intTypePromotion=1

CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY - Bài 5 & 6

Chia sẻ: Lit Ga | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

0
134
lượt xem
64
download

CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY - Bài 5 & 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

KỸ THUẬT KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN MỦ CAO SU Khai thác mủ là việc cạo mủ trên vườn cây đã đạt được tiêu chuẩn. Khác với nhiều loại cây trồng khác việc cạo mủ kéo dài hầu hết thời gian trong năm. Nó cũng đòi hỏi phải thực hiện nhiều động tác kỹ thuật chính xác và những hiểu biết về sinh lý mủ sâu sắc để có thể thu được đầy đủ tiềm năng sản lượng vốn có của cây. Từ khâu chọn cây nào nên được thu hoạch đến những kỹ thuật khai thác mủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY - Bài 5 & 6

  1. cao thường có trị số cao hơn các tầng d ưới, nhưng đ ối với Mg th ì ngư ợc lạ i (Boll Jonhes, 1954). C uối c ùng, trên cây cao su kinh doanh lá phơi ra ngoài ánh nắng có hàm lượng dinh d ư ỡng thấp hơn những lá trong bóng râm, ngoại trừ Ca (Shorrocks, 1962). Những ảnh hư ởng của chế độ khai thác mủ, cây gốc ghép, dòng vô tính đ ến thành p hần các chất dinh dư ỡng trong lá c ũng đ ã đư ợc Pushparajah (1972), Push (1972) tr ình bày trong những kết quả nghiên cứu của họ. Hà m lư ợng các chất dinh dư ỡng trong lá có tương quan thuận với hà m lư ợng dinh dưỡng trong đất nhất là N tổng số, P tổng số, P dể tiêu, K dể tiêu (Nguyễn T hị Huệ, 1994). Nhiều thí nghiệ m khác của Watson (1964), Push (1969), Nguyễn Thị Huệ và N guyễn Văn Đức (1995) về ảnh hư ởng của phân bón và thả m phủ lên hà m lư ợng dinh dưỡng lá và tình tr ạng d ưỡng chất trong đất cũng đ ã gặt hái nhiề u thành công. Tó m lại, bón phân theo chẩn nghiệ m dinh dư ỡng là một phương pháp xác đ ịnh liều lư ợng phân bón một cách có cơ s ở khoa học nhất, nó giúp cho người trồng cao su tránh đư ợc những lã ng phí và k ịp thời đáp ứng đư ợc nhu cầu của cây. * Kỹ thuật bón phân cho cao su Về kỹ thuật bón phân cần quan tâm các yếu tố sau: Tuổ i cây, loại phân bón, vị trí bón, lượng bón, số lần bón trong nă m (tham khảo thêm qui trình kỹ thuật trồng cao su, 1997- Tổng công ty cao su Việt Nam). Bài 5. K Ỹ THUẬT KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN MỦ CAO SU I. KHAI THÁC M Ủ Khai thác mủ là việc cạo mủ tr ên vườn cây đã đạt đ ược tiêu chuẩ n. Khác với nhiề u loại cây trồng khác việc cạo mủ kéo dài hầu hết thời gian trong năm. Nó cũng đòi hỏi phải thực hiện nhiều động tác kỹ thuật chính xác và những hiểu biết về sinh lý mủ sâu sắc để có thể thu đư ợc đầy đủ tiề m năng sản lư ợng vốn có của cây. Từ khâu c họn cây nào nên được thu hoạch đến những kỹ thuật khai thác mủ như c ạo h ình chữ S hay kích thích mủ đều cần có sự hiểu biết sâu sắc để có thể thu đư ợc tối đa lư ợng mủ c ủa vườn cây và duy trì việc khai thác lâ u dài trên vườn. 1. Tiê u chuẩ n cây cạo, vư ờn cây khai thác v à thời vụ khai thác: + Tiêu chuẩn cây mở miệ ng cạo: Cây đạt tiêu chuẩn thu hoạch khi việc cạo k hông là m ả nh hư ởng lớn đến sự sinh tr ư ởng b ình thường của cây và vào thời điể m cây c ho mủ một cách kinh tế. Người ta đo mức vanh thân của cây tại độ cao cách mặt đất 100cm nếu đạt 50c m thì cây này đư ợc đưa vào khai thác. Đối với cây thực sinh chỉ đo ở đ ộ cao cách mặt đất 60c m thay vì 100c m như ở cây ghép. Tuy nhiê n, hiện nay có nhiề u nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã chứng minh rằng cây ở mức vanh 42cm c ũng có thể đư ợc đ ưa vào khai thác mà không ả nh hưởng lớn đến quá tr ình sinh trư ởng b ình thư ờng của cây. Vì thế với tiêu chuẩn cây cạo mới (42c m) chúng ta có thể rút 70
  2. ngắ n thời gian đầu tư KTCB một nă m, hay thu hoạch mủ sớm hơn bình thư ờng một năm. + Tiê u chuẩ n vư ờn cây mở cạo: Để việc khai thác trong những nă m đầu có lã i ngư ời ta chỉ khai thác những vư ờn cây có tr ên 50% s ố cây đạt đư ợc tiêu chuẩn như đã nói trên. T ỷ lệ bao nhiê u phần tră m cây đạt tiêu chuẩn thì có thể đưa vào kha i thác tùy thuộc rất lớn vào chi phí nhâ n công c ạo mủ cao hay thấp tại chính vùng tr ồng và năng s uất mủ của giống. Chi phí nhâ n công thấp và giống khởi động sớm (năng suất cao nga y từ đầu) là căn cứ tốt để có thể giả m tỷ lệ phần tră m cây đạt tiêu chuẩn cạo tr ên vườn xuống. + Thời vụ cạo mủ trong năm: Vư ờn cây đư ợc kha i thác bắt đầu trong nă m từ k hi 100% lá mới đã mọc ổn định. Những căn cứ để xác định thời gian bắt đầu cạo thường giống nhau tại các vùn g trong nư ớc. Thư ờng thì vư ờn cây đư ợc khai thác bắt đầu từ 10- 20/2 tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ha y 10- 15/5 tại Quảng Trị. Trong khi đó việc xác định thời gian nghỉ cạo trong nă m thường có những căn cứ k hác nha u tại các v ùng. Tại Tây Nguyên và Đông Na m Bộ thời điể m nghỉ cạo thư ờng xảy ra khi 50% số lá tr ên cây r ụng. Thời điểm này thư ờng r ơi vào giữa hoặc cuối tháng 1. Những vùng mà quá trình rụng lá và ra lá mới nhanh trong những điều kiện khí hậu thời tiết thuậ n lợi th ì việc dựa vào phần trăm số lá rụng đ ể quyết định nghỉ cạo là căn cứ tốt. Tuy nhiên, tại những vùng có điều kiện khí hậu không thuận lợi do rét đậ m, mây mù, cường độ ánh sáng ké m ngư ời ta không căn cứ vào thời điể m rụng lá mà căn cứ vào thời điểm khi cây bắt đầu nhú lá non mới bắt đầu ngừng cạo. Do quá trình rụng lá tại những vùng như thế thư ờng diễn ra chậ m chạp, khả năng hoạt động của lá trong quá trình r ụng lá vẫn c òn đ ủ lớn để có thể sản sinh ra mủ. Điề u này có thể là m tăng thời gian khai thác mủ trong nă m để bù cho những ngày mưa lớn và mưa sáng trong suốt mùa đông của nă m trư ớc. Vì thế, việc ngưng c ạo quá sớm sẽ không tận thu đư ợc khả năng cho s ản lư ợng của cây. Điề u này thư ờng xảy ra tại Quảng Trị và Quảng B ình. + Thời điểm cạo mủ trong một lần cạo: Trong ngày vư ờn cây cần đ ư ợc kha i thác càng sớm càng tốt, thời điể m bắt đầu khai thác từ 4 đến 7 giờ sáng t ùy theo mùa và chấm dứt kha i thác vào kho ảng thời gian từ 9- 12 giờ tr ưa. K ết quả thí nghiệ m về ả nh hưởng của giờ cạo mủ với một số yếu tố khí hậu đến sản lư ợng của hai d òng vô tính PB235 và GT1 đ ã cho thấy sản lượng biến thiên không nhiều khi cây được cạo trong kho ảng 4- 7 giờ sáng, nhưng cạo trể thư ờng cho DRC thấp hơn so với cạo lúc 5 giờ từ 10- 50% sản lượng (Nguyễn Anh Nghĩa et al., 2001). 2. Sinh lý khai thác mủ Khi khai thác mủ chúng ta c ũng cần biết những đặc tính chảy mủ của cao su để có thể linh hoạt điều chỉnh những kỹ thuật cần thiết để có thể thu đ ư ợc sản lư ợng một cách bền vững và cao nhất. 71
  3. + Cơ chế chảy mủ và bít mạch mủ: Q uá trình chảy mủ ra ngo ài c ủa cây cao su được biết đến như là quá tr ình cân b ằng áp suất giữa áp suất cao (8- 10 atm) trong các ố ng mủ và áp suất không khí thấp 1atm. Áp suất trong ống mủ cao hay thấp còn tuỳ thuộc nhiều vào điều kiện nhiệt độ, sự thiếu hụt nư ớc trong cây, độ mở của khí khổng trên lá, dòng vô tính, v ị trí cắt ống mủ và tình trạng sức khoẻ sinh lý của cây. Sau khi cạo mủ 2- 3 giờ dòng mủ chảy sẽ ngưng hẳn. Sự ngưng chảy mủ ha y quá trình bít mạch mủ có liê n quan đ ến đặc tính dung dịch keo âm c ủa latex và hạt luto id. Trong quá tr ình chảy mủ ra ngoài do sự cọ xát của hạt này với các phần tử khác trong latex cùng sự giả m áp suất đột ngột tại miệng ống mủ, hạt này d ần dần vỡ ra tại miệng ống mủ. Theo đó pH của latex bị giảm thấp tại vùng nga y miệng ống mủ. Các hạt keo cao su chuyển sang trạng thái gel, hay vón c ục và tích lu ỹ dần ngay tại miệng . Vì thế, lưu lư ợng dòng chảy mủ giả m dần và ngưng chảy hẳn khi các hạt cao su vón đông kín miệ ng ống mủ. Boatman và Buttery (1967) đ ã có những nghiên c ứu về độ dày của các nút mủ cao su đã bít kín miệ ng ống mủ bằng cách cạo lặp lại nhiều lần cách nhau 15 phút với độ dày lớp vỏ lấy đi là 1 mm. Kết quả cho thấy quá trình chảy mủ đã đ ược lặp lại sau mỗ i lần cắt với lưu lượng dòng chảy thấp trước hơn một ít và độ d ày c ủa các nút mủ cũng đư ợc xác định là 1 mm. + N hững phản ứng của cây đế n sự cạo mủ: * Chỉ số bít ống mủ (Plugging Index): Đư ợc d ùng đ ể biểu hiện tình tr ạng bít ố ng mủ. Milford đ ã đưa ra phương tr ình tính chỉ số bít ống mủ như sau: PI = Lưu lư ợng d òng chảy mủ trong 5 phút đầu (ml/phút)  100/ Số lượng mủ thu được (ml) PI thường thay đổi theo giố ng cây hay nói cách khác nó là đặc tính di truyề n của giống. Các giố ng có dòng chảy mủ ngắn, chỉ số bít mạch mủ cao như giố ng Tj1, ngư ợc lại có giống có PI cao như RRIM 501. PI = 1 đ ối với các giố ng mủ chảy dai, và PI = 10 c ho các giống mủ dễ đông. PI cũng thay đổi theo mùa. PI cao khi cây nghỉ cạo. Nó c ũng thay đổi theo chế độ cạo. Miệng cạo ngắ n và các miệng cạo có vị trí cao trên thân, PI thư ờng cao. Một số Cation như Na +, K+ , Ca2+ và nhất là Mg2+ đ ã góp phần là m đ ông đặc mủ tự nhiên và đôi khi ngay cả tr ên miệng cạo. * Vùng huy động mủ : Đó là vùng có các ố ng mủ cung cấp khối lư ợng mủ nước thoát ra ngoà i nga y sau khi lớp vỏ cạo bị cắt. Vùng huy đ ộng mủ đ ư ợc hình thành do ả nh hưởng chênh lệch áp suất b ên trong ố ng mủ ở ngay nơi b ị cắt và những vùng lân cận. Ngay sau khi có một lư ợng mủ đầu tiên thoát ra sau nhát c ạo, áp suất thẩm thấu c ủa các tế bào ngay miệng cạo giảm đột ngột đã gây s ự di chuyển mủ nư ớc từ các tế bào lâ n cận đang ở tình tr ạng trương nư ớc đến các tế b ao đang b ị giả m áp suất. Vùng huy đ ộng mủ có chiều d ài 50- 60cm ở b ên dư ới v ùng vỏ cạo đối với miệ ng cạo xuố ng và ở p hía trên đường cạo đối với miệng cạo lên (ngư ợc). Thê m vào đó Ribailler (1972) đưa ra giả thiết là đối với miệ ng cạo xuống c òn có một vùng huy động mủ bên trên 72
  4. miệ ng cạo, ở lớp vỏ tái sinh. Mặc d ù vùng này nhỏ hơn vùng huy động mủ thông thường. ư ớc tính v ùng này đ ã huy động đư ợc 30% khố i lượng mủ trong tổng số mủ cạo được (Hình 5.1). Hình 5.1. Vùng huy động mủ cạo xuôi (A) và cạo ngư ợc (B). Vùng huy đ ộng mủ là một yếu tố quyết định số mủ tiết ra và có đặc điể m: Tỷ lệ v ùng huy đ ộng mủ tr ên 1cm chiề u dài miệng cạo ở miệ ng cạo ngắn nhiều hơn miệng cạo dài. Diệ n tíc h vùng huy đ ộng mủ ở đầu miệ ng cạo lớn hơn ở g iữa miệng cạo. Thực tế c ho thấy mủ cao su tiết ra ở hai đầu miệng cạo lớn hơn ở giữa miệ ng cạo. Vùng huy động mủ bị giới hạn ở các miệng cạo xuống khi miệng cạo gần đến mặt đất, do vậy sản lượng thu đư ợc thấp. Khi cây đ ư ợc cạo theo một nhịp độ đều đặn các chất đồng hoá được trong cây sẽ đ ược sử dụng để vừa bảo đả m mức tăng trư ởng thực vật của cây, vừa sản xuất đ ược khối lượng mủ tiết ra + Có bốn đặc tính chảy mủ qua n trọng cần qua n tâm là : * Việc thu mủ quá nhiều trong nă m này có thể dẫn đến sản lượng kém trong những nă m sau đ ó, và nặng nề hơn nữa là s ự xuất hiện tỉ lệ cao cây bị bệnh khô mủ (brown bast) trong vườn. * Mỗi d òng vô tính s ẽ thích ứng với một tổ hợp nhiều chế độ khai thác riêng cho dòng vô tính đ ó. Ví dụ d òng PB235 có thể có một chế độ cạo trung b ình đến nặ ng ngay trong gia i đo ạn đầu trong khi dòng GT1 nếu khai thác như vậy sẽ không thu đ ược nhiề u mủ hơn là khai thác với một chế độ cạo nhẹ. Thê m vào đó, dòng PB235 thư ờng đáp ứ ng với kích thích mủ tốt hơn GT1 rất nhiều. * Mủ cao su cũng thư ờng chảy nhiều hơn trong n hững tháng cuối năm. Thư ờng trong ba tháng đầu nă m không cho mủ cao, v ì cây bị rụng lá, ra hoa và ra lá mới. Sản lượng mủ sẽ tăng dần từ tháng 4 đến tháng 12. Tại Đông Na m Bộ ngư ời ta đã thống kê được tỉ lệ sản lượng các tháng trong nă m bình quân cho một s ố dòng vô tính ch ủ yếu như GT1, RRIM600, PB235..., với một chế độ cạo 1/2S1/2d6d/7 như đư ợc tr ình bày ở bảng phụ lục. 73
  5. * Sản lư ợng của mủ cũng biến thiên trong các nă m, từ khi bắt đầu khai thác đến năm khai thác thứ 12 sản lư ợng sẽ tăng dần, gia i đoạn này đư ợc gọi giai đoạn khai thác cao su non. Sau đó cho đến năm khai thác thứ 25 sản lư ợng thư ờng cao và ổ n định gọi là gia i đo ạn khai thác cao su trung niên, sau đó là giai đo ạn cao su già s ản lư ợng có k huynh hư ớng giả m dần. + Kỹ thuật cạo mủ cao su hình chử S: Hướ ng cạo Hình 5.2 : Hư ớng cạo H ướng ống mủ * Hướng đường miệ ng cạo: Được qui định đối với cạo xuố ng là từ 30- 400 và c ạo ngược là từ 40- 450 . Với độ nghiê ng này đư ờng cạo sẽ cắt được nhiề u ống mủ nhất (chú ý rằng hướng cạo luôn luô n ngư ợc với hướng ống mủ). * Đ ộ sâu lá t c ạo: Độ sâu được 300 tính từ mặt ngoài của vỏ cho đến cách gỗ từ 1,1- 1,5mm tùy theo tuổ i cây, mùa vụ, d òng vô tính. Nếu cạo đụng đến gỗ còn gọi là cạo phạ m th ì vỏ ở ngay chổ bị phạm sẽ không tái sinh được, gây trở ngại cho thời kỳ khai thác tr ên vỏ tái sinh. Mặt khác nó sẽ tạo điều kiện cho bệnh loét sọc phát triển. Cạo phạm cũng không làm cho mủ chảy ra bằng với cạo cách gỗ 1,1- 1,5 mm. Lớp vỏ chừa lại nà y chính là tư ợng tầng mà nhờ nó vỏ có thể tái sinh trở lại trong những c hu k ỳ khai thác sau. Ngược với cạo phạ m là c ạo cạn tức là cạo chưa sâu đến vị trí có nhiề u ống nhựa mủ nhất v ì thế mủ sẽ không chảy hoặc chảy rất ít. Tuy nhiên cạo cạn k hông gâ y bất kỳ một ảnh hư ởng xấu nào đ ến quá tr ình sinh trư ởng của cây. * Độ hao dă m: Do nút mủ có độ d ày là 1 mm nên độ hao dă m cho phép là 1- 1,2mm cho c ạo xuô i và 1- 1,5mm cho cạo ngư ợc. * Chiều dài đường cạo: Thường trong khoảng từ 1/2 S đến 1S hoặc 1.1/2S. Cây cao su khai thác càng già thì đư ờng cạo càng dài. Chiều d ài đư ờng cạo thư ờng tỉ lệ thuậ n với sản lượng khai thác đư ợc trong lần cạo đó trong phạ m vi đ ường cạo từ 1S- 1.1/2S. N ếu đ ư ờng cạo dài thêm nữa có thể là m giả m sản lư ợng. * N hịp độ cạo: Mủ cao su có thể tái sinh lại sau 24 giờ kể từ lúc khai thác. Điề u này cho thấy nhịp độ cạo cao nhất là mỗi ngà y cạo 1 lần. Tu y nhiên, hành động này có 74
  6. thể là m giả m năng suất mủ trong những nă m sau rất nhiều và ảnh hư ởng mạnh đến sinh lý bình thư ờng của cây cao su. Thông thư ờng thời gian giữa hai lần cạo là 2- 3 ngà y. * Đ ộ cao: Là kho ảng cách từ điể m thấp của miệng cạo (miệ ng tiền) đ ến đất trong trường hợp cây thực sinh. Đối với cây thực sinh có thân cây h ình nón, càng lên cao vanh thân càng nhỏ lạ i do đó để có miệng cạo d ài hợp lý lúc mở miệ ng cạo lầ n đầu tiên nên c ạo thấp ở vị trí 0,6m cách mặt đất. Khi bắt đầu mở miệ ng cạo thư ờn g ở mức 1,1m hoặc 0,65 m cách mặt đất. Nếu cạo ngư ợc thì đ ộ cao bắt đầu cạo là 1,5m. * C ó hai loại cạo h ình chữ S, một loại là cạo xuô i tức là việc cạo sẽ làm tiêu hao vỏ theo hư ớng địa và ngược lại sự tiê u hao vỏ theo hư ớng thiên. Ở cây cao su đã khai thác nhiều lần tr ên phần vỏ cạo từ 1,5m trở xuống đất ngư ời ta thư ờng tiến hành c ạo ngư ợc để gia tăng sản lư ợng trong mỗ i lần cạo. * N goài ra khi c ạo cũng phải đảm bảo cho đường cạo không gợn sóng, vuông tiền, vuông hậu, tránh vư ợt tuyến. + Kỹ thuật kích thích mủ: Có một số hóa chất có thể là m cho cây ra mủ nhiều hơn, các chất đó được gọi là chất kích thíc h mủ (latex stimulant); ví dụ: AIA (acid indo l acetic), AIB (acid indolb utiric), 2,4D (acid diclorofe noxyacetic), 2,4,5T, CEPA (acid cloetil phosphonic) hay còn gọ i là ethepon, ethrel. Cơ chế của tác động kích thích của các hóa chất này là ho ặc chúng tự giải phóng c hất C2 H4 vào mô cây hoặc là chúng kích thích mô vỏ tạo ra chất này. C2 H4 đã làm cho vỏ của hạt lutoid bền hơn và không thể bị vở khi chảy đến đ ư ờng miệ ng cạo như thông thường. Hệ quả là mủ cao su có chứa trong vỏ thân sẽ chảy nhiề u hơn. Việc kích thích mủ thông qua các hóa chất sẽ là m cho thời gian chảy mủ kéo dài hơn b ình thư ờng. Chất kích thíc h mủ phổ biến hiện nay là Ethrel, chất này sau khi đư ợc b ôi lên b ề bặt vỏ gầ n đ ư ờng cạo thì s ẽ thẩm thấu vào mô vỏ nằ m gần tư ợng tầng. Có đến 90% lượng thuốc đư ợc thấm vào mô vỏ sau 24 giờ bôi thuốc. Hiệ u quả của thuốc đ ược kéo dài từ 1- 2 tháng. Có đ ến 4 cách bôi thuốc khác nhau mà đư ợc gọi là: Ba, Pa, Ga và La. Cũng cần lưu ý r ằng: Khi sử dụng chất kích thích cần phải cân nhắc hiệu quả kinh tế. Người ta thư ờng kích thích cho cây đ ã kha i thác trên 15 năm thì có hiệu quả kinh tế cao nhất. Phản ứng của thuốc kích thích đối với các d òng vô tính khác nhau thì không giống nha u. Thuốc kíc h thíc h không có tác động đến việc tái sinh mủ, hay bất kỳ một sự gia tăng sản xuất mủ nào trong cây mà ch ỉ có tác dụng kéo dài s ự bít mạch mủ tự nhiê n vốn có của cây. Vì thế, thuốc kích thích nên đư ợc xem là phương pháp giảm công khai thác hơn là công c ụ tăng năng suất. + Chế độ cạo: C hế độ cạo mủ là phương thức khai thác mủ đối với cao su đ ư ợc áp d ụng trong một thời gia n nào đó. Một chế độ kha i thác gồ m các yếu tố sau: S: Độ d ài đư ờng cạo; : Hư ớng cạo; d: Nhịp độ cạo; m, Pa /y: Chu k ỳ cạo và c hế độ kích thích. 75
  7. C hế độ cạo phổ biế n cho cao su non và cao su trung niên thư ờng là 1/2S d/3 6d/7 10m/12 không kích thich đ ối với giố ng ít đáp ứng và có kích thích đ ối với những giống k hởi động sớm. C hế độ cạo cho cao su già gần than h lý: 1/2S d/3 6d/7 10m/12 .ET 5 % Pa 6/y +1/2S 6d/7 4m/12.ET 5% Pa 4/y. II. SƠ CHẾ M Ủ N ƯỚC. - Thu gom và bảo vệ mủ từ vư ờn cây: Mủ nước (latex) sau khi ra khỏi vư ờn thư ờng được pha thê m một lư ợng nhỏ dung d ịch NH4 OH để chống đông cho mủ trong quá tr ình vận chuyể n về nhà máy. Bảo quản mủ sạch, không có các chất bẩn để giữ cho chất lượng mủ đư ợc ổn định là điều cần thiết. Mủ đã đông ngay tại vườn cây cũng đư ợc thu go m. Tránh đất hoặc tàn dư thực vật dính vào càng ít càng tốt. Loại mủ này s ẽ đư ợc chế biến theo qui trình riêng và thường có chất lư ợng thấp hơn mủ nư ớc. - Là m s ạch: Trư ớc khi tách mủ cao su ra khỏi latex, mủ nước thư ờng đ ược lọc sạch qua các lo ại lư ới lọc thô và tinh để loại bỏ rác bẩn hay mủ cao su đã bị đông. Đối với mủ tạp, p hải trải qua quá trình nhai nhồi có dòng nư ớc chảy liê n tục để loại bỏ rác thải v ì thế c hi phí thư ờng cao hơn nhiề u. - Đánh đông mủ nước: Đánh đông là công việc chỉ đư ợc tiế n hành trên mủ nư ớc, để tách cao su ra khỏi mủ nư ớc. Các công đoạn của đánh đông gồm việc pha loãn g mủ và hoà vào mủ nước sau khi đư ợc pha loãng một lư ợng acid acetic (CH3 COOH) để quá tr ình đ ông được thực hiệ n hoàn hảo. - Sấy v à đóng bánh: Mủ sau khi đư ợc đánh đông hay nha i nhồi sẽ đ ược cán mỏ ng hay cắt thành hạt và sấy khô theo rất nhiều qui tr ình khác nha u để tạo ra những sản phẩ m cao su s ơ chế khác nha u. Công đo ạn sấy là công đo ạn khó và quan tr ọng ảnh hưởng lớn đến chất lư ợng c ủa cao su thành phẩ m. V ì thế, nhiệt độ sấy thư ờng được tăng dần chứ không tiến hành tăng đột ngột có thể gây ra hiện tượng "mủ chín không đều". Bài 6. Đ ẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC - Đ ẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY CÀ PHÊ. I. Đ ẶC ĐIỂM CỦA BỘ RỄ CÀ PHÊ Bộ rễ cây cà phê trưởng thà nh gồ m rễ cọc, rễ trụ, rễ tơ (rễ cá m). - Rễ cọc: Là r ễ có từ trong hạt phát sinh sớm, mọc thẳng, to, khỏe với chức năng 76
  8. hút nư ớc, dinh dư ỡng ở tầng sâu và giữ cho cây vững chắc. Rễ cọc có tuổi thọ dài sinh trưởng phát triển bền vững trong nhiề u năm. Chiều dài r ễ cọc từ 0,3m đến tr ên 1m tuỳ thuộc rất lớn vào độ hổng đất, mạch nước ngầ m và đ ặc tính của từng lo ài cà phê. Hình 6.1: Bộ rễ của cây c à phê - Rễ trụ chính: Là các rễ cấp 1 phát sinh tr ên rễ cọc, các rễ trụ phát sinh sớm nằm gần và song song với mặt đất nên còn gọi là rễ nga ng. Bán kính hoạt động của các rễ này từ 1m - 3m, tuỳ thuộc vào độ xốp của tầng đất và đặc tính của giố ng. Rễ trụ của cà phê vối có bán kính hoạt động rộng hơn cà phê chè. Các rễ trụ phát triển sau phân bố ở phần cuối của rễ cọc, xuất hiện khi cây ở tuổi thứ 5, thứ 6 là các r ễ hỗ trợ rất lớn cho rễ c ọc làm vững chắc cho cây và hút nư ớc, dinh dưỡng của tầng đất sâu, các rễ này có thể ăn sâu xuống từ 80c m- 100c m. - Rễ t ơ (rễ cám): Các rễ này là tập hợp của các rễ từ cấp 2 trở lên. Các r ễ trụ gần mặt đất phát sinh rất nhiều rễ tơ, tập trung chủ yếu ở tầng đ ất mặt từ 0- 30c m. S ố lư ợng rễ nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào lý tính của tầng đất mặt. Chức năng chính của hệ rễ tơ là hút dinh dư ỡng, nước tr ên tầng đất mặt. Đồng thời rễ t ơ lại có sức tái sinh rất mạnh, có tính hướng nư ớc, hướng phân rất rõ, đây là đ ặc điể m sinh trư ởng của hệ rễ tơ. Sự xuất hiện của rễ tơ tương đ ối sớm, khi cây hình thành r ễ trụ khoảng 15 ngày thì rễ tơ đ ã xuất hiện. Bán kính hoạt động của hệ rễ t ơ kho ảng từ 1 m- 1,5 m . - Các nhân t ố ảnh hư ởng đến sự phát triển của bộ rễ Ngoài yếu tố nội tại là đặc tính của giố ng, bộ rễ chịu nhiề u ảnh hư ởng của điề u k iện ngoại cảnh như đất trồng, chế độ dinh dư ỡng, các biện pháp kỹ thuật canh tác, chế độ nhiệt và ẩ m độ đất. Bộ rễ cà phê phát triể n tốt tr ên đ ất có tầng canh tác dày, có tính c hất vật lý tốt, đặc biệt thíc h hợp đất có độ hổng từ 60-65%, có k ết cấu hạt kết, hàm lượng mùn cao. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy trên 90% bộ rễ c à phê phân bố ở độ sâu tầng đất mặt từ 0- 30cm. Độ pH của đất thích hợp từ 4,5- 6,5. Khi quan sát các vườn cà phê ở Tâ y Nguyên không có cây che bóng, không được tủ gốc giữ ẩm thì trong những tháng mùa hè nhiệt độ tr ên lớp đất mặt cao đã là m cho 77
  9. Bảng 6.1: Phân bố của bộ rễ cà phê ở Cơ tầng đất khác nhau Tầng sâu Tr ọng lượng rễ (g) Tr ọng lượng rễ trong Tỷ lệ % so với 1d m3 đất (g) tổng số (cm) 0 - 30 1175,18 4,86 94,10 30 - 6 0 63,26 0,61 5 ,07 60 - 9 0 8,72 0,32 0 ,07 90 - 1 20 0,67 0,17 0 ,05 lớp rễ ăn nổi tr ên mặt đất chết gần hết. Ngược lại các vư ờn c à phê có cây che bóng, tủ gốc vào thời điểm đó các rễ tơ ăn nổi vẫn p hát triển mạ nh. II. Đ ẶC ĐIỂM CỦA THÂN, CÀNH 1. Đ ặc điể m thân c à phê: C ây cà phê thuộc loại cây thân gỗ nhỏ, khi c òn nhỏ ở thời k ỳ đầu trong vư ờn ư ơm thân có góc c ạnh gần vuô ng, màu xanh. Khi cây lớn do sự phát triển của các tế b ào cung tiền tư ợng tầng hoạt động sinh ra nhiề u mạch gỗ và libe thứ cấp là m cho thân cây có hình trụ tr òn. Gỗ cây cà phê màu vàng ngà dòn dễ gãy nên c hịu gió b ão ké m. Thâ n cà phê có nhiề u đốt, mỗ i đốt mang một cặp lá. Tại mỗi nách lá có 2 loại mầm cành: Mầ m c ành cấp 1 đư ợc gọi là cặp cành cơ b ản v ì đây là những cặp c ành tạo nên khung tán của cây. Cành cơ bản còn được gọi là cành quả v ì chỉ có các cặp c ành này mới có khả năng cho hoa quả. Một mầm c ành khác là mầ m của cành vư ợt không có khả năng cho quả, nhưng có thể trở thành một cây c à phê mới. Độ dài lóng đốt của thân mỗ i giố ng, mỗi đoạn trên thân c ũng khác nha u. Chiều cao cây của lo ài cà phê vối cao hơn cà phê chè. Trong s ản xuất thư ờng phải tạo ra độ cao kinh tế để có năng suất cao, d ễ chă m sóc, thu hoạch. Tốc độ sinh trưởng của thâ n ph ụ thuộc vào đ ặc tính của từng giống và phụ thuộc đ iều kiện ngoại cảnh. Thời kỳ nả y mầ m thân mầm phát triển chậm, khi cây đư ợc 2 cặp lá thật thân phát triển nhanh, khi đủ tuổi vư ờn ư ơm là 6- 7 tháng chiều cao cây trên 20c m- 25c m. Đồng thời đã có ít nhất là 5 cặp lá (thường có 6 cặp) và đã có khả năng p hân hoá mầ m cành cấp 1 (c ơ b ản, c ành ngang, cành quả). Ở điều kiện khí hậu tốt sau hai nă m thân có chiều cao từ 90cm- 120cm và cây tăng trư ởng nhanh cho đến năm thứ 4, trong giai đo ạn từ 1- 4 nă m nếu thiếu dinh d ư ỡng thân tăng trư ởng chậm, cành cơ b ản p hát triển chậm khung tán cây phát triển kém. Sức sinh trư ởng của cà phê vối mạ nh hơn cà phê chè. Tuổi thọ của thân cây cà phê biến động lớn bởi điều kiện ngoại cảnh và luôn ngắn hơn tuổ i thọ của bộ rễ. Nhưng nhờ có chồ i vượt thay thế đư ợc thân nên có thể c ưa đốn phục hồi để kéo dài chu k ỳ kinh tế. Ở Việt Nam tuổ i thọ của thân cây cà p hê tuy không dài bằng các vùng nguyên sản, nhưng c ũng đạt tới trên 50 đến 60 nă m. 2. Đ ặc điể m của cành cà phê: Tại mỗi nách lá của thân có 2 lo ại mầ m c ành: Cành 78
  10. nga ng và cành vư ợt. + Cành ngang (cành quả): Hay là cành cơ bản, phát sinh tr ên đ ốt của thân và mỗi nách lá chỉ có duy nhất một mầ m chồi, khi chồ i này bị chết th ì không có mầm k hác thay thế. Cơ cặp c ành đối xứng nhau qua thân, c ặp c ành trên vuông góc với cặp cành dư ới phâ n bố đều trong không gia n. Khi cây đư ợc một nă m đã có kho ảng 6- 12 cặp c ành. Các giố ng cà phê chè thấp cây như Catura, Catuai, Catimor sau một năm thường có từ 10- 12 cặp. Cà phê vối từ 6- 10 c ặp. Trên các đốt của cành tại mỗi nách lá có hai loại mầm: Mầ m của c ành ngang thứ cấp và mầ m hoa. Cà phê chè phát sinh cành thứ cấp nhiều, nếu để mọc tự nhiên có thể tới 7 cấp c ành, trong s ản xuất thư ờng chỉ để tới 3 cấp c ành. Loài cà phê vối phát sinh ít cấp cành, nếu để tự nh iên và trồng ở các v ùng có khí hậu tốt mới phát sinh c ành c ấp 2. Ở Việt Na m các tỉnh Bắc miền Trung - N ghệ An, Thanh Hoá cà phê vối hầ u như không s inh cành cấp 2 khi để phát triển tự nhiên. Do khả năng phát sinh c ành c ấp 2 kém vì vậy sau 2- 3 nă m cho quả C ơ c ành tàn lụi dần làm cho s ố lư ợng cặp c ành cơ bản ít dần từ đoạn dư ới của thân. Nếu không tác động biện pháp tạo hình b ổ sung sớm thúc đẩy sự ra cành quả thứ cấp, tán cây sẽ thu hẹp chỉ còn một số rất ít cặp c ành ở đ oạn thân gần đỉnh và thư ờng gọi là "cà p hê dù". Ở cà phê nă m đầu cây chỉ h ình thành cành lá, năm thứ 2 trên các đo ạn cành nă m trước là cành lá s ẽ hình thà nh hoa quả, đồng thời cũng lạ i h ình thành thêm 1 đ oạn c ành lá mới. Và nă m sau nữa đoạn cành này mới h ình thành hoa quả và lại tiếp hình thành một đoạn cành mới và c ứ như vậy tiếp tới các năm sau. Tuy nhiên ở mỗi lo ài cà phê c ũng có sự khác nhau. Cà phê vối và cà phê mít trên mỗi đoạn c ành ch ỉ ra hoa, quả 1 năm. Những năm sau không ra hoa, quả nữa và như vậy hoa, quả đư ợc hình thành ngà y càng xa gốc, ở những đoạn c ành đ ã ra hoa, quả sẽ hình thành các cành thứ cấp. Cà phê chè sau những nă m ra hoa quả, trên các đoạn c ành đã ra hoa, quả có thể còn ra hoa, quả một số nă m nữa. Các giống như Catura, Portuga l, Catimor ch ỉ ra hoa, q uả tr ên đoạn cành đã r a hoa, quả 3- 4 năm. Nhưng cà phê Mokka và Typica ra hoa , q uả tr ên các đo ạn c ành đã ra hoa, quả nhiề u nă m hơn (có thể 6- 7 nă m ho ặc hơn nữa). N hư vậy số đốt có quả của c à phê Mokka, Typica càng lâ u càng nhiều, từ gốc ra đến ngọ n hầ u như chỗ nào cũng có quả. Trong khi đó do sự ra hoa, quả của các giống Catimor, Catura, Portugal ch ỉ 3- 4 nă m nê n năng suất thấp hơn. Sự phân c ành theo chiều ngang của cà phê phụ thuộc vào khả năng sinh trư ởng. Cà phê mít có tốc độ sinh trư ởng mạnh nhất nên cành phân theo chiều ngang c ũng mạnh nhất và chiế m diện tích đất lớn. Cà phê vối và cà phê chè có tốc độ sinh trư ởng theo chiề u nga ng thấp. Trong đó các giống Catura, Catimor, Portuga l phân cành chiều nga ng mạ nh hơn chiề u cao và lớn hơn so với các giống Mokka,Typica. Giống Mokka,Typica thì lại phân c ành chiều cao mạnh hơn chiều nga ng nên tận dụng ánh 79
  11. sáng tốt hơn và có thể trồng dày. Sự phân c ành theo chiều ngang c òn phụ thuộc vào độ dày c ủa các đốt, c à phê mít có các đốt thưa nhất, c à phê chè ngắn nhất trong đó 2 giố ng Catura, C atimor có đốt d ày hơn 2 giống Mokka,Typ ica. Quy luật ra c ành, ra hoa, quả của các loài và giống liê n quan đến các biện pháp kỹ thuật như xác định mật độ, tỉa cành, thu hái quả. + Cành vượt: Mầm ngủ của c ành vượt chỉ có tr ên các nách lá c ủa thân cây c à p hê và nằ m ở dư ới mầ m ngủ của c ành ngang từ 1- 1,5mm nên cành thư ờng xuất hiện sau cành ngang. S ố lư ợng mầm ngủ tại mỗi đốt thân nhiề u hơn mầ m của cành ngang. Cành vư ợt có hướng phát triển c ùng chiề u thẳng đứng như thân. Vào thời kỳ kinh doanh c ành vư ợt thường p hát sinh nhiều, đặc biệt khi thân cây b ị gãy, hay b ị cưa đốn các chồi vư ợt phát triển nhiều, tốc độ tăng trư ởng nhanh. Vì vậy, nếu cà phê đang ra hoa, là m quả không đánh tỉa chồi vư ợt sớm dinh d ưỡng bị chi phối rất lớn sẽ làm giảm nă ng suất Đặc điể m của cành vư ợt là không có khả năng ra hoa, quả, tuy nhiê n có thể d ùng đoạn cành vư ợt để giâ m cành, dùng ngọn để ghép. Hình 6. 2: Đo ạn thân và cành cà phê A. Đo ạn c ành đ ã cho quả ở những năm trước; B. Đoạn cành đang mang quả. C. Đo ạn cành tơ mới đ ược hình thành 80
  12. III. LÁ VÀ Đ ẶC ĐIỂM CỦA BỘ LÁ CÀ PHÊ Lá cà phê là lo ại lá đ ơn có kíc h thước khá lớn. Chiều rộng lá cà phê chè từ 6- 7cm, chiề u d ài từ 10- 12cm. Lá cà phê vối chiều rộng lá từ 10- 15cm dài từ 20- 30cm. Dạng lá bầu hoặc mũi mác, mép lá gợn sóng nên mặt p hiến lá không phẳng, có nhiều vùng lõm sẽ là vùng tụ lạnh khi có s ương giá. Diện tíc h lá c à phê lớn, có số lư ợng khí k hổng khá lớn từ 240- 260 cái/mm2 ở mặt dư ới phiế n lá, từ 158- 204 cái ở mặt trên p hiế n lá. C à phê có tán lá xanh quanh nă m với tổng diệ n tíc h lá lớn từ 22- 45 m2 , có hệ số che phủ (chỉ số diện tích lá) đạt 4- 6 lần (Franco 1974). Vì vậ y, cây cà phê có sự phát tán nư ớc lớn. Chỉ số bốc hơi c ủa cà phê 2-3 tuổi là 6,29g/d m2 /ngày. Sự phát tán nước c ủa cây 3 tuổi đã là 7.273 lít/cây/năm. Cư ờng độ tho át hơi nư ớc từ 0,4- 1,6 mg/d m2 /h. Đời sống của lá hay gọi cách khác là tuổi thọ của lá có liên quan rất mật thiết đến sức sinh tr ưởng và nă ng suất của cây. Boyer nghiê n cứu lá cà phê có tuổi thọ từ 7- 10 tháng và chia làm 4 gia i đo ạn phát triển: Giai đoạn sin h trư ởng từ 3- 4 tuần, giai đoạn C utin hoá 4- 5 tuần, gia i đoạn sinh tr ư ởng từ 16- 24 tuần, gia i đoạn già cỗi 3- 6 tuần. Một số nghiên cứu khác xác định tuổi thọ của lá cà phê từ 10- 12 tháng. Tại Việt Nam Nguyễn Sĩ Nghị cho thấy cây c à phê chè trong điều kiện v ùng sinh thái thuậ n lợi, chăm sóc tốt tuổi thọ của lá tới 12 tháng. Ở Tây Nguyên (Hoàng Thanh Tiệ m, 1999) th ì đ ời sống của lá từ 8- 12 tháng. Các vùng có gió thổ i mạnh trong mùa k hô thiếu nước, lá c à phê vối rụng nhiều và s ớm trư ớc khi hoa nở, tuổi thọ lá c hỉ c òn 5- 6 tháng. Vì vậy, việc trồng cây che bóng và trồng đai rừng chắn gió là yêu cầu cần thiết k hông thể thiếu nhằ m hạn chế tác hạ i của gió. Là cây có đ ộ che phủ lớn, đặc biệt là những giống c à phê thấp cây, tán khít. So với nhiề u cây trồng quang hợp theo chu trình C3 thì hiệu suất quang hợp của c à phê đạt thấp hơn. Do hiệu suất quang hợp thấp nên đ ể nuôi đ ược 1 quả c à phê phải cần tới 20c m2 lá, trong khi đó diện tích của 1 cặp lá/đốt của cà phê chè khoảng từ 60- 80cm2 , cà p hê vối là 200- 240c m2 , mỗi đốt cành có thể cho từ 12- 20 quả ở cà phê chè và từ 15 - 30 quả/đốt với cà phê vối. Vì vậy, lá của cây dù có đạt hiệ u suất quang hợp cao nhất c ũng không thể nuôi đủ số lư ợng quả lớn tr ên cây nên có hiện tư ợng rụng quả hàng loạt vào giai đoạn quả phát triển nha nh, có trư ờng hợp cây bị kiệt sức, khô cành do sự huy động quá nhiề u chất dinh dư ỡng vào nuô i quả. Đây là hiệ n tư ợng thường xảy ra, đặc b iệt là những vườn cà phê không có cây che bóng và cho năng suất quá tải. Các nghiên cứu về khả năng quang hợp của cây c à phê đã xác định quả c à phê xanh cũng có khả năng quang hợp. Kết quả nghiê n cứu của Cannell (1971) tại Kenya c ho thấy hoạt động quang hợp của quả tích luỹ đư ợc khoảng 30% trọng lư ợng chất khô và đ ã hỗ trợ, b ù đ ắp sự thiế u hụt hợp chất khô tích luỹ đư ợc nhờ quang hợp ở lá khi cây p hát triển quả. Cây cà phê là cây ưa ánh sáng tán xạ vì vậy quá tr ình quang hợp sẽ thực hiện tốt trong điều kiện cây đư ợc che bóng ở mức độ nhất định. Theo nghiên cứu của Alma nn 81
  13. và Dittmer (1968) trên cây cà phê chè cho thấy 1 m2 lá n goài nắng ở nhiệt độ 200 C trong một giâ y chỉ quang hợp đư ợc 7 µmol CO2 , cây che bóng là 14 µmol CO2 . Đối với C ơ lá hoàn toàn không bị che khuất ở ngoài ánh sáng điể m b ão hoà là 500- 600 µE/m2 /s. Trong khi đó Cơ nước nhiệt đới cư ờng độ chiếu sáng vào buổi trưa những ngà y có nắng thư ờng đạt tới 2.500 µE/m2 /s lớn gấp 5 lần so với điểm bão hoà c ủa lá cà p hê ở ngo ài ánh sáng. Vì vậy, những nghiê n cứu của Nutman (1937), Yama guc h và Frie nd (1979), Kumar và Tressen (1980) cho thấy hoạt động quang hợp của lá c à phê mạnh nhất vào lúc 7- 10h sáng và từ 3 - 6 h chiều trong ngà y, vào buổi trưa th ì là hầu như ngừng quang hợp. Cư ờng độ ánh sáng mạnh ở những lá không đư ợc che bóng k hông những là m cho lá không thực hiện đư ợc chức năng quang hợp mà còn làm tổn thương đ ến hệ thống diệp lục của lá, đặc biệt là hệ thống tiếp nhận ánh sáng II (Photosystem). Những kết quả này nhằm minh chứng cho việc phải sử dụng cây che bóng cho các vườn cà phê. Việc sử dụng cây che bóng hay không sử dụng cây che bóng c òn có ý kiến trái ngư ợc nha u, song trong thực tế cho thấy rằng việc có sử dụng cây che bóng hay không, trước hết căn cứ vào điều kiện khí hậu cụ thể của từng vùng sinh thái, từng giống cà p hê c ũng như các biện pháp kỹ thuật khác như chế độ phân bón, mật độ trồng v.v. - Các nhân t ố ảnh hư ởng tới bộ lá c à phê + Ánh sáng: Qua các nghiên cứu ở phần trên thì để cho bộ lá hoạt động quang hợp tốt, ta phải có chế độ điều chỉnh ánh sáng để có c ư ờng độ ánh sáng thíc h hợp cho cây cà phê nhằ m đảm bảo năng suất cao và ổ n định lâu dài trong suốt chu k ỳ kinh tế, đồng thời kéo dài chu k ỳ kinh tế. Vì vậy, các biện pháp kỹ thuật như đ ịnh ra mật độ trồng thích hợp cho từng giống, trồng cây che bóng và đai rừng chắn gió và đánh tỉa c hồi, tỉa c ành s ẽ ảnh hư ởng trực tiếp điều chỉnh thích hợp chế độ chiếu sá ng. + N hiệ t độ: Quá trình quang hợp nhiệt độ thích hợp là 20- 25O C, nếu tr ên 250 C hoạt động sẽ giảm dần và ngừng quang hợp ở nhiệt độ 350 C. Khi nhiệt độ cao sẽ kéo theo sự thiếu hụt nước trong cây do khí khổng đóng lạ i, là m giả m khả năng trao đổi k hông khí môi trư ờng b ên ngoà i, là m tăng hà m lư ợng khí CO2 trong tế bào là m ứ c chế hoạt động quang hợp. Nhiệt độ tăng cao sẽ là m cho các hệ thống tiếp nhận ánh sáng c ủa diệp lục bị phá huỷ và s ẽ gây ra những vết chá y trên lá cà phê. Để giả m bớt sự tăng nhiệt độ trong vư ờn c à phê thì các biện pháp tưới nư ớc, tủ gốc có vị trí hết sức quan trọng. I V. HOA VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOA CÀ PHÊ - Cấu tạo của hoa: C à phê là lo ại hoa lư ỡng tính, hoa mọc thành xim tại nách lá c ủa các c ành nga ng. Mỗi xim có từ 2-4 c ụm, mỗi cụm có từ 2- 5 hoa tạo thành vòng trên một mắt đốt. Hoa có cuống ngắn, tr ên cuống đính một bầu hoa (thuộc loại bầu hạ) có ha i ngăn, có một nhụy gồm ống và núm nhụy. Nhị gồ m 5 cái có bao phấn và hạt 82
  14. p hấn, nằ m sát 5 cánh hoa. Cánh hoa (tràng) phần d ư ới hợp thành ống nằ m tr ong lá đài, p hần trên phân thành 5 cánh. Hoa có hương thơm d ịu. - S ự phát triể n v à nở hoa : Mỗi giống cà phê khác nhau có thời gia n ra hoa sớm muộ n khác nha u. Các giống c à phê chè (Coffea arabica) thuộc giống thấp cây như Catura, Catuai, sau 24 tháng trồng sẽ nở hoa quả lần đầu (quả bói). Giố ng Catimor nếu chă m sóc tốt sẽ ra hoa sớm hơn, chỉ sau 18 tháng trồng. Các giống c à phê chè như Bourbon, Mundonoro, Typ ica v.v... ra hoa muộn hơn, sau khi trồng từ tr ên 24 tháng đ ến 30 tháng. Các giống cà phê vối sau k hi tr ồng từ 30 tháng tới 36 tháng mới bắt đầu ra hoa. Trên vư ờn cà phê sau khi đ ã ra hoa lần đầu th ì mỗ i nă m chỉ có một mùa nở hoa. Sự ra hoa rải rác nhiều lần là rất cá biệt chỉ có ở một vài vùng trên thế giới như tại một vùng ở Côtđivoa hoa c à phê nở quanh năm. Thường cứ sau vụ thu hoạch quả th ì cây cà p hê lại b ư ớc vào giai đoạn phân hoá mầ m hoa. Thời kỳ này kéo dài từ 1- 2 tháng, lúc này nụ hoa còn r ất nhỏ chiề u d ài chỉ khoảng 3-6 mm, phía đ ầu được bảo vệ bằng một lớp màng mỏng màu nâu, trông giố ng như mỏ c him sẻ non nê n đư ợc gọi là giai đo ạn "mỏ sẻ". Trong giai đoạn "mỏ sẻ" mầ m hoa gần như ngừng phát triển nên có thể coi đây là thời kỳ ngủ nghỉ của nụ hoa, các bộ phận của hoa chưa phát triển đầy đủ. Nhiều tác giả cho rằng sự ngủ nghỉ tạm thời của nụ hoa là d o s ự thay đổi trạng thái, nồng độ c ủa axit Absisic trong cây tăng cao do sự khủng hoảng thiế u nư ớc kéo d ài trong k ho ảng thời gian từ 2- 3 tháng. Như vậy, sự biến động các yếu tố nội sinh thời kỳ này đương nhiên là có sự tác động sâu sắc của các yếu tố ngo ại sinh. Trong thực tế thời gian khô hạn thích hợp nhất cho quá tr ình phát triển nụ hoa của cà phê là 2- 3 tháng, thời gian phâ n hoá mầ m hoa thích hợp trong điều kiện khô hạn. Khi sự khủng hoảng thiế u nư ớc xuất hiện sẽ là m cho hà m lư ợng axit Absisic trong nụ hoa và c ủa rễ cây giảm làm cho khả năng dẫn nước tăng lê n trong k ỳ khô hạn. Đồng thời hà m lư ợng axit Gibberelic tăng lê n lúc này n ụ hoa dần trở lạ i trạng thái hoạt động. Có thể nói sự thay đổi trong hoạt động sinh lý lúc cà phê nở hoa chịu sự tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh, nhưng yếu tố ảnh hư ởng có tính tiên quyết để thay đổi trạng thái ngủ nghỉ tạm thời của nụ hoa là yếu tố nư ớc. Một lượng mưa không lớn, thư ờng chỉ 3- 10 mm đ ã đủ để cho chồi hoa tái tăng trư ởng. Lư ợng mưa này được gọi là "ngư ỡng mưa nở hoa". K hi có đ ủ ngư ỡng mưa hà m lư ợng axit Gibberelic tăng gấp 2 lần trong thời gian rất ngắ n tạo b ước đột phá loại bỏ sự kìm hã m của axit Absisic, nụ hoa tăng nhanh về kích thước về chất lượng bư ớc vào gia i đo ạn hoa nở. Để hoa cà phê nở đư ợc b ình thư ờng thì tại thời điểm này c ần phải có một lư ợng nước do mưa hay tưới là 25- 30 mm đ ể không chỉ cung cấp đủ nước cho cây mà quan trọng hơn là đã tạo một ẩm độ không khí v ùng tán cây thích hợp cho sự nở hoa, ẩm độ thíc h hợp đó là 94- 97%. Trong điều kiện có lư ợng mưa lớn hơn, ho ặc lư ợng nư ớc tưới 83
  15. nhiề u hơn lượng 25- 30 mm thì c ũng không là m tăng số lượng hoa nở mà ch ỉ có ý nghĩa c ung cấp nước đủ để tăng ẩ m độ đất thíc h hợp cho bộ rễ phát triển. Vì vậ y, ta nên vận d ụng quy luật này vào việc tưới nước cho cà phê. Sau k hi tiếp nhậ n đư ợc lư ợng nước trên trong kho ảng 6-12 ngày hà m lư ợng Cytokinin tăng nha nh gấp 3- 4 lần hà m lư ợng c hất này ở thời kỳ phân hóa mầ m hoa và phát triển, khoảng cách về thời gia n từ tiếp nhậ n nư ớc đến lúc hoa nở trong điều kiệ n vùng sinh thá i c ủa Việt Na m chỉ khoảng 6- 7 ngà y. Ở Tây Nguyên c ũng như nhiề u vùng khác, cứ sau một lần tư ới đủ nư ớc, hoặc mưa đ ủ nư ớc là s ẽ có một đợt hoa nở. Một mùa hoa nở ngư ời dân phải tư ới ít nhất là 3 lần để có 3 đợt hoa rộ. - Quy luật ra hoa, kế t quả: Trong phần tr ình b ày về quy luật phân cành, chúng tôi đ ã trình bày một phần quy luật ra hoa, quả của các giống, các lo ài. Các giống, các loài hầu hết đều ra hoa vào tháng 2, tuy nhiên thời gian ra hoa không thật nghiêm ngặt với thời gian. Có nghĩa là điều kiện ánh sáng, nhiệt độ nói riêng và các yếu tố thời tiết nói chung không hoàn toàn có ý ngh ĩa quyết định để hình thành các tổ hợp các chất k ích thích và điều hoà sinh trư ởng. Nếu trong nă m trư ớc thu hoạch muộ n lạ i thì năm sau c ũng ra hoa muộn lại, trái lạ i thu sớm thì năm s au c ũng ra hoa sớm hơn. Bản chất c ũng như biện pháp ngắt lá, tức là biện pháp kích thích các mầ m ngủ hình thành cành mơí. Cà phê thuộc loài cây sinh trư ởng tốt thì phát dục tốt, sự sinh tr ưởng và phát d ục luôn luôn có mối tương tác thuậ n với lư ợng phân bón và tưới nước. Trong sản xuất thường có hiện tư ợng cách niên ho ặc khô cành khô quả là do ra hoa, quả quá nhiều k hông đ ủ dinh dư ỡng để nuô i. - Quy luật nở hoa v à thụ phấn: K hi kích thước búp hoa đã đ ạt tối đa về kích thước cũng là lúc hạt phấn, bao phấn tách ra và tung phấn, đồng thời nhụy vươn dài tiếp nhận hạt phấn, cánh hoa xo è hoàn toàn. Thời gia n từ khi là một búp hoa đến lúc hoa nở ho àn toàn kéo dài 4- 5h và thư ờng vào lúc sáng r ất sớm. Quá trình thụ phấn phụ thuộc nhiều vào ẩ m độ không khí và nhiệt đ ộ, trong điề u k iện thời tiết b ình thư ờng hạt phấn có thể duy trì đ ư ợc sức nảy mầm trong thời gian từ 24- 36 giờ. Nhiệt độ cao, ẩm độ không khí thấp đầu nhụy khô, hạt phấn khó hoặc không nảy mầm. Hạt phấn nếu đư ợc bảo quản trong điều kiện chân không ở nhiệt đ ộ - 18OC thì kéo dài s ức nảy mầ m tới 3 năm hoặc lâu hơn nữa (Walyaro và Van der Vossen, 1977). Riê ng đ ầu nhụy (núm nhụy) có khả năng tiếp nhận hạt phấn trong thời gian dài hơn, kho ảng 18 giờ kể từ khi hoa nở với hạt phấn trong điều kiện thuận lợi th ì chỉ sau 1-2 giờ kể từ khi tung phấn và tiếp cận đư ợc với nhụy. Thời gian để hạt phấn nảy mầm và tiếp cận đ ư ợc với no ãn bào tử là 2- 3 ngà y lúc đó mới có quá tr ình thụ tinh. Trong ha i loài cà phê thì cà phê chè là cây tự thụ phấn nên sự mẫm cả m với yếu tố ngoại c ảnh ít hơn so với cà phê vối. Ngo ài hai yếu tố trên thì s ố lư ợng hoa quá ít, sự thiế u vắng của côn trùng c ũng hạ n chế đến sự thụ phấn. 84
  16. Một số trường hợp khác như mưa rào lớn hoặc mưa dầm hay nhiệt độ đột ngột xuố ng thấp cũng dẫn đến sự nở hoa và th ụ phấn ké m. - Sự phâ n bố hoa trê n cành ngang c ủa cây: Hoa chỉ ra tr ên các đo ạn c ành tơ đ ã hoá gỗ, các đốt đã ra hoa nă m trước rất ít thấy ra lại trên các đ ốt đã mang quả năm trước. Các giống cà phê chè và cà phê vối hầu hết là nở hoa trên các cành tơ hình thà nh từ nă m trư ớc. Sự phân bố hoa như vậy ta có thể nhận biết tuổi của các đoạn c ành trên một c ành ngang: Đo ạn cành sát gần thân đã ra hoa và cho quả năm tr ước đã b ị trụi lá. Đo ạn cành đang mang hoa, quả là các đ ốt c ành hình thành trong nă m trư ớc, tr ên một số đố t còn tồn tại một vài đôi lá, nếu còn một và i đôi lá khi quả đã lớn chứng tỏ cây sinh trưởng phát triển khá tốt, đủ dinh dư ỡng. Đo ạn c ành phía ngoài đốt ma ng quả chính là đo ạn c ành mới h ình thành trong năm, các đốt chỉ có cặp lá, chúng sẽ có khả năng cho q uả vào nă m sau. - Quá trình thụ tinh v à phát triể n quả và hạt: Sự thụ tinh để hình thành nên q uả và hạt diễn ra trong thời gian khá dài tuỳ theo từng loài, giống khác nhau. Kết quả nghiên c ứu về di truyền của Reffye (1975) thì ha i bầu no ãn tuy trong cùng một bầu noãn mang những thông tin di truyề n ho àn toàn độc lập, nên sự thụ tinh trong chúng c ũng diễn ra khác biệt và độc lập. Tuy nhiên sự tác động của yếu tố ngoạ i cảnh thì c húng vẫn chịu ảnh hư ởng như nhau. Các giống c à phê chè do tự thụ phấn nên tỷ lệ thụ tinh cao hơn cà phê vối, có thể đạt từ 90- 95%, ở cà phê vối chỉ đạt từ 60- 70%. Đặc biệt với các cây lai khác lo ài giữa c à phê chè với cà phê vối tứ bội (con la i đư ợc gọ i là Arabusta) thì tỷ lệ này ch ỉ đạt từ 40- 45% (Reffye 1975: Tr ịnh Đức Minh & Bùi Thị Minh Nguyệt 1990, Ho àng Tha nh Tiệ m 1996). Khi thụ phấn thụ tinh thường xảy ra các trường hợp sau: Cả hai ngăn của bầu hoa đư ợc thụ tinh đầy đủ sẽ cho quả có 2 hạt. Chỉ có 1 ngă n của bầu hoa đ ược thụ tinh sẽ cho quả có 1 hạt và một vảy (vảy này c hính là khoang hạt không đư ợc thụ tinh dần bị teo đi tạo thành vảy). Cả hai ngăn của bầu hoa không đư ợc thụ tinh và đều bị teo đi thành ha i vảy, sau một thời gian quả không phát triển và rụng. Có trường hợp tuy không đư ợc thụ tinh nhưng khoang hạt vẫn phát triển mà k hông có hạt, trong xuất khẩu người ta gọ i đó là hạt phao và bị loại bỏ V. QUẢ VÀ HẠT - Quá trình phát triể n quả và hạt c à phê : C ó thể chia thành 4 gia i đoạn sau + Giai đoạn “đầu đinh”: Đây là thời kỳ đầu của sự phát triển quả, đư ợc tính từ sau thụ phấn 2- 3 ngày khi quả bắt đầu “treo chuông” và kéo dìa kho ảng 1-2 tháng đối với c à phê chè và 3- 4 tháng đ ối với c à phê vối. Thời kỳ này kích thư ớc quả còn rất nhỏ 85
  17. ( trung bình kho ảng 2mm), hình d ạng như đầu của một chiếc đinh nên đư ợc gọ i là giai đoạn “đầu đinh”. + Giai đo ạn quả tăng nhanh về thể tích: Từ tháng thứ 3- 5 k ể từ khi hoa nở, q uả tăng tr ưởng rất nhanh về thể tích cũng như tr ọng lư ợng chất khô, hai khoang d ùng để chứa hạt sau này chúng phát triển thể tích bằng 75- 80% so với kíc h thư ớc tối đa và hoá gỗ. Sự phát triển 2 khoang hạt này phụ thuộc chủ yếu vào tình tr ạng nước của cây. Nếu thiếu nư ớc sẽ làm cho hạt cà phê sau này nhỏ. Vì vậy, đây là thời kỳ không nên để vườn cà phê thiếu nước. Thực tế cho thấy cây c à phê chè tr ồng ở Tây Nguyên và các tỉnh phía N am, tr ừ vùng Đà Lạt, huyện M'Drak - tỉnh Đăk Lăk, huyệ n Sơn Thành, Sơn Hội tỉnh Phú Yên v.v... gia i đo ạn này trùng vào tháng 3- 4 là những tháng khô hạn nhất trong năm nên là m cho hạt c à phê ở c ác vùng này rất nhỏ. Đối với c à phê vối trồng tại một số vùng thuộc huyện M'Drak, Eakar tỉnh Đăk Lăk vào gia i đo ạn tăng nhanh về thể tích tr ùng vào tháng 6- 7 thư ờng hay gặp hạn nên hạt cũng nhỏ hơn so với các vùng khác. Giai đoạn này quả có hiện tư ợng rụng hàng lo ạt chủ yếu do thiếu dinh d ư ỡng đồng thời do tăng về thể tích nê n có sự chèn ép giữa các quả cũng là m quả rụng. + Giai đo ạn tích luỹ chất khô và hình thành hạt: Sau khi n ở hoa từ 6- 8 tháng tức là sau gia i đo ạn tăng thể tíc h khoảng 3 tháng, hai khoang hạt từ chỗ chứa đầy nước có hà m lư ợng các chất dinh dư ỡng ở dạng dung dịch, chúng như những bồn chứa để c hất khô đ ược tích luỹ dần tạo thành hạt. Các hợp chất hữu c ơ trong hạt ngày một tăng dần, trong đó có hà m lượng axit Gibberelic nội sinh tăng cao, đồng thời trọng lư ợng hạt tăng lên nhanh chóng, kích thước quả hầu như không tăng. Trong hạt nộ i nhũ dần hình thành. Giai đo ạn này nếu thiếu dinh dư ỡng đặc biệt là những cây cho năng suất q uá cao s ẽ dẫn tới tình tr ạng cây bị kiệt sức, khô cành, tỷ lệ lép tăng cao. Quá tr ình tích lu ỹ các chất dinh dưỡng trong hạt thuận lợi khi biên độ nhiệt giữa ngày và đê m cao 9- 120 , đặc biệt là sự tạo thành các hợp chất thơm, nên đ ộ cao của vùng tr ồng c à phê có liên quan đ ến chất lượng cũng như s ố lượng hạt cà phê. + Giai đo ạn quả chín: G iai đoạn này quả, hạt đã phát triển đầy đủ. Diệp lục trong vỏ quả bị phân huỷ dần vỏ từ xanh lục chuyể n sang lục nhạt đến vàng nhạt c huyển sang đỏ hoặc vàng đậm nếu là giố ng quả vàng là nhờ sự biế n động của hàm lượng Etylen ở lớp vỏ quả tăng dần. Muố n quả chín tập trung để giả m công thu hoạch ngư ời ta sử dụng Ethephon nồng độ 250- 500pp m phun vào lúc quả bắt đầu chín. - Cấu tạo của quả v à hạt cà phê : Q uả cà phê có c ấu tạo như sau: Lớp vỏ quả là lớp tế bào ngo ại b ì, lớp vỏ rất mỏng có chứa một số ít khí khổng (30-60 cái/mm2 ) và chứa sắc tố khi chín sẽ c ho màu sắc của quả. Tiếp đó là lớp thịt quả gồ m lớp tế bào chứa nhiều nư ớc và một số hợp chất hữu c ơ khác, đặc biệt có hà m lư ợng đ ường khá nên có vị ngọt rất r õ. Lớp thịt quả d ày mỏng tuỳ thuộc vào giố ng, thịt quả c à phê chè mề m hơn cà phê vối. Bên trong lớp thịt 86
  18. q uả và hầu như không có phần tách biệt là một lớp nhớt (nhầy) bá m khá chắc vào phần vỏ ngoài c ủa hạt. Lớp nhớt này thường phải chà xát rất mạnh, hoặc ủ cho lên men mới lo ại hết đư ợc. Vì vậy, trong công nghệ chế biến phả i xử lý loại nhớt, nếu không lo ại hết được thì phơi sấy rất lâu khô và khi đã khô trên vỏ ngo à i c ủa hạt sẽ dể hút ẩm làm ả nh hưởng đến phẩ m chất c à phê khi bảo quản. Lớp vỏ ngoài của hạt hay c òn đư ợc gọi là lớp vỏ trấu, đây là lớp tế b ào vách cứng c hứa nhiề u Xenlulô tạo nên chất xơ là m cho vỏ ngoài c ủa hạt cứng chắc có khả năng bảo vệ cho phần chủ yếu của hạt là nội nhũ và phôi mầ m. Lớp vỏ trong của hạt đư ợc gọi là lớp vỏ lụa v ì chúng r ất mỏng và bá m rất chắc vào nội nhũ. Nội nhũ gồm hai lớp tế bào hình thành nên 2 lá mầ m đó là phần chính của hạt. Lớp ngo ài gồ m C ơ tế b ào nhỏ, tạo một lớp cứng chắc hơn lớp tế bào phía trong, lớp tế bào trong mề m đư ợc gọi là mô dinh dưỡng sát với phôi mầ m. Phôi mầ m: Gồm có phô i rễ hình nón, đó chính là phần đầu của chóp rễ. Phần trục thân còn r ất nhỏ và đã có mầ m mống của cặp lá đầu tiê n còn nhỏ đ ược cuộn lại. - Các nhân t ố ảnh hư ởng đến quá trình ra hoa làm quả: + Chế độ nư ớc: Để cà phê ra hoa tập trung và nhiề u hoa nhất thiết vùng trồng cà p hê phải có một mùa khô ngắn từ 2- 3 tháng. Khi tư ới nước cần b ảo đảm ẩm độ đất từ 75- 80% ở độ sâu (0- 60cm), ẩ m độ không khí 94- 97%, thời kỳ ra hoa biện pháp tưới p hun rất có hiệu quả. Khi quả đang phát triển cần ẩm độ đất 70- 75%, ẩ m độ không khí 80- 85%, khi quả c hín ẩ m độ đất khoảng 65%, ẩm độ không khí 65- 70%. + N hiệ t độ: T hích hợp cho mỗi giố ng c à phê khác nhau, biến động từ 19- 26OC + D inh dưỡng: C ần bón thoả mãn nhu c ầu N, K bón đúng thời điể m, kết hợp với các khâu k ỹ thuật khác như đánh tỉa chồi, tủ gốc, phòng tr ừ sâu bệnh, đặc biệt là b ệnh gỉ sắt để giữ cho bộ tán lá xanh b ền. Bài 7. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TR ƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY CÀ PHÊ. I. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TR ƯỞNG PHÁT TRIỂN 1. Giai đo ạn sinh trư ởng: Giai đoạn này đư ợc tính từ khi hạt nảy mầm đến trước khi cây có hoa ( thời kỳ KTCB). + Thời kỳ vư ờn ư ơm: Sự nảy mầm của hạt và thời kỳ cây trong vư ờn ư ơm: Sau khi gieo hạt khoảng 2- 3 tuần rễ sẽ xuất hiện, tiếp theo khoảng 20- 25 ngày trục thân vươn thẳng đẩy 2 lá mầm còn 87
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2