-
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ------------------------ Lương Trúc Quỳnh Ngân CHẾ TẠO, NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUANG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG TRONG TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT CỦA CÁC HỆ DÂY NANÔ SILIC XẾP THẲNG HÀNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC VẬT LIỆU
Hà Nội - 2016
-
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ------------------------ Lương Trúc Quỳnh Ngân CHẾ TẠO, NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUANG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG TRONG TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT CỦA CÁC HỆ DÂY NANÔ SILIC XẾP THẲNG HÀNG Chuyên ngành: Vật liệu điện tử Mã số: 62 44 01 23 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC VẬT LIỆU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS ĐÀO TRẦN CAO
Hà Nội - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của GS.TS. Đào Trần Cao và sự cộng tác của các đồng nghiệp. Các kết quả
nghiên cứu được thực hiện tại Viện khoa học Vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam. Các số liệu và kết quả trong luận án này là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được công bố trong bất cứ luận án nào khác.
Tác giả luận án
Lương Trúc Quỳnh Ngân
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Đào Trần Cao -
người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và thực
hiện các nội dung nghiên cứu của luận án này, người đã cho em những lời khuyên
bổ ích, những lời động viên trong những lúc em gặp khó khăn và truyền cho em
lòng say mê khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú và các bạn đồng nghiệp thuộc Phòng
Phát triển thiết bị và Phương pháp phân tích - Viện Khoa học Vật liệu đã luôn luôn
động viên, giúp đỡ và cho tôi những ý kiến quý báu trong công việc và trong cuộc
sống.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Cao Tuấn Anh, giảng viên trường Đại học Tân
Trào đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc thực hiện đề tài này. Tôi cũng xin gửi lời
cảm ơn tới PGS.TS. Lê Văn Vũ, Giám đốc trung tâm Khoa học Vật liệu, thuộc khoa
Vật lý, trường Đại học Khoa học tự nhiên đã giúp đỡ tôi thực hiện một số phép đo
đạc, khảo sát mẫu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi về kinh phí và thời gian để tôi
thực hiện tốt đề tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè,
những người đã luôn ở bên chia sẻ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình
Tác giả luận án
học tập và thực hiện bản luận án này.
Lương Trúc Quỳnh Ngân
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN Trang i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU ix
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ x
1 6 MỞ ĐẦU Chương 1. Tổng quan về vật liệu dây nanô silic
6 1.1. Sơ lược về vật liệu silic khối
1.2. Các phương pháp chế tạo vật liệu dây nanô Si
1.2.1. Cách tiếp cận “từ dưới lên”
1.2.1.1. Cơ chế hơi – lòng – rắn 1.2.1.2. Mọc với sự hỗ trợ của ôxít 1.2.1.3. Tổng hợp trên cơ sở dung dịch
8 9 10 12 13 13 1.2.2. Cách tiếp cận “từ trên xuống”
14
15
1.2.2.1. Phương pháp ăn mòn hóa học có sự trợ giúp của kim loại 1.2.2.2. Phương pháp ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại
1.3. Các tính chất của vật liệu dây nanô Si
1.3.1. Tính chất điện
1.3.2. Huỳnh quang của vật liệu dây nanô Si 1.3.3. Tính chất nhiệt
1.4. Ứng dụng của vật liệu dây nanô Si
1.4.1. Các pin ion Li 1.4.2. Pin mặt trời 1.4.3. Các ứng dụng sinh học
1.4.3.1. Xét nghiệm tế bào 1.4.3.2. Sự chuyển gen 16 16 18 21 22 22 22 23 23 24
1.4.3.3. Dẫn thuốc 25
iv
25 1.4.4. Các cảm biến
1.4.4.1. Tán xạ Raman tăng cường bề mặt 26
1.4.4.2. Điện hóa học 27
1.4.4.3. Tranzito hiệu ứng trường 27
28 1.5. Các phương pháp khảo sát cấu trúc, tính chất và ứng dụng của
các hệ dây nanô Si
28 1.5.1.Các phương pháp khảo sát hình thái, thành phần và cấu trúc
của hệ SiNW
1.5.1.1. Khảo sát hình thái của các hệ SiNW bằng kính hiển vi 28
điện tử quét
30
31
1.5.1.2. Khảo sát hình dáng và kích thước của các SiNW bằng kính hiển vi điện tử truyền qua 1.5.1.3. Phân tích thành phần nguyên tố bằng phổ tán sắc năng lượng tia X
1.5.2. Phương pháp ghi phổ huỳnh quang 1.5.3. Phương pháp Raman khảo sát ứng dụng của vật liệu SiNW
1.6. Kết luận Chương 1
32 33 35 36
Chương 2. Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp ăn mòn hóa học và ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại 2.1. Giới thiệu chung về phương pháp ăn mòn
2.1.1. Phương pháp ăn mòn khô 2.1.2. Phương pháp ăn mòn ướt
2.2. Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp MACE
36 36 37 40 41 2.2.1. Cơ chế ăn mòn
2.2.1.1. Các phản ứng 41
2.2.1.2. Sự phun lỗ trống và vai trò của kim loại 43
2.2.1.3. Sự chuyển khối lượng 2.2.1.3. Sự chuyển khối lượng 45 46
47
2.2.2. Công nghệ ăn mòn MACE đã được áp dụng để chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si trong luận án 2.2.2.1. Vật liệu ban đầu 2.2.2.2. Dung dịch lắng đọng kim loại và dung dịch ăn mòn 47 47
v
2.2.2.3. Quy trình chế tạo hệ ASiNW trên đế Si bằng phương 48
pháp MACE
49 2.2.3. Chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
50 2.2.4. Ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo và vật liệu ban đầu lên
cấu trúc của các hệ ASiNW trên đế Si chế tạo bằng phương pháp MACE
50
2.2.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag lên cấu trúc của các hệ ASiNW
2.2.4.2. Ảnh hưởng của vật liệu ban đầu lên cấu trúc của các hệ 57
59
61
ASiNW 2.2.4.3. Ảnh hưởng của thời gian ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW 2.2.4.4. Ảnh hưởng của dung dịch ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW
65 2.3. Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp MAECE
2.3.1. Cơ chế ăn mòn
2.3.1.1. Sự phun lỗ trống trong ăn mòn anốt 2.3.1.2. Cơ chế ăn mòn trực tiếp và ăn mòn gián tiếp
65 65 66 70
2.3.2. Công nghệ ăn mòn MAECE đã được áp dụng để chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si trong luận án
70
70 71
2.3.2.1. Vật liệu ban đầu, các dung dịch lắng đọng và dung dịch ăn mòn 2.3.2.2. Hệ điện hóa sử dụng để chế tạo hệ ASiNW 2.2.2.3. Quy trình chế tạo hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
72 73
2.3.3. Chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE 2.3.4. Ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo lên cấu trúc của các hệ ASiNW
73
76 78 2.3.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag 2.3.4.2. Ảnh hưởng của mật độ dòng điện hóa 2.3.4.3. Ảnh hưởng của thời gian ăn mòn
80 2.4. Kết luận Chương 2
vi
81 Chương 3. Nghiên cứu tính chất huỳnh quang của các hệ ASiNW
81 3.1. Lý thuyết chung về sự phát quang của vật liệu silic cấu trúc nanô
82 3.1.1. Hiệu ứng giam giữ lượng tử
87 3.1.2. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và sự thụ động hóa bề mặt
89
3.1.3. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và các trạng thái bề mặt 3.1.4. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và các sai hỏng trong SiO2
93 96 3.2. Áp dụng lý thuyết chung về sự phát quang của vật liệu Si cấu trúc
nanô để giải thích các kết quả đã thu được về PL của các hệ ASiNW
96 3.2.1. Thí nghiệm
98 3.2.2. Các kết quả và thảo luận về PL của các mẫu ASiNW
108 110 3.3. Kết luận Chương 3 Chương 4. Ứng dụng hệ ASiNW trong tán xạ Raman tăng cường bề
mặt 4.1. Tán xạ Raman 4.2. Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt
4.2.1. Các cơ chế tăng cường SERS
4.2.1.1. Cơ chế tăng cường điện từ 4.2.1.2. Cơ chế tăng cường hóa học
4.2.2. Các loại đế SERS 4.2.3. Hệ số tăng cường SERS
110 115 116 117 121 123 125 126 126 127 127
4.2.3.1. Hệ số tăng cường đơn phân tử 4.2.3.2. Hệ số tăng cường đế SERS 4.2.3.3. Hệ số tăng cường phân tích 4.2.3.4. Hệ số tăng cường được ước tính dựa trên phép đo mặt cắt ngang
128 4.2.4. Các ứng dụng của SERS
4.2.4.1. Ứng dụng trong các cảm biến sinh học 4.2.4.2. Ứng dụng trong các phân tích môi trường
4.2.5. Ưu điểm và nhược điểm của SERS
4.3. Ứng dụng các hệ ASiNW trong SERS
128 128 129 130 130
132 4.3.1. Quy trình chế tạo đế SERS từ hệ ASiNW trên đế Si 4.3.2. Sử dụng các hệ ASiNW thẳng đứng có phủ các AgNP
(AgNPs/VASiNW) để phát hiện các phân tử MG nồng độ thấp
vii
thông qua hiệu ứng SERS
140 4.3.3. Sử dụng các hệ ASiNW xiên có phủ các AgNP
(AgNPs/OASiNW) để phát hiện các phân tử MG nồng độ thấp
thông qua hiệu ứng SERS
144 4.3.4. Sử dụng các hệ AgNPs/OASiNW để phát hiện các phân tử
thuốc diệt cỏ paraquat thông qua hiệu ứng SERS
146 4.4. Kết luận Chương 4
147
Kết luận DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AgNP - hạt nanô bạc
AgNPs/SiNWs - silic nanô dây có bao phủ các hạt nanô bạc
ASiNW - dây nanô silic xếp thẳng hàng
CVD - lắng đọng hóa học từ pha hơi
DC - nguồn điện một chiều
Đ.V.T.Y - đơn vị tùy ý
EDX - phổ tán sắc năng lượng tia X
EM - điện từ
LSPR - cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ
MACE - ăn mòn hóa học có sự trợ giúp của kim loại
MAECE - ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại
MG - malachite green
NW - dây nanô
OAG - mọc với sự hỗ trợ của ôxít
OASiNW - dây nanô silic xiên xếp thẳng hàng
PVD - lắng đọng vật lý từ pha hơi
PL - quang huỳnh quang
PQ - paraquat
QCE - hiệu ứng giam giữ lượng tử
QCLC - giam giữ lượng tử - tâm phát quang
RIE - ăn mòn ion phản ứng
SEM - kính hiển vi điện tử quét
SERS - tán xạ Raman tăng cường bề mặt
SiNW - dây nanô silic
TEM - kính hiển vi điện tử truyền qua
VASiNW - dây nanô silic thẳng đứng xếp thẳng hàng
ix
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
µm
nm - micromét, đơn vị đo độ dài (= 10-6 m) - nanomét, đơn vị đo độ dài (= 10-9 m)
- centimét, đơn vị đo độ dài
cm cm2 - centimét vuông, đơn vị đo diện tích
A
mA - ampe, đơn vị đo cường độ dòng điện - mili ampe, đơn vị đo cường độ dòng điện (=m10-3 A)
- mức năng lượng cực tiểu vùng dẫn Ec
- mức năng lượng fecmi EF
- độ rộng vùng cấm Eg
eV - electron vôn, đơn vị đo năng lượng
- mức năng lượng cực đại vùng hóa trị
- điện tử
Ev e- h+ - lỗ trống
- mật độ dòng điện hóa J
- mật độ dòng ngưỡng xốp JPS
M
mM - mol/lít - milimol/lít (=10-3M)
ppm
µl - phần triệu - micrôlít (= 10-6 lít)
x
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Các tính chất vật lý của Si ở 300 K. Bảng 1.2. Các tính chất của bề mặt Si
6 8
Bảng 1.3. Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu về PL của vật liệu SiNW
19
Bảng 2.1. Các thông số của các hóa chất đã được sử dụng trong luận án. Bảng 2.2. Ảnh hưởng của nồng độ HF lên chiều dài, đường kính của các
48 61
SiNW phân tích từ các ảnh SEM và TEM.
Bảng 3.1. Sự mở rộng vùng cấm của nanô tinh thể Si khi kích thước của các
85
nanô tinh thể này giảm đi theo hiệu ứng giam giữ lượng tử [10, 50]. Bảng 3.2. Hàm lượng các nguyên tố O, Si, Ag (theo % nguyên tử) trên các
103
mẫu SiNW được chế tạo bằng phương pháp MACE và MAECE (với mật độ dòng 4, 6, 8 và 10 mA/cm2) và mẫu được xử lí trong dung dịch HF 5%.
115
Bảng 4.1. Các vùng đặc trưng trong phổ Raman của phân tử Sudan đỏ và các
mode dao động tương ứng
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Cấu trúc tinh thể của Si.
7
Hình 1.2. Ô đơn vị của cấu trúc tinh thể của vật liệu Si đơn tinh thể với các mặt
phẳng tinh thể khác nhau.
Hình 1.3. Các phương pháp chế tạo SiNW.
7 9
Hình 1.4. Sơ đồ mọc SiNW theo cơ chế VLS.
10
Hình 1.5. Sơ đồ khối hệ MBE(a) và CVD(b) để mọc VLS các SiNW. Hình 1.6. Sơ đồ mọc OAG các SiNW.
11 12
Hình 1.7. Sơ đồ chế tạo các SiNW bằng phương pháp MACE.
14
Hình 1.8. Ảnh hưởng của giam giữ lượng tử đến sự mở rộng của độ rộng vùng
17
cấm (Eg) thu được thông qua các tính toán DFT.
24
Hình 1.9. Ảnh hiển vi đồng tiêu điểm của các tế bào gốc phôi chuột (MES) trên
các SiNW (a); Ảnh SEM của tế bào MES trên một bề mặt mảng dây
nanô (b) và Ảnh SEM của các tế bào MES riêng rẽ trên các SiNW (c, d).
26
Hình 1.10. Phổ Raman thu được từ các đế AgNPs/SiNW được nhỏ 25 ml 10-16
M R6G (a), 10-16 M crystal violet (b), 10-14 M nicotine (c), và 10-8 mg/ml dung dịch DNA CT trong nước (d). Đường cong (a) trong
các hình (a) và (d) tương ứng là phổ Raman thu được từ bột R6G và DNA CT rắn.
29
xi
Hình 1.11. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét.
31 33
Hình 1.12. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử truyền qua. Hình 1.13. Sơ đồ nguyên lý hệ đo phổ huỳnh quang.
34
Hình 1.14. Sơ đồ nguyên lý hệ đo micro Raman.
36
Hình 2.1. Sơ đồ các phương pháp ăn mòn.
44
Hình 2.2. a) Giản đồ về mối liên hệ về năng lượng giữa các vùng trong một đế Si và các năng lượng chuẩn của các chất ôxy hóa khác nhau; b) So sánh các năng lượng biên vùng Si và thế ôxy hóa khử H2O2/H2O trên thang năng lượng điện hóa, chứng tỏ rằng lỗ trống được phun sâu vào vùng hóa trị; c) Sơ đồ so sánh định tính giữa các mức năng lượng điện tử điện hóa của các biên vùng Si (Ec và Ev tương ứng là vùng dẫn và vùng hóa trị,) và năm hệ ôxy hóa khử, AuCl4/Au, 2-/Pt, Ag+/Ag, Cu2+/Cu và Fe3+/Fe2+, trong dung dịch HF. PtCl6
45
Hình 2.3. Sơ đồ hai mô hình phổ biến nhất có thể xảy ra trong MACE. Mô hình I: các chất phản ứng và sản phẩm phụ khuếch tán dọc theo giao diện
giữa các kim loại quý và tường của cấu trúc ăn mòn. Mô hình II: Một nguyên tử Si được hòa tan vào kim loại, khuếch tán qua kim loại và sau đó bị oxy hóa trên bề mặt của kim loại.
47
Hình 2.4. Sơ đồ các quá trình xảy ra trong MACE.
Hình 2.5. Quy trình chế tạo hệ SiNW xếp thẳng hàng trên đế Si bằng phương
49
pháp MACE.
50
Hình 2.6. Ảnh SEM của đế Si (100) pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF và 5 mM AgNO3 trong 60 giây (a) sau đó ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF và 0,4 M H2O2 (b, c) trong 90 phút ở nhiệt độ phòng.
51
Hình 2.7. Ảnh SEM bề mặt của mẫu pSi (100) sau khi lắng đọng Ag trong thời gian 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và AgNO3 có nồng độ khác nhau: 3 mM (a), 5 mM (b), 15 mM (c), 25 mM (d) và 30 mM (e).
52
Hình 2.8. Ảnh SEM mặt cắt của đế Si(100) pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag trong thời gian 60 giây trong dung dịch HF/AgNO3 có nồng độ AgNO3 khác nhau: 5 mM (a), 15 mM (b) và 30 mM (c).
xii
Hình 2.9. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW đã được chế tạo với
54
bước lắng đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong trong dung dịch 4,6 M HF và nồng độ AgNO3 khác nhau: 3 mM (a, e), 5mM (b, f), 15 mM (c, g) và 25 mM (d, h).
55
Hình 2.10. Sự phụ thuộc của độ dài của các SiNW vào nồng độ của AgNO3
trong các dung dịch lắng đọng Ag.
56
Hình 2.11. Ảnh SEM mặt cắt của hệ ASiNW đã chế tạo với các bước lắng
đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và 25 mM AgNO3 (a) và ảnh phóng đại đỉnh của một số SiNW (b).
56
Hình 2.12. Ảnh TEM của một số ASiNW đã được chế tạo với các bước lắng
đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và AgNO3 có nồng độ khác nhau: 5 mM (a), 15 mM (b), và 25 mM (c).
57
Hình 2.13. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW chế tạo trên đế Si (100) pha tạp loại
p (a và c) và loại n (b và d) ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong thời gian 90 phút sau khi lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/10 mM AgNO3.
58
Hình 2.14. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW chế tạo trên đế Si (111) pha tạp loại p (a) và loại n (b) ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong thời gian 30 phút sau khi tráng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/10 mM AgNO3.
59
Hình 2.15. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu Si(100) được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/15 mM AgNO3 sau đó ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong: 30 (a), 60 (b), 90 (c), 120 (d), 150 (e) và 180 phút (f) ở nhiệt độ phòng.
60
Hình 2.16. Ảnh SEM bề mặt và ảnh TEM tương ứng của các mẫu ASiNW được ăn mòn trong thời gian 60 (a, b) và 120 phút (c, d), các điều
kiện chế tạo khác như nhau.
61
Hình 2.17. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu ASiNW ăn mòn trong dung dịch HF/H2O2 với nồng độ HF khác nhau: 3 M (a), 4.8 M (b), 6 M (c) và 7 M (d), các điều kiện chế tạo khác như nhau.
62
Hình 2.18. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các đế Si (100) có bao phủ Ag sau khi được ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF và AgNO3 có nống độ khác nhau: 0,2 M (a, d), 0,4 M (b, e) và 0,6 M (c, f), các điều kiện
khác giống như nhau.
63
xiii
Hình 2.19. Ảnh SEM của các mấu Si (111) có bao phủ Ag sau khi được ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF và H2O2 có nồng độ khác nhau: 0,4 M (a, d), 0,8 M (b, e) và 1,2 M (c, f), các điều kiện chế tạo khác như
nhau.
Hình 2.20. Mô phỏng các bước trong quá trình ăn mòn anốt Si theo cơ chế trực
tiếp trong dung dịch nước của HF.
67
Hình 2.21. Mô phỏng bước ôxy hóa trong quá trình ăn mòn anốt Si theo cơ chế
69
gián tiếp trong dung dịch nước của HF.
Hình 2.22. Sơ đồ hệ điện hóa để ăn mòn đế Si có bao phủ Ag (a) và ảnh chụp
hệ điện hóa đã sử dụng trên thực tế (b).
71
Hình 2.23. Quy trình chế tạo hệ SiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE.
71
72
74
Hình 2.24. Ảnh SEM bề mặt (a) và mặt cắt (b) của đế Si (100) pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/15 mM AgNO3 trong 60 giây (a) sau đó ăn mòn điện hóa trong dung dịch 10% HF, mật độ dòng 4 mA/cm2 trong 30 phút ở nhiệt độ phòng. Hình 2.25. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW đã được ăn mòn MAECE với bước lắng đọng bạc được thực hiện bằng cách nhúng
các mẫu trong 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và nồng độ AgNO3 khác nhau: 15 mM (a, e), 20 mM (b, f), 25 mM (c, g) và 40 mM (d, h).
75
Hình 2.26. Ảnh TEM của một số SiNW của các mẫu đã được ăn mòn MAECE
76
với bước lắng đọng Ag được thực hiện trong dung dịch có nồng độ AgNO3 khác nhau: 25 mM (a), 30 mM (b), và 40 mM (c). Hình 2.27. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW trên đế Si được chế tạo bằng phương pháp MAECE với mật độ dòng ăn mòn khác nhau: 4 mA/cm2 (a, e), 6 mA/cm2 (b, f), 8 mA/cm2 (c, g) và 10 mA/cm2 (d, h), các điều kiện chế tạo khác như nhau.
77
Hình 2.28. Sự chuyển đổi hình thái bề mặt của mẫu Si được ăn mòn MAECE với mật độ dòng điện hóa khác nhau: 10 mA/cm2 (a) và 15 mA/cm2(b).
79
Hình 2.29. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu Si(100) được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/25 mM AgNO3 sau đó ăn mòn điện hóa trong 10% HF với mật độ dòng 6 mA/cm2 trong thời gian: 10 phút (a), 20 phút (b), 30 phút (c) và 40 phút (d) ở nhiệt độ phòng.
xiv
Hình 3.1. Sự phát quang vùng – vùng trong bán dẫn.
82
Hình 3.2. Chuyển mức phát xạ vùng – vùng trong bán dẫn vùng cấm thẳng (a)
82
và bán dẫn vùng cấm xiên (b).
Hình 3.3. Sơ đồ minh họa hiệu ứng giam giữ lượng tử trong cấu trúc vùng năng
84
lượng.
Hình 3.4. Sự dịch xanh trong vùng nhìn thấy của phổ huỳnh quang của các
mẫu PSi theo độ xốp.
86
Hình 3.5. Huỳnh quang ở nhiệt độ phòng của các mẫu PSi có độ xốp khác nhau
87
được giữ trong môi trường khí Ar (thụ động hóa bằng hyđrô, không
có ôxy)(a) và sau khi để ra ngoài không khí (b).
89
Hình 3.6. Sự phụ thuộc của các trạng thái điện tử trong SiNC vào kích thước của SiNC và thụ động hóa bề mặt. Trạng thái bắt điện tử là một
trạng thái định xứ trên nguyên tử Si của liên kết Si=O và trạng thái bắt lỗ trống là một trạng thái định xứ trên nguyên tử O của liên kết
Si=O.
90
Hình 3.7. So sánh giữa các năng lượng PL thực nghiệm và lý thuyết. Đường
cong bên trên là năng lượng vùng cấm exciton tự do và đường cong phía dưới là chuyển mức năng lượng thấp nhất khi có thêm liên kết
Si=O. Các chấm tròn màu đen và màu trắng tương ứng là các kết
quả thực nghiệm thu được đối với các mẫu PSi được thụ động hóa bề mặt bởi hyđrô và ôxy.
91
Hình 3.8. Sơ đồ năng lượng của mô hình ba vùng được đề xuất bởi Kanemitsu.
92
Hình 3.9. Quá trình phát quang theo cơ chế có liên quan đến trạng thái bề mặt.
94
Một cặp điện tử - lỗ trống có thể tái hợp vùng – vùng bên trong SiNC có vùng cấm được mở rộng (ħω0), tái hợp vùng – bề mặt (một loại hạt tải bị bắt bởi sai hỏng bề mặt) (ħω1), hoặc tái hợp bề mặt – bề mặt (cả điện tử và lỗ trống đều bị bắt bởi sai hỏng bề mặt) (ħω2). Hình 3.10. Sơ đồ minh họa sự tái hợp phát xạ của các cặp điện tử - lỗ trống để
phát ra ánh sáng trong vùng nhìn thấy thông qua các tâm phát quang định xứ trong các lớp SiO2 (trường hợp I).
95
Hình 3.11. Sơ đồ minh họa cơ chế phát PL “đỏ” từ các SiNC nằm trên mạng SiO2 vô định hình: các cặp điện tử - lỗ trống được tạo ra trong SiNC và sự tái hợp phát xạ tại các tâm phát quang (NBOHC) trong mạng SiO2 (a) và sơ đồ các sai hỏng trên bề mặt của SiNC và trong mạng SiO2 (b).
xv
Hình 3.12. Huỳnh quang của đế Si trước (1) và sau ăn mòn MACE trong 90
98
phút để tạo ASiNW (2) ở nhiệt độ phòng khi kích thích dưới ánh
100
sáng của laser He-Cd với bước sóng kích thích 325 nm. Hình 3.13. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp
MACE (1) và MAECE (2) ở nhiệt độ phòng.
101
Hình 3.14. Sự phát quang của các mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MACE (a) và MEACE (b) khi được chiếu dưới ánh sáng của
đèn tử ngoại.
102
Hình 3.15. Ảnh SEM và TEM tương ứng của các mẫu ASiNW chế tạo bằng
phương pháp MACE (a, b) và MAECE (c, d).
105
Hình 3.16. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo trên đế Si bằng phương pháp MAECE với mật độ dòng 6 mA/cm2 (1) trước và (2) sau khi xử lí trong dung dịch HF.
106
Hình 3.17. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo trên đế Si bằng
phương pháp MAECE trong 30 phút ở nhiệt độ phòng với mật độ dòng điện hóa thay đổi: (1) 4 mA/cm2, (2) 6 mA/cm2, (3) 8 mA/cm2 và (4) 10 mA/cm2.
112
Hình 4.1. Sơ đồ biểu diễn tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh: (a) sơ đồ năng
lượng của các quá trình tán xạ; (b) Phổ tán xạ Raman và tán xạ
Rayleigh.
111
113
Hình 4.2. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O. Hình 4.3. Ba mode dao động của H2O và sự thay đổi kích thước (a), hình dạng (b) và định hướng (c) của các ellipsoid phân cực của các phân tử
nước. Các cột ở giữa cho thấy ellipsoid phân cực ở vị trí cân bằng của phân tử, còn các cột bên trái và bên phải hiện thị ellipsoid phân
cực ở các vị trí biên của các dao động.
114 116
Hình 4.4. Phổ Raman của bột Sudan đỏ. Hình 4.5. Sơ đồ minh họa hiệu ứng SERS. Phân tử (màu xanh) được hấp phụ
trên các hạt nanô kim loại (màu cam), khi chiếu ánh sáng vào hệ
này, cường độ tán xạ Raman của phân tử tăng lên nhiều lần . Phổ minh họa là phổ SERS của 10-9 mol/L adenine hấp thụ trên các đám nanô bạc.
118
Hình 4.6. Sơ đồ minh họa cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR) với các
điện tử dẫn tự do trong các hạt nanô kim loại được định hướng theo dao động do sự kết nối mạnh với ánh sáng tới.
xvi
Hình 4.7. Sơ đồ giải thích cơ chế tăng cường EM trong SERS.
119
Hình 4.8. Sơ đồ biểu diễn cơ chế chuyển điện tích trong SERS.
122
Hình 4.9. Ảnh TEM của VASiNW trước (a) và sau khi lắng đọng các AgNP
(b).
132
133
Hình 4.10. Phổ Raman của dung dịch MG nồng độ 10-5M được nhỏ lên trên các loại đế khác nhau: (a) AgNPs/VASiNWs; (b) AgNPs/PSi; (c) AgNPs/Si và (d) VASiNW không lắng đọng AgNP.
134
Hình 4.11. Phổ Raman của dung dịch có chứa MG với nồng độ khác nhau: (a)
lên
trên các đế
10-5, (b) 10-6, và (c) 10-7 M được nhỏ AgNPs/VASiNW giống hệt nhau.
135
136
Hình 4.12. Ảnh TEM của các VASiNW sau khi được lắng đọng AgNP trong dung dịch HF/AgNO3 với nồng độ AgNO3 khác nhau: 0,1 mM (a), 0,3 mM (b) và 0,4 mM (c), các điều kiện khác như nhau. Hình 4.13. Phổ Raman của dung dịch 10-7 M MG trong nước được nhỏ lên trên các đế VASiNW được lắng đọng AgNP trong các dung dịch có nồng độ AgNO3 khác nhau: (a) 0,1 mM, (b) 0,3 mM, và (c) 0,4 mM.
137
Hình 4.14. Ảnh TEM của các VASiNW sau khi được lắng đọng AgNP trong dung dịch 0,1 M HF và 0,3 mM AgNO3 trong 10 phút (a), 15 phút (b) và 17 phút (c), các điều kiện khác như nhau.
137
Hình 4.15. Phổ Raman của dung dịch 10-8 M MG trong nước được nhỏ lên trên các đế VASiNW được lắng đọng AgNP trong dung dịch 0,1 M HF và 0,3 mM AgNO3 trong 10 phút (a), 15 phút (b).
139
Hình 4.16. Phổ Raman của dung dịch MG nồng độ 10-13 M được nhỏ lên trên đế AgNPs/VASiNW phủ (a) và phổ Raman của dung dịch MG 1 M được nhỏ lên trên đế VASiNW (b).
140
Hình 4.17. Ảnh SEM bề mặt (a) và mặt cắt (b) của các hệ OASiNW được sử dụng làm các đế SERS; Ảnh TEM của SiNW trước (c) và sau khi
thực hiện bước lắng đọng Ag (d).
141
Hình 4.18. Phổ Raman của dung dịch chứa: (a) 10-10, (b) 10-11, (c) 10-13, (d) 10-
14 và (e) 10-15 M MG được nhỏ lên trên các đế AgNPs/OASiNW.
142
Hình 4.19. Ảnh TEM của OASiNW (a) và VASiNW (b) sau khi được lắng
đọng các AgNP cùng một lúc trong cùng điều kiện như nhau.
143
Hình 4.20. Phổ Raman của dung dịch chứa 10-10 M MG được nhỏ lên trên các đế AgNPs/OASiNW được chế tạo tại các thời điểm khác nhau với
các điều kiện chế tạo giống hệt nhau.
xvii
Hình 4.21. Phổ Raman của dung dịch paraquat với các nồng độ khác nhau: (a)
145
50, (b) 10, và (c) 5 ppm được nhỏ lên trên các đế AgNPs/OASiNW.
1
Mở đầu
Trong vài thập niên gần đây, khoa học và công nghệ nanô là lĩnh vực được
các nhà khoa học ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt quan tâm. Nhiều thành tựu của
khoa học và công nghệ nanô đã nhanh chóng được ứng dụng để sản xuất ra các sản
phẩm mới, đem lại lợi ích kinh tế to lớn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
con người. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ chế tạo vật liệu bán
dẫn đã làm thay đổi cuộc sống của con người một cách mạnh mẽ, gần như trong tất
cả phương tiện và công cụ phục vụ cho cuộc sống của con người đều có mặt vật liệu
bán dẫn. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nanô thì tầm quan trọng của vật
liệu bán dẫn ngày càng trở nên lớn hơn.
Trong công nghệ chế tạo vật liệu bán dẫn thì công nghệ chế tạo vật liệu silic
(Si) đã phát triển gần như hoàn hảo. Hiện nay hầu hết các linh kiện bán dẫn đều
được sản xuất từ Si. Vì vậy, các vật liệu Si có cấu trúc nanô đặc biệt là vật liệu dây
nanô Si (silicon nanowire – SiNW) trở nên có vai trò vô cùng quan trọng trong
ngành công nghiệp bán dẫn. Vật liệu SiNW thuộc nhóm vật liệu nanô một chiều
(1D) với diện tích bề mặt hiệu dụng cao, trong đó các hạt tải bị giới hạn trong hai
chiều và tự do trong chiều còn lại. Sự thu nhỏ về kích thước của vật liệu SiNW so
với vật liệu khối làm cho các tính chất điện, quang và nhiệt của SiNW có nhiều
điểm khác biệt và nổi trội hơn hẳn so với vật liệu khối.
Các hệ SiNW xếp thẳng hàng (aligned SiNW - ASiNW) là các hệ SiNW có
trật tự, xếp thành hàng lối với nhau. Sự sắp xếp có trật tự của các SiNW không chỉ
làm tăng độ ổn định, sự lặp lại trong các lần chế tạo mà còn giúp cho các tính chất
của các hệ ASiNW sẽ có nhiều điểm ưu việt và độc đáo hơn so với các hệ SiNW
mất trật tự. Nhờ có những tính chất này nên các hệ ASiNW trở thành ứng cử viên
đầy hứa hẹn cho các ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như trong các thiết
bị điện tử tiên tiến, cảm biến y sinh, thiết bị quang điện tử, và pin mặt trời.
Một trong những ứng dụng khá thú vị của các hệ ASiNW là tán xạ Raman
tăng cường bề mặt (Surface-Enhanced Raman Scattering – SERS). SERS là sự tăng
2
cường tín hiệu Raman của các phân tử đang là đối tượng phân tích lên nhiều lần khi
chúng được cho nằm gần một bề mặt kim loại gồ ghề hoặc bề mặt các hạt nanô kim
loại. Đây là một kỹ thuật phân tích được phát triển để phát hiện một lượng rất nhỏ
của các phân tử hữu cơ bằng cách xác định tín hiệu Raman đặc trưng của chúng và
đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như hóa học, sinh học, y
học, …
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về chế tạo SiNW và các tính chất của
chúng. Tuy nhiên, đây là các nghiên cứu về SiNW mất trật tự và cho đến nay vẫn
chưa có công trình nào về chế tạo, nghiên cứu các tính chất cũng như ứng dụng của
các hệ SiNW có trật tự, xếp thẳng hàng trên đế Si. Chính vì vậy nên chúng tôi quyết
định chọn vật liệu này làm đối tượng nghiên cứu trong công trình của mình.
Với mục đích tìm hiểu và nghiên cứu về vật liệu ASiNW cũng như tính chất
quang và ứng dụng của vật liệu này nên tôi đã chọn đề tài “Chế tạo, nghiên cứu
tính chất quang và định hướng ứng dụng trong tán xạ Raman tăng cường bề
mặt của các hệ dây nanô silic xếp thẳng hàng” là đề tài nghiên cứu của tôi.
