CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM QUAN ĐIỂM ĐẾN
DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA DU KHÁCH NỘI ĐỊA:
TRƯỜNG HỢP NHÀ TÙ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Trương Trí Thông1, Nguyễn Trọng Nhân2
Tóm tắt: Nhà tù Phú Quốc là một điểm đến di tích lịch sử nổi tiếng ở Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham quan điểm
đến di tích Nhà tù Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang của du khách nội địa. Nghiên cứu đã thu thập 135
quan sát bằng bảng câu hỏi thông qua công cụ Google biểu mẫu với kỹ thuật chọn mẫu thuận
tiện và phát triển mầm. Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám
phá và hồi quy tuyến tính bội được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy, có bốn nhân t
ảnh hưởng đến ý định của du khách nội địa đến tham quan di tích Nhà tù Phú Quốc là: (1) trưng
bày, triển lãm; (2) truyền thông, quảng bá; (3) môi trường du lịch; và (4) điều kiện nơi đến. Kết
quả của nghiên cứu này giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có những giải pháp thúc
đẩy nhu cầu tham quan di tích Nhà tù Phú Quốc của du khách nội địa trong thời gian tới.
Từ khoá: Di tích lịch sử, du khách nội địa, đảo Phú Quốc, Nhà tù Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Abstract: Phu Quoc Prison is a famous historical relic destination in Phu Quoc Island, Kien Giang
Province. This study aims to analyze the factors affecting the domestic tourists’ intention to visit
the Phu Quoc Prison Relic in Kien Giang Province. The study was collected from 135 tourists
through Google Forms using convenient sampling and snowball sampling. Scale reliability
analysis, exploratory factor analysis, and multiple linear regression analysis were conducted
to examine the collected data. The study results show that there are four factors affecting
the domestic tourists’ intention to visit the Phu Quoc Prison Relic: (1) display and Exhibitions;
1
Khoa Du lịch Quản trị Nhà hàng - Khách sạn, Trường Đại học Nam Cần Thơ.
(Faculty of Tourism and Hospitality Management, Nam Can Tho University).
2
Khoa Khoa học Xã hội Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ (School of Social
Sciences and Humanities, Can Tho University).
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ528
(2) Promotion; (3) tourist environment; and (4) destination condition. The findings serve to
provide important information for state management agencies in tourism to develop solutions to
increase domestic tourist visit needs in Phu Quoc Prison Relic in the future.
Keywords: Historical relic, domestic tourist, Phu Quoc Island, Phu Quoc Prison, Kien Giang province.
1. GIỚI THIỆU
Du lịch được xác định ngành kinh tế mũi nhọn bởi đóng
góp nhiều mặt tích cực cho kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây,
các nhân tố quyết định ý định hành vi thường được phân tích trong
nhiều nghiên cứu du lịch, ý định này thể ý định chia sẻ thông
tin ý định đến thăm một điểm đến (Nguyen et al., 2021). Theo các
nhà nghiên cứu, việc nghiên cứu ý định hành vi của người tiêu dùng
rất quan trọng và cần thiết thực hiện vì kết quả của nghiên cứu ý định
mua hàng của họ như một chỉ số quan trọng để dự đoán hành vi của
người tiêu dùng, khi người tiêu dùng có ý định mua hàng mạnh mẽ, sẽ
dẫn đến khách hàng thực sự quyết định mua hàng (Jaya & Prianthara,
2020). Đối với du lịch, ý định du lịch/tham quan của một người càng
nhiều thì khả năng đến tham quan và du lịch tại một điểm đến của họ
càng cao (Lu et al., 2016). Chính thế, việc nghiên cứu nhằm tìm ra
các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham quan, du lịch điều khá quan
trọng vì nó có thể giúp các bên liên quan về điểm đến có thể đưa ra các
chính sách nhằm thu hút du khách đến tham quan hơn (Yılmazdoğan
et al., 2021).
Nhà Phú Quốc hay Trại giam Phú Quốc toạ lạc tại thành phố Phú
Quốc, tỉnh Kiên Giang. Nhà Phú Quốc được công nhận di tích
cấp Quốc gia đặc biệt, một trong những điểm tham quan du lịch nổi
tiếng của tỉnh Kiên Giang. Nhà Phú Quốc không những điểm đến
lịch sử, còn bằng chứng của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế
quốc và cũng là tinh thần kiên cường của những người lính cách mạng
Việt Nam (Vietnam National Authority of Tourism, 2017). Trong thời
gian qua, hằng năm di tích Nhà tù Phú Quốc thu hút hơn 600.000 lượt
khách trong và ngoài nước (Ngọc Tài, 2022) góp phần giáo dục truyền
thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng bất khuất cho các thế
hệ. đây một trong những điểm di tích đặc biệt của tỉnh Kiên Giang
nói riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, chính vì vậy,
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 529
cần nghiên cứu để giúp Ban Quản di tích, quan quản nhà
nước về du lịch địa phương có thể biết được khi du khách nội địa đến
du lịch tại đảo Phú Quốc thì điều gì ảnh hưởng đến ý định tham quan
Nhà Phú Quốc trong thời gian tới. Mục đích của nghiên cứu nhằm
xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham quan di
tích Nhà Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang của du khách nội địa. Nghiên
cứu ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ý định hành vi của du
khách, qua đó giúp các bên liên quan đến điểm di tích này có cơ sở đưa
ra và thực hiện các giải pháp để thúc đẩy nhu cầu du khách nội địa đến
tham quan trong thời gian tới.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Ý định là sự sẵn sàng trong lòng của một người để lên kế hoạch thực
hiện hành vi được coi ý định trực tiếp của người đó (Shen et al.,
2009). Quá trình lựa chọn ra quyết định hành vi cuối của ý định
(Trương TThông et al., 2023). Nhìn chung, ý định dấu hiệu cho thấy
sự sẵn sàng của một người để thực hiện một hành vi nhất định được
coi tiền đề trực tiếp của hành vi (Shen, 2009; trích bởi Pramanik &
Azam, 2016).
Theo Woodside & Lysonski (1989), ý định được tả khả năng
của những người dự định đi du lịch đến tham quan một điểm đến
cụ thể trong một thời điểm nhất định. Ý định du lịch dự định của một
cá nhân đến một địa điểm du lịch trong tương lai (Trương Trí Thông &
Nguyễn Thanh Tùng, 2021). Ý định và hành vi của một cá nhân bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau (Ajzen & Fishbein, 1980). Do sự phát
triển nhanh chóng của du lịch di sản, lý do đến thăm các điểm đến di
sản bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu . Điểm đến di sản
một sản phẩm không thể kiểm tra, chạm vào, theo dõi trao đổi
(Wang et al. 2010), bằng chứng vật lý duy nhất về một điểm đến có thể
nằm trong các tờ rơi, trang web hoặc trên phương tiện truyền thông
(Goodall et al., 1988). Do đó, trước khi mua sản phẩm, mọi người nhận
được thông tin về điểm đến hoặc các nguồn thông tin du lịch qua các
kênh truyền thông này (Pike, 2004). Chính vì vậy, truyền thông quảng
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ530
một trong những nhân tố giúp khách hàng lựa chọn sản phẩm
điểm đến di sản. Bên cạnh đó, một nghiên cứu của Poria et al. (2006)
cho thấy rằng du khách lựa chọn điểm đến di sản để đến tham quan là
có sản phẩm được trưng bày tại nơi đây. Ngoài ra, theo kết quả nghiên
cứu của Wang et al. (2010), các yếu tố môi trường du lịch, điều kiện nơi
đến truyền thông quảng ảnh hưởng đến ý định hành vi du lịch
của du khách tại điểm đến di sản Lukang, Đài Loan. Đồng thời, nghiên
cứu của Xu et al. (2019) đã cho thấy trưng bày triển lãm ảnh
hưởng đến ý định hành vi du lịch của du khách tại ba viện bảo tàng
Tây An, Trung Quốc. Chính vì vậy, các giả thuyết nghiên cứu bao gồm
Môi trường du lịch (H1), Điều kiện nơi đến (H2), Truyền thông quảng
bá (H3) và Trưng bày, triển lãm (H4) có ảnh hưởng tích cực đến ý định
tham quan di tích Nhà tù Phú Quốc của du khách nội địa.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
Các nhân tố và biến quan sát của mô hình được phát triển dựa trên
các nghiên cứu liên quan đến du lịch di sản, di tích và bảo tàng. Nhân
tố môi trường du lịch (04 biến quan sát), trong đó 03 biến quan sát được
phát triển dựa trên nghiên cứu của Wang et al. (2010) 01 biến quan
sát phát triển dựa trên nghiên cứu của Xu et al. (2019); hai nhân tố
điều kiện nơi đến (04 biến quan sát) truyền thông quảng bá (04 biến
quan sát) được phát triển dựa trên nghiên cứu của Wang et al. (2010);
nhân tố trưng bày, triển lãm (04 biến quan sát) được phát triển dựa trên
nghiên cứu của Xu et al. (2019). Nhân tố phụ thuộc ý định tham quan
được phát triển dựa trên nghiên cứu của Lee et al. (2021).
