intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Các trường các khoa sư phạm cần thay đổi cách đào tạo

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:8

0
33
lượt xem
5
download

Các trường các khoa sư phạm cần thay đổi cách đào tạo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

 Yêu cầu đổi mới giáo dục đặt ra cho các trường, khoa sư phạm cần thiết phải thay đổi cách đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho người giáo viên tương lai. Việc không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đối với sinh viên sư phạm sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng của cả hệ thống giáo dục nói chung. Báo GD&TĐ đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Văn Đệ - Hiệu trưởng Trường ĐH Đồng Tháp xung quanh vấn đề này. Mời bạn đọc tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các trường các khoa sư phạm cần thay đổi cách đào tạo

  1. Các Các trường, khoa sư phạm cần thay đổi cách đào tạo Các trường, khoa sư phạm cần thay đổi cách đào tạo  CÁ CÁC TR   ƯỜNG CÁC KHOA SƯ PHẠM CẦN THAY ĐỔI   CÁCH ĐÀO TẠO sư phạm cần thay đổi cách đào tạo Yêu cầu đổi mới giáo dục đặt ra cho các trường, khoa sư phạm  cần thiết phải thay đổi cách đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho người  giáo   viên   tương   lai.   Việc   không   ngừng   đổi   mới   và   nâng   cao   chất  lượng đào tạo đối với sinh viên sư phạm sẽ góp phần không nhỏ vào  việc nâng cao chất lượng của cả  hệ  thống giáo dục nói chung. Báo  GD&TĐ đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Văn Đệ  ­ Hiệu trưởng   Trường ĐH Đồng Tháp xung quanh vấn đề này. PV.   Theo   ông,   đổi   mới   hoạt   động   đào   tạo   giáo   viên   trong   các   trường, khoa sư phạm hiện nay cần tập trung vào nội dung chính nào? TS. Nguyễn Văn Đệ: Để  phù hợp cơ  chế  mới trong bối cảnh hội nhập,   tinh thần chung là các trường, khoa sư  phạm phải quán triệt quan điểm:  nhà trường dạy những điều người học cần, xã hội cần, nền kinh tế  cần,  chứ không chỉ dạy cái giáo viên có; đồng thời, cần làm sáng tỏ: cái gì cần  
  2. dạy ở phổ thông và dạy như thế nào? Trên tinh thần như vậy, điều đầu tiên là trường, khoa sư  phạm hiện  nay cần đưa giáo dục kỹ năng sống vào giảng dạy. Hiện nay, Bộ GD&ĐT  đang tích cực chuẩn bị  các điều kiện để  đưa môn học giáo dục kỹ  năng   sống vào nhà trường phổ  thông; do vậy, sinh viên các trường (khoa) sư  phạm cũng cần được giáo dục kỹ  năng sống ­ một sự  chuẩn bị năng lực  nghề nghiệp cấp thiết để họ tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh   phổ   thông   sau   này.  Cùng với đó là đào tạo cách dạy phương pháp học. Đã có một thời gian   dài, chương trình đào tạo của các trường sư phạm tập trung vào chuẩn bị  cho người giáo viên tương lai nắm vững hoạt động dạy, những phương   pháp, kĩ năng tổ chức thực hiện hoạt động dạy. Ngày nay, theo chúng tôi,  vấn đề  quan trọng nhất để  những giáo viên phổ  thông tương lai biết dạy   cách học là mỗi giảng viên sư phạm phải thường xuyên rèn luyện cho sinh   viên kỹ năng tự học thông qua bộ môn mình phụ trách.  Điều tiếp theo cần làm là đổi mới hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư  phạm. Các trường, khoa sư  phạm cần chủ   động chuyển hướng từ  tập  trung vào đào tạo kiến thức chuyên môn thuộc môn học sẽ phải dạy khi ra   trường là chủ  yếu sang tập trung đào tạo các năng lực nghề  nghiệp, đảm  bảo sinh viên tốt nghiệp biết hành động có hiệu quả  trong các hoạt động  nghề   nghiệp.  Việc bồi dưỡng kỹ  năng giải quyết vấn đề  cũng phải được quan tâm.   Ngoài ra, trường sư phạm cần hình thành kỹ năng hợp tác cho sinh viên sư 
  3. phạm. Những kỹ  năng hợp tác cụ  thể  mà các trường sư  phạm cần quan  tâm rèn luyện cho sinh viên là kỹ  năng hợp tác với đồng nghiệp, hợp tác  với học sinh và hợp tác với các lực lượng giáo dục khác...  PV. Trước xu thế  đổi mới nền giáo dục và trong bối cảnh hội   nhập, các trường sư  phạm cần quan tâm bồi dưỡng nhiều hơn nữa   các năng lực cơ  bản cho sinh viên như: năng lực khoa học, năng lực   hiểu trình độ  học sinh, năng lực thiết kế  tài liệu học tập, năng lực   ngôn ngữ, năng lực nắm vững kĩ thuật dạy học. Ý kiến của ông trước   vấn   đề   này   thế   nào? TS. Nguyễn Văn Đệ: Đúng vậy, để  đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ  hoạt  động dạy học  ở  trường phổ  thông, ngay khi còn ngồi trên giảng   đường đại học,  đòi hỏi sinh viên sư phạm cần được trang bị nhiều năng   lự c   khác   nhau.  Một yêu cầu đặt ra đối với sinh viên sư  phạm là cần phải có khả  năng   hiểu biết về  đặc điểm tâm lí của học sinh, đặc biệt là sự  hiểu biết về  trình độ  của học sinh trong quá trình dạy học. Đây là một năng lực mang  tính nghề  nghiệp của sinh viên sư  phạm. Tuy nhiên, hiện nay do tính tích  cực học tập của sinh viên sư phạm chưa cao, mối liên hệ  giữa trường sư  phạm và trường phổ thông chưa chặt chẽ, các hoạt động thăm lớp, dự giờ  của sinh viên sư  phạm chưa nhiều. Đây là một trong những nguyên do  khiến cho khả năng hiểu tâm lí học sinh của sinh viên sư phạm còn nhiều  hạn   chế. 
  4. Năng lực thiết kế tài liệu học tập là khả năng làm cho tài liệu học tập phù  hợp với trình độ  nhận thức của học sinh. Năng lực này biểu hiện  ở  khả  năng gia công và sáng tạo kiến thức bài giảng của giáo viên, tài liệu học  tập trở  nên phù hợp tối đa với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân học  sinh, và đảm bảo logic sư phạm.  Năng   lực   ngôn   ngữ   là   một   trong   những   năng   lực   quan   trọng  của  người giáo viên, vì ngôn ngữ là “phương tiện” chính trong dạy học và giáo  dục. Thực tế hiện nay cho thấy sau 12 năm học Tiếng Việt ở trường phổ  thông, số đông các sinh viên đại học vẫn chưa thật sự tinh thông tiếng mẹ  đẻ. Nguyên nhân của thực trạng này một phần có liên quan đến chức năng,  nhiệm vụ bộ môn, chương trình, sách giáo khoa và năng lực của giáo viên   ở  bậc học phổ thông. Sự hạn chế  về khả  năng ngôn ngữ  chính là nguyên   nhân cơ  bản dẫn đến nhiều sự  bất cập khác trong chất lượng đào tạo.   Năng lực truyền đạt tài liệu học tập là khả  năng nắm vững cách thức tổ  chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh qua bài giảng. Năng  lực này là kết quả của một quá trình học tập nghiêm túc và rèn luyện tay   nghề. Những năng lực này thường được hình thành thông qua việc sinh   viên tích cực luyện tập trong các giờ  rèn luyện nghiệp vụ  sư  phạm  ở  trường sư phạm hoặc trường phổ thông. Tuy nhiên, hiện nay sinh viên vẫn   chưa   dành   nhiều   thời   gian   cho   công   việc   này.  Ngoài ra, để  đáp  ứng yêu cầu của xã hội đối với sự  hiểu biết của giáo  viên đòi hỏi sinh viên sư phạm không ngừng học hỏi, tìm tòi để  mở  rộng  
  5. kiến thức. Tuy nhiên, rời trường phổ  thông bước vào trường sư  phạm,  sinh viên mang theo rất ít khả năng tự  học và ý thức chủ  động. Bên cạnh  đó, các trường đại học hiện nay cũng chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu để  giúp sinh viên nâng cao khả năng và ý thức tự học. Đây là vòng lẩn quẩn  khép kín giải thích vì sao học sinh các cấp học và sinh viên hiện nay đều  thiếu   khả   năng   tự   học   và   ý   thức   chủ   động   trong   học   tập.  Theo chúng tôi, kết quả của hiện tượng này là do thói quen và kĩ năng tự  học của nhiều giáo viên còn hạn chế. Chính vì vậy, ngay khi vào trường   sư  phạm, nhà trường cần hình thành cho sinh viên sư  phạm thói quen và  tính tích cực học tập, tư  duy sáng tạo trong làm việc để  các thầy cô giáo  không ngừng hoàn thiện năng lực của bản thân đáp ứng được các yêu cầu  của xã hội. Sinh viên Trường ĐH Đồng Tháp   PV.Vậy, Trường ĐH Đồng Tháp đã thực hiện việc đổi mới này như   thế   nào,   thưa   ông? TS. Nguyễn Văn Đệ: Thực hiện đổi mới cần những giải pháp toàn diện,  học chế  tín chỉ  là phương thức đào tạo tôn trọng người học, lấy người   học làm trung tâm sẽ  là phù hợp nhất nếu biết khai thác các mặt tích cực  và khắc phục các nhược điểm của hệ thống này. Triển khai từng bước hệ 
  6. thống tín chỉ, chọn hướng tiếp cận từ người học, vì người học, theo quan  điểm này, Trường Đại học Đồng Tháp thực hiện đổi mới qua các hoạt  động   cơ   bản   sau: 1. Thay đổi nhận thức về vai trò của sinh viên trong quá trình đào tạo cho  cán bộ, giảng viên và sinh viên trong trường, đặc biệt là đối với sinh viên.  Biện pháp chủ  yếu qua các hình thức sinh hoạt đầu khóa học, đầu năm  học, sinh hoạt lớp chủ  nhiệm. Sinh viên phải nhận thức được vai trò tự  chủ  trong đào tạo và chủ  động trong học tập, nghiên cứu; hiểu biết về  quyền lợi và trách nhiệm trong học chế  tín chỉ, để  từ  đó tự  chịu trách   nhiệm về kết quả đào tạo. Qua những bài học rút ra sau hội nghị tổng kết   4 năm đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhà trường có kế hoạch đưa môn học   nhập môn ngành vào chương trình giáo dục để khẳng định rằng đây không   chỉ  là nhận thức, mà còn là kiến thức, kỹ  năng cần thiết cho quá trình tự  đào tạo của sinh viên. Đây có thể  ví như  điều kiện cần phải có của quá  trình đổi mới, nếu không có, nghĩa là sinh viên chưa sẵn sàng đổi mới, thì  mọi nỗ lực hỗ trợ khác của nhà trường cũng trở lên vô nghĩa. 2. Đổi mới mục tiêu giáo dục, chuyển từ  mục tiêu “dạy” sang mục  tiêu “học”, chuyển từ  nặng về  “kiến thức” sang “cách học và năng lực  nghề   nghiệp”;   xây   dựng   chuẩn   đầu   ra   và   công   khai   chuẩn   đầu   ra.   3. Xây dựng mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ phù hợp với điều kiện   của nhà trường, từng bước triển khai các chức năng của hệ  thống nhằm  tạo điều kiện cho sinh viên làm chủ quá trình đào tạo của mình, tiến tới cá  nhân hóa quá trình đào tạo. Trong mô hình đào tạo của mình, nhà trường đã 
  7. xây dựng được mô hình rèn luyện nghiệp vụ  sư  phạm theo hướng tích  hợp, cá nhân hóa và có sự  tham gia của các trường phổ  thông, mầm non. 4. Phát triển chương trình đào tạo được coi là công việc thường xuyên sau  mỗi năm học, khóa học. Qua 4 năm đào tạo, nhà trường đã tổ  chức 2 lần  phát triển chương trình một cách toàn diện, nhằm từng bước cung cấp các  môn học đáp ứng nhu cầu học tập và yêu cầu của ngành nghề, của xã hội. Trong hai năm học gần đây, do chưa xây dựng được các môn học về  các   kỹ  năng mềm, nhà trường đã hợp đồng với Công ty CP Quản lý Tri thức  Quốc   tế   G­BI   (Hà   Nội)   hợp   tác   thực   hiện   Dự   án   “Chuyển   giao   kinh   nghiệm và phương pháp làm việc hiệu quả” để trang bị các kỹ năng mềm   cho sinh viên. Trong năm học 2012 – 2013, nhà trường đã ký duyệt dự  án  xây dựng môn học kỹ năng mềm để đưa vào chương trình đào tạo. 5. Chuẩn bị  môi trường học tập tích cực, tạo điều kiện cho sinh viên tự  học và chủ  động trong học tập, nghiên cứu. Trong học chế  tín chỉ, sinh   viên phải tự  học rất nhiều, vì vậy môi trường học tập là một trong các  điều kiện quan trọng trong quá trình đổi mới đào tạo và nâng cao chất  lượng đào tạo. Môi trường học tập tích cực sẽ là những tác động tích cực  từ bên ngoài vào quá trình tự đào tạo của sinh viên, chẳng hạn như: truyền   thống, văn hóa nhà trường; cơ sở vật chất phục vụ học tập (đặc biệt là cơ  sở hạ tầng về công nghệ thông tin); đội ngũ giảng viên và cố vấn học tập;   chương   trình   giáo   dục...
  8. Trong 5 hoạt động trên, nếu coi hoạt động 1 là điều kiện cần, thì bốn hoạt   động sau sẽ là điều kiện đủ cho quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng   đào tạo của Trường Đại học Đồng Tháp.  Xin trân trọng cảm ơn ông!   Tin: Giáo dục & Thời đại Online Link: http://www.dthu.edu.vn/events.aspx?id=89&la=vn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản