intTypePromotion=1
ADSENSE

Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng

Chia sẻ: Vân Võ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

165
lượt xem
18
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo: Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng tập trung làm sáng tỏ các loại hoạt động thường được sinh viên thực hiện trên mạng xã hội và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện những hoạt động đó.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> NGHIÊN CỨU<br /> Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và<br /> những yếu tố ảnh hưởng<br /> <br /> Trần Thị Minh Đức*, Bùi Thị Hồng Thái<br /> <br /> Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,<br /> 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam<br /> <br /> Nhận ngày 05 tháng 5 năm 2015<br /> Chỉnh sửa ngày 11 tháng 5 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 5 năm 2015<br /> <br /> <br /> Tóm tắt: Các kết quả trong bài báo này được rút ra từ đề tài nghiên cứu “Mạng xã hội với thanh<br /> niên Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, mã số VI1.1-2011.04 do quỹ phát triển khoa học và<br /> công nghệ (Nafosted) tài trợ. Kết quả chỉ ra 5 loại hình loại hoạt động chính được sinh viên hướng<br /> tới khi sử dụng mạng xã hội là: 1/ tương tác bạn bè, 2/ giải trí (đạt mức cao), 3/ sự thể hiện bản<br /> thân (mức trung bình), 4/ kinh doanh và cuối cùng là 5/ thử nghiệm cuộc sống (đạt mức thấp).<br /> Những sinh viên tham gia vào nhiều loại hình hoạt động trên mạng xã hội là những người 1/ sử<br /> dụng mạng xã hội trên 5 giờ/ngày, 2/ có nhiều bạn trên mạng, 3/ thường xuyên giao tiếp trên<br /> mạng, 4/ công khai nhiều thông tin cá nhân trên mạng, 5/ có sự đánh giá cao lòng tự trọng.<br /> Từ khóa: Mạng xã hội, sinh viên, hoạt động.<br /> <br /> <br /> 1. Đặt vấn đề∗ Nhiều nghiên cứu cho thấy, các cá nhân<br /> thường sử dụng mạng xã hội vì những hoạt<br /> Những nỗ lực của công nghệ mạng xã hội động thiết lập và duy trì các tương tác xã hội,<br /> và điện thoại di động đã cho phép người sử bất kể tuổi đời của họ. Trong một cuộc tổng<br /> dụng thực hiện được nhiều hoạt động khác nhau điều tra trên người dân Pháp, Deroin (2009) đã<br /> trên mạng như tìm kiếm bạn, kết bạn; trao đổi chỉ ra rằng cứ 10 người sử dụng mạng xã hội thì<br /> thông tin; bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc cá nhân; có 6 người đọc và gửi tin nhắn cho bạn bè [1].<br /> đăng tải hình ảnh, tìm kiếm các địa chỉ giải trí ở Nghiên cứu của Barker (2009) nhận định rằng<br /> mọi địa chỉ liên lạc trên toàn cầu; thực hiện việc nữ giới sử dụng mạng xã hội chủ yếu để giao<br /> mua bán trực tuyến, v.v… tiếp với bạn bè trong khi nam giới lại thực hiện<br /> các hoạt động nâng cao tri thức, bù đắp xã hội<br /> _______ <br /> và theo đuổi những mong muốn của bản thân<br /> ∗<br /> Tác giả liên hệ. ĐT.: 0913094892 [2]. Thực tế cho thấy, cá nhân sử dụng mạng xã<br /> Email: ttmduc@gmail.com <br /> 1 <br /> 2 T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> <br /> hội khi tham gia vào các hoạt động nhóm viên thường thực hiện khi sử dụng mạng xã hội<br /> thường tìm đến những cư dân mạng cùng chung gồm 20 item (phản ánh nhu cầu của cá nhân),<br /> sở thích, ngôn ngữ, mối quan tâm để tương tác được thiết kế dưới dạng thang Likert 4 bậc và<br /> với nhau. Điều này tạo nên một mạng lưới các quy định điểm từ 0 - Không bao giờ đến 3 -<br /> hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá Liên tục, với hệ số tin cậy α = 0.826. Các kết<br /> nhân khi sử dụng mạng xã hội… quả điều tra được xử lí bằng phần mềm SPSS<br /> Bài báo này tập trung làm sáng tỏ các loại 16.0 gồm các phép toán thống kê mô tả (tính<br /> hoạt động thường được sinh viên thực hiện trên giá trị phần trăm, điểm trung bình) và thống kê<br /> mạng xã hội và phân tích những yếu tố ảnh suy luận (so sánh điểm trung bình bằng phép<br /> hưởng đến việc thực hiện những hoạt động đó. phân tích phương sai ANOVA và phép phân<br /> tích mối tương quan giữa các biến thông qua hệ<br /> số r). Ngoài ra, phương pháp phân tích nhân tố<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu và xử lí số liệu được tiến hành để tập hợp những item có liên<br /> quan đến nhau thành các nhóm nhân tố.