intTypePromotion=3

Chẩn đoán trước sinh bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21 Hydroxylase

Chia sẻ: Văng Thị Bảo Yến | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
15
lượt xem
0
download

Chẩn đoán trước sinh bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21 Hydroxylase

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Chẩn đoán trước sinh bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21 Hydroxylase trình bày tăng sản thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, khoảng trên 90% gây nên do thiếu hụt enzym 21- hydroxylase. Việc đưa ra một phác đồđiều trị thích hợp với các bà mẹ mang thai sẽ là giải pháp hiệu quả để tránh được hiện tượng nam hóa đối với trẻ gái bị bệnh,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chẩn đoán trước sinh bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21 Hydroxylase

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> 12. Juan Tian., Guohua Yang et al<br /> (2011). Molecular diagnosis of two families<br /> <br /> with classic congenital adrenal hyperplasia,.<br /> Gene, 05.019, 368 - 389.<br /> <br /> Summary<br /> MUTATION AND CARRIER DETECTION OF CONGENITAL ADRENAL<br /> HYPERPLASIA CAUSED BY 21 - HYDROXYLASE DEFICIENCY<br /> Congenital adrenal hyperplasia causes by 21- hydroxylase deficiency (CAH - 21OH) is an<br /> autosomal recessive genetic disorder due to mutation in the CYP21A2 gene. The aim of this study<br /> was to identify mutations of CYP21A2 gene in patients with CAH - 21OH and detect the carrier in<br /> family members of CAH - 21OH patients. 33 CAH - 21OH patients and 78 family members were<br /> selected for this study; direct DNA sequencing and MLPA were used to identify the mutation and<br /> carriers in CYP21A2. The result showed that, in the patient group, 33/33 (100%) patients were<br /> found to have mutation in CYP21A2 gene with 7 different types of mutation and 656 A/C > G<br /> (IVS2 - 13A/C > G) was the most common mutation with 13/33 (39.5%) and following is the<br /> deletion mutation with 7/33 (21.2%). In the carrier group, 32/33 fathers, 33/33 mother and 5/12<br /> siblings were identified as carrier. Our results are important for prenatal diagnosis and genetic<br /> counseling to reduce the ratio of disease and have suitable treatment for mother in initial weeks of<br /> gestation.<br /> Keywords: congenital adrenal hyperplasia, CYP21A2 mutation, carrier<br /> <br /> CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH TĂNG SẢN THƯỢNG THẬN<br /> BẨM SINH THỂ THIẾU 21 - HYDROXYLASE<br /> Ngô Thị Thu Hương1, Trần Vân Khánh1, Nguyễn Phú Đạt1,<br /> Nguyễn Viết Tiến2, Tạ Thành Văn1<br /> 1<br /> <br /> Trường Đại học Y Hà Nội, 2Bệnh viện Phụ sản Trung ương<br /> <br /> Tăng sản thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) là một bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, khoảng<br /> trên 90% gây nên do thiếu hụt enzym 21- hydroxylase. Việc đưa ra một phác đồ điều trị thích hợp với các bà<br /> mẹ mang thai sẽ là giải pháp hiệu quả để để tránh được hiện tượng nam hóa đối với trẻ gái bị bệnh. Nghiên<br /> cứu này được tiến hành với mục tiêu chẩn đoán trước sinh cho các thai phụ mang gen đột biến dị hợp tử<br /> bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21 - OH. Sử dụng kỹ thuật giải trình tự gen và MLPA để xác<br /> định đột biến gen ở thai nhi tuần thứ 16 của 04 thai phụ thuộc 04 gia đình bệnh nhân tăng sản thượng thận<br /> bẩm sinh. Kết quả cho thấy, 1 thai nhi mang đột biến dị hợp tử 656A/C > G/1763insT, 1 thai nhi mang đột<br /> biến đồng hợp tử 2110C > T (R356W) và 2 thai nhi không mang gen đột biến gen.<br /> Từ khóa: tăng sản thượng thận bẩm sinh, chẩn đoán trước sinh, đột biến gen CYP21A2<br /> <br /> 194<br /> <br /> TCNCYH 82 (2) - 2013<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Tăng sản thượng thận bẩm sinh (congenital<br /> adrenal hyperplasia - TSTTBS) thể thiếu<br /> enzym 21 - hydroxylase (21 - OH) là bệnh di<br /> truyền lặn trên nhiễm sắc thể số 6. Bệnh do<br /> đột biến gen CYP21A2 gây rối loạn quá trình<br /> sinh tổng hợp hormon vỏ thượng thận, bệnh<br /> cảnh lâm sàng là cơn suy thượng thận cấp<br /> hoặc nam hóa ở trẻ gái, dậy thì sớm giả ở trẻ<br /> trai [1, 2].<br /> Bệnh có thể dự phòng bằng phương pháp<br /> tư vấn di truyền dựa trên kết quả phát hiện<br /> người lành mang gen bệnh và chẩn đoán<br /> trước sinh. Theo nghiên cứu của Lee và cộng<br /> sự, ước tính tỷ lệ người lành mang gen bệnh<br /> tăng sản thượng thận bẩm sinh là 1/83 đối với<br /> quần thể người Trung Quốc [3]. Theo các báo<br /> cáo khác trên thế giới, tỷ lệ chung người lành<br /> mang gen bệnh là 1/55 [4, 5]. Ở Việt Nam,<br /> khoa Nội tiết - Chuyển hóa - Di truyền, bệnh<br /> viện Nhi Trung ương là một trong những nơi<br /> quản lý số lượng lớn khoảng trên 600 bệnh<br /> nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh. Tuy<br /> nhiên, việc phát hiện, quản lý chưa được thực<br /> hiện thường quy, mặc dù công việc này là cần<br /> thiết nhằm: 1. Chẩn đoán và điều trị trước sinh<br /> cho thai nhi gái mắc bệnh để phòng và làm<br /> giảm nam hóa gây mơ hồ giới tính sau sinh và<br /> điều trị sớm ngay sau sinh cho thai nhi trai. 2.<br /> Tư vấn tiền hôn nhân nhằm giảm trẻ sinh ra bị<br /> mắc bệnh. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên,<br /> đề tài được thực hiện với mục tiêu chẩn đoán<br /> trước sinh cho các thai phụ mang gen đột biến<br /> dị hợp tử bệnh tăng sản thượng thận bẩm<br /> sinh thể thiếu 21 - OH.<br /> <br /> Địa chỉ liên hệ: Tạ Thành Văn - Trường Đại học Y Hà Nội<br /> Số 1 Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội.<br /> Email: tathanhvan@hmu.edu.vn<br /> Ngày nhận: 04/03/2013<br /> Ngày được chấp thuận: 26/4/2013<br /> <br /> TCNCYH 82 (2) - 2013<br /> <br /> II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> 1. Đối tượng<br /> 4 thai phụ của 4 gia đình có con bị bệnh<br /> tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu<br /> enzym 21 - hydroxylase đã xác định được đột<br /> biến, đang mang thai ở tuần thứ 16.<br /> 2. Phương pháp<br /> 2.1. Quy trình lấy mẫu<br /> Các thai phụ mang gen dị hợp tử đã có<br /> con bị bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh<br /> thể thiếu 21 - OH được kiểm tra bằng siêu âm<br /> và đo nồng độ HCG trong huyết thanh. Lấy<br /> mẫu bằng phương pháp chọc hút dịch ối dưới<br /> sự hướng dẫn của siêu âm tại bệnh viện Phụ<br /> Sản trung ương. Dịch ối được bảo quản và<br /> vận chuyển về trung tâm Nghiên cứu Gen Protein, trường Đại học Y Hà Nội.<br /> 2.2. Kỹ thuật tách chiết DNA<br /> DNA được tách chiết từ tế bào ối theo quy<br /> trình phenol/chloroform. Tất cả các mẫu DNA<br /> được tiến hành đo nồng độ và độ tinh sạch,<br /> những mẫu có OD 260 - 280 đạt từ 1,8 - 2<br /> được sử dụng để phân tích gen.<br /> 2.2. Kỹ thuật giải trình tự gen<br /> Các cặp mồi đặc hiệu được sử dụng để<br /> khuyếch đại gen CYP21A2. Chu trình nhiệt<br /> phản ứng PCR: 900C - 10 giây, [960 C - 10<br /> giây, 550C - 15 giây, 720C - 2 phút] x 30 chu kỳ.<br /> Sản phẩm PCR được tinh sạch và giải<br /> trình tự trên máy ABI - 3100 tại trung tâm<br /> nghiên cứu Gen - Protein, trường Đại học Y<br /> Hà Nội. Kết quả được phân tích bằng phần<br /> mềm CLC và so sánh với kết quả của bệnh<br /> nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh trong gia<br /> đình đã xác định được đột biến.<br /> 2.3. Kỹ thuật MLPA (Multiplex ligation<br /> dependent probe amplification)<br /> Sử dụng kit MLPA P050B2 (MRC - Holland)<br /> 195<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> để phát hiện đột biến xóa đoạn trên bệnh<br /> nhân và người lành mang gen bệnh. Thành<br /> phần của kit gồm các probe để khuyếch đại<br /> gen CYP21A2, mỗi probe tương ứng với một<br /> vùng gen, ngoài ra còn có các probe đặc<br /> trưng cho gen của người cũng được sử dụng<br /> để làm đối chứng và 2 probe cho nhiễm sắc<br /> thể X và Y để xác định giới tính. Sản phẩm<br /> khuếch đại được điện di mao quản trên máy<br /> <br /> giải trình tự. Số lượng sản phẩm khuếch đại<br /> của mỗi probe tỷ lệ thuận với số bản copy của<br /> đoạn DNA đích đặc hiệu với probe đó.<br /> <br /> III. KẾT QUẢ<br /> Bằng kỹ thuật giải trình tự gen và MLPA,<br /> đã phát hiện được 2/4 thai nhi không có đột<br /> biến gen CYP21A2, 2/4 thai nhi có đột biến<br /> gen giống anh trai của thai nhi (bảng 1).<br /> <br /> Bảng 1. Kết quả phân tích gen của thai nhi và gia đình<br /> Gia đình<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> <br /> Bố bệnh nhân<br /> <br /> Mẹ bệnh nhân<br /> <br /> Thai nhi<br /> <br /> Gia đình 1<br /> <br /> 656A/C > G/656A/C ><br /> G** (anh trai)<br /> <br /> 656A/C > G*<br /> <br /> 656A/C > G*<br /> <br /> Gia đình 2<br /> <br /> 656A/C > G<br /> * /1763insT* (anh trai)<br /> <br /> 656A/C > G*<br /> <br /> 1763insT*<br /> <br /> 656A/C ><br /> G/1763insT*/*<br /> <br /> Gia đình 3<br /> <br /> 2110C > T/2110C ><br /> T** (anh trai)<br /> <br /> 2110C > T*<br /> <br /> 2110C > T*<br /> <br /> 2110C ><br /> T/2110C>T**<br /> <br /> Gia đình 4<br /> <br /> exon 1 - 3 del/exon 1 3 del** (chị gái)<br /> <br /> exon 1 - 3 del*<br /> <br /> exon 1 - 3 del*<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> ** Đột biến đồng hợp tử; * Đột biến di hợp tử<br /> Kết quả ở bảng 1 cho thấy bố và mẹ đều mang gen ở trạng thái dị hợp tử, bệnh nhân và 2 thai<br /> nhi có đột biến gen đều nhận 2 allele đột biến từ bố và mẹ.<br /> Kết quả đột biến gen của phả hệ gia đình 3<br /> Gia đình này có người con trai bị bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh được phân tích xác<br /> định đột biến gen CYP21A2. Kết quả cho thấy bệnh nhân có đột biến 2110C > T ở trạng thái<br /> đồng hợp tử. Kết quả phân tích gen trên bố, mẹ bệnh nhân cho thấy đều mang gen dị hợp tử<br /> 2110C > T (người lành mang gen bệnh). Bà mẹ mang thai được chẩn đoán trước sinh ở tuần thứ<br /> 16. Kết quả cho thấy thai nhi bị đột biến gen giống như người anh trai (hình 1).<br /> <br /> 196<br /> <br /> TCNCYH 82 (2) - 2013<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> I<br /> <br /> II<br /> <br /> III<br /> Nữ bình thường<br /> <br /> Nam bình thường<br /> <br /> Nữ mang gen<br /> <br /> Nam mang gen<br /> <br /> Thai nhi bị bệnh<br /> 2110C<br /> <br /> Người bình thường<br /> 2110C>T<br /> R 356 W<br /> <br /> Bố bệnh nhân<br /> <br /> Nam bị bệnh<br /> 2110C>T<br /> R 356 W<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> 2110C>T<br /> R 356 W<br /> <br /> Mẹ bệnh nhân<br /> <br /> 2110C>T<br /> R 356 W<br /> <br /> Thai nhi<br /> <br /> Hình 1. Kết quả chẩn đoán trước sinh gia đình 3<br /> A) Phả hệ gia đình bệnh nhân; B) Kết quả phân tích gen CYP21A2. Mũi tên thẳng đứng chỉ vị<br /> trí đột biến, các chữ số trên mũi tên chỉ vị trí nucleotid.<br /> Kết quả đột biến gen của phả hệ gia đình 4<br /> Gia đình này có con gái bị bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh được phân tích xác định đột<br /> biến gen CYP21A2. Kết quả cho thấy, bệnh nhân có đột biến đồng hợp tử mất đoạn exon 1 - 3.<br /> Kết quả phân tích gen trên bố, mẹ bệnh nhân cho thấy họ đều mang gen dị hợp tử mất đoạn<br /> exon 1 - 3 (người lành mang gen bệnh). Bà mẹ mang thai được chẩn đoán trước sinh ở tuần thứ<br /> 16. Kết quả cho thấy thai nhi không có đột biến gen giống như người chị gái (hình 2).<br /> <br /> TCNCYH 82 (2) - 2013<br /> <br /> 197<br /> <br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> I<br /> <br /> II<br /> <br /> III<br /> Nữ bình thường<br /> <br /> Nam bình thường<br /> <br /> Nữ mang gen<br /> <br /> Nam mang gen<br /> <br /> Thai nhi bình<br /> thường<br /> <br /> ex3<br /> <br /> Nam bị bệnh<br /> <br /> ex1<br /> Y<br /> Người bình thường<br /> <br /> ex3<br /> <br /> ex1<br /> <br /> ex3<br /> <br /> ex1<br /> <br /> ex3<br /> <br /> ex1<br /> <br /> Y<br /> Bệnh nhân<br /> <br /> Y<br /> <br /> Y<br /> ex3<br /> <br /> Bố bệnh nhân<br /> <br /> Mẹ bệnh nhân<br /> <br /> ex1<br /> Y<br /> <br /> Thai nhi<br /> <br /> Hình 2. Kết quả chẩn đoán trước sinh gia đình 4<br /> <br /> A) Phả hệ gia đình bệnh nhân; B) Kết quả phân tích gen CYP21A2. Mũi tên thẳng đứng chỉ vị<br /> trí đột biến, ex1, ex3, là các đỉnh tương ứng với vị trí exon 1, 3 của gen CYP21A2; Y là đỉnh<br /> tương ứng với nhiễm sắc thể Y dùng để xác định giới tính.<br /> <br /> 198<br /> <br /> TCNCYH 82 (2) - 2013<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản