intTypePromotion=1
ADSENSE

Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và ý định mua hàng trực tuyến tại thành phố Nha Trang

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

310
lượt xem
22
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mua sắm trực tuyến là một hình thức của Thương mại điện tử (TMĐT), là hoạt động mua sắm hàng hóa/dịch vụ thông qua Internet. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và ý định mua hàng trực tuyến (MHTT) của người tiêu dùng tại thành phố Nha Trang. Căn cứ trên phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm có sáu nhân tố. Kết quả cuối cùng cho thấy: Hệ thống thanh toán, sự hữu dụng và sự tin tưởng là các nhân tố có ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với việc MHTT và ý định MHTT. Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển chiến lược kinh doanh nhằm thúc đẩy người tiêu dùng tham gia MHTT.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và ý định mua hàng trực tuyến tại thành phố Nha Trang

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2013<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ Ý ĐỊNH MUA HÀNG<br /> TRỰC TUYẾN TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG<br /> FACTORS AFFECTING THE ATTITUDE AND INTENTION TO SHOP ONLINE<br /> IN NHA TRANG CITY<br /> Nguyễn Thị Kim Vân1, Quách Thị Khánh Ngọc2<br /> Ngày nhận bài: 21/01/2013; Ngày phản biện thông qua: 18/02/2013; Ngày duyệt đăng: 15/5/2013<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mua sắm trực tuyến là một hình thức của Thương mại điện tử (TMĐT), là hoạt động mua sắm hàng hóa/dịch vụ<br /> thông qua Internet. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và ý định mua hàng trực<br /> tuyến (MHTT) của người tiêu dùng tại thành phố Nha Trang. Căn cứ trên phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng,<br /> nghiên cứu đề xuất mô hình gồm có sáu nhân tố. Kết quả cuối cùng cho thấy: Hệ thống thanh toán, sự hữu dụng và sự tin<br /> tưởng là các nhân tố có ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với việc MHTT và ý định MHTT. Đây là một trong<br /> những căn cứ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển chiến lược kinh doanh nhằm thúc đẩy người tiêu dùng tham<br /> gia MHTT.<br /> Từ khóa: thương mại điện tử, mua hàng trực tuyến, Nha Trang<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Online shopping is a form of e-commerce allowing consumers to directly buy goods or services from a seller over<br /> the Internet. The aim of this research is to determine the factors affecting the attitude and intention to shop online in<br /> Nha Trang city. Based on qualitative and quantitative research methods, this research paper proposes a model consisting<br /> of six factors. The final result shows that attitudes toward online shopping and intention to shop online are affected by<br /> payment, usefulness and trust. This is one of the important bases to set up and develop marketing strategies which encourage<br /> customer to shop online.<br /> Keywords: e-commerce, online shopping, Nha Trang<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Trong những năm gần đây, cùng với sự phát<br /> triển mạnh mẽ của Internet, MHTT đã không còn xa<br /> lạ với nhiều người tiêu dùng Việt Nam khi hàng loạt<br /> website kinh doanh trực tuyến ra đời. Với những<br /> tính năng ưu việt như có thể tiết kiệm thời gian,<br /> tiền bạc, công sức…, MHTT được dự báo sẽ trở<br /> thành kênh mua sắm được nhiều người tiêu dùng<br /> hưởng ứng và sử dụng [8]. Vì vậy, việc nghiên cứu<br /> để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ<br /> đối với việc MHTT và ý định MHTT của người tiêu<br /> dùng là việc làm hết sức cần thiết, qua đó góp phần<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> cải tiến cũng như khắc phục các hạn chế còn tồn<br /> tại của doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến nhằm<br /> đạt lợi thế cạnh tranh hơn. Kết quả nghiên cứu sẽ<br /> cung cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh trực<br /> tuyến sự hiểu biết về việc làm thế nào để hướng<br /> người tiêu dùng có thái độ tích cực và ý định mạnh<br /> mẽ đối với việc mua sắm trực tuyến, cũng như làm<br /> thế nào để kích thích người tiêu dùng quan tâm, tin<br /> tưởng và chọn kênh giao dịch mua sắm trực tuyến<br /> nhằm thúc đẩy hoạt động MBTT tại Việt Nam nói<br /> chung và thành phố Nha Trang nói riêng ngày càng<br /> phát triển.<br /> <br /> Nguyễn Thị Kim Vân: Lớp Cao học Quản trị kinh doanh 2010 - Trường Đại học Nha Trang<br /> TS. Quách Thị Khánh Ngọc: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 155<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2013<br /> <br /> II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Mô hình TAM (Technology Acceptance Model)<br /> <br /> Hình 1. Mô hình TAM [3]<br /> <br /> Mô hình TAM chuyên được dùng để giải thích hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ của người dùng.<br /> Hai nhân tố cơ bản của mô hình TAM có tác động trực tiếp đến thái độ của người tiêu dùng là sự hữu dụng<br /> cảm nhận (PU) và sự dễ sử dụng cảm nhận (PEOU). PU là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một<br /> hệ thống cụ thể sẽ làm tăng hiệu quả hay năng suất làm việc của họ”, còn PEOU là “mức độ mà một người tin<br /> rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần sự nỗ lực” [3].<br /> 2. Mô hình e-CAM (e-Commerce Adoption Model)<br /> Mô hình e-CAM bắt nguồn từ nền tảng lý thuyết của mô hình TAM và Thuyết nhận thức rủi ro (Theory of<br /> Perceived Risk - TPR) [2]. Đây là mô hình chuyên dùng để khảo sát các yếu tố bất định rủi ro trong lĩnh vực<br /> CNTT nói chung và TMĐT nói riêng. “Nhận thức rủi ro” được hiểu là “người tiêu dùng tin rằng sẽ có rủi ro nếu<br /> mua sản phẩm/dịch vụ trực tuyến” [7].<br /> <br /> Hình 2. Thuyết nhận thức rủi ro TPR [2]<br /> <br /> Trong TPR, hành vi tiêu dùng sản phẩm CNTT<br /> có nhận thức rủi ro, bao gồm hai yếu tố là rủi ro<br /> liên quan đến sản phẩm/dịch vụ (PRP) và rủi ro<br /> liên quan đến giao dịch trực tuyến (PRT). PRP liên<br /> quan đến các dạng rủi ro như: mất tính năng, mất tài<br /> chính, mất thời gian, mất cơ hội và tổng thể chung<br /> của các bất định hay lo ngại được nhận thức bởi<br /> một người tiêu dùng đối với một sản phẩm/dịch vụ<br /> cụ thể khi MHTT. PRT lại liên quan đến các dạng rủi<br /> ro mà người tiêu dùng có thể phải đối mặt khi tham<br /> gia giao dịch trực tuyến, đó là: sự bí mật, tính xác<br /> thực, sự không khước từ và nhận thức rủi ro toàn bộ<br /> về giao dịch trực tuyến.<br /> 3. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết<br /> 3.1. Mô hình nghiên cứu<br /> Từ cơ sở lý thuyết đã trình bày trên, tác giả đề<br /> <br /> 156 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> xuất mô hình nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết<br /> của mô hình TAM và mô hình e-CAM để xác định<br /> các nhân tố nhằm dự đoán thái độ và ý định MHTT<br /> của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vì đây là các mô<br /> hình nghiên cứu đối với người tiêu dùng nước ngoài<br /> nên thang đo trong các mô hình này chưa thật sự<br /> phù hợp với môi trường Việt Nam. Ngoài ra, căn cứ<br /> vào tình hình thực tế cũng như thói quen thanh toán<br /> và sự tin tưởng của người tiêu dùng Việt Nam nói<br /> chung và người tiêu dùng Tp. Nha Trang nói riêng<br /> đối với hoạt động mua sắm trực tuyến, tác giả đã<br /> điều chỉnh thang đo bằng việc tham khảo ý kiến của<br /> các giảng viên đến từ các trường đại học, nhà quản<br /> lý, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực CNTT và các<br /> doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến. Kết quả mô<br /> hình nghiên cứu có dạng sau:<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2013<br /> <br /> Hình 3. Mô hình nghiên cứu<br /> <br /> 3.2. Giả thuyết nghiên cứu<br /> 3.2.1. Sự hữu dụng (Perceived usefulness - PU)<br /> Sự hữu dụng được hiểu là “mức độ mà một<br /> người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ<br /> làm tăng hiệu quả hay năng suất làm việc của họ”<br /> [3]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa PU<br /> và sự chấp nhận hệ thống thông tin của người sử<br /> dụng. Vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng người<br /> tiêu dùng sẽ MHTT nếu họ nhận thức được việc<br /> MHTT sẽ giúp họ đạt được hiệu suất mong muốn.<br /> Giả thuyết đề xuất:<br /> H1: Nhận thức sự hữu dụng của việc mua sắm<br /> trực tuyến có mối quan hệ cùng chiều với thái độ và<br /> ý định mua sắm trực tuyến.<br /> 3.2.2 Sự dễ sử dụng (Perceived ease of use PEOU)<br /> Nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU) được hiểu<br /> là “mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ<br /> thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực” [3]. PEOU có ảnh<br /> hưởng đến ý định sử dụng và ý định sử dụng sẽ ảnh<br /> hưởng đến sử dụng thật sự. Nếu người tiêu dùng<br /> nhận thấy việc tìm kiếm thông tin, xác định thông<br /> tin về hàng hóa/dịch vụ cũng như việc đặt một đơn<br /> hàng là dễ dàng, họ sẽ dễ sử dụng hơn.<br /> H2: Nhận thức sự dễ sử dụng của việc mua sắm<br /> trực tuyến có mối quan hệ cùng chiều với thái độ và<br /> <br /> ý định mua sắm trực tuyến.<br /> 3.2.3. Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch<br /> vụ (Perceived Risk with Product/Service - PRP) và<br /> rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến (Perceived<br /> Risk in the Context of Online Transaction - PRT)<br /> Do đặc tính “không sờ thấy được” của các hàng<br /> hóa/dịch vụ trong bối cảnh ảo của MHTT, người tiêu<br /> dùng cảm thấy lo lắng khi giao dịch trực tuyến [4].<br /> Họ e ngại về chất lượng hàng hóa/dịch vụ, về chính<br /> sách đổi, trả lại và giá cả,... Những lo lắng và sự<br /> e ngại này làm cho người tiêu dùng nghĩ rằng có<br /> những rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ. Do đó<br /> họ sẽ không sẵn lòng giao dịch.<br /> Ngoài ra, mua bán trên Internet còn là môi<br /> trường thuận lợi để thực hiện các hành vi gian lận<br /> bởi người bán và người mua không được gặp trực<br /> tiếp và người mua chỉ có thể biết thông tin về hàng<br /> hóa thông qua hình ảnh mô tả trên website chứ<br /> không kiểm tra chất lượng hàng, chính vì vậy, người<br /> tiêu dùng vẫn còn ngần ngại khi MHTT. Tuy nhiên,<br /> không chỉ có người mua mới trở thành nạn nhân,<br /> nhiều người bán hàng trên mạng internet cũng rơi<br /> vào cảnh giao hàng rồi mà không được thanh toán<br /> hay bị thanh toán bằng thẻ tín dụng giả.<br /> Tóm lại, cảm nhận rủi ro là kỳ vọng mang tính<br /> chất tiêu cực. Khi người tiêu dùng cảm nhận việc<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 157<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> MHTT có khả năng làm họ bị mất mát về mặt thời<br /> gian, tiền bạc, công sức hay thậm chí có thể bị căng<br /> thẳng về mặt tâm lý,… thì như vậy họ sẽ cảm nhận<br /> được những khía cạnh tiêu cực của việc mua hàng<br /> này. Và khi họ cảm nhận được khía cạnh tiêu cực<br /> thì thái độ liên quan đến việc đánh già, sở thích liên<br /> quan đến việc MHTT của họ sẽ suy giảm.<br /> Giả thuyết đề xuất:<br /> H3: Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/<br /> dịch vụ có mối quan hệ ngược chiều với thái độ và ý<br /> định mua sắm trực tuyến.