Trong bản luận án này, trước hết chúng tôi nghiên cứu chế tạo các hệ
ASiNW trên đế Si bằng phương pháp ăn mòn hóa học có sự trợ giúp của kim loại
(metal-assisted chemical etching – MACE) và phương pháp ăn mòn điện hóa có sự
trợ giúp của kim loại (metal-assisted electrochemical etching – MAECE). Đây là
các công nghệ đã được sử dụng rất thành công để tạo các cấu trúc nanô Si nói chung
và các hệ ASiNW nói riêng trên các đế Si. Hai phương pháp này khá đơn giản, phù
hợp với điều kiện nghiên cứu của Việt Nam nói chung và của nhóm nghiên cứu của
chúng tôi nói riêng nhưng vẫn tạo ra được các hệ ASiNW có chất lượng tốt, đồng
đều với khả năng kiểm soát khá tốt các thông số cấu trúc khác nhau của các hệ
ASiNW chế tạo được.
Sau khi chế tạo, các phương pháp phân tích hình thái (ví dụ chụp ảnh SEM,
TEM,…), các phương pháp phân tích thành phần nguyên tố và cấu trúc (ví dụ EDX,
HRTEM…) được sử dụng để nghiên cứu hình thái và cấu trúc của các hệ ASiNW
chế tạo được. Tính chất huỳnh quang của các hệ ASiNW sẽ được khảo sát và
3
nghiên cứu bằng phép đo phổ huỳnh quang. Bên cạnh các phép đo đạc thực nghiệm,
các lý thuyết, các mô hình sẵn có, các tài liệu tham khảo… cũng được sử dụng để
giải thích các kết quả thực nghiệm về cơ chế ăn mòn tạo các hệ ASiNW; cấu trúc và
hình thái của các hệ ASiNW; nguồn gốc, cơ chế và các đặc điểm phát huỳnh quang
của các hệ ASiNW… Các đề xuất mới cũng sẽ được đưa ra để giải thích kết quả
thực nghiệm trong những trường hợp cần thiết. Cuối cùng, phương pháp tán xạ
Raman được chúng tôi sử dụng để nghiên cứu ứng dụng của hệ ASiNW trong hiệu
ứng SERS để phát hiện lượng vết của các phân tử hữu cơ độc hại có nồng độ thấp.
Mục đích của đề tài là nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng hai
phương pháp là MACE và MAECE. Sau đó nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số
chế tạo lên hình thái, cấu trúc của các hệ ASiNW. Tính chất huỳnh quang của các
hệ ASiNW chế tạo cũng sẽ được nghiên cứu trong đó nguồn gốc, cơ chế phát huỳnh
quang cũng như cơ chế ảnh hưởng của các thông số chế tạo lên tính chất huỳnh
quang của các hệ này sẽ được thảo luận. Cuối cùng chúng tôi sẽ nghiên cứu sử dụng
các hệ ASiNW cho việc chế tạo đế SERS để phát hiện các phân tử hữu cơ độc hại
có nồng độ thấp.
Bố cục của bản luận án bao gồm các phần như sau:
Mở đầu: Trình bày lý do lựa chọn đề tài, phương pháp và mục đích nghiên cứu.
Chương 1: Tổng quan về vật liệu dây nanô silic
Chương 1 trình bày tổng quan về các phương pháp chế tạo, tính chất cũng
như các ứng dụng của vật liệu SiNW. Các quy trình, những ưu điểm cũng như hạn
chế của các phương pháp chế tạo các hệ SiNW sẽ được trình bày khái quát trong
chương này từ đó định hướng nghiên cứu công nghệ chế tạo sẽ sử dụng trong luận
án. Các tính chất của các hệ SiNW đã được báo cáo bởi các nhóm nghiên cứu trên
thế giới sẽ được tổng kết để thấy được các vấn để còn hạn chế và cần phải giải
quyết trong luận án này. Các ứng dụng nổi bật của các hệ SiNW cũng được liệt kê
trong chương này. Phần cuối cùng của chương trình bày về các phương pháp khảo
sát hình thái, cấu trúc, tính chất và ứng dụng của các hệ ASiNW mà chúng tôi sử
dụng trong luận án.
4
Chương 2: Nghiên cứu chế tạo các hệ dây nanô silic xếp thẳng hàng bằng phương
pháp ăn mòn hóa học và ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại
Chương 2 trình bày về hai phương pháp MACE và MAECE được sử dụng để
chế tạo các hệ SiNW trong đó các cơ chế ăn mòn và các phản ứng xảy ra trong quá
trình ăn mòn sẽ được đi sâu trình bày. Dựa trên tổng quan về lý thuyết chúng tôi sẽ
xây dựng quy trình chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng hai phương pháp trên.
Nội dung chính mà chương này sẽ tập trung trình bày là các kết quả thực
nghiệm của chúng tôi về chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng hai phương pháp
MACE và MAECE. Trong phần này hình thái cấu trúc của các hệ ASiNW chế tạo
được và ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo, vật liệu ban đầu lên quá trình ăn mòn
và cấu trúc các hệ ASiNW sẽ được trình bày một cách có hệ thống và được thảo
luận chi tiết.
Chương 3: Nghiên cứu tính chất huỳnh quang của hệ dây nanô silic xếp thẳng
hàng
Trong chương này trước tiên chúng tôi trình bày các kết quả thu được về
huỳnh quang và ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo lên huỳnh quang của các hệ
ASiNW chế tạo được. Tiếp theo, chúng tôi sẽ thảo luận về nguồn gốc và cơ chế
phát huỳnh quang của các hệ ASiNW và sẽ đi sâu thảo luận về sự tăng cường huỳnh
quang và sự phát quang mạnh của các hệ ASiNW chế tạo bằng phương pháp
MAECE.
Chương 4: Ứng dụng hệ dây nanô silic xếp thẳng hàng trong tán xạ Raman tăng
cường bề mặt
Đầu tiên chúng tôi trình bày tổng quan về hiệu ứng SERS trong đó các cơ
chế tăng cường SERS, các loại đế SERS, hệ số tăng cường tán xạ Raman trong hiệu
ứng SERS,… cũng sẽ được trình bày một cách tổng quát. Tiếp theo, chúng tôi đưa
ra quy trình chế tạo đế SERS sử dụng đế ASiNW mà chúng tôi đã chế tạo được và
sau đó chúng tôi sẽ sử dụng các đế này để làm các đế SERS dùng để phát hiện chất
5
nhuộm màu malachit green và thuốc diệt cỏ paraquat. Các kết quả thu được cũng
như các thảo luận về các kết quả này sẽ được trình bày chi tiết trong chương này.
Kết luận: Trình bày các kết luận rút ra từ các kết quả nghiên cứu.
6
Chương 1
Tổng quan về vật liệu dây nanô silic
1.1. Sơ lược về vật liệu silic khối
Si là nguyên tố phổ biến thứ hai trong vỏ trái đất (chiếm khoảng 28% sau
ôxy), tồn tại trong tự nhiên dưới dạng các ôxít (silica) và silicat. Si là nguyên tố thứ
hai của nhóm IV trong bảng tuần hoàn với số nguyên tử là 14 và nguyên tử khối
tương đối là 28,08 g/mol. Si có nhiều tính chất tốt và có giá trị như độ bền cơ học
và độ dẫn nhiệt cao, thân thiện với môi trường và có thể dễ dàng thay đổi tính chất
điện bằng cách pha thêm một số tạp chất vào nó. Si là một nguyên tố tương đối trơ,
phần lớn axít (trừ tổ hợp của axít nitric (HNO3) và axít flohiđríc (HF)) đều không
tác dụng với nó. Một số tính chất vật lý khác của Si được liệt kê trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Các tính chất vật lý của Si ở 300 K [55].
Tính chất
Nguyên tử số
14
Nguyên tử khối Khối lượng riêng Cấu trúc tinh thể
Hằng số mạng
Hằng số điện môi Hệ số khuếch tán
Điện tử Lỗ trống Vùng cấm tại 300K
Điện trở suất nội
Nhiệt độ nóng chảy
Điểm sôi Độ dẫn nhiệt
28,09 g/mol 2,328 g/cm3 Kim cương 5,43 Å 11,9 34,6 cm2s-1 12,3 cm2s-1 1,12 eV 2,3 x 105 Ωcm 1414 oC 2900 °C 148 Wm-1K-1
Ở nhiệt độ phòng Si tồn tại dưới hai dạng: tinh thể (màu xám ánh kim) và vô
định hình (bột màu nâu). Vật liệu Si đơn tinh thể (c-Si) có cấu trúc tinh thể có dạng
7
kim cương với hằng số mạng a = 5,43 Å, trong đó, mỗi nguyên tử Si nằm ở tâm của
một hình tứ diện (có bốn mặt đều là tam giác) và được bao quanh bới bốn nguyên tử
Si nằm trên đỉnh của tứ diện này (hình 1.1).
Hình 1.1. Cấu trúc tinh thể của Si.
Các c-Si thường được cắt thành các tấm (wafer) với các định hướng bề mặt
khác nhau như (111), (100) và (110). Hình 1.2 minh họa một ô đơn vị của cấu trúc
tinh thể lập phương tâm mặt với các mặt phẳng tinh thể khác nhau và sự sắp xếp của
các nguyên tử trong một ô đơn vị.
Hình 1.2. Ô đơn vị của cấu trúc tinh thể của vật liệu Si đơn tinh thể với các mặt
phẳng tinh thể khác nhau.
8
Các tính chất bề mặt của c-Si phụ thuộc vào định hướng của tinh thể. Bảng
1.2 liệt kê các tính chất bề mặt của Si trong ba mặt phẳng tinh thể chính. Mặt phẳng
(111) có mật độ nguyên tử cao nhất và năng lượng bề mặt thấp nhất, trong khi mặt
phẳng (100) có mật độ nguyên tử thấp nhất và năng lượng bề mặt cao nhất. Các mặt
phẳng (100) cũng có mật độ liên kết bề mặt cao nhất mặc dù nó có mật độ nguyên
tử thấp nhất [55].
Bảng 1.2. Các tính chất của bề mặt Si [55].
(100)
(110)
(111)
6,78
15,66
9,59
Mật độ nguyên tử, 1014/cm2
5,43
3,13
3,84
Khoảng cách, Å
2,13
1,23
1,51
Năng lượng bề mặt, J/cm2
Các vật liệu Si được sử dụng trong ngành công nghiệp điện tử thường được
pha tạp để tăng tính dẫn. Các tạp donor của Si thường là P, As, Sb và các tạp
acceptor thường là B, Al và Ga. Đây là các tạp chất thay thế với các mức iôn hóa
nằm trong khoảng 0,04 đến 0,07eV tương ứng so với các vùng dẫn và vùng hóa trị
của Si. Các thiết bị được làm từ c-Si bao gồm các mạch tích hợp, các tranzito, điốt,
các thiết bị quang điện và các pin mặt trời.
Si vô định hình (a-Si) là một vật liệu giống như thủy tinh với cấu trúc không
có trật tự xa và định hướng một cách ngẫu nhiên. Do định hướng ngẫu nhiên của vật
liệu, hệ số hấp thụ ánh sáng của a-Si thường cao hơn so với của c-Si. Điều này cho
phép các thiết bị màng mỏng được chế tạo từ a-Si có thể hấp thụ một lượng ánh
sáng tương tự các màng c-Si dày hơn nhiều. Do đó, chế tạo các thiết bị màng mỏng,
đặc biệt là chế tạo các pin năng lượng mặt trời màng mỏng giá rẻ là một trong
những ứng dụng chính của vật liệu a-Si.
1.2. Các phương pháp chế tạo vật liệu dây nanô Si
Các phương pháp chế tạo SiNW hiện cũng đang trở thành một vấn đề nghiên
cứu thu hút và ngày càng phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, rất nhiều các công
9
trình nghiên cứu đã tập trung vào việc chế tạo SiNW với các thông số cấu trúc có
thể kiểm soát được. Nói chung, có hai cách tiếp cận riêng biệt để tạo ra SiNW: cách
tiếp cận từ trên xuống (top-down) và cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-up). Hình
1.3 tổng hợp các phương pháp chế tạo các SiNW theo hai cách tiếp cận này.
Hình 1.3. Các phương pháp chế tạo SiNW.
1.2.1. Cách tiếp cận từ dưới lên
Cách tiếp cận từ dưới lên hướng vào việc chế tạo các dây nanô (nanowire –
NW) từ các nguyên tử thành phần. Theo cách tiếp cận này, các thành phần nanô
được tạo thành từ tiền chất ở các pha lỏng, pha rắn hoặc pha khí thông quá các quá
trình lắng đọng hóa học hoặc vật lý để tạo nên các cấu trúc lớn hơn. Cách tiếp cận
này có lợi thế là có thể tạo ra được nhiều loại cấu trúc khác nhau với một số lượng
lớn và có thể tạo ra được các SiNW với kích thước rất nhỏ. Hạn chế của các phương
pháp theo cách tiếp cận này là cần phải có các thiết bị đắt tiền. Hơn thế nữa các khí
tiền chất cho quá trình mọc vật liệu thường là các khí có độ độc hại và khả năng
cháy nổ cao. Các phương pháp chế tạo điển hình dựa trên cách tiếp cận này là mọc
10
pha hơi–lỏng–rắn (Vapor–liquid–solid – VLS)), mọc với sự hỗ trợ của ôxít (Oxide-
Assisted Growth – OAG), mọc trên cơ sở dung dịch, …
1.2.1.1. Cơ chế hơi – lỏng – rắn
Trong cơ chế VLS, các NW được hình thành với sự hỗ trợ của kim loại xúc
tác. Cơ chế này đã được đề xuất lần đầu tiên bởi Wagner và Ellis [144] vào giữa
những năm 1960 để chế tạo ra các sợi Si và gần đây nó được phát triển để chế tạo
các NW. Cơ chế này có thể được chia thành 4 bước chính: 1) Hình thành giọt kim
loại lỏng có kích thước nanô, 2) tạo hợp kim, 3) tạo mầm, và 4) mọc các NW. Sơ đồ
mọc VLS các SiNW được trình bày trên hình 1.4.
Hình 1.4. Sơ đồ mọc SiNW theo cơ chế VLS.
Đầu tiên, kim loại sẽ được lắng đọng trên bề mặt của một đế sạch (thường là
các đế bán dẫn, sapphire hoặc kính) để xúc tác cho quá trình mọc các NW. Các đế
này sẽ được đặt trong một buồng phản ứng và được nung cho đến khi các cụm kim
loại nóng chảy và tạo thành các giọt lỏng. Tiếp theo, một loại khí có chứa vật liệu
cần mọc được thổi qua buồng phản ứng. Vì bề mặt của giọt chất lỏng có hệ số bám
dính lớn hơn nhiều so với bề mặt của đế, các nguyên tử tiền chất sẽ bị hấp thụ vào
chất lỏng và tạo thành một hợp kim. Sự hấp thụ liên tiếp của các nguyên tử tiền chất
vào trong giọt chất lỏng dẫn đến sự quá bão hòa của các thành phần bán dẫn. Kết
quả là sự mọc mầm tinh thể sẽ xảy ra tại giao diện rắn–lỏng của khối kết tủa và sự
mọc NW bắt đầu xảy ra. Đường kính NW được xác định bởi kích thước của giọt
chất lỏng còn chiều dài của NW sẽ phụ thuộc vào thời gian mọc. Vì cơ chế này bao
11
gồm pha hơi (của vật liệu cần mọc), pha lỏng (hợp kim), và pha rắn (các NW) nên
nó được gọi là cơ chế mọc hơi−lỏng−rắn.
Vàng (Au) là kim loại được sử dụng nhiều nhất để làm xúc tác trong quá
trình mọc SiNW bằng phương pháp VLS [71, 144, 173]. Ngoài ra, một số kim loại
khác như Ag, Al, Cu , Fe , ... cũng được sử dụng trong quá trình mọc VLS các
SiNW [173].
Hình 1.5. Sơ đồ khối hệ MBE(a) và CVD(b) để mọc VLS các SiNW.
Cơ chế VLS sử dụng nhiệt độ cao để có thể tạo ra hợp kim lỏng của kim loại
xúc tác và vật liệu cần mọc, vì vậy, các kỹ thuật hoạt động ở nhiệt độ cao như lắng
đọng vật lý từ pha hơi (physical vapor deposition – PVD) và lắng đọng hóa học từ
pha hơi (chemical vapor deposition – CVD) thường được kết hợp sử dụng. Kỹ thuật
điển hình của PVD thường được sử dụng cho quá trình mọc VLS các SiNW là
epitaxy chùm phân tử (MBE). Sơ đồ của một hệ MBE được thể hiện trong hình
1.5(a) trong đó một vài nguyên tử được bốc bay từ nồi nung Si lên trên bề mặt được
nung nóng của đế Si được bao phủ bởi các hạt Au.
Để mọc SiNW bằng kỹ thuật CVD, một đế Si với những giọt Au trên bề mặt được đưa vào một buồng phản ứng với chân không khoảng 10-8 - 10-4 Torr. Mẫu
được nung đến nhiệt độ mọc và khí mang được đưa vào buồng (H2, Ar hoặc N2).
Sau đó, một nguồn khí tiền chất chứa các thành phần hóa học được lắng đọng lên
trên mẫu được đưa vào buồng. Kỹ thuật này được mô tả trong hình 1.5(b).
12
Tóm lại, mặc dù nhiệt độ tổng hợp có thể khác nhau với các kim loại xúc tác
khác nhau, những đặc điểm quan trọng của các SiNW được mọc theo cơ chế VLS là
[173]:
a) Có một hạt kim loại trên đỉnh của mỗi SiNW. Đây là đặc trưng điển hình của
các NW mọc theo cơ chế VLS.
b) Kích thước và phân bố của các hạt kim loại xúc tác có ảnh hưởng quyết định
đến đường kính và phân bố của các SiNW.
c) Hướng mọc chủ yếu của các SiNW là hướng 〈111〉.
d) Có một lớp SiOx vô định hình bao phủ bên ngoài các NW còn lõi bên trong
là Si đơn tinh thể. Lớp SiOx này được tạo ra do quá trình ôxy hóa bề mặt.
1.2.1.2. Mọc với sự hỗ trợ của ôxít
Hình 1.6. Sơ đồ mọc OAG các SiNW.
Phương pháp OAG về cơ bản là một kỹ thuật bay hơi nhiệt. Như được chỉ ra
trong hình 1.6, trong một quy trình OAG điển hình SiO bị thăng hoa khi được nung nóng lên đến nhiệt độ 1100-1400oC và tạo ra hỗn hợp Si và SiO2 ở pha khí [173].
Các nguyên tử Si va chạm với khí mang được làm mát tạo thành các cụm Si, sau đó
tạo thành nhân và mọc thành các SiNW.
Phương pháp OAG có một số đặc điểm độc đáo so với cơ chế VLS như sau:
a) Không cần có sự xúc tác của kim loại.
b) Có thể sản xuất được SiNW với số lượng lớn bằng cách sử dụng hệ bốc bay
nhiệt đơn giản từ bột SiO sẵn có.
13
c) Có thể chế tạo được các SiNW với đường kính nhỏ đến 1 nm.
d) Có thể tạo ra được các vật liệu với nhiều dạng hình thái cấu trúc khác nhau
như dây, thanh, chuỗi,....
Nhược điểm chính của phương pháp này là rất khó kiểm soát được đường
kính của các NW một cách chính xác.
1.2.1.3. Tổng hợp trên cơ sở dung dịch
Các kỹ thuật tổng hợp trên cơ sở dung dịch là những sự lựa chọn tốt đối với
việc chế tạo các SiNW với năng suất cao. Một phương pháp tận dụng các dòng chất
lỏng hữu cơ siêu tới hạn áp suất cao được làm giàu với một tiền chất Si lỏng, chẳng
hạn như diphenylsilane (C12H12Si), và các hạt kim loại xúc tác (Au) để mọc các
SiNW và được gọi là phương pháp chất lỏng siêu tới hạn−lỏng−rắn (supercritical
fluid−liquid−solid – SFLS). Tại các nhiệt độ phản ứng trên nhiệt độ eutectic của
hợp chất kim loại-Si, tiền chất Si bị phân hủy và Si sẽ tạo thành một hợp kim với
Au. Tương tự như cơ chế VLS, giọt hợp kim này sẽ bắt đầu kết tủa tạo thành một
SiNW khi hợp kim trở nên quá bão hòa Si. Các NW được chế tạo bằng phương
pháp này có đường kính nhỏ nhất là 5 nm và dài một vài micrômét [173].
Một phương pháp chế tạo SiNW năng suất cao khác là phương pháp mọc
dung dịch−lỏng−rắn (solution−liquid−solid – SLS). Trong phương pháp này, môi
trường mọc không phải là một chất lỏng siêu tới hạn mà là một dung môi hữu cơ ở
áp suất khí quyển. Phương pháp này cho phép chế tạo các SiNW với đường kính 25
nm và dài cỡ micrô mét [173].
1.2.2. Cách tiếp cận từ trên xuống
Cách tiếp cận từ trên xuống hướng vào việc chế tạo các SiNW từ đế đơn tinh
thể hoặc màng mỏng Si chất lượng cao. Về cơ bản, các phương pháp theo cách tiếp
cận này thường bao gồm việc tạo mẫu các đế hoặc màng mỏng và sau đó là ăn mòn.
Các đế Si thường được tạo mẫu bằng các phương pháp quang khắc hoặc bằng các
hạt nanô hình cầu. Phương pháp này khá đơn giản, không cần các thiết bị đắt tiền
hơn nữa có thể tạo ra được các hệ SiNW đồng nhất với cấu trúc có thể điều khiển
14
được. Tuy nhiên đường kính của các SiNW chế tạo bằng phương pháp này thường
khá lớn (cỡ vài chục đến vài trăm nanô mét) và do đó để có thể tạo được các NW có
đường kính nhỏ phải kết hợp với một kỹ thuật tạo mẫu chính xác. Các phương pháp
điển hình của cách tiếp cận từ trên xuống là MACE, MAECE,….
1.2.2.1. Phương pháp ăn mòn hóa học có sự trợ giúp của kim loại
MACE là một phương pháp được sử dụng để chế tạo các hệ SiNW đang thu
hút được nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây. Phương pháp này lần đầu tiên
được nghiên cứu cụ thể bởi Li và Bohn [178], khi họ đã phát hiện ra rằng một lớp
mỏng kim loại quý (ví dụ, Au, Pt, hoặc hợp kim Au/Pd) được phún xạ trên bề mặt
của một đế Si sẽ xúc tác cho sự ăn mòn Si trong dung dịch chứa HF, H2O2 và
ethanol để hình thành các lỗ xốp thẳng hoặc cấu trúc cột trên bề mặt đế Si. Trong
phương pháp này, đế Si được bao phủ một phần bởi kim loại quý sẽ được ăn mòn
trong dung dịch bao gồm axít HF và một chất ôxy hóa. Thông thường, vùng Si dưới
kim loại sẽ được ăn mòn nhanh hơn nhiều so với những vùng không được bao phủ
kim loại. Kết quả là, các kim loại sẽ chìm dần vào bề mặt Si, tạo ra các lỗ xốp và
các NW trên bề mặt đế Si. Hình thái của các cấu trúc nanô Si chế tạo bằng phương
pháp này phụ thuộc chủ yếu vào các hình thái ban đầu của kim loại bao phủ.
Hình 1.7. Sơ đồ chế tạo các SiNW bằng phương pháp MACE.
Nói chung, phương pháp MACE bao gồm hai bước: lắng đọng các hạt kim
loại lên trên bề mặt mẫu Si và ăn mòn mẫu Si đã được bao phủ bởi các hạt kim loại
15
trong một dung dịch thích hợp để tạo ra lớp SiNW. Sơ đồ chế tạo hệ SiNW bằng
phương pháp MACE được minh họa trên hình 1.7.
Trong phương pháp MACE, Ag, Au, Pt và Pd là những kim loại quý được sử
dụng thường xuyên nhất [57, 178]. Các kim loại này có thể được lắng đọng trên bề
mặt Si bằng các phương pháp khác nhau bao gồm bốc bay nhiệt [57], phún xạ
[198], bốc bay chùm điện tử [157], lắng đọng không điện [33, 34, 94], lắng đọng
điện cực [158], lắng đọng với sự hỗ trợ của chùm iôn tập trung [146],... Phương
pháp phổ biến nhất (và dễ nhất) để lắng đọng kim loại lên trên bề mặt Si là lắng
đọng không điện với việc dùng các dung dịch muối kim loại. Có rất nhiều muối của
các kim loại khác nhau đã được sử dụng bao gồm AgNO3 [94], KAuCl4, HAuCl4
[87], K2PtCl6 hoặc H2PtCl6 [88], … Để thực hiện được bước lắng đọng các kim
loại, các đế Si thường được ngâm vào trong dung dịch bao gồm axít HF và muối
của kim loại cần lắng đọng. Theo đó, các iôn kim loại phun lỗ trống vào vùng hóa
trị của đế Si, bị khử và hình thành các hạt trên bề mặt của đế. Song song với nó, các
lỗ trống được phun vào đế Si sẽ ôxy hóa Si thành ôxít Si.
Sau khi đã được lắng đọng kim loại lên trên bề mặt, đế Si có bao phủ kim
loại sẽ được ăn mòn trong dung dịch bao gồm axít HF và một chất ôxy hóa. Nhiều
chất ôxy hóa khác nhau đã được sử dụng bao gồm: Fe(NO3)3 [94], KAuCl4, AgNO3
[87], H2O2 [33, 34, 57, 92, 146, 157], H2O [158], Na2S2O8, KMnO4, K2Cr2O7 [161],
…, trong đó H2O2 được sử dụng phổ biến nhất.
Đối với các hệ SiNW chế tạo bằng phương pháp MACE, mật độ và chiều dài
của các NW có thể điều khiển khá dễ dàng bằng cách thay đổi các điều kiện chế tạo.
Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là đường kính của các NW chế tạo được
thường khá lớn (vài chục đến vài trăm nm) và khó khăn để thay đổi được đường
kính của các NW.
1.2.2.2. Phương pháp ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại
Phương pháp MAECE là một phương pháp cải tiến dựa trên phương pháp
MACE. Tương tự như MACE, phương pháp này cũng bao gồm hai bước: lắng đọng
các hạt kim loại lên trên bề mặt mẫu Si, và bước thứ hai là ăn mòn mẫu Si đã được
16
bao phủ bởi các hạt kim loại trong một dung dịch thích hợp để tạo ra lớp SiNW.
Tuy nhiên nếu trong phương pháp MACE, sau khi được phủ các hạt kim loại trên bề
mặt, mẫu Si sẽ được ăn mòn hóa học trong dung dịch ăn mòn mà không cần có
thêm thế áp đặt bên ngoài, thì trong MAECE, mẫu Si sẽ được ăn mòn điện hóa
trong dung dịch ăn mòn (có áp đặt dòng điện bên ngoài trong quá trình ăn mòn).
Các nghiên cứu về ăn mòn MAECE Si cho đến nay vẫn còn rất hạn chế. Hầu
hết các báo cáo về ăn mòn MAECE Si cho đến nay đều được triển khai với mục
đích nhằm tăng cường và ổn định huỳnh quang của vật liệu Si xốp [34, 192] và thay
đổi hướng ăn mòn đối với các đế Si có định hướng tinh thể khác (100) [195]. Chiều
sâu ăn mòn MAECE các đế Si thường rất ngắn (khoảng 1 – 2 µm) [195, 196] và do
đó hầu hết các nhóm đều không dùng MAECE để chế tạo SiNW.
1.3. Tính chất của vật liệu dây nanô Si
1.3.1. Ttính chất điện
Sự thu nhỏ về kích thước của vật liệu SiNW so với vật liệu Si khối làm cho
các tính chất điện và điện tử của vật liệu này phụ thuộc mạnh vào định hướng, kích
thước, hình thái học và cấu trúc bề mặt của nó. Si là chất bán dẫn có vùng cấm xiên,
do đó cần thiết phải có sự tham gia của một phonon trong quá trình chuyển đổi điện
tử bất kỳ. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là các SiNW nhỏ lại cho thấy có vùng
cấm phụ thuộc vào đường kính của NW [70, 136, 143].
Các tính toán động học phân tử đã dự đoán rằng sự chuyển đổi vùng cấm từ
xiên sang thẳng sẽ xảy ra đối với các SiNW có định hướng [111] có đường kính
trong khoảng 4,5 – 5,3 nm và đối với các SiNW định hướng [100] có đường kính
khoảng 1,4 – 2,1 nm [65]. Sự phụ thuộc của độ rộng vùng cấm vào kích thước cũng
đã được tính toán [143] bởi lý thuyết hàm mật độ (density functional theory – DFT)
trong gần đúng mật độ quỹ tích với hiệu chỉnh năng lượng 0,6 eV và cho thấy một
sự tăng đều của độ rộng vùng cấm theo sự giảm đường kính của NW (hình 1.8).
Sự phụ thuộc của vùng cấm vào kích thước của các NW đã được đề xuất bởi
Delerue và các cộng sự [16] thông qua công thức:
=
+
E
eV
17
)( E eV d
(
)
(
)
g
g
0
1,39
3, 73 ( ) d nm
, (1.1)
trong đó là vùng cấm của Si khối.
𝐸𝑔0
Hình 1.8. Ảnh hưởng của giam giữ lượng tử đến sự mở rộng của độ rộng vùng
cấm (Eg) thu được thông qua các tính toán DFT [143].
Bằng chứng thực nghiệm về sự gia tăng độ rộng vùng cấm cũng đã thu được
thông qua các phép đo quang phổ đường hầm quét trên các SiNW với đường kính
trong khoảng 1,3 – 7 nm [5] và cho thấy sự phù hợp đáng kể giữa lý thuyết và thực
nghiệm. Ngoài phụ thuộc vào kích thước của các NW, vùng cấm của các SiNW
cũng cho thấy sự phụ thuộc vào định hướng của các NW. Với cùng một đường
kính, các SiNW [100] có vùng cấm rộng nhất, trong khi các SiNW [110] lại có vùng
cấm hẹp nhất [70].
Để sản xuất linh kiện bán dẫn, các SiNW có thể được pha tạp (loại p hoặc
loại n hoặc kết hợp cả hai). Có nhiều cách khác nhau để pha tạp SiNW trong đó
cách tiếp cận mà về nguyên tắc có thể kiểm soát tốt cả loại tạp và nồng độ tạp là
trực tiếp pha tạp trong quá trình mọc NW. Điều này có thể được thực hiện bằng
hiện bằng cách đồng thời bốc bay Si và tạp chất trong quá trình mọc MBE các
SiNW [132] hay đưa đồng thời Si và các tạp chất vào dòng khí tiền chất trong các
quá trình CVD [173]. Phosphine (PH3), diborane (B2H6), và trimethylborane (TMB)
18
(B(CH3)3) là các khí thường được sử dụng như tạp chất cho sự mọc của SiNW
thông qua cơ chế VLS [173, 191].
1.3.2. Huỳnh quang của vật liệu dây nanô Si
Nói chung, Si khối không được coi là một vật liệu phát quang tốt do nó là
bán dẫn vùng cấm xiên cho nên sự tái hợp của cặp điện tử − lỗ trống cho sự phát xạ
ánh sáng cần phải có sự hỗ trợ của phonon. Tuy nhiên, như đã đề cập đến trước đó,
các SiNW có đường kính nhỏ có vùng cấm thẳng cho nên có thể được sử dụng như
các vật liệu phát quang. Ngoài ra, với NW có đường kính nhỏ hơn bán kính Bohr
exciton (~ 4,3 nm) của Si khối, hiệu ứng giam giữ lượng tử (quantum confinement
effect – QCE) được dự kiến sẽ nổi bật hơn.
Thí nghiệm đầu tiên kích thích các nghiên cứu chuyên sâu về SiNW như một
vật liệu phát quang tiềm năng được thực hiện bởi Canham cùng đồng nghiệp [2,
173] trong đó đỉnh huỳnh quang (photoluminescence - PL) màu đỏ (1,4 – 1,5 eV)
với cường độ khá mạnh đã được quan sát thấy đối với các SiNW có đường kính nhỏ
hơn 5 nm. Các tác giả cho rằng sự giam giữ lượng tử trong các sợi SiNW được hình
thành bởi sự ăn mòn bất đẳng hướng là nguyên nhân của sự phát PL trên. Điều này
đã được xác nhận bởi các nghiên cứu lý thuyết [5].
Một loạt các nghiên cứu tiếp theo về PL của vật liệu SiNW với kích thước
lớn hơn (vài chục đến vài trăm nanô mét) đã chỉ ra rằng các trạng thái bề mặt, các
trạng thái sai hỏng hoặc các trạng thái có liên quan đến lớp ôxít Si bao phủ bề mặt
các SiNW sau quá trình chế tạo sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát PL đặc
biệt là PL trong vùng đỏ khi mà hiệu ứng giam giữ lượng tử không thể có hiệu lực
trong các trường hợp này vì kích thước của các NW là quá lớn. Tuy nhiên, QCE có
thể cũng sẽ góp phần trong sự phát PL của các SiNW thông qua các nanô tinh thể
Si, hoặc Si xốp được tạo thành trên các SiNW hoặc các vách bên của các SiNW sau
quá trình chế tạo. Các kết quả nghiên cứu về PL của vật liệu SiNW và các đề xuất
về nguồn gốc của về PL được tổng kết trong bảng 1.3 dưới đây sẽ cho chúng ta một
cái nhìn tổng quát về PL của vật liệu SiNW (các kết quả được liệt kê theo thứ tự
năm công bố của các công trình).
19
Bảng 1.3. Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu về PL của vật liệu SiNW.
