intTypePromotion=1

Cảm nhận về công bằng ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing

Chia sẻ: ViDoraemi2711 ViDoraemi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
64
lượt xem
3
download

Cảm nhận về công bằng ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này là xác định và đánh giá mức độ tác động của các thành phần công bằng ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cảm nhận về công bằng ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing

Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> CẢM NHẬN VỀ CÔNG BẰNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI<br /> LÒNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH –<br /> MARKETING<br /> THE EFFECTS OF JUSTICE PERCEPTION ON STUDENT<br /> SATISFACTION AT UNIVERSITY OF FINANCE - MARKETING<br /> Bảo Trung1, Lê Minh Hiền1<br /> <br /> Ngày nhận: 31/12/2017 Ngày nhận bản sửa: 23/1/2017 Ngày đăng: 5/4/2018<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Nghiên cứu này là xác định và đánh giá mức độ tác động của các thành phần công bằng ảnh hưởng<br /> đến sự hài lòng của sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng<br /> của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết<br /> hợp giữa định tính và định lượng. Dữ liệu khảo sát sau khi sàn lọc là 309 sinh viên của Trường.<br /> Dựa trên kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA,<br /> phân tích hồi quy bội, nghiên cứu này đề xuất một số hàm ý quản trị theo thứ tự mức độ mạnh tác<br /> động đến sự hài lòng của sinh viên là: Công bằng tương tác (β=0,388), Công bằng phân phối<br /> (β=0,323) và Công bằng thủ tục (β=0.222). Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đã đề xuất với đội ngũ<br /> quản lý Nhà trường những vấn đề cần lưu ý nhằm nâng cao tính công bằng; từ đó nâng cao sự hài<br /> lòng của sinh viên.<br /> Từ khóa: Công bằng phân phối, Công bằng thủ tục, Công bằng tương tác, Sự hài lòng, Đại học Tài<br /> chính – Marketing.<br /> <br /> Abstract<br /> This study identifies and measures the extent to which the components of justice influence student<br /> satisfaction, thereby suggest the managerial implications to improve student satisfaction of the<br /> University of Finance – Marketing (UFM). The study uses a combination of qualitative and<br /> quantitative research methods. Survey data after the filter is 309 students of the University. Based<br /> on the Cronbach's Alpha Scale Reliability Test, the Explorary Factor Analysis (EFA), multiple<br /> regression analysis, this study suggests the managerial implications in terms of degree of impact<br /> on satisfaction of students are: interactional justice (β = 0.388), distributive justice (β = 0.323) and<br /> procedural justice (β = 0.222). The research results, the paper is recommended to the managers of<br /> UFM considering improvement of justice; then improving the students’ satisfaction.<br /> Keywords: Distributive justice, Procedural justice, Interactional justice, Satisfaction, University of<br /> Finance - Marketing.<br /> 1. Giới thiệu đào tạo và cũng là “sản phẩm” chính của quá<br /> Sinh viên là đối tượng trực tiếp của quá trình trình đào tạo ở đại học, vì thế ý kiến phản hồi<br /> <br /> <br /> 1<br /> Trường Đại học Tài chính – Marketing<br /> 50<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> của sinh viên về sự hài lòng đối với một cơ sở những chính sách điều chỉnh phù hợp để nâng<br /> đào tạo đại học đóng một vai trò quan trọng. cao mức độ hài lòng của sinh viên.<br /> Trường Đại học Tài chính – Marketing với 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu<br /> quy mô đào tạo hiện nay trên 20.000 sinh viên, 2.1. Khái niệm công bằng<br /> trong đó số lượng sinh viên đang đào tạo theo Xuất phát từ lý thuyết về trao đổi xã hội và<br /> học chế tín chỉ chiếm hơn 8.500 sinh viên. Từ lý thuyết về công bằng, công bằng cung cấp<br /> khi trường chuyển sang đào tạo theo hệ thống quan điểm có ích để hiểu sự hài lòng khách<br /> tín chỉ, Trường luôn xác định sinh viên là trung hàng, lòng trung thành khách hàng và sự phàn<br /> tâm, là đối tượng cần được phục vụ để nâng cao nàn khách hàng (Sindhav và ctg, 2006). Trong<br /> hơn nữa chất lượng đào tạo của Nhà trường. Để lĩnh vực dịch vụ, khái niệm công bằng liên quan<br /> duy trì được sự phát triển bền vững trong tương đến tính đúng đắn của việc ra quyết định và cần<br /> lai, Trường cần tiến hành đánh giá sự hài lòng thiết phân biệt cảm nhận về công bằng của<br /> của sinh viên nhằm đáp ứng tốt nhất và rút ngắn khách hàng khác với các khái niệm liên quan<br /> khoảng cách giữa mục tiêu đào tạo và sự thỏa đến chất lượng dịch vụ (Tax & ctg, 1988). Theo<br /> mãn của người học về mục tiêu này. Yi Youjae và Gong Taeshik (2008) thì cảm<br /> Sự hài lòng của khách hàng sẽ dẫn đến kết nhận công bằng của khách hàng là việc đánh giá<br /> quả tích cực, có thể dự đoán được ý định trong liệu các tổ chức cung cấp dịch vụ đã hoàn thành<br /> tương lai sử dụng dịch vụ. Sự hài lòng của sinh nghĩa vụ của mình để cung cấp các kết quả và<br /> viên đối với Trường Đại học Tài chính - lợi ích mà họ đã cam kết. Tax & ctg (1988) cho<br /> Marketing có thể dự đoán trong tương lai họ sẽ rằng có 3 thành phần công bằng: (1) Công bằng<br /> quay lại hỗ trợ cho Trường trong việc đào tạo phân phối; (2) Công bằng thủ tục; (3) Công<br /> thế hệ tiếp theo, có thể tài trợ cho Trường hoặc bằng tương tác.<br /> giới thiệu Trường cho các sinh viên tương lai. Công bằng phân phối: Công bằng phân phối<br /> Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của dựa trên nền tảng lý thuyết về sự công bằng,<br /> khách hàng nhưng phần lớn các nghiên cứu tập công bằng phân phối nhằm mục đích để hiểu<br /> trung vào chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự cách thức các cá nhân phản ứng với sự phân<br /> hài lòng của sinh viên. Dựa trên lý thuyết về phối kết quả. Thuyết bình đẳng của Adam<br /> trao đổi xã hội, Nadiri (2016), Jha và Balaji (1965) được mô tả như một lý thuyết trao đổi<br /> (2015), Martinez-Tur (2006), Zhao & ctg xã hội cổ điển, giả định rằng con người có động<br /> (2012),… đã nghiên cứu các yếu tố công bằng lực trong mối quan hệ của chúng với người<br /> ảnh hưởng đến sự hài lòng của các tổ chức cung khác. Đối với việc phân phối kết quả, các cá<br /> cấp dịch vụ. Trường đại học hiện nay được xem nhân tìm cách tối đa hóa lợi nhuận và giảm<br /> là đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo và việc sinh thiểu thiệt hại. Theo Brown & ctg (2006) thì<br /> viên được đối xử công bằng trong quá trình học công bằng phân phối thiên về giá trị cảm nhận<br /> tập tại trường sẽ ảnh hưởng đến mức độ hài lòng kết quả của quá trình, được định nghĩa là phạm<br /> của sinh viên. Nghiên cứu này xác định và đo vi cảm nhận của khách hàng về sự công bằng<br /> lương mức độ ảnh hưởng của các thành phần dựa trên sự so sánh giữa những lợi ích và chi<br /> công bằng đến sự hài lòng của sinh viên Trường phí của họ. Công bằng phân phối được nhận<br /> Đại học Tài chính – Marketing; từ đó có những thấy khi khách hàng cảm thấy giá trị khi so sánh<br /> hàm ý quản trị giúp cho lãnh đạo Trường có đầu vào và đầu ra trong quá trình trao đổi. Công<br /> <br /> 51<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> bằng phân phối xảy ra khi khách hàng nhận thấy & ctg (1988) thì những tiêu chí cụ thể hơn để<br /> được nỗ lực của công ty trong việc giải quyết đánh giá công bằng thủ tục bao gồm: tính đúng<br /> vấn đề sau khi đã cung cấp dịch vụ trước đó lúc, tính mau lẹ, cách tiếp cận, linh hoạt, kiểm<br /> không thành công. Công bằng phân phối đối với soát quy trình, kiểm soát kết quả, chính sách<br /> các dịch vụ hữu hình thì dễ dàng định lượng hơn quyền lợi và sự chấp hành, phương pháp hợp lý.<br /> cho khách hàng và thường là những giao dịch Công bằng tương tác: Mặc dù đã có nhiều<br /> có lợi cho khách hàng trong quá trình phục hồi nghiên cứu được tập trung chủ yếu vào các khía<br /> dịch vụ như tiền thưởng, giảm giá, phiếu giảm cạnh nói trên của công bằng phân phối và thủ<br /> giá và cung cấp sản phẩm/dịch vụ miễn phí. tục, cơ sở thứ ba để đánh giá sự công bằng trong<br /> Công bằng thủ tục: Mười năm sau học thuyết các mối quan hệ với khách hàng được đưa ra,<br /> của Adam (1965), Thibaut & ctg (1975) đã xác đó là công bằng tương tác (Bies, & Moag,<br /> định thành phần thứ hai của công bằng, có tên 1986). Trong các cuộc gặp gỡ dịch vụ, công<br /> gọi là công bằng thủ tục, bao gồm quá trình sử bằng tương tác đề cập đến sự công bằng của các<br /> dụng theo các nguyên tắc thống nhất để đạt khách hàng được nhân viên tiếp đãi và giải<br /> được kết quả. Nghiên cứu hành vi người tiêu quyết trong suốt quá trình tiêu dùng (Blodgett<br /> dùng đã xác nhận rằng khách hàng xác định tính & ctg, 1997). Công bằng về thủ tục tập trung<br /> công bằng không chỉ bằng cách xem xét các kết vào các vấn đề về quá trình có tính chức năng<br /> quả nhận được, mà còn về mặt công bằng theo và không liên quan đến bản chất (như thời<br /> thủ tục được xác định là sự công bằng được cảm gian/tốc độ, khả năng tiếp cận), trong khi đó<br /> nhận về các phương tiện mà kết quả cuối cùng công bằng tương tác đề cập đến các vấn đề về<br /> được thực hiện (Goodwin & ctg, 1989; Smith & thủ tục liên quan đến con người hơn như sự lịch<br /> ctg, 1999). Trong khi công bằng về thủ tục là sự, sự tôn trọng, sự quan tâm, sự tin tưởng, sự<br /> một khái niệm phức tạp, có những vấn đề trọng tận tâm, sự đồng cảm, sự xin lỗi, sự giao tiếp<br /> tâm (như khả năng tiếp cận, tốc độ) có liên quan (Smith và ctg, 1999). Công bằng tương tác tập<br /> đặc biệt đến các doanh nghiệp dịch vụ (Blodgett trung chủ yếu vào sự tương tác giữa nhân viên<br /> & ctg, 1997). Trong các cuộc gặp gỡ giải quyết và khách hàng thông qua sự giao tiếp của họ<br /> liên hệ, nhân viên nên cung cấp sản phẩm và trong quá trình cung cấp dịch vụ của các công<br /> giải quyết xung đột một cách chính xác và có ty.<br /> hiệu quả. Sự bất công trong việc chờ đợi quá lâu 2.2. Khái niệm sự hài lòng<br /> trong các tình huống dịch vụ và thiếu khả năng Sự hài lòng của khách hàng là một trong số<br /> tiếp cận của nhân viên liên lạc có thể dẫn đến những đề tài mà nhiều công ty nghiên cứu nhất,<br /> sự không hài lòng của khách hàng. Tax & ctg vì vậy, những nhà lý luận đang tiếp tục tìm ra<br /> (1988) định nghĩa công bằng thủ tục là sự cảm những mô hình và phương pháp mới nhất có thể<br /> nhận về sự công bằng trong các chính sách, thủ tiết lộ thông tin có ý nghĩa về sự hài lòng của<br /> tục và tiêu chuẩn được sử dụng bởi các nhà khách hàng. Những nhà nghiên cứu thị trường<br /> hoạch định nhằm đạt được kết quả khi đàm vẫn chưa thống nhất được một định nghĩa toàn<br /> phán hoặc tranh chấp về dịch vụ. Khi kết quả cầu về sự hài lòng của khách hàng. Mặc dù<br /> dịch vụ được tạo ra bởi những quy trình thủ tục, những khái niệm này đã được tìm kiếm kỹ<br /> công bằng thủ tục là một mối quan tâm quan lưỡng, một mô hình lý thuyết không và dường<br /> trọng trong việc đánh giá công bằng. Theo Tax như sẽ không được chấp nhận bởi vì quá trình<br /> <br /> 52<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> phức tạp trong việc đạt được sự phán xét hài (2012), Nadiri (2016) cho thấy Công bằng phân<br /> lòng hoặc không hài lòng của khách hàng. Theo phối có mối quan hệ dương (+) với sự hài lòng<br /> Kotler (2000) thì sự hài lòng của khách hàng là khách hàng, do đó phát biểu giả thuyết H1 như<br /> mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng bắt sau:<br /> nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc Giả thuyết H1: Công bằng phân phối có tác<br /> tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng động tích cực (+) đến sự hài lòng của sinh viên<br /> của chính họ. Mức độ hài lòng phụ thuộc sự Trường Đại học Tài chính – Marketing.<br /> khác biệt giữa kết quả nhận được và sự kỳ vọng, Công bằng thủ tục liên quan đến sự công<br /> nếu kết quả thực tế thấp hơn sự kỳ vọng thì bằng về chính sách, thủ tục và tiêu chuẩn trong<br /> khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Sinh viên<br /> tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài thường xuyên phải thực hiện các quy định của<br /> lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn sự kỳ vọng thì Trường trong quá trình học tập tại Trường nên<br /> khách hàng rất hài lòng. Sự kỳ vọng của khách các chính sách, thủ tục và tiêu chuẩn mà sinh<br /> hàng được hình thành từ kinh nghiệm mua sắm, viên phải tuân thủ sẽ quyết định đến mức độ hài<br /> từ bạn bè, đồng nghiệp và từ những thông tin lòng của họ. Nghiên cứu về marketing,<br /> của người bán hàng, dịch vụ và đối thủ cạnh Maxham và Netemeyer (2002), Smith và ctg<br /> tranh. Để nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, (1999), Tax và ctg (1988), cho rằng công bằng<br /> doanh nghiệp cần có những khoản đầu tư thêm thủ tục có mối quan hệ tích cực đến sự hài lòng<br /> và ít ra cũng là đầu tư thêm những chương trình của khách hàng, do đó phát biểu giả thuyết H2<br /> marketing. Theo Oliver (1997) thì sự hài lòng như sau:<br /> của khách hàng là sự phản hồi tình cảm cũng Giả thuyết H2: Công bằng thủ tục có tác<br /> như toàn bộ cảm nhận của khách hàng đối với động dương tích cực (+) đến sự hài lòng của<br /> nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở so sánh sự khác sinh viên Trường Đại học Tài chính –<br /> biệt giữa những gì họ nhận được so với mong Marketing.<br /> đợi trước đó. Nói một cách đơn giản, sự hài lòng Công bằng tương tác xảy ra khi khách hàng<br /> của khách hàng chính là trạng thái hay cảm cảm thấy rằng họ được đối xử lịch sự, nhã nhặn,<br /> nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch tôn trọng, đồng cảm và công ty nỗ lực giải quyết<br /> vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. vấn đề (Smith và ctg, 1999). Đối với trường đại<br /> 2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu học, sinh viên sẽ cảm thấy hài lòng khi mối<br /> Công bằng phân phối là sự nhận thức công quan hệ giữa sinh viên với các phòng ban, các<br /> bằng về những kết quả mà sinh viên nhận được khoa khi trong quá trình tương tác họ cảm thấy<br /> từ Nhà trường trong việc đáp ứng về chất lượng được đối xử công bằng. Kết quả nghiên cứu của<br /> dịch vụ và phục vụ đối với việc học tập của sinh Martinez-Tur (2006), Zhao & ctg (2012),<br /> viên. Theo Adam (1965) khi việc phân phối các Nadiri (2016) cho thấy Công bằng tương tác có<br /> kết quả phục vụ là công bằng sẽ tạo cho khách mối quan hệ dương (+) với sự hài lòng khách<br /> hàng nhận thức được là họ được đối xử công hàng, do đó phát biểu giả thuyết H3 như sau:<br /> bằng từ đó gia tăng sự hài lòng đối với chất Giả thuyết H3: Công bằng tương tác có tác<br /> lượng phục vụ của Nhà trường. Kết quả nghiên động tích cực (+) đến sự hài lòng của sinh viên<br /> cứu của Martinez-Tur (2006), Zhao & ctg Trường Đại học Tài chính – Marketing.<br /> <br /> <br /> 53<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất<br /> 3. Phương pháp nghiên cứu Số phiếu phát ra là 320 phiếu. Dữ liệu thu<br /> Nghiên cứu này được thực hiện thông qua thập sau khi sàn lọc là 309 phiếu; trong đó về<br /> nghiên cứu hỗn hợp: nghiên cứu định tính và giới tính cho thấy có 160 sinh viên nam tham<br /> nghiên cứu định lượng. gia cuộc khảo sát chiếm tỷ lệ 51,8% nam và<br /> Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng 48,2% nữ; 108 sinh viên năm thứ hai (35,0%),<br /> cách sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm 10 sinh 85 sinh viên năm thứ ba (27,5%) và 116 sinh<br /> viên và giảng viên. Dựa vào thang đo nháp được viên năm thứ tư (37,5%); xét theo khoa, 40 sinh<br /> kế thừa từ nghiên cứu của Martinez-Tur (2006), viên khoa Thương mại (12,9%), Tài chính –<br /> Jha và Balaji (2015), Zhao & ctg (2012), Nadiri Ngân hàng 44 sinh viên (14,2%), khoa Du lịch<br /> (2016) dàn bài thảo luận nhóm được xây dựng 39 sinh viên (12,6%), khoa Công nghệ thông tin<br /> rồi đưa vào thảo luận để chọn ra những câu hỏi 22 sinh viên (7,1%), khoa Marketing 29 sinh<br /> phù hợp sử dụng cho nghiên cứu này. Nhóm viên (9,4%), khoa Quản trị kinh doanh có 41<br /> nghiên cứu thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm: sinh viên (13,3%), khoa Thẩm định giá – kinh<br /> buổi thảo luận nhóm đầu tiên với 4 giảng viên doanh bất động sản 32 sinh viên (10,4%), khoa<br /> đang giảng dạy chuyên ngành quản trị kinh Kế toán – Kiểm toán có 21 sinh viên (6,8%),<br /> doanh và đi đến thống nhất các câu được khoa Ngoại ngữ có 26 sinh viên (8,4%), khoa<br /> chuyển từ thang đo doanh nghiệp sang; buổi Thuế - Hải quan có 15 sinh viên (4,9%).<br /> thảo luận thứ hai với 6 sinh viên tại lớp học và 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> đi đến nhất trí các câu hỏi trong thang đo sau 4.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số<br /> khi chuyển từ thang đo dành cho doanh nghiệp Cronbach’s Alpha<br /> sang thang đo dành cho sinh viên là phù hợp. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Công<br /> Kết quả thang đo chính thức theo Phụ lục đính bằng phân phối (DJ) cho thấy Thang đo đạt độ<br /> kèm. tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,864<br /> Nghiên cứu định lượng này được thực hiện (>0,6); Hệ số tương quan biến – tổng hiệu chỉnh<br /> thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp của các biến quan sát đều lớn hơn 0,3. Không<br /> sinh viên tại Trường Đại học Tài chính – có biến nào khi loại làm cho Cronbach’s Alpha<br /> Marketing. Từ dữ liệu thu thập, nghiên cứu này tăng cao hơn 0,864.<br /> thực hiện kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Công<br /> Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá bằng thủ tục (PJ) cho thấy Thang đo đạt độ tin<br /> EFA, phân tích hồi quy bội. cậy với hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,846>0,6;<br /> 54<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> Hệ số tương quan biến – tổng hiệu chỉnh của Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)<br /> biến quan sát PJ4 ở lần phân tích thứ nhất đạt lần 2 bằng phương pháp trích Principal<br /> 0,2700,6; các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn<br /> Hệ số tương quan biến – tổng hiệu chỉnh của hơn 0,50 và giải thích ý nghĩa cho 3 nhóm nhân<br /> các biến quan sát đều lớn hơn 0,3. Không có tố; Đánh giá độ tin cậy các thang đo mới phân<br /> biến nào khi loại làm cho Cronbach’s Alpha tích được với các hệ số Cronbach’s Alpha đều<br /> tăng cao hơn 0,781. đạt trong khoảng từ 0.60 – 0.95.<br /> Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Sự hài Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)<br /> lòng (SA) cho thấy Thang đo đạt độ tin cậy với đối với yếu tố phụ thuộc bằng phương pháp<br /> hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,670>0,6. Hệ số trích Principal Component và phép xoay<br /> tương quan biến – tổng hiệu chỉnh của các biến Varimax cho kết quả như sau: Hệ số KMO đạt<br /> quan sát đều lớn hơn 0,3. Không có biến nào 0,636 với giá trị Sig đạt 0,000 chứng tỏ dữ liệu<br /> khi loại làm cho Cronbach’s Alpha tăng cao nghiên cứu phù hợp để phân tích nhân tố khám<br /> hơn 0,670. phá (EFA); 03 biến quan sát được trích vào 1<br /> Kết luận: có 21 biến quan sát của thang đo nhóm tại giá trị Eigenvalue đạt 1,819 và phương<br /> độc lập và 03 biến quan sát của thang đo phụ sai tích lũy đạt được 60,637%; Tất cả các biến<br /> thuộc thỏa điều kiện để đưa vào phân tích nhân quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,50<br /> tố khám phá (EFA). và giải thích ý nghĩa cho nhóm nhân tố, do đó<br /> 4.2. Phân tích nhân tố khám phá các biến này đều thỏa điều kiện để phân tích hồi<br /> Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) quy tuyến tính.<br /> lần 1 bằng phương pháp trích Principal 4.3. Kiểm định mô hình nghiên cứu<br /> Component và phép xoay Varimax cho kết quả 4.3.1. Phân tích ma trận tương quan hệ số<br /> như sau: Hệ số KMO đạt 0,897 với giá trị Sig Pearson<br /> đạt 0.000 chứng tỏ dữ liệu nghiên cứu phù hợp Kết quả kiểm tra hệ số tương quan giữa biến<br /> để phân tích nhân tố khám phá (EFA); 21 biến độc lập và biến phụ thuộc cho thấy hệ số tương<br /> quan sát thuộc thang đo độc lập được trích vào quan giữa các biến khá cao đạt giá trị từ 0,559<br /> 3 nhóm tại giá trị Eigenvalue đạt 1,748 và đến 0,650, đồng thời giá trị kiểm định (hệ số<br /> phương sai tích lũy đạt được 51,269%; Tất cả sig) giữa các biến nhỏ hơn 0,05 (mức ý nghĩa<br /> các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn 5%). Kết quả trên cho thấy mối quan hệ giữa<br /> hơn 0,50; Riêng biến quan sát IJ6 có hệ số tải các biến độc lập và biến phụ thuộc là khá chặt<br /> nhân tố nhỏ hơn 0,50 do đó biến quan sát này chẽ.<br /> sẽ bị loại ra khỏi thang đo và tiến hành phân tích 4.3.2. Phân tích hồi quy tuyến tính<br /> nhân tố khám phá lần 2. Căn cứ vào kết quả phân tích hồi quy tuyến<br /> <br /> 55<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> Bảng 4.1: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) các yếu tố độc lập<br /> KMO = 0,898 THÀNH PHẦN<br /> SIG = 0,000 Công bằng phân Công bằng thủ tục Công bằng tương<br /> phối tác<br /> DJ5 0,752<br /> DJ6 0,729<br /> DJ2 0,715<br /> DJ1 0,711<br /> DJ4 0,704<br /> DJ3 0,664<br /> DJ7 0,639<br /> PJ1 0,719<br /> PJ2 0,703<br /> PJ7 0,701<br /> PJ6 0,694<br /> PJ3 0,674<br /> PJ5 0,669<br /> PJ8 0,627<br /> IJ5 0,726<br /> IJ4 0,692<br /> IJ3 0,663<br /> IJ1 0,653<br /> IJ7 0,600<br /> IJ2 0,591<br /> EIGENVALUE 6,885 2,030 1,686<br /> PHƯƠNG SAI TÍCH 19,571 37,981 53,007<br /> LŨY<br /> Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả<br /> Bảng 4.1: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình<br /> R2 điều Độ lệch chuẩn của sai số ước<br /> Mô hình R R2 Durbin-Watson<br /> chỉnh lượng<br /> <br /> 1 0,759a 0,576 0,572 0,327530 1,962<br /> <br /> <br /> Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả<br /> tính cho thấy mô hình bao gồm 3 yếu tố độc lập bộ tập hợp các biến độc lập hay không.<br /> DJ, PJ, IJ là phù hợp nhất với hệ số R2 điều Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô<br /> chỉnh đạt 57,2% và các yếu tố độc lập hoàn toàn hình cho thấy mô hình có thống kê F được tính<br /> phù hợp mô hình với khả năng giải thích cho từ R2 của mô hình đầy đủ với giá trị Sig. rất nhỏ<br /> yếu tố phụ thuộc là 57.2%. (Sig. < 0.05) cho thấy ta sẽ an toàn khi kết luận<br /> Kiểm định F sử dụng để kiểm định giả thuyết là kết hợp của các biến hiện có trong mô hình<br /> về độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính có thể giải thích được thay đổi của biến phụ<br /> tổng thể. Mục tiêu của kiểm định này nhằm xem thuộc, điều này cũng có nghĩa là mô hình ta xây<br /> xét biến phụ thuộc có liên hệ tuyến tính với toàn dựng phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng<br /> 56<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> được.<br /> Bảng 4.2: Hệ số hồi quy riêng phần<br /> Hệ số hồi quy chưa Hệ số hồi quy<br /> Thống kê đa cộng tuyến<br /> chuẩn hóa chuẩn hóa Giá trị Mức ý<br /> Mô hình kiểm định nghĩa Hệ số phóng<br /> Độ chấp<br /> B Sai số chuẩn Beta (β) t Sig. đại phương<br /> nhận<br /> sai (VIF)<br /> 1 Hằng số 0,475 0,142 3,337 0,001<br /> DJ 0,303 0,042 0,323 7,172 0,000 0,683 1,463<br /> PJ 0,193 0,039 0,222 4,968 0,000 0,698 1,433<br /> IJ 0,372 0,043 0,388 8,650 0,000 0,690 1,449<br /> Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả<br /> Kết quả phân tích các hệ số hồi quy riêng Zhao & ctg (2012), Nadiri (2016). Trên phương<br /> phần trong mô hình cho thấy Mô hình đạt ý diện thực tế, sinh viên Trường Đại học Tài<br /> nghĩa thống kê với giá trị Sig. của các yếu tố chính – Marketing cũng là khách hàng xét trong<br /> DJ, PJ, IJ rất nhỏ (Sig < 0.05). mối quan hệ tổng thể, mà đã là khách hàng thì<br /> Dò tìm các vi phạm giả định hồi quy, giả Sự hài lòng chung của khách hàng đều chịu sự<br /> định về phân phối chuẩn của phần dư có phân ảnh hưởng các thành phần của sự công bằng<br /> phối chuẩn không bị vi phạm; giả định không theo thực tế nghiên cứu của các đề tài trước. Kết<br /> có hiện tượng tự tương quan giữa các sai số quả nghiên cứu này có thể bổ sung và khẳng<br /> ngẫu nhiên (giá trị Durbin - Watson nằm trong định hơn nữa lý thuyết tác động của công bằng<br /> khoảng chấp nhận 1 < d = 1,962< 3; không có đến sự hài lòng của khách hàng.<br /> hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập Về mức độ tác động của các yếu tố đến Sự<br /> VIF
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2