H4+
H2+
H1+
H3+
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 531
Bảng 1. Nguồn các nhân tố và biến quan sát của nghiên cứu
Nhóm
nhân tố Diễn giải biến Nguồn
Môi
trường
du lịch
(MTDL)
Các khu vực công cộng sạch sẽ
Wang et al. (2010)
Có đa dạng mặt hàng lưu niệm
Là một nơi an toàn để đi tham
quan
Nhân viên lịch sự, thân thiện Xu et al. (2019)
Điều kiện
nơi đến
(ĐKNĐ)
Thời tiết ôn hoà
Wang et al. (2010)
Vị trí lý tưởng, thuận tiện
Giao thông thuận tiện
Có cơ hội để được giáo dục
Truyền
thông
quảng bá
(TTQB)
Có thông tin quảng bá về Nhà tù
Phú Quốc trên tờ rơi
Wang et al. (2010)
Có chương trình quảng bá về Nhà
tù Phú Quốc trên ti-vi
Có thông tin về Nhà tù Phú Quốc
trên báo in
Có thông tin về Nhà tù Phú Quốc
trên Internet
Trưng bày,
triển lãm
(TBTL)
Các hiện vật được trưng bày một
cách hợp lý
Xu et al. (2019)
Thứ tự trưng bày được bố trí hợp lý
Các chủ đề được bố trí rõ ràng
Lộ trình tham quan tại Nhà tù Phú
Quốc được thiết kế hợp lý
Ý định
tham
quan
(YĐTQ)
Tôi dự định đến tham quan Nhà tù
Phú Quốc Lee et al. (2021)
một trong những nhân tố giúp khách hàng lựa chọn sản phẩm
điểm đến di sản. Bên cạnh đó, một nghiên cứu của Poria et al. (2006)
cho thấy rằng du khách lựa chọn điểm đến di sản để đến tham quan là
có sản phẩm được trưng bày tại nơi đây. Ngoài ra, theo kết quả nghiên
cứu của Wang et al. (2010), các yếu tố môi trường du lịch, điều kiện nơi
đến truyền thông quảng ảnh hưởng đến ý định hành vi du lịch
của du khách tại điểm đến di sản Lukang, Đài Loan. Đồng thời, nghiên
cứu của Xu et al. (2019) đã cho thấy trưng bày triển lãm ảnh
hưởng đến ý định hành vi du lịch của du khách tại ba viện bảo tàng
Tây An, Trung Quốc. Chính vì vậy, các giả thuyết nghiên cứu bao gồm
Môi trường du lịch (H1), Điều kiện nơi đến (H2), Truyền thông quảng
bá (H3) và Trưng bày, triển lãm (H4) có ảnh hưởng tích cực đến ý định
tham quan di tích Nhà tù Phú Quốc của du khách nội địa.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
Các nhân tố và biến quan sát của mô hình được phát triển dựa trên
các nghiên cứu liên quan đến du lịch di sản, di tích và bảo tàng. Nhân
tố môi trường du lịch (04 biến quan sát), trong đó 03 biến quan sát được
phát triển dựa trên nghiên cứu của Wang et al. (2010) 01 biến quan
sát phát triển dựa trên nghiên cứu của Xu et al. (2019); hai nhân tố
điều kiện nơi đến (04 biến quan sát) truyền thông quảng bá (04 biến
quan sát) được phát triển dựa trên nghiên cứu của Wang et al. (2010);
nhân tố trưng bày, triển lãm (04 biến quan sát) được phát triển dựa trên
nghiên cứu của Xu et al. (2019). Nhân tố phụ thuộc ý định tham quan
được phát triển dựa trên nghiên cứu của Lee et al. (2021).
H4+
H2+
H1+
H3+