intTypePromotion=1
ADSENSE

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Saobiendo Saobiendo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

51
lượt xem
6
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 214 bệnh nhân THA tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi chất lượng cuộc sống (CLCS) của Tổ chức y tế thế giới. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa điểm CLCS các lĩnh vực và các biến độc lập.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019<br /> <br /> <br /> CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG<br /> VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP<br /> TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH<br /> Nguyễn Thị Vi Hằng*, Huỳnh Ngọc Vân Anh*, Nguyễn Đại Thức*, Trịnh Tuyết Huệ*, Hà Thị Như Xuân*<br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Tỉ lệ người mắc bệnh tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, chất<br /> lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh vẫn chưa được quan tâm. Chúng tôi khảo sát CLCS và các yếu tố liên<br /> quan ở bệnh nhân THA nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người bệnh.<br /> Mục tiêu: Xác định điểm trung bình chất lượng cuộc sống (TB CLCS) và các yếu tố liên quan ở người THA.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 214 bệnh nhân THA tại bệnh viện<br /> Nguyễn Tri Phương bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi CLCS của Tổ chức y tế thế giới.<br /> Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa điểm CLCS các lĩnh vực và<br /> các biến độc lập.<br /> Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 59,6 tuổi (ĐLC=9,6); 55,1% là nữ giới.<br /> Điểm TB CLCS về quan hệ xã hội, môi trường sống, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của bệnh nhân THA<br /> lần lượt là: (54,5 ± 12,5), (55,6± 9,7), (54 ± 14, 4), (57,5 ± 12,2). Các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân<br /> THA gồm giới tính, học vấn, hút thuốc lá, vận động thể lực, tuân thủ điều trị, tình trạng dinh dưỡng và một số<br /> bệnh kèm theo như: đái tháo đường, bệnh thận, bệnh tim, bệnh về khớp, tai biến mạch máu não.<br /> Kết luận: CLCS bệnh nhân THA thấp ở lĩnh vực sức khỏe thể chất. Vận động thể lực đều đặn ở mức độ vừa<br /> phải, tuân thủ điều trị theo hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ là các yếu tố cần được khuyến khích thực hiện giúp<br /> cải thiện CLCS người bệnh THA. Bệnh nhân THA là phụ nữ, người lớn tuổi, người suy dinh dưỡng, người có<br /> trình độ học vấn thấp, người bệnh THA mắc kèm thêm bệnh mãn tính là những đối tượng cần được quan tâm và<br /> hướng tới trong các chương trình, hoạt động với mục tiêu cải thiện CLCS người bệnh.<br /> Từ khoá: tăng huyết áp, chất lượng cuộc sống<br /> ABSTRACT<br /> QUALITY OF LIFE AND ITS ASSOCIATED FACTORS AMONG PATIENTS WITH HYPERTENSION<br /> AT NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL, HO CHI MINH CITY<br /> Nguyen Thi Vi Hang, Huynh Ngoc Van Anh, Nguyen Dai Thuc, Trinh Tuyet Hue<br /> * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 212 – 217<br /> Background: The prevalence of hypertension has been increasing in Vietnam. However, quality of life (QoL)<br /> among the patients has not yet been considered. To improve QoL and health care for hypertensive patients, it is<br /> crucial to measure their quality of life and its associated factors.<br /> Objectives: To determine average score of QoL and its associated factors among hypertensive patients.<br /> Methods: A cross-sectional study was conducted at Nguyen Tri Phuong hospital, Ho Chi Minh city. 214<br /> hypertensive patients were recruited a convenience sample. Data were collected by a face-to-face interview using<br /> WHOQoL – BREF. Multivariable linear regression analyses were used to measure the association between QOL<br /> and independent variables.<br /> *Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Vi Hằng ĐT: 0916594433 Email:nguyenvihang.yds@gmail.com<br /> <br /> <br /> <br /> 212 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Result: Mean age of participants was 59.6 years (SD 9.6); 55.1% were women. The mean scores in the<br /> domains of social relation, environmental health, physical health, and psychological health were (54,5 ± 12,5),<br /> (55,6± 9,7), (54 ± 14, 4) và (57,5 ± 12,2) respectively. Factors associated with QoL among hypertensive patients<br /> were gender, education level, smoking, physical activity level, adherence to treatment, nutritional status, and<br /> presence of co-morbidity (diabetes, kidney diseases, coronary heart disease, arthritis, and stroke).<br /> Conclusion: The mean score in the domain of psychological health among the hypertensive patients was low.<br /> Encouraging physical activities and strengthening treatment adherence should be considered to improve QoL for<br /> hypertensive patients. Actions to improve QoL should be targeted at hypertensive patients female, elderly,<br /> undernourished, low educated and/or with co-morbidity.<br /> Keywords: hypertension, quality of life<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chí loại ra<br /> Tăng huyết áp (THA) là một trong những BN THA đang trong tình trạng THA cấp<br /> bệnh mãn tính phổ biến nhất trên thế giới với cứu, hoặc đang mắc bệnh toàn thân cấp tính, BN<br /> tần suất mắc bệnh cao. Được mệnh danh là “kẻ mắc các bệnh ảnh hưởng giao tiếp như: câm,<br /> giết người thầm lặng”, THA đang là một trong điếc, mù.<br /> những vấn đề của sức khỏe cộng đồng được Phương pháp nghiên cứu<br /> quan tâm nhất hiện nay và là một trong những Thiết kế nghiên cứu<br /> gánh nặng bệnh tật toàn cầu(2). Để cải thiện và<br /> Nghiên cứu cắt ngang<br /> nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân (BN) tăng<br /> huyết áp không chỉ đơn thuần tuân thủ điều trị Phương pháp chọn mẫu<br /> nhằm hạ trị số huyết áp để đạt huyết áp mục Chọn mẫu thuận tiện được thực hiện trên<br /> tiêu, làm giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch, 214 bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại<br /> phòng ngừa và điều trị các tổn thương cơ quan bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 3 đến<br /> đích, mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống tháng 7/2018.<br /> (CLCS) của bệnh nhân THA(5). Cỡ mẫu<br /> Mục tiêu nghiên cứu Được tính dựa vào công thức ước lượng một<br /> Xác định điểm số trung bình CLCS theo trung bình với khoảng tin cậy 95%, sử dụng độ<br /> từng lĩnh vực của thang đo WHOQoL-BREF lệch chuẩn = 14,94. Theo nghiên cứu “Chất<br /> trên bệnh nhân THA đang điều trị tại BV lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người<br /> Nguyễn Tri Phương tăng huyết áp từ 50 tuổi trở lên tại xã Phước Lợi,<br /> Xác định mối liên quan giữa điểm số CLCS huyện Bến Lức, tỉnh Long An, năm 2013”(10).<br /> với đặc điểm dân số xã hội, quá trình bệnh THA, Phương pháp thực hiện<br /> tuân thủ điều trị, thói quen sinh hoạt trên BN Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi WHOQoL-<br /> THA đang điều trị tại BV Nguyễn Tri Phương. BREF gồm 26 câu hỏi thu thập thông tin đánh<br /> ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNG PHÁPNGHIÊNCỨU giá điểm trung bình chất lượng cuộc sống của<br /> bệnh nhân tăng huyết áp trên bốn lĩnh vực sức<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> khỏe thể chất (SKTC), sức khỏe tinh thần<br /> Tiêu chí chọn vào (SKTT), quan hệ xã hội (QHXH), môi trường<br /> BN THA từ 18 tuổi trở lên, có thời gian điều sống (MTS) và điểm trung bình chất lượng<br /> trị ngoại trú ≥3 tháng đến khám bệnh tại BV cuộc sống chung. Trong nghiên cứu này, trước<br /> Nguyễn Tri Phương và đồng ý tham gia nghiên khi tiến hành thu thập số liệu chính thức, bộ<br /> cứu (tính từ thời điểm bắt đầu điều trị THA cho câu hỏi được sử dụng điều tra thử trên 30 BN<br /> đến thời điểm nghiên cứu). THA đang điều trị ngoại trú tại BV Nguyễn Tri<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 213<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019<br /> <br /> Phương TP. Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo tính CLCS theo thang đo WHOQoL-BREF<br /> phù hợp với dân số nghiên cứu. Thang đo WHOQoL-BREF dùng để đo<br /> Xử lý số liệu lường CLCS. Sau khi chuyển đổi điểm, điểm<br /> Dữ liệu sau khi thu thập được nhập liệu của câu trả lời càng cao thì CLCS càng tốt và<br /> bằng phần mềm EpiData 3.1. Phân tích dữ liệu ngược lại.<br /> bằng phần mềm Stata 13.0. Điểm chất lượng cuộc sống theo từng lĩnh vực<br /> KẾT QUẢ Bảng 1. Điểm chất lượng cuộc sống theo lĩnh vực<br /> Các đặc điểm dân số xã hội (n=214)<br /> Giá trị Giá trị<br /> Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia Lĩnh vực TB ± ĐLC<br /> nhỏ nhất lớn nhất<br /> nghiên cứu là 59,6 ± 9,6 tuổi. Trong đó đối tượng Sức khỏe thể chất 57,1 (42,9-64,3)* 25,0 92,9<br /> có độ tuổi thấp nhất là 34 và cao nhất là 85 tuổi. Sức khỏe tinh thần 57,50 ± 12,2 25,0 83,3<br /> Trong đó, nhóm có độ tuổi nhỏ hơn 50 tuổi Quan hệ xã hội 58,3 (41,7-66,7)* 16,7 83,3<br /> Môi trường sống 55,6 ± 9,6 28,1 90,6<br /> chiếm 15% và nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ<br /> Điểm CLCS chung 55,4 ± 9,7 29,7 77,5<br /> cao nhất là 53,3%.<br /> Các yếu tố liên quan đến điểm CLCS của người<br /> Thói quen sinh hoạt<br /> THA khi phân tích hồi quy đa biến<br /> Trong số các đối tượng tham gia nghiên<br /> cứu có 41 người đang hút thuốc lá chiếm<br /> Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các<br /> 19,2%, 43 người đang sử dụng rượu bia chiếm yếu tố liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực SKTT<br /> 20,1% và có 110 người có tập thể dục thường Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến<br /> xuyên chiếm 51,4%. tính đa biến cho thấy, các biến giới tính, hút<br /> thuốc lá, uống rượu bia, bệnh kèm theo, tiền sử<br /> Quá trình bệnh và tuân thủ điều trị THA<br /> gia đình, thời gian phát hiện bệnh, tuân thủ điều<br /> Đa số các đối tượng tham gia nghiên cứu có<br /> trị thuốc và tuân thủ chế độ ăn có mối liên quan<br /> tiền sử gia đình bị THA chiếm tỷ lệ 54,7%. Thời<br /> thật sự tới điểm chất lượng cuộc sống lĩnh vực<br /> gian phát hiện bệnh THA từ 10 năm trở lên<br /> sức khỏe tinh thần (Bảng 2).<br /> chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,4%, tiếp đến là từ 1 đến<br /> dưới 5 năm chiếm 34,6%. Có 60,8% đối tượng Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các<br /> tham gia tuân thủ điều trị thuốc và 53,7% tuân yếu tố liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực MTS<br /> thủ chế độ ăn. Trong các đối tượng tham gia Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa<br /> nghiên cứu có 2,8% bị suy dinh dưỡng, 21% thừa biến cho thấy, các biến trình độ học vấn, sử dụng<br /> cân và 37,4% béo phì. Có đến 51,4% đối tượng BHYT, tập thể dục và thời gian phát hiện bệnh<br /> nghiên cứu vừa bị THA vừa bị mắc các bệnh có mối liên quan thật sự tới điểm CLCS lĩnh vực<br /> mạn tính nhiều nhất. MTS (Bảng 3).<br /> Bảng 2. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực SKTT (n=214)<br /> Đặc tính Hệ số PTthô KTCthô 95% pthô Hệ số PThc KTChc 95% phc<br /> Giới (nam) 3,4 0,09 – 6,64 0,044 7,3 3,76 – 10,80
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2