CHẨN ĐOÁN M MẮT
(Kỳ 8)
2.2.3. Căn nguyên dịch kính :
Dịch kính viêm với nhiều tế bào bạch cầu và các vẩn đục trong dịch kính có
khi thành mảng là một yếu tố gây giảm thị lực vì chúng cản trở đường vào của ánh
sáng. Bệnh nhân nhìn mờ, thấy những mảng lửng (ruồi bay, mưa bồ hóng…).
Triệu chứng này hay gặp trong viêm màng bđào sau, viêm màng b đào trung
gian (viêm pars plana).
Nếu đáy mắt còn soi được sẽ thấy các hình ảnh bệnh lý của đĩa thị (phù nề),
của võng mạc (xuất huyết, dịch rỉ, bong…) hoặc c hình ảnh đặc hiệu của căn
nguyên bệnh trên hắc võng như toxaplasma, sarcoid, giang mai, nấm .v.v…
Việc điều trị đục dịch kính phải tiến hành theo căn nguyên khi đãm được,
bên cạnh đó cần dùng steroid toàn thân liều 60 100mg/ngày x 4 tuần sau đó giảm
liều dần, thuốc liệt thể mi, dung dịch steroid, vitreolen rỏ mắt hàng ngày.
2.2.4. Căn nguyên võng mạc và hắc võng mạc :
Giảm thị lực từ từ do nhóm căn nguyên này thì hàng đầu là thoái hoá hoàng
điểm do tuổi già, bệnh gặp ở tuổi trên 50, tổn thương tính chất thoái hoá, không
do viêm và vùng hoàng điểm.
Bệnh nhân chỉ thấy thị lực giảm dần, thậm cthể không nhận thấy gì
đặc biệt đến khi thấy mắt mnhiều thì mới đi khám. Cũng thể bệnh nhân
thấy nhìn đường thẳng thành cong, méo hình.
Soi đáy mắt sẽ thấy những thoái hoá drusen. Đó là các nốt đơn độc hình
tròn màu vàng nhạt, thể đứng riêng rhoặc tập trung thành đám vùng trung
tâm và có cả hai mắt. Mất ánh trungm hoàng điểm. Có thể thấy từng chùm sắc
tvà teo từng vùng võng mạc. Nếu bệnh thể dịch gỉ thì khi soi đáy mắt còn
thấy drusen kèm theo màng tân mạch hắc mạc màu xám bẩn dưới võng mạc
(phía dưới mạch máu). Đôi khi còn gặp xuất huyết võng mạc hoặc dịch kính.
Điều trị thoái hoá hoàng điểm tuổi già không phương pháp nào đạt hiệu
quả. Thường chỉ dùng các nhóm thuốc tăng cường lưu lượng tuần hoàn não, tăng
phân áp ôxy máu, các vitamin. Gặp thể bệnh thoái hoá hoàng điểm dịch gỉ cần
làm mạch huỳnh quang và nếu xác định màng tân mạch hắc mạc cách
vùng trung tâm hoàng điểm ít nhất 200 mm và không xuất huyết hoặc dịch rỉ
fovea thì phải thực hiện quang đông laser sớm trong vòng 72h để giảm nguy
tổn hại nghiêm trọng cho thị lực.
Còn có những bệnh võng mạc khác gây giảm thị lực từ từ như bệnh võng
mạc đái tháo đường (xem chương Mắt và bệnh toàn thân), bệnh lý thoái hoá võng
mạc di truyền (Stargardt), thoái hoá sắc t võng mạc (quáng gà) v.v… Đây
những bệnh lý mà việc điều trị thực sự còn rất khó khăn.
2.2.5. Căn nguyên thần kinh :
Tổn hại thị thần kinh với lõm teo gai thị, thị lực giảm rất từ từ làm cho bệnh
nhân hầu n không tnhận thấy đó là đặc điểm của glocom góc mở. Đôi khi
bệnh chỉ được phát hiện được một cách tình choặc khi thị lực đã gim nặng bệnh
nhân mới tới khám, khi đó gai thị đã teo m rõ, thtrường hình ống và nhãn áp
cao.
Glocom góc mlà bệnh hay bị đục thể thuỷ tinh che lấp. Vì vậy nếu đục
thể thuỷ tinh ở mức độ còn cho phép soi được đáy mắt thì chúng ta cần cố gắng soi
được gai thị để xem tình trạng lõm gai. Việc đo nhãn áp cần được thực hiện một
cách bắt buộc khi khám những bệnh nhân đục thể thuỷ tinh để tránh sự nhầm lẫn
bỏ sót đáng tiếc.
Việc điều trị glocom góc mở nhằm mục đích làm h nhãn áp, ngừng tổn hại
thị trường và gai thị. Do cơ chế bệnh sinh của glocom góc mở nay còn chưa rõ cho
nên ban đầu việc điều trị phải là dùng thuốc. Thuốc hay dùng hiện nay là thuốc
chẹn thụ thể b, tốt nhất là loại ức chế chọn lọc b2 vì phải dùng thường xuyên kéo
dài. Việc dùng thuốc hạ nhãn áp đường toàn thân ít được sử dụng cũng vì lý do đó.
Trong quá trình dùng thuốc cần theo dõi định kỳ thị lực, thị trường, tình trạng gai
thị, nhãn áp.
Nếu điều trị bằng thuốc mà các chtiêu theo dõi trên vẫn tiến triển xấu đi
thì đó chđịnh phẫu thuật. thể dùng các phương pháp như đốt laser vùng
(nhưng hiệu quả giảm dần theo thời gian), cắt củng mạc sâu đối với những glocom
giai đoạn tương đối sớm, cắt bè củng mạc nhằm tạo lỗ dò dẫn lưu thuỷ dịch vào
khoang dưới kết mạc.