483 22
Động viên khuyến khích, nhẹ nhàng nhắc nhở trẻ khi cần Tao cơ hội nhờ trẻ giúp cô với sự phân công cụ thể và luân phiên giữa các trẻ để trẻ nào cũng có được niềm vui khi được giúp đỡ người khác… Tổ chức cho trẻ thi đua trong ăn uống để tạo không khí vui vẻ khi ăn Giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén và nĩa của mình ở nhà Tổ chức nhiều hình thức ăn uống cho trẻ 0,527 3,5 4 0,943
23 Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo khả năng
3,7 0,823 3,3 0,483 24
3,3 0,949 3,6 0,516 25
3,6 0,699 3,8 0,632 26
3,5 0,707 3,2 0,919 27 Tạo điều kiện cho phụ huynh được đến trường và tham gia vào hoạt động của con Liên lạc, trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết cũng như nhận lại phản hồi của phụ huynh về trẻ Trao đổi với phụ huynh về vấn đề dinh dưỡngvà sức khỏe của trẻ thông qua bản tin lớp học Tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu giữa phụ huynh trẻ
Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực và tự lập trong những năm tháng đầu đời
3,1 0,876 3,1 1,101 28
3,6 0,843 3,7 0,823 29
3,6 0,699 3,7 0,675 30
Thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa trường mầm non và phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ Thực hiện đúng và đủ việc kiểm tra sức khỏe định kì, theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao và cân nặng của bé. Giáo viên điều tra và thu thập thông tin về cách thức phụ huynh cho trẻ ăn dặm để bổ sung hồ sơ trẻ và có các biện pháp tổ chức giờ ăn phù hợp
Nhìn vào bảng số liệu trên, luận văn rút ra được một số kết luậnnhư sau: Nhìn
chung ở từng biện pháp cụ thể các trường đều đồng ý có thể áp dụng cho trẻ, cụ thể
ĐTB của các chỉ số đều từ 3 trở lên - mức tương đối cần thiết và tương đối khả thi. Và
120
khả thi hay cần thiết không còn phù thuộc vào nhiều yếu tố khác. ĐLC ở mỗi chỉ số
không quá cao có ý nghĩa độ chênh lệch các câu trả lời không nhiều, tạo nên sự tin
tưởng cho việc có thể ứng dụng các biện pháp vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, số liệu ghi nhận được cũng phản ánh một số điểm đáng lưu ý:
Thứ nhất, trong nhóm biện pháp 2, biện pháp hình thành các kỹ năng sử dụng đồ
dùng cơ bản cho trẻ: Cầm muỗng tự xúc ăn, cắm ống hút, mở nắp hộp, lột vỏ chuối…
Có mức độ cần thiết ĐTB 3,8 nhưng mức độ khả thi chỉ đạt 2,8. Phần đông giáo viên
cho rằng biện pháp này là cần thiết nhưng chưa khả thi có thể do nguyên nhân đến từ
trẻ như đã phân tích ở phần nguyên nhân, hay cũng có thể do luận văn chưa nêu cụ thể
hoá các biện pháp khiến cho giáo viên mơ hồ về cách thức thực hiện chúng trong thực
tế.
Thứ hai, ở nhóm biện pháp 5, biện pháp thông qua nhà trường có thể tiếp nhận
các nhóm sinh viên hay tình nguyện viên đến trường cùng tham gia giờ ăn với trẻ nhận
được ĐTB 2,9 về mức độ cần thiết nhưng mức độ khả thi lại cao hơn – ĐTB 3,7. Điều
này nghe có vẻ trái ngược với thực tế, tính cần thiết tương đối cao hơn tính khả thi.
Nhưng trong trường hợp này, hoàn toàn không vô nghĩa, có thể giáo viên cho rằng
nhân lực hiện tại ở nhà trường tham gia và hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ vừa đủ,
không cần bổ sung thêm, cũng có thể do tâm lí ngại tiếp nhận người ngoài vào trường,
hay chưa thật sự tin tưởng và kinh nghiệm cũng như hiểu biết của sinh viên/nhóm tình
nguyện đối với công tác chăm sóc trẻ… Nên nhà trường còn e ngại ở cách làm này.
Tuy nhiên, ở phần khả thi thì cho thấy đánh giá của số đông - với ĐLC 0,675 – ở mức
độ tương đối cao. Điều này cho thấy, tuy chưa thật cần thiết nhưng phương pháp này
cũng khá khả thi - một số trường cũng có thể áp dụng phương pháp này.
Thứ ba, biện pháp giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh cho trẻ ăn bằng chén
và nĩa của mình ở nhà có trung bình 2,9 đồng tình cho là cần thiết nhưng khả thi thì
đạt ĐTB 3,7. Điều này có lẽ phụ thuộc vào tâm lý ngại thay đổi. Các trường thường
giữ những cách cũ vì đã là thói quen, hơn nữa việc thay đổi cũng chưa thực sự cần
thiết khi nhà trường đã tạm hài lòng với những đồ dùng mà nhà trường đang sử dụng.
Tóm lại,việc phân tích tính cần thiết và khả thi nhằm giúp luận văn có cái nhìn
121
cách cụ thể hơnkhi áp dụng những biện pháp vào thực tế các trường. Thông qua thống
kê này luận văn nhận thấy hầu như các trường đều tin tưởng vào những biện pháp trên.
Tuy chưa phải ở mức độ cao nhất nhưng đây cũng là một kết quả đáng mừng.
Tiểu kết chương 3
Có thể nhận thấy một số biện pháp hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập
cho trẻ 18 – 36 tháng được đề cập như: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ
thông qua giáo dục dinh dưỡng, hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với
những kĩ năng thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống. Một số cách chuẩn bị tâm thế
của trẻ trước giờ ăn, thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ, thay đổi cách thức
tổ chức bữa ăn cho trẻ, thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn
theo khả năng, tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm tháng đầu đời
đều là những biện pháp cần thiết và lý thú để ứng dụng trong công tác chăm sóc trẻ, cụ
thể là hoạt động tổ chức bữa ăn cho trẻ. Trong từng nhóm biện pháp, luận văn có nêu
lên cụ thể các phương pháp nhỏ để giáo viên có thể thuận tiện nghiên cứu và ứng
dụng. Nổi bật hơn là hai nhóm biện pháp thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ
và thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.
Các biện pháp cụ thể đã được đưa ra nhằm bổ sung và làm rõ cho các nhóm biện
pháp chung. Từ đó, luận văn đã khảo sát tính cần thiết và tính khả thi, nhận thấy rằng,
hầu hết các biện pháp được đề xuất đều cần thiết và khả thi. Điều này minh chứng cho
tính khoa học và thực tiễn của các biện pháp nhằm hình thành ở trẻ 18 – 36 tháng thái
122
độ ăn uống tích cực và tự lập.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM
1. Kết luận
Từ việc nghiên cứu đề tài này, luận văn rút ra một số kết luận sau:
1. Bồi dưỡng thói quen ăn uống tốt không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn ảnh
hường đến việc xác định hành vi và đạo đức tốt đẹp về sau. Hình thành thái độ ăn uống
tích cực và tự lập là một nội dung lớn trong việc luyện tập thói quen ăn uống lành
mạnh ở trẻ. Hình thành thái độ tích cực và tự lập cho trẻ là hình thành nhận thức, thái
độ và hành vi trong ăn uống cụ thể: Hình thành nhận thức ban đầu về thực phẩm và ý
nghĩa của chúng đối với sức khỏe của trẻ đồng thời nuôi dưỡng những xúc cảm tích
cực của trẻ đối với thực phẩm trong bữa ăn, rèn luyện cho trẻ những hành vi tích cực
và tự lập trong ăn uống. Để thực hiện được điều đó cần phải có những biện pháp giúp
trẻ hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ. Biện pháp hình thành thái độ
ăn uống tích cực và tự lập là tập hợp những phương pháp – cách làm tác động lên trẻ
trong quá trình tổ chức cho trẻ ăn nhằm giúp trẻ hình thành nhận thức ban đầu về bữa
ăn và một số kỹ năng trong ăn uống, giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt, lành mạnh, hình
thành nên thái độ ăn uống tích cực và tự lập. Từ đó, giúp trẻ phát triển hài hòa về thể
chất và tinh thần tạo nền tảng tốt cho sự phát triển suốt cuộc đời của trẻ.
2. Kết quả thống kê cho ta thấy hai vấn đến chính:
Hiểu biết của giáo viên về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36
tháng có 51,9% hiểu biết ở mức độ khá, 17,2% hiểu biết ở mức độ tốt. Hiểu biết của
giáo viên tuy tương đối cao, nhưng vẫn còn 19,9% cần được nâng cao nhận thức trong
chăm sóc trẻ. Hiểu biết của giáo viên về biểu hiện thái độ ăn uống tự lập của trẻ 18 –
36 tháng có 2,6% giáo viên hiểu biết ở mức độ yếu, 23,7% có hiểu biết ở mức trung
bình khá và nhiếu nhất là 76,3%. Đây là điều mà luận văn quan tâm và mong muốn đề
ra một số biện pháp nhắm giúp nâng cao nhận thức của giáo viên để giúp trẻ hình
thành thói quen tốt trong ăn uống, giúp trẻ ngày càng tự tin và hợp tác.
Thực trạng thái độ ăn uống tích cực và tự lập 18 – 36 tháng của trẻ tại trường
mầm non, luận văn nhận thấy vẫn còn một số vấn đề tồn tại đáng lưu ý: 37% trẻ chưa
123
làm quen được với chế độ cơm thường và nhiều loại thức ăn khác nhau, 58% trẻ chưa
vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn, 86% trẻ tự xúc
ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc, 89,7% trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn và
56,33% trẻ biết từ chối khi no. Đây là nhóm đối tượng mà luận văn muốn hướng đến
với mục đích cải thiện.
3. Nguyên nhân chính ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành thái độ ăn uống
tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng thuộc về bản thân đứa trẻ, sau đó là những
nguyên nhân ảnh hướng thói quen từ gia đình, cuối cùng là nguyên nhân do cách tổ
chức của giáo viên. Có 97,4% giáo viên cho rằng nguyên nhân do bản thân đứa trẻ,
90,4% giáo viên cho rằng yếu tố gia đình là nguyên nhân, còn lại 46,8% giáo viên cho
rằng nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên… Xét trên bình diện các nguyên nhân
cụ thể, đây là các nguyên nhân lớn nhất ảnh hưởng đến thái độ ăn uống tích cực và tự
lập của trẻ là do trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống, chiếm 91,7% tổng
số giáo viên, trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo và thích được người lớn phục vụ,
có thói quen dựa giẫm, chờ đợi cô (chiếm 91%), phụ huynh nuông chiều và làm thay
trẻ một số công việc đơn giản: Xách túi, cất dép, cất nón… Cho trẻ khi trẻ đến lớp
(chiếm 89,7%) và trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia đình (chiếm
88,5%).
4. Các biện pháp giáo viên mầm non thường sử dụng trong quá trình chăm sóc và
giáo dục trẻ, trong 22 biện pháp được liệt kế và khảo sát với giáo viên, luận văn nhận
thấy hầu hết các biện pháp đều có sự ứng dụng trong thực tế. Tuy nhiên, mức độ ứng
dụng còn tương đối thấp. Luận văn chia làm ba nhóm:
Nhóm có mức độ ứng dụng trên 50% chiếm 3 biện pháp: Khen ngợi và khích lệ
trẻ, cho trẻ tự xúc khi và trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn
uống của trẻ tại trường mầm non.
Nhóm các biện pháp được từ 25 - 50% giáo viên sử dụng: Tập cho trẻ làm quen
nhiều loại thực phẩm mới, tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn, giúp trẻ nhận
biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau, có biện pháp
phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau, trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống
của trẻ, cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm, giáo dục thông qua
124
hình thức kể chuyện, lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các
hoạt động học tập và vui chơi và cho trẻ ăn theo nhu cầu.
Cuối cùng, nhóm các biện pháp được ít giáo viên sử dụng: Không ép trẻ ăn hết
suất ăn quy định; cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn, dùng hiệu lệnh báo hiệu
giờ ăn, cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích; tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một
trò chơi, thi đua hay giờ hoạt động, tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn,
tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi
ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân… Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ
thô thức ăn trẻ đang ăn.
5. Để hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng, luận
văn để xuất một số biện pháp như sau:
− Biện pháp 1: Tìm hiểu thói quen và sở thích ăn uống của trẻ thông qua giáo
dục dinh dưỡng
− Biện pháp 2: Hình thành cho trẻ thói quen tự phụ vụ - tự lập với những kĩ năng
thao tác với đồ dùng phục vụ ăn uống.
− Biện pháp 3: Một số cách chuẩn bị tâm thế của trẻ trước giờ ăn.
− Biện pháp 4: Thay đổi cách chế biến, bày trí thức ăn cho trẻ.
− Biện pháp 5: Thay đổi cách thức tổ chức bữa ăn cho trẻ.
− Biện pháp 6: Thay đổi nhận thức cộng đồng: Cho trẻ ăn theo nhu cầu – Ăn theo
khả năng
− Biện pháp 7: Tập cho trẻ thói quen ăn uống tích cực trong những năm tháng
đầu đời.
6. Các biện pháp trên đã được khảo cứu về tính cần thiết và tính khả thi. Kết quả
thống kê đã cho thấy hầu hết các biện pháp đề xuất đều cần thiết và khả thi. Chỉ số ghi
nhận được cũng ở các mức độ ngang nhau, trội hơn các biện pháp khác là cách thức
hình thành cho trẻ thói quen tự phục vụ - Tự lập với những kỹ năng thao tác với đồ
dùng phục vụ ăn uống. Luận văn cũng nhận thấy đây thật sự là điều cần thiết cho trẻ,
nếu trẻ có những kiến thức và kỹ năng tốt, trẻ sẽ tự tin và có thể thực hiện tốt những
125
điều mà người lớn mong muốn.
2. Kiến nghị sư phạm
• Đối với giáo viên mầm non − Thứ nhất, có thể áp dụng các biện pháp khái quát và các biện pháp cụ thể đã
Từ việc nghiên cứu đề tài này, luận văn rút ra một số kiến nghị sư phạm sau:
được đề xuất trong hoạt động tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ.
− Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của bản thân để hiểu biết hơn về trẻ, trau dồi
kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.
− Thứ ba, cần tuyên truyền kiến thức chăm sóc giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ
đến với phụ huynh.
− Thứ tư, cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục
• Đối với phụ huynh − Cần phối hợp và giữ mối liên hệ tốt với giáo viên và trường mầm non.
trẻ
− Thường xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình sức khoẻ, thói quen và hành
• Đối với các cơ sở GDMN − Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, huấn luyện nhằm bồi dưỡng và nâng
vi ăn uống của trẻ, kịp thời phát hiện những dấu hiệu là để can thiệp cách hợp lí.
cao kiến thức cần thiết cho giáo viên.
− Quan sát và kịp thời chỉ đạo trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, luôn tìm tòi
những biện pháp, cách thức mới, hiệu quả và áp dụng vào thực tiễn để cải thiện thực
• Đối với các tổ chức khác − Các trường sư phạm cần tạo lập và duy trì mối quan hệ gắn bó với các trường
trạng cụ thể của từng trường.
mầm non, có thể gởi sinh viên đến thực tập, đồng thời tạo điều kiện cho các sinh viên
đến trường tham gia vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ với tư cách tình nguyện
viên.
− Trường sư phạm các cơ quan chức năng cao hơn cần mở các buổi hội thảo
chuyên đề, chuyển tải nội dung các nghiên cứu sư phạm phổ biến cho các trường mầm
126
non.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Annette Kast-Zahn (2014), Mỗi đứa trẻ đều có thể tự kiểm soát bản thân, Nxb
Thái Hà.
Annette Kast-Zahn (2014), Mỗi đứa trẻ đều có thể tự ăn ngon miệng, Nxb Thái 2.
Hà.
3. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục Mầm non.
4. Bộ Y tế (2006), Dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm, Nxb Y học.
5. Thanh Bình (2012), Bé lớn lên trong sự tự lập, Nxb Văn hóa – Thông tin.
6. Mách Ái Chân, Vương Phát Vị, Trần Phụng (Người dịch) (2008), Làm gì khi trẻ
biếng ăn?, Nxb Đà Nẵng.
7. Hàn Nguyệt Kim Chi, Hoàng Thu Hương, Nguyễn Thị Sinh Thảo (2006), Sự phát
triển thể chất và Tâm - Vận động của trẻ từ 0 đến 6 tuổi, Viện Chiến lược và
Chương trình Giáo dục, Nxb Giáo dục.
8. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lí học, Nxb Từ điển Bách Khoa, Việt Nam.
9. Nguyễn Lân Đính (2006), Chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ từ 0 đến 6 tuổi, Nxb Y
học.
10. Từ Giấy, Hà Huy Khôi (1988), Một số vấn đề dinh dưỡng thực hành, Nxb Y học,
1988.
11. Gill Rapley và Tracey Murkett (2014) , Baby-led Weaning – Phương pháp ăn
dặm bé chỉ huy, Nxb Lao động Xã hội.
12. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1981), Phương pháp luận khoa học giáo dục, Viện
khoa học giáo dục.
13. Lê Thị Hân – Huỳnh Văn Sơn (2012), Giáo trình Tâm lí học đại cương, Nxb Đại
học Sư phạm Tp. HCM.
14. Trần Hân (2014), Phương pháp giáo dục con của người Do Thái (Giúp trẻ tự tin
bước vào cuộc sống), Nxb Văn hóa – Thông tin.
15. Trần Hân (2014), Phương pháp giáo dục con của người Mỹ (Giúp trẻ tự lập
127
trưởng thành)), Nxb Hồng Bàng.
16. Lê Thị Mai Hoa, Lê Trọng Sơn (2009), Giáo trình dinh dưỡng trẻ em, Nxb Đại
học Sư phạm Hà Nội.
17. Lê Thu Hương, Giáo dục dinh dưỡng sức khỏe cho trẻ mầm non theo hướng tích
hợp, Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Trung tâm Nghiên cứu Chiến
lược và Phát triển Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo dục.
18. Võ Thị Minh Huệ (2012), Con muốn tự lập: Kỹ năng sống dành cho trẻ, Nxb
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp Tp. HCM.
19. Đới Hiểu Huyên (2013), 85 tình huống trao đổi giữa phụ huynh và giáo viên mầm
non, Nxb Văn hóa Thông tin.
20. Đoàn Thị Phương Lan (2007), Giáo trình dinh dưỡng trẻ mầm non, Nxb Giáo
dục.
21. Nguyễn Thị Ninh (2014), Ăn dặm không nước mắt, Nxb Nhã Nam.
22. Pamela Druckerman (2014), Dạy con kiểu Pháp (Trẻ em Pháp không ném thức
ăn, Nxb Thái Hà và Nxb Lao đông – Xã hội.
23. Đặng Hồng Phương, Lê Thị Mai Hoa, Giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe trong
trường mầm non, Tạp chí Giáo dục, số 183 (2008), 55-57.
24. Rhonda M. Lane, M.S., C.N.S, Trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh: Chế độ dinh
dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi trong môi trường chăm sóc trẻ.
25. Huỳnh Văn Sơn (2009), Biếng ăn tâm lí, Tạp chí Mẹ và con, (12).
26. Huỳnh Văn Sơn (2011), Biện pháp tâm lí khắc phục khi trẻ biếng ăn trong giai
đoạn từ 1 đến 6 tuổi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã số:
CS.2011.19.124, Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM.
27. Huỳnh Văn Sơn (2012), Thực nghiệm một số biện pháp khắc phục tình trạng
biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã
số: CS.2012.19.01, Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM.
28. Huỳnh Văn Sơn (2012), Thực trạng việc sử dụng các biện pháp khắc phục tình
trạng biếng ăn tâm lí ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi của các phụ huynh hiện nay, Tạp chí
128
Tâm lí học.
29. Huỳnh Văn Sơn (2011), Nhận thức của phụ huynh về vấn đề biếng ăn tâm lý ở trẻ
từ 1 đến 6 tuổi, Tạp chí khoa học ĐHSP – Đại học Huế, Tập 1, số 01 (17), tr.
119- 125
30. Huỳnh Văn Sơn (2011), Biểu hiện biếng ăn tâm lý của trẻ từ 1 đến 6 tuổi qua
đánh giá của phụ huynh, Tạp chí khoa học ĐHSP Tp. HCM, Tập 1, số 28 (62),
tr. 23-32
31. Minh Thư (2004), Hướng dẫn trẻ tự lập trong cuộc sống, Nxb Thanh Hóa.
32. Tsutsumi Chiharu (2013), Ăn dặm kiểu Nhật, Nxb Lao động Xã hội.
33. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm
non, Nxb Đại học Sư phạm, Tp Hồ Chí Minh.
34. Nguyễn Ánh Tuyết (1998), Giáo dục học, Nxb Giáo Dục.
35. Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Những tình huống trong giáo dục mầm non, Nxb Giáo
dục.
36. Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
37. Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non – Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Nxb Đại học Sư Phạm.
38. Nguyễn Khắc Viện (1991), Tâm lý học trẻ em hiểu theo phân tâm học, Nxb Khoa
học xã hội – Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý trẻ em Hà Nội, Tr.42-45.
39. Vụ Giáo dục Mầm non, Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non.
Tiếng Anh
40. David B. Herzog, Debra L. Franko, Pat Cable (2008), Unlocking the mysteries of
eating disorders: A life-saving guide to your child’s treatment and recovery.
to eat an grow. Đường dẫn: 41. Ellyn Satter, Your Child Knows How
http://ellynsatterinstitute.org/cms-assets/documents/99492-
435802.comchap2.pdf.
42. P. Yasoda Devi and P. Geervani, Determinants of nutrition status of rural
preschool children in Andhra Pradesh, India.
129
Đường dẫn: http://archive.unu.edu/unupress/food/8F154e/8F154E0c.htm
43. Rafiqul Huda Chaudhury, Determinants of dietary intake and dietary adequacy
for pre-school children in Bangladesh, Bangladesh Institute of Development
Studies, Dhaka, Bangladesh.
Đường dẫn: http://archive.unu.edu/unupress/food/8F064e/8F064E04.htm
44. Sandra K. Nissenberg, Barbara N. Pearl (2002), Eating right from 8 to 18:
Nutrition solutions for parents.
45. Susan L. Averett and David C. Stifel (2006) , Gray Matter with a Side of Fries:
The Cognitive and Behavioral Effects of Childhood Malnutrition in the United
States.
46. Susan J. Crockett, Laura S. Sims (1995), Environmental influences on children's
eating.
Tiếng Nhật
47. 食欲とホルモンについて. Đường dẫn: http://xn--okw778g.net/hormone.html.
(Tạm dịch: Thần kinh và cảm giác ngon miệng.)
48. 乳幼児の摂食・嚥下指導マニュアル. Đường dẫn:
https://docs.google.com/file/d/0BzBynw06tnbTcGVBaGpWdmVHSzg/edit
(Tạm dịch: Biện pháp chữa trị chứng khó nuốt ở trẻ)
Đường dẫn: http://www.kobayashi- 49. 子供の食欲不振.
med.com/illness_text/illness_120121.htm
(Tạm dịch: Biếng ăn ở trẻ em)
50. 堤ちはる:第3章section1、エネルギー、栄養素、代謝に関する基礎知識
、小児栄養改定4版、改定・保育士養成講座編纂委員会編集、p.52-74、全国
社会福祉協議会、東京、2009年3月.
