1
Luận văn
Các công cụ gián tiếp của chính sách
tiền tệ trên thị trường mở của Ngân
hàng Trung ương
2
Lời nói đầu
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế tầm
ảnh ng cùng quan trng đến toàn bđến toàn bnền kinh tế quốc dân.
Thông qua chính sách y, Ngân ng trung ương, Chính phủ chính sách thể
đưa ra các biện pháp nhằm n định giá cả, tăng trưởng kinh tế và ci thiện tình
trạng ng ăn việc m. Để chính sách tiền tệ phát huy một ch tối đa hiu quả
của nói, việc sdụng các ng ccủa chính sách này hợp trong từng giai
đoạn khác nhau của quá trình phát trin kinh tế xã hội giữ vai trò chủ chốt.
Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bài đề án môn học, em chỉ xin đề cấp
một vài nét vcác ng cgián tiếp của chính sách tiền tệ trên thị trường m
của Ngân hàng Trung ương.
3
Phần I: Giới thiệu chung
I. Chính sách tiền tệ.
Tiền tệ là một khái niệm dùng để chỉ những gì được chấp nhn làm môi
gii trung gian trong trao đổi là phương tiện thanh toán các khoản nợ. Từ khi
ra đời cho đến nay, tin tệ đóng một vai trò quan trng trong hoạt động kinh tế
hội của tất cả các quốc gia trên thế giới. Lịch sử phát triển của tiền tệ đã tri
qua nhiu hình thái khác nhau nhưng tựu chung lại chúng có cùng một bản chất.
Đi m với quá trình hình thành phát trin của tin tệ hoạt động tài chính
ngân hàng cũng đã ra đời và phát triển không ngững và ngày càng khng đnh
vai trò không th thiếu được của hoạt động tiền tệ. Ngày nay hthống ngân
hàng đặc biệt là Nn hàng Trung ương thông qua một cơ chế điều chỉnh
tin tệ gọi là “ chính sách tin tệ đã khả năng kiểm soát được các vấn đề về
tin tệ. Các nhà kinh tế học cũng chưa đưa ra được một định nghĩa chính xác về
thế nào là chínhch tiền tệ, tuy nhiên chính sách tin tệ cũng có thể được coi là
những biện pháp mà Ngân hàng Trung ương, ngân hàng quyền lực cao nhất
trong toàn b hoạt đng ngân hàng tài chính, sdụng để đạt những mục tiêu
kinh tế xã hội nhất định. Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh
tế để quản điều tiết lượng tiền cung ứng. Ngân hàng Trung ương
thông qua các công c của chính sách tiền tệ để thực hin chức ng là Nn
hàng quốc gia và quản lý vĩ mô của mình.
Chính ch tiền tệ là một hệ thống bao gồm các công ctrực tiếp và gián
tiếp nhằm tác động đến hệ thống mục tiêu trung gian và mục tiêu cui cùng của
chính ch tiền tệ đó là ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
đầy đủ. Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới chuyển nền kinh tế tquan liêu
bao cấp sang nn kinh tế thị trường đã những bước tiến cùng quan trọng.
Nói đến nền kinh tế thị trường tức là nói đến một hệ thống thị trường được phát
4
triển đầy đủ như thị trường hàng hoá dch vụ, thị trường công nghệ, th
trường sức lao động, thị trường khoa học kỹ thuật công nghệ ... và đặc biệt là th
trường tài chính tiền tệ, một thị trường có ảnh hưởng đến toàn bnền kinh
tế, nó sẽ liên kết chặt chẽ c thị trường với nhau tạo thành một chỉnh thể hữu
cơ, bền vững. Ngân ng Trung ương và hthống c ngân ng stham gia
vào việc đề ra những mục đích những bin pháp, những ng chữu hiệu nhất
để tạo điều kiện cho chính sách tiền tệ phát huy hiệu quả. Tiền tệ lưu thông
tin tệ được coi là những mạch u của nền kinh tế, đó là một thứ dầu bôi trơn
để bộ máy kinh tế hoạt động thật hiệu quả. Chính vì những do trên chính
sách tiền tệ là một chính sách đặc biệt quan trọng. Vậy những công cụ của chính
sách tiền tệ là gì? Làm thế nào để đạt được những mục tiêu đã đặt ra?
