intTypePromotion=3

Chè

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
89
lượt xem
14
download

Chè

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chè (thực vật) Chè trong bài này nói về một loại thực vật để sản xuất chè (trà) uống. Các nghĩa khác xem Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chè

  1. Chè (thực vật) Chè trong bài này nói về một loại thực vật để sản xuất chè (trà) uống. Các nghĩa khác xem Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà). Tên gọi sinensis có nghĩa là "Trung Quốc" trong tiếng Latinh. Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea vàThea viridis. Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy lá. Nó có rễ cái dài. Hoa của nó màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5–4 cm, với 7 - 8 cánh hoa. Hạt của nó có thể ép để lấy dầu. Chè xanh, chè ô long và chè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở các mức độ ôxi hóa khác nhau.
  2. Camellia sinensis Lá của chúng dài từ 4–15 cm và rộng từ 2–5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% caffein. Lá non và còn các lá có xanh lục nhạt được thu hoach để sản xuất chè khi mặt bên dưới của chúng còn các sợi lông tơ ngắn màu trắng. Các lá già có màu lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo ra các sản phẩm chè khác nhau về chất lượng, do thành phần hóa học trong các lá này là khác nhau. Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn sau khoảng 1 đến 2 tuần. Một số các biến thể khác nhau của C. sinensis được sử dụng để sản xuất chè: Biến thể Assam
  3. Phần lớn chè được sản xuất từ biến thể này (đôi khi nó được gọi là C. sinensis assamica hayC. assamica). Nó là loại cây nhỏ (thân đơn) với lá to. Trong tự nhiên, nó cao tới 6 - 20 mét (20–65 ft); trong các khu vực trồng để lấy lá người ta xén tỉa nó xuống chỉ còn cao trên hông người. Ở những vùng đất trũng, yêu cầu của nó là có độ ẩm cao (mưa nhiều) nhưng thoát nước tốt. Những cây trồng này không có khả năng chống chịu được điều kiện quá nóng. Cây chè Assam được phát hiện năm 1823 (mặc dù nó đã được người dân địa phương sử dụng làm đồ uống từ trước đó) là một trong hai cây chè gốc. Tất cả các cây chè Assam và phần lớn chè Ceylon (Tích Lan, nay là Sri Lanka) có nguồn gốc từ cây này. Chè Assam tạo ra hương vị ngọt của đồ uống, không giống như hương vị của các loại chè Trung Hoa khác. Biến thể Trung Quốc Chè Trung Quốc (đôi khi gọi là C. sinensis sinensis) là loài cây lá nhỏ, nhiều thân mọc thành bụi rậm cao tới 3 mét. Đây là loại chè đầu tiên được phát hiện, ghi chép lại và sử dụng để sản xuất chè có từ hơn 3000 năm trước, nó dùng để sản xuất nhiều loại chè nổi tiếng. Biến thể Cam pu chia Chè Cam pu chia đôi khi được gọi là C. sinensis parvifolia. Lá của chúng về kích thước nằm giữa kích thước của lá chè Assam và lá
  4. chè Trung Quốc; nó là một loại cây nhỏ với một số thân. Đôi khi người ta coi biến thể này là sản phẩm lai ghép của chè Assam và Trung Quốc. Mục lục [ẩn] 1 Chè tại Việt Nam 2 Một vài hình ảnh về chè 3 Xem thêm 4 Chú thích 5 Liên kết ngoài [sửa]Chè tại Việt Nam Cây chè tại Việt Nam đến giữa thể kỷ 20 được giồng khắp miền quê ngoài Bắc và Trung, diện tích lớn nhất ở hai tỉnh Phú Thọ và Quảng Nam.[1] Loại này thân mọc cao, lá lớn và dầy, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi gọi là chè xanh. Loại thứ hai là chè đồn điền, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước. Hạng nhất là chè búp, có khi gọi văn vẻ là "chè bạch mao" hay "chè bạch tuyết" nếu búp có lông tơ trắng. Hạng nhì là hai lá chè kế. Lá thứ tư, thứ năm là chè hạng ba. Những lá dưới nữa thì dùng làm chè mạn, rẻ hơn cả.[2]
  5. Thời Pháp thuộc vào thập niên 1930 chè được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên vùng B'lao và Djiring và vùng này sau chiếm địa vị là vựa chè.[3] Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn chè mỗi năm.[4] Đến năm 2007 thì sản lượng chè của Việt Nam đã vượt một triệu tấn, canh tác trên 125.000 hecta.[5] [sửa]Một vài hình ảnh về chè Hoa chè. Trái cây Nước chè Mặt cắt chè xanh. xanh, lá chè xanh thân cây vo vào chè. ấm đun sôi lên uống. Chủ yếu các vùng nông thôn Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản