Các hợp chất polisacarit (phần 3)
V. Tinh bột
Tinh bột hay chất bột, nhiều trong các hạt ngũ cốc (lúa, nếp, bắp, đậu, kê), cũng như
các củ, khoai, ht hay trái thực vật khác, như củ lang (khoai lang), củ mì (khoai , sn),
ctừ (khoai từ), củ lăng (khoai mỡ, Dioscorea alata L.), ckhoai (khoai môn, khoai sọ,
Colocasia esculenta L.), c ấu, củ ng, khoai tây, mình tinh (huỳnh tinh, Maranta
arundinacea L.), chuối (chưa chín), hạt t, trái t (chưa chín), sakê,...
Tinh bột hin diện dạng rắn, màu trắng, vô định hình, không tan trong nước lạnh (nguội),
nhưng trương phồng trong nước nóng (trên 65˚C) thành hồ tinh bt có dạng nhão, nhớt.
Tinh bột là một loi polysaccarit (polysaccarid, polysaccharide), được tạo ra do các
monosaccarit là các α-glucoz (glucoz, glucose) liên kết với nhau bằng liên kết α-1,4-
glicozit và α-1,6-glicozit (glicosid, glycoside, glucozit, glucosid, glucoside) mà thành.
Tinh bt coi là mt polime (polimer), gồm các monome (monomer) là chất glucoz trùng
ngưng mà thành. Công thức kiểu công thức phân tử của tinh bột là (C6H10O5)n (n từ 1 000
đến 6 000).
Công thức cấu tạo của tinh bt hai dạng: dạng amylozơ (amylose) chiếm khoảng 10-
30% khi lượng tinh bột và dạng amylopectin (amylosepectin) chiếm khoảng 70-90%
khi lượng tinh bột.
Dạng amylodo các α-glucoz liên kết với nhau bằng liên kết α-1,4-glicozit (glucozit),
nghĩa là nhóm –OH C số 1 của vòng α-glucoz này kết hợp với nhóm –OH của C số 4
của vòng α-glucoz kia loại ra một phân tH2O, liên hai vòng α-glucoz bằng liên
kết ete (-O-). Do đó dạng amylozơ của tinh bt có cấu to mạch thẳng.
Dạng amylopectin chiếm khoảng 70 - 90% khi lượng tinh bột. Dạng này do các α-
glucoz liên kết với nhau bằng liên kết α-1,4-glicozit α-1,6-glicozit. Do đó dạng
amylopectin có mạch Cacbon phân nhánh. Và vì dạng amylopectin chiếm đa số, nên tinh
bột có dạng hạt,
Người ta ly tinh bột từ các củ, khoai, trái, hạt của các thực vật. Tinh bột được các thực
vt tạo ra do sự quang hợp:
thcoi phản ng trên gp của hai phản ng: CO2 và nước do sự quang hợp tạo
Glucoz trước, sau đó Các phân tGlucoz trùng ngưng tạo tinh bột.
Ngược lại, khi thủy phân đến cùng, thu được glucoz. Sự thủy phân tinh bột cần hiện diện
chất xúc tác tch hợp các men (enzym) hay axit (H+). Sthủy phân Glucoz trải
qua các giai đoạn tạo Dextrin (cũng các polysaccarit, nhưng khối lượng phân tnhỏ
hơn so với tinh bột) , Maltozơ, và cuối cùng là tạo Glucoz.
Sự thủy phân trên trải qua các giai đoạn sau:
Dung dịch h tinh bột (lấy 2 gam tinh bột pha trong 1 t nước i, rồi để nguội) khi gặp
dung dịch Iot (Iod, I2) t tạo mt phức chất màu xanh ơng (da trời, xanh lam), khi
đun nóng thì mất màu xanh, khi để nguội lại xuất hiện màu xanh. Nguyên nhân dng
amylozơ của tinh bột to một cấu trạng (cấu dạng) hình xoắn ốc và phân tử I2 b giữ trong
ống này tạo phức chất màu xanh dương. Khi đun nóng thì cấu trạng xoắn c bị p
hủy, do đó không còn màu xanh nữa, nhưng nếu để nguội lại tái tạo dạng ống nên I2 lại bị
nhốt trong ng này, thế xuất hiện màu xanh trlại. Do đó dung dịch h tinh bt là
thuc thử để nhận biết Iot và nợc lại, dung dịch Iot là mt loại thuốc thử để nhận biết
tinh bột.
Khi dung dịch Iot gặp tinh bột nồng đ cao thì tạo màu xanh dương đậm hay màu đen.
Tinh bt là một trong các nguồn thực phẩm chính (Gluxit, Lipit, Protit, Vitamin, Nước,
Muối khoáng) của con người ng như của nhiều loại động vật khác. Con người biết
trồng trọt từ lâu các loại thực vật (lúa, bắp, khoai, củ,...) để ly tinh bột làm thực phẩm.
VI. Xenlulozơ (CELLULOSE, CHẤT XƠ)
Xenlulozơ hiện diện dạng rắn, màu trắng, không mùi, không vị, không tan trong nuớc, k
cả nuớc nóng. Xenlulozơ cũng không bị hòa tan trong các dung môi hữu cơ thông thường
như benzen, ruợu, ete, axeton (aceton)...Xenlulozơ bị hòa tan trong nước Schweitzer
(dung dch phức chất [Cu(NH3)4]2+ màu xanh biếc, xanh ơng đậm, do dung dịch
NH3 hòa tan Cu(OH)2) tạo dung dịch nhớt.
Xenlulozơ nhiều vách tế bào thực vật. Xenlulonhiều trong bông vải, bông gòn
(95-98%), đay, gai, tre, nứa, vỏ dừa... Trong gỗ, Xenlulozơ chiếm khoảnh 40-50%.
Xenlulozơ là một loại polysaccarit (gluxit phức tạp) do các monosaccarit (gluxit đơn
giản) là các β-Glucoz liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4-glicozit (hay glucozit) mà
thành. Công thức dạng công thức phân tcủa Xenlulolà (C6H10O5)n. Do mi mắt xích
của Xenlulozơ có chứa 3 nhóm OH nên Xenlulozơ còn được viết là [C6H7O2(OH)3]n.
Khi lượng phân tử Xenlulozơ rất lớn, khoảng 1 000 000 2 400 000 đvC.
Công thức cấu tạo của Xenlulozơ do các β-Glucoz liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4-
glicozit (hay β-1,4-glucozit, β-1,4-glicozid, β-1,4-glycoside; β-1,4-glucoside). Do đó
Xenlulozơ mạch thẳng và Xenlulothường gặp dạng sợi. Sợi bông n, bông vải
hay sợi dừa mà ta thấy là s xoắn hay chập vào nhau của số các đại phân t
Xenlulozơ chung quanh mt trục chung.
Xenlulozơ được tạo ra do cây xanh quang hợp với sự hiện diện của diệp lục t
(chlorophyll).
Xenlulozơ bị thủy phân đến cùng tạo Glucoz với sự hiện diện các men (enzym) thích hợp
hay axit (H+) làm xúc tác. Trong thể con người không men thủy phân được
Xenlulozơ, nhưng trong loài động vật nhai lại (trâu, bò,...) men cellulosase nên thy
phân Xenlulozơ tạo Glucoz. Do đó con người không tiêu hóa được Xenlulozơ, nhưng các
loài động vật ăn cỏ tiêu hóa được Xenlulozơ.