<br /> Khảo sát được tiến hành trên 4.205 sinh<br /> viên có sử dụng MXH thuộc 6 tỉnh, thành phố Các khoảng điểm trung bình của mỗi item<br /> (Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và và mỗi nhóm nhân tố được xác định dựa theo<br /> thành phố Hồ Chí Minh) bằng phương pháp điểm trung bình chung và độ lệch chuẩn của<br /> điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Câu toàn thang đo (xem bảng 1).<br /> hỏi liên quan đến các loại hình hoạt động sinh<br /> Bảng 1. Điểm trung bình thang đo và điểm xếp hạng giá trị trung bình của các biến<br /> <br /> Điểm trung bình Mức xếp hạng giá trị trung bình các biến<br /> Độ lệch chuẩn thang đo Mức thấp Mức bình thường Mức cao<br /> 1.42/0.43 0.00 - 0.98 0.99 - 1.85 1.86 - 3.00<br /> <br /> <br /> 3. Phân tích kết quả nghiên cứu hội là cần thiết vì nó giúp người trẻ duy trì tình<br /> bạn. Arnett (2000); Connolly, Furman, và<br /> 3.1. Các loại hình hoạt động trên MXH của Konarksi (2000); Montgomery (2005) cho rằng<br /> sinh viên giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi được xem là khoảng<br /> thời gian quan trọng cho sự phát triển và trưởng<br /> Kết quả phân tích nhân tố thang đo các loại thành của một cá nhân. Sự phát triển và duy trì<br /> hình hoạt động trên mạng xã hội thể hiện các tình bạn trong giai đoạn này ảnh hưởng đến việc<br /> nhu cầu của sinh viên cho thấy có 5 nhân tố, giải hình thành bản sắc, cảm nhận về hạnh phúc và sự<br /> thích 54.074% sự biến thiên của biến (bảng 2). phát triển của mối quan hệ xã hội và gia đình<br /> Số liệu ở bảng 2 cho thấy, khi sử dụng trong thời gian dài. Các trang mạng xã hội là công<br /> mạng xã hội, sinh viên trong nghiên cứu thực cụ mới để phát triển và duy trì các mối quan hệ.<br /> hiện hoạt động tương tác (ĐTB = 2.22) ở mức Do đó, chúng giữ vai trò quan trọng đối với cá<br /> cao. Một số nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nhân trong giai đoạn tuổi trưởng thành [ 3].<br /> ở lứa tuổi thanh thiếu niên, sử dụng mạng xã<br /> T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10 3<br /> <br /> <br /> Bảng 2. Các nhóm nhân tố thể hiện các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên.<br /> <br /> Hệ số tương<br /> Các nhóm nhân tố Nội dung item quan giữa item<br /> và nhân tố<br /> g. Bày tỏ cảm xúc, ý kiến 0.785<br /> 1. Hoạt động thể hiện bản thân trên MXH h. Thăm dò, hỏi đáp thắc mắc 0.621<br /> (giải thích 12.623% sự biến thiên của biến), α f. Gửi quà tặng, lời chúc 0.616<br /> = 0.702, ĐTB = 1.64 (0.59) c. Chia sẻ khó khăn tâm lý 0.491<br /> Mức chuẩn j. Đăng tải hình ảnh, video, mp3 0.454<br /> o. Viết nhật kí, ghi chú 0.442<br /> 2. Hoạt động thử nghiệm n. Quảng cáo sản phẩm 0.738<br /> cuộc sống (giải thích 12.576% sự biến thiên m. Kiếm việc làm 0.661<br /> của biến), α = 0.685, ĐTB = 0.67 (0.63) p. Tham gia các cuộc thi trên mạng 0.608<br /> Mức thấp q. Chát sex, chụp hình nude 0.549<br /> 3. Hoạt động giải trí trên MXH k. Nghe nhạc, xem phim 0.803<br /> (giải thích 10.256% sự biến thiên của biến), α l. Chơi game 0.640<br /> = 0.617 i. Cập nhật thông tin, sự thật xảy ra trong 0.513<br /> ĐTB = 1.90 (0.67). xã hội<br /> Mức cao e. Đọc truyện 0.512<br /> 4. Hoạt động kinh doanh trên MXH (giải s. Mua hàng 0.794<br /> thích 10.084% sự biến thiên của biến), α = t. Các hoạt động thu hút khác 0.786<br /> 0.766 r. Bán hàng 0.641<br /> ĐTB = 0.70 (0.74). Mức thấp<br /> 5. Hoạt động tương tác trên MXH (giải thích a. Giao lưu, kết bạn 0.829<br /> 8.535% sự biến thiên của biến), α = 0.616 b. Tìm kiếm người thân, bạn bè 0.760<br /> ĐTB = 2.22 (0.61). Mức cao d. Chát, gửi tin nhắn 0.362<br /> <br /> <br /> Việc những sinh viên sử dụng mạng xã hội Internet để giao tiếp với bạn bè cảm thấy gần<br /> trong nghiên cứu này thực hiện hoạt động tương gũi với bạn bè hơn so với những người không<br /> tác ở mức cao cũng phù hợp với kết quả nghiên thường xuyên sử dụng mạng [4].<br /> cứu trên thế giới. Nhóm hoạt động tương tác Bên cạnh hoạt động tương tác, kết quả cũng<br /> trên mạng xã hội được cấu thành từ các item: cho thấy sinh viên trong nghiên cứu thực hiện<br /> “Giao lưu, kết bạn”, “Tìm kiếm người thân, bạn hoạt động giải trí ở mức cao (ĐTB = 1.90).<br /> bè” và “Chát, gửi tin nhắn”. Theo Peter, Việc nghe nhạc, xem phim, đọc truyện, chơi<br /> Vankenburg và Schouten (2006), dù sinh viên game trở nên dễ dàng hơn với các cá nhân do<br /> thường online để trò chuyện với người lạ nhưng mạng xã hội cung cấp kho dữ liệu giải trí khổng<br /> đại đa số họ dùng mạng xã hội để duy trì những lồ. Kết quả này cũng nằm xu hướng nghiên cứu<br /> mối liên hệ đã có trong đời thực nhiều hơn là để của các tác giả trên thế giới. Danah Boyd<br /> thúc đẩy mối quan hệ với những người chưa (2007) cho rằng, đa phần nam và nữ thanh niên<br /> quen biết. Những người thường xuyên sử dụng tham gia mạng xã hội là để phục vụ cho mục<br /> 4 T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> <br /> đích giải trí. Ví dụ, trong thưởng thức âm nhạc, nhóm nhân tố cho phép chúng ta nhìn nhận mức<br /> nhờ có mạng xã hội, các ban nhạc dễ dàng độ sinh viên thực hiện từng nhóm loại hình hoạt<br /> quảng cáo cho họ hơn và cũng thông qua mạng xã động khi sử dụng mạng xã hội. Các kết quả thu<br /> hội mà mối quan hệ cộng sinh giữa các ban nhạc được cho phép khẳng định tính phổ biến của<br /> và người hâm mộ nhanh chóng xuất hiện [5]. các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của<br /> giới trẻ trên toàn thế giới.<br /> Nhóm hoạt động thể hiện bản thân được<br /> sinh viên thực hiện ở mức bình thường (ĐTB = 3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến các loại hình<br /> 1.64). Thể hiện bản thân trên mạng xã hội của hoạt động của sinh viên trên mạng xã hội<br /> sinh viên gắn với việc cá nhân “bày tỏ cảm xúc,<br /> ý kiến”, “thăm dò, hỏi đáp thắc mắc”, “gửi quà Trong phần này, chúng tôi tập trung phân<br /> tặng, lời chúc”, “chia sẻ khó khăn tâm lý”, tích những kết quả về các yếu tố ảnh hưởng đến<br /> “đăng tải hình ảnh, video, mp3” và “viết nhật việc thực hiện các loại hình hoạt động trên<br /> ký, ghi chú”. Goffman (1963) gọi cách thức mà mạng xã hội của sinh viên như số giờ sử dụng<br /> cá nhân bày tỏ để người khác nhìn vào họ là mạng xã hội trong ngày, số bạn trên mạng xã<br /> “bản sắc xã hội ảo” [6]. Jean-Yves Hayes hội, lượng thông tin sinh viên công khai trên<br /> (2008) chỉ ra rằng, vì mạng xã hội có khả năng mạng, mức độ bảo mật thông tin cá nhân và tự<br /> công bố rộng rãi những điều riêng tư của cá đánh giá lòng tự trọng của sinh viên sử dụng<br /> nhân, cá nhân khi bày tỏ cảm nhận, suy nghĩ mạng xã hội.<br /> của mình cũng chờ đợi phản ứng của cư dân<br /> Ảnh hưởng của số giờ sử dụng mạng xã hội<br /> mạng thông qua các bình luận. Điều này cho<br /> phép cá nhân xây dựng hình ảnh bản thân.<br /> Theo nghiên cứu của Ellison và cộng sự<br /> Ngoài ra, họ còn có thể thử nghiệm bản sắc cá<br /> (2007), sinh viên Đại học Hoa Kỳ sử dụng<br /> nhân mình bằng cách thể hiện những “bộ mặt”<br /> Facebook trung bình từ 10 đến 30 phút mỗi<br /> khác nhau trên mạng xã hội và quan sát cách ngày và nhóm người sử dụng điển hình dành<br /> phản ứng của mọi người [7]. khoảng 20 phút mỗi ngày trên mạng [3]. Khảo<br /> Cuối cùng, hoạt động kinh doanh (ĐTB = sát mới hơn trên sinh viên Đại học Lock Haven<br /> 0.7) và hoạt động thử nghiệm cuộc sống (ĐTB tại Pennsylvanie cho thấy, trung bình sinh viên<br /> = 0.67) được sinh viên thực hiện ở mức thấp. bỏ ra 106 phút/ngày để dùng Facebook [8].<br /> Nhìn chung, các khách thể là sinh viên ít khi sử Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ sinh viên<br /> dụng mạng xã hội để “mua hàng” hay “bán dùng mạng xã hội từ 1 giờ đến dưới 3 giờ/ngày<br /> hàng” do đặc điểm hoạt động chủ đạo của họ là là cao nhất (chiếm 43.5%), tiếp đó là những<br /> học tập và thiết lập các mối quan hệ xã hội. Ở sinh viên sử dụng mạng từ 3 giờ đến dưới 5<br /> lứa tuổi này, không nhiều người có điều kiện về giờ/ngày (chiếm 31.5%), từ 5 giờ đến dưới 8<br /> tài chính cũng như kinh nghiệm để thực hiện giờ/ngày (chiếm 14.9%), trên 8 giờ/ngày<br /> những hoạt động về kinh tế. Bên cạnh đó, việc (chiếm 7.2%) và dưới 1 giờ/ngày (chiếm 2.9%).<br /> thử nghiệm cuộc sống thông qua các cách thức So sánh điểm trung bình việc thực hiện của 5<br /> như “tham gia các cuộc thi trên mạng”, “kiếm nhóm loại hình hoạt động trên mạng xã hội ở<br /> việc làm” và “chát sex, chụp hình nude” cũng sinh viên theo phép phân tích phương sai<br /> không thu hút sinh viên trong nghiên cứu này. ANOVA cho thấy có sự khác biệt về mức độ<br /> Như vậy, việc phân tích thang đo về các thực hiện các hoạt động có ý nghĩa thống kê.<br /> loại hình hoạt động trên mạng xã hội thành 5 Theo đó, những sinh viên sử dụng mạng xã hội<br /> T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10 5<br /> <br /> <br /> từ trên 5 giờ/ngày là những người có điểm trung mạng cao hơn so với nhóm sinh viên dành dưới<br /> bình thực hiện các loại hoạt động khác nhau trên 5 giờ/ngày cho mạng xã hội (xem biểu đồ 2).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Biểu đồ 1. Mức độ thực hiện các loại hình hoạt động trên mạng xã hội<br /> ở nhóm sinh viên sử dụng mạng xã hội trên 5 giờ/ngày.<br /> <br /> Biểu đồ 1 cho thấy, nhìn một cách tổng thể, Như vậy, nhóm sinh viên sử dụng mạng xã<br /> những sinh viên sử dụng mạng xã hội trên 5 hội trên 5 giờ/ ngày trong nghiên cứu của chúng<br /> giờ/ngày thực hiện các hoạt động chung trên tôi với việc thực hiện hai loại hình hoạt động là<br /> mạng xã hội ở mức trung bình (ĐTB = 1.57). tương tác và giải trí ở mức cao có thể dự báo<br /> Trong đó, sinh viên thực hiện nhóm hoạt động nguy cơ giảm sút hiệu quả học tập và giao tiếp<br /> tương tác (ĐTB = 2.31) và giải trí (ĐTB = 2.06) ngoài đời thực của họ.<br /> ở mức cao, nhóm hoạt động thể hiện bản thân<br /> (ĐTB = 1.82) ở mức trung bình, nhóm hoạt Ảnh hưởng của số bạn trên mạng xã hội<br /> động kinh doanh (ĐTB = 0.88) và hoạt động<br /> Xem xét số lượng bạn trên mạng xã hội của<br /> thử nghiệm cuộc sống (ĐTB = 0.83) ở mức<br /> sinh viên, chúng tôi đã dựa vào “con số<br /> thấp. Reynol Junco (2011) chỉ ra rằng, những 1<br /> Dunbar” để phân chia các khoảng số lượng<br /> sinh viên thường dùng Facebook trên 5<br /> bạn mà một sinh viên có thể duy trì trên trang<br /> giờ/ngày có điểm số học tập giảm 10%. Mặc dù<br /> mạng cá nhân của mình. Theo đó có các mức:<br /> vậy, tác giả cũng nhấn mạnh rằng vấn đề quan<br /> dưới 150 bạn (chiếm 35.4%), từ 150 đến dưới<br /> trọng không phải là thời gian mà là những hoạt<br /> 300 bạn (chiếm 23.6%), từ 300 đến dưới 500<br /> động sinh viên thực hiện khi sử dụng mạng xã bạn (chiếm 18%) và trên 500 bạn (chiếm 23%).<br /> hội gây ảnh hưởng đến kết quả học tập [8]. Những khác biệt trong việc thực hiện các loại<br /> Theo đó, việc thường xuyên chơi trò chơi, đọc hình hoạt động trên mạng xã hội nhìn từ số bạn<br /> truyện và nói chuyện trên mạng trong khoảng mà sinh viên có được trình bày ở bảng 3 cho<br /> thời gian kéo dài là nguyên nhân dẫn đến sự sa thấy có mối liên hệ nhất định.<br /> sút học tập.