intTypePromotion=4

Chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2017

Chia sẻ: ViAnkanra2711 ViAnkanra2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
7
lượt xem
1
download

Chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2017

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) đã trở thành một phần chính yếu trong việc cung cấp chăm sóc chất lượng cao cho bệnh nhân nặng mắc bệnh ác tính hay không ác tính. Thành lập vào tháng tám năm 2012 tại bệnh viện Phạm Ngoc Thạch (PNT) với đơn vị nội trú và phòng khám ngoại trú, đơn vị CSGN đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong việc điều trị các bệnh lý phổi không lây nặng giai đoạn cuối. Nghiên cứu này tổng kết và phân tích các trường hợp nhập CSGN tại đơn vị từ năm 2012 đến năm 2017.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2017

  1. ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2017 PHAN VƯƠNG KHẮC THÁI1, NGUYỄN THỊ HỒNG THƠM2 VÀ CỘNG SỰ TÓM TẮT Mục tiêu: Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) đã trở thành một phần chính yếu trong việc cung cấp chăm sóc chất lượng cao cho bệnh nhân nặng mắc bệnh ác tính hay không ác tính. Thành lập vào tháng tám năm 2012 tại bệnh viện Phạm Ngoc Thạch (PNT) với đơn vị nội trú và phòng khám ngoại trú, đơn vị CSGN đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong việc điều trị các bệnh lý phổi không lây nặng giai đoạn cuối. Nghiên cứu này tổng kết và phân tích các trường hợp nhập CSGN tại đơn vị từ năm 2012 đến năm 2017. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu và quan sát. Tất cả các bệnh nhân nhập đơn vị CSGN từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2017 được đưa vào nghiên cứu. Các yếu tố nhân chủng học như tuổi, giới, địa chỉ, nghề nghiệp và các yếu tố khác như thời gian nằm viện, triệu chứng lâm sàng, phân loại bệnh và liều lượng thuốc morphine sử dụng cũng được phân tích. Theo dõi bệnh nhân tại phòng khám sau xuất viện cũng được trình bày trong nghiên cứu này. Kết quả: Trong thời gian 5 năm từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2017, có tất cả 500 ca nhập đơn vị CSGN. Tuổi trung bình 60,22 +/- 14,20 (thay đổi từ 16-97). Tỷ lệ nam: nữ là 2,28. Bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ 52,4%. Về nghề nghiệp, người già về hưu chiếm 44%.Thời gian nằm viện trung bình là 14 ngày. Bệnh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ đông nhất 49,6%. Về chẩn đoán bệnh, 87% bệnh nhân là ung thư. Các triệu chứng lâm sàng (trong 2 năm 2016 và 2017) thường gặp là ho (65% và 75%), đau ngực (66% và 55%) và khó thở (57% và 56%). Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng morphine trong hai năm 2016-2017 lần lượt là 61% và 66% trong đó số viên morphine sử dụng cao nhất là 6 viên. Số bệnh nhân sau xuất viện theo dõi tại phòng khám chiếm tỷ lệ 12% với số lần đến khám trung bình là 5, cao nhất là 30 lần. Kết luận: Qua 5 năm hoạt động, đơn vị CSGN đã điều trị cho 500 bệnh nhân bệnh phổi không lây nặng giai đoạn cuối. Mặc dù còn nhiều hạn chế, giảm nhẹ triệu chứng và cố gắng cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân một phần nào là mục tiêu chính của đơn vị. Chăm sóc giảm nhẹ vẫn luôn là cần thiết cho