Một số trang web
130
Trang Web: http://www.aiiku.or.jp/index.htm 51.
Trang web: http://viendinhduong.vn 52.
131
Trang web: https://www.huggies.com.vn 53.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1.
SỐ LIỆU THỐNG KÊ
CAC_THUC_PHAM_BO_SUNG
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
2
1.3
1.3
1.3
23
1
16.0
14.7
14.7
72
1,2
62.2
46.2
46.2
21
1,2,3
75.6
13.5
13.5
7
1,2,3,4
80.1
4.5
4.5
21
1,2,4
93.6
13.5
13.5
2
1,3
94.9
1.3
1.3
5
2
98.1
3.2
3.2
3
4
100.0
1.9
1.9
156
100.0
Total
100.0 DIA_DIEM_TO_CHUC_BUA_AN
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
111
71.2
71.2
1
71.2
8
1,2
76.3
5.1
5.1
1
1,2,3
76.9
.6
.6
2
1,3
78.2
1.3
1.3
11
2
85.3
7.1
7.1
23
3
100.0
14.7
14.7
156
Total
100.0
100.0
HINH_THUC_TO_CHUC_BUA_AN
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
1
77.6
77.6
Valid
121
77.6
.6
.6
1,2,4,5,6
1
78.2
2.6
2.6
1,3
4
80.8
132
1,4
3
1.9
1.9
82.7
1,4,6
6
3.8
3.8
86.5
1,4.5
4
2.6
2.6
89.1
1,5
6
3.8
3.8
92.9
2
2
1.3
1.3
94.2
2,3
2
1.3
1.3
95.5
4
3
1.9
1.9
97.4
5
4
2.6
2.6
100.0
156
100.0
Total
100.0 VAT_DUNG_KHI_CHO_TRE_AN
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
3
1.9
1.9
1.9
1,2
3
1.9
1.9
3.8
1,2,3
97
62.2
62.2
66.0
1,2,3,5
2
1.3
1.3
67.3
1,2,3,7
8
5.1
5.1
72.4
1,3
35
22.4
22.4
94.9
1,3,7
3
1.9
1.9
96.8
1,7
5
3.2
3.2
100.0
156
Total
100.0
100.0 NHAN_SU_HO_TRO_TO_CHUC_BUA_AN_CHO_TRE
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
2
1.3
1.3
1.3
Valid
1
66
42.3
42.3
43.6
1,2
36
23.1
23.1
66.7
1,2,3
5
3.2
3.2
69.9
1,2,4
2
1.3
1.3
71.2
1,2,6
4
2.6
2.6
73.7
2
40
25.6
25.6
99.4
2,6
1
.6
.6
100.0
Total
156
100.0
100.0
133
HINH_THUC_TRAO_DOI_VOI_PHU_HUYNH
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
1
24
15.4
15.4
15.4
1,2
16
10.3
10.3
25.6
3.8
29.5
1,2,3
6
3.8
1.3
30.8
1,2,3,4
2
1.3
1.9
32.7
1,2,3,4,5,6
3
1.9
1.3
34.0
1,2,3,6
2
1.3
5.8
39.7
1,2,5
9
5.8
9.6
49.4
1,2,5,6
15
9.6
12.2
12.2
61.5
1,2,6
19
5.1
66.7
1,3
8
5.1
1.3
67.9
1,4,6
2
1.3
2.6
70.5
1,5
4
2.6
3.2
73.7
1,5,6
5
3.2
16
10.3
10.3
84.0
1,6
5.1
89.1
2
8
5.1
1.9
91.0
2,2
3
1.9
6.4
97.4
2,3
10
6.4
1.3
98.7
2,3,5
2
1.3
1.3
100.0
3
2
1.3
Total
156
100.0
100.0 DANH_GIA_NHAN_XET_GV
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
0
52
Valid
33.3
33.3
33.3
1
2
1.3
34.6
1.3
2
26
16.7
51.3
16.7
3
36
23.1
74.4
23.1
4
22
14.1
88.5
14.1
5
18
11.5
100.0
11.5
Total
156
100.0
100.0
134
HIEU_BIET_CUA_GIAO_VIEN_VE_BIEU_HIEN_AN_UONG_T ICH_CUC
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid 4
1.3
2
1.3
1.3
5.1
8
5.1
6.4
7
4.5
7
4.5
10.9
8
8.3
13
8.3
19.2
9
.6
1
.6
19.9
10
2.6
4
2.6
22.4
11
3.2
5
3.2
25.6
14
3.8
6
3.8
29.5
15
1.9
3
1.9
31.4
16
1.9
3
1.9
33.3
17
7.1
11
7.1
40.4
18
14.1
22
14.1
54.5
19
8.3
13
8.3
62.8
20
5.8
9
5.8
68.6
21
12.2
19
12.2
80.8
22
1.9
3
1.9
82.7
23
14.1
22
14.1
96.8
24
3.2
5
3.2
100.0
25
Total
156
100.0
100.0
HIEU_BIET_CUA_GIAO_VIEN_VE_BIEU_HIEN_AN_UONG_T U_LAP
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent
2.6
4
2.6
2.6
Valid 2
.6
1
.6
3.2
6
1.9
3
1.9
5.1
7
3.2
5
3.2
8.3
8
4.5
7
4.5
12.8
9
13.5
21
13.5
26.3
10
12.2
19
12.2
38.5
11
17.9
28
17.9
56.4
12
135
17.9
13
28
17.9
74.4
11.5
14
18
11.5
85.9
14.1
15
22
14.1
100.0
Total
156
100.0
100.0
NGUYEN_NHAN_XUAT_PHAT_TU_CHINH_BAN_THAN_TRE
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
152
97.4
97.4
97.4
Khong
4
2.6
2.6
100.0
156
Total
100.0
100.0 NGUYEN_NHAN_DO_CACH_TO_CHUC_CUA_GIAO_VIEN
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
73
46.8
46.8
46.8
Khong
83
53.2
53.2
100.0
156
Total
100.0
100.0 NGUYEN_NHAN_TU_CHINH_GIA_DINH_TRE
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent
90.4
Valid
Co
141
90.4
90.4
100.0
Khong
15
9.6
9.6
Total
156
100.0
100.0 C10b.1
Cumulative Percent
Frequency
Percent Valid Percent
67.3
Valid
Co
105
67.3
67.3
100.0
Khong
51
32.7
32.7
Total
156
100.0
100.0
136
C10b.2
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
74
47.4
47.4
47.4
Khong
82
100.0
52.6
52.6
Total
156
100.0
100.0 C10b.3
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
122
78.2
78.2
78.2
Khong
34
100.0
21.8
21.8
Total
156
100.0
100.0 C10b.4
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
142
91.0
91.0
91.0
Khong
14
100.0
9.0
9.0
Total
156
100.0
100.0 C10b.5
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
141
90.4
90.4
90.4
Khong
15
100.0
9.6
9.6
Total
156
100.0
100.0 C10b.6
Cumulative Percent
Frequency
Percent Valid Percent
89.7
89.7
Valid
Co
140
89.7
100.0
10.3
Khong
16
10.3
100.0
Total
156
100.0
137
C10b.7
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
143
91.7
91.7
91.7
Khong
13
8.3
100.0
8.3
Total
156
100.0
100.0 C10b.8
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
142
91.0
91.0
91.0
Khong
14
9.0
100.0
9.0
Total
156
100.0
100.0 C10b.9
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
119
76.3
76.3
76.3
Khong
37
23.7
100.0
23.7
Total
156
100.0
100.0 C10b.10
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
124
79.5
79.5
79.5
Khong
32
20.5
100.0
20.5
Total
156
100.0
100.0 C10b.11
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
92
59.0
59.0
59.0
Khong
64
41.0
100.0
41.0
Total
156
100.0
100.0
138
C10b.12
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
93
59.6
59.6
59.6
Khong
63
40.4
100.0
40.4
Total
156
100.0
100.0 C10b.13
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
78
50.0
50.0
50.0
Khong
78
50.0
100.0
50.0
Total
156
100.0
100.0 C10b.14
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
70
44.9
44.9
44.9
Khong
86
55.1
100.0
55.1
Total
156
100.0
100.0 C10b.15
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
87
55.8
55.8
55.8
Khong
69
44.2
100.0
44.2
Total
156
100.0
100.0 C10b.16
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
86
55.1
55.1
55.1
Khong
70
44.9
44.9
100.0
Total
156
100.0
100.0
139
C10b.17
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
102
65.4
65.4
65.4
Khong
54
100.0
34.6
34.6
Total
156
100.0
100.0
C10b.18
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
90
57.7
57.7
57.7
Khong
66
100.0
42.3
42.3
Total
156
100.0
100.0 C10b.19
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
91
58.3
58.3
58.3
Khong
65
100.0
41.7
41.7
Total
156
100.0
100.0 C10b.20
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
2
1.3
1.3
1.3
Co
117
76.3
75.0
75.0
Khong
37
100.0
23.7
23.7
Total
156
100.0
100.0 C10b.21
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
109
69.9
69.9
69.9
Khong
47
100.0
30.1
30.1
Total
156
100.0
100.0
140
C10b.22
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
138
88.5
88.5
88.5
Khong
18
100.0
11.5
11.5
Total
156
100.0
100.0 C10b.23
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Co
139
89.1
89.1
89.1
Khong
17
100.0
10.9
10.9
Total
156
100.0
100.0 C10b.24
Cumulative Percent
Frequency
Percent Valid Percent
Valid
Co
140
89.7
89.7
89.7
Khong
16
100.0
10.3
10.3
Total
156
100.0
100.0 C11.1
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid
Hiem khi
1.9
1.9
3
1.9
Luon luon
29.5
29.5
46
31.4
Thinh thoang
12.2
12.2
19
43.6
Thuong xuyen
56.4
56.4
88
100.0
Total
100.0
156
100.0 C11.2
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
Valid Chua bao gio
3.8
3.8
6
3.8
Hiem khi
8.3
8.3
13
12.2
Luon luon
25.0
25.0
39
37.2
141
17.9
55.1
Thinh thoang
28
17.9
44.9
100.0
Thuong xuyen
70
44.9
100.0
Total
156
100.0 C11.3
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
5.8
5.8
9
Valid
Hiem khi
5.8
44.2
50.0
69
Luon luon
44.2
1.9
51.9
3
Thinh thoang
1.9
48.1
100.0
75
Thuong xuyen
48.1
Total
156
100.0
100.0
C11.4
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
17.3
17.3
27
Valid Chua bao gio
17.3
14.7
32.1
23
Hiem khi
14.7
9.6
41.7
15
Luon luon
9.6
34.6
76.3
54
Thinh thoang
34.6
23.7
100.0
37
Thuong xuyen
23.7
100.0
Total
156
100.0 C11.5
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
.6
.6
1
Valid Chua bao gio
.6
14.1
14.7
22
Hiem khi
14.1
35.3
50.0
55
Luon luon
35.3
14.7
64.7
23
Thinh thoang
14.7
35.3
100.0
55
Thuong xuyen
35.3
100.0
Total
156
100.0
142
C11.6
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
16
Valid Chua bao gio
10.3
10.3
10.3
23
Hiem khi
14.7
25.0
14.7
33
Luon luon
21.2
46.2
21.2
47
Thinh thoang
30.1
76.3
30.1
37
Thuong xuyen
23.7
100.0
23.7
Total
156
100.0
100.0 C11.7
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
38
Valid Chua bao gio
24.4
24.4
24.4
35
Hiem khi
22.4
46.8
22.4
8
Luon luon
5.1
51.9
5.1
36
Thinh thoang
23.1
75.0
23.1
39
Thuong xuyen
25.0
100.0
25.0
Total
156
100.0
100.0 C11.8
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
10
Valid Chua bao gio
6.4
6.4
6.4
21
Hiem khi
13.5
19.9
13.5
21
Luon luon
13.5
33.3
13.5
71
Thinh thoang
45.5
78.8
45.5
33
Thuong xuyen
21.2
100.0
21.2
Total
156
100.0
100.0
143
C11.9
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
2.6
4
Valid Chua bao gio
2.6
2.6
9.0
14
Hiem khi
9.0
11.5
26.3
41
Luon luon
26.3
37.8
12.2
19
Thinh thoang
12.2
50.0
50.0
78
Thuong xuyen
50.0
100.0
Total
156
100.0
100.0 C11.10
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
53.2
83
Valid Chua bao gio
53.2
53.2
19.9
31
Hiem khi
19.9
73.1
6.4
10
Luon luon
6.4
79.5
13.5
21
Thinh thoang
13.5
92.9
7.1
11
Thuong xuyen
7.1
100.0
Total
156
100.0
100.0 C11.11
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
.6
1
Valid Chua bao gio
.6
.6
44.2
69
Luon luon
44.2
44.9
3.8
6
Thinh thoang
3.8
48.7
51.3
80
Thuong xuyen
51.3
100.0
156
Total
100.0
100.0 C11.12
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
3.2
5
Valid
Hiem khi
3.2
3.2
34.6
54
Luon luon
34.6
37.8
18.6
29
Thinh thoang
18.6
56.4
43.6
68
Thuong xuyen
43.6
100.0
Total
156
100.0
100.0
144
C11.13
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
7.1
11
Valid
Hiem khi
7.1
7.1
14.1
22
Luon luon
21.2
14.1
27.6
43
Thinh thoang
48.7
27.6
51.3
80
Thuong xuyen
100.0
51.3
156
Total
100.0
100.0 C11.14
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
7.7
12
Valid
Hiem khi
7.7
7.7
16.0
25
Luon luon
23.7
16.0
14.1
22
Thinh thoang
37.8
14.1
62.2
97
Thuong xuyen
100.0
62.2
156
Total
100.0
100.0 C11.15
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
1.3
2
Valid Chua bao gio
1.3
1.3
1.3
2
Hiem khi
2.6
1.3
35.3
55
Luon luon
37.8
35.3
7.1
11
Thinh thoang
44.9
7.1
55.1
86
Thuong xuyen
100.0
55.1
100.0
Total
156
100.0 C11.16
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
2.6
4
Valid Chua bao gio
2.6
2.6
5.8
9
Hiem khi
8.3
5.8
17.3
27
Luon luon
25.6
17.3
16.0
25
Thinh thoang
41.7
16.0
58.3
91
Thuong xuyen
100.0
58.3
145
C11.16
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
2.6
4
2.6
2.6
Valid Chua bao gio
5.8
9
5.8
8.3
Hiem khi
17.3
27
17.3
25.6
Luon luon
16.0
25
16.0
41.7
Thinh thoang
58.3
91
58.3
100.0
Thuong xuyen
Total
156
100.0
100.0 C11.17
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
46.2
72
46.2
46.2
Valid Chua bao gio
14.7
23
14.7
60.9
Hiem khi
3.2
5
3.2
64.1
Luon luon
16.7
26
16.7
80.8
Thinh thoang
19.2
30
19.2
100.0
Thuong xuyen
Total
156
100.0
100.0 C11.18
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
1.9
3
1.9
1.9
Valid Chua bao gio
11.5
18
11.5
13.5
Hiem khi
20.5
32
20.5
34.0
Luon luon
26.3
41
26.3
60.3
Thinh thoang
39.7
62
39.7
100.0
Thuong xuyen
100.0
Total
156
100.0 C11.19
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
91
Valid Chua bao gio
58.3
58.3
58.3
34
Hiem khi
21.8
21.8
80.1
6
Luon luon
3.8
3.8
84.0
146
Thinh thoang
14
9.0
92.9
9.0
Thuong xuyen
11
7.1
100.0
7.1
Total
156
100.0
100.0 C11.20
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
1
Valid
Hiem khi
.6
.6
.6
53
Luon luon
34.0
34.6
34.0
10
Thinh thoang
6.4
41.0
6.4
92
Thuong xuyen
59.0
100.0
59.0
156
Total
100.0
100.0 C11.21
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
48
Valid Chua bao gio
30.8
30.8
30.8
15
Hiem khi
9.6
40.4
9.6
15
Luon luon
9.6
50.0
9.6
36
Thinh thoang
23.1
73.1
23.1
42
Thuong xuyen
26.9
100.0
26.9
Total
156
100.0
100.0
C11.22
Frequency
Percent Valid Percent
Cumulative Percent
51
Valid Chua bao gio
32.7
32.7
32.7
8
Hiem khi
5.1
37.8
5.1
24
Luon luon
15.4
53.2
15.4
43
Thinh thoang
27.6
80.8
27.6
30
Thuong xuyen
19.2
100.0
19.2
Total
156
100.0
100.0
147
Phụ lục 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
PHIẾU PHỎNG VẤN
(Dành cho cán bộ quản lí và chuyên gia về dinh dưỡng)
A. Thông tin khách thể:
- Giới tính: ………………………………………………..
- Công viện hiện tại: ……………………………………………….
- Địa chỉ cơ quan: ……………………………………………….
- Thâm niên công việc: ……………………………………………….
B. Nội dung phỏng vấn:
- Anh/chị hiểu thế nào là thái độ ăn uống tích cực và tự lập?
- Anh/chị vui lòng nêu một số biểu hiện mà anh chị biết?
- Theo anh chị, đâu là nguyên nhân gây nên những ảnh hưởng xấu đến việc hình
thành thái độ ăn uống tích cực và tự lập cho trẻ 18 – 36 tháng?
- Anh chị nghĩ gì về cách thức tổ chức bữa ăn hàng ngày cho trẻ hiện nay tại
trường mầm non?
- Ý kiến của anh chị về viêc thiết kế thực đơn và trang trí bữa ăn cho trẻ tại cơ sở
mình hiện nay?
- Theo anh chị, những điều đó ảnh hưởng như thế nào đến thái độ ăn uống của
trẻ?
- Theo anh chị, cách thức đó đã phù hợp chưa, cần thay đổi hay cải thiện gì
không? Cụ thể?
- Anh chị hãy cho biết một số biện pháp mà anh chị cho rằng sẽ mang lại hiệu
quả tích cực cho việc hình thành những thói quen ăn lành mạnh cho trẻ?
148
- Anh chị nghĩ gì nếu chúng ta áp dụng biện pháp… này tại trường các anh chị?
Phụ lục 3.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN
Kính chào Quý cô (thầy)!
Chúng tôi đang nghiên cứu về thái độ ăn uống tích cực và tự lập của trẻ 18 – 36
tháng tại trường mầm non nhằm tìm ra một số biện pháp tác động giúp giáo viên
cũng như phụ huynh hình thành thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ. Mong Quý
cô (thầy) trả lời các thông tin sau:
A. Thông tin chung về cô (thầy)
1. Giới tính: ………….………….
2. Độ tuổi: ………….………….
3. Thâm niên công tác: ………….………….
4. Trình độ học vấn: ………….………….………….
5. Số trẻ trong lớp của cô (thầy)? ………….………….
6. Lớp cô (thầy) có bao nhiêu giáo viên? ………….………….
7. Lớp cô (thầy) có bảo mẫu/cấp dưỡng hay không? Bao nhiêu người?
………….………….
8. Một số thông tin cá nhân (Thông tin được giữ kín, Quý cô (thầy) có thể điền
hoặc để trống)
Họ và tên: ………….………….………….………….
Điện thoại: ………….………….………….………….
Email: ………….………….………….………….
B. Nội dung câu hỏi:
149
1. Tại lớp, cô (thầy) thường tổ chức bữa ăn cho trẻ vào các thời gian nào?
Tên gọi Thời gian
Số bữa ăn
Bữa 1
Bữa 2
Bữa 3
Bữa 4
Hình thức món ăn (cơm, cháo, soup, canh, món mặn, tráng miệng…)
2. Ngoài các bữa ăn trên, trường cô (thầy) thường bổ sung thực phẩm khác cho trẻ
150
hay không?
Sữa Bánh mì / Bánh kẹo chung
Nước trái cây Thực phẩm khác: …….….
3. Cô (thầy) thường tổ chức cho trẻ ăn ở đâu?
Trẻ được ăn trong lớp (Không gian tổ chức chung các hoạt động khác)
Trẻ được ăn ngoài sân (Bên ngoài lớp học, dưới bóng cây…)
Trường có phòng ăn riêng cho trẻ
4. Cô (thầy) thường tổ chức bữa ăn cho trẻ dưới các hình thức nào sau đây?
Ngồi bàn tròn ngay ngắn
Ngồi bệch dưới sàn nhà
Cho trẻ ngồi tự do, trẻ được chọn nơi trẻ muốn (có thể trên bàn hay dưới sàn…)
5. Trẻ trong lớp cô (thầy) thường dùng những vật dụng nào khi ăn uống?
Nĩa Chén
Dao Tô nhỏ
Khay ăn 3 (nhiều) ngăn Muỗng
Đồ dùng khác: Cho trẻ ăn bằng khay ăn ở nhà
…………………….. (phụ huynh mang đến lớp)
151
6. Thầy cô thường tổ chức bữa ăn cho trẻ với sự hỗ trợ và giúp đỡ của:
Chỉ các giáo viên tronglớp
Giáo viên cấp dưỡng
Bảo mẫu
Ban giảm hiệu
Phụ huynh
Tình nguyện viên
Trẻ lớp lớn
Ý kiến khác:………………
7. Theo cô (thầy), thái độ ăn uống tích cực và tự lập là gì?
……………………………………………………………...……………………………
………………………………………………………………...…………………………
8. Theo cô thầy, trong hoạt động ăn uốngở trường trẻ 18 – 36 tháng có những biểu
hiện tích cực và tự lập nào?
Biểu hiệu tích cực:
……………………………………………………………...……………………………
………………………………………………………………...…………………………
Biểu hiện tự lập:
……………………………………………………………...……………………………
………………………………………………………………...…………………………
9. Cô (thầy) thường hình thành thái độ tích cực và tự lập cho trẻ trong ăn uống bằng
những cách nào?
MỨC ĐỘ THỰC HIỆN
TT TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN
Chưa
Hiếm
Thỉnh
Thường
Luôn
bao giờ
khi
thoảng
xuyên
luôn
152
1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn
Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ 2
ăn chậm
3 Khích lệ trẻ trong khi ăn
4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích
Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác 5
nhau
6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu
Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, 7
thi đua hay giờ hoạt động…
8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định
9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn
Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác
10 nhau: Ngồi bàn, ngồi dưới sàn nhà, ngồi
ngoài hành lang lớp học, ăn ngoài sân…
11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc
Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm 12
mới
13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện
Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại 14
thức ăn thông qua các hoạt động khác nhau
Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như 15
thói quen ăn uống của trẻ tại nhà
Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn 16
uống của trẻ
Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực 17
153
đơn
Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen
18 ăn uống vào các hoạt động học tập và vui
chơi
Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ 19
thô thức ăn trẻ đang ăn
Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ 20
năng tự phục vụ
21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn
22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn
Ý kiến khác. Vui lòng ghi thêm câu trả lời của cô (thầy).
……………………………………………………………...……………………………
………………………………………………………………...…………………………
10. Theo cô (thầy) những biểu hiện cụ thể nào sau đây là biểu hiện thái độ ăn uống
tích cực, tự lập của trẻ 18 – 36 tháng? (Có thể chọn nhiều câu trả lời cô (thầy)
cho rằng đúng)
STT BIỂU HIỆN ĐÚNG SAI
Biểu hiện tích cực của trẻ khi ăn:
Trẻ có biểu hiện vui vẻ trong bữa ăn 1
Trẻ đặt câu hỏi với cô về món ăn 2
Trẻ thích thú khi tham gia hoạt động tổ chức bữa ăn 3
Trẻ không xao lãng trong khi ăn 4
Trẻ không từ chối khi đến giờ ăn 5
Trẻ không làm rơi vãi thức ăn trong khi ăn 6
154
Trẻ không ăn nhanh, ăn vội để được chơi 7
Trẻ tập trung vào bữa ăn 8
Trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng cấn thiết theo lứa tuổi 9
10 Trẻ ăn được nhiều loại thực phẩm khác nhau
11 Trẻ không kén ăn rau/thịt hat bất kì thực phẩm nào đó
Trẻ ăn được nhiểu món ăn chế biến theo nhiều cách khác 12 nhau
13 Thời gian ăn tương đối, không ngâm quá lâu
14 Trẻ ăn hết suất (trong khả năng và nhu cầu của trẻ)
Trẻ không ngậm thức ăn lâu trong miệng, mà không chịu 15 nhai, nuốt
Trẻ biết đến giờ cất đồ chơi để tham gia vào bữa ăn cùng 16 bạn
Biểu hiện tự lập của trẻ khi ăn:
Trẻ có thể tự cầm muỗng xúc ăn 1
Trẻ biết cách dùng nỉa khi ăn 2
Trẻ biết một số kỹ năng tự phục vụ: lau mặt, rửa tay, mở 3 nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối…
Trẻ ăn được nhiều độ thô khác nhau phù hợp với độ tuổi 4
Trẻ biết cách bày trí bàn ăn phụ cô 5
Trẻ nhận biết được các loại thực phẩm mà trẻ thích 6
Trẻ chọn món ăn mà trẻ muốn 7
155
Trẻ biết cất chén, nỉa đúng chổ sau khi ăn xong 8
9 Trẻ biết từ chối khi trẻ no
10 Trẻ biết kêu đói khi có nhu cầu ăn
11 Không muốn cô đút cho ăn
12 Trẻ biết xếp hàng khi lấy thức ăn
13 Trẻ biết chờ đến lượt của mình
Trẻ biết vị trí đặt để một số vật dùng cần thiết sử dụng 14 trong bữa ăn
15 Trẻ ngồi im chờ đến lượt cô đút ăn
Trẻ biết nhờ sợ giúp đỡ của người lớn khi gặp khó khăn 16 trong ăn uống
Trẻ có thể nói lên cảm nhận của trẻ về món ăn (ngon, 17 không ngon, mặn, nhạt, thích, không thích…)
Một số biểu hiện khác:
……………………………………………………………...……………………………
………………………………………………………………...…………………………
11. Theo cô (thầy) nguyên nhân dẫn đến hành vi ăn uống không tích cực và tự lập
của trẻ trong lớp là do đâu?
STT NGUYÊN NHÂN Có Không
Những nguyên nhân chung:
Nguyên nhân xuất phát từ bản thân trẻ 1
Nguyên nhân do cách tổ chức của giáo viên 2
156
Nguyên nhân từ chính gia đình của trẻ 3
Những nguyên nhân cụ thể:
1 Trẻ thiếu những kỹ năng tự phục vụ: Lau mặt, rửa tay, mở
nắp hộp, cắm ống hút, lột vỏ chuối…
2 Trẻ kén thức ăn, chỉ ăn một vài loại thức ăn trẻ thích
3 Trẻ có thói quen nhõng nhẽo, mè nheo
4 Trẻ mắc bệnh liên quan và ảnh hưởng đến ăn uống
5 Trẻ thích được người lớn phục vụ, có thói quen dựa giẫm,
chờ đợi cô
6 Giáo viên chưa động viên, khích lệ trẻ đúng cách
7 Giáo viên hối thúc trẻ ăn nhanh hay làm thay trẻ cho kịp
giờ
8 Trẻ quá đông ảnh hưởng đến sự bao quát của cô
9 Thực đơn không đa dạng, không được chế biến theo nhiều
cách khác nhau hay cách bày trí thức ăn không hấp dẫn trẻ
10 Môi trường tổ chức ăn uống cho trẻ không mới lạ, không
thay đổi so với trẻ mong muốn được khám phá
11 Giáo viên thường ép trẻ ăn hết suất ăn quy định
12 La mắng, hù dọa trẻ khi trẻ không ăn, ăn chậm…
13 Áp lực của phụ huynh đối với giáo viên: Muốn cho trẻ ăn
càng nhiều càng tốt, quá quan trọng cân nặng của trẻ
14 Trẻ có một số thói quen ăn uống không tốt từ trong gia
đình
15 Phụ huynh nuông chiều và làm thay trẻ một số công việc
đơn giản: Lách túi, cất dép, cất nón… cho trẻ khi trẻ đến
lớp.
157
Chân thành cảm ơn sự hợp tác và hỗ trợ của Quý thầy cô!
Phụ lục 4
BẢNG CHECK LIST
Thông tin chung A.
1. Họ và tên bé: ………….………….………….………….
2. Tháng tuổi: ………….………….………….………….
3. Một số thông tin chung? ………….…………………………………………...…
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
B. Nội dung quan sát:
Lần Lần Lần Ghi TT BIỀU HIỆN 1 2 3 chú
A Trẻ có nề nếp và thói quen tốt trong ăn uống
1 Trẻ biết rửa tay trước khi ăn
Trẻ làm quen được với chế độ cơm nát/thường và 2 nhiều loại thức ăn khác nhau
3 Biết lau mặt, uống nước sau khi ăn
4 Biết giữ vệ sinh và bỏ rác đúng nơi
5 Thời gian ăn tương đối, không quá lâu
6 Ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi
7 Không ngậm thức ăn
8 Biết chờ đến lượt
B Trẻ có thái độ vui vẻ, tích cực trong ăn uống
Trẻ vui vẻ và có biểu hiện thích thú khi tham gia 9 hoạt động tổ chức bữa ăn
Trẻ không có biểu hiện từ chối và hành vi chống 10 đối trong lúc ăn
11 Trẻ không yêu sách, đòi hỏi cô làm theo ý trẻ
158
C Trẻ có thái độ tự chủ trong khi ăn
12 Trẻ tự xúc ăn bằng thìa, uống nước bằng cốc.
Trẻ chủ động ngồi vào bàn ăn và ngồi ăn đúng tư 13 thế
Trẻ nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ 14 sinh
15 Trẻ chủ động chọn thức ăn mà trẻ muốn
16 Trẻ biết từ chối khi no
Thông tin thêm:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………….…………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………….……………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………….……………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
………………………………………………….………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………….…………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………….…
159
………………………………………………………………………………………….
Phụ lục 5
KẾT QUẢ THU PHIẾU ĐIỀU TRA
TT Trường Mầm non Số phiếu nhận về hợp lệ Số phiếu phát ra
11 1 12
9 2 10 Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 1 – điểm 1) Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 1 – điểm 3)
9 Trường MN Hoa Hồng Đỏ - Quận 9 (Cơ sở 2) 3 10
6 Trường MN Bồ Câu Nhỏ - Quận 1 4 6
4 Trường MN Quận Tân Phú 5 6
6 Trường MN Super Kids – Quận 3 6 10
8 Trường MN Tái Thiết – Quận 11 7 12
8 Trường MN 11 – Quận Tân Bình 8 10
6 Trường MN Hồng Hoa – Quận Tân Bình 9 10
8 10 Trường MN Ngôi Sao Nhỏ - Quận Bình Tân 10
6 11 Trường MN Chú Ong Nhỏ - Quận 7 10
6 12 Trường MN Thiên Lý – Quận Tân Phú 10
8 13 Trường MN Đại Việt Mỹ - Quận Gò Vấp 10
11 14 Trường MN Sơn Ca – Quận Phú Nhuận 15
6 15 Trường MN Quận 7 8
6 16 Trường MN Bắc Mỹ - Quận 2 8
2 17 Trường MN Hoa Hồng 4 – Quận Tân Bình 6
4 18 Trường MN – Quận Bình Thạnh 4
4 19 Trường MN Thực Hành – Quận 11 4
5 20 Trường MN Hải Yén – Quận 3 12
17 21 45 Giáo viên đang học liên thông hệ cao đẳng tại trường Bách Việt
160
156 TỔNG CỘNG
Phụ lục 6
Bảng 2.15. Tỉ lệ phẩn trăm thống kê các biện pháp đã được sử dụng hình thành thái độ ăn uống tích cực và tự
lập cho trẻ 18 – 36 tháng tại trường mầm non
Chưa
Hiếm
Thỉnh
Thường
Luôn
Câu
Nội dung
bao giờ
thoảng
xuyên
luôn
khi
C11.1 Cho trẻ cầm muỗng tự xúc khi ăn
2%
12%
0%
56%
29%
8%
18%
4%
45%
25%
C11.2 Cho trẻ thời gian và kiên nhẫn chờ đợi khi trẻ ăn chậm
C11.3 Khích lệ trẻ trong khi ăn
6%
2%
0%
48%
44%
17%
15%
35%
24%
10%
C11.4 Cho trẻ được chọn món thức ăn mà trẻ thích
1%
14%
15%
35%
35%
C11.5 Có biện pháp phù hợp cho các nhóm ăn khác nhau
C11.6 Cho trẻ ăn theo nhu cầu
10%
15%
30%
24%
21%
Tổ chức cho trẻ ăn dưới dạng một trò chơi, thi đua hay giờ
24%
22%
23%
25%
5%
C11.7
hoạt động…
C11.8 Không ép trẻ ăn hết suất ăn quy định
6%
13%
46%
21%
13%
3%
9%
12%
50%
26%
C11.9 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia tổ chức bữa ăn
Tổ chức và thay đổi nhiều hình thức ăn khác nhau: ngồi bàn,
53%
20%
13%
7%
6%
C11.10
ngồi dưới sàn nhà, ngồi ngoài hành lang lớp học, ngoài sân…
161
C11.11 Có biện pháp khen ngợi trẻ đúng lúc
1%
0%
4%
51%
44%
0%
3%
19%
44%
35%
C11.12 Tập cho trẻ làm quen nhiều loại thực phẩm mới
C11.13 Giáo dục thông qua hình thức kể chuyện
0%
7%
28%
51%
14%
Giúp trẻ nhận biết và làm quen với các loại thức ăn thông qua
0%
8%
14%
62%
16%
C11.14
các hoạt động khác nhau
Trao đổi với phụ huynh về sở thích cũng như thói quen ăn
1%
1%
7%
55%
35%
C11.15
uống của trẻ tại nhà
3%
6%
16%
58%
17%
C11.16 Trò chuyện với trẻ để tìm hiểu sở thích ăn uống của trẻ
46%
15%
17%
19%
3%
C11.17 Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lên thực đơn
Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và thói quen ăn uống vào các
2%
12%
26%
40%
21%
C11.18
hoạt động học tập và vui chơi
Cho trẻ ăn chung với lớp lớn/nhỏ hơn theo độ thô thức ăn trẻ
58%
22%
9%
7%
4%
C11.19
đang ăn
0%
1%
6%
59%
34%
C11.20 Rèn luyện cho trẻ một số thói quen và kỹ năng tự phục vụ
31%
10%
23%
27%
10%
C11.21 Cô mở nhạc cho trẻ nghe khi tổ chức bữa ăn
C11.22 Dùng hiệu lệnh báo hiệu giờ ăn
33%
5%
28%
19%
15%
162
Phụ lục 7
MỘT SỐ BÀI THƠ – BÀI HÁT
Giờ chơi RỬA TAY
Bạn ơi hết giờ rồi Miếng xà phòng nho nhỏ
Nhanh tay cất đồ chơi Em xát lên bàn tay
Nhẹ tay thôi bạn nhé Nước máy đây trong vắt
Cất đồ chơi đi nào Em rửa đôi bàn tay
Khăn mặt đây thơm phức
Em lau khô bàn tay
Đôi bàn tay be bé
Nay rửa sạch, xinh xinh
Tất cả lớp chúng mình
Cùng giơ tay vỗ vỗ
Rau ngót, rau đay
Nếu canh ăn mát
Là nắm rau đay
Mát ruột mi hay
Là mớ rau ngót
Muốn có vị ngọt
Nấu với cá tôm
Canh ăn với cơm
Trẻ nào cũng thích .
Họ nhà cam quýt Ăn quả
163
Em là cam quýt Bé ăn nhiều quả
Người khỏe mạnh ra Cùng loài,khác tên
Bé ăn quả na Khi bé quả xanh
Càng thêm rắn chắc Lớn lên quả chín
Bé ăn quả mận Quả thì hơi đỏ
Da dẻ hồng hào Quả thì màu vàng
Bé ăn quả đào Mỗi quả một vị
Sạch răng sạch lưỡi Quả thì ngòn ngọt
Bé ăn quả bưởi Quả thì chua chua
Nhiều sinh tố C Này các bạn ơi
Bé ăn quả lê Quýt cam rất bổ
Càng thêm mang mát Khi ăn phải rửa
Bé ăn nhiều quả Thật sạch, lau khô
Bé ăn nhiều vào Rồi bóc vỏ ra
Khỏe mạnh, hồng hào Mùi vị thơm phức
Chăm ngoan học giỏi. Ngon lành làm sao
Mát lạnh làm sao
Giúp em mau lớn.
Giờ ăn
Đến giờ ăn cơm
Vào bàn bạn nhé
Nào thìa, bát, đĩa
Xúc cho gọn gàng
Chớ có vội vàng
Cơm rơi, cơm vãi.
Đến giờ ăn
Đến giờ ăn (vỗ tay)
Ngồi ngay ngắn (ngồi ngay ngắn
164
Không qua phải (xoay phải lắc tay)
Không qua trái (xoay trái lắc tay)
Phải cầm muỗng (đưa tay phải ra)
Trái giữ tô (đưa tay trái ra)
Hạt cơm rớt (chỉ tay - lắc tay phải)
Khăn giấy lau (chỉ tay - lắc tay trái)
Mau mau mau (vỗ tay)
Vào sọt rác (động tác quang giấy vào thùng rác)
Trò chơi “Con thỏ”: “Con thỏ - Ăn cỏ - Uống nước - Chui vô hang - Nằm ngủ”
kèm theo những hiệu lệnh của cô, trẻ sẽ có những động tác phù hợp. Trẻ nào làm
sai sẽ bị phạt nhẹ.
Trò chơi “Cô bảo, cô bảo”: trẻ sẽ làm theo các hiệu lệnh của cô như: đưa tay trái
lên, đưa tay phải lên, đưa tay cần muỗng lên, hát một bài, đọc bài thờ…
Trò chơi “Các loại bánh”: mỗi loại bánh tương ứng với một động tác, khi cô gọi
tên bánh nào trẻ sẽ làm theo động tác đó.
Ví dụ:
Bánh ú (Trẻ phồng miệng lớn lên)
Bánh plan (Trẻ quay tròn hai tay vào nhau)
Bánh tráng (Trẻ xòe bán tay xoay xoay như tráng bánh)
Bánh bao (Trẻ xoay qua ôm trẻ bên cạnh mình)
165
Bánh xe (Trẻ lắc tay và nói lớn “Không, không, không ăn được”)...
Phụ lục 8
166
MỘT SỐ HÌNH ẢNH GIỜ ĂN CỦA TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON
167
168