<br /> 6 T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> <br /> Bảng 3. Mối liên hệ giữa số lượng bạn trên mạng của sinh viên<br /> với các loại hình hoạt động của họ<br /> <br /> Số bạn Dưới 150 150 - < 300 300 - < 500 Trên 500<br /> Hoạt động ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC<br /> Hoạt động chung<br /> 1.34 0.41 1.40 0.43 1.44 0.43 1.58 0.41<br /> F(3,3596) = 60.547***<br /> Tương tác<br /> 2.14 0.61 2.23 0.60 2.25 0.59 2.33 0.58<br /> F(3,3817) = 19.974***<br /> Giải trí<br /> 1.87 0.67 1.85 0.68 1.87 0.69 2.01 0.63<br /> F(3,3782) = 11.455***<br /> Thể hiện bản thân<br /> 1.50 0.59 1.61 0.58 1.71 0.56 1.85 0.54<br /> F(3,3760) = 71.937***<br /> Kinh doanh<br /> 0.59 0.69 0.66 0.72 0.71 0.74 0.89 0.80<br /> F(3,3726) = 29.323***<br /> Thử nghiệm cuộc sống<br /> 0.61 0.61 0.62 0.60 0.66 0.61 0.85 0.66<br /> F(3,3786) = 30.631***<br /> Chú thích:***p < 0.001<br /> <br /> Có sự tăng dần điểm trung bình thực hiện hệ mới thông qua việc kết nối với những người<br /> các loại hình hoạt động trên mạng xã hội theo không quen biết, những người là bạn của bạn<br /> sự tăng số lượng bạn bè trên mạng của sinh họ trên mạng xã hội. Dù những liên hệ xã hội<br /> viên.θ Theo đó, những sinh viên có trên 500 bạn dạng này có thể lỏng lẻo nhưng theo Boase và<br /> là những người có điểm trung bình thực hiện cộng sự (2006), việc gia tăng những mối liên hệ<br /> các loại hình hoạt động trên mạng cao hơn cả. mới này được xem như nguồn tăng vốn xã hội<br /> Nếu “con số Dunbar” khẳng định mỗi cá nhân của cá nhân sử dụng mạng, giúp họ có khả năng<br /> có thể duy trì mối quan hệ bạn bè an toàn với số nhận được sự giúp đỡ của các thành viên trong<br /> lượng 150 bạn thì kết quả điều tra về tổng số mạng lưới nhiều hơn so với người không sử<br /> bạn mà mỗi sinh viên có thể có cho thấy mức dụng mạng xã hội [5]. Như vậy, khi những sinh<br /> độ mất an toàn khá cao. Tuy nhiên chúng tôi viên càng có nhiều bạn trên mạng xã hội thì họ<br /> cho rằng, khái niệm bạn bè ở thế giới ảo cần càng tham gia vào nhiều nhóm có chung mục<br /> được nhìn nhận một cách khác so với khái niệm đích, sở thích, mối quan tâm, v.v… với mình và<br /> bạn ở đời thực. Trên thực tế, tính chất của các điều này càng làm tăng mức độ họ thực hiện các<br /> mối quan hệ bạn bè trên mạng xã hội rất khác loại hình hoạt động khác nhau trên mạng xã hội.<br /> đời thực. Các trang mạng xã hội có tính năng Tiếp tục tìm hiểu ảnh hưởng của số lượng<br /> giúp người sử dụng hình thành những mối liên bạn đến việc thực hiện các loại hình hoạt động<br /> trên mạng xã hội của sinh viên, chúng tôi đã<br /> _______ <br /> khảo sát mối liên hệ giữa số lượng bạn mà sinh<br /> θ1<br />   Số Dunbar là một giới hạn về số lượng người mà một cá viên thường xuyên trao đổi với mức độ hoạt<br /> nhân có thể duy trì các mối quan hệ xã hội ổn định. Đây là<br /> những mối quan hệ trong đó một cá nhân biết mỗi người là động của họ. Kết quả cho thấy có 46.3% sinh<br /> như nào và mỗi người liên quan đến tất cả những người viên thường xuyên trao đổi với dưới 25 bạn trên<br /> khác. Con số này lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà nhân mạng, 32% sinh viên thường trao đổi với từ 25<br /> chủng học người Anh Robin Dunbar (1992) khi ông tìm<br /> thấy mối tương quan giữa kích thước não linh trưởng và đến dưới 100 bạn và 21.7% sinh viên thường<br /> kích thước nhóm xã hội trung bình. Dựa vào kích thước bộ trao đổi với trên 100 bạn (bảng 4).<br /> não của con người và ngoại suy từ kết quả nghiên cứu trên<br /> linh trưởng, ông cho rằng con người chỉ có thể duy trì một<br /> mối quan hệ an toàn và ổn định trong mức 150 người [9]. <br /> T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10 7<br /> <br /> <br /> <br /> Bảng 4. Mối liên hệ giữa số lượng bạn thường xuyên trao đổi trên mạng của sinh viên với<br /> các loại hình hoạt động của họ<br /> <br /> Số bạn trao đổi Dưới 25 25 - < 100 Trên 100<br /> Hoạt động ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC<br /> Hoạt động chung<br /> 1.31 0.43 1.49 0.39 1.59 0.40<br /> F(2,3648) = 146.670***<br /> Tương tác<br /> 2.09 0.62 2.32 0.55 2.37 0.56<br /> F(2,3869) = 91.795***<br /> Giải trí<br /> 1.77 0.71 1.97 0.61 2.05 0.61<br /> F(2,3835) = 61.272***<br /> Thể hiện bản thân<br /> 1.49 0.59 1.75 0.55 1.82 0.54<br /> F(2,3814) = 134.567***<br /> Kinh doanh<br /> 0.61 0.71 0.71 0.74 0.88 0.79<br /> F(2,3775) = 35.900***<br /> Thử nghiệm cuộc sống<br /> 0.58 0.60 0.71 0.62 0.81 0.64<br /> F(2,3839) = 43.123***<br /> <br /> Chú thích: ***p < 0.001<br /> <br /> Tương tự như ảnh hưởng từ số lượng bạn Song hành với khái niệm “công khai” là<br /> mà sinh viên có trên mạng xã hội, bảng 4 cho khái niệm “bảo mật” thông tin trên mạng xã<br /> thấy: Sinh viên càng thường xuyên trao đổi với hội. Theo Danad Boyd (2007), bảo mật thông<br /> tin trên mạng xã hội được hiểu là một cá nhân<br /> nhiều bạn trên mạng thì điểm trung bình thực<br /> có những thông tin quan trọng mà người khác<br /> hiện các loại hình hoạt động trên mạng xã hội<br /> không thể biết. Đó có thể là tên, tuổi, số chứng<br /> của họ càng cao. minh thư hoặc bất kì thông tin nào mà cá nhân<br /> Như vậy, trong nghiên cứu này, những sinh cho rằng đó là sự riêng tư cần bảo mật. Như<br /> viên có trên 500 bạn và những sinh viên thường vậy, bảo mật thông tin trên mạng xã hội thường<br /> xuyên trao đổi với trên 100 bạn trên mạng xã gắn liền với sự riêng tư của cá nhân [5].<br /> hội là những người có mức độ thực hiện các Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra 3<br /> loại hình hoạt động trên mạng xã hội cao hơn so mức độ công khai thông tin cá nhân trên mạng<br /> với nhóm sinh viên có số lượng bạn trên mạng xã hội là: “Chỉ mình bạn biết”, “Một số người<br /> ít hơn và có tần suất ít thường xuyên trao đổi biết” và “Mọi người đều biết”. Những thông tin<br /> cá nhân được sinh viên đánh giá về mức độ<br /> trên mạng hơn.<br /> công khai của họ là: Ngày sinh, tình trạng hôn<br /> Ảnh hưởng của lượng thông tin công khai nhân, số điện thoại, sở thích, nơi làm việc, nơi<br /> và bảo mật trên mạng xã hội ở, trường học cũ, mối quan tâm và quan điểm<br /> Theo Derlega và cộng sự (1993), công khai cá nhân. Ở mỗi thông tin, nếu sinh viên lựa<br /> về cá nhân là sự tiết lộ những thông tin về chính chọn phương án “mọi người đều biết” thì được<br /> bản thân mình. Dựa vào các tính năng của mạng xem như họ công khai một cách rộng rãi thông<br /> xã hội, người sử dụng mạng sẽ lựa chọn công tin đó trên mạng xã hội. Khi sinh viên lựa chọn<br /> khai những thông tin của mình trên mạng, như phương án “chỉ mình bạn biết” thì được xem<br /> tên, tuổi, ngày sinh, nơi cư trú, v.v… với mức như họ bảo mật các thông tin đó cho sự riêng tư<br /> độ khác nhau [3]. của mình. Số lượng thông tin ở dạng “mọi<br /> 8 T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> <br /> người đều biết” càng cao cho thấy mức độ công mạng xã hội như: bày tỏ ý kiến, bày tỏ cảm xúc;<br /> khai của sinh viên càng lớn và ngược lại số viết nhật ký ghi chú; giao lưu, kết bạn, v.v…<br /> lượng thông tin ở dạng “chỉ mình bạn biết” trên mạng xã hội. Mặt khác, những đặc điểm về<br /> càng nhiều cho thấy mức độ giữ bí mật thông công khai thông tin cá nhân và sử dụng mạng<br /> tin trên mạng xã hội của sinh viên càng cao. xã hội cho mục đích bày tỏ bản thân hay tương<br /> Kết quả về mối tương quan giữa mức độ tác với người khác cũng cho phép chúng ta<br /> công khai thông tin trên mạng xã hội với việc khẳng định rằng đây là nhóm sinh viên ít bận<br /> thực hiện các loại hình hoạt động trên mạng của tâm đến các nguy cơ từ mạng xã hội (ví dụ: bị<br /> sinh viên chỉ ra rằng, có mối tương quan thuận chế riễu, bị “ném đá”, bị lôi kéo, bị lạm dụng,<br /> giữa số lượng thông tin sinh viên công khai cho bị sử dụng một cách tùy tiện thông tin, các chia<br /> mọi người biết với việc thực hiện nhóm hoạt sẻ cá nhân, v.v…).<br /> động thể hiện bản thân (r = 0.177, p = 0.000) và Trong khi đó, kết quả điều tra trên nhóm sinh<br /> nhóm hoạt động tương tác (r = 0.156, p = viên giữ bí mật thông tin của bản thân ở dạng “chỉ<br /> 0.000) của sinh viên. Kết quả này cho thấy, sinh mình bạn biết” cũng có mối tương quan (có ý<br /> viên càng bày tỏ cho mọi người biết nhiều về nghĩa thống kê) với mức độ thực hiện các loại<br /> bản thân mình thì họ càng có xu hướng thực hình hoạt động trên mạng xã hội của họ nhưng<br /> hiện nhiều hoạt động chia sẻ, tương tác trên theo chiều hướng ngược lại (biểu đồ 2).