Để đạt được mc tiêu cuối cùng ca chính sách tiền tệ những mục tiêu
trung gian được coi là những nấc thang đưa dần dần tác động của Ngân hàng
Trung ương thông quan ng loạt các công cụ của chính sách này. ng cụ của
chính sách tin tệ được phân ra làm hai loi: Công ctrực tiếp và ng cgián
tiếp. Cả hai ng cnày đều đặc điểm chung đó là thc động đến mục
tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ. Đó là lãi suất, đó là
khối lượng tiền cung ứng, đó là khi lượng dự trữ bắt buộc đó là lãi suất trên th
trường tiền tệ liên ngân hàng tất cc mục tiêu đó đều được lựa chọn vì chúng
ưu điểm là thđo lượng được, có thể kiểm soát được và quan trọng n
đó chúng đều mối liên hchặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Hthống mục
tiêu này bao gm nhiều chỉ tiêu khác nhau. Vì vậy để đạt được nó cần những
công chỗ trợ đắc lực và hiu quả. Trong từng giai đoạn khác nhau của nền
kinh tế thể các mục tiêu này stạm thời thay thế cho nhau. Vì vậy việc linh
hoạt trong việc sử dụng các ng cụ của chính sách tin tệ sao cho phù hợp nhất
với các mục tiêu là vô cùng quan trng và Ngân hàng Trung ương sẽ là người ra
quyết định cuối cùng đối với các ng cnày. Hin nay, ng ctrực tiếp và
5
gián tiếp của chính sách tin tệ đó là: Hạn mức tín dụng, nghiệp vụ lãi chiết
khấu, dtrbắt buộc và hoạt động của Nn ng Trung ương tn thị trường
tdo này n gọi là nghiệp vụ thị trường mở. Trong điều kiện thế gii khi nền
kinh tế thị trường đã phát triển đa số các ớc tiên tiến thường sdụng c
công cgián tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, Vit Nam là
một nước mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự phát triển của hệ thống th
trường chưa được đầy đvà hoàn thiện vì vậy việc sdụng các ng cnày
trong điều hành chính sách tiền tệ gặp nhiều khó khăn về khách quan cũng như
chủ quan đặc biệt là trong giai đoạn giao thời như hiện nay.
II. Công cụ của chính sách tiền tệ
1. Công cụ trực tiếp Hạn mức tín dụng
Công ccủa chính sách tiền tệ là c hoạt động được thực hiện trực tiếp
bởi Ngân hàng Trung ương nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối
lượng tiền trong lưu tng và lãi suất. Hạn mức tín dụng là một loại ng c
trực tiếp đó là lãi suất dư nợ tối đa Ngân hàng Trung ương bắt buộc các tổ
chư chính ch tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nn kinh tế đây là
công ctác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông vi ng c này
Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được khối lượng tiền trong thời k
hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ, khi đó các công c gián tiếp chưa có
điu kiện để áp dụng. Trong trường hợp khẩn cấp với sức ép lm phát ng cao,
lượng tiền cung ứng cần được khống chế trực tiếp và ngay lập tức, Nn hàng
Trung ương kiểm st tất cả các khoản cho vay lớn của các ngân hàng trung
gian, hạn chế cho vay tiêu dùng, cho vay trả chậm, cho vay cầm cố... Tuy nhiên,
hạn mức tín dụng chỉ là một giải pháp mang tính chất đối ptình thế trước
những biến đng trước mắt. Hiu quả điều tiết của ng cnày không cao bi
tính chất hành chính thiếu linh hoạt của nó. Bên cnh đó việc qui định hạn