BỨC CUỐN THƯ "THIÊN ĐÔ CHIẾU"
BẰNG SỨ
Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) ca ng Uẩn nguyên bn gồm cả thảy 217 chữ
Hán, là một văn bản của vua (chiếu n gọi là chiếu chỉ) viết theo thể văn ngh
luận, vua nêu ý kiến, quan đim của mình vmột vn đề quan trọng nào đó
ban bmệnh lnh của vua.
Chiếu dời đô là chiếu chỉ của Công Uẩn (947-l028). Ông là người Đình Bng
(xưa gọi là châu CPháp, lBắc Giang), bản tính thông minh, nhân ái, chí lớn
lập được nhiều chiến công. Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến chức Tả thân vệ
Điện tiền chỉ huy sứ. Khi Lê NgoTriều (Long Đĩnh) mất, ông được các tăng
đại thần đứng đầu Vạn Hạnh Đào Cam Mộc n lên m vua, ly
niên hiệu là Thun Thiên. 1000 năm trước, năm Canh Tuất niên hiu Thuận Thiên
thnhất (1010), ng Uẩn ban bố Thiên đô chiếu bày tquyết định dời đô t
Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Thăng Long, Hà Ni ngày
nay): ... Huống chi thành Đại La, kinh đô của Cao Vương vào nơi trung m
trời đất, được i thế rồng cuộn hngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện
hướng nhìn ng dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao thoáng. n cư
khỏi chịu cnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong p tốt tươi. Xem
khắp đất Việt ta chỉ i này thắng địa. Thật là chốn hội ttrọng yếu của bn
phương đất ớc; cũng nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm
mun dựa vào sthuận lợi của đất y để định chỗ . c khanh nghĩ thế nào?”’
(Nguyn Đức n dịch, Thơ văn Lý Trn, tập I, NXB Khoa học xã hi, Hà Ni,
1977).
ng Uẩn rất u sắc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị vua ng nghiệp.
Khi vừa lên ngôi, ông đã đặt ra vấn đề trọng đại nước vì n. Kinh thành không
đóng đô Hoa mà dời đô về thành Đại La nằm giữa châu thổ đồng bằng Bắc
Bộ, sông Hồng bao quanh, hồ y, hồ Lục Thuỷ Ba Vì, Tam Đảo chắn che
mặt y, mặt Bắc, thông thương rộng rất với các tỉnh ven biển, các tỉnh phía Nam.
thvào thế kXI, Thăng Long vừa kinh đô của nước Đại Việt cường thịnh,
vừa có quy mô ln trong khu vực và trên thế giới lúc bấy giờ.