BÀI MẪU SỐ 1:
Bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên được rút ra từ tập thơ “Ánh ng và psa”,
một trong những thành tựu xuất sắc ca nền thơ Việt Nam từ sau năm 1945. Bài thơ
tiếng lòng của một ni con, người chiến sĩ, ng biết ơn, tình yêu, sự gắn bó với nhân
dân, với đất nước của một tâm hồn thơ đã m thy con đường soi sáng cho những tác phẩm
của mình – đó là đời sng nhân dân và đất nước.
Bài thơ có một lời đề từ bằng khổ thơ bốn câu:
“Tây Bc ư?riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”
Cả Tổ quốc đu rộn ràng, nhộn nhịp xây dựng cuộc sống mới cùng y Bắc. Không cần
tại nơi y, cùng bà con xây dựng đất nước, những một lòng vẫn nhớ về Tây Bắc, Tây Bắc
luôn trong tim. Lời đề t ca bài thơ như tiếng lòng ca một người con đã đi xa nhưng
trong lòng vẫn luôn hướng về Tây Bắc.
Bài thơ mở đầu bằng lời thúc giục:
“ Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Ni
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi ,sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
VĂN M
U L
P 12
BÌNH GIẢNG BÀI THƠ TIẾNG HÁT CON TÀU CỦA CHẾ LAN VIÊN
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia
Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thm đất
Nay dạt dào đã chính trái đầu xuân
Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại Mu thương
Những lời giục giã nhân vật “anh”, cũng là đại biểu cho những người đang loay hoay với cái
tôi nhỏ bé, chưa tìm được lí tưởng của mình, cũng như đang giục giã chính mình. Đi đi, lên
tàu đi, n y Bắc đi, bởi vì “Tâm hồn anh chờ gp anh trên kia”.Đã đi rất nhiều, rất xa, đã
trăn trở , rồi cuối cùng nhn ra, về Tây Bắc đi, để “gặp lại Mẹ yêu thương”.
Đoạn thơ tiếp theo là tất cả những kỉ niệm mà c giả đã có ở nơi Tây Bắc:
“ Con gặp lại nhân dân như nai v suối cũ
….
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
Đoạn thơ thhiện niềm vui, niềm hạnh phúc ca một người con đã đi xa nay được trở về
với Tây Bắc. Tác giả so sánh việc được trở lại với nhân dân như “nai về suối cũ”, cỏ đón
giêng hai”, “chim én gặp a”, “đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa”, “chiếc nôi ngừng gp cánh
tay đưa”. Những hình ảnh thật đp, nhưng cũng thật gần gũi. Về với nhân dân, về với cội
nguồn, về với nơi nuôi ỡng tâm hồn, là thuận theo những tự nhiên nhất. Về với nhân
dân, là khát vọng sau bao tháng ngày đi chờ.
Niềm hạnh phúc đưc trở về với nhân dân còn được thhiện qua những hình nh, những
con người cụ thể. nhngười anh du kích, thng em liên lạc, những người không tiếc
ơng máu đ hoàn thành nhiệm vụ, những người luôn quan tâm đến đồng đi, hơn chính
bản thân mình. mế với ơn nuôi sâu sắc, cả đời người chiến y ng không thể nào
quên. Nhcon người, nhớ luôn cả cảnh vật nơi đây. Nhớ những ngày ơng giăng mây phủ
đầy trời. Nỗi nim nhớ thương sâu sắc đã đúc kết lại thành triết sâu sắc: “Khi ta , ch
i đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa m hồn
Trong mạch cảmc nhớ nhung, tác giả đột ngột chuyển sang một thứ cảm xúc khác, đó
tình yêu:
“ Anh bỗng nhớ em như đông vnhrét
….
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”
Tình yêu của nhà thơ thật đp, thật thiêng liêng nhưng cũng thật gần gũi. Tình yêu cũng
một sức mạnh thật lớn, làm cho “đất lạ hóa quê hương. Kết lại, vẫn lòng yêu miền đất
y Bắc ấy, tình yêu là chất xúc tác, những con ngưi y càng thêm yêu Tây Bắc.
Đoạn kết bài thơ là khúc hát lên đường gợi lại khí thế hừng hực:
“ Đất nước gọi hay lòng ta gọi
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”
lời giục gcủa đất nước, hay chính tiếng lòng của một con người mong mỏi v với
nhân dân, với y Bắc. Nỗi nhđã ti thúc khát vng trở về. Những hình ảnh đẹp như
tương lai, như tưởng tượng của nhà thơ về Tây Bắc, về những ngày tươi sáng đang chờ.
Bài thơ đầy chất trí tunhưng cũng dạt dào cảm xúc, một bài thơ tiêu biểu đánh dấu s
trưởng thành của hồn thơ Chế Lan Viên. Không chỉ thế, bài thơ còn tiếng lòng của một
người con khi được trở vvới nhân dân, với đất ớc, tìm được tưởng nguồn nuôi
ỡng cho hồn thơ của mình.
BÀI MẪU SÔ 2:
Chế Lan Viên nhà thơ để lại cho hậu thế số lượng thơ lớn, thơ của ông rất dễ đi o lòng
người. Những câu thơ với âm hưởng mượt mà như những làn điệu trữ tình mà sâu sắc mà cũng
mang chất giọng lạ táo bạo và đầy ttuệ. “ Tiếng hát con tàu” là khúc hát yêu thương của một
tấm ng hướng về nguồn cội khi đã hóa thân “tâm hồn ta Tây Bắc chứ còn đâu”.Nhà thơ ý
thức nhiệm vụ của người cầm bút và hướng tới cuộc sống mới bằng một m hồn khát khao
mãnh liệt qua Tiếng hát con tàu.
Những kí ức những khát khao bùng cháy với miền Tây Bắc “Xứ thiêng liêng rừng núi hóa anh
hùng”, những kỉ niệm ny nào về nh nghĩa dân quân cả nước lại được sống dậy trong m
tác giả. ”, nhớ mế: “Năm con đau mế thức một a dài". Nhân dân được hiện ra trong quầng
sáng ấp ám của nghĩa tình ruột thịt, đây những người anh với “chiếc áo nâu suốt mt đời
rách”, Nhà thơ nhớ “thằng em liên lạc", “ni anh du kích những người mẹ “la hồng soi tóc
bạc” đã hết lòng cưu mang đùm bọc che chở tác giả trong những ngày đầu của cuộc kháng
chiến. Bên cnh đó còn có những người mẹ, người anh không núm ruột rt ra”, nhưng tấm
lòng của nhân n đáng quý đáng trng đến dường nào!những tình cảm tha thiết được tác giả
gửi gắm qua tác phẩm và từng câu chữ.
Nỗi nhớ của c giả hin hữu với những hình ảnh đặc trưng của miền y Bắc, đó nhbản
sương giăng, nhớ đèo mây ph Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương. Trong đó vẫn nhng
giọng điệu rất quen đầy gợi cảm và của suy tưởng, câu thơ ngnrất lạ vẫn đậm đà nỗi
nhvề Tây Bắc, tác giả dẫn ngưi đọc có dp trải lòng. Ni nhớ từ những hình ảnh cụ thể
được khái quát và bất ngờ nhân lên thành một chân lí:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Đây hai câu thơ hay nhất đúng mt chân dung du sắc nhất. Nhẹ như không
“hình tượng thơ trong đoạn thơ trên đã vận động từ cảm xúc đến suy ởng. Từ những tình
cảm nhớ thương mảnh đất con người, tác giả đã nâng cảm xúc lên thành một suy nghĩ. Đất
i vô tri giác nhưng khi con người gắnvới thì cũng mt mảnh hồn của chính
con người chúng ta. Đi xa thì phải nhớ phải thương.
Đoạn thơ trên i đó thật mông lung, hnhư một thứ trái chín đỏ lấp giữa vườn
xanh gợi cho ta biết bao háo hức, suy tưởng. Điều đó khiến ngưi đọc như cùng chung dòng
tâm ởng của nhà thơ nhớ về những miền đất đã qua và đã sống, nhớ về những con người tuy
“không phải n máu cắt” nhưng “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Phải chăng chính sợi y
nghĩa tình ấy đã làm sống lại mảnh đất ngỡ như vô tri mà:
Khi ta ở đất chỉ là nơi đất ở.
Chính nghĩa tình sâu nặng dân quân đã hóa thân vào mảnh đất khiến cho nó cũng có tâm hồn:
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Không những thế mạch thơ đang vn động một cách đều đặn theo dòng suy tường đt nhn bị
chặn đng lại bởi nỗi nhớ bỗng” tràn về. Nhà thơ dành hẳn một đoạn thơ để viết cho “em”:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông tr biếc
Tình yêu làm đất lạ hoa quê hương.
Đoạn thơ như một nốt đm rất lạ sang ngang dòngm tưởng. Vâng, lạ ngay từu đầu:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét.
Câu thơ dường như có cái đó phi logic nhưng vẫn rất đúng với tình yêu. Và đminh chứng
thêm cho điều đó nhà thơ đưa ra một loạt so sánh về tình yêu giữa anh em như “Đông về
nhrét” như “cánh kiến hoa vàng” n“xuân đèn chim rừng lông trở biếc”. Giữa muôn vàn
định nghĩa về tình yêu phải chăng Chế Lan Viên đang m cho nh một định nghĩa mới về
tình yêu? Phải chăng nthơ đang định nghĩa tình yêu thông qua những so sánh o bạo đầy
bất ngờ.
Cái rét đầu mùa anh rét xa em
Đêm nay lạnh chăn chiam hai nửa
Nửa đắp cho em ở vùng biển lạnh
Nửa đắp cho mình ớ phía không em.
Khi tình yêu đến một cách bất ngờ chữ “bỗng”thể hiện nỗi nhớ ni nhớ đã thiết tha như
thật. cái giây phút bỗng” y đã giúp họ tìm thấy nhau tìm thy chính mình.Tình yêu
bỗng hiện ra lung linh sắc màu, giản dthiêng liêng đến nhường nào. Và chính tình yêu y
khiến
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.