<br /> Tương tác<br /> r = -0.13<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Thể<br /> Kinh hiện<br /> doanh Giữ bí mật bản<br /> thông tin thân<br /> của bản<br /> thân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Thử nghiệm<br /> Giải trí cuộc sống<br /> <br /> <br /> Biểu đồ 2. Mối tương quan giữa việc giữ bí mật thông tin cho riêng mình<br /> và các loại hình hoạt động trên mạng xã hội.<br /> <br /> Biểu đồ 2 cho thấy, khi sinh viên có số Tóm lại, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng<br /> lượng các thông tin được giữ bí mật cho riêng của việc giữ bí mật thông tin cá nhân trên mạng<br /> bản thân càng nhiều thì họ càng ít thực hiện các xã hội đến việc thực hiện các loại hình hoạt<br /> loại hình hoạt động khác nhau của họ trên mạng động khác nhau trên mạng xã hội cho thấy:<br /> xã hội. Ngược lại, với nhóm sinh viên có lượng Sinh viên càng giữ bí mật thông tin nhiều càng<br /> thông tin phô bày, công khai trên mạng xã hội ít thực hiện các loại hình hoạt động trên mạng<br /> càng nhiều thì việc thực hiện các loại hình hoạt xã hội và sinh viên càng có nhiều thông tin<br /> động trên mạng xã hội của họ càng lớn. Sự khác công khai thì họ càng thực hiện các loại hình<br /> biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0.000). hoạt động trên mạng xã hội ở mức độ cao.<br /> T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10 9<br /> <br /> <br /> Ảnh hưởng của tự đánh giá lòng tự trọng mức thấp. Kết quả này là hoàn toàn phù hợp<br /> Những vấn đề xoay quanh cách thức sử giữa những gì cá nhân nhận thức về giá trị của<br /> dụng mạng xã hội còn ảnh hưởng đến tự đánh mình, về bản thân mình theo câu hỏi “Tôi là<br /> giá lòng tự trọng của người sử dụng. Theo ai?” và “Tôi thể hiện mình như thế nào?” trên<br /> Tiffany và cộng sự (2007), khi người sử dụng mạng xã hội.<br /> mạng xã hội tự công khai thông tin cá nhân và<br /> nhận được những ý kiến phản hồi tích cực của<br /> 4. Kết luận<br /> bạn bè thì sẽ giúp họ nhìn nhận lòng tự trọng<br /> một cách tích cực. Ngược lại, những phản hồi<br /> tiêu cực của bạn bè lại khiến cá nhân đánh giá Các kết quả nghiên cứu về các loại hình<br /> lòng tự trọng một cách tiêu cực [10]. hoạt động mà sinh viên thường thực hiện trên<br /> Trong nghiên cứu này, câu hỏi được đặt ra mạng xã hội cho thấy: Hiện nay sinh viên vào<br /> là: Liệu mức độ tự đánh giá về lòng tự trọng mạng xã hội chủ yếu để tương tác với bạn bè và<br /> của sinh viên sử dụng mạng xã hội có ảnh giải trí trực tuyến. Kết quả này phù hợp với xu<br /> hưởng đến việc họ thực hiện các loại hình hoạt hướng nghiên cứu trên thế giới về việc sử dụng<br /> động trên mạng xã hội? Kết quả điều tra cho mạng xã hội trên nhóm khách thể là sinh viên,<br /> thấy, có mối tương quan thuận giữa tự đánh giá học sinh.<br /> về lòng tự trọng của sinh viên với 3 loại hình Việc thực hiện các loại hình hoạt động trên<br /> hoạt động trên mạng của họ: Các hoạt động thể mạng xã hội của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi<br /> hiện bản thân (r = 0.068, p = 0.000), các hoạt số lượng giờ sử dụng của họ (trên 5h); bởi số<br /> động giải trí (r = 0.054, p = 0.000) và các hoạt lượng bạn trên mạng xã hội mà họ có càng cao<br /> động tương tác với bạn bè (r = 0.090, p = và tần suất thường xuyên họ trao đổi với bạn<br /> 0.000). Thực tế, những cá nhân tự đánh giá về cũng như bởi mức độ công khai và bảo mật<br /> lòng tự trọng của bản thân cao là những người thông tin của họ trên mạng xã hội.<br /> tự tin. Sinh viên sử dụng mạng xã hội có mức Có thể nói, xu hướng đánh giá về lòng tự<br /> độ tự đánh giá lòng tự trọng cao có thể là những trọng của sinh viên sử dụng mạng xã hội đã giúp<br /> người kiểm soát được cảm xúc, suy nghĩ của họ định hướng những loại hình hoạt động của<br /> mình khi bày tỏ, chia sẻ trên mạng xã hội; ý mình trên mạng. Theo đó, khi sinh viên tự đánh<br /> thức được việc lựa chọn bạn trên mạng trước giá về lòng tự trọng của mình cao, họ sẽ có những<br /> những lời mời kết bạn và làm chủ được các hoạt hành động tích cực hơn trên mạng xã hội, và<br /> động trên mạng liên quan tới việc thể hiện bản ngược lại, việc sinh viên nhìn nhận bản thân thấp<br /> thân, tương tác với bạn bè và giải trí trên mạng. kém, họ sẽ có nguy cơ hướng đến đến những<br /> Riêng loại hình hoạt động thử nghiệm cuộc hành động không lành mạnh trên mạng xã hội.<br /> sống có mối tương quan nghịch với tự đánh giá<br /> lòng tự trọng (r = -0.074, p = 0.000). Nghĩa là<br /> sinh viên sử dụng mạng xã hội càng đánh giá Tài liệu tham khảo<br /> cao lòng tự trọng càng ít thực hiện những hoạt<br /> động như tham gia các cuộc thi trên mạng hay [1] Deroin, V. (2009). Diffusion et utilisation des TIC<br /> chát sex, chụp hình nude và ngược lại, những en France et en Europe en 2009. DEPS. Culture<br /> chiffres. N° 2, 2010/2, p. 1-12.<br /> sinh viên thường xuyên thực hiện các hoạt động [2] Daria J. Kuss, Mark D. Griffiths (2011),<br /> này lại có kết quả tự đánh giá về lòng tự trọng ở Excessive online social networking: Can<br /> 10 T.T.M. Đức và B.T.H. Thái / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 1-10<br /> <br /> <br /> adolescents become addicted to Facebook?, http://www.danah.org/papers/WhyYouthHeart.pdf<br /> Vol.29 No. 4, 2011 Education and Health . Truy cập ngày 15/7/2014.<br /> [3] Ellison, N.B., Steinfield, C., Lampe, C. (2007). [5] Annabelle Klein. (2001). “Les homepages,<br /> The benefits of Facebook “Friends”: Social nouvelles écritures de soi, nouvelles lectures de<br /> Capital and College Students’ Use of Online l’autre”, SPIRALE - Revue de Recherches en<br /> Social Network Sites. Éducation, No. 28.<br /> http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1083- [6] Mia Seo, Hee Sun Kang, Young-Hee Yom (2009),<br /> 6101.2007.00367.x/full. Truy cập ngày 20/6/2014. “Internet addiction and interpersonal problems in<br /> [4] Patti Valkenburg and Jochen Peter, Korean adolescents”, Computers, Informatics,<br /> “Preadolescents’ and Adolescents’ Online Nursing, Vol. 27, No. 4.<br /> Communication and Their Closeness to Friends,” [7] http://www.alexitauzin.com/2011/12/les-<br /> Developmental Psychology 43, no. 2 (2007Danah etudiants-qui-passent-plus-de-5h.html. Truy cập<br /> Boyd. (2007). “Why Youth (Heart) Social ngày 22/4/2015.<br /> Network Sites: The Role of Networked Publics in [8] http://vietpsy.com/2013/06/09/qua-nhieu-ban-be-<br /> Teenage Social Life.” MacArthur Foundation tren-facebook/, Truy cập ngày 23/7/2013.<br /> Series on Digital Learning – Youth, Identity, and [9] Tiffany A. Pempek, Yevdokiya A. Yermolayeva,<br /> Digital Media Volume (ed. David Buckingham). Sandra L. Calvert. (2009). College students' social<br /> Cambridge, MA: MIT Press, networking experiences on Facebook, Journal of<br /> Applied Developmental Psychology 30.<br /> <br /> <br /> Students’ Activities in Social Network and Impact Factors<br /> <br /> Trần Thị Minh Đức, Bùi Thị Hồng Thái<br /> <br /> VNU University of Social Sciences and Humanities,<br /> 336 Nguyễn Trãi Road, Thanh Xuân Dist., Hanoi, Vietnam<br /> <br /> Abstract: The results of this paper are drawn from the research: "Social Networks and<br /> Vietnamese Youths - Situation and Solution", code number VI1.1-2011.04 sponsored by the<br /> National Fund of Science and Technology Development. They demonstrate 5 types of activities<br /> taken by students while using social networks: 1/ Interaction with friends, 2/ Entertainment<br /> (high frequency), 3/ Self – expression (average frequency), 4/ Business, and 5/ Life testing (low<br /> frequency).<br /> The students who take part in multiple types of activities in social networks typically: 1/<br /> use social networks more than 5 hours/day, 2/ have many network friends, 3/ regularly<br /> communicate with network friends, 4/ supply openly personal information online, 5/ have high<br /> esteem for themselves.<br /> Key words: Social networks, student, activity.<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2