<br /> H4: Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực<br /> tuyến có mối quan hệ ngược chiều với thái độ và ý<br /> định mua sắm trực tuyến.<br /> 3.2.4. Hệ thống thanh toán (PAYMENT - PAY)<br /> Nói đến mua bán trực tuyến thì ngoài các yếu<br /> tố như con người, công nghệ website, việc giao<br /> hàng,… thì phương thức thanh toán cũng đóng vai<br /> trò rất lớn quyết định sự thành bại của một doanh<br /> nghiệp kinh doanh trực tuyến. Một hạn chế rất lớn<br /> trong thời gian qua của hoạt động kinh doanh trực<br /> tuyến ở nước ta là thanh toán trực tuyến, bởi mấu<br /> chốt để một thương vụ mua bán trực tuyến thành<br /> công là phải có hệ thống đảm bảo của ngân hàng. Vì<br /> vậy, thiếu công cụ thanh toán trực tuyến là nguyên<br /> nhân cơ bản nhất khiến hoạt động kinh doanh trực<br /> tuyến của ta chậm phát triển [9]. Giả thuyết đề xuất:<br /> H5: Hệ thống thanh toán có mối quan hệ cùng<br /> chiều với thái độ và ý định mua sắm trực tuyến.<br /> 3.2.5. Sự tin tưởng (TRUST)<br /> Sự tin tưởng trong MHTT liên quan đến việc<br /> nó có đáp ứng được kỳ vọng của người tiêu dùng<br /> đối với việc MHTT hay không. Ví dụ như người tiêu<br /> dùng kỳ vọng việc MHTT ở đây sẽ là hàng đảm bảo<br /> đúng chất lượng, đúng như cái họ hình dung khi đặt<br /> mua, hay là các thông tin cá nhân của họ sẽ được<br /> bảo mật,… Và vì vậy nếu như người tiêu dùng tin<br /> tưởng vào điều đó và điều đó đáp ứng đúng như họ<br /> mong đợi thì nó sẽ làm cho họ cảm thấy thái độ của<br /> họ đối với việc MHTT là rất có lợi và do đó sự tin<br /> tưởng trong MHTT càng lớn thì thái độ tích cực đối<br /> với việc mua hàng sẽ càng cao [10].<br /> H6: Sự tin tưởng trong mua sắm trực tuyến có<br /> mối quan hệ cùng chiều với thái độ và ý định mua<br /> sắm trực tuyến.<br /> 3.2.6. Thái độ đối với việc mua hàng trực tuyến và ý<br /> định mua hàng trực tuyến<br /> Trong hầu hết các nghiên cứu về việc chấp<br /> nhận công nghệ [1,6,5], thái độ của người tiêu dùng<br /> tiềm năng đối với việc MHTT đều có trước ý định<br /> MHTT. Hay nói cách khác, nếu người tiêu dùng có<br /> <br /> 158 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 2/2013<br /> thái độ tiêu dùng tích cực thì đương nhiên họ sẽ có<br /> ý định tiêu dùng tích cực. Giả thuyết đề xuất:<br /> H7: Tồn tại mối quan hệ giữa thái độ với ý định<br /> mua sắm trực tuyến.<br /> 4. Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai<br /> bước: Nghiên cứu sơ bộ (phương pháp định tính)<br /> bằng phương pháp thảo luận trực tiếp với các giảng<br /> viên đến từ các trường đại học, nhà quản lý, nhân<br /> viên hoạt động trong lĩnh vực CNTT và các doanh<br /> nghiệp kinh doanh trực tuyến. Nghiên cứu chính<br /> thức (phương pháp định lượng) bằng phương pháp<br /> phỏng vấn các cá nhân đã từng tham gia mua bán<br /> trực tuyến thông qua bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp<br /> và bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến (công cụ google<br /> forms) đã được thiết kế sẵn.<br /> Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên thang<br /> đo đã hiệu chỉnh và được đo lường trên thang đo<br /> Likert 5 điểm với 1 là hoàn toàn không đồng ý và 5<br /> là hoàn toàn đồng ý. Đối tượng chọn mẫu là các cá<br /> nhân tại Tp. Nha Trang đã từng tham gia mua bán<br /> trực tuyến. Nghiên cứu được thực hiện tại Tp. Nha<br /> Trang trong tháng 7 và 8/2012. Dữ liệu thu thập sau<br /> khi nhập liệu và làm sạch được xử lý bằng phần<br /> mềm SPSS 16.0. Phân tích dữ liệu sẽ được thực<br /> hiện thông qua hai bước: Đánh giá độ tin cậy của<br /> thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và độ giá trị<br /> bằng phân tích nhân tố khám phá EFA. Tiếp theo,<br /> phân tích hồi quy nhằm kiểm định sự phù hợp của<br /> mô hình và đánh giá mức độ quan trọng của các<br /> nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và ý định MHTT của<br /> người dùng.<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Mẫu thu thập<br /> Dữ liệu phân tích với cỡ mẫu là N = 200. Kết<br /> quả thống kê cho thấy có 41.5% người nam và<br /> 58.5% người nữ tham gia trả lời bảng câu hỏi. Mặc<br /> dù tỷ lệ nữ tham gia vào nghiên cứu này nhiều hơn<br /> nam nhưng chênh lệch này là không đáng kể. Trong<br /> mẫu, số người thuộc nhóm tuổi từ 25 đến dưới 35<br /> chiếm đa số với tỷ lệ 50,5%. Phân bố mẫu theo trình<br /> độ học vấn cho thấy số người có trình độ Cao đẳng/<br /> Đại học chiếm đa số với 75,5%. Công việc chuyên<br /> môn chiếm đa số thuộc nhóm nhân viên văn phòng<br /> với 46%, kết quả này là hợp lý bởi đây là nhóm đối<br /> tượng thường xuyên tiếp xúc với Internet. Phân bố<br /> mẫu theo mức thu nhập cho thấy chiếm đa số là<br /> nhóm có mức thu nhập từ 2 đến dưới 6 triệu đồng/<br /> tháng với 60,5%.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2013<br /> <br /> 2. Độ tin cậy và độ giá trị của các đo lường<br /> độ sử dụng” do có Sig > 0.05 nên không có ý nghĩa<br /> 2.1 Phân tích Cronbach Alpha và phân tích khám<br /> thống kê.<br /> phá EFA<br /> b. Phân tích hồi quy đa biến với biến “Thái độ”:<br /> Kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha cho<br /> Đưa bốn biến độc lập có ý nghĩa thống kê sau<br /> thấy, từ 38 mục hỏi ban đầu, sau khi loại bỏ ba mục<br /> khi phân tích tương quan vào phân tích hồi quy bằng<br /> hỏi do có hệ số tương quan biến tổng thấp ( 0.05.<br /> đều có sự tương quan với biến phụ thuộc “Thái độ<br /> Như vậy, kết quả cuối cùng cho thấy chỉ còn ba<br /> sử dụng” vì có hệ số tương quan thấp nhất là 0.386<br /> biến có tác động đến thái độ của người tiêu dùng<br /> và tất cả đều có Sig < 0.05 với mức ý nghĩa 1%.<br /> đối với việc MHTT và được giữ lại trong mô hình, đó<br /> Riêng hai biến “Rủi ro liên quan đến giao dịch trực<br /> là: (1) Sự hữu dụng, (2) Hệ thống thanh toán và (3)<br /> tuyến” và “Rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ”<br /> Sự tin tưởng.<br /> không có sự tương quan với biến phụ thuộc “Thái<br /> Bảng 1. Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc “Thái độ sử dụng”<br /> Coefficientsa<br /> Unstandardized<br /> Coefficients<br /> <br /> Model<br /> B<br /> <br /> 1<br /> <br /> Standardized<br /> Coefficients<br /> <br /> Std. Error<br /> <br /> t<br /> <br /> Sig.<br /> <br /> Beta<br /> <br /> Collinearity<br /> Statistics<br /> Tolerance<br /> <br /> VIF<br /> <br /> (Constant)<br /> <br /> .589<br /> <br /> .298<br /> <br /> 1.974<br /> <br /> .050<br /> <br /> F1 PAY<br /> <br /> .327<br /> <br /> .064<br /> <br /> .328<br /> <br /> 5.125<br /> <br /> .000<br /> <br /> .795<br /> <br /> 1.258<br /> <br /> F4 PU<br /> <br /> .276<br /> <br /> .068<br /> <br /> .249<br /> <br /> 4.062<br /> <br /> .000<br /> <br /> .864<br /> <br /> 1.157<br /> <br /> F5 TRUST<br /> <br /> .249<br /> <br /> .058<br /> <br /> .258<br /> <br /> 4.319<br /> <br /> .000<br /> <br /> .908<br /> <br /> 1.102<br /> <br /> a. Dependent Variable: ATU<br /> Phân tích hồi quy đa biến về tác động của biến<br /> Thái độ đối việc MHTT với biến Ý định MHTT:<br /> Với mức tin cậy lựa chọn là 95%, kết quả<br /> phân tích hồi quy cho thấy biến “Thái độ” của mô<br /> hình tác động có ý nghĩa thống kê lên biến “Ý<br /> định” (sig=0.000). Hệ số R 2 hiệu chỉnh = 0.359<br /> <br /> cho biết trong tổng thể 35.9% biến “Ý định” được<br /> giải thích bởi biến “Thái độ”. Các biến độc lập<br /> đều có hệ số tương quan Pearson
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2