LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một
nền sản xuất hàng a. Th trường luôn m ra các hội kinh doanh mới
nhng đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp. Đ
th đứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của chế thị trường
đòi hỏi các doanh nghiệp luôn vận đng, tìm tòi một hướng đi mới cho phù
hợp. Vì vậy các doanh nghiệp phải quan tâm, tìm mọi biện pháp đnâng cao
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mi quan tâm ng đầu
của các doanh nghiệp. nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh
nghiệp mới tồn tại và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất, ng cao đời sống
cán bộ công nhân viên tạo sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp.
Vấn đng cao hiệu qusản xuất kinh doanh vẫn bài toán khó đối
với nhiều doanh nghiệp. nước ta hiện nay số doanh nghiệp đt được hiệu
qutrong qtrình sản xuất kinh doanh vẫn chưa nhiều. Điều này nhiều
nguyên nhân như: Hạn chế trong công tác quản lý, hạn chế về năng lực sản
xuất hay kém thích ng với nhu cầu của thị trường. Do đó nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh càng ngày càng phải được c trọng đặc biệt đối với
các doanh nghiệp Nhà nước.
Qua qtrình thực tập ng ty Dụng cụ cắt đo ờng khí, với
nhng kiến thức đã tích lu được cùng với sự nhận thức về tầm quan trọng
của vấn đề này em đã chn đ tài: "Một s biện pháp nhằm ng cao hiệu
qu sản xuất kinh doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí" làm đề
tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần như sau:
Phn I: ng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh - Điều kiện tiên quyết
để doanh nghiệp tồn tại và phát trin.
Phn II: Thực trạng ng tác đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí.
1
Phn III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh củang ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí.
Chuyên đ này được hoàn thành với sự giúp đ tận tình của thầy go
Trn Việt Lâm và các cô chú trong Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này !
Ni, tháng 3 năm 2003
Sinh viên: Tạ Duy Bộ
2
PHN I
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH - ĐIỀU KIỆN TIÊN
QUYẾT ĐỂ DOANH NGHIỆP TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
I. HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ SCẦN THIẾT CỦA VIỆC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.1. Các quan điểm cơ bản về hiệu quả.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thì phải làm ăn hiệu quả. Đây là mt sụ thực hiển nhiên, một chân đ
hiểu rõ điều này thì trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về khái niệm hiệu quả.
Ngày nay, người ta vẫn ca có mt khái niệm thống nhất về hiệu quả.
mỗi góc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét nhìn nhận
khác nhau thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì
chúng ta xem xét vn đề hiệu qutrên các lĩnh vực: kinh tế, chính trvà
hi. ơng ng ta 3 phạm tru: hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị và hiệu
quả xã hi.
1.1.1. Hiệu quả kinh tế.
Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng
ta phạm trù hiu quả kinh tế. thhiểu hiệu quả kinh tế là h số giữa kết
quthu về và chi pb ra để đt được kết quả đó. Kết quả thu vđ cập
trong khái niệm này th là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm công
nghiệp Hiệu quả kinh tế thể hiện trình đ sử dng các yếu tố đầu vào trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Hiệu quả chính trị, xã hội.
Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nn kinh tế quốc dân thì ta có hai
phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hi. Hai phạm trù này phản ánh
ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những
yêu cầu và mục tiêu chung ca toàn bnền kinh tế xã hi. Và hai loại hiệu
qunày có vtrí quan trọng trong việc phát triển đất nước mt cách toàn diện
bn vững. Hiệu quả chính trị, xã hội phản ánh trình đ phát triển nền kinh
3
tế xã hội ở các mặt: trình đ tchức sản xuất, trình đ quản lý, mức sống bình
quân.
Phi luôn sự cân đi giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã
hi. Đây là một nguyên tắc đphát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một
cách liên tục và u dài. Bất kỳ mt sự mất cân đối nào sdẫn đến những hậu
quả nghiêm trng.
Dưới góc đ của doanh nghiệp thì ta khái niệm hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Hiu quả sản xuất kinh doanh có bản chất của hiệu quả kinh tế và
cũng có bản chất của hiệu quả chính trị, hi (đời sống người lao động…).
