
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một nền kinh
tế nhiều thành phần. Đó là một tất yếu khách quan. Cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của nhà nước, nó tồn tại
và phát triển phụ thuộc vào những tiền đề kinh tế, chính trị khách quan của
nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mà thành phần kinh tế luôn có vai trò vị
trí và vận động phát triển theo một xu hướng nhất định. Nhưng xuất phát từ
tính quy luật vốn có của nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mỗi thành phần
kinh tế luôn có vai trò vị trí và vận động, phát triển theo một xu hướng nhất
định. Nhưng xuất phát từ tính quy luật vốn có của nền kinh tế đều vận động
theo hướng đến mục tiêu lợi ích. Nhưng Đảng và Nhà nước luôn khẳng định
kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Thực tiễn trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua Đảng và Nhà nước đã có
nhiều cố gắng củng cố, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và hiện
nay vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đang từng bước được khẳng định.
Tuy nhiên hiện nay đang có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc phát
triển thành phần kinh tế này: đổi mới, cổ phần sắp xếp, nâng cao hiệuquả. Vì
vậy trong đề án này tôi tập trung đi vào việc nghiên cứu quan niệm về kinh tế
thị trường, tính tất yếu và nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong
nền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của nó được thể hiện như thế nào, các
giải pháp để trong thời gian tới tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước ở nước ta. Tôi hi vọng nó sẽ góp phần nhỏ để mọi người hiểu hơn về
thành phần kinh tế này và góp một phần vào việc phát triển kinh tế nhà nước
trở lên vững mạnh.
TrÇn Anh Tó Th−¬ng m¹i 44A

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
CHƯƠNG I
QUAN NIỆM CHUNG VỀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC (KTNN)
1. Quá trình hình thành kinh tế nhà nước
Mỗi nhà nước đều có chức năng kinh tế nhất định và chức năng này
được thông qua các mức độ khác nhau tuỳ từng giai đoạn phát triển. Ở bất kì
nước nào kém phát triển hay phát triển chức năng của kinh tế nhà nước vẫn
giữ vai trò chủ đạo.
Ở nước ta sau khi giải phóng (1954) và thống nhất đất nước (1975)
trong quá trình xây dựng CNXH do nhận thức đơn giản phiến diện nên đã
đồng nhất giữa sở hữu nhà nước với sở hữu XHCN. Chúng ta coi kinh tế quốc
doanh là chủ yếu bó hẹp phạm vi xí nghiệp quốc doanh, thành lập xí nghiệp
quốc doanh ở mọi lĩnh vực. Đặc biệt là vấn đề quản lý: theo kiểu tập trung
quan liêu, theo kế hoạch định trước theo kiểu lỗ thì được bù, lãi thì nộp ngân
sách. Nó đã tập trung mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước (1954-1975). Song khi đất nước giải phóng đã bộc
lộ nhiều nhược điểm căn bản làm thui chột tính năng động, sáng tạo của các
xí nghiệp, đặc biệt là thiếu một môi trường kinh doanh. Số lượng các xí
nghiệp quốc doanh quá nhiều, dàn trải, chồng chéo về cơ chế quản lý, ngành
nghề, kĩ thuật lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, nhiều doanh
nghiệp thua lỗ triền miên, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm
trọng.
Trước tình hình đó Đại hội Đảng toàn quốc lần VI (12-1986) đã đề ra
chủ trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển dịch sang kinh tế
thị trường đinh hướng XHCN. Lý luận trong quá trình đi lên CNXH có thay
đổi căn bản: sự thừa nhận tồn tại của 5 thành phần kinh tế, kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo và lúc này vai trò của kinh tế nhà nước cũng có
nhiều đổi mới. Đến các đại hội Đảng khác thì chúng ta vẫn tiếp tục khẳng
định vai trò quan trọng, then chốt của KTNN trong toàn nền kinh tế quốc dân.
2. Quan niệm về Kinh tế nhà nước
2.1. Khái niệm về kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước là loại hình kinh tế do nhà nước nắm giữ bao gồm
quyền sở hữu, quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo những hướng đã định.