bệnh nhân. Duy trì, lồng ghép và phát triển bền vững là mục tiêu trong tương lai của CSGN tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. ABSTRACT Palliative Care at Pham Ngoc Thach Hospital, Ho Chi Minh City from 2012 to 2017 Aim: Palliative Care (PC) has become a crucial component of providing high-quality care to critically ill patients with malignant or non-malignant diseases. Officially opened in August 2012 at Pham Ngoc Thach Hospital (PNTH) with in-patient unit and out-patient clinic, our PC unit marked a significant milestone in treatment of end-stage serious non-communicable lung diseases. This study summarizes and analyzes all cases admitted into the PC unit from 2012 to 2017. Method: Retrospective and descriptive study. All patients admitted into the PC unit from 8/2012 to 8/2017 were enrolled into the study. The demographic factors like age, sex, address, occupation, and other factors such as length of hospital stay, clinical symptoms, classification of the diseases and the doses of morphine 1 TS.BS. Trưởng Khoa - Bệnh viện Lao và Phổi Phạm Ngọc Thạch.TP.HCM 2 CNĐD - Bệnh viện Lao và Phổi Phạm Ngọc Thạch.TP.HCM TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 369
  2. ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ were analyzed. Follow-up patients at out-patient clinic after discharge were also presented in this study. Result: In the 5-year period from 8/2012 to 8/2017, there were a total of 500 cases admitted to the PC unit. The mean age was 60.22 +/- 14.20 (range from 16-97). Male -female ratio was 2.28. The percentage of patients over 60 years old was 52.4%. For occupation, the retired elderly accounted for 44% of cases. The mean length of hospital stay was 14 days, with the patients from Ho Chi Minh City (HCMC) accounting for the highest proportion, at 49.6% of all cases. In terms of diagnosis, 87% of patients were diagnosed with cancer. The common clinical symptoms (in the years 2016 and 2017) were cough (65% and 75%), chest pain (66% and 55%) and dyspnea (57% and 56%). The rate of morphineuse in 2016 and 2017 were 61% and 66%, respectively with the highest dose at 6 tablets. The follow-up patient percentage at out-patient clinic after discharge was 12% with the mean follow-up number of 5, and a maximum of 30 times. Conclusion: After 5 years in operation, our PC unit has served 500 patients with end- stage serious non- communicable lung diseases. In spite of many limitations, the unit continues to strive to alleviate the patients ‘symptoms and improve their quality of life somehow. PC is always necessary for patients. Maintainability, integration and sustainable development are the goals of PC at PNTH in the future. MỞ ĐẦU triệu chứng, ít triệu chứng trầm cảm, chăm sóc cuối đời ít nặng nề hơn và ngay cả cải thiện sống còn khi Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là một chuyên áp dụng chăm sóc giảm nhẹ sớm. Vì những lý do ngành đa nhóm (bao gồm nội khoa, điều dưỡng, này, nhiều tổ chức đã nhận thấy chăm sóc giảm nhẹ nhóm công tác xã hội, tôn giáo và các chuyên khoa như là một thành phần chính yếu trong chăm sóc khác khi cần thiết) chú trọng vào việc cải thiện cuộc ung thư phổi, và chăm sóc giảm nhẹ sớm được sống của bệnh nhân mắc phải bệnh nặng cũng như khuyến cáo cho bệnh nhân với bệnh di căn hay các quan tâm đến gia đình của họ. Bằng việc điều trị triệu chứng dai dẳng. Hiểu sai về chăm sóc giảm giảm đau, các triệu chứng khác, các vấn đề về tâm nhẹ thường đưa đến chuyển bệnh nhân đến chăm lý và tâm linh, việc dùng kỹ năng thông tin mới để sóc giảm nhẹ trễ. Không may, việc áp dụng chăm thiết lập mục tiêu điều trị và giúp gắn kết việc điều trị sóc giảm nhẹ vừa ít vừa trễ thường gần đến giai với mục tiêu của từng cá nhân riêng biệt. Về lý đoạn cuối của bệnh, làm tăng nguy cơ đau khổ cho tưởng, chăm sóc giảm nhẹ bắt đầu từ khi chẩn đoán bệnh nhân và cả người nhà của họ[3]. bệnh và kết hợp đồng thời với việc điều trị bệnh[1]. Ở Anh Quốc, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là bệnh viện hạng phục vụ chủ yếu cho các bệnh nhân ung thư qua các 1 trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh nhóm nâng đỡ và nhà tế bần (hospice) đã phát triển viện không chỉ khám, phát hiện và điều trị cho bệnh nhanh trong 30 năm qua. Những đơn vị chăm sóc nhân lao mà còn cho bệnh nhân bệnh phổi với 4 giảm nhẹ này đã chứng minh được tính hiệu quả, khoa phổi và 1 khoa ung thư. Các bệnh nhân thuộc chấp nhận được. Tuy nhiên đa số bệnh nhân tử các thể bệnh phổi như là ung thư phổi, bệnh phổi tắc vong không nhận được những dịch vụ này mà nhận nghẽn mãn tính, dãn phế quản, bệnh phổi mô kẽ, xơ được những dịch vụ chăm sóc từ bệnh viện, nhà an phổi, bệnh phổi nghề nghiệp, di chứng lao đường hô dưỡng (nursing home) và cộng đồng. Số bệnh nhân hấp. Nhiều bệnh nhân khi nhập viện đã ở giai đoạn tăng nhiều khả năng tử vong từ HIV/AIDS và số muộn khi mà điều trị đặc hiệu bệnh không còn hiệu người già tăng lên gần đây làm cho việc lồng ghép quả. Vì vậy nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho các chăm sóc giảm nhẹ vào bệnh viện, cộng đồng và bệnh lý phổi là cần thiết. Từ năm 2011, được sự các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu trở nên giúp đỡ về chuyên môn kỹ thuật và tài chính của các quan trọng. Chăm sóc giảm nhẹ trở thành một phần tổ chức quốc tế và bệnh viện Ung Bướu thành phố từ giai đoạn chẩn đoán đến giai đoạn tử vong hơn là Hồ Chí Minh, bệnh viện đã cử các bác sĩ và điều chỉ chú ý trong giai đoạn cuối cùng của bệnh[2]. dưỡng tham gia các lớp tập huấn ngắn và dài hạn về chăm sóc giảm nhẹ trong cũng như ngoài nước. Bệnh nhân ung thư phổi là những bệnh nhân có Vào ngày 26 tháng 7 năm 2012, đơn vị chăm sóc nguy cơ cao chịu nhiều đau khổ (suffering) do các giảm nhẹ được thành lập tại bệnh viện với 6 giường, triệu chứng nặng và dai dẳng, các rối loạn hô hấp đi 3 bác sĩ và 2 điều dưỡng kiêm nhiệm phụ trách. kèm, tiến triển bệnh thường xuyên, và việc điều trị Khoa nhận chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân với có thể làm nặng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc các bệnh phổi không lây như ung thư phổi, bệnh sống. Chăm sóc giảm nhẹ cho thấy có nhiều ích lợi phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh phổi mô kẽ, bệnh cho bệnh nhân ung thư như là chất lượng cuộc sống phổi nghề nghiệp, bệnh di chứng đường hô hấp do tốt hơn, sự thỏa mãn ở bệnh nhân và gia đình tốt lao và một số bệnh phổi khác. Qua 5 năm hoạt động hơn, sự hiểu biết bệnh được cải thiện, ít gánh nặng (từ 2012-2017), đơn vị chăm sóc giảm nhẹ đã điều 370 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  3. ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ trị và chăm sóc cho các bệnh nhân bệnh phổi nặng Nghề nghiệp giai đoạn cuối, góp phần giảm một phần nào nỗi đau Các bệnh nhân được chia làm 6 nhóm nghề khổ cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. nghiệp và ghi nhận như sau: già 221 bệnh nhân Vì vậy, chúng tôi sẽ tổng kết các kết quả thu (tỷ lệ 44%), nội trợ 47 (9%), lao động chân tay 49 được sau thời gian 5 năm hoạt động tại đơn vị chăm (10%), lao động trí óc 24 (5%), sinh viên học sinh 10 sóc giảm nhẹ bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. (2%) và nghề nghiệp tự do 149 (30%). PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thời gian nằm viện trung bình Tất cả các bệnh nhân nhập đơn vị chăm sóc Thời gian nằm viện trung bình là 13,81 ngày với giảm nhẹ từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2017 được ngắn nhất là 1 ngày và lâu nhất là 83 ngày. ghi nhận vào sổ nhận bệnh chăm sóc giảm nhẹ. Các Phân bố địa lý bệnh nhân CSGN bệnh nhân sẽ được ghi nhận về giới, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, thời gian nằm viện. Từ năm 2016- Có 30 địa phương và Campuchia có bệnh nhân 2017, các triệu chứng lâm sàng cũng như số lượng nằm tại BV PNT trong thời gian 5 năm từ 2012-2017. thuốc Morphine sử dụng cũng sẽ được ghi nhận Thành phố Hồ Chí Minh có số bệnh nhân đông nhất thêm. Bệnh nhân sau khi xuất viện sẽ được quản lý 248 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 49,6%. tại phòng khám vào chiều thứ năm và thứ sáu từ 14 Chẩn đoán bệnh giờ đến 16 giờ tại phòng 133 (lồng ghép chung với phòng khám dịch vụ). Người nhà (trong trường hợp Trong thời gian 5 năm từ 2012-2017, đa số bệnh nhân quá yếu không đến tái khám được) hay bệnh nhân là ung thư (phổi, màng phổi, nơi khác) bệnh nhân đến tái khám theo lịch hẹn và được cấp với 435 ca chiếm tỷ lệ 87%. thuốc morphine theo dõi (7-10 ngày). Các dữ liệu về Số Số ca Tỷ lệ tuổi, giới, thời gian sử dụng thuốc và liều lượng thứ Chẩn đoán phần thuốc morphine dùng cũng được ghi nhận ở các tự trăm bệnh nhân tái khám này. 1 K phổi,màng phổi, nơi khác 435 87% KẾT QUẢ 2 Lymphoma 2 Tổng số bệnh nhân nhập viện 3 Sarcoma phần mềm 1 Có tất cả 500 bệnh nhân trong thời gian nghiên 4 Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính/ 15 3% lao phổi củ cứu được phân chia theo các năm như sau: 5 Bệnh phổi mô kẽ/ histiocytosis 3 Tháng 8/2012-tháng12/2012 58 6 Nấm phổi 4 Năm 2013: 92 7 Nhiễm vi trùng lao không điển Năm 2014: 101 2 hình Năm 2015: 86 8 Lao phổi, màng phổi, hạch… do 25 5% Năm 2016: 90 M.tb Tháng1/2017-Tháng 8/2017: 73 9 Viêm phổi 4 Tổng cộng: 500 10 Phổi biệt trí 2 Giới tính (nam/ nữ) qua các năm 11 Tràn khí màng phổi 4 12 Nốt phổi 1 Tỷ lệ Nam:nữ là 2,28 với nam 348 ca chiếm tỷ lệ 69% và nữ 152 ca chiếm tỷ lệ 31%. 13 Thiếu máu 3 dòng 1 14 Ho ra máu chưa rõ nguyên nhân 1 Tuổi trung bình của bệnh nhân qua các năm Tổng cộng 500 Tuổi trung bình bệnh nhân là 60,25. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 16 và lớn tuổi nhất là 97. Số bệnh Bảng 1. Chẩn đoán bệnh qua 5 năm nhân trên và bằng 60 tuổi là 262 ca (52,4%). Số bệnh nhân nhỏ hơn hay bằng 40 tuổi là 41 (8,2%). Triệu chứng lâm sàng và sử dụng morphine trong 2 năm 2016-2017 Tuổi bệnh nhân CSGN nhập viện qua từng năm không khác nhau qua phân tích ANOVA với Năm 2016, có 83 bệnh nhân được chẩn đoán K p=0,1878. trong số 90 bệnh nhân nằm chăm sóc giảm nhẹ. Triệu chứng lâm sàng ghi nhận như sau: ho 65% (54/83), đau ngực 66% (55/83), khó thở 57% TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 371
  4. ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ (48/83). Số bệnh nhân dùng morphine là 51 ca đơn vị chăm sóc giảm nhẹ trong bệnh viện (61%), liều morphine dùng cao nhất là 4 viên (OR = 1,06; 95% CI:1,00-1,11)[5]. (120mg)/ ngày. Về tuổi bệnh nhân nhập viện, có tuổi trung bình Năm 2017, có 60 bệnh nhân được chẩn đoán K là 60,22. Số bệnh nhân trên 60 tuổi là 262 ca chiếm trong số 73 bệnh nhân nằm chăm sóc giảm nhẹ. tỷ lệ 52,4% và số bệnh nhân nhỏ hơn hay bằng 40 Triệu chứng lâm sàng ghi nhận như sau: ho 75% tuổi là 41 ca (8,2%). Trong nghiên cứu của (45/60), đau ngực 55% (33/60), khó thở 56% Đan Mạch đề cập ở trên, đa số bệnh nhân trên 60 (34/60). Số bệnh nhân dùng morphine là 40 ca tuổi (85%) và chỉ 0,9% bệnh nhân từ 18-39 tuổi cho (66%), liều morphine dùng cao nhất là 6 viên thấy đa số bệnh nhân vào chăm sóc giảm nhẹ là (180mg)/ ngày. người già[5]. Điều này cũng phù hợp thực tế người già mắc bệnh ở giai đoạn cuối nhiều hơn, điều trị Theo dõi bệnh nhân đặc hiệu bệnh không còn hữu ích nữa cũng như Có 54 (12%) bệnh nhân ung thư trong tổng số bệnh tái phát lại sau một thời gian điều trị vào lúc 435 bệnh nhân theo dõi tại phòng khám CSGN. trẻ tuổi. Giới tính nam có 32 ca (59,26%). Tuổi trung Bệnh nhân lớn tuổi, không còn làm việc tỷ lệ bình 59,57 (+/- 14,43), tuổi nhỏ nhất 20 và tuổi lớn 44% cho thấy có mối tương quan gi tuổi và nghề nhất 84. Trung bình bệnh nhân đến khám là 5 lần, nghiệp. Số còn lại chiếm 56% bao gồm các bệnh với ít nhất là 1 lần và nhiều nhất là 30 lần. Số viên nhân vẫn còn trong khả năng làm việc nào đó như morphine dùng thấp nhất là 1 cao nhất là 7, với trung nội trợ 47 (9%), lao động chân tay 49 (10%), lao bình là 2,5 viên. động trí óc 24 (5%), sinh viên học sinh 10 (2%) và nghề nghiệp tự do 149 (30%). Khả năng vẫn còn làm BÀN LUẬN việc có ý nghĩa nhiều với bệnh nhân, điều này cho Trong thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng thấy bệnh nhân mong muốn có thể tự xử lý ít nhất là 8/2017 (5 năm) có 500 bệnh nhân nằm đơn vị chăm các nhu cầu cơ bản của mình trong những giai đoạn sóc giảm nhẹ với trung bình 10 bệnh nhân mỗi tháng cuối đời theo một nghiên cứu từ Thụy Điển[6]. trong một đơn vị có 6 giường. Số liệu này không Thời gian nằm viện trung bình là 13,81 ngày với phải là nhiều so với nhu cầu các bệnh nhân bệnh 10 bệnh nhân nằm chỉ 1 ngày (tỷ lệ 2%). Các bệnh ung thư cũng như bệnh phổi giai đoạn cuối tại bệnh nhân này do bệnh nặng hay do tâm lý không đồng ý viện Phạm Ngọc Thạch. Nhiều nguyên nhân đưa nằm chăm sóc giảm nhẹ khi mới chuyển qua đã xin đến số bệnh không nhiều như là nhận thức các bác về. Giá trị trung vị của thời gian nằm viện là 10 ngày sĩ về chăm sóc giảm nhẹ chưa cao, bản thân đơn vị với tứ phân vị 6-18 ngày. Trong một nghiên cứu về chăm sóc giảm nhẹ cũng chưa đủ nhân sự chuyên thời gian nằm viện với một số yếu tố nguy cơ ở các sâu, và tâm lý bệnh nhân và người nhà cũng ngại trung tâm chăm sóc giảm nhẹ trong 3 năm tại nằm chăm sóc giảm nhẹ. Đây cũng là những khó Thổ Nhĩ Kỳ, các tác giả thấy các yếu tố như ung thư, khăn được đề cập nhiều ngay cả ở các nước phát thiếu máu não và lớn tuổi có thời gian nằm viện triển[4]. Ở Việt Nam, sau khi được tư vấn bệnh từ ngắn, trái lại các yếu tố như nhiễm trùng bệnh viện, bác sĩ, nhiều bệnh nhân và người nhà muốn xin về cao huyết áp, nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch và mở chăm sóc tại nhà hay tìm kiếm phương pháp điều trị dạ dày qua da làm kéo dài thời gian nằm viện. khác như thuốc nam, thuốc bắc. Tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thường bệnh nhân Về giới tính, nam chiếm tỷ lệ nhiều hơn nữ từ các khoa khác chuyển đến, thường gặp nhất là (nam: nữ = 2,28) phản ánh đúng phân bố nam nữ khoa ung thư, chỉ khi nào các biện pháp điều trị trong các bệnh, đặc biệt là ung thư phổi, nam có tỷ không còn hiệu quả nữa, hay bệnh nhân không đủ lệ cao hơn nữ có lẻ do nguyên nhân hút thuốc lá. tiêu chuẩn cho điều trị ngoại, hóa trị và xạ trị, hay Trong thời gian đầu thành lập đơn vị chăm sóc giảm bệnh nhân có những tác dụng nặng phải ngừng việc nhẹ, đơn vị chỉ nhận bệnh nam, nên số bệnh nhân điều trị. Vì vậy việc lồng ghép chăm sóc giảm nhẹ nam là 56 trên tổng số 58 ca, chỉ có 2 ca là nữ. Từ vào các khoa này sẽ giúp ích nhiều cho bệnh nhân. năm 2013, đơn vị đã mở rộng ra cho cả bệnh nhân Có 30 địa phương ở Việt Nam có bệnh nhân và nam và nữ. Trong một nghiên cứu ở Đan Mạch, các 2 bệnh nhân ở Campuchia nằm tại đơn vị CSGN tác giả cho thấy nữ có tỷ lệ nhập viện cao hơn nam trong thời gian từ 2012 đến 2017. Thành phố Hồ Chí (39,5% so với 35,5%) và phân tích bằng hồi quy Minh là nơi có số bệnh nhân đông nhất 248 bệnh logistic đa biến cho thấy nữ nhập viện cao hơn nam nhân chiếm tỷ lệ 49,6%. Các tỉnh gần như là Long (OR = 1,23; 95% CI:1,17-1,28) tuy nhiên sự khác An, Tiền Giang, Đồng Nai, Đồng Tháp, và Tây Ninh nhau này chỉ thấy hơn nhà tế bần (hospice) cũng có số bệnh nhân chiếm tỷ lệ lần lượt là 7%, (OR = 1,45; 95% CI:1,37-1,54) chứ không thấy ở 4%, 4%, 3% và 3%. 372 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  5. ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ Về các bệnh nằm trong đơn vị CSGN tại bệnh bền vững là việc cần thiết trong tương lai ở bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, đa số là ung thư bao gồm viện Phạm Ngọc Thạch. phổi, màng phổi và một số các ung thư ở cơ quan Chăm sóc giảm nhẹ là cần thiết và mang tính khác như ung thư gan, ung thư đại tràng có di căn nhân văn. Nhiều bệnh nhân vẫn chưa tiếp cận chăm hay không đến phổi với tỷ lệ lên đến 87%, ngoài ra sóc giảm nhẹ về cuối đời. Lồng ghép chăm sóc giảm còn có 2 ca Lymphoma và 1 ca sarcoma phần mềm. nhẹ vào một số khoa có số bệnh nhân mắc bệnh Trên thế giới, ung thư phổi chiếm 12% tất cả các loại mãn tính nặng nhiều là việc nên cân nhắc và thực ung thư và có tỷ lệ tử vong cao nhất hàng năm ở hiện trong tương lai. Thành lập nhóm chăm sóc giảm nam và nữ. Mục đích chung là chữa và kéo dài thời nhẹ để có thể cho hướng điều trị chăm sóc giảm nhẹ gian sống cho bệnh nhân. Hầu hết 60% các bệnh đến bệnh nhân trong mọi trường hợp. Duy trì, phát nhân khi chẩn đoán bệnh đã ở giai đoạn không điều triển và đào tạo chuyên sâu về chăm sóc giảm nhẹ trị tận gốc. Do đó điều trị giảm nhẹ và nâng đở là cho đội ngũ nhân viên y tế cũng như từng bước liên chọn lựa quan trọng[7]. kết với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau như Trong 2 năm 2016-2017, chỉ tính riêng các bệnh nhóm công tác xã hội, bác sĩ tâm lý, chuyên gia lĩnh nhân ung thư tại đơn vị CSGN, 3 triệu chứng thường vực tôn giáo thành một nhóm đa thành phần để góp gặp nhất là ho, đau ngực và khó thở lần lượt chiếm phần phục vụ bệnh nhân tốt hơn. tỷ lệ 65%, 66% và 57% trong năm 2016 và 75%, TÀI LIỆU THAM KHẢO 55% và 56% trong năm 2017. So với y văn trên thế giới tỷ lệ triệu chứng ho 47%-86%, đau ngực 1. Morrisin, K.A.a.R., Palliative care for the 25%-50% và khó thở 48%-69%[7]. Ngoài ra còn rất Seriously Ill. N England J Med, 2015. 373(8): p. nhiều triệu chứng khác ghi nhận được ở bệnh nhân 747-55. trong 2 năm 2016-2017 như là đau đầu, rối loạn tri 2. Higginson, I., Palliative care: a review of past giác, sốt, vàng mắt, đau lưng, loét mông, yếu nữa changes and future trends. J Public Health Med, người, tê tay, đau hạ sườn phải, nôn, nấc cụt, nuốt nghẹn, chán ăn, sụt cân, đi cầu phân đen, ho ra 1993. 15(1): p. 3-8. máu, ảo giác, tiêu chảy, khàn giọng, phù tay và 3. Bade, B.C. and G.A. Silvestri, Palliative Care in chướng bụng. Lung Cancer: A Review. Semin Respir Crit Care Med, 2016. 37(5): p. 750-759. Bệnh nhân sau khi nằm nội trú, xuất viện được hẹn theo dõi tại phòng khám. Số bệnh nhân theo dõi 4. Hawley, P., Barriers to Access to Palliative Care. tại phòng khám chiếm tỷ lệ 12%. Các bệnh nhân sẽ Palliat Care, 2017. 10: p. 1178224216688887. được theo dõi và cho morphine ngoại trú. Nếu bệnh nhân yếu không thể đến tái khám, người nhà có thể 5. Adsersen, M., et al., Is admittance to specialised đến lảnh thuốc tại bệnh viện. Số lần tái khám theo palliative care among cancer patients related to dỏi ở bệnh nhân cao nhất là 30 lần, trung bình là sex, age and cancer diagnosis? A nation-wide 5 lần. study from the Danish Palliative Care Database (DPD). BMC Palliat Care, 2017. 16(1): p. 21. KẾT LUẬN 6. Eriksson, L., I. Oster, and M. Lindberg, The Qua 5 năm (2012-2017) từ khi được thành lập meaning of occupation for patients in palliative và duy trì đến nay, được sự giúp đỡ và hỗ trợ, động care when in hospital. Palliat Support Care, viên của các tổ chức quốc tế cũng như Ban Giám 2016. 14(5): p. 541-52. đốc và nhiều khoa phòng bệnh viện, đơn vị CSGN bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đã góp một phần trong 7. Farbicka, P. and A. Nowicki, Palliative care in việc điều trị, giảm nỗi đau cho bệnh nhân ung thư patients with lung cancer. Contemp Oncol cũng như bệnh nhân mắc các bệnh phổi mãn tính (Pozn), 2013. 17(3): p. 238-45. không lây khác. Tiếp tục duy trì phát triển ổn định và TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 373
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2