Dưới đây là mt số quan điểm về hiệu qukinh tế và hiệu quả chính trị, xã
hi. Nếu áp dụng những quan điểm đó vào phạm vi của doanh nghiệp thì ta
thcoi đó các quan điêmr về hiệu qusản xuất kinh doanh. Qua một s
quan điểm này chúng ta shiểu rõ hơn về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
1.1.3. Mt số quan điểm vhiệu quả sản xuất kinh doanh.
Mặc đã s thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh
doanh phn ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn
chưa có sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các nhà kinh tế và thng kê nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả
sản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử giác đ nghiên cứu là không
ging nhau.
Quan điểm 1: Trước đây người ta coi "Hiệu quả là kết quả đạt được
trong hot động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thhànga"1 [Xem trang 9].
Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc đ tăng của kết quả đạt được như: Tốc
độ tăng của doanh thu, của lợi nhuận. Như vậy hiệu quả được đồng nhất với
các chtiêu kết quả hay với nhịp đ tăng của các chtiêu y. Quan điểm này
thc sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay. Kết quả sản xuất thể
tăng lên do tăng chi phí, mrộng sử dụng c nguồn sản xuất (đầu vào của
quá trình sản xuất). Nếu hai doanh nghiệp dùng một kết quả sản xuất tuy
hai mc chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh
doanh của chúng là như nhau. Điều này thật khó chấp nhận.
Quan điểm 2: Theo quan điểm này thì "Hiu quả được xác định bằng
nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà hi hoặc thu nhập quốc dân"2 [Xem trang
4
9]. Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, thì theo quan điểm này thì hiệu quả
sản xuất kinh doanh và nho độ tăng giá trị tổng sản lượng là mt. Nhìn trên
mt góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống như quan điểm một.
cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó. Nếu
tốc đ tăng của chi phí sản xuất được các nguồn lực được huy động ng
nhanh hơn nhịp độ ng giá trị tổng sản lượng thì sao. Hơn nữa, việc chọn
năm gốc nh hưởng rất lớn đến kết quso sánh. Với mỗi năm gốc khác
nhau chúng ta lại có mức hiệu quả khác nhau của cùng mt năm nghiên cứu.
Quan điểm 3: Đây quan điểm về hiệu quả được trình bày trong giáo
trình kinh tế học của P.Samueleson và W.Nordhmas (Viện quan hquốc tế -
Bngoại giao xuất bn, bn dịch tiếng Việt năm 1991). Theo quan điểm này
thì "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng mt loại
hàng a mà không ct giảm sản xuất của mt loại ng hóa khác. Mt nền
kinh tế hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của "3 [Xem
trang 275]. Nhìn nhận quan điểm này dưới giác độ doanh nghiệp thì tình hình
sản xuất kinh doanh có hiệu qukhi nằm trên đường giới hạn khả năng sản
xuất của . Giới hạn khả ng sản xuất của doanh nghiệp được xác định
bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng cao nhất có th
đạt được ứng với tình hình ng ngh và nhân ng nhất định. Theo quan
điểm này thì hiệu quả thể hiện sự so sánh mức thực tế và mức "tối đa" về
sản ợng. Tỷ lệ so sánh càng gn 1 càng có hiệu quả. Mặt khác ta thấy quan
điểm y tuy đã đề cập đến các yếu tố đầu o nhưng lại đ cp không đầy
đủ.
Tóm lại quan điểm y chính xác, độc đáo nhưng mang tính chất
thuyết thuần tuý, lý tưởng, thực tế rất khó đạt được.
Quan điểm 4: Quan điểm này cho rằng "Hiệu quả kinh tế nền sản xuất
hội là mc độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dng
của nó chkhông phải là g trị"4 [Xem trang 9]. Theo tác gicủa quan điểm
này, mc độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ
không phải gtrị trừu tưoựng o đó. Tuy nhiên quan điểm này gp phải trở
ngại là k (nếu kng muốn nói là không thể) tính được tính hữu ích của sản
phẩm được sản xuất ra. Và nếu vậy thì chúng ta không thso sánh được tính
hu ích giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giá được tính hiệu quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh,.