Kinh tế nhà nước được thể hiện dưới những hình thức nhất định: doanh
nghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống bảo
TrÇn Anh Tó Th−¬ng m¹i 44A

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
hiểm. Như vậy kinh tế nhà nước có nhiều bộ phận hợp thành, và tất cả các bộ
phận đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước.
2.2. Các bộ phận hợp thành và chức năng của từng bộ phận
a. Doanh nghiệp nhà nước: "là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư
vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoạt động công
ích, nhằm thực hiện những mục tiêu đã định". Như vậy doanh nghiệp nhà
nước có 2 loại: Một là, các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận, hai
là: các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích xã hội. Nếu loại doanh nghiệp
thuộc loại 1 thì hoạt động với mục đích ổn định chính trị và chủ yếu còn
doanh nghiệp thuộc loại 2 thì lấy mục đích lợi nhụân là chủ yếu tuy nhiên
phải chấp hành pháp luật. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của loại 1 là: quốc
phòng an ninh, tài chính, y tế, văn hoá, giáo dục còn doanh nghiệp thuộc loại
2 là hoạt động trên tất cả các ngành, lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả. Vì vậy
mỗi doanh nghiệp có chức năng và đặc thù về cơ chế quản lý.
b) Ngân sách nhà nước là một bộ phận của KTNN, thực hiện chức năng
thu, chi ngân sách, và có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt
động của KTNN. Doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác,
c) Ngân hàng nhà nước: là một bộ phận của KTNN nhằm đảm bảo cho
KTNN, kinh tế quốc dân hoạt động bình thường trong mọi tình huống. Các
quỹ dự trữ quốc gia dùng lực lượng vật chât để điều tiết quản lý bình ổn giá
cả, đảm bảo cho tình hình kinh tế - xã hội chung.
d) Hệ thống bảo hiểm: là một bộ phận không thể thiếu được của kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảo
hiểm do nhà nước quy định phục vụ cho kinh tế nhà nước và các thành phần
kinh tế khác.
Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng nhiệm vụ cụ thể là
khác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau, nhiệm vụ cụ thể là khác
nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế nhà
nước và các thành phần kinh tế khác.
Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng, nhiêm vụ cụ thể là
khác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế
nhà nước và hoạt động theo một thể chế được nhà nước quy định thống nhất.
TrÇn Anh Tó Th−¬ng m¹i 44A

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
CHƯƠNG II
TÍNH TẤT YẾU VÀ NỘI DUNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH
TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
1. Tính tất yếu phải phát triển mạnh và vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Nước ta có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu nhà nước, sở
hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp, sở hữu tư nhân. Trong đó sở hữu nhà nước giữ
vai trò cực kì quan trọng - ứng với nó là thành phần kinh tế nhà nước và việc
thừa nhận và phát triển thành phần kinh tế này là một tất yếu khách quan.
Hơn thế nữa chúng ta xây dựng KTTT định hướng XHCN thì để đảm
bảo tính định hướng XHCN có sự điều tiết, kiểm soát của nhà nước thì phải
có một KTNN vững mạnh, phát triển là lực lượng vật chất để nhà nước thực
hiện vai trò điều tiết, hướng nền kinh tế theo những mục tiêu của XHCN. Dù
bất cứ ở nước nào chính phủ đều phải nắm trong tay những sức mạnh kinh tế
thông qua thành phần kinh tế nhà nước. Có như vậy những cải cách, tác động
vào nền kinh tế mới có hiệu quả. Nhưng định hướng chính sách dù có đúng
nhưng nếu không có sức mạnh vật chất thì nó cũng không thể thành công
trong mọi lúc.
Trong KTNN, hệ thống các doanh nghiệp nhà nước giữ một vai trò cực
kì quan trọng trong việc phát triển hệ thống doanh nghiệp cần thiết trong giai
đoạn hiện nay vì:
Do nhu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh các doanh nghiệp *****
ra để nhằm thực hiện những dự án lớn mà lực lượng tư nhân không thể gánh
vác được, đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao chỉ có các doanh nghiệp nhà nước
mới đáp ứng được.
Do có rất nhiều thuyết (đặc biệt là của Keyness) về vai trò của kinh tế
nhà nước, chính phủ đã chủ trương thành lập nhiều doanh nghiệp nhà nước về
cung cấp các hàng hoá công cộng, tạo ra việc làm, phân phói lại thu nhập, xoá
bỏ độc quyền, thực hiện công bằng xã hội.
Chúng ta đang thực hiện CNH, HĐH: đi tắt, đón đầu, quá trình này đòi
hỏi lượng vốn rất lớn, và rủi ro cao, các doanh nghiệp tư nhân không thể hoặc
muốn tham gia vào chính phủ buộc phải thành lập các doanh nghiệp nhà nước
để thực hiện nhiệm vụ naỳ.
Như vậy vấn đề phát triển và tăng cường vai trò chủ đạo của KTTT là
một tất yếu khách quan, cần thiết. Nhận thức được mục tiêu này chúng ta phải
TrÇn Anh Tó Th−¬ng m¹i 44A

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
có nhiều biện pháp chính sách để tăng cường vai trò chủ đạo của nó.
2. Vai trò chủ đạo của KTNN trong giai đoạn hiện nay
2.1. KTNN là lực lượng vật chất, công cụ sắc bén để nhà nước thực hiện
chức năng định hướng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN, KTNN với tư cách là một yếu tố, một chủ thể kinh tế đặc biệt. Nó có
vai trò vĩ mô điều tiết, điều hành trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế đất nước
làm cho nền kinh tế hoạt động thông suốt, tạo lập những cân đối lớn theo định
hướng XHCN mà kinh tế thị trường không tự điều chỉnh được.
Đây là một vai trò cực kỳ quan trọng của KTNN nó là cơ sở để đảm bảo
sự can thiệp của nhà nước là có hiệu quả. Hơn nữa KTNN xuất hiện như là
một chủ thể kinh tế độc lập và các chủ thể kinh tế khác trong một số trường
hợp lợi ích của nhà nước có thể mâu thuẫn với lợi ích của thành phần kinh tế
khác đặc biệt là tư nhân. Sự điều tiết của nhà nước không thể thuận chiều với
động cơ lợi nhuận, và lợi ích cá nhân, của các chủ thể. Để đảm bảo sự điều
tiết, nhà nước cần có một tiềm lực kinh tế, đủ hoặc đền bù xứng đáng cho
thua thiệt của các thành phần kinh tế khác, hướng họ và những hành động
theo mục tiêu nhà nước đặt ra. Tất cả những tiềm lực ấy đều do KTNN tạo ra.
2.2. Hoạt động của khu vực KTNN là nhằm mở đường, hướng dẫn, hỗ
trợ, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Chức năng tạo lập
môi trường. Tức là nó phải tạo được tiền đề thuận lợi để khai thông và tận
dụng mọi nguồn lực ở tất cả các thành phần khác nhau vì sự tăng trưởng
chung của nền kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển đúng mục tiêu đã chọn.
2.3. Kinh tế nhà nước là khu vực xung kích chủ yếu thực hiện CNH,
HĐH đất nước mặc dù sự nghiệp CNH là sự nghiệp của toàn dân. Nhưng
trong bối cảnh tiềm lực của khu vực dân doanh còn chưa đủ mạnh để đảm
đương nhiệm vụ này nên sự nghiệp cao cả đó lại đặt lên vai KTNN. Vì vậy
trong giai đoạn hiện nay KTNN đặc biệt là việc đầu tư mới của nhà nước vẫn
là lực lượng chủ chốt đi đầu trong quá trình chuyển nước ta thành nước công
nghiệp văn minh. Để đảm bảo được nhiệm vụ này khu vực KTNN phải huy
động tổng lực trước hết là chiến lược đầu tư đúng đắn, trong đó bao hàm cả
đầu tư trực tiếp của nhà nước. Lập chính sách khuyến khích để tập thể, tư
nhân tập trung vào các ngành mũi nhọn, tạo đà tăng trưởng nhanh cho nền
kinh tế. Tiếp nữa là các nỗ lực về tài chính ngoại giao, chính trị để thực thi
chiến lược, chuyển giao công nghệ hiệu quả. Có thêm một điểm mới ở đây là
KTNN không chỉ tiến hành CNH, HĐH đơn độc như trước đây mà trở thành
TrÇn Anh Tó Th−¬ng m¹i 44A