Phương pháp
Kích thước
TLTK
Đỉnh phổ PL
Nguồn gốc của PL
chế tạo SiNW
của NW
[2]
Anốt hóa
< 5 nm
1,4 – 1,5 eV QCE đối với các SiNW
[3]
MACE
680 nm
QCE trong các hạt nanô tinh thể
∼ 200 nm
Si (Si nanocrystal – SiNC) trên
(∼ 1,82 eV)
các SiNW xốp và các trạng thái bề
mặt/sai hỏng trong lớp ôxít Si bao
phủ bề mặt SiNW
[190]
MACE
60 – 200 nm
650 nm
QCE trong các cấu trúc xốp được
hình thành trên các SiNW sau quá
(∼ 1,9 eV)
trình ăn mòn
[170]
MACE
30 – 200 nm
QCE trong các SiNC trên các
∼ 1,45 – 1,6
vách bên của các SiNW
eV
[100]
MACE
200 nm
730 nm
Các trạng thái giao diện hình
thành giữa cấu trúc nanô Si và lớp
(1,7 eV)
ôxít
[7]
MACE
80 – 200 nm 670 – 700 nm
QCE trong SiNC và các trạng thái
sai hỏng/liên kết treo trong lớp
(1,77 – 1,85
ôxít Si bao phủ bên ngoài SiNW
eV)
[9]
MACE
1,83 eV
Các SiNC được bao phủ bên
∼ 100 nm
(677 nm)
ngoài bởi SiOx
[14]
CVD
60- 80 nm
515 – 650 nm
Các liên kết treo tại mặt phân
(1,9 – 2,4 eV)
cách SiOx/Si và các vị trí khuyết
ôxy trong mạng SiOx
[115]
MACE
100 nm
1,82 eV
Các sai hỏng có liên quan đến
ôxít bao phủ quanh lõi SiNC
(∼ 682 nm)
[122]
MACE
690 nm
QCE trong các SiNW
7 ± 2 nm
(∼ 1,79 eV)
Các trạng thái định xứ liên quan
[24]
MACE
30 – 200 nm 750 – 800 nm
đến liên kết Si-O và các kích
(1,5 – 1,65 eV)
thích tự bẫy trong các cấu trúc
nanô xốp trên các SiNW
650 – 900 nm
QCE đối với các điện tử trong các
[62]
MACE
< 200 nm
(1,37 – 1,9 eV)
hạt SiNC xốp ở các vách bên của
SiNW
Mô hình giam giữ lượng tử - tâm
[148] MACE sau đó
30 – 100 nm
630 nm
phát quang: cặp điện tử - lỗ trống
xử lý trong
(1,96 eV)
được tạo ra trong các hạt nanô Si,
HNO3/HF
sau đó các điện tử và lỗ trống này
xuyên ngầm vào trong các tâm
phát quang có trong lớp ôxít Si
bao phủ bên ngoài và tái hợp phát
xạ ở đây
QCE trong các SiNC được hình
[102]
MACE
80 – 160 nm 650 – 750 nm
(1,65 – 1,9 eV)
thành trên các SiNW
117 – 650
350 – 800 nm
Mô hình giam giữ lượng tử - tâm
[145]
MACE
nm
với hai đỉnh
phát quang
380 nm (3,2
eV) và 670 nm
(1,77 eV)
100 – 200
711 nm
QCE của các SiNC trên các vách
[117]
MACE
(1,74 eV)
bên của SiNW
nm
Tái hợp phát xạ của điện tử định
[151]
MACE
1,91 eV
xứ trên nguyên tử Si và lỗ trống
định xứ trên các nguyên tử ôxy
của liên kết cộng hóa trị Si=O
trong SiNW
20
[20]
MACE
90 - 200 nm
1,7 – 1,8 eV QCE trong các SiNC và lớp ôxít
bao quanh các SiNC
[118]
MACE
100 – 200
1,73 eV –
QCE trong các SiNC nằm dọc
nm MACE
MACE (Ag)
trên các SiNW
(Ag)
1,81 eV –
20 – 50 nm
MACE (Au)
MACE (Au)
21
Cũng giống như các vật liệu nanô Si khác, vật liệu SiNW cũng phát PL ở ba
vùng: vùng xanh, vùng đỏ và vùng hồng ngoại, trong đó PL trong vùng đỏ thu hút
được nhiều sự quan tâm nghiên cứu nhất. Có nhiều nguyên nhân đã được đề xuất
đối với sự phát PL (đặc biệt là PL trong vùng đỏ) của vật liệu SiNW bao gồm: i)
QCE; ii) các trạng thái bề mặt, các sai hỏng và iii) mô hình kết hợp giữa QCE và
trạng thái bề mặt.
Nhìn chung, PL của các hệ SiNW vẫn còn quá yếu đối với những ứng dụng
về phát quang, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu được triển khai nhằm tăng
cường PL của các hệ SiNW bao gồm Se hóa các SiNW [101], hoặc sử dụng đồng
thời hai phương pháp ăn mòn điện hóa và ăn mòn bằng laser để chế tạo SiNW [85],
hoặc chế tạo SiNW bằng phương pháp quang khắc chùm điện tử kết hợp với ăn
mòn khô [116] hay tạo khuôn nanô các hệ SiNW thành các hệ hình học bất kỳ sử
dụng kỹ thuật chế tạo phẳng “từ trên xuống” [38], … Với việc quan sát thấy được
sự tăng cường PL rất mạnh của các mẫu Si xốp khi được ăn mòn MAECE so với
mẫu ăn mòn MACE [34], chúng tôi hi vọng rằng nếu sử dụng phương pháp
MAECE để chế tạo các hệ SiNW thì chúng tôi có thể sẽ thu được sự tăng cường PL
rất mạnh của các mẫu SiNW như khi thực hiện với mẫu xốp. Các kết quả cụ thể về
huỳnh quang của các hệ ASiNW sẽ được trình bày trong Chương 3.
1.3.3. Tính chất nhiệt
Gần đây, đã có nhiều sự quan tâm xung quanh các tính chất dẫn nhiệt của vật
liệu SiNW [3, 4, 29]. Đáng ngạc nhiên là ở chỗ sự quan tâm này bắt nguồn từ độ
dẫn nhiệt kém của SiNW. Lý do là việc sử dụng các SiNW với vai trò là vật liệu có
22
các tính chất nhiệt điện tăng cường đã được chứng minh một cách độc lập bởi hai
nhóm nghiên cứu của Boukai [3] và Hochbaum [4].
Trong khi ở một số thiết bị điều cần thiết là phải có sự truyền nhiệt hiệu quả
nhất và độ dẫn nhiệt cao, thì đối với một số thiết bị nhiệt điện cần phải có dẫn nhiệt
càng nhỏ càng tốt. Các kết quả thực nghiệm gần đây đã báo cáo về độ dẫn nhiệt của các SiNW là khoảng 1,6 Wm-1K-1 thấp hơn hai bậc so với giá trị đo được của Si khối là 150 Wm-1K-1 ở điều kiện nhiệt độ phòng [143]. Sự giảm độ dẫn nhiệt khi
đường kính của dây giảm là do sự tương tác của hai yếu tố: a) sự giam giữ phonon
dẫn đến sự thay đổi trong phổ phonon, và b) sự gia tăng của các phonon tán xạ
không đàn hồi trên bề mặt. Wang và cộng sự [76] đã quán sát thấy độ dẫn nhiệt
giảm khi đường kính dây <100> giảm. Ponomareva và cộng sự [66] cũng đã thu
được kết quả tương tự cho các dây <111>.
1.4. Ứng dụng của vật liệu dây nanô Si
1.4.1. Các pin iôn Li
Các hệ SiNW đã được chỉ ra là các vật liệu cực dương mở rộng đầy hứa hẹn
cho pin iôn Li [91]. Ngoài chi phí thấp, diện tích lớn và dễ dàng chế tạo, các SiNW
được chế tạo bằng phương pháp MACE còn có độ dẫn tốt, bề mặt gồ ghề cỡ nanô
mét, công suất nạp điện lớn hơn, sự ổn định chu kỳ lâu hơn. Những tính năng này
tạo thuận lợi sự vận chuyển điện tích và sự lồng vào/xuất ra của các iôn Li. Hiệu
suất tuyệt vời của các SiNW được ăn mòn MACE cho các vật liệu cực dương cho
pin iôn Li đã được chứng minh [41]. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm nhiều công
trình nghiên cứu cần thiết để cải thiện hơn nữa hiệu suất của pin anốt sử dụng
SiNW.
1.4.2. Pin mặt trời
Những thông số quan trọng liên quan đến các pin năng lượng mặt trời là sự
sự hấp thụ photon, vận chuyển exciton, sự phân ly exciton/sự tách điện tích và sự
thu thập điện tích. Từ quan điểm về cấu trúc vật liệu và thiết bị, các NW là ứng cử
viên hứa hẹn cho chuyển đổi photon thành điện tích một cách hiệu quả [75, 77]. Do
23
đó, rất nhiều nỗ lực đã được dành ra để chế tạo các cấu trúc nanô Si khác nhau cho
các ứng dụng trong các thiết bị quang điện tử. Các kết quả thực nghiệm đã chứng
minh rằng pin năng lượng mặt trời sử dụng các SiNW có thể đạt được hiệu suất hấp
thụ ánh sáng mặt trời bằng cách sử dụng chỉ 1% của vật liệu hoạt động cần thiết
trong một pin năng lượng mặt trời thông thường [77]. Hiệu suất chuyển đổi năng
lượng của một pin mặt trời sử dụng SiNW tối ưu có thể đạt đến khoảng18% [123].
1.4.3. Các ứng dụng sinh học
Công nghệ nanô đã nhận được nhiều sự quan tâm trong các nghiên cứu về
sinh học. Các SiNW đã nổi lên như vật liệu đầy hứa hẹn cho các ứng dụng sinh học
như kỹ thuật mô, cảm biến sinh học và dẫn thuốc [45, 48, 162]. Các SiNW (d = 1 −
100 nm) có kích thước nhỏ hơn một vài bậc so với các tế bào động vật có vú (với
dcell là khoảng một vài chục µm) nhưng lại gần tương đương với kích thước của
nhiều phân tử sinh học nội bào. Đường kính cỡ nanô mét và diện tích bề mặt cao
của các SiNW giúp cho vật liệu này dễ dàng tiếp cận với bên trong của các tế bào
sống từ đó tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu các quy luật phức tạp và các mẫu ở
mức độ phân tử [199].
1.4.3.1. Xét nghiệm tế bào
Đối với các ứng dụng y sinh học, khả năng tương thích trong các xét nghiệm
tế bào là một yếu tố quan trọng. Các nguyên bào sợi là một dòng tế bào phổ biến
chung cho nhiều các vị trí mô liên kết trong cơ thể, và nó đóng vai trò như là một
điểm khởi đầu cho tất cả các nghiên cứu về sự hữu ích của các vật liệu. Coffer và
các cộng sự đã chỉ ra rằng sự gia tăng của các tế bào nguyên bào sợi không bị ảnh
hưởng bất lợi bởi sự hiện diện của các SiNW [28]. Họ quan sát thấy rằng tỷ lệ tăng
trưởng của các tế bào nguyên bào sợi với sự hiện diện của SiNW là gần giống như
sự tăng trưởng của các tế bào này trong trường hợp không có NW [28]. Những kết
quả này chỉ ra rằng SiNW không gây độc hại đối với các tế bào nguyên bào sợi và
do đó nó có thể là vật liệu hứa hẹn và hữu ích cho các ứng dụng y sinh học trong
tương lai.
24
Hình 1.9. (a) Ảnh hiển vi đồng tiêu điểm của các tế bào gốc phôi chuột (mES)
trên các SiNW; (b) Ảnh SEM của tế bào mES trên một bề mặt hệ SiNW và (c, d)
Ảnh SEM của các tế bào mES riêng rẽ trên các SiNW [175].
Yang và các cộng sự [175] đã báo cáo về một liên kết trực tiếp giữa các
SiNW với các tế bào động vật có vú, chẳng hạn như các tế bào gốc phôi chuột
(mouse embryonic stem (mES)) và các tế bào phôi thận người (HEK 293T) mà
không cần có thêm một tác động ngoại lực nào. Các tế bào này được nuôi cấy trên
một đế Si với các hệ SiNW thẳng đứng xếp thẳng hàng (hình 1.9). Sự xâm nhập của
các hệ SiNW vào các tế bào riêng rẽ xảy ra tự nhiên trong quá trình nuôi cấy tế bào.
Các tế bào có thể tồn tại đến vài ngày trên bề mặt NW và tuổi thọ của chúng phụ
thuộc vào đường kính của các SiNW.
1.4.3.2. Sự chuyển gen
Yang và các cộng sự [175] đã báo cáo kết quả sơ bộ về sự chuyển gen sử
dụng một hệ SiNW. Dòng tế bào HEK 293T được nuôi trên nền SiNW với DNA đã
được lắng đọng tĩnh điện. Điều thú vị là, các tế bào HEK đã không bám dính các đế
Si phẳng trong cùng các điều kiện nuôi. Điều này cho thấy sự xâm nhập của SiNW
thúc đẩy sự lưu giữ các tế bào trên bề mặt và sự chuyển gen. Hiệu quả thấp của quá
trình chuyển có thể là do khó khăn trong việc giải phóng các DNA đã được liên kết
tĩnh điện và có thể được cải thiện với các tổ hợp cấu trúc phức tạp hơn.
25
1.4.3.3. Dẫn thuốc
Việc thiếu kiểm soát một cách thích hợp đối với tốc độ giải phóng thuốc và
khu vực mục tiêu dẫn thuốc là một bất lợi rất lớn đối với các viên thuốc thông
thường. Các vật liệu sinh học có kích thước nanô ngày càng trở nên phổ biến với
vai trò là nơi tích trữ giải phóng kiểm soát được đối với sự dẫn thuốc [129]. Các hệ
dẫn thuốc kích thước nanô có thể được đặt để điều chỉnh động học giải phóng
thuốc, điều tiết phân bố sinh học, điều chỉnh khả dụng sinh học theo thời gian, và
giảm thiểu tác dụng phụ độc hại, qua đó nâng cao chỉ số điều trị của một loại thuốc
nhất định. Với rất nhiều thuận lợi trong việc đổi bề mặt và phản ứng bề mặt, các hệ
SiNW đang được nghiên cứu sử dụng trong các hệ dẫn thuốc [49, 70, 96]. Jin và các
cộng sự [70] đã báo cáo về hoạt động dẫn thuốc của các hệ SiNW với độ xốp cao.
Họ cho thấy rằng các chất mang SiNW có thể duy trì một mức giải phóng thuốc và
tuổi thọ trong 42 ngày. Peng và đồng nghiệp [49] cũng đã báo cáo về việc sử dụng
các hệ SiNW làm các chất mang dẫn thuốc đối với doxorubicin DOX, một loại hóa
dược thương mại được sử dụng điều trị ung thư với hiệu suất cao. Họ đã chỉ ra rằng
các hệ SiNW-DOX có thể đạt được hiệu suất dẫn DOX rất lớn (cỡ 20800 mg/g) và
cho thấy hiệu quả tốt đối với việc ức chế khối u ung thư.
1.4.4. Các cảm biến
Các SiNW có thể đóng vai trò như những ứng cử viên tuyệt vời cho những
cảm biến do chúng rất thân thiện với môi trường, tương thích sinh học, dễ dàng chế
tạo và thuận tiện trong việc cải tiến. Các cảm biến sử dụng các SiNW hầu hết dựa
trên nguyên tắc tranzito, đặc biệt là các tranzito hiệu ứng trường. Các cảm biến sử
dụng các SiNW dựa trên nguyên tắc làm việc khác cũng đã được chế tạo. Các kim
loại quý (Au, Ag, …) được phủ lên trên bề mặt của SiNW có thể đóng vai trò là các
đế trong tán xạ Raman tăng cường bề mặt (Surface-Enhanced Raman Scattering –
SERS). Các cảm biến điện hóa sử dụng các SiNW cũng đã được báo cáo là có tuyến
tính rộng, độ lặp lại tốt và tuổi thọ dài.
26
1.4.4.1. Tán xạ Raman tăng cường bề mặt
Các SiNW phủ hạt nanô kim loại, chẳng hạn như Ag, Cu, Pd, Co, Au, và Pt,
được sử dụng làm đế để phân tích SERS. Tín hiệu Raman rất mạnh đã được quan
sát với giới hạn phát hiện khoảng vài trăm phân tử thậm chí là đơn phân tử [63].
SiNW bao phủ bởi các hạt nanô Au đã được sử dụng để để phát hiện thuốc trừ sâu
dichlorvos ở nồng độ thấp khoảng 8 ng/L [62]. Các đế SiNW phủ hạt nanô Ag đã
được sử dụng để phát hiện Rhodamine 6G, crystal violet, Nicotine, và DNA tuyến
ức bê (calf thymus DNA – CT DNA) và cho độ nhạy SERS rất cao [126] (hình
1.10). Hơn nữa, các đế này cũng cho thấy tiềm năng lớn cho cảm biến phân tử siêu
nhạy trong việc phát hiện SERS các bào tử vi khuẩn Bacillus anthracis và đạt được giới hạn phát hiện khoảng 4 × 10-6 M canxi dipicolinate, một dấu hiệu sinh học của
bệnh than [11]. Các đế SERS sử dụng các hệ ASiNW có phủ lớp hạt nanô Ag còn
có thể cho phép phát hiện một lượng nhỏ globulin miễn dịch [119] và phát hiện thuốc trừ sâu carbaryl với nồng độ xuống đến 10-7 M [63].
Hình 1.10. Phổ Raman thu được từ các đế AgNPs/SiNW được nhỏ 25 ml 10-16 M R6G (a), 10-16 M crystal violet (b), 10-14 M nicotine (c), và 10-8 mg/ml dung
dịch DNA CT trong nước (d). Đường cong (a) trong các hình (a) và (d) tương
ứng là phổ Raman thu được từ bột R6G và DNA CT rắn [126].
27
Chúng tôi cũng đã tiến hành lắng đọng các hạt nanô Ag lên trên các hệ
ASiNW mà chúng tôi đã chế tạo được bằng phương pháp lắng đọng không điện sau
đó sử dụng các đế này để phát hiện malachite green (MG) và thuốc diệt cỏ paraquat
(PQ) dựa trên hiệu ứng SERS. Các kết quả đạt được đã được chúng tôi công bố
trong các tài liệu tham khảo [108, 160, 164] và sẽ được trình bày cụ thể trong
Chương 4.
1.4.4.2. Điện hóa học
Các SiNW được bao phủ bởi các hạt nanô Au đã được sử dụng để chế tạo
điện cực hoạt động để phát hiện albumin huyết thanh bò và glutathione bằng
voltammetry vòng với độ nhạy cao, khoảng nồng độ tuyến tính rộng và phản ứng
nhanh [125]. Tao và các cộng sự đã sử dụng các đế SiNW được lắng đọng Pd-Ni để làm các điện cực hoạt động để phát hiện ethanol với độ nhạy 0,76 mM-1cm-2 và giới
hạn phát hiện là khoảng 10 μM [12].
Các SiNW đã được sử dụng như các cảm biến để phát hiện thuốc trừ sâu
[155] và cảm biến để phát hiện glucose [177]. Các SiNW có thêm B và Mg đã được
sử dụng như các cảm biến để phát hiện glucose và H2O2 [163]. Các cảm biến này
cho thấy vùng phát hiện nồng độ tuyến tính rộng, độ nhạy cao, khả năng tái chế tạo
tốt, và độ bền và ổn định tốt [127].
1.4.4.3. Tranzito hiệu ứng trường
Trong số các loại cảm biến sinh học, các tranzito hiệu ứng trường (transistor
field-effect – FET) SiNW là một trong những thiết bị nhạy và mạnh nhất đối với các
ứng dụng sinh học [99, 183, 184]. Một SiNW đơn đã được thay đổi bởi 3−
mercaptopropyltriethoxysilane và được chế tạo như một FET với độ nhạy cao trong việc phát hiện các iôn kim loại nặng Hg2+ và Cd2+ tương ứng ở nồng độ xuống đến 10-7 và 10-4 M [99]. FET SiNW cũng đã được sử dụng để phát hiện axít
deoxyribonucleic với giới hạn phát hiện trong ở mức dưới fM.
Các SiNW đã được kết hợp với một phối tử huỳnh quang, N-(quinoline-8- YL)−2−(3−triethoxysilylpropylamino) acetamit, và sử dụng để phát hiện Cu2+ ở
28
nồng độ thấp tới 10-8 M. Cảm biến huỳnh quang này cho độ nhạy tuyệt vời, có chọn
lọc và thuận nghịch [109]. Các FET SiNW chức năng hóa đa tinh thể đã được
chứng minh có thể đạt tới sự phát hiện cụ thể và siêu nhạy (tới mức fM) DNA virus
giống gây bệnh cao (H5 và H7) của cúm gia cầm. FET này đã được cải tiến thêm
với một đầu dò bắt DNA và có thể phát hiện DNA (H5) trong phạm vi fM tới pM
[18]. Các thay đổi điện cụ thể đã được quan sát cho streptavidin và cảm biến avidin
trong phạm vi dưới pM đến nM [23].
Các FET SiNW, được đặt trong một kênh dẫn vi lưu, đã cho thấy sự thay đổi
về độ dẫn tuyến tính với các thay đổi trong cường độ iôn và thành phần của dung
dịch điện phân [31]. Các SiNW được thay đổi cộng hóa trị với nhóm amin để phát hiện Na+ và K+ và đạt được một giới hạn phát hiện cực thấp xuống tới 50 nM [54].
Các SiNW cũng đã được kết hợp một axít sinh học có liên quan đến amin, pyruvate
và chế tạo thành một FET để phát hiện canxi với nồng độ thấp đến 10 μM [184].
1.5. Các phương pháp khảo sát cấu trúc và tính chất của các hệ dây nanô
Có nhiều phương pháp để khảo sát cấu trúc và tính chất của các hệ SiNW trên
đế Si. Tuy vậy, trong mục này chúng tôi sẽ chỉ tập trung giới thiệu những phương
pháp khảo sát đã sử dụng trong luận án này. Đây cũng là những phương pháp chủ
yếu mà các nhóm nghiên cứu khác trên thế giới sử dụng để nghiên cứu SiNW.
1.5.1. Các phương pháp khảo sát hình thái, thành phần và cấu trúc của hệ SiNW
1.5.1.1. Khảo sát hình thái của các hệ SiNW bằng kính hiển vi điện tử quét
Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope − SEM) là một loại
kính hiển vi điện tử có thể tạo ra ảnh với độ phân giải cao của bề mặt mẫu bằng
cách sử dụng một chùm điện tử hẹp quét trên bề mặt mẫu. Việc tạo ảnh của mẫu vật
được thực hiện thông qua việc ghi nhận và phân tích các bức xạ phát ra từ tương tác
của chùm điện tử với bề mặt mẫu. Cấu tạo của hệ SEM bao gồm có các bộ phận
chính sau: nguồn phát điện tử (súng phóng điện tử), hệ thấu kính từ, hệ thống giữ
mẫu và hệ thống thu nhận ảnh. Sơ đồ khối của SEM được trình bày trên hình 1.11.
29
Hình 1.11. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét.
Nguyên tắc hoạt động của SEM như sau: Súng điện tử tạo ra chùm điện tử
trong buồng hình trụ thẳng đứng được hút chân không. Chùm điện tử tiếp tục được
hội tụ và định hướng nhờ hệ thống thấu kính, tạo thành chùm tia có đường kính rất
hẹp. Khả năng hội tụ của chùm điện tử càng cao thì độ phân giải càng lớn. Nhờ các
cuộn quét mà có thể điều khiển chùm tia điện tử quét trên mỗi mẫu nghiên cứu. Khi
chùm tia điện tử đập vào mặt mẫu, các điện tử va chạm vào các nguyên tử ở bề mặt
mẫu có thể phát ra các điện tử thứ cấp (điện tử phát ra từ mẫu dưới tác dụng của
chùm điện tử chiếu vào), các điện tử tán xạ ngược (điện tử ban đầu khi tương tác
với bề mặt mẫu bị bật ngược trở lại) và các bức xạ như tia X... Mỗi loại tia hoặc bức
xạ nêu trên đều phản ảnh một đặc điểm của mẫu tại nơi chùm tia điện tử chiếu đến.
Các điện tử thoát ra sẽ được thu vào đầu thu đã kết nối với máy tính (có cài đặt
chương trình xử lí), kết quả thu được là thông tin bề mặt của mẫu được đưa ra màn
hình.
Các ưu điểm chính của SEM là chuẩn bị mẫu dễ dàng, không phải phá hủy
mẫu, các thao tác điều khiển đơn giản và tốc độ thu dữ liệu nhanh. Tuy nhiên ảnh
SEM thường có độ phân giải chỉ cỡ ~ 5 nm, do đó chỉ thấy được các chi tiết thô
30
trong công nghệ nanô. Trong luận án này việc chụp ảnh SEM đã được thực hiện trên
hệ thiết bị FE-SEM S4800 (hãng Hitachi sản xuất) có tại Viện Khoa học Vật liệu -
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung
ương.
1.5.1.2. Khảo sát hình dạng và kích thước của các SiNW bằng kính hiển vi điện tử
truyền qua
Kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscopy − TEM)
là một thiết bị nghiên cứu vi cấu trúc vật rắn, sử dụng chùm điện tử có năng lượng
cao chiếu xuyên qua mẫu vật rắn mỏng và sử dụng các thấu kính từ để tạo ảnh với
độ phóng đại lớn (có thể tới hàng triệu lần), ảnh có thể tạo ra trên màn huỳnh quang,
trên phim quang học, hay ghi nhận bằng các máy chụp kỹ thuật số.
Cấu tạo của TEM cũng bao gồm bốn phần chính: nguồn phát điện tử (súng
phóng điện tử), hệ thấu kính điện từ, hệ thống giữ mẫu và hệ thống thu nhận ảnh
(hình 1.12). Nguồn phát điện tử bao gồm một catốt và anốt. Catốt là một sợi đốt
vonfram phát ra các điện tử khi được nung nóng. Một cáp âm được sử dụng để hội
tụ các điện tử thành một chùm tia. Chùm điện tử này sau đó được gia tốc về phía
anốt rỗng dưới thế tăng tốc V. Các điện tử ở các mép của chùm tia sẽ rơi vào anốt
trong khi các điện tử ở vùng trung tâm sẽ đi qua lỗ rỗng nhỏ của anốt.
Sau khi rời khỏi nguồn phát điện tử, chùm điện tử được hội tụ chặt bởi các
thấu kính điện từ và các khẩu độ kim loại. Hệ thống này chỉ cho phép các điện tử
nằm trong một khoảng năng lượng nhỏ đi qua, do đó các điện tử trong chùm tia sẽ
có năng lượng được xác định rõ.
Hệ thống giữ mẫu là một đế được trang bị một cánh tay cơ để giữ các mẫu và
kiểm soát vị trí của chúng. Hệ thống thu nhận ảnh bao gồm một hệ thấu kính điện từ
và một màn hình. Hệ thấu kính điện từ bao gồm hai hệ thấu kính, một hệ dùng để
hội tụ các điện tử sau khi chúng đi qua các mẫu, còn hệ kia phóng đại hình ảnh và
chiếu nó lên màn hình. Trên bề mặt của màn hình, người ta phủ một lớp vật liệu
huỳnh quang. Khi điện tử va đập vào màn hình, vật liệu sẽ phát quang và ảnh được
ghi nhận thông qua ánh sáng phát quang này.
31
Hình 1.12. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử truyền qua.
Ưu điểm của TEM là có thể tạo ra ảnh cấu trúc vật rắn với độ tương phản, độ
phân giải (kể cả không gian và thời gian) rất cao đồng thời dễ dàng thông dịch các
thông tin về cấu trúc. Khác với dòng kính hiển vi quét đầu dò, TEM cho ảnh thật
của cấu trúc bên trong vật rắn nên đem lại nhiều thông tin hơn, đồng thời rất dễ
dàng tạo ra các hình ảnh này ở độ phân giải tới cấp độ nguyên tử.
Hạn chế của TEM là giá thành thiết bị rất cao, đồng thời đòi hỏi các điều
kiện làm việc cao ví dụ chân không siêu cao, sự ổn định về điện và nhiều phụ kiện
đi kèm. Bên cạnh đó các phép đo TEM đòi hỏi nhiều phép xử lý mẫu phức tạp và
đôi khi cần phải phá hủy mẫu.
Trong luận án này các phép đo TEM đã được thực hiện trên hệ thiết bị
JEM1010 (JEOL) có tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
1.5.1.3. Phân tích thành phần nguyên tố bằng phổ tán sắc năng lượng tia X
Phổ tán sắc năng lượng tia X (Energy-dispersive X-ray spectroscopy – EDX
hoặc EDS) là kỹ thuật phân tích thành phần hóa học của vật rắn dựa vào việc ghi lại
32
phổ tia X phát ra từ vật rắn do tương tác với các bức xạ (mà chủ yếu là chùm điện
tử có năng lượng cao trong các kính hiển vi điện tử).
Kỹ thuật EDX chủ yếu được thực hiện trong các kính hiển vi điện tử ở đó,
ảnh vi cấu trúc vật rắn được ghi lại thông qua việc sử dụng chùm điện tử có năng
lượng cao tương tác với vật rắn. Khi chùm điện tử có năng lượng lớn được chiếu
vào vật rắn, nó sẽ đâm xuyên sâu vào nguyên tử vật rắn và tương tác với các lớp
điện tử bên trong của nguyên tử. Tương tác này dẫn đến việc tạo ra các tia
X có bước sóng đặc trưng tỉ lệ với nguyên tử số (Z) của nguyên tử. Nghĩa là, tần số
tia X phát ra là đặc trưng với nguyên tử của mỗi chất có mặt trong chất rắn. Việc
ghi nhận phổ tia X phát ra từ vật rắn sẽ cho thông tin về các nguyên tố hóa học có
mặt trong mẫu đồng thời cho các thông tin về tỉ phần các nguyên tố này.
Tia X phát ra từ vật rắn (do tương tác với chùm điện tử) sẽ có năng lượng
biến thiên trong dải rộng, sẽ được đưa đến hệ tán sắc và ghi nhận (năng lượng) nhờ
detector dịch chuyển (thường là Si, Ge, Li...) được làm lạnh bằng nitơ lỏng, là một
con chip nhỏ tạo ra điện tử thứ cấp do tương tác với tia X, rồi được lái vào
một anốt nhỏ. Cường độ tia X tỉ lệ với tỉ phần nguyên tố có mặt trong mẫu. Độ phân
giải của phép phân tích phụ thuộc vào kích cỡ chùm điện tử và độ nhạy của detector
(vùng hoạt động tích cực của detector).
Độ chính xác của EDX ở cấp độ một vài phần trăm (thông thường ghi nhận
được sự có mặt của các nguyên tố có tỉ phần cỡ 3-5% trở lên). Tuy nhiên, EDX lại
không hiệu quả với các nguyên tố nhẹ (ví dụ B, C...) và thường xuất hiện hiệu ứng
chồng chập các đỉnh tia X của các nguyên tố khác nhau (một nguyên tố thường phát
ra nhiều đỉnh đặc trưng Kα, Kβ..., và các đỉnh của các nguyên tố khác nhau có thể
chồng chập lên nhau gây khó khăn cho phân tích).
Các phép đo EDX trong luận án đã được thực hiện trên hệ ghi phổ EDX
được gắn liền với hệ SEM JED-2300 của Viện Khoa học Vật liệu.
1.5.2. Phương pháp ghi phổ huỳnh quang
Các phép ghi phổ huỳnh quang (PL) được tiến hành trên các hệ ghi quang
phổ MicroSpec 2300i đặt tại Viện Khoa học Vật liệu với nguồn kích thích là laser
33
He-Cd với tại bước sóng kích thích 325 nm. Nguyên lý của hệ đo PL được trình bày
trên hình 1.13. Ánh sáng từ nguồn kích thích đơn sắc chiếu tới mẫu đang được gắn
lên một tấm đồng phẳng. Bức xạ PL phát ra từ mẫu sẽ được thu vào một đầu của sợi
quang và được đưa vào để phân tích, xử lý thành các bước sóng phát xạ riêng biệt.
Sau đó, tín hiệu quang được đưa vào bộ đầu thu và được xử lý để biến đổi thành tín
hiệu điện, tín hiệu này được máy tính xử lý.
Hình 1.13. Sơ đồ nguyên lý hệ đo phổ huỳnh quang.
1.5.3. Phương pháp Raman khảo sát ứng dụng của vật liệu SiNW
Tán xạ Raman là tán xạ không đàn hồi của một sóng điện từ với vật chất. Sự
khác nhau về năng lượng của photon tới và photon tán xạ tương ứng với năng lượng
dao động trong mạng tinh thể hoặc dao động của phân tử. Photon tán xạ có thể có
năng lượng lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với năng lượng của photon tới. Thông thường
các photon tới nằm trong vùng phổ nhìn thấy, nhưng cũng có thể sử dụng các
photon trong vùng hồng ngoại gần và vùng cực tím.
Phổ Raman bao gồm các đặc trưng sau: tần số ν, số mode dao động chuẩn,
cường độ vạch phổ và độ bán rộng của phổ. Cường độ vạch phổ Raman phụ thuộc
vào vật liệu và mật độ vật chất (là lỏng, rắn hay khí …). Hiệu suất tán xạ Raman thể
hiện cường độ của phổ. Hiệu suất tán xạ Raman của mẫu tinh thể thì lớn hơn hiệu
suất của vật liệu vô định hình.
34
Phổ Raman phụ thuộc vào tính đối xứng của tinh thể, các đối xứng khác
nhau có thể cho phổ Raman khác nhau. Độ bán rộng của phổ Raman phụ thuộc vào
các yếu tố như máy và chế độ đo, trạng thái của mẫu, sự bất đồng nhất của vật chất
trong mẫu, … Khi đo phổ tán xạ Raman cần chú ý đến các điều kiện đo như: công
suất kích thích, chọn vật kính hiển vi, độ rộng khe. Với mỗi nguồn laser, độ xuyên
sâu vào mẫu có thể khác nhau nên phổ Raman có thể khác nhau. Ngoài ra, cần chú
ý việc điều khiển nhiệt độ đặt vào mẫu.
Hình 1.14. Sơ đồ nguyên lý hệ đo micrô Raman.
Thiết bị đo phổ tán xạ Raman được sử dụng để thực hiện các phép đo trong
luận án là hệ micrô Raman Jobin-Yvon LabRam, đang có tại Trung tâm Khoa học
Vật liệu – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội . Sơ đồ
nguyên lý của hệ đo Raman được trình bày trên hình 1.14. Nguồn sáng được dùng
là laser He - Ne với bước sóng kích thích 632,8 nm, với cấu hình tán xạ ngược. Mật
độ công suất kích thích thấp để tránh ảnh hưởng của hiệu ứng nhiệt. Hệ đo được lắp
thêm camera và màn hình để quan sát vị trí xảy ra tán xạ không đàn hồi ánh sáng
kích thích trên một diện tích rất hẹp cỡ micro mét vuông hoặc nhỏ hơn ở trên bề mặt
của mẫu. Các mẫu đo được đặt trên bàn dịch chuyển ba chiều với bước dịch chuyển
nhỏ nhất là 0,5 mm. Ngoài ra, hệ đo còn được nối với kính hiển vi cho phép ghi phổ
với độ phân giải không gian tốt hơn. Máy tính điện tử kết nối trong hệ đo với
chương trình cài đặt sẵn, cho ta kết quả cuối cùng đã xử lý. Phổ được hiển thị trên
35
màn hình dưới dạng sự phụ thuộc cường độ dao động vào số sóng của các vạch dao
động.
1.6. Kết luận Chương 1
1. Có hai cách tiếp cận để tạo ra các SiNW: cách tiếp cận từ dưới lên và cách tiếp
cận từ trên xuống. Trong cách tiếp cận từ dưới lên các cấu trúc nanô được tạo
thành từ tiền chất ở các pha lỏng, pha rắn hoặc pha hơi thông quá các quá trình
lắng đọng hoặc hóa học, vật lý để tạo thành các cấu trúc lớn hơn. Cách tiếp cận
từ trên xuống hướng vào việc chế tạo các SiNW từ đế đơn tinh thể hoặc màng
mỏng Si chất lượng cao thông qua việc tạo mẫu bề mặt và sau đó là ăn mòn.
2. Sự thu nhỏ về kích thước của vật liệu SiNW so với vật liệu khối làm cho các tính
chất của SiNW phụ thuộc mạnh vào định hướng, kích thước và hình thái học của
các NW. Các SiNW cũng cho thấy có các tính chất quang, điện, nhiệt và cơ học
vượt trội hơn so với vật liệu khối.
3. Ứng dụng của vật liệu SiNW rất phong phú, đa dạng trong nhiều lĩnh vực bao
gồm pin mặt trời, pin iôn Li, các ứng dụng liên quan đến y, sinh học như xét
nghiệm tế bào, vận chuyển gen, dẫn thuốc, FET và SERS.
4. Trong luận án này, hình thái cấu trúc của các hệ ASiNW được khảo sát bằng các
phép đo SEM, TEM; các thành phần nguyên tố trên bề mặt của các hệ SiNW
được phân tích bằng phổ EDX; tính chất PL của hệ ASiNW được nghiên cứu
bằng phương pháp ghi phổ PL. Ngoài ra, hệ ghi phổ Raman cũng đã được sử
dụng để khảo sát ứng dụng của các hệ ASiNW trong phân tích các phân tử hữu cơ sử dụng hiệu ứng SERS.
36
Chương 2
Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp ăn mòn
hóa học và ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại
2.1. Giới thiệu chung về phương pháp ăn mòn
Cụm từ “ăn mòn” được sử dụng để mô tả tất cả các kỹ thuật mà thông qua
các kỹ thuật này vật liệu có thể được loại bỏ đi một phần để tạo thành các hốc rỗng
(lỗ rỗng) trong nó. Có hai phương pháp ăn mòn chính là ăn mòn khô và ăn mòn ướt.
Trong ăn mòn khô pha của vật liệu bị loại bỏ đi là pha khí, còn trong ăn mòn ướt -
là pha lỏng. Sơ đồ các phương pháp ăn mòn được đưa ra trên hình 2.1.
Hình 2.1. Sơ đồ các phương pháp ăn mòn.
2.1.1. Phương pháp ăn mòn khô
Phương pháp ăn mòn khô có liên quan đến việc sử dụng ăn mòn pha khí
trong plasma. Trong phương pháp này sự ăn mòn được diễn ra bởi sự kết hợp của
các quá trình hóa học và vật lý.
37
Phương pháp ăn mòn khô được sử dụng thường xuyên nhất là phương pháp
ăn mòn iôn phản ứng (reactive ion etching – RIE). Phương pháp RIE sử dụng các
phản ứng hóa học xảy ra trong trạng thái plasma để loại bỏ một phần vật liệu của
khối. Trong phương pháp này, khí được đưa vào buồng phản ứng dưới dạng phân
tử, nói chung, những phân tử này không đủ khả năng phản ứng hóa học với các đế ở
trạng thái bình thường. Khi các phân tử khí được đưa vào buồng phản ứng nó sẽ bị
iôn hóa tạo ra trạng thái plasma. Các iôn phản ứng chuyển động tới bề mặt cần được
ăn mòn và được hấp thụ ở đây. Sau khi được hấp thụ các liên kết hóa học giữa iôn
phản ứng và đế được hình thành để tạo ra các phân tử chất mới (thường các chất
mới sẽ có pha khí). Sau đó các phân tử là sản phẩm của phản ứng iôn với đế tách
khỏi đế và được đưa ra khỏi buồng phản ứng. Kết quả của quá trình này là đế sẽ bị
ăn mòn.
Những ưu điểm chính của phương pháp ăn mòn khô là:
- Loại bỏ ô nhiễm từ các axít và dung môi.
- Khả năng kiểm soát quá trình ăn mòn tốt.
- Độ lặp lại tốt.
Tuy vậy phương pháp này cũng có một số hạn chế bao gồm:
- Một số chất khí sử dụng trong phương pháp này khá độc.
- Cần có các thiết bị chuyên dụng đắt tiền.
2.1.2. Phương pháp ăn mòn ướt
Phương pháp ăn mòn ướt là phương pháp có liên quan đến việc sử dụng các
chất ăn mòn dạng lỏng. Trong phương pháp này, vật liệu ban đầu thường được
nhúng vào trong các dung dịch ăn mòn và sự ăn mòn vật liệu được xảy ra chủ yếu
thông qua các quá trình hóa học. Đây là phương pháp đơn giản và không tốn kém,
nhưng lại tương đối khó kiểm soát (khó lặp lại được). Sự ăn mòn ướt Si nói chung
là ăn mòn bất đẳng hướng.
Phương pháp ăn mòn ướt bao gồm hai phương pháp là ăn mòn hóa học và ăn
mòn điện hóa. Ăn mòn hóa học là quá trình ăn mòn mà trong đó không có sự trao
đổi các hạt tải điện tự do giữa chất bị ăn mòn và dung dịch ăn mòn. Ngược lại, trong
38
quá trình ăn mòn điện hóa có sự trao đổi điện tích tự do giữa chất bị ăn mòn và
dung dịch điện hóa tại giao diện của chúng. Tiếp theo, ăn mòn điện hóa lại bao gồm
hai phương pháp là ăn mòn anốt (anodic etching) và ăn mòn không điện (electroless
etching). Trong ăn mòn anốt, sự trao đổi điện tích được thực hiện thông qua một
điện thế áp đặt từ bên ngoài. Còn đối với quá trình ăn mòn không điện thì quá trình
trao đổi điện tích xảy ra nhờ sự có mặt của tác nhân ôxy hóa có trong dung dịch ăn
mòn, do đó sự có mặt của điện thế ngoài trở nên không cần thiết. Phương pháp ăn
mòn không điện lại được tách thành hai nhánh là ăn mòn vết (stain-etching) và
MACE. Cho đến nay, trong kỹ thuật ăn mòn tạo xốp Si hoặc chế tạo các hệ SiNW,
phương pháp MACE đã được phát triển thành một nhánh lớn tương đương với ăn
mòn anốt.
Phương pháp ăn mòn hóa học
Ăn mòn hóa học là quá trình ăn mòn mà trong đó không có sự trao đổi các
hạt tải điện tự do giữa chất bị ăn mòn và dung dịch ăn mòn, do đó quá trình ăn mòn
không đòi hỏi phải có điện thế áp đặt và không bị ảnh hưởng bởi điện trường. Trong
quá trình ăn mòn hóa học, sự thay đổi liên kết đồng thời diễn ra giữa các phân tử
không hòa tan của chất ăn mòn trong dung dịch và các nguyên tử chất bán dẫn ở bề
mặt. Kết quả là liên kết giữa các nguyên tử chất bán dẫn bị bẻ gẫy và liên kết hóa
học được hình thành với các phần tử phản ứng trong dung dịch, dẫn đến các phân tử
chất mới được hình thành và sau đó hòa tan vào trong dung dịch. Đối với Si, quá
trình ăn mòn hóa học thường chỉ được dùng để hỗ trợ cho quá trình ăn mòn điện
hóa.
Phương pháp ăn mòn anốt
Trong phương pháp ăn mòn anốt, sự phun lỗ trống (tức là quá trình tạo ra các
liên kết trống trên bề mặt khối bán dẫn) được thực hiện thông qua một điện thế áp
đặt từ bên ngoài. Trong phương pháp này mẫu cần ăn mòn được nối với cực dương
của nguồn điện một chiều, trong khi một tấm hoặc lưới kim loại được nối với cực
âm. Hệ hai điện cực này được nhúng trong dung dịch có khả năng ăn mòn vật liệu
39
cần ăn mòn khi có dòng điện chạy qua. Dưới tác dụng của điện trường áp đặt bên
ngoài, lỗ trống được phun tới bề mặt tiếp giáp bán dẫn/chất điện phân để tạo điều
kiện cho các tác nhân ôxy hóa trong dung dịch ôxy hóa đế. Các sản phẩm của quá
trình ôxy hóa điện hóa sau đó bị hòa tan vào dung dịch điện hóa.
Phương pháp ăn mòn không điện
Đối với phương pháp ăn mòn không điện thì quá trình ôxy hóa điện hóa xảy
ra mà không cần có một điện thế áp đặt từ bên ngoài. Quá trình này được điều khiển
bởi điện thế của một tác nhân ôxy hóa có mặt trong dung dịch điện hóa. Tác nhân
ôxy hóa sẽ bứt điện tử liên kết của nguyên tử chất bán dẫn trên bề mặt để tạo ra một
liên kết trống, quá trình này còn được gọi là quá trình phun lỗ trống. Sau đó, các tác
nhân ăn mòn trong dung dịch sẽ thay thế vào các liên kết trống vừa được tạo ra để
tạo liên kết với nguyên tử chất bán dẫn. Kết quả là sau khi tất cả các liên kết giữa
nguyên tử chất bán dẫn trên bề mặt với các nguyên tử chất bán dẫn khác ở xung
quanh bị thay thế bằng các liên kết với tác nhân ăn mòn thì một chất mới sẽ được
tạo thành. Ăn mòn không điện chỉ có thể xảy ra khi thế ôxy hóa khử của tác nhân
ôxy hóa bao trùm lên vùng hóa trị của chất bán dẫn trong trạng thái cân bằng với
các iôn của nó trong dung dịch và chất tạo thành có thể hòa tan được trong dung
dịch điện hóa.
Đối với Si, ăn mòn không điện đầu tiên được biết đến với tên gọi là ăn mòn
vết hóa học, ở phương pháp này mẫu Si được ngâm vào trong dung dịch ăn mòn là
hỗn hợp của HF, H2O và HNO3. Do sự hiện diện của HNO3 (một chất ôxy hóa
mạnh) nên quá trình ăn mòn sẽ xảy ra mà không cần áp đặt điện áp từ bên ngoài,
đây là một sự thuận tiện lớn so với ăn mòn anốt như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên,
một trong những nhược điểm của phương pháp ăn mòn vết là cần thời gian "ủ" khá
dài để khởi đầu cho quá ăn mòn diễn ra. Để loại bỏ nhược điểm này, vào năm 1997,
Dimova-Malinovska và đồng nghiệp [26] đã tạo một lớp Al mỏng trên bề mặt Si
trước khi ăn mòn, kết quả là thời gian ăn mòn đã được cải thiện đáng kể. Sau này đã
có nhiều nhóm nghiên cứu khác cải tiến phương pháp này, kết quả là đến năm 2000
Li và Bohn [178] đã đề xuất ra phương pháp MACE cho việc ăn mòn tạo xốp Si.
40
Trong một quy trình MACE, đế Si đã được bao phủ bởi một kim loại quý như Ag,
Au, Pt,… sau đó được ngâm vào dung dịch có chứa axít HF và một chất ôxi hóa
(thường là H2O2). Ở trong dung dịch này, thông thường, vùng Si bên dưới kim loại
được ăn mòn nhanh hơn nhiều so với vùng Si không có phủ kim loại. Kết quả là,
các kim loại chìm vào đế Si, tạo ra các lỗ xốp trong khối Si hoặc nó cũng có thể tạo
ra các hệ dây Si. Trong luận án này các hệ ASiNW sẽ được chế tạo trên đế Si bằng
phương pháp MACE và phương pháp cải tiến dựa trên phương pháp MACE là
phương pháp MAECE. Các kết quả nghiên cứu cụ thể về hình thái cấu trúc của các
hệ ASiNW chế tạo được sẽ được trình bày chi tiết trong các phần tiếp theo.
Những ưu điểm chính của phương pháp ăn mòn ướt là:
- Đơn giản và không đòi hỏi phải có những thiết bị đắt tiền;
- Là phương pháp ăn mòn chọn lọc tốt vì nó dựa trên các quá trình hóa học.
- Tốc độ ăn mòn có thể rất nhanh (đạt tới vài mm/phút) và có thể được tăng
lên bằng nhiệt độ.
Tuy vậy, phương pháp này cũng có những hạn chế đó là:
- Khó kiếm soát được chính xác quá trình ăn mòn.
- Sự ăn mòn xảy ra bất đẳng hướng.
2.2. Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp MACE
Chế tạo ra các SiNW với các thông số có thể kiểm soát được là một điều kiện
tiên quyết để có thể ứng dụng vật liệu này. Rất nhiều phương pháp đã được phát
triển để chế tạo SiNW với mục đích kiểm soát các thông số cấu trúc khác nhau của
SiNW chẳng hạn như: mọc VLS, RIE, MACE,… Trong số các phương pháp này,
MACE thu hút sự chú ý ngày càng tăng trong những năm gần đây vì các lý do sau
đây. Đầu tiên, đây là một phương pháp đơn giản và chi phí thấp nhưng có thể tạo ra
các cấu trúc nanô Si khác nhau với khả năng kiểm soát khá tốt các thông số cấu trúc
khác nhau. Thứ hai, phương pháp này cho phép kiểm soát định hướng của các hệ
SiNW chế tạo được so với bề mặt đế (đối với các hệ SiNW chế tạo trên các đế định
hướng khác (100)). Trong phương pháp mọc VLS, định hướng tinh thể của SiNW
phụ thuộc vào đường kính của các NW. Do sự tồn tại của các hướng tinh thể tương
41
đương, nên sẽ rất khó khăn cho việc mọc epitaxy các SiNW với định hướng đồng
nhất so với bề mặt của đế Si [174]. Sự ăn mòn điện hóa xảy ra bất đẳng hướng theo
hướng ưu tiên <100>. Đối với MACE, mặc dù đây cũng là phương pháp ăn mòn bất
đẳng hướng, nhưng phương pháp này đã được cải tiến để có thể điều khiển được
hướng ăn mòn, cho phép chế tạo các hệ SiNW thẳng đứng xếp thẳng hàng trên các
đế định hướng (110) hoặc (111) [196, 197]. Thứ ba, chất lượng tinh thể của các
SiNW chế tạo bằng phương pháp MACE trên các đế đơn tinh thể thường khá cao.
Thứ tư, phương pháp MACE có thể được sử dụng để sản xuất các hệ ASiNW trên
đế có diện tích rộng với chất lượng khá đồng nhất.
Với những ưu thế như trên, trong thập kỷ qua MACE đã trở nên ngày càng
quan trọng hơn. Các hệ SiNW được chế tạo bằng phương pháp này đã được kiểm
chứng khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau, từ chuyển đổi năng lượng
mặt trời [35, 93], chuyển đổi nhiệt điện [4] và lưu trữ năng lượng [91] đến cảm biến
hóa học và sinh học [ 11, 119, 164].
2.2.1. Cơ chế ăn mòn
Trong một quá trình ăn mòn MACE điển hình, đế Si được bao phủ một phần
bởi kim loại quý được ăn mòn trong một dung dịch ăn mòn gồm HF và một tác
nhân ôxy hóa. Thông thường, vùng Si bên dưới kim loại quý được ăn mòn đi nhanh
hơn nhiều so với vùng không được bao phủ kim loại. Kết quả là, các kim loại quý
chìm dần vào bề mặt Si, tạo ra các lỗ xốp hay các dây trên bề mặt đế Si. Các đặc
điểm hình thái học cụ thể của các cấu trúc Si thu được phụ thuộc chủ yếu vào các
hình thái ban đầu của kim loại bao phủ.
2.2.1.1. Các phản ứng
Xét trường hợp đơn giản: một đế Si tiếp xúc với một hạt kim loại quý cô lập
được ăn mòn trong một dung dịch bao gồm HF và H2O2. Các phản ứng hóa học
hoặc điện hóa xảy ra ưu tiên ở gần kim loại quý. Các phản ứng catốt và anốt khác
nhau đã được đề xuất để mô tả sự ăn mòn MACE tương tự như sự ăn mòn anốt Si
trong HF [166] hoặc ăn mòn vết Si trong HF/HNO3 [43].
42
Trước tiên, H2O2 bị khử tại kim loại (phản ứng catốt):
H2O2
2H+ → 2H2O + 2h+ (2.1) Li và Bohn [178] và nhóm của Harade [185] đã đề xuất rằng việc khử các +
prôtôn thành hydrô là một phản ứng catốt khác bên cạnh phản ứng (2.1):
2H+ → 2H2↑ + 2h+ (2.2) Ngược lại, Chartier và các cộng sự [15] lại cho rằng sự thoát khí trong quá trình ăn mòn là phản ứng anốt. Kết luận của họ dựa trên cơ sở cho rằng thay vì H+,
H2O2 mới là tác nhân phản ứng chính tại catốt, bởi vì trong một dung dịch HF
không có H2O2 và O2 thì không có sự ăn mòn xảy ra đối với đế Si được bao phủ hạt
Pt [158]. Trong khi đó, khả năng khí được tạo ra từ một phân ly của H2O2 bị loại trừ
vì sự thoát khí đã không xảy ra trên một đế Si được bao phủ bởi hạt Ag trong dung
dịch có nồng độ H2O2 cao và không có HF [15].
Tại anốt, đế Si bị ôxy hóa và hòa tan. Có rất nhiều mô hình đề xuất cho quá
trình hòa tan Si (phản ứng anốt) và có thể được chia thành ba nhóm mô hình I, II và
III như sau:
(I) Hòa tan trực tiếp Si trong trạng thái hóa trị IV [22, 147,178, 185 ]: Si + 4h+ + 4HF → SiF4 + 4H+ (2.3) SiF4 + 2HF → H2SiF6 (2.4)
2-+ 2HF + H2↑ + 2e- (2.5)
(II) Hòa tan trực tiếp Si trong trạng thái hóa trị II [15, 89]:
- → SiF6
Si + 4 HF2
(III) Hình thành ôxít Si và hòa tan ôxít [15, 86]:
Si + 2H2O → SiO2 + 4H++ 4e- (2.6) SiO2 + 6HF → H2SiF6 + 2H2O (2.7)
Mô hình II và III khác nhau ở chỗ liệu có ôxít Si có được tạo thành trên bề
mặt của đế Si trước khi hòa tan Si hay không và liệu H2 có được tạo ra trong quá
trình hòa tan Si hay không. Có vẻ như mô hình II có khả năng xảy ra bởi vì có H2
được tạo ra trong quá trình ăn mòn. Tuy nhiên, liệu mô hình III có xảy ra đồng thời
hay không vẫn còn là một câu hỏi mở.
43
2.2.1.2. Sự phun lỗ trống và vai trò của kim loại
Sự chuyển điện tích là cần thiết cho quá trình ôxy hóa và hòa tan Si. Sự phun
lỗ trống là bằng chứng rõ ràng cho quá trình chuyển điện tích trong ăn mòn Si trong
dung dịch HF/HNO3 [32, 43] và ăn mòn MACE, mặc dù có sự không thống nhất về
cách giải thích nguồn gốc của sự thoát khí [95, 97, 149, 178]. Thông thường, để ăn
mòn một nguyên tử tương đương với việc tách nguyên tử này ra khỏi khối bán dẫn.
Tuy nhiên, nguyên tử trong chất bán dẫn luôn liên kết với các nguyên tử khác ở
xung quanh, do đó, để quá trình ăn mòn nguyên tử này có thể xảy ra thì trước tiên
các liên kết này phải được bẻ gẫy. Đối với đa số chất bán dẫn, liên kết giữa các
nguyên tử được thực hiện bằng các cặp điện tử dùng chung (liên kết cộng hóa trị).
Vì vậy, việc bẻ gẫy liên kết chính là lấy đi điện tử liên kết tức là tạo ra lỗ trống.
Như vậy, việc hủy liên kết của nguyên tử trên bề mặt khối bán dẫn trong quá trình
ăn mòn chính là sự phun lỗ trống ra bề mặt khối bán dẫn. Trong MACE, các kim
loại đóng vai trò như một điện cực âm nhỏ mà tại đó sự khử chất ôxy hóa xảy ra
(phản ứng catốt). Các lỗ trống được tạo ra sau đó được phun vào đế Si tiếp xúc với
kim loại. Theo đó, các nguyên tử Si bên dưới các kim loại bị ôxy hóa do sự phun lỗ
trống và bị hòa tan bởi HF (phản ứng anốt).
Thế điện hóa của H2O2 là dương nhiều hơn so với vùng hóa trị của Si, và
dương hơn các chất ôxy hóa thường được sử dụng trong ăn mòn vết Si chẳng hạn
như HNO3 , Fe(NO3)3, …) [194]. Xét trên quan điểm năng lượng, H2O2 có thể phun
lỗ trống vào vùng hóa trị của Si (hình 2.2(a)), do đó đế Si sẽ bị ăn mòn trong dung
dịch HF/H2O2 ngay cả khi không có kim loại xúc tác. Tuy nhiên, sự ăn mòn Si trong
dung dịch HF/H2O2 chỉ xảy ra với tốc độ ăn mòn rất thấp (khoảng 10 nm/h) và nồng
độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn cũng cao hơn nhiều so với nồng độ H2O2 sử dụng
trong ăn mòn MACE [171, 194]. Trên thực tế, sự có mặt của một kim loại là cần
thiết để ăn mòn nhanh Si trong dung dịch HF với các tác nhân ôxy hóa (ví dụ, H2O2,
bong bóng O2, hoặc O2 hòa tan trong H2O). Phản ứng catốt xảy ra trên bề mặt có
bao phủ kim loại nhanh hơn trên một bề mặt không có kim loại.
44
)
V
(
ế h T
Hình 2.2. (a) Giản đồ về mối liên hệ về năng lượng giữa các vùng trong một đế Si và
các năng lượng chuẩn của các chất ôxy hóa khác nhau; (b) So sánh các năng lượng
biên vùng Si và thế ôxy hóa khử H2O2/H2O trên thang năng lượng điện hóa, chứng tỏ
rằng lỗ trống được phun sâu vào vùng hóa trị [147]; (c) Sơ đồ so sánh định tính
giữa các mức năng lượng điện tử điện hóa của các biên vùng Si (Ec và Ev tương ứng 2-/Pt, Ag+/Ag, là vùng dẫn và vùng hóa trị,) và năm hệ ôxy hóa khử, AuCl4/Au, PtCl6
Cu2+/Cu và Fe3+/Fe2+, trong dung dịch HF [95].
Ngay sau khi chất ôxy hóa bị khử trên bề mặt của kim loại, các lỗ trống sẽ
được phun vào đế Si. Chattopadhyay và các cộng sự [147] đã phác thảo các mức
năng lượng của đế Si và thế điện hóa của H2O2/H2O và cho rằng các lỗ trống đã
được phun sâu vào bên trong vùng hóa trị thông qua các hạt Pt trong trường hợp ăn
mòn đế Si bao phủ Pt trong dung dịch HF/H2O2/H2O (hình 2.2(b)). Tương tự, để
giải thích sự ăn mòn của Si trong dung dịch AgNO3/HF, Peng và các cộng sự [95]
45
đã so sánh định tính các mức năng lượng điện hóa của các biên vùng Si và thế điện
hóa của năm hệ ôxy hóa khử (hình 2.2(c)) và cho rằng việc khử Ag diễn ra xung
quanh hạt nhân Ag và Si sẽ bị ôxy hóa và hòa tan.
2.2.1.3. Sự chuyển khối lượng (mass transfer)
Các nguyên tử Si bị ôxy hóa và hòa tan tại giao diện giữa các kim loại và các
bề mặt Si, các chất phản ứng và sản phẩm phụ khuếch tán dọc theo giao diện này
(mô hình I, hình 2.3) [94]. Giả định này là hợp lý đối với trường hợp sự ăn mòn
được hỗ trợ bởi các hạt kim loại với kích thước nhỏ sao cho sự khuếch tán của các
chất phản ứng và các sản phẩm phụ dọc theo giao diện giữa các kim loại và Si chỉ
xảy ra trong một khoảng cách ngắn và có thể dễ dàng thực hiện. Tuy nhiên, do
những khó khăn trong việc quan sát quá trình ăn mòn nên không có những bằng
chứng thực nghiệm rõ ràng hỗ trợ cho giả thiết này.
Hình 2.3. Sơ đồ hai mô hình phổ biến nhất có thể xảy ra trong MACE. Mô hình I: các chất
phản ứng và sản phẩm phụ khuếch tán dọc theo giao diện giữa các kim loại quý và tường
của cấu trúc ăn mòn. Mô hình II: Một nguyên tử Si được hòa tan vào kim loại, khuếch tán
qua kim loại và sau đó bị ôxy hóa trên bề mặt của kim loại.
Mặt khác, mặc dù không được thảo luận trong các tài liệu về ăn mòn MACE,
còn có một khả năng nữa có liên quan đến sự chuyển khối lượng trong quá trình ăn
mòn. Có nghĩa là, các nguyên tử Si có tiếp xúc với kim loại sẽ được hòa tan vào
46
trong các kim loại và sau đó khuếch tán qua các kim loại đến giao diện kim
loại/dung dịch. Tại đó các nguyên tử Si sẽ bị ôxy hóa và ăn mòn khỏi giao diện kim
loại/dung dịch (mô hình II, hình 2.3). Trong hiện tượng này, các liên kết ngược
(back-bond) của các nguyên tử Si tại giao diện giữa bề mặt Si và kim loại bị phá vỡ,
các nguyên tử Si tự do hòa tan vào kim loại, khuếch tán qua các kim loại và được
ôxy hóa nhiệt trên bề mặt của kim loại. Nếu Si được bao phủ bởi kim loại với kích
thước tương đối lớn (ví dụ, lớn hơn 1 μm), sự khuếch tán của chất phản ứng và các
sản phẩm phụ dọc theo giao diện của Si và kim loại (mô hình I) là một quá trình
khuếch tán khoảng cách dài, trong khi sự khuếch tán của nguyên tử Si qua các kim
loại xảy ra trong một khoảng cách tương đối ngắn (thường là vài chục nanômét).
Cho đến nay, không có bằng chứng trực tiếp trong các tài liệu chứng minh một cách
rõ ràng rằng quá trình khuếch tán nào trong hai quá trình trên chiếm ưu thế trong sự
ăn mòn MACE.
2.2.1.4. Quá trình ăn mòn tổng thể
Dựa trên các kết quả đã được công bố, một bức tranh mô tả các quá trình xảy
ra trong MACE được đề xuất như sau (hình 2.4) [194]: (1) Nhờ hoạt tính xúc tác
của kim loại, chất ôxy hóa được ưu tiên khử tại bề mặt của kim loại. (2) Các lỗ
trống được tạo ra do sự khử của các chất ôxy hóa khuếch tán qua kim loại và được
phun vào trong Si tiếp xúc với kim loại. (3) Si bị ôxy hóa bởi các lỗ trống được
phun vào và bị hòa tan tại giao diện Si/kim loại bởi HF. Các chất phản ứng (HF) và
các sản phẩm phụ khuếch tán dọc theo giao diện giữa Si và kim loại. (4) Nồng độ
của các lỗ trống đạt giá trị tối đa của tại giao diện Si/kim loại. Do đó, vùng Si tiếp
xúc với kim loại được ăn mòn bởi HF nhanh hơn nhiều so với những vùng không
tiếp xúc với kim loại. (5) Các lỗ trống khuếch tán từ Si bên dưới kim loại vào các
vùng không có kim loại hoặc vào vách của lỗ xốp nếu tốc độ tiêu thụ lỗ trống tại
giao diện Si/kim loại nhỏ hơn tốc độ phun lỗ trống. Do đó, các khu vực không có
kim loại hoặc tường bên của các lỗ xốp cũng có thể bị ăn mòn và hình thành micrô
xốp Si, tương tự như trường hợp của ăn mòn điện hóa hoặc ăn mòn vết.
47
Hình 2.4. Sơ đồ các quá trình xảy ra trong MACE [194].
2.2.2. Công nghệ ăn mòn MACE đã được áp dụng để chế tạo các hệ ASiNW trên
đế Si trong luận án
2.2.2.1. Vật liệu ban đầu
Vật liệu ban đầu chúng tôi đã sử dụng để chế tạo các hệ SiNW xếp thẳng
hàng (aligned SiNW - ASiNW) là các tấm Si tinh thể với định hướng tinh thể (100)
và (111), được pha tạp loại p và loại n với các điện trở suất khác nhau. Cụ thể là:
- Đế Si (100) pha tạp B (loại p) (p-Si (100)), điện trở suất 0,5 – 3 Ωcm, dày
500 – 550 µm.
- Đế Si (100) pha tạp P (loại n) (n-Si(100)), điện trở suất 0,5 – 3 Ωcm, dày
500 – 550 µm.
- Đế Si (111) pha tạp B (loại p) (p-Si (111)), điện trở suất 4 – 10 Ωcm, dày
240 µm.
- Đế Si (111) pha tạp P (loại n) (n-Si (111)), điện trở suất 4 – 10 Ωcm, dày
240 µm.
2.2.2.2. Dung dịch lắng đọng kim loại và dung dịch ăn mòn
Trong luận án này, kim loại được sử dụng để hỗ trợ cho sự ăn mòn Si trong
phương pháp MACE là bạc (Ag). Ag sẽ được lắng đọng lên trên bề mặt đế Si bằng
phương pháp lắng đọng hóa học với dung dịch lắng đọng là dung dịch của axít HF
và AgNO3 trong nước. Dung dịch được sử dụng để ăn mòn đế Si có bao phủ các hạt
48
Ag trên bề mặt là dung dịch bao gồm axít HF và H2O2 trong nước. Thông số của các
loại hóa chất đã được sử dụng để chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si trong luận án
này được liệt kê trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1. Các thông số của các hóa chất đã được sử dụng trong luận án.
Tên hóa chất
Công thức hóa học
Nồng độ (%)
Xuất xứ
Bạc nitrat
99,8
Trung Quốc
AgNO3
Axít flohydric
HF
40
Trung Quốc
Hydro peroxit
30
Trung Quốc
H2O2
Axít nitric
65
Trung Quốc
HNO3
Etanol
99,9
Trung Quốc
C2H5OH
Acetone
99,6
Trung Quốc
C3H6O
Nước khử iôn
100
Viện KHVL
H2O
2.2.2.3. Quy trình chế tạo hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
Dựa trên tổng quan về phương pháp ăn mòn MACE, chúng tôi xây dựng quy
trình chế tạo các mẫu ASiNW bao gồm các bước như sau (hình 2.5):
1) Các đế Si ban đầu được cắt thành các mảnh có kích thước 1x1 cm2, gắn
lên đế và bọc phủ bảo vệ.
2) Trước khi tiến hành lắng đọng Ag, mẫu được rửa trong các dung dịch
acetone, ethanol và nước khử iôn để loại bỏ các tạp bẩn và các chất hữu cơ
trên bề mặt. Tiếp theo, mẫu sẽ được ngâm trong dung dịch HNO3/H2O = 1/1
trong 10 phút và sau đó được ngâm trong dung dịch HF 5% trong 5 phút để
loại bỏ lớp ôxít tự nhiên trên bề mặt. Sau đó mẫu được rửa lại bằng nước khử
iôn vài lần.
3) Tiếp theo, mẫu Si sẽ được lắng đọng Ag trong dung dịch bao gồm axít HF
và AgNO3. Sau bước này, bề mặt mẫu Si sẽ được bao phủ bởi Ag.
4) Mẫu Si được bao phủ Ag sau đó được ăn mòn hóa học trong dung dịch
bao gồm axít HF và H2O2 để tạo ra lớp ASiNW ở nhiệt độ phòng.
49
5) Các mẫu ASiNW được chế tạo sẽ được nhúng trong dung dịch HNO3/H2O
= 1/1 để loại bỏ Ag còn dư sau đó rửa bằng nước khử iôn và làm khô trong
không khí.
6) Các mẫu sau khi chế tạo xong sẽ được đem đi đo đạc khảo sát các tính
chất.
Hình 2.5. Quy trình chế tạo hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE.
2.2.3. Chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
Trước hết, dựa theo các kết quả đã được báo cáo bởi một số nhóm tác giả
[89, 94], chúng tôi chọn dung dịch bao gồm 4,6 M HF và 5 mM AgNO3 là dung
dịch để lắng đọng lớp hạt nanô Ag lên trên bề mặt đế Si và thời gian tiến hành bước
lắng đọng Ag là 60 giây. Kết quả SEM bề mặt của đế Si định hướng tinh thể (100)
điện trở suất 0,5 – 3 Ωcm, pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag được chỉ ra trên hình
2.6(a) cho thấy rằng sau bước lắng đọng Ag, trên bề mặt của đế Si xuất hiện một
lớp các đám Ag. Các đám Ag này có kích thước khoảng vài trăm nanô mét, nối liền
với nhau và bao phủ toàn bộ bề mặt đế Si.
Sau khi ăn mòn hóa học trong dung dịch của axít HF và H2O2 trong nước ở
nhiệt độ phòng trong 90 phút, các hệ ASiNW đã được hình thành trên bề mặt của đế
Si. Kết quả này có thể quan sát qua các ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của mẫu
ASiNW chế tạo được được trình bày trong các hình 2.6(b) và (c). Từ các hình vẽ
này có thể thấy rằng sau quá trình ăn mòn các hệ SiNW đã được hình thành và phân
bố đồng đều trên toàn bộ bề mặt đế Si. Các NW xếp thẳng hàng với nhau với chiều
50
dài của các dây là khoảng 8 – 9 µm và hầu hết đều định hướng vuông góc với bề
mặt của đế Si (100). Tuy nhiên, các SiNW vẫn bị dính liền vào với nhau chứ chưa
tách rời thành các NW riêng biệt. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thay đổi các điều
kiện chế tạo đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo lên sự hình
thành và cấu trúc của các hệ ASiNW. Các kết quả thu được sẽ được trình bày trong
phần tiếp theo.
Hình 2.6. Ảnh SEM của đế Si (100) pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag trong dung
dịch 4,6 M HF và 5 mM AgNO3 trong 60 giây (a) sau đó ăn mòn trong dung dịch
4,8 M HF và 0,4 M H2O2 (b, c) trong 90 phút ở nhiệt độ phòng.
2.2.4. Ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo và vật liệu ban đầu lên cấu trúc của
các hệ ASiNW trên đế Si chế tạo bằng phương pháp MACE
2.2.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag lên cấu trúc
của các hệ ASiNW
Để khảo sát ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag
lên cấu trúc của các hệ ASiNW hình thành trên đế Si (100), chúng tôi đã tiến hành
lắng đọng Ag các đế Si (100) pha tạp loại p trong các dung dịch lắng đọng có nồng
độ AgNO3 khác nhau, các điều kiện khác giống như nhau. Các dạng hình thái khác
51
nhau của các hạt Ag trên bề mặt đế Si sau khi thực hiện bước lắng đọng Ag được
thể hiện trong các hình 2.7 và 2.8.
Hình 2.7. Ảnh SEM bề mặt của mẫu pSi (100) sau khi lắng đọng Ag trong thời
gian 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và AgNO3 có nồng độ khác nhau: 3
mM (a), 5 mM (b), 15 mM (c), 25 mM (d) và 30 mM (e).
Trước hết, có thể thấy rằng khi nồng độ của AgNO3 trong dung dịch lắng
đọng thấp (3 mM trong trường hợp của chúng tôi), các hạt Ag có dạng là các hòn
đảo nằm tách riêng biệt nhau, kích thước của chúng thay đổi trong khoảng từ 30 đến
70 nm (hình 2.7(a)). Mật độ của các “hòn đảo” Ag này khá dày và bao phủ đồng
đều toàn bộ bề mặt đế Si. Khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng tăng lên
đến 5 mM, các “đảo” Ag bắt đầu phát triển rộng ra và nối liền với nhau để hình
thành các đám Ag với kích thước lên đến vài trăm nanô mét như được chỉ ra trong
các hình 2.7(b) và 2.8(a). Khi nồng độ AgNO3 tiếp tục tăng lên, chẳng hạn như đến
52
15 mM, các đám Ag này sẽ mọc lên chủ yếu theo chiều dọc thành các thanh thẳng
đứng trên bề mặt đế Si (hình 2.7(c) và 2.8(b)) rồi đâm dần thành các nhánh cây
(hình 2.7(e) và 2.8(c)). Nồng độ AgNO3 càng tăng lên thì các nhánh cây này sẽ càng
dài ra và độ dày của lớp Ag trên mặt mẫu cũng tăng lên.
Hình 2.8. Ảnh SEM mặt cắt của đế Si(100) pha tạp loại p sau khi lắng đọng Ag
trong thời gian 60 giây trong dung dịch HF/AgNO3 có nồng độ AgNO3 khác
nhau: 5 mM (a), 15 mM (b) và 30 mM (c).
Cơ chế hình thành các cấu trúc nanô Ag trên đế Si sau khi lắng đọng trong
dung dịch HF/AgNO3 đã được đề xuất bởi Peng và các cộng sự như sau [37]: Vì thế điện hóa của Ag+/Ag là dương hơn so với năng lượng Fermi của đế Si (hình 2.2(c)), do đó khi nhúng đế Si vào trong dung dịch lắng đọng, các iôn Ag+ trong vùng lân
cận của bề mặt Si sẽ phun các lỗ trống vào vùng hóa trị của Si (hay nói cách khác là các iôn Ag+ bắt các điện tử tử vùng hóa trị của Si), bị khử thành Ag và tạo thành hạt
nhân. Khi nồng độ AgNO3 tăng lên, sự phun lỗ trống xảy ra càng mạnh, dẫn đến tốc
độ lắng đọng Ag sẽ tăng lên và hạt nhân Ag phát triển thành các hạt lớn hơn với mật
độ dày hơn. Nếu nồng độ AgNO3 tiếp tục được tăng lên, mật độ các hạt Ag trở nên
rất dày, các hạt nằm cạnh nhau sẽ có xu hướng nối liền với nhau và hình thành lên
các đám Ag. Các đám Ag này sẽ phát triển rộng ra bao phủ kín toàn bộ bề mặt của
53
đế Si rồi sau đó mọc theo hướng thẳng đứng thành các thanh Ag và dần dần đâm
thành các nhánh cây. Nếu tiếp tục tăng thêm nồng độ AgNO3 trong dung dich lắng
đọng, Ag sẽ mọc thành một lớp các nhánh cây xếp chồng lên nhau.
Các đế Si sau khi thực hiện bước lắng đọng Ag sẽ được ăn mòn hóa học
trong dung dịch 4,8 M HF và 0,4 M H2O2 trong thời gian 90 phút ở nhiệt độ phòng.
Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW được hình thành trên bề mặt đế Si
sau khi ăn mòn được thể hiện trong hình 2.9. Nhìn vào hình vẽ chúng ta có thể thấy
rằng nồng độ của AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag ảnh hưởng mạnh đến cấu
trúc của các hệ ASiNW chế tạo được. Trước hết, nếu nồng độ AgNO3 là thấp (3
mM), các hệ ASiNW sẽ không được hình thành trên bề mặt đế Si. Lúc này trên bề
mặt đế Si mới chỉ có sự hình thành của lớp xốp, sự ăn mòn Si cũng xảy ra ngẫu
nhiên lộn xộn chứ chưa có tính định hướng thẳng xuống. Điều này được thể hiện
trong hình các 2.9(a) và (e). Hiện tượng này có thể được giải thích dựa trên cơ chế
hình thành cấu trúc nanô Si trong phương pháp MACE được đề xuất bởi Peng và
các đồng nghiệp [90, 94]. Theo đề xuất này, SiO2 hoặc Si bên dưới các hạt Ag sẽ bị
ăn mòn ngay lập tức bởi HF và tạo ra các lỗ rỗng. Các hạt Ag sẽ bị chìm xuống các
lỗ rỗng này và sự ăn mòn sẽ xảy ra theo hướng chìm xuống của các hạt Ag. Khi
kích thước của các hạt Ag là nhỏ, chuyển động lên xuống và chuyển động Brown
của chúng có thể xảy ra trong quá trình ăn mòn khiến cho sự ăn mòn xảy ra theo các
hướng ngẫu nhiên, lộn xộn và tạo ra các cấu trúc Si xốp.
Khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag tăng lên đến 5 mM, các
hạt Ag đã phát triển thành các đám Ag có kích thước lớn hơn, sự ăn mòn lúc này
cũng đã có tính định hướng thẳng xuống thay vì ngẫu nhiên và lộn xộn như trong
trường hợp nồng độ AgNO3 nhỏ hơn 5 mM và các hệ ASiNW bắt đầu được hình
thành trên bề mặt đế Si (hình 2.9(b) và (f)). Nồng độ AgNO3 trong khoảng từ 5 đến
30 mM là nồng độ thích hợp cho việc tạo ra các hệ ASiNW trên đế Si. Tuy nhiên,
có một điểm đáng chú ý là khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng tăng lên,
mật độ các NW sẽ bị thưa đi. Bên cạnh đó, từ các kết quả SEM mặt cắt của các mẫu
có thể thấy rằng chiều dài của các NW cũng phụ thuộc vào nồng độ AgNO3 trong
54
dung dịch lắng đọng Ag. Các NW sẽ dài nhất khi nồng độ AgNO3 là 15 mM
(khoảng 12 µm, như được chỉ ra trong các hình 2.9(g) và 2.10). Khi nồng độ
AgNO3 tăng lên lớn hơn 15 mM thì chiều dài của các NW sẽ bị giảm đi.
Hình 2.9. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW đã được chế tạo với bước lắng
đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong trong dung dịch 4,6 M HF và
nồng độ AgNO3 khác nhau: 3 mM (a, e), 5mM (b, f), 15 mM (c, g) và 25 mM (d, h).
Có thể giải thích ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 lên cấu trúc của hệ ASiNW
hình thành trên các đế Si dựa trên cơ chế ăn mòn của phương pháp MACE như sau:
55
Khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag tăng lên, kích thước của
các đám Ag lắng đọng trên bề mặt đế Si sẽ tăng lên, và do đó vùng Si được bao phủ
bởi Ag sẽ tăng lên. Vì sự ăn mòn chỉ xảy ra chủ yếu tại những vùng bề mặt Si được
bao phủ bởi kim loại vì vậy vùng Si bị ăn mòn cũng sẽ tăng lên. Kết quả là khoảng
cách giữa các NW sẽ tăng lên và mật độ của các NW sẽ bị giảm đi.
Hình 2.10. Sự phụ thuộc của chiều dài của các SiNW vào nồng độ của
AgNO3 trong các dung dịch lắng đọng.
Nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng tăng lên khiến cho tốc độ phun
lỗ trống vào Si tăng lên, do đó tốc độ ăn mòn Si trong dung dịch sẽ tăng lên và
chiều dài của các SiNW cũng tăng lên. Khi nồng độ này đạt được đến giá trị đủ lớn
(15 mM trong trường hợp của chúng tôi) thì chiều dài của các dây sẽ đạt được giá
trị cực đại. Nhưng khi nồng độ AgNO3 tăng lên quá cao (lớn hơn 15 mM), sẽ xuất
hiện lượng Ag dư thừa nằm trên đỉnh của các SiNW như được thể hiện trong hình
2.11. Điều này sẽ dẫn đến kết quả là các SiNW sẽ bị ăn mòn ngắn đi do đỉnh của
chúng đồng thời cũng sẽ bị ăn mòn trong dung dịch ăn mòn với sự hỗ trợ của lượng
Ag dư thừa này. Cần lưu ý một điểm rằng, khi không có Ag dư thừa trên đỉnh của
các NW thì các đỉnh này cũng vẫn bị ăn mòn trong dung dịch HF/H2O2, tuy vậy tốc
độ ăn mòn các đỉnh này thường rất thấp và không đáng kể so với sự ăn mòn ở vùng
dưới đáy với sự hỗ trợ của kim loại. Nồng độ AgNO3 càng tăng lên thì lượng Ag dư
56
thừa trên đỉnh của các NW sẽ càng tăng lên dẫn tới việc đỉnh của các NW bị ăn mòn
càng mạnh và độ dài của các SiNW sẽ càng bị giảm đi.
Hình 2.11. Ảnh SEM mặt cắt của hệ ASiNW đã chế tạo với các bước lắng đọng Ag được
thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong 60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và 25 mM
AgNO3 (a) và ảnh phóng đại đỉnh của một số SiNW (b).
Hình 2.12. Ảnh TEM của một số ASiNW đã được chế tạo với các bước lắng đọng
Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong 60 giây trong dung dịch 4,6 M
HF và AgNO3 có nồng độ khác nhau: 5 mM (a), 15 mM (b), và 25 mM (c).
Một số SiNW đã được tách ra để xác định đường kính thông qua phép đo
TEM. Các kết quả thu được cho thấy đường kính của các dây tương đối đồng đều
và thay đổi trong khoảng 100-200 nm (hình 2.12). So sánh đường kính của các NW
trong các hình 2.12(a), (b) và (c) có thể thấy rằng mặc dù được lắng đọng Ag trong
các dung dịch có nồng độ AgNO3 khác nhau nhưng đường kính của các NW của
57
các mẫu này lại tương tự như nhau. Như vậy, nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng
đọng Ag mặc dù có ảnh hưởng mạnh đến mật độ và chiều dài của các hệ ASiNW
nhưng lại hầu như không có ảnh hưởng đến đường kính của các NW. Các kết quả
nghiên cứu về ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag lên
cấu trúc của các hệ ASiNW chế tạo trên đế Si bằng phương pháp MACE đã được
chúng tôi công bố trên International Journal of Nanotechnology năm 2013 [33].
2.2.4.2. Ảnh hưởng của vật liệu ban đầu lên cấu trúc của các hệ ASiNW
Hình 2.13. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW chế tạo trên đế Si (100) pha tạp loại p (a và c)
và loại n (b và d) ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong thời gian 90 phút
sau khi lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/10 mM AgNO3.
Các hệ ASiNW đã được chế tạo trên các đế Si (100) pha tạp loại khác nhau.
Hình 2.13 trình bày các ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW được chế
tạo trên đế Si pha tạp loại p ((a), (c)) và pha tạp loại n ((b), (d)) với các điều kiện
chế tạo giống như nhau. Ta có thể dễ dàng thấy rằng mặc dù được chế tạo trên các
loại đế pha tạp khác nhau nhưng các mẫu ASiNW này lại giống nhau về mật độ và
chiều dài của các NW. Điều này chứng tỏ rằng tốc độ ăn mòn đế Si (được xác định
bởi độ sâu ăn mòn) và cấu trúc của các hệ ASiNW không phụ thuộc vào loại pha tạp
của đế Si.
58
Các SiNW cũng đã được chế tạo trên các đế Si định hướng tinh thể (111),
điện trở suất 4 – 10 Ωcm. Các kết quả thu được được thể hiện trên hình 2.14. Từ
đây này ta thấy rằng, sau quá trình ăn mòn, các SiNW đã được hình thành và phân
bố đều trên toàn bộ bề mặt mẫu Si với chiều dài khoảng 5 – 6 µm. Các NW này xếp thẳng hàng với nhau và nghiêng với mặt đế Si một góc khoảng 45o, nghĩa là các
NW này đều có hướng vuông góc với mặt phẳng (100) của tinh thể Si. Kết quả trên
là dễ hiểu vì ăn mòn ướt nói chung và ăn mòn MACE nói riêng là ăn mòn bất đẳng
hướng với hướng ưu tiên là hướng <100>.
Hình 2.14. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW chế tạo trên đế Si (111) pha tạp loại p
(a) và loại n (b) ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong thời gian
30 phút sau khi tráng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/10 mM AgNO3.
Sự ăn mòn bất đẳng hướng theo hướng ưu tiên <100> trong phương pháp
MACE có thể được làm rõ thông qua lý thuyết phá vỡ liên kết ngược (back-bond)
[86] đã được sử dụng để giải thích sự bất đẳng hướng trong ăn mòn anốt Si trong
dung dịch HF [32] và ăn mòn Si trong dung dịch kiềm [61]. Theo đó, để ôxy hóa
hay hòa tan một nguyên tử trên bề mặt của một đế Si cần phải phá vỡ các liên kết
ngược của các nguyên tử bề mặt với các nguyên tử bên dưới. Tính bền của liên kết
ngược (được xác định bởi số lượng các liên kết ngược) càng lớn thì việc loại bỏ
nguyên tử bề mặt càng khó. Số lượng các liên kết ngược của một nguyên tử Si trên
bề mặt được xác định bởi định hướng tinh thể của bề mặt. Mỗi nguyên tử trên bề
mặt của một đế (100) có hai liên kết ngược, trong khi một nguyên tử trên bề mặt
(110) hoặc (111) lại có ba liên kết ngược [55]. Do sự sai khác về tính bền của các
liên kết ngược, nguyên tử Si trên mặt phẳng (100) là dễ bị loại bỏ nhất, và do đó sự
ăn mòn ướt Si sẽ xảy ra ưu tiên dọc theo hướng <100>.
59
Ngoài ra, so sánh các hình 2.14(a) và (b) có thể thấy được rằng tương tự như
trường hợp của đế Si (100), trong cùng một điều kiện chế tạo, tốc độ ăn mòn đế Si
và hình thái học của các hệ ASiNW thu được trên đế Si (111) pha tạp loại p và loại
n là tương tự như nhau. Kết quả này một lần nữa khẳng định rằng tốc độ ăn mòn đế
Si và cấu trúc của các hệ ASiNW không phụ thuộc vào loại pha tạp của đế Si.
2.2.4.3. Ảnh hưởng của thời gian ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW
Hình 2.15. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu Si(100) được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6
M HF/15 mM AgNO3 sau đó ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF/0,4 M H2O2 trong: 30 (a),
60 (b), 90 (c), 120 (d), 150 (e) và 180 phút (f) ở nhiệt độ phòng.
Sự ảnh hưởng của thời gian ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW hình
thành trên bề mặt của đế Si cũng đã được tiến hành nghiên cứu. Ảnh SEM bề mặt
và mặt cắt của các hệ ASiNW được chế tạo trong các điều kiện như nhau nhưng
thay đổi thời gian ăn mòn (thể hiện trong hình 2.15) minh họa sự phụ thuộc của
60
chiều dài của các SiNW vào thời gian ăn mòn. Có thể thấy rằng, khi tăng thời gian
ăn mòn từ 30 đến 90 phút, độ dài của SiNW tăng lên (xem trong hình 2.15(a), (b) và
(c)) và các SiNW sẽ dài nhất khi thời gian ăn mòn là 90 phút (khoảng 12 µm như
được chỉ ra trong hình 2.15(c)). Tuy nhiên, nếu thời gian ăn mòn tăng lên quá lớn
(hơn 90 phút), SiNW sẽ bị ăn mòn ngắn đi như được chỉ ra trong hình 2.15(d), (e)
và (f).
Hình 2.16. Ảnh SEM bề mặt và ảnh TEM tương ứng của các mẫu ASiNW được ăn mòn
trong thời gian 60 (a, b) và 120 phút (c, d), các điều kiện chế tạo khác như nhau.
Một điều đáng lưu ý rằng, mặc dù có ảnh hưởng mạnh đến chiều dài của các
NW nhưng thời gian ăn mòn lại hầu như không ảnh hưởng đến mật độ cũng như
đường kính của các NW này. Kết quả này được chỉ ra trên hình 2.16. So sánh các
ảnh SEM (2.16(a) và (c)) và TEM (2.16(b) và (d)) của các mẫu SiNW được ăn mòn
trong thời gian tương ứng là 60 và 120 phút, có thể thấy rằng mật độ và đường kính
của các mẫu SiNW này (nằm trong khoảng 100 – 200 nm) là giống nhau. Ảnh
hưởng của thời gian ăn mòn lên chiều dài và đường kính của các SiNW được tạo
thành trên đế Si bằng phương pháp MACE được tổng kết trong bảng 2.2. Các quả
này cho thấy rằng, có thể kiểm soát độ dài của các hệ ASiNW chế tạo bằng phương
pháp MACE bằng cách thay đổi thời gian ăn mòn. Các kết quả nghiên cứu về ảnh
hưởng của vật liệu ban đầu và thời gian ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW chế
61
tạo trên đế Si bằng phương pháp MACE đã được chúng tôi công bố trên Tạp chí
Khoa học và Công nghệ năm 2014 [106].
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của nồng độ HF lên chiều dài, đường kính của các SiNW phân tích
từ các ảnh SEM và TEM.
Thời gian ăn mòn (phút)
30
60
90
120
150
180
Các thông số của SINW
Chiều dài các NW (µm)
∼ 5
∼ 7
∼ 12
∼ 10
∼ 7
∼ 4
120-180 100-200 140-180 120-200 100-190 100-200
Đường kính các NW (nm)
2.2.4.4. Ảnh hưởng của dung dịch ăn mòn lên cấu trúc của các hệ ASiNW
a) Ảnh hưởng của nồng độ HF trong dung dịch ăn mòn
Hình 2.17. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu ASiNW ăn mòn trong dung dịch
HF/H2O2 với nồng độ HF khác nhau: 3 M (a), 4.8 M (b), 6 M (c) và 7 M (d),
các điều kiện chế tạo khác như nhau.
Để khảo sát ảnh hưởng của HF trong dung dịch ăn mòn lên cấu trúc của các
hệ ASiNW, các mẫu Si sau khi được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF và 10
mM AgNO3 sẽ được tiến hành ăn mòn trong dung dịch HF và 0,4 M H2O2 với nồng
độ HF thay đổi từ 3 đến 7 M trong thời gian 90 phút ở nhiệt độ phòng. Các kết quả
62
SEM thu được được chỉ ra trên hình 2.17. Từ các ảnh này có thể thấy rằng nồng độ
HF trong dung dịch ăn mòn có ảnh hưởng tới chiều dài của các SiNW. Cụ thể là có
một nồng độ HF tối ưu đối với sự ăn mòn MACE các mẫu Si (4,8 M trong trường
hợp của chúng tôi) mà tại đó các hệ SiNW được tạo thành sau quá trình ăn mòn sẽ
có chiều dài dài nhất. Khi nồng độ HF trong dung dịch ăn mòn tăng lên vượt quá
giá trị tối ưu này thì các SiNW sẽ bị ngắn đi.
b) Ảnh hưởng của nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn
Hình 2.18. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các đế Si (100) có bao phủ Ag sau khi được ăn mòn trong dung dịch 4,8 M HF và H2O2 có nồng độ khác nhau: 0,2 M (a, d), 0,4 M (b, e) và 0,6 M (c, f), các điều kiện khác giống như nhau.
Ảnh hưởng của nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn lên cấu trúc của hệ
ASiNW cũng đã được nghiên cứu. Ảnh SEM của các hệ SiNW chế tạo trên đế Si
(100) sau khi được ăn mòn trong dung dịch ăn mòn với nồng độ H2O2 khác nhau
(hình 2.18) cho thấy rằng nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn có ảnh hưởng tới
63
mật độ và chiều dài của các SiNW. Khi nồng độ H2O2 tăng lên, mật độ của các
SiNW giảm đi, khoảng cách giữa các NW tăng lên và cũng có một nồng độ H2O2 tối
ưu (0,4 M trong trường hợp của chúng tôi) mà cho các hệ ASiNW với các SiNW là
dài nhất. Khi nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn vượt lên quá cao so với nồng
độ tối ưu này các SiNW sẽ bị ăn mòn ngắn đi. Bên cạnh đó, từ các ảnh SEM mặt cắt
của các mẫu Si ăn mòn trong dung dịch có nồng độ H2O2 khác nhau (chỉ ra trên các
hình 2.18(d), (e) và (f)) chúng ta thấy rằng, nồng độ H2O2 tăng lên làm cho các
SiNW chụm vào nhau.
Hình 2.19. Ảnh SEM của các mấu Si (111) có bao phủ Ag sau khi được ăn mòn
trong dung dịch 4,8 M HF và H2O2 có nồng độ khác nhau: 0,4 M (a, d), 0,8 M
(b, e) và 1,2 M (c, f), các điều kiện chế tạo khác như nhau.
Nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn còn có ảnh hưởng đến hướng ăn mòn
đối với sự ăn mòn MACE đế Si (111). Cụ thể là khi nồng độ H2O2 trong dung dịch
64
ăn mòn thấp ([H2O2] = 0,4 mM), sự ăn mòn xảy ra dọc theo hướng tinh thể ưu tiên <100>, các SiNW nghiêng một góc khoảng 45o so với bề mặt của đế Si (111) (hình
2.19(a) và (d)). Khi nồng độ của H2O2 tăng lên đến 0,8 mM, hướng ăn mòn thay đổi
thành hướng nghiêng giữa hướng [111] và hướng <100>, các SiNW lúc này nghiêng một góc khoảng 60o so với bề mặt của đế Si (111) (hình 2.19(b) và (e)).
Hướng ăn mòn sẽ hoàn toàn thay đổi sang hướng thẳng đứng [111] nếu nồng độ
H2O2 tăng lên đến 1,2 M và các SiNW trở nên vuông góc với bề mặt đế Si (111)
(hình 2.19(c) và (f)).
Sự thay đổi của hướng ăn mòn theo nồng độ của H2O2 có thể được lí giải
bằng sự kết hợp của trạng thái bề mặt của Si trong các dung dịch có nồng độ chất
ôxy hóa khác nhau và lý thuyết độ bền liên kết ngược [196]. Khi nồng độ H2O2
trong dung dịch ăn mòn thấp, sự ăn mòn Si sẽ chủ yếu xảy ra theo theo mô hình II –
hòa tan trực tiếp Si trong trạng thái hóa trị II (phương trình (2.5)). Do đó, hướng ăn
mòn trong trường hợp này sẽ được xem xét theo độ bền liên kết ngược. Như đã đề
cập đến trong phần trước, do số liên kết ngược trên mặt phẳng (100) là ít hơn so với
các mặt phẳng (110) và (111) nên các nguyên tử trên mặt phẳng (100) sẽ dễ bị ăn
mòn nhất. Kết quả là, các hướng <100> là những hướng ăn mòn ưu tiên trong
trường hợp này. Khi nồng độ H2O2 trong dung dịch ăn mòn tăng lên đủ lớn sao cho
tốc độ hình thành ôxít Si nhanh hơn tốc độ hòa tan ôxít Si bởi HF và khi đó sẽ có
một lớp ôxít Si được hình thành ở bề mặt ăn mòn. Trong trường hợp mà bề mặt ăn
mòn được bao phủ hoàn toàn bởi ôxít Si, sự ăn mòn Si sẽ được tiến hành thông qua
việc hòa tan của các lớp ôxít Si bởi HF ở bề mặt ăn mòn (Mô hình III – các phương
trình (2.6) và (2.7)). Sự ăn mòn lớp ôxít Si bởi HF được biết đến là một quá trình ăn
mòn đẳng hướng [55], do đó, sự ăn mòn lúc này sẽ xảy ra theo hướng thẳng đứng
(tức là hướng [111] trong trường hợp ăn mòn Si (111)). Bên cạnh đó, trong quá
trình ăn mòn Si trong dung dịch kiềm, việc bổ sung các chất ôxy hóa vào dung dịch
kiềm ăn mòn có thể làm giảm tính bất đẳng hướng của sự ăn mòn [135]. Nó đã
được suy đoán rằng các liên kết treo của các nguyên tử Si bề mặt thay đổi từ Si-H
trong dung dịch kiềm thành Si-OH với việc bổ sung các chất ôxy hóa, và liên kết bề
65
mặt Si-OH có tác động làm giảm độ bền của liên kết ngược và làm giảm tính bất
đẳng hướng trong ăn mòn ướt Si [135]. Vì vậy, trong ăn mòn MACE, ngay cả khi
nồng độ H2O2 không đủ cao để tạo thành một lớp ôxít Si liên tục nhưng vẫn đủ để
hình thành các liên kết bề mặt Si-OH và làm giảm độ bền liên kết ngược thì sự thay
đổi hướng ăn mòn so với hướng tinh thể ưu tiên <100> cũng vẫn có thể xảy ra.
Tóm lại, đối với các hệ ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MACE thì
hình thái học bề mặt, mật độ, định hướng và chiều dài của các hệ này phụ thuộc
mạnh vào các điều kiện chế tạo, từ đó cho phép điều khiển các thông số cấu trúc
trên của các hệ SiNW bằng cách thay đổi các điều kiện chế tạo một cách hợp lý.
Tuy vậy, đường kính của các SiNW là khá lớn (100 – 200 nm) và hầu như không
phụ thuộc vào các điều kiện chế tạo.
2.3. Nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE
Phương pháp MAECE là phương pháp cải tiến dựa trên phương pháp
MACE. Phương pháp này cũng bao gồm hai bước: lắng đọng các hạt kim loại lên
trên bề mặt mẫu Si, và ăn mòn mẫu Si đã được bao phủ bởi các hạt kim loại trong
một dung dịch thích hợp để tạo ra lớp SiNW. Tuy vậy, nếu trong phương pháp
MACE, sau khi được phủ các hạt kim loại trên bề mặt, mẫu Si sẽ được ăn mòn
trong dung dịch ăn mòn mà không cần có thêm thế áp đặt bên ngoài, thì trong
MAECE, mẫu Si sẽ được ăn mòn điện hóa trong dung dịch ăn mòn.
2.3.1. Cơ chế ăn mòn
Cơ chế ăn mòn của MAECE có thể được làm rõ dựa trên cơ chế ăn mòn anốt
Si trong dung dịch của axít HF trong nước, vì vậy trong mục này, chúng tôi sẽ đi
sâu trình bày về cơ chế ăn mòn anốt Si và thông qua đó tìm hiểu về cơ chế ăn mòn
MAECE.
2.3.1.1. Sự phun lỗ trống trong ăn mòn anốt
Như đã đề cập đến trước đó, để ăn mòn một nguyên tử trong chất bán dẫn
trước tiên bẻ gẫy các liên kết giữa nguyên tử này với các nguyên tử bên cạnh nó và
việc hủy liên kết của nguyên tử trên bề mặt khối bán dẫn trong quá trình ăn mòn
66
chính là sự phun lỗ trống ra bề mặt khối bán dẫn. Đối với ăn mòn anốt, sự phun lỗ
trống được thực hiện bằng điện thế áp đặt từ bên ngoài. Lỗ trống thực chất là vị trí
mà một điện tử liên kết bị thiếu và có thể coi nó như là một hạt mang điện tích +e,
dưới tác dụng của điện trường áp đặt cho quá trình ăn mòn anốt, lỗ trống bị cuốn tới
bề mặt bán dẫn (đây chính là quá trình phun lỗ trống) và tạo ra trên bề mặt chất bán
dẫn một vị trí thiếu điện tử liên kết. Và như nói ở trên, vị trí liên kết trống này có
thể bị thay thế bằng các phần tử trong dung dịch để tiến tới việc tạo thành một hợp
chất giữa bán dẫn với các phần tử này, khi chất mới được tạo thành hòa tan vào
trong dung dịch thì quá trình ăn mòn sẽ diễn ra.
Trong phương pháp MAECE, do có thêm sự hỗ trợ của kim loại xúc tác, sự
phun lỗ trống bởi điện thế áp đặt bên ngoài sẽ xảy ra mạnh hơn tại bề mặt Si tiếp
xúc với kim loại và do đó sự ăn mòn Si bên dưới kim loại sẽ nhanh hơn nhiều so
với sự ăn mòn Si không có kim loại bao phủ.
2.3.1.2. Cơ chế ăn mòn trực tiếp và ăn mòn gián tiếp
Với quá trình ăn mòn anốt, sự bẻ gẫy các liên kết của các nguyên tử trên bề
mặt phân cách giữa khối bán dẫn và dung dịch điện hóa có thể được thực hiện bằng
sự phun lỗ trống ra bề mặt khối bán dẫn dưới tác dụng của điện thế áp đặt lên hai
điện cực. Khi một lỗ trống được phun tới bề mặt chất bán dẫn làm cho một liên kết
trên giữa các nguyên tử trên bề mặt bị bỏ trống và khi đó nó có thể được thay thế
bằng một liên kết với các phần tử trong dung dịch điện hóa. Khi toàn bộ các liên kết
của nguyên tử trên bề mặt được thay thế bằng liên kết với các chất trong dung dịch
điện phân thì một chất mới được hình thành. Quá trình này được gọi là quá trình
ôxy hóa đế. Sau quá trình này nếu chất tạo thành được hòa tan ngay vào trong dung
dịch thì quá trình ăn mòn này được gọi là quá trình ăn mòn trực tiếp (ăn mòn một
bước), còn nếu chất tạo thành là ôxít và sau đó ôxít này mới hòa tan vào trong dung
dịch thì quá trình ăn mòn này được gọi là quá trình ăn mòn gián tiếp (ăn mòn hai
bước).
Xét trường hợp ăn mòn anốt Si trong dung dịch axít HF trong nước. Khi đế
Si được nhúng vào trong dung dịch nước của HF thì các nguyên tử Si nằm trên bề
67
mặt sẽ liên kết với hyđrô (lấy từ dung dịch) tạo ra các mối liên kết Si-H [58]. Các
liên kết Si-H đóng vai trò thụ động hóa bề mặt Si vì liên kết Si-H có năng lượng
liên kết cỡ 3,5 eV do đó liên kết Si-F (với năng lượng liên kết cỡ 6 eV) sẽ không thể
tự thay thế được liên kết Si-H [55, 56, 171, 172]. Do đó khi không có điện thế áp
đặt thì Si rất ít bị hòa tan vào dung dịch. Khi có điện thế thích hợp (cả về chiều và
giá trị) được áp đặt, lỗ trống được phun tới bề mặt phân cách Si/dung dịch điện hóa
−
bẻ gẫy liên kết Si-H. Nguyên tử Si trên bề mặt với một liên kết Si-H bị bẻ gẫy trở thành iôn Si+, điều này cho phép một iôn tấn công vào đây. Kết quả là ngay khi
liên kết Si-H bị bẻ gẫy nó lập tức được thay thế bằng liên kết Si-F, quá trình này F
được mô tả trên hình 2.20a.
Hình 2.20. Mô phỏng các bước trong quá trình ăn mòn anốt Si theo cơ chế trực tiếp trong
dung dịch nước của HF[171].
68
−
Sau khi liên kết Si-F được thiết lập, sự tấn công thứ hai của iôn xảy ra do
một điện tử được phun vào khối bán dẫn (dưới tác dụng của điện thế áp đặt), và một F
nguyên tử khí H2 được tạo thành, quá trình này được mô tả trên hình 2.20b. Bản
chất iôn của hai liên kết Si-F (vừa được tạo thành ở bước 1 và 2) làm phân cực hai
liên kết ngược còn lại của Si đủ để làm cho chúng bị phá vỡ bởi HF, kết quả là một
phân tử SiF4 được tạo thành như mô tả trên hình 2.20c. Ngay lập tức phân tử mới
tạo thành này sẽ tác dụng với hai phân tử HF để tạo thành phân tử H2SiF6 và phân ly
vào trong dung dịch (hình 2.20d).
Quá trình ăn mòn trình bày ở trên được gọi là quá trình ăn mòn trực tiếp hay
ăn mòn một bước. Sự ăn mòn anốt Si trong HF sẽ chủ yếu diễn ra theo kiểu ăn mòn
này khi mật độ dòng điện hóa J nhỏ hơn mật độ dòng ngưỡng xốp JPS (là giá trị mật
độ dòng điện ngưỡng mà nếu ta thay đổi mật độ dòng điện hóa ở khoảng nhỏ hơn
hoặc bằng giá trị này thì quá trình ăn mòn lúc này là ăn mòn tạo xốp, sau quá trình
ăn mòn trên bề mặt Si sẽ có một lớp xốp đồng nhất). Phản ứng hóa học trong quá
trình ăn mòn trực tiếp sẽ xảy ra theo phương trình (2.5) đã được trình bày trong cơ
chế ăn mòn của MACE:
2-+2HF+ H2↑ + 2e-
- → SiF6
(2.5) Si+4 HF2
Nếu một bề mặt Si-H tiếp xúc với nước tại nhiệt độ phòng trong một thời
gian thì Si-H dần bị thay thế bằng các nhóm silanol (Si-OH). Tuy nhiên sẽ không có
ôxít được đưa vào liên kết ngược Si-Si ngay lập tức do sự phân cực yếu của liên kết
−
Si-OH [55, 171, 172]. Khi có điện thế áp đặt đủ lớn sẽ cho phép iôn đi tới và
thiết lập một cầu Si-O-Si ở liên kết ngược Si-Si, mỗi cầu Si-O-Si được tạo thành OH
tiêu thụ hai lỗ trống (hình 2.21a). Sau khi ô xít được tạo thành HF sẽ tấn công vào
các liên kết Si-O để tạo thành liên kết Si-F và tạo thành một phân tử SiF4 (hình
2.21b). Sau đó phân tử mới tạo thành này sẽ tác dụng với hai phân tử HF để tạo
thanh phân tử H2SiF6 và phân ly vào trong dung dịch tương tự như trong quá trình
ăn mòn trực tiếp (hình 2.20d). Quá trình ăn mòn này được gọi là quá trình ăn mòn
gián tiếp hay ăn mòn hai bước.
69
Hình 2.21. Mô phỏng bước ôxy hóa trong quá trình ăn mòn anốt Si theo cơ chế gián tiếp
trong dung dịch nước của HF[171].
Các phản ứng hóa học trong quá trình ăn mòn này sẽ xảy ra theo các phương
trình (2.6) và (2.7):
Si+2H2O → SiO2+4H++4e- (2.6) SiO2 + 6HF → H2SiF6 + 2H2O (2.7)
Thông thường khi ăn mòn anốt Si trong dung dịch nước của HF thì kiểu ăn
mòn gián tiếp sẽ chiếm ưu thế khi mật độ dòng điện hóa lớn (J > JPS). Tuy nhiên giá
trị cụ thể của mật độ dòng điện lại phụ thuộc rất mạnh vào các điều kiện ăn mòn đặc
biệt là nồng độ HF [51, 133].
Đối với phương pháp MAECE, các phản ứng của cả hai cơ chế trên được
tăng tốc cục bộ bởi sự xúc tác của các hạt kim loại. Theo đó, lỗ trống sẽ được phun
vào Si nhiều hơn thông qua giao diện kim loại/Si, do đó quá trình ôxy hóa và ăn
mòn Si sẽ ưu tiên xảy ra tại giao diện kim loại/Si, và sự ăn mòn Si bên dưới kim
loại sẽ nhanh hơn nhiều so với sự ăn mòn Si không có kim loại bao phủ. Khi thời
gian ăn mòn tăng lên, các kim loại sẽ chìm sâu vào đế Si tạo nên các cấu trúc nanô
Si.
70
2.3.2. Công nghệ ăn mòn MAECE đã được áp dụng để chế tạo các hệ ASiNW
trên đế Si trong luận án
2.3.2.1. Vật liệu ban đầu, các dung dịch lắng đọng và dung dịch ăn mòn
Vật liệu ban đầu chúng tôi đã sử dụng để chế tạo các hệ ASiNW bằng
phương pháp MAECE là các đế Si tinh thể với định hướng tinh thế (100), được pha
tạp loại p (pha tạp B), điện trở suất 22 Ωcm, dày 500 – 550 µm.
Kim loại được sử dụng để hỗ trợ cho sự ăn mòn MAECE Si cũng vẫn là Ag
và Ag sẽ được lắng đọng lên trên bề mặt đế Si bằng phương pháp lắng đọng hóa
học với dung dịch lắng đọng là dung dịch của axít HF và AgNO3 trong nước. Dung
dịch được sử dụng để ăn mòn đế Si có bao phủ các hạt Ag trên bề mặt là dung dịch
của axít HF trong nước.
2.3.2.2. Hệ điện hóa sử dụng để chế tạo hệ ASiNW
Sơ đồ của hệ ăn mòn điện hóa mà chúng tôi sử dụng để chế tạo các hệ
ASiNW trên đế Si được thể hiện trên hình 2.22(a). Hệ này gồm hai điện cực: điện
cực mà mẫu Si sau khi đã được lắng đọng Ag gắn lên để ăn mòn là anốt (còn được
gọi là điện cực làm việc), điện cực này được nối với cực dương của một nguồn điện
một chiều (DC); điện cực thứ hai là catốt (còn được gọi là điện cực đối), nó được
nối với cực âm của nguồn điện DC. Catốt mà chúng tôi sử dụng trong các thí nghiệm là một lưới Pt hình chữ nhật có kích thước là 2 x 3 cm2. Hai điện cực trên
được đặt song song với nhau và được nhúng vào trong dung dịch ăn mòn.
Có hai chế độ ăn mòn anốt thường được sử dụng để ăn mòn Si là chế độ ổn
dòng và chế độ ổn thế. Ở chế độ ăn mòn ổn dòng thì dòng điện chạy qua mẫu được
giữ ổn định trong suốt quá trình ăn mòn, còn ở chế độ ăn mòn ổn thế thì điện áp
giữa bề mặt mẫu và dung dịch ăn mòn được giữ ổn định trong suốt quá trình ăn
mòn. Trong luận án này, chúng tôi đã sử dụng chế độ ăn mòn ổn dòng để chế tạo
các hệ ASiNW trên bề mặt đế Si. Nguồn điện một chiều mà chúng tôi sử dụng là
nguồn ổn dòng tự chế tạo với dòng điện ở lối ra có thể thay đổi từ 0 đến 100 mA
với độ chính xác 0,01 mA. Nguồn này có cổng kết nối với máy tính để thực hiện sự
71
điều khiển nguồn thông qua máy tính, đồng thời ghi lại các dữ liệu về điện thế và
dòng điện hóa trong quá trình ăn mòn anốt. Ảnh chụp hệ điện hóa mà chúng tôi đã
sử dụng được biểu diễn trên hình 2.22(b).
Hình 2.22. Sơ đồ hệ điện hóa để ăn mòn MAECE đế Si (a) và ảnh chụp hệ điện
hóa đã sử dụng trên thực tế (b).
2.2.2.3. Quy trình chế tạo hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE
Quy trình chế tạo các mẫu ASiNW bằng phương pháp MAECE cũng bao
gồm 6 bước giống như quy trình chế tạo ASiNW bằng phương pháp MACE chỉ
khác ở chỗ trong bước thứ 4, các mẫu Si có bao phủ Ag sẽ được ăn mòn điện hóa
trong dung dịch của axít HF trong nước (hình 2.23).
Hình 2.23. Quy trình chế tạo hệ SiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE.
72
2.3.3. Chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE
Trước tiên, các kết quả thu được từ việc chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si
bằng phương pháp MACE đã cho thấy rằng nồng độ của AgNO3 trong bước lắng
đọng Ag ảnh hưởng mạnh đến hình thái của các mẫu ASiNW chế tạo được. Cụ thể
là nếu nồng độ của AgNO3 là thấp các hệ ASiNW sẽ không được hình thành và
chiều dài của SiNW sẽ là dài nhất khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng
Ag là 15 mM. Vì vậy, ban đầu, chúng tôi cũng sử dụng dung dịch lắng đọng có
chứa 15 mM AgNO3 để chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp MAECE. Mật độ dòng điện hóa được chọn là 4 mA/cm2. Mật độ dòng này đã được chọn bởi vì theo
báo cáo của một số nhóm nghiên cứu [195, 196] đây là mật độ dòng thích hợp để ăn
mòn MAECE Si. Mẫu sẽ được tiến hành ăn mòn điện hóa trong dung dịch 10% HF
(theo thể tích) (khoảng 5M) trong nước trong thời gian 30 phút ở nhiệt độ phòng.
Hình 2.24. Ảnh SEM bề mặt (a) và mặt cắt (b) của đế Si (100) pha tạp loại p sau khi lắng
đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/15 mM AgNO3 trong 60 giây sau đó ăn mòn điện hóa trong dung dịch 10% HF, mật độ dòng 4 mA/cm2 trong 30 phút ở nhiệt độ phòng.
Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của mẫu chế tạo được (hình 2.24(a) và (b)) cho
thấy, sau quá trình ăn mòn các NW chưa được hình thành mà thay vào đó mới chỉ
có sự hình thành của lớp xốp trên bề mặt của đế Si. Kích thước của các lỗ xốp này
là khá lớn (cỡ vài trăm nanô mét) và ăn thẳng xuống bề mặt đế Si. Từ kết quả trên
có thể thấy rằng dung dịch lắng đọng có chứa 15 mM AgNO3 không thích hợp để
tạo ra các NW trên đế Si bằng phương pháp MAECE. Vì vậy, chúng tôi đã thay đổi
nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag và các điều kiện chế tạo đồng thời
73
khảo sát ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng cũng như các
điều kiện chế tạo lên cấu trúc của các hệ ASiNW.
2.3.4. Ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo lên cấu trúc của các hệ ASiNW
2.3.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag
Hình 2.25. Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW đã được ăn mòn
MAECE với bước lắng đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong
60 giây trong dung dịch 4,6 M HF và nồng độ AgNO3 khác nhau: 15 mM (a, e),
20 mM (b, f), 25 mM (c, g) và 40 mM (d, h).
74
Ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của các hệ ASiNW đã được ăn mòn MAECE
với bước lắng đọng Ag được thực hiện bằng cách nhúng các mẫu trong 60 giây
trong dung dịch 4,6 M HF và nồng độ AgNO3 khác nhau được chỉ ra trên hình 2.25.
Có thể thấy rằng, giống như trong trường hợp của các mẫu ASiNW chế tạo bằng
phương pháp MACE, nồng độ của AgNO3 trong bước lắng đọng bạc ảnh hưởng
mạnh đến mật độ và chiều dài của các hệ ASiNW được chế tạo bằng phương pháp
MAECE. Trước hết, nếu nồng độ của AgNO3 là nhỏ hơn 20 mM, các hệ ASiNW sẽ
không được hình thành trên đế Si, mà mới chỉ có sự hình thành của một lớp xốp dày
cỡ 3 – 5 µm với đường kính của các lỗ xốp khá lớn (vài trăm nanô mét).
Khi nồng độ nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng bạc tăng lên đến 20
mM, các SiNW bắt đầu được hình thành trên đế Si. Các SiNW xếp thẳng hàng với
nhau, định hướng vuông góc với bề mặt đế. Tuy nhiên có thể dễ dàng quan sát thấy
từ các ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của mẫu SiNW được chỉ ra trên hình 2.25(b) và
(f), các SiNW còn chưa được hình thành rõ ràng mà vẫn bị dính vào với nhau. Hơn
nữa, chiều dài của các NW này vẫn còn rất ngắn (chỉ khoảng 2 µm).
Nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng trong khoảng từ 20 đến 40 mM
là thích hợp cho việc tạo ra các hệ ASiNW bằng phương pháp MAECE. Các hệ
SiNW chế tạo được khá đồng đều và phân bố trên toàn bộ bề mặt đế Si với chiều
dài nằm trong khoảng 2 - 6 µm. Tuy nhiên, cũng giống như đối với các mẫu SiNW
được chế tạo bằng phương pháp MACE, khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng
đọng tăng lên, mật độ các NW bị thưa đi. Chiều dài của các SiNW đạt được giá trị
tối ưu khi nồng độ AgNO3 trong dung dịch tráng Ag là 25 mM, khi nồng độ AgNO3
tăng vượt quá giá trị này thì các SiNW bị cụt ngắn đi.
Ảnh TEM của một số SiNW chế tạo được ở hình 2.26 cho thấy đường kính
của các dây khá đồng đều và nằm trong khoảng 100 – 200 nm. Có thể quan sát thấy
rằng, tương tự như trường hợp của các mẫu ASiNW chế tạo bằng phương pháp
MACE, đường kính các NW được hình thành trên đế Si bằng phương pháp MAECE
cũng không phụ thuộc vào nồng độ của AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag. So
sánh đường kính của các NW của các mẫu được chế tạo với bước lắng đọng Ag
75
được thực hiện trong các dung dịch có nồng độ AgNO3 khác nhau được chỉ ra trong
các hình 2.26(a), (b) và (c) ta thấy đường kính của các NW là như nhau. Như vậy
quy luật ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag lên cấu trúc
của các hệ ASiNW được hình thành trên đế Si bằng phương pháp MACE và
phương pháp MAECE là tương tự nhau.
Hình 2.26. Ảnh TEM của một số SiNW của các mẫu đã được ăn mòn MAECE
với bước lắng đọng Ag được thực hiện trong dung dịch có nồng độ AgNO3 khác
nhau: 25 mM (a), 30 mM (b), và 40 mM (c).
Từ các kết quả trên có thể thấy rằng đối với việc chế tạo các hệ ASiNW trên
đế Si bằng hai phương pháp MACE và MAECE, bước lắng đọng Ag là vô cùng
quan trọng. Ngoài ra có thể thấy rằng, bằng cách thay đổi nồng độ AgNO3 trong
dung dịch trắng Ag một cách hợp lý, ta có thể điểu khiển được mật độ và chiều dài
của các NW hình thành trên đế Si. Tuy vậy, có thể thấy rằng mặc dù đã chế tạo
thành công các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE, nhưng chiều dài
của các NW này còn ngắn hơn nhiều so với các hệ ASiNW chế tạo bằng phương
pháp MACE. Do đó để tăng chiều dài của các NW chúng tôi tiến hành thay đổi mật
độ dòng điện hóa đồng thời khảo sát ảnh hưởng của dòng điện hóa tới cấu trúc của
các hệ ASiNW chế tạo được.
76
2.3.4.2. Ảnh hưởng của mật độ dòng điện hóa
Hình 2.27. Ảnh SEM của các mẫu ASiNW trên đế Si được chế tạo bằng phương pháp MAECE với mật độ dòng ăn mòn khác nhau: 4 mA/cm2 (a, e), 6 mA/cm2 (b, f), 8 mA/cm2 (c, g) và 10 mA/cm2 (d, h), các điều kiện chế tạo khác như nhau.
Để khảo sát ảnh hưởng của mật độ dòng điện hóa lên cấu trúc của các hệ
ASiNW hình thành trên các đế Si bằng phương pháp MAECE, các mẫu ASiNW đã
được thực hiện bước ăn mòn với các mật độ dòng điện hóa khác nhau và các điều
kiện chế tạo khác như nhau. Các kết quả thu được được hiển thị trong hình 2.27. Từ
77
hình vẽ này, chúng ta có thể thấy mật độ dòng ăn mòn có ảnh hưởng đến cấu trúc
của các hệ ASiNW. Khi tăng mật độ dòng ăn mòn tăng lên, các NW có xu hướng
chụm vào thành các bó có kích thước khoảng một vài micrô mét. Nguyên nhân của
hiện tượng này là do lực tĩnh điện tạo ra lực hút lẫn nhau giữa các NW. Khi tăng
mật độ dòng ăn mòn, lực hút tĩnh điện này sẽ được tăng cường làm cho các NW sẽ
ngày càng kết chụm lại với nhau.
Mật độ dòng điện hóa còn ảnh hưởng tới chiều dài của các SiNW. Khi tăng mật độ dòng điện hóa từ 4 mA/cm2 lên 6 mA/cm2 chiều dài của các SiNW tăng lên
và đạt được giá trị tối ưu (khoảng 11 µm). Khi mật độ dòng điện hóa tiếp tục tăng lên lớn hơn 6 mA/cm2, chiều dài của SiNW sẽ bị ngắn đi. Với kết quả này chúng tôi
thấy rằng bằng phương pháp MAECE có thể tạo được các hệ ASiNW trên các đế Si
với mật độ, đường kính và chiều dài đạt tương tự như các hệ SiNW chế tạo bằng
phương pháp MACE. Đây là một kết quả khá tốt của chúng tôi vì theo như các tài
liệu tham khảo mà chúng tôi tìm thấy về ăn mòn MAECE Si, độ sâu ăn mòn
MAECE các đế Si thường rất ngắn (khoảng 1 – 2 µm) [195, 196] và do đó hầu hết
các nhóm đều không dùng MAECE để chế tạo SiNW.
Hình 2.28. Sự chuyển đổi hình thái bề mặt của mẫu Si được ăn mòn MAECE với mật độ dòng điện hóa khác nhau: 10 mA/cm2 (a) và 15 mA/cm2 (b).
Một kết quả thú vị khác mà chúng tôi đã quan sát thấy đó là có sự chuyển đổi
về hình thái học bề mặt của các hệ ASiNW theo sự gia tăng của mật độ dòng điện
hóa. Kết quả được này được thể hiện trong hình 2.28. Từ hình vẽ này, có thể thấy rằng khi tăng mật độ dòng điện hóa lên đến 15 mA/cm2 lớp NW biến mất và được
78
thay thế bởi một lớp cấu trúc mosaic, các mảnh mosaic này có kích thước khá lớn
(10 – 35 µm) và phân bố đều trên toàn bộ đế Si (hình 2.28(b)).
Sự hình thành của cấu trúc mosaic khi mật độ dòng điện hóa tăng lên đã
được nhóm chúng tôi giải thích đối với trường hợp ăn mòn xốp Si bằng phương
pháp MAECE dựa trên cơ chế ăn mòn anốt Si trong dung dịch ăn mòn HF như sau
[34]. Theo đó, chúng tôi cho rằng trong quá trình ăn mòn MAECE Si, dòng điện
hóa sẽ đồng thời đóng hai vai trò: một mặt, nó hỗ trợ cho quá trình hòa tan Si bởi
HF theo cơ chế ăn mòn trực tiếp), mặt khác nó đóng vai trò là tác nhân ôxy hóa Si
(bằng cách điện ly H2O) để tạo thành ôxít Si rồi sau đó ôxít Si này sẽ bị hòa tan bởi
HF (theo cơ chế ăn mòn gián tiếp). Khi mật độ dòng điện hóa thấp, vai trò hỗ trợ
cho sự ăn mòn trực tiếp Si sẽ chiếm ưu thế. Mật độ dòng điện hóa càng tăng lên thì
vai trò hỗ trợ ôxy hóa cũng sẽ ngày càng tăng lên, sự ăn mòn xảy ra sẽ càng mạnh
hơn làm cho chiều dài của các SiNW tăng lên. Khi mật độ dòng điện hóa tăng lên đến giá trị tối ưu (6 mA/cm2 trong trường hợp của chúng tôi), vai trò hỗ trợ ăn mòn
và vai trò ôxy hóa trở nên cân bằng với nhau, lúc này sự ăn mòn xảy ra nhanh nhất
và chiều dài của các SiNW đạt giá trị tối ưu. Khi mật độ dòng điện quá tiếp tục tăng
lên, vai trò ôxy hóa Si của dòng điện ngày càng trở nên chiếm ưu thế, tốc độ ăn mòn
lúc này (chủ yếu được quyết định bởi nồng độ HF trong dung dịch ăn mòn chứ
không phải bởi mật độ dòng điện hóa) là nhỏ hơn so với tốc độ ôxy hóa và do đó
chiều dài của các SiNW sẽ giảm đi. Nếu mật độ dòng điện hóa được tăng lên quá
cao, đến mức mà vai trò ôxy hóa trở nên chiếm ưu thế hoàn toàn thì khi đó trên bề
mặt đế Si, một lớp cấu trúc mosaic là ôxít Si sẽ được hình thành. Các kết quả
nghiên cứu về ảnh hưởng của nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng Ag và mật
độ dòng điện hóa lên cấu trúc của các hệ SiNW chế tạo trên đế Si bằng phương
pháp MAECE đã được chúng tôi báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về Khoa học Vật liệu
tiên tiến và Công nghệ nanô lần thứ 6 tổ chức tại Hạ Long vào năm 2012 [105].
2.3.4.3. Ảnh hưởng của thời gian ăn mòn
Thời gian ăn mòn có ảnh hưởng mạnh đến chiều dài của các SiNW được
hình thành trên đế Si bằng phương pháp MAECE. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu Si
79
được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF và 25 mM AgNO3 sau đó ăn mòn
trong dung dịch HF 10% (về thể tích) trong nước với mật độ dòng điện hóa là 6 mA/cm2 ở nhiệt độ phòng với thời gian ăn mòn thay đổi được minh họa trên hình
2.29. Từ hình vẽ này chúng ta có thể thấy rằng, tương tự như trường hợp của mẫu
SiNW chế tạo bằng phương pháp MACE, có một giá trị thời gian tối ưu (30 phút
trong trường hợp của chúng tôi) đối với sự ăn mòn MAECE các mẫu Si mà tại đó,
các hệ SiNW được tạo thành trên đế Si sẽ dài nhất. Khi thời gian ăn mòn vượt quá
giá trị tối ưu này (40 phút) thì các SiNW tạo thành trên đế Si sau khi ăn mòn sẽ bị
cụt ngắn đi. Từ đây, có thể thấy rằng quy luật ảnh hưởng của thời gian ăn mòn lên
cấu trúc của các hệ SiNW được chế tạo bằng phương pháp MAECE là tương tự như
đối với trường hợp các mẫu chế tạo bằng phương pháp MACE. Do đó, có thể điều
khiển được chiều dài của các hệ SiNW chế tạo được bằng cả hai phương pháp
MACE và MAECE bằng cách thay đổi thời gian ăn mòn.
Hình 2.29. Ảnh SEM mặt cắt của các mẫu Si(100) được lắng đọng Ag trong dung dịch 4,6 M HF/25 mM AgNO3 sau đó ăn mòn điện hóa trong 10% HF với mật độ dòng 6 mA/cm2
trong thời gian: 10 phút (a), 20 phút (b), 30 phút (c) và 40 phút (d) ở nhiệt độ phòng.
Tóm lại, giống như trường hợp của các hệ SiNW chế tạo bằng phương pháp
MACE, các hệ SiNW được chế tạo bằng MAECE có mật độ, chiều dài và hình thái
80
cấu trúc phụ thuộc mạnh vào các điều kiện chế tạo. Do đó có thể điều khiển được
các thông số cấu trúc này của các hệ ASiNW thông qua việc thay đổi một cách hợp
lí các điều kiện chế tạo. Tuy vậy, đường kính của các SiNW là khá lớn (100 – 200
nm) và hầu như không phụ thuộc vào các điều kiện chế tạo.
2.4. Kết luận Chương 2
1. Các quá trình và cơ chế ăn mòn của hai phương pháp MACE và MAECE đã
được trình bày và thảo luận. Trong một quá trình ăn mòn MACE và MAECE
điển hình, đế Si được bao phủ một phần bởi kim loại được ăn mòn (hóa học
hoặc điện hóa) trong một dung dịch ăn mòn có chứa axít HF. Thông thường, Si
bên dưới kim loại được ăn mòn nhanh hơn nhiều so với Si không được kim loại
che phủ. Kết quả là các lỗ xốp hay các NW được tạo ra trên bề mặt đế Si.
2. Đã nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo và vật liệu ban đầu
lên hình thái cấu trúc của các hệ ASiNW chế tạo được. Nhìn chung, các điều
kiện chế tạo và các tính chất nội tại của đế Si có ảnh hưởng mạnh tới hình thái
cấu trúc bao gồm mật độ, chiều dài và định hướng của các hệ ASiNW chế tạo
được. Tuy vậy, đường kính của các NW chế tạo bằng phương pháp MACE hầu
như không bị ảnh hưởng bởi các điều kiện chế tạo.
3. Đã nghiên cứu chế tạo các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MAECE và
nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo lên hình thái cấu trúc của các
hệ ASiNW chế tạo được. Tương tự như đối với trường hợp các hệ ASiNW chế
tạo bằng phương pháp MACE, các điều kiện chế tạo có ảnh hưởng mạnh tới
mật độ, chiều dài nhưng hầu như không ảnh hưởng đến đường kính của các hệ
SiNW chế tạo được. Bên cạnh đó, đã tìm ra được chế độ chế tạo thích hợp để
bằng phương pháp MAECE có thể chế tạo được các hệ ASiNW có cấu trúc gần tương tự như các hệ chế tạo bằng phương pháp MACE.
81
Chương 3
Nghiên cứu tính chất huỳnh quang của các hệ ASiNW
3.1. Lý thuyết chung về sự phát quang của vật liệu silic cấu trúc nanô
Phổ huỳnh quang (photoluminescence – PL) của các vật liệu Si cấu trúc nanô
nói chung thường bao gồm hai vùng: vùng năng lượng thấp (trải dài trong vùng
xanh – xanh lá cây (400 – 550 nm)) và vùng năng lượng cao (trải dài trong vùng
vàng - đỏ - hồng ngoại gần (500 – 900 nm)) [69, 79], trong đó vùng PL năng lượng
cao là đối tượng chính của rất nhiều nghiên cứu sâu rộng về PL của các cấu trúc
nanô Si.
Kể từ phát hiện của Canham năm 1990 về sự phát quang mạnh trong vùng
nhìn thấy của silic xốp (porous silicon - PSi) [2, 103], rất nhiều nhóm tác giả đã đi
sâu vào nghiên cứu hiện tượng này [46, 104, 122, 130, 181] và phần lớn các nhóm
đã đi đến thống nhất rằng nói chung PSi, cũng như các vật liệu Si có cấu trúc nanô
khác (bao gồm cả các SiNW) phát quang chủ yếu thông qua việc các vật liệu này
chứa trong mình các nanô tinh thể Si (silicon nanocrystallities - SiNC (hoặc còn
được ký hiệu bằng nc-Si hay Si-nc)), và đến lượt mình, các SiNC phát quang nhờ
vào hiệu ứng giam giữ lượng tử (quantum confinement effect - QCE). Cho đến nay,
QCE cũng được coi là lý thuyết phù hợp nhất đối với sự phát quang của các vật liệu
Si có cấu trúc nanô. Tuy vậy, QCE cũng không thể giải thích được hết các hiện
tượng quan sát được đối với sự phát quang của các vật liệu Si có cấu trúc nanô
chẳng hạn như sự dịch đỏ của đỉnh phổ PL khi kích thước của các nanô tinh thể Si
giảm đi [74], hay thậm chí là đỉnh phổ PL không phụ thuộc vào kích thước của các
nanô tinh thể (nghĩa là đỉnh phổ PL bị “ghim” ở một vùng cố định mặc dù kích
thước của các nanô tinh thể thay đổi) [47, 124, 187, 188]. Thêm nữa, một số nghiên
cứu đã chỉ ra rằng PL trong vùng đỏ của Si xốp là mạnh nhất khi có lớp SiO2 bao
phủ bên ngoài các tinh thể Si. Do đó, sự thụ động hóa bề mặt, các trạng thái bề mặt
định xứ hay các sai hỏng trong SiO2 cũng đã được đề xuất là có đóng góp đến sự
phát PL của SiNC trong vật liệu Si cấu trúc nanô.
82
3.1.1. Hiệu ứng giam giữ lượng tử
Hình 3.1. Sự phát quang vùng – vùng trong bán dẫn.
Thông thường, đối với bán dẫn khối thì sự phát PL phần lớn là do đóng góp
của tái hợp phát xạ vùng – vùng trực tiếp. Đây là sự chuyển mức trực tiếp của điện
tử từ vùng dẫn xuống vùng hóa trị (nói cách khác là điện tử tái hợp với lỗ trống) và
trong quá trình này năng lượng dư thừa được phát ra dưới dạng một photon (hình
3.1).
Hình 3.2. Chuyển mức phát xạ vùng – vùng trong bán dẫn vùng cấm
thẳng (a) và bán dẫn vùng cấm xiên (b).
Đối với các bán dẫn vùng cấm thẳng (ví dụ GaAs, GaP…), xác suất xảy ra
các chuyển mức phát quang này là lớn, vì để quá trình này xảy ra chỉ cần có sự
tham gia của hai hạt là điện tử và lỗ trống (hình 3.2(a)). Trong khi đó, đối với một
chất bán dẫn vùng cấm xiên như Si thì để quá trình trên xảy ra, ngoài điện tử và lỗ
83
trống, phải có thêm sự tham gia của một hạt thứ ba là phonon (tức là sự chuyển mức
phát xạ lúc này trở thành một quá trình 3 hạt) (hình 3.2(b)), do đó xác suất xảy ra
quá trình này trở nên nhỏ hơn rất nhiều. Chính vì vậy mà các bán dẫn vùng cấm
xiên như Si có tính chất phát quang rất kém và thường không được sử dụng để chế
tạo các linh kiện phát quang.
Tuy vậy, khi kích thước của vật liệu giảm xuống đến cỡ nanô mét (nhỏ hơn
bán kính Bohr exciton của bán dẫn khối) thì QCE sẽ xảy ra. Hệ quả của QCE chính
là sự tăng cường cường độ phát quang và sự mở rộng của vùng cấm của vật liệu.
Khi kích thước của vật liệu giảm xuống đến cỡ nanô mét, hệ thức bất định
Heisenberg bắt đầu phát huy tác dụng. Như ta đã biết, theo hệ thức bất định
Heisenberg thì độ bất định về vị trí và độ bất định về động lượng liên hệ theo
biểu thức: ∆𝑥 ∆𝑝
, (3.1)
trong đó là hằng số Planck. Theo biểu thức này, khi một hạt bị giam giữ trong một ∆𝑥. ∆𝑝 ≈ ℏ
không gian càng nhỏ ( nhỏ) thì độ bất định về xung lượng của nó càng lớn ( ℏ
∆𝑥
lớn). Điều này có nghĩa là khi kích thước của các tinh thể Si giảm đến mức nanô ∆𝑝 mét thì sự chuyển mức xiên phát quang của điện tử từ vùng dẫn xuống vùng hóa trị
của các bán dẫn vùng cấm xiên có thể xảy ra trực tiếp mà không cần có thêm sự
tham gia của phonon. Chính vì vậy mà xác suất chuyển vùng phát quang sẽ lớn hơn
và các SiNC trở nên phát quang mạnh hơn rất nhiều so với vật liệu Si khối.
Mặt khác, khi kích thước tinh thể bán dẫn giảm đi đến cỡ nhỏ hơn bán kính
Bohr exciton của bán dẫn khối thì vùng cấm của tinh thể bán dẫn sẽ mở rộng. Trong
vật liệu bán dẫn khối, các “hạt tải điện” (điện tử trong vùng dẫn, các lỗ trống trong
vùng hoá trị, và các exciton) chuyển động tự do trong tinh thể. Do lưỡng tính
sóng−hạt, chuyển động của các hạt tải điện có thể được mô tả bằng tổ hợp tuyến
tính của các sóng phẳng có bước sóng vào cỡ nanô mét. Nếu kích thước của khối
bán dẫn giảm xuống đến xấp xỉ giá trị của các bước sóng này, thì hạt tải điện bị
giam trong khối này sẽ thể hiện tính chất giống như một hạt chuyển động trong một
hố thế. Nghiệm của phương trình Schrodinger trong trường hợp này là các mức
84
năng lượng gián đoạn và rời rạc với năng lượng tỉ lệ nghịch với chiều rộng của hố
thế. Những chuyển dời của hạt tải điện giữa hai mức năng lượng gián đoạn nói trên
sẽ gây ra quang phổ vạch. Hệ hạt khi đó được gọi là hệ bị giam giữ lượng tử. Sự
giam giữ lượng tử làm gián đoạn các mức năng lượng theo chiều giam giữ của các
chuẩn hạt trong hệ và làm thay đổi mật độ trạng thái của chúng theo năng lượng. Sơ
đồ minh họa hiệu ứng giam giữ lượng tử trong cấu trúc vùng năng lượng được trình
bày trên hình 3.3.
Hình 3.3. Sơ đồ minh họa hiệu ứng giam giữ lượng tử trong cấu trúc vùng năng lượng.
Sự phụ thuộc của vùng cấm theo kích thước của nanô tinh thể Si có thể được
xác định một cách gần đúng theo biểu thức được đưa ra bởi Delerue cùng đồng
=
+
E
eV
nghiệp như sau [16] (biểu thức (1.1)):
)( E eV d
(
)
(
)
g
g
0
1,39
3, 73 ( ) d nm
, (1.1)
trong đó là vùng cấm của Si khối. Theo đó, phổ phát quang của SiNC có thể trải
dài trong vùng nhìn thấy tùy theo kích thước của các nanô tinh thể. Chẳng hạn, tại 𝐸𝑔0
nhiệt độ phòng Si khối có vùng cấm rộng ~1,1 eV (tương ứng với bước sóng ánh
sáng phát ra trong chuyển mức vùng–vùng của điện tử là 1127 nm – vùng hồng
ngoại), nhưng đối với các SinC với các kích thước ~ 2,9 nm và ~ 1 nm thì vùng
cấm sẽ được mở rộng tương ứng là ~ 2,11 eV và ~ 3,44 eV (tương ứng với các bước
sóng ánh sáng phát ra trong chuyển mức vùng–vùng của điện tử là 590 nm – vùng
85
quang phổ màu vàng và 350 nm – vùng cực tím (UV)). Sự mở rộng vùng cấm của
các nanô tinh thể Si theo sự giảm kích thước của chúng theo hiệu ứng giam giữ
lượng tử có thể được chỉ ra thêm trong bảng 3.1. Như vậy, vật liệu Si có thể phát
quang mạnh, nhưng không phải trong vùng hồng ngoại 1127 nm (tương ứng với 1.1
eV) mà chỉ trong vùng nhìn thấy với các bước sóng nhỏ hơn 800 nm (trong vùng đỏ
và trong các vùng có bước sóng ngắn hơn).
Bảng 3.1. Sự mở rộng vùng cấm của nanô tinh thể Si khi kích thước của các nanô tinh thể
này giảm đi theo hiệu ứng giam giữ lượng tử [10, 50].
Ghi chú
Kích thước tinh thể Si
Vùng phát quang
Độ rộng vùng cấm (tại nhiệt độ phòng)
Bước sóng ánh sáng tương ứng với độ rộng vùng cấm
1.1 eV
1127 nm
kích thước vĩ mô (Si khối)
Hồng ngoại (IR)
4.3 nm
Bán kính Bohr của exciton trong Si khối [10]
~ 1,6 eV
~ 780 nm
Đỏ
∼ 3,8 nm
Bề mặt tinh thể được thụ động hóa bằng ôxy [13]
~2.9 nm
~2.11 eV
~590 nm
Vàng
Bề mặt tinh thể được thụ động hóa bằng hyđrô [50]
~ 2,15 nm
~ 2,39 eV
~570 nm
Vàng
Bề mặt tinh thể được thụ động hóa bằng hyđrô [50]
~1.67 nm
~2.64 eV
~480 nm
Xanh
Bề mặt tinh thể được thụ động hóa bằng hyđrô [50]
~1.0 nm
~3.44 eV
~350 nm
Cực tím (UV)
Bề mặt tinh thể được thụ động hóa bằng hyđrô [50]
Sự đúng đắn của quan điểm giải thích vai trò của QCE đổi với sự phát quang
của các vật liệu Si cấu trúc nanô so với Si khối đã được nhiều kết quả thực nghiệm
chứng minh, trong đó đặc biệt phải kể đến sự dịch xanh (blue shift) của bước sóng
phát quang khi vật liệu Si cấu trúc nanô chứa các SiNC có kích hước nhỏ hơn và sự
tăng mạnh của cường độ PL của mấu khi kích thước SiNC nhỏ đi. Chẳng hạn,
86
người ta đã quan sát thấy rằng PSi với độ xốp cao hơn sẽ phát ra ánh sáng dịch xanh
hơn với cường độ phát PL mạnh hơn (hình 3.4) [13]. Bên cạnh đó, một số bằng
chứng thực nghiệm khác về ảnh hưởng của QCE đối với sự phát quang của các vật
liệu Si cấu trúc nanô cũng đã được nhiều nhóm nghiên cứu quan sát thấy như [2,
103, 134, 159]: vị trí đỉnh PL dịch đỏ khi nhiệt độ và áp suất tăng (do vùng cấm của
SiNC bị thu hẹp khi nhiệt độ và áp suất tăng lên); thời gian sống của bức xạ giảm
khi độ xốp của mẫu tăng (do sự giảm kích thước của SiNC làm gia tăng sự xen phủ
hàm sóng của điện tử và lỗ trống do đó làm giảm thời gian sống của bức xạ).
Hình 3.4. Sự dịch xanh trong vùng nhìn thấy của phổ huỳnh quang của các
mẫu PSi theo độ xốp [13].
Tuy vậy, thực tế đã chỉ ra rằng nếu các SiNC không được thụ động hóa bề
mặt tốt thì ta sẽ không thể quan sát thấy ánh sáng mà nó phát ra. Điều này là dễ
hiểu, vì các SiNC là các vật thể rất nhỏ, tỷ lệ của số nguyên tử nằm trên bề mặt so
với số nguyên tử nằm trong khối là lớn. Mà như ta đã biết, bề mặt tinh thể là nơi
tính tuần hoàn tinh tiến của sự sắp xếp các nguyên tử bị kết thúc một cách đột ngột,
ngoài ra ở đây có rất nhiều mối liên kết hóa học bị bỏ trống (các liên kết treo –
dangling bonds) cũng như có rất nhiều sai hỏng mạng tinh thể… Những điều này
làm cho bề mặt của các SiNC trở thành nơi tập trung của các tâm tái hợp bề mặt
không phát quang. Do đó, ngay cả khi một photon đã được sinh ra do sự tái hợp
phát xạ của cặp điện tử - lỗ trống trong SiNC thì trên đường đi ra khỏi tinh thể nó
cũng bị các tâm tái hợp không phát xạ này bắt mất, làm cho ánh sáng không thể
87
phát ra ngoài. Chính vì vậy mà muốn quan sát thấy sự phát quang của các SiNC, ta
phải giảm số lượng các tâm tái hợp không phát quang của các SiNC đến mức tối
thiểu, tức là phải tiến hành thụ động hóa bề mặt cho chúng.
3.1.2. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và sự thụ động hóa bề mặt
Hình 3.5. Huỳnh quang ở nhiệt độ phòng của các mẫu PSi có độ xốp khác nhau
được giữ trong môi trường khí Ar (thụ động hóa bằng hyđrô, không có ôxy)(a)
và sau khi để ra ngoài không khí (b) [124].
Nhìn chung, trên thực tế có 2 cách thụ động hóa bề mặt chủ yếu cho các
SiNC là thụ động hóa bằng hyđrô và thụ động hóa bằng ôxy. Trong đó đáng chú ý
là trong môi trường xung quanh ta đâu đâu cũng có ôxy, do đó sự thụ động hóa bề
mặt các SiNC bằng ôxy xảy ra một cách tự nhiên, dù ta không muốn thì nó cũng
xảy ra. Trong khi đó nếu muốn thụ động hóa bề mặt các SiNC bằng hyđrô thì ta
phải bằng cách nào đó chủ ý tạo ra các điều kiện đặc biệt cho điều này xảy ra. Khi
thụ động hóa bề mặt SiNC bằng hyđrô, người ta đã quan sát thấy PL mạnh phát ra
từ các SiNC và PL này có bước sóng thay đổi một cách tuyến tính tỷ lệ nghịch với
kích thước của SiNC (theo đúng các lý thuyết về QCE) [47, 124] (hình 3.5 (a)).
Nhưng khi bề mặt các SiNC được thụ động hóa bằng ôxy thì có một hiện tượng
quan trọng xảy ra làm thay đổi hẳn bức tranh phát quang của các SiNC. Đó là hiện
tượng sự liên kết giữa các nguyên tử Si và O tạo ra một số mức năng lượng xung
88
quanh 1,8 – 1,9 eV nằm trong vùng cấm của SiNC (đã được mở rộng theo QCE).
Điều này dẫn đến hệ quả là thay vì bước sóng phát quang của SiNC dịch dần từ đỏ
sang xanh khi kích thước của SiNC bị thu nhỏ lại như trong trường hợp các SiNC
được thụ động hóa bề mặt bằng hyđrô, trong trường hợp các SiNC được thụ động
hóa bề mặt bằng ôxy, thì dù có thu nhỏ kích thước của các SiNC đến mấy đi chăng
nữa, đỉnh PL của SiNC bao giờ cũng bị ghim tại 1,8 – 1,9 eV.
Ảnh hưởng của sự thụ động hóa bề mặt lên huỳnh quang của các SiNC đã
được nghiên cứu bởi Wolkin và đồng nghiệp [124]. Các tác giả đã quan sát thấy sự
dịch xanh liên tục của đỉnh phổ PL của các mẫu PSi xốp được thụ động hóa bề mặt
bằng hyđrô (hình 3.5(a)) và sự dịch đỏ lên tới 1 eV của đỉnh phổ PL của các mẫu
PSi với SiNC có kích thước rất nhỏ (< 3nm) đã được thụ động hóa bề mặt bằng
hyđrô sau khi để ra ngoài không khí (hình 3.5(b)) cũng như sự “ghim” đỉnh PL
trong vùng đỏ - cam đối với các mẫu PSi được thụ động hóa bề mặt bằng ôxy mặc
dù kích thước của các SiNC thay đổi. Họ đã xây dựng một mô hình lý thuyết để giải
thích các hiện tượng này trong đó họ cho rằng trong vùng cấm của các SiNC xuất
hiện một số mức năng lượng sau khi các liên kết Si=O được tạo thành trên bề mặt
của các SiNC. Họ đã biểu diễn các trạng thái điện tử tính toán trong các SiNC là
một hàm kích thước của các SiNC và thụ động hóa bề mặt (hình 3.6). Theo đó, các
tác giả đã nêu ra rằng, đối với các SiNC được thụ động hóa bằng hyđrô, sự tái hợp
phát xạ của cặp điện tử - lỗ trống xảy ra thông qua các trạng thái exciton tự do đối
với mọi kích thước của SiNC, nghĩa là sự phát PL của các mẫu SiNC được thụ động
hóa bằng hyđrô sẽ tuân theo QCE và do đó khi kích thước của các SiNC giảm đi,
phổ PL của các mẫu này sẽ dịch xanh [124]. Tuy nhiên, nếu các SiNC được thụ
động hóa bằng ôxy thì một trạng thái điện tử ổn định (hoặc thậm chí một trạng thái
exciton bị bắt) có thể được hình thành trên liên kết cộng hóa trị Si=O [124].
Nhóm tác giả này đã đưa ra ba cơ chế tái hợp phát xạ khác nhau của các điện
tử và lỗ trống phụ thuộc vào kích thước của các SiNC và lớp thụ động hóa bề mặt
(hình 3.6). Trong vùng I, kích thước các SiNC lớn (> 3 nm), sự tái hợp lúc này xảy
ra thông qua các exciton tự do. Lúc này, hiệu ứng giam giữ lượng tử sẽ đóng vai trò
89
chính trong sự phát PL của các mẫu và thụ động hóa bề mặt sẽ đóng góp không
đáng kể vào cơ chế tái hợp phát xạ. Khi kích thước của SiNC giảm, năng lượng phát
xạ PL tăng lên do sự giam giữ lượng tử. Ở trong vùng II, sự tái hợp xảy ra giữa một
điện tử bị bắt và một lỗ trống tự do. Khi kích thước của SiNC giảm đi, năng lượng
phát xạ PL vẫn tăng lên nhưng không nhanh như những tính toán của QCE vì năng
lượng của trang thái bắt điện tử phụ thuộc vào kích thước của SiNC. Tại vùng III,
sự tái hợp xảy ra thông qua các exciton bị bắt. Lúc này, thụ động hóa bề mặt đóng
giữ vai trò quan trọng trong sự phát PL của mẫu. Khi kích thước của các SiNC giảm
đi thì năng lượng phát xạ PL hầu như không thay đổi nữa. Các so sánh giữa lý
thuyết và các kết PL quả thực nghiệm (đo trong môi trường khí Ar và không khí)
(hình 3.7) cho thấy được sự phù hợp khá tốt.
Hình 3.6. Sự phụ thuộc của các trạng thái điện tử trong SiNC vào kích thước của
SiNC và thụ động hóa bề mặt. Trạng thái bắt điện tử là một trạng thái định xứ trên
nguyên tử Si của liên kết Si=O và trạng thái bắt lỗ trống là một trạng thái định xứ
trên nguyên tử O của liên kết Si=O [124].
Từ mô hình này, các tác giả đã giải thích cho các hiện tượng mà họ đã quan
sát thấy như sau: về nguyên tắc, theo QCE vùng cấm của các SiNC sẽ mở rộng khi
kích thước của chúng càng giảm đi và do đó phổ PL của PSi có thể trải dài trong
toàn bộ vùng ánh sáng nhìn thấy. Tuy vậy, sau khi bị ôxy hóa, trong vùng cấm của
các SiNC sẽ xuất hiện các trạng thái điện tử mới (được cho là của các liên kết
90
Si=O). Các mức này sẽ nhanh chóng bắt các cặp điện tử - lỗ trống được sinh ra
trong các SiNC và sự tái hợp hạt tải sẽ xảy ra thông qua các mức tạp. Chính sự tái
hợp phát xạ của các hạt tải thông qua các mức tạp này làm cho đỉnh PL của các mẫu
sẽ không thể dịch về phía năng lượng lớn hơn 2 eV mặc dù kích thước của các
SiNC giảm đi và đỉnh PL của các mẫu sẽ bị ghim tại vùng đỏ - cam.
Hình 3.7. So sánh giữa các năng lượng PL thực nghiệm và lý thuyết. Đường cong
bên trên là năng lượng vùng cấm exciton tự do và đường cong phía dưới là chuyển
mức năng lượng thấp nhất khi có thêm liên kết Si=O. Các chấm tròn màu đen và
màu trắng tương ứng là các kết quả thực nghiệm thu được đối với các mẫu PSi
được thụ động hóa bề mặt bởi hyđrô và ôxy.
3.1.3. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và các trạng thái bề mặt
Một số đề xuất khác để giải thích về sự ghim các đỉnh PL trong vùng đỏ (1,6
– 1,7 eV) của các SiNC là cơ chế có liên quan đến trạng thái bề mặt, các trạng thái
định xứ ở bề mặt của vật liệu Si cấu trúc nanô, hoặc trong vùng tiếp giáp giữa Si và
lớp ôxit trên bề mặt [46, 47, 187-189]. Trong số các công trình và các mô hình
được đề xuất về sự phát PL của vật liệu Si cấu trúc nanô có liên quan đến các trạng
thái bề mặt, đáng chú ý là mô hình được đề xuất bởi Kanemitsu và đồng nghiệp
[187-189] và mô hình được đề xuất bởi Koch và Petrova-Koch [46, 47].
Kanemitsu và các cộng sự [187-189] đã đề xuất một mô hình trong đó họ
cho rằng sự tái hợp phát xạ của các hạt tải xảy ra trong lõi của tinh thể Si với vùng
91
cấm bị thay đổi bởi QCE, trong khi PL mạnh (không phụ thuộc vào kích thước của
SiNC và “ghim” cố định ở 1,65 eV) lại xuất phát từ vùng gần bề mặt của các tinh
thể nhỏ. Họ đã đề xuất một mô hình ba vùng (hình 3.8) trong đó lõi SiNC được bao
quanh bởi một lớp vỏ ôxít Si vô định hình (a-SiO2) và một lớp tiếp giáp trung gian.
Lớp trung gian này là Si ôxit ở dạng không hợp thức (SiOx, x < 2), và năng lượng
vùng cấm của nó là thấp hơn so với năng lượng vùng cấm của lõi tinh thể Si. Theo
mô hình này, các hạt tải (điện tử và lỗ trống) trong lõi tinh thể Si sẽ được khuếch
tán tới vùng tiếp giáp trung gian, tại đây phát xạ PL mạnh được sinh ra bởi các
exciton (tái hợp của cặp điện tử - lỗ trống) bị giam giữ hai chiều. Những lập luận
này cũng giải thích sự gia tăng cường độ PL khi đường kính tinh thể giảm đi.
Trong trường hợp này, hiệu suất của sự khuếch tán hạt tải từ lõi đến lớp tiếp giáp
bề mặt cũng như sự giam giữ exciton cũng sẽ tăng lên.
Hình 3.8. Sơ đồ năng lượng của mô hình ba vùng được đề xuất bởi Kanemitsu [187].
Dựa trên kết quả thực nghiệm của mình, Koch và Petrova- Koch [46, 47] đã
cố gắng để thiết lập một mô hình tính toán cho các tính chất của các vật liệu Si cấu
trúc nanô phát quang bao gồm Si xốp bị hydrô hóa và bị ôxy hóa và SiNC bị ôxy
hóa. Theo đó, họ xây dựng một mô hình trạng thái bề mặt, phần nào đó tương tự
như của đề xuất của Kanemitsu trong [189]. Trong mô hình này, sự hấp thụ (các
hạt tải sinh quang) xảy ra trong lõi SiNC theo QCE nhưng sự tái hợp lại xảy ra
thông qua các trạng thái sai hỏng định xứ trong lớp bề mặt được thụ động hóa
(hình 3.9). Các tác giả cùng đã đưa ra ba kiểu tái hợp phát xạ khác nhau bbao gồm:
92
tái hợp vùng – vùng bên trong SiNC (E0); tái hợp vùng – trạng thái bề mặt (một
loại hạt tải bị bắt trong các sai hỏng bề mặt) (E1) và tái hợp bề mặt – bề mặt (điện
tử và lỗ trống bị bắt trong các sai hỏng bề mặt khác nhau). Tuy nhiên, hiệu suất của
các quá trình phụ thuộc vào kích thước của các hạt. Các hạt có kích thước nhỏ thì
hiệu suất xảy ra các tái hợp E1 và E2 sẽ lớn hơn trong khi hiệu suất xay ra các tái
hợp E0 lại rất thấp khi mà các exciton sẽ dễ dàng bị bắt bởi các sai hỏng bề mặt
trên các SiNC nhỏ so với những SiNC lớn, và do vùng cấm của các SiNC sẽ mở
rộng tỉ lệ nghịch với kích thước của SiNC theo QCE.
Hình 3.9. Quá trình phát quang theo cơ chế có liên quan đến trạng thái bề mặt. Một cặp
điện tử - lỗ trống có thể tái hợp vùng – vùng bên trong SiNC có vùng cấm được mở rộng
(ħω0), tái hợp vùng – bề mặt (một loại hạt tải bị bắt bởi sai hỏng bề mặt) (ħω1), hoặc tái
hợp bề mặt – bề mặt (cả điện tử và lỗ trống đều bị bắt bởi sai hỏng bề mặt) (ħω2).
Các tác giả đã chỉ ra rằng, đối với trường hợp Si xốp bị ôxy hóa, một đỉnh
PL với năng lượng được “ghim” trong khoảng 1,5 eV-1,7 eV cũng như sự xuất
hiện không liên tục của một vùng PL xanh phân rã nhanh được quan sát thấy khi
đường kính của SiNC giảm do sự tăng nhiệt độ trong quá trình ôxy hóa [47].
Nguồn gốc của năng lượng vùng đỏ cố định của các hệ SiNC bị ôxy hóa cũng có
thể được giải thích một cách dễ dàng theo mô hình trạng thái bề mặt của họ. Trong
trường hợp này, các sai hỏng sẽ có ở trong lớp phân cách SiOx (x < 2) hình thành ở
giữa lõi tinh thể và lớp SiO2 bao phủ bên ngoài và sự phát xạ sẽ xảy ra trong lớp
phân cách này. Họ đã giả định rằng kiểu sai hỏng định xứ (localized defect-type)
của các trạng thái là lời giải thích cho năng lượng cố định tại 1,6 eV [47]. Các tác
93
giả cũng đã so sánh mô hình của họ với các mô hình ba vùng mà Kanemitsu đã đề
xuất [187, 188] nhưng lại tranh luận về việc khó khăn để hình dung ra một lớp
phân cách SiOx (x < 2) với vùng cấm thấp hơn so với tinh thể Si. Tuy vậy, họ lại
không đề cập đến báo cáo [189] của Kanemitsu trong đó nguồn gốc của các vùng
quang phổ đỏ cố định được quy cho các trạng thái bề mặt định xứ.
3.1.4. Hiệu ứng giam giữ lượng tử và các sai hỏng trong SiO2
Qin và Jia đã đề xuất một mô hình giam giữ lượng tử - tâm phát quang
(quantum confinement-luminescence center - QCLC) được [52] để giải thích sự
phát PL trong vùng nhìn thấy của PSi, hệ các hạt nanô Si gắn trên nền ôxít Si [52,
53]. Mô hình mà họ đề xuất như sau:
(1) Sự kích thích quang tạo ra các cặp điện tử - lỗ trống sẽ xảy ra trong
SiNC với năng lượng của cặp điện tử - lỗ trống lớn hơn so với năng lượng vùng
cấm của Si khối theo QCE.
(2) Xác suất xảy ra sự tái hợp bức xạ bên trong hạt nanô Si là không đáng
kể so với vùng bên ngoài hạt nanô Si. Các tác giả xem xét hai trường hợp khác
nhau cho các vùng bề mặt ngoài của các hạt nanô Si: (I) vùng bề mặt được bao phủ
bởi một lớp SiO2 và (II) vùng bề mặt không bị bao phủ bởi SiO2. Theo đó, họ giả
định rằng các cặp điện tử - lỗ trống được tạo ra trong hạt nanô Si sẽ tái hợp phát xạ
ánh sáng trong vùng nhìn thấy thông qua các tâm phát quang khác nhau (các sai
hỏng điểm hoặc tạp chất) định xứ tại các giao diện Si/SiO2 và/hoặc trong các lớp
SiO2 mỏng và/hoặc trên các bề mặt bên ngoài của lớp SiO2 trong trường hợp I. Đối
với trường hợp II, các tâm phát quang hầu hết là phức hợp của Si với O, H, hoặc F
nằm trên bề mặt của các hạt nanô Si. Hình 3.10 cho thấy sơ đồ các quá trình tái hợp
bức xạ cho trường hợp I với các hạt tải có thể đi vào SiO2 thông qua các hiệu ứng
xuyên hầm và tái hợp tại các tâm phát quang để phát ra ánh sáng.
(3) Các tái hợp không phát xạ của các cặp điện tử - lỗ trống là không đáng
kể bên trong hạt nanô Si mà chủ yếu xảy ra tại các giao diện Si/SiO2 và/hoặc trong
các lớp SiO2 và/hoặc ở các bề mặt bên ngoài SiO2 (trong trường hợp I), và trên bề
mặt của các hạt nanô Si (trong trường hợp II).
94
(4) Ứng suất mạnh tại giao diện Si/SiO2 hoặc trên bề mặt của các hạt nanô
Si có thể làm thay đổi cấu trúc điện tử của các tâm phát quang nằm ở trên đó và do
đó làm thay đổi năng lượng PL. Độ dày, mật độ, cấu trúc và độ lệch thành phần
hợp thức của lớp SiO2 cũng có thể ảnh hưởng đến cấu trúc điện tử của các tâm phát
quang định xứ trong hoặc trên bề mặt bên ngoài của lớp SiO2 nó hoặc tại giao diện
Si/SiO2.
Hình 3.10. Sơ đồ minh họa sự tái hợp phát xạ của các cặp điện tử - lỗ trống để
phát ra ánh sáng trong vùng nhìn thấy thông qua các tâm phát quang định xứ
trong các lớp SiO2 (trường hợp I)[52].
Dựa trên mô hình này các tác giả đã giải thích các kết quả quan sát thực
nghiệm về PL của vật liệu Si cấu trúc nanô như sau [52]:
(1) Như trong hình 3.10, các cặp điện tử - lỗ trống bên trong các SiNC với
năng lượng và mật độ đủ lớn được kích thích bởi photon ánh sáng và đây là một
điều kiện tiên quyết cho sự phát xạ của ánh sáng nhìn thấy. Các cặp điện tử - lỗ
trống tái hợp bên ngoài các SiNC thông qua các tâm phát quang với các vị trí mức
năng lượng phù hợp với sự phát xạ ánh sáng nhìn thấy. Bằng cách này, người ta có
thể giải thích phổ về sự phát PL trong vùng nhìn thấy của PSi và SiNW.
(2) Hiệu suất cao của PL trong vật liệu Si có cấu trúc nanô so với vật liệu Si
khối có thể được quy cho (a) hiệu suất của tái hợp bức xạ qua các tâm phát quang
bên ngoài SiNC là cao hơn nhiều so với tái hợp vùng – vùng bên trong SiNC (có
năng lượng gần bằng hoặc cao hơn một chút so với chuyển tiếp vùng – vùng trong
95
Si khối), và (b) xác suất của tái hợp không phát xạ ở SiNC là thấp hơn nhiều so với
Si khối.
(3) Trong mô hình này, sự dịch của đỉnh phổ PL (thường nhỏ hơn 0,2 eV)
theo nhiệt độ, áp suất, các điều kiện chế tạo được xác định bởi việc các ứng suất
và/hoặc những thay đổi của về độ dày, mật độ, cấu trúc và độ lệch thành phần hợp
thức SiO2 ảnh hưởng đến trạng thái điện tử của các tâm phát quang như thế nào. Do
đó sự dịch đỏ hay dịch xanh của vị trí các đỉnh PL có thể được quy cho sự thay đổi
của các đóng góp tương đối của các tâm phát quang khác nhau đối với các phổ PL.
Hình 3.11. Sơ đồ minh họa cơ chế phát PL “đỏ” từ các SiNC nằm trên mạng SiO2
vô định hình: các cặp điện tử - lỗ trống được tạo ra trong SiNC và sự tái hợp phát xạ
tại các tâm phát quang (NBOHC) trong mạng SiO2 (a) và sơ đồ các sai hỏng trên bề
mặt của SiNC và trong mạng SiO2 (b).
Veprek và các cộng sự [156] đã đề xuất một mô hình (hình 3.11 (a)) tương tự
như mô hình của Jia và Qin [52]. Theo đó các tác giả cho rằng sau quá trình chế tạo,
96
trên bề mặt của các mẫu PSi là các SiNC nằm trong mạng SiO2 vô định hình. Sự
hấp thụ ánh sáng kích thích xảy ra trong các SiNC tạo ra các cặp điện tử - lỗ trống
và quá trình này xảy ra càng mạnh khi kích thước của SiNC càng giảm theo QCE.
Các điện tử và lỗ trống này sẽ nhanh chóng bị bắt bởi các tâm phát quang (là một
nguyên tử oxy không liên kết (≡ SiO●) đóng vai trò như một tâm bắt lỗ trống và
được gọi là tâm bắt lỗ trỗng ôxy không liên kết – non-bridging oxygen hole center –
NBOHC (hình 3.11 (b))) trong mạng SiO2 vô định hình và tái hợp phát xạ tại các
tâm phát quang này. Nhóm tác giả còn bổ sung thêm rằng đối với các SiNC bị ôxy
hóa thì cường độ PL không chỉ phụ thuộc vào kích thước của các SiNC mà còn phụ
thuộc vào khoảng cách trung bình giữa các SiNC. Cụ thể, các tác giả này đã nêu ra
rằng nếu khoảng cách giữa các SiNC là nhỏ sẽ xảy ra sự chồng chập hàm sóng điện
tử của các nanô tinh thể và làm giảm hiệu suất hấp thụ ánh sáng của các SiNC và do
đó làm giảm cường độ PL của các mẫu [156].
Tóm lại, nhiều mô hình khác nhau đã được công bố để giải thích các kết quả
thực nghiệm quan sát được về sự phát xạ PL của vật liệu Si có cấu trúc nanô. Tuy
vậy, dựa trên những đặc trưng chung của các mô hình này, ta có thể thấy rằng lý
thuyết mô tả phù hợp nhất về sự phát quang của các vật liệu Si cấu trúc nanô bao
gồm sự tăng mạnh về cường độ phát quang, sự dịch đỉnh phổ PL theo kích thước
của SiNC là lý thuyết về QCE đã được đề xuất bởi Canham và các cộng sự [2,
103]. Tuy vậy, vai trò của sự thụ động hóa bề mặt, các trạng thái bề mặt cũng như
các sai hỏng trong SiO2 cũng cần phải được xem xét để có được cái nhìn tổng quan
đối với sự phát quang của các vật liệu Si cấu trúc nanô.
3.2. Áp dụng lý thuyết chung về sự phát quang của vật liệu Si cấu trúc nanô để
giải thích các kết quả đã thu được về PL của các hệ ASiNW
3.2.1. Thí nghiệm
Vật liệu ban đầu chúng tôi đã sử dụng để chế tạo các hệ ASiNW là các đế Si
tinh thể với định hướng tinh thế (100), được pha tạp loại p (pha tạp B), điện trở suất
97
22 Ωcm, dày 500 – 550 µm. Các hệ ASiNW sẽ được chế tạo bằng phương pháp
MACE và MAECE với công nghệ chế tạo được trình bày ở trong Chương 2.
Trong các nghiên cứu về PL của các mẫu ASiNW, chúng tôi đã sử dụng các
mẫu sau đây:
- Mẫu ăn mòn MACE trong dung dịch 4,8 M HF và 0,4 M H2O2 trong 90 phút
ở nhiệt độ phòng (đây là mẫu có các SiNW có chiều dài dài nhất (∼ 12 µm)
như đã được chỉ ra trong Chương 2). Mục đích là nghiên cứu sự phát quang
của mẫu ASiNW ăn mòn MACE.
- Mẫu ăn mòn MAECE trong dung dịch 10% HF (về thể tích) (khoảng 5 M) với mật độ dòng 6 mA/cm2 trong 30 phút (đây là mẫu ăn mòn MAECE đạt
được cấu trúc tương tự như mẫu ăn mòn MACE ở trên như đã được chỉ ra
trong Chương 2) với mục đích là nghiên cứu sự phát quang của mẫu ASiNW
ăn mòn MAECE cũng như so sánh sự phát quang của mẫu ASiNW được ăn
mòn MAECE với mẫu được ăn mòn MACE.
- Chúng tôi cũng tiến hành ghi phổ PL của các mẫu ASiNW được ăn mòn
MAECE với các mật độ dòng khác nhau với mục địch khảo sát ảnh hưởng
của dòng điện hóa lên phổ PL của các mẫu ASiNW.
- Chúng tôi cũng tiến hành ghi phổ PL của các mẫu Si trước khi ăn mòn để so
sánh với PL của mẫu sau khi được ăn mòn tạo các ASiNW.
Các phép ghi phổ PL của các mẫu ASiNW đã được tiến hành ở nhiệt độ
phòng với bước sóng kích thích 325 nm phát ra từ laser He-Cd. Sơ đồ và nguyên lý
của hệ đo đã được trình bày trong Chương 1.
Các kết quả thu được cho thấy rằng: i) trước khi ăn mòn mẫu Si không phát
quang, sau khi được ăn mòn để tạo các ASiNW trên đế Si thì mẫu trở nên phát
quang với đỉnh PL rộng, nằm trong vùng đỏ; (ii) Các hệ ASiNW chế tạo bằng
phương pháp MAECE có cường độ PL mạnh hơn chế tạo bằng MACE hàng trăm
lần và PL rất bền với thời gian. Khi được chiếu dưới ánh sáng của đèn tử ngoại,
trong các mẫu này phát ra ánh sáng màu đỏ − cam với cường độ khá mạnh và có thể
nhìn thấy rõ bằng mắt thường. Đây là một kết quả hoàn toàn mới và cho đến nay
98
vẫn chưa có thông báo nào về PL của các hệ SiNW với cường độ mạnh như trên;
(ii) Các mẫu ASiNW được ăn mòn MAECE với mật độ dòng điện hóa lớn hơn sẽ có
cường độ PL mạnh hơn và đỉnh phổ PL cũng có xu hướng dịch về phía bước sóng
ngắn hơn. Các kết quả cụ thể về PL của các hệ ASiNW chế tạo bằng phương pháp
MACE và MAECE cũng như các thảo luận về nguồn gốc của PL mạnh và bền quan
sát được của các mẫu ASiNW chế tạo bằng phương pháp MAECE sẽ được trình bày
chi tiết trong phần tiếp theo.
3.2.2. Các kết quả và thảo luận về PL của các mẫu ASiNW
Hình 3.12. Huỳnh quang của đế Si trước (1) và sau ăn mòn MACE trong 90
phút để tạo ASiNW (2) ở nhiệt độ phòng khi kích thích dưới ánh sáng của laser
He-Cd với bước sóng kích thích 325 nm.
Huỳnh quang của mẫu ASiNW được chế tạo trên đế Si bằng cách ăn mòn
MACE trong dung dịch 4,8 M HF và 0,4 M H2O2 trong 90 phút ở nhiệt độ phòng
được chỉ ra trên hình 3.12 (đường cong (2)). Để so sánh, đế Si trước khi bị ăn mòn
tạo ASiNW cũng sẽ được tiến hành đo PL và kết quả thu được cũng được biểu diễn
trên hình 3.12 (đường cong (1)). Từ hình vẽ này có thể thấy rằng, trước khi ăn mòn,
mẫu Si không phát quang. Sau khi được ăn mòn MACE để tạo hệ ASiNW, mẫu
99
phát huỳnh quang. Phổ PL thu được của mẫu ASiNW là một dải rộng với đỉnh nằm
tại khoảng 767 nm (∼ 1,62 eV) (vùng đỏ).
Trước tiên, từ ảnh SEM và TEM của các mẫu ASiNW chế tạo được (đã được
trình bày trong Chương 2) có thể khẳng định rằng do kích thước của các NW là rất
lớn (100 – 200 nm), lớn hơn rất nhiều so với bán kính Bohr exciton của Si khối (4,3
nm) cho nên sự phát PL của các mẫu ASiNW của chúng tôi không phải là do toàn
bộ NW phát PL như một đối tượng nanô phát quang theo QCE. Chúng tôi cho rằng
có thể có các SiNC được hình thành trong quá trình ăn mòn nằm dọc trên các NW
và PL quan sát được từ các mẫu ASiNW là do các SiNC này phát quang. Như đã
trình bày trước đó trong cơ chế ăn mòn của MACE và MAECE, các lỗ trống được
tạo ra do sự khử của các chất ôxy hóa khuếch tán qua kim loại và được phun vào
trong Si tiếp xúc với kim loại. Các lỗ trống này có thể khuếch tán từ Si bên dưới
kim loại vào các vùng không có kim loại hoặc vào vách của lỗ xốp nếu tốc độ tiêu
thụ lỗ trống tại giao diện Si/kim loại nhỏ hơn tốc độ phun lỗ trống. Do đó, các khu
vực không có kim loại hoặc vách bên của các SiNW cũng có thể bị ăn mòn và hình
thành các SiNC nằm dọc trên các NW. Chính nhờ có các SiNC được hình thành dọc
trên các NW mà ta có thể quan sát thấy được PL trong vùng đỏ của các hệ ASiNW
chế tạo được mặc dù kích thước của các SiNW là khá lớn. Phổ PL rộng của mẫu thu
được là do kích thước của các SiNC nằm trên các SiNW là khác nhau.
Mặc dù đã quan sát thấy rằng hệ ASiNW chế tạo trên đế Si bằng phương
pháp ăn mòn MACE có khả năng phát PL nhưng nhìn chung cường độ PL của mẫu
này vẫn còn khá yếu. Do đó, nhiệm vụ ưu tiên là cần phải tìm ra phương pháp để
tăng cường hơn nữa cường độ PL của các mẫu ASiNW. Với mục đích này, chúng
tôi đã chuyển sang sử dụng phương pháp MAECE để chế tạo các hệ ASiNW với hi
vọng rằng sẽ tăng được đáng kể cường độ PL của các mẫu ASiNW. Nguyên nhân
khiến chúng tôi chọn phương pháp MAECE là vì khi nghiên cứu chế tạo các mẫu Si
xốp (PSi) bằng phương pháp MAECE, chúng tôi đã quan sát thấy rằng, sau khi ăn
mòn MAECE mẫu PSi phát PL mạnh hơn mẫu được ăn mòn MACE tới hàng trăm
lần [34]. Do đó, chúng tôi cho rằng, nếu cũng sử dụng phương pháp MAECE để chế
100
tạo các hệ ASiNW thì PL của các hệ này cũng có thể sẽ được tăng cường lên rất
nhiều so với hệ chế tạo bằng MACE.
Kết quả PL của mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MAECE (ăn
mòn điện hóa trong dung dịch 10% HF (về thể tích) (khoảng 5 M) với mật độ dòng 6 mA/cm2 trong 30 phút) cho thấy có một sự tăng cường rất mạnh về cường độ PL
của mẫu này so với mẫu được chế tạo bằng phương pháp MACE (ăn mòn hóa học
trong dung dịch 4,8 M HF và 0,4 M H2O2 trong 90 phút). Kết quả này được chỉ ra
trên hình 3.13. Có thể dễ dàng thấy rằng, so với mẫu ASiNW được ăn mòn MACE
(đường cong (1) trên hình 3.13), thì mẫu được ăn mòn MAECE (đường cong (2)
trên hình 3.13) có cường độ phát PL mạnh hơn tới hàng trăm lần (khoảng 250 lần),
bên cạnh đó, đỉnh PL của mẫu này cũng dịch về phía bước sóng ngắn hơn (từ 767
nm về 690 nm), tương đương với việc phổ PL của mẫu dịch về phía năng lượng cao
hơn (từ ∼ 1,62 eV tới ∼ 1,8 eV)).
Hình 3.13. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp
MACE (1) và MAECE (2) ở nhiệt độ phòng.
Sự so sánh về PL của hai mẫu ASiNW được chế tạo bằng MAECE và
MACE cũng có thể được quan sát thấy trên hình 3.14 – ảnh chụp khi hai mẫu này
cùng được chiếu dưới ánh sáng của một đèn tử ngoại thông thường (loại đèn sử
101
dụng để kiểm tra tiền giả). Từ đây có thể thấy rằng, khi được chiếu dưới ánh sáng
của đèn tử ngoại, trong khi mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MACE
không cho thấy có sự phát quang nào (mẫu vẫn có màu đen) (hình 3.14(a)) thì mẫu
ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MAECE lại phát ra ánh sáng màu đỏ −
cam với cường độ khá mạnh (hình 3.14(b)) đến mức có thể quan sát thấy rất rõ bằng
mắt thường.
Hình 3.14. Sự phát quang của các mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp
MACE (a) và MEACE (b) khi được chiếu dưới ánh sáng của đèn tử ngoại.
Đây là một kết quả quan trọng và hoàn toàn mới của chúng tôi vì theo phần
lớn các công trình nghiên cứu, huỳnh quang của ASiNW thường có cường độ rất
yếu và nhanh chóng bị dập tắt theo thời gian. Có nhiều nhóm nghiên cứu đã có gắng
để làm tăng cường và làm ổn định sự phát quang của SiNW thông qua một số
phương pháp xử lí khác nhau như Se hóa các SiNW [101], hoặc sử dụng đồng thời
hai phương pháp ăn mòn điện hóa và ăn mòn bằng laser để chế tạo SiNW [85], hoặc
chế tạo SiNW bằng phương pháp quang khắc chùm điện tử kết hợp với ăn mòn khô
[116] hay tạo khuôn nanô các hệ SiNW thành các hệ hình học bất kỳ sử dụng kỹ
thuật chế tạo phẳng “từ trên xuống” [38],… Tuy vậy, các kết quả thu được cho thấy
những cố gắng trên không đem lại hiệu quả lớn đối với sự tăng cường PL của mẫu
SiNW. Ngoài ra, cho đến nay vẫn chưa thấy có thông báo nào về sự phát PL của
SiNW mà có thể quan sát thấy bằng mắt thường khi bị kích thích dưới ánh sáng của
đèn tử ngoại (hầu hết các nhóm đều phải kích thích bằng laser thì mới quan sát được
PL của mẫu SiNW). Đối với các mẫu SiNW được chế tạo bằng phương pháp
MAECE của chúng tôi, huỳnh quang của các mẫu không chỉ mạnh mà còn khá bền
102
theo thời gian. Từ vài tháng thậm chí tới hàng năm sau khi chế tạo, chúng tôi vẫn
quan sát được thấy sự phát quang màu đỏ – cam của các mẫu này khi chúng được
chiếu dưới đèn tử ngoại. Kết quả này mở ra một triển vọng rất lớn cho việc ứng
dụng vật liệu SiNW trong các linh kiện, thiết bị phát ánh sáng đỏ.
Hình 3.15. Ảnh SEM và TEM tương ứng của các mẫu ASiNW chế tạo bằng
phương pháp MACE (a, b) và MAECE (c, d).
Để nghiên cứu nguồn gốc của sự tăng mạnh về cường độ PL của các mẫu
ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MAECE, trước hết dựa theo các kết quả
công bố của nhiều nhóm nghiên cứu khác về PL của SiNW khi mà họ cho rằng sở
dĩ các SiNW trở nên phát quang mạnh hơn là do các NW trở nên xốp sau quá trình
ăn mòn [3, 24, 190] và các NW càng xốp thì PL của các hệ SiNW sẽ càng mạnh.
Nếu nhận định của họ là đúng thì các NW của mẫu ASiNW được ăn mòn MAECE
phải xốp hơn so với các NW của mẫu được ăn mòn MACE. Tuy vậy, khi so sánh
ảnh SEM và TEM của mẫu ASiNW được chế tạo bằng phương pháp MAECE và
mẫu được chế tạo bằng phương pháp MACE được chỉ ra trên hình 3.15 thì có thể
khẳng định rằng độ xốp hay cấu trúc (chiều dài và mật độ) của ASiNW không phải
là nguyên nhân của sự phát PL mạnh của các mẫu ASiNW được ăn mòn MAECE
cũng như sự tăng cường PL của các mẫu này so với các mẫu được chế tạo bằng
phương pháp MACE. Thật vậy, từ hình 3.15 có thể dễ dàng thấy rằng mật độ, chiều
103
dài cũng như hình dạng, đường kính và cả độ gồ ghề của các NW của hai mẫu
ASiNW được ăn mòn MACE (hình 3.15(a) và (b)) và MAECE (hình 3.15(c) và (d))
là gần giống như nhau. Nhưng như đã được chỉ ra trên các hình 3.13 và 3.14, mẫu
chế tạo bằng phương pháp MAECE có cường độ PL mạnh hơn gấp hàng trăm lần so
với mẫu chế tạo bằng phương pháp MACE.
Sự tăng cường mạnh về cường độ PL của mẫu SiNW được ăn mòn MAECE
so với mẫu được chế tạo bằng phương pháp MACE (hình 3.13 và 3.14) mà chúng
tôi đã ghi nhận được có quy luật tương tự như các kết quả mà chúng tôi thu được
trên các mẫu Si xốp (PSi) được ăn mòn bằng phương pháp MAECE [34]. Cụ thể,
trong [34], chúng tôi đã quan sát thấy được sự tăng huỳnh quang gấp hàng trăm lần
của mẫu PSi ăn mòn MAECE so với mẫu ăn mòn MACE và cũng đã thấy rằng sự
tăng cường PL này có liên quan chặt chẽ với nồng độ ôxy trên bề mặt mẫu PSi. Từ
đó, chúng tôi cho rằng, có sự ôxy hóa anốt xảy ra trong quá trình ăn mòn MAECE
Si và đó cũng là nguyên nhân chính gây ra sự tăng cường PL của các mẫu được ăn
mòn MAECE. Chính vì vậy, chúng tôi tin rằng, tương tự như đối với trường hợp
của PSi, nguyên nhân dẫn tới sự tăng mạnh về huỳnh quang của các mẫu ASiNW
chế tạo bằng MAECE so với mẫu chế tạo bằng MACE có thể cũng có liên quan đến
sự ôxy hóa anốt các SiNW trong quá trình ăn mòn MAECE. Để kiểm nghiệm lại giả
thiết này, chúng tôi tiến hành các phép đo EDX.
Bảng 3.2. Hàm lượng các nguyên tố O, Si, Ag (theo % nguyên tử) trên các mẫu SiNW
được chế tạo bằng phương pháp MACE và MAECE (với mật độ dòng 4, 6, 8 và 10 mA/cm2) và mẫu được xử lí trong dung dịch HF 5%.
Hàm lượng các nguyên tố (theo % nguyên tử)
MACE MAECE 4mA/cm2
MAECE 6 mA/cm2
MAECE 8 mA/cm2
MAECE 10 mA/cm2
Mẫu xử lí trong HF
Các nguyên tố O Si
7,8 92,2
21,9 78,1
25,1 74,9
27,7 72,3
37,6 62,4
0,2 99,8
104
Kết quả EDX (bảng 3.2) cho thấy nồng độ ôxy (O) trên bề mặt của mẫu ăn
mòn MACE thấp hơn đáng kể so với mẫu ăn mòn MAECE. Hơn thế nữa, khi mật
độ dòng điện hóa tăng lên thì nồng độ O trên bề mặt mẫu ASiNW cũng tăng lên.
Các kết quả này có quy luật hoàn toàn tương tự như các kết quả đối với mẫu PSi mà
chúng tôi đã quan sát được trong [34] và một lần nữa hỗ trợ cho giả thiết của chúng
tôi rằng có quá trình ôxy hóa anốt Si xảy ra trong quá trình ăn mòn MAECE tạo các
hệ ASiNW. Cụ thể hơn, theo quan điểm mà chúng tôi đã trình bày trong [34], trong
quá trình ăn mòn MAECE, dòng điện hóa cùng một lúc đóng hai vai trò cạnh tranh
nhau. Vai trò thứ nhất là tác nhân hỗ trợ sự ăn mòn Si (tức là hòa tan (trực tiếp) Si
trong dung dịch ăn mòn), nhưng mặt khác nó lại đóng vai trò thứ hai là vai trò làm
tác nhân ôxy hóa Si (thông qua điện phân H2O có trong dung dịch ăn mòn). Khi mật
độ dòng điện hóa tăng lên, vai trò tác nhân ôxy hóa trở nên mạnh hơn và chiếm ưu
thế hơn so với vai trò hỗ trợ sự ăn mòn Si. Như vậy, khi mật độ dòng ăn mòn đạt
giá trị đủ lớn, thì sau quá trình MAECE thay vì sẽ có các hệ ASiNW với chiều dài
các NW tăng lên, ta sẽ có các hệ ASiNW với các NW bị ôxy hóa. Chính sự ôxy hóa
này đã làm cho cường độ PL của các các hệ ASiNW được ăn mòn MAECE tăng
lên. Nói cách khác, khi mật độ dòng điện hóa được tăng lên, sự ôxy hóa Si trên bề
mặt mẫu xảy ra mạnh hơn so với sự hòa tan ôxít và do đó sau quá trình ăn mòn sẽ
có một lớp ôxít Si (vô định hình) được hình thành trên bề mặt các NW.
Để hiểu được cơ chế phát PL của SiNW với lớp ôxít Si trên bề mặt, chúng tôi
cho rằng sau quá trình ăn mòn các SiNC sẽ được hình thành và nằm dọc trên các
NW sau quá trình chế tạo. Thêm nữa, đối với các mẫu được ăn mòn MAECE do có
sự ôxy hóa anốt trong quá trình ăn mòn làm hình thành lớp ôxít Si trên bề mặt các
SiNW nên sau quá trình chế tạo trên bề mặt các NW sẽ là các SiNC được bao phủ
bởi lớp ôxít Si. Cũng cần phải lưu ý thêm rằng, sau quá trình chế tạo thì trên bề mặt
của các NW được ăn mòn MACE cũng sẽ là các SiNC nằm trong lớp ôxít Si. Lớp
ôxít Si được hình thành trên mẫu ăn mòn MACE có thể là kết quả của sự ôxy hóa tự
nhiên khi để mẫu ra ngoài không khí và sự ôxy hóa trong quá trình chế tạo (với sự
hỗ trợ của Ag và chất ôxy hóa H2O2) và điều này cũng được minh chứng bằng kết
105
quả EDX trong bảng 3.2 rằng trên bề mặt của mẫu ăn mòn MACE có O mặc dù
nồng độ O là khá nhỏ (chỉ cỡ ∼ 7,8% (tính theo % nguyên tử)). Từ đó, ta có thể giải
thích được sự tăng cường mạnh về cường độ PL của mẫu ăn mòn MAECE so với
MACE như sau: khi diện tích và độ dày của lớp ôxít Si hình thành trên bề mặt các
NW tăng lên (thể hiện ở nồng độ O trên bề mặt mẫu tăng lên), kích thước của các
SiNC nằm trong lớp ôxít Si này bị thu nhỏ đi và theo QCE, sắc xuất tái hợp phát xạ
của cặp điện tử - lỗ trống của các SiNC sẽ tăng lên làm cho cường độ PL của mẫu
được tăng cường. Thêm vào đó, theo QCE khi kích thước của các SiNC trên các
SiNW bị thu nhỏ, thì vùng cấm của các SiNC cũng sẽ được mở rộng ra và do đó
chúng ta quan sát thấy được sự dịch xanh của đỉnh phổ PL của mẫu ăn mòn
MAECE so với mẫu MACE ( hình 3.13).
Hình 3.16. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo trên đế Si bằng phương pháp MAECE với mật độ dòng 6 mA/cm2 (1) trước và (2) sau khi xử lí trong dung dịch HF.
Để khẳng định vai trò quan trọng của lớp ôxít Si được hình thành trên bề mặt
các NW đối với sự phát PL mạnh của các mẫu ASiNW, chúng tôi cũng đã tiến hành
một bước xử lí loại bỏ lớp ôxít Si bao phủ bên ngoài các NW trên các mẫu ASiNW
được ăn mòn MAECE bằng cách ngâm mẫu này trong dung dịch HF 5% (về thể
tích) trong 5 phút rồi sau đó kiểm tra PL của mẫu đồng thời cũng tiến hành phân
106
tích EDX bề mặt mẫu. Kết quả đo PL của các mẫu cho thấy, sau bước xử lí trong
HF, PL của mẫu bị dập tắt gần như hoàn toàn (hình 3.16) trong khi kết quả phân
tích EDX cho thấy, sau khi xử lí trong HF, nồng độ O trên bề mặt mẫu cùng giảm đi
gần hết (bảng 3.2). Các kết quả trên một lần nữa khẳng định vai trò quyết định của
lớp ôxít Si được hình thành do quá trình ôxy hóa anốt trong quá trình MAECE đối
với PL mạnh từ các mẫu ASiNW và vai trò rất quan trọng của sự thụ động hóa bề
mặt SiNW hay nói chính xác hơn là sự thụ động hóa các SiNC nằm dọc trên các
NW. Hiện tượng dập tắt PL này có thể được giải thích là do sau khi loại bỏ lớp ôxít
Si trên bề mặt của các SiNC lúc này sẽ là các liên kết treo hoặc các sai hỏng mạng
tinh thể, … Các liên kết treo hay các sai hỏng này là các tâm tái hợp không phát xạ
và do đó photon ánh sáng được tạo thành từ tái hợp phát xạ của cặp điện tử - lỗ
trống trong các SiNC sẽ bị bắt ở các các tâm này và không thể phát ra ngoài và làm
cho PL của mẫu bị dập tắt.
Hình 3.17. Huỳnh quang của các mẫu ASiNW được chế tạo trên đế Si bằng
phương pháp MAECE trong 30 phút ở nhiệt độ phòng với mật độ dòng điện hóa thay đổi: (1) 4 mA/cm2, (2) 6 mA/cm2, (3) 8 mA/cm2 và (4) 10 mA/cm2.
Tiếp theo, chúng tôi tiến hành khảo sát ảnh hưởng của mật độ dòng điện hóa
lên PL của các mẫu ASiNW được ăn mòn MAECE. Các kết quả thu được được
107
trình bày trên hình 3.17. Nhìn vào hình vẽ có thể thấy rằng, mật độ dòng điện hóa
có ảnh hưởng mạnh đến PL của các mẫu ASiNW. Cụ thể, các mẫu được ăn mòn với
mật độ dòng điện hóa lớn hơn sẽ có cường độ PL mạnh hơn và đỉnh phổ PL cũng có
xu hướng dịch về phía bước sóng ngắn hơn (từ 700 nm (∼ 1,77 eV) về 660 nm (∼
1,88 eV)) (dịch xanh). Chúng tôi cũng tiến hành các phép đo EDX đối với các mẫu
ăn mòn MAECE với mật độ dòng thay đổi và thấy rằng, khi mật độ dòng điện hóa
càng tăng lên thì nồng độ O trên bề mặt mẫu ASiNW cũng sẽ tăng lên và các kết
quả này được chỉ ra trong bảng 3.2.
Sự tăng cường về cường độ PL của mẫu SiNW được ăn mòn MAECE theo
mật độ dòng cũng như là các kết quả phân tích EDX trên các mẫu ASiNW một lần
nữa lại cho thấy có quy luật giống như các kết quả mà chúng tôi thu được trên các
mẫu PSi được ăn mòn bằng phương pháp MAECE [34] và tiếp tục khẳng định về sự
đúng đắn của giả thiết rằng có sự ôxy hóa anốt Si trong quá trình ăn mòn MAECE
của chúng tôi. Theo đó, sự tăng cường về cường độ PL và sự dịch xanh của đỉnh
phổ PL của mẫu SiNW được ăn mòn MAECE theo mật độ dòng điện hóa có thể
giải thích như sau: khi mật độ dòng điện hóa tăng lên, sự ôxy hóa anốt xảy ra mạnh
hơn, diện tích lớp ôxít Si được tạo thành trên bề mặt của các SiNW sẽ ngày càng
tăng lên (nồng độ O trên bề mặt mẫu tăng lên) làm cho kích thước của các SiNC
ngày càng nhỏ đi và do đó theo QCE cường độ PL của mẫu sẽ tăng lên, đồng thời
đỉnh phổ PL của các mẫu cũng dịch dần về phía xanh. Ngoài ra, như đã trình bày
trước đó thì theo Veprek và các cộng sự [156] đối với các SiNC bị ôxy hóa thì
cường độ PL không chỉ phụ thuộc vào kích thước của các SiNC mà còn phụ thuộc
vào khoảng cách trung bình giữa các SiNC. Nếu khoảng cách giữa các SiNC là nhỏ
sẽ xảy ra sự chồng chập hàm sóng điện tử của các nanô tinh thể và làm giảm hiệu
suất hấp thụ ánh sáng của các SiNC và do đó làm giảm cường độ PL của các mẫu.
Do đó, cũng có khả năng xảy ra trường hợp là khi mật độ dòng điện hóa tăng lên,
diện tích lớp ôxít Si được tạo thành trên bề mặt của các SiNW sẽ ngày càng tăng lên
làm cho khoảng cách trung bình của các SiNC sẽ tăng lên và do đó cường độ PL
108
của mẫu cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, để khẳng định được sự đúng đắn của nguyên
nhân này, cần phải có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa.
Sự ổn định của PL theo thời gian quan sát được đối với các mẫu ASiNW
được ăn mòn MAECE của chúng tôi có thể được lí giải là do vai trò của thụ động
hóa bề mặt SiNW bằng ôxy thông qua sự ôxy hóa anốt trong quá trình ăn mòn. Cụ
thể, thông thường để tiến hành ôxy hóa các vật liệu Si cấu trúc nanô nói chung, sau
khi chế tạo các mẫu người ta phải tiến hành nung các mẫu trong môi trường ôxy,
NO hoặc trong không khí. Tuy nhiên, đối với trường hợp của chúng tôi, các mẫu
SiNW đã được thụ động hóa bề mặt ngay trong quá trình chế tạo (bằng sự ôxy hóa
anốt), do đó sau khi chế tạo xong thì bề mặt của các mẫu đã trở nên ổn định và hầu
như không bị ảnh hưởng hay bị thay thế các liên kết trên bề mặt sau khi để ra ngoài
không khí. Chính vì vậy mà PL của các mẫu của chúng tôi cũng trở nên ổn định và
bền theo thời gian.
3.3. Kết luận Chương 3
1. Đã quan sát thấy sự phát PL của các hệ ASiNW được tạo ra bằng cách ăn mòn Si
bằng phương pháp MACE. Phổ PL thu được của mẫu ASiNW là một dải khá
rộng với đỉnh nằm trong vùng đỏ.
2. Đã quan sát thấy sự tăng cường rất mạnh (gấp khoảng 250 lần) về cường độ PL
của mẫu ASiNW chế tạo bằng phương pháp MAECE so với mẫu chế tạo bằng
phương pháp MACE. Ngoài ra còn quan sát thấy sự tăng cường và dịch về phía
bước sóng ngắn của phổ PL của các mẫu ASiNW chế tạo bằng phương pháp
MAECE khi tăng mật độ dòng điện hóa. PL của các mẫu này rất mạnh (có thể
quan sát bằng mắt thường khi chiếu dưới đèn tử ngoại) và bền theo thời gian.
Đây là một kết quả quan trọng và hoàn toàn mới của chúng tôi.
3. Nguồn gốc PL mạnh trong vùng đỏ của các mẫu SiNW chế tạo bằng phương
pháp MAECE đã được nghiên cứu và thảo luận. Theo đó đã thấy rằng sự phát
quang này liên quan chặt chẽ với lớp ôxít Si được hình thành trên bề mặt mẫu do
quá trình ôxy hóa anốt trong quá trình ăn mòn MAECE. Cơ chế phát PL của các
mẫu ASiNW cũng đã được đề xuất. Cụ thể, sau quá trình ăn mòn trên bề mặt các
109
SiNW sẽ là các SiNC nằm trong lớp ôxít Si. Khi mật độ dòng điện hóa tăng lên,
diện tích và độ dày của lớp ôxít Si ngày càng tăng lên (thể hiện bằng nồng độ O
trên bề mặt mẫu tăng lên) làm cho kích thước của các SiNC ngày càng thu nhỏ và
cường độ PL của mẫu tăng lên và đồng thời đỉnh phổ PL của các mẫu cũng dịch
về phía xanh theo QCE.
4. Sự ổn định của PL theo thời gian của các mẫu ASiNW được ăn mòn MAECE
được cho là do các SiNW đã được thụ động hóa bề mặt ngay trong quá trình chế
tạo thông qua sự ôxy hóa anốt.
110
Chương 4
Ứng dụng các hệ ASiNW trong tán xạ Raman tăng
cường bề mặt
4.1. Tán xạ Raman
Hiệu ứng tán xạ Raman được phát hiện vào năm 1928 bởi nhà vật lý học Ấn
Độ Chandrasekhara Venkata Raman, nhờ phát hiện này mà Raman đã nhận được
giải Nobel vật lý vào năm 1930. Đây là hiện tượng tần số của ánh sáng bị thay đổi
sau khi tán xạ, do đó quan sát thấy các vạch phổ bổ sung mà tần số của nó là tổ hợp
của các tần số của ánh sáng tới và các tần số dao động.
Tán xạ Raman là tán xạ không đàn hồi của một sóng điện từ với vật chất. Sự
khác nhau về năng lượng của photon tới và photon tán xạ tương ứng với năng lượng
dao động trong mạng tinh thể hoặc dao động của phân tử. Photon tán xạ có thể có
năng lượng lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với năng lượng của photon tới.
Cơ chế tán xạ Raman
Khi chiếu photon có tần số ν0 (hay năng lượng hν0) tới một phân tử (hoặc
một tinh thể), photon bị tán xạ theo tất cả các hướng. Tán xạ có thể là đàn hồi hoặc
không đàn hồi. Trong trường hợp tán xạ đàn hồi, các photon bị tán xạ có cùng tần
số ν0 với photon tới (trường hợp này được gọi là tán xạ Rayleigh), xác suất xảy ra
quá trình này là lớn. Trong trường hợp có trao đổi năng lượng, các photon bị tán xạ
có tần số (hay năng lượng) lớn hơn hoặc nhỏ hơn năng lượng của photon tới: ∆ν =
ν0 ± νi, trong đó νi là tần số của dao động của phân tử (hay tinh thể). Trường hợp
này được gọi là tán xạ Raman, có xác suất thấp. Nếu photon tán xạ có tần số thấp
hơn tần số photon tới (∆ν = ν0 - νi), ta có vạch Stokes trong phổ Raman. Trường hợp
photon tán xạ có tần số lớn hơn tần số photon tới (∆ν = ν0 + νi) ta có các vạch đối
Stokes (anti-Stockes) trong phổ Raman.
111
Ánh sáng phản xạ và ánh sáng chiếu vào bao giờ cũng có tần số lệch nhau
một khoảng đúng bằng tần số dao động của phân tử được ánh sáng chiếu vào,
không phụ thuộc vào tần số của ánh sáng chiếu vào. Chính vì vậy, độ lệch của tần
số tán xạ Raman ∆ν là đặc trưng cho phân tử hoặc tinh thể, các phân tử và tinh thể
khác nhau sẽ có ∆ν khác nhau do đó tán xạ Raman được dùng để xác định sự có
mặt của phân tử hay tinh thể. Cũng cần lưu ý là một phân tử sẽ có một bộ tần số ∆ν
đặc trưng chứ không phải là chỉ có một giá trị ∆ν.
Hình 4.1. Sơ đồ biểu diễn tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh: (a) sơ đồ năng
lượng của các quá trình tán xạ; (b) Phổ tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh.
Sơ đồ biểu diễn tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh được chỉ ra trên hình 4.1.
Nguyên tử trong phân tử hoặc tinh thể có thể nằm ở trạng thái cơ bản (trạng thái 0)
hoặc các trạng thái kích thích (trạng thái 1, 2,…). Khi nhận được năng lượng từ
photon ánh sáng, nguyên tử có thể từ mức năng lượng cơ bản nhảy lên một mức
năng lượng ảo rồi trở về trạng thái kích thích và tạo ra vạch Raman Stockes. Trạng
thái ảo này không phải là một trạng thái ổn định của hệ. Nó không phải là nghiệm
của phương trình Schrodinger không phụ thuộc vào thời gian và do đó không tương
112
ứng với một giá trị năng lượng xác định. Trong một quá trình hấp thụ thực năng
lượng luôn luôn được bảo toàn và trạng thái tạo ra của hệ là một trạng thái rời rạc.
Hấp thụ mà không bảo toàn năng lượng được gọi là hấp thu ảo và trạng thái được
tạo ra lúc này là một trạng thái ảo [25].
(4.1)
Khi các nguyên tử từ trạng thái cơ bản nhảy lên mức ảo rồi lại trở về trạng ℎ∆𝜈 = ℎ𝜈0 − ℎ𝜈𝑖
thái cơ bản thì tạo ra vạch Rayleigh.
Khi các nguyên tử từ trạng thái kích thích nhảy lên mức ảo rồi trở về trạng
thái cơ bản thì tạo ra vạch Raman đối Stockes
(4.2)
Cường độ của vạch Stockes lớn hơn nhiều so với vạch đối Stockes. Nguyên ℎ∆𝜈 = ℎ𝜈0 + ℎ𝜈𝑖
nhân là do trong điều kiện bình thường, các nguyên tử ở trạng thái cơ bản nhiều hơn
rất nhiều so với các nguyên tử ở trạng thái kích thích (định luật phân bố Maxwell-
Boltzmann), vì vậy số nguyên tử tham gia vào quá trình Stockes lớn hơn rất nhiều
so với các nguyên tử tham gia vào quá trình đối Stockes.
Sự chênh lệch về năng lượng ánh sáng tới và ánh sáng tán xạ được gọi là
dịch chuyển Raman (Raman shift) và được xác định thông qua phương trình:
(4.3)
1
𝜆𝑡á𝑛 𝑥ạ
∆𝐸 =
1 𝜆𝑡ớ𝑖 −
trong đó ΔE là dịch chuyển Raman về bước sóng, λtới là bước sóng của ánh sáng tới
còn λtán xạ là bước sóng của ánh sáng tán xạ.
Không phải trên tất cả các dao động của ta đều quan sát được phổ Raman. Để
quan sát được ở trên phổ Raman, các dao động cần phải tuân theo quy tắc chọn lọc
đó là chỉ có các dao động nào làm thay đổi độ phân cực của phân tử, nguyên tử thì
mới là dao động tích cực Raman và có thể quan sát được trên phổ [25].
Dao động của các phân tử trong đó mỗi nguyên tử của phân tử dao động
cùng tần số và lệch ra khỏi vị trí cân bằng của nó cùng một lúc với tất cả các nguyên
tử khác trong phân tử, được gọi là các mode dao động cơ bản. Số mode dao động cơ
113
bản của một phân tử phụ thuộc vào số lượng của các nguyên tử trong phân tử. Các
mode dao động cơ bản của phân tử H2O được minh họa tương ứng trong hình 4.2.
Hình 4.2. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O.
Hình 4.3. Ba mode dao động của H2O và sự thay đổi kích thước (a), hình dạng (b)
và định hướng (c) của các ellipsoid phân cực của các phân tử nước. Các cột ở giữa
cho thấy ellipsoid phân cực ở vị trí cân bằng của phân tử, còn các cột bên trái và
bên phải hiện thị ellipsoid phân cực ở các vị trí biên của các dao động.
Đối với một mode dao động được coi là tích cực Raman, sự dao động phải
gây ra một số thay đổi trong sự phân cực của phân tử. Ellipsoid phân cực của các
phân tử có thể thay đổi về độ lớn hoặc hình dạng hoặc hướng trong quá trình dao
114
động. Hình 4.3 minh họa các ellipsoid phân cực của phân tử nước trong các mode
dao động cơ bản. Đối với mỗi dao động, ellipsoid phân cực được chỉ ra tại vị trí cân
bằng của phân tử và ở các bước thay đổi của dao động. Có thể thấy rằng cả ba mode
dao động của phân tử nước đều gây ra một sự thay đổi của ellipsoid phân cực bao
gồm thay đổi về kích thước (hình 4.3(a)), hình dạng (hình 4.3(b)) và hướng (hình
4.3(c)). Như vậy, cả ba mode dao động cơ bản của phân tử nước là đều là các dao
động tích cực Raman.
Hình 4.4. Phổ Raman của bột Sudan đỏ [128].
Phổ Raman cung cấp các thông tin về các quá trình chuyển đổi dao động của
phân tử và do đó nó cung cấp các đặc điểm cấu trúc của chất phân tích. Vì vậy, từ
lâu tán xạ Raman đã được coi là một công cụ có giá trị cho việc xác định các mẫu
hóa học và sinh học, cũng như đối với sự giải thích của cấu trúc phân tử, các quá
trình bề mặt và các phản ứng giao diện. Một ví dụ về phổ Raman của phân tử hữu
cơ Sudan đỏ được chỉ ra trên hình 4.4. Sudan đỏ là một loại chất nhuộm màu đỏ có
công thức hóa học là C16H12N2O. Phổ Raman của Sudan đỏ bao gồm rất nhiều vùng
đặc trưng, mỗi vùng đại diện cho một mode dao động của phân tử Sudan đỏ. Nhờ
các vùng đặc trưng này ta có thể phân biệt được các phân tử Sudan đỏ với các phân
tử khác. Các mode dao động tương ứng với các vùng trên phổ Raman của phân tử
Sudan đỏ được liệt kê trong bảng 4.1.
115
Bảng 4.1. Các vùng đặc trưng trong phổ Raman của phân tử Sudan đỏ và các mode dao
động tương ứng [128].
Mode dao động
Dịch chuyển Raman (cm-1)
Kéo căng C-C
985
Uốn C-H và Uốn C=N
1093
Uốn trong mặt phẳng (in-plane bending) O-H và uốn trong
1171
mặt phẳng C-H
Kéo căng vòng phenyl-N và uốn trong mặt phẳng C-H
1229
Kéo căng C-C và uốn trong mặt phẳng C-H
1338
Kéo căng N=N, kéo căng C-C và uốn trong mặt phẳng C-H
1390
Kéo căng C-C và uốn trong mặt phẳng C-H
1497
Kéo căng C-C và uốn trong mặt phẳng C-H
1549
Kéo căng C-C
1596
4.2. Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt
Việc nghiên cứu dao động bằng phổ tán xạ Raman cũng có những nhược điểm nhất định. Xác suất xảy ra tán xạ Raman rất thấp (cỡ 10-8, nghĩa là cứ 108
photon tới thì mới có một photon bị tán xạ Raman), do đó cường độ của hiệu ứng Raman thường rất thấp, chỉ vào khoảng 10-8 cường độ ánh sáng tới. Vì vậy rất khó
để thu được tín hiệu Raman của các phân tử với nồng độ thấp. Ứng dụng của tán xạ
Raman trong việc phân tích phát hiện các phân tử do vậy cũng bị hạn chế rất nhiều.
Một bước ngoặt lớn đã xảy ra vào năm 1974, khi nhóm nghiên cứu của
Fleischmann [112] đã phát hiện ra rằng sự có mặt của một điện cực Ag nhám sẽ làm
cho cường độ tín hiệu Raman của pyridin hấp thụ trên bề mặt điện cực đó tăng lên
nhiều lần. Từ đây, bắt đầu kỷ nguyên của ‘Tán xạ Raman tăng cường bề mặt’ như
một kỹ thuật phân tích xác định lượng vết của các phân tử hữu cơ và sinh học.
Tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) là hiệu ứng mà trong đó cường độ
của các vạch phổ tán xạ Raman của các phân tử đang là đối tượng phân tích tăng lên
lên nhiều lần do chúng nằm trong môi trường có chứa bề mặt kim loại đặc biệt (hình
116
4.5). Phương pháp này đã và đang được phát triển để phát hiện một lượng rất nhỏ
của các phân tử hóa học hữu cơ hoặc sinh học và trong một vài trường hợp, SERS
thậm chí có thể phát hiện tới đơn phân tử [63, 83, 153].
Hình 4.5. Sơ đồ minh họa hiệu ứng SERS: Phân tử (màu xanh) được hấp phụ trên
các hạt nanô kim loại (màu cam), khi chiếu ánh sáng vào hệ này, cường độ tán xạ Raman của phân tử tăng lên nhiều lần . Phổ minh họa là phổ SERS của 10-9 mol/L
adenine hấp phụ trên các đám nanô Ag.
4.2.1. Các cơ chế tăng cường SERS
Các cơ chế gây ra SERS cho đến nay vẫn còn nhiều điểm chưa được làm rõ.
Fleischmann và các đồng nghiệp [112], những người đầu tiên quan sát được hiện
tượng này, ban đầu cho rằng sự tăng cường tín hiệu Raman mà họ đã quan sát được
là do sự tăng lên của diện tích bề mặt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các tín
hiệu Raman lại bị suy yếu đi khi độ gồ ghề của bề mặt tăng lên, do đó sự tăng lên
của diện tích bề mặt không thể là lời giải thích đầy đủ cho sự tăng cường tín hiệu
này [82]. Vào năm 1977, hai công trình nghiên cứu độc lập và được thực hiện đồng
thời bởi hai nhóm Jeanmaire và Van Duyne [30] và Albrecht và Creighton [113] đã
chỉ ra rằng cường độ tín hiệu mạnh quan sát được không thể chỉ đơn giản là do sự
gia tăng số tán xạ mà phải được gây ra bởi sự tăng cường trong hiệu suất tán xạ
Raman. Jeanmaire và Van Duyne đã đề xuất một cơ chế tăng cường điện từ trường
còn Albrecht và Creighton lại cho rằng sự cộng hưởng tán xạ Raman từ các trạng
117
thái điện tử phân tử được mở rộng bởi sự tương tác của chúng với bề mặt kim loại
có thể là nguồn gốc của sự tăng cường tín hiệu Raman quan sát thấy trong SERS.
Sau nhiều thập kỉ tranh cãi, đến nay các nghiên cứu đã cho thấy sự thống nhất rằng
có hai cơ chế chủ yếu góp phần vào sự tăng cường tín hiệu Raman trong hiệu ứng
SERS là cơ chế điện từ và cơ chế hóa học trong đó sự tăng cường điện từ đóng góp
chủ yếu vào cơ chế tăng cường SERS [82, 30, 120, 121, 140]. Cụ thể, trong một số trường hợp, sự tăng cường SERS có thể đạt đến 1014 [169] thì sự tăng cường điện từ sẽ đóng góp ít nhất 108 – 1010 [64, 140], trong khi sự tăng cường hóa học chỉ đóng góp cỡ 101 – 102 [72, 82, 140].
4.2.1.1. Cơ chế tăng cường điện từ
Cơ chế điện từ (EM) giải thích rằng việc tăng cường tín hiệu Raman trong
SERS chủ yếu là do cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (localized surface
plasmon resonances – LSPR). Trong các cấu trúc kim loại, các tính chất quang học
chủ yếu là do các điện tử dẫn của kim loại gây ra. Dưới sự kích thích của ánh sáng
tới, các điện tử tự do trên bề mặt kim loại bị kích thích và dao động tập thể đối với
các lõi ion kim loại. Tập hợp của các dao động tập thể này được gọi là plasmon bề
mặt. Các plasmon bề mặt này sẽ phát ra một trường lưỡng cực (và do đó được gọi là
các plasmon lưỡng cực). Thông thường, sự kích thích của ánh sáng cũng có thể gây
ra một loạt các kích thích khác trong các cấu trúc kim loại bao gồm cả các quá trình
chuyển đổi giữa các vùng. Đối với các cấu trúc kim loại có kích thước nhỏ hơn so
với bước sóng ánh sáng kích thích (chẳng hạn như các hạt nanô kim loại), ngoại trừ
các plasmon lưỡng cực, các quá trình khác có thể bỏ qua [120, 121]. Sự tương tác
chặt chẽ giữa điện trường tới với các trường lưỡng cực dẫn đến sự phân bố lại của
điện trường tại các khu vực xung quanh các cụm kim loại. Khi các plasmon lưỡng
cực cộng hưởng với tần số của ánh sáng tới, LSPR sẽ xảy ra [82, 176] (hình 4.6).
LSPR sẽ gây ra sự tăng cường trường EM cục bộ ở bề mặt của các hạt kim loại và
trường này phân tán nhanh chóng ra khỏi bề mặt kim loại. Đối với các phân tử phân
tích hấp phụ trên bề mặt của các bề mặt nanô kim loại hoặc nằm gần các bề mặt
này, trường tới sẽ được tăng cường do nó cộng hưởng với plasmon bề mặt. Tương
118
tự, trường tán xạ Raman cũng sẽ được tăng cường nếu nó cộng hưởng với plasmon
bề mặt của bề mặt kim loại và tín hiệu Raman của các phân tử chất phân tích sẽ
được tăng cường [121].
Hình 4.6. Sơ đồ minh họa cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR) với các
điện tử dẫn tự do trong các hạt nanô kim loại được định hướng theo dao động
do sự kết nối mạnh với ánh sáng tới.
Cơ chế EM có thể được giải thích một cách đơn giản theo sơ đồ được mô tả
bởi Kneipp và cộng sự [89] (hình 4.7). Trong sơ đồ này, đế SERS là một quả cầu
kim loại nhỏ với hằng số điện môi phức: ε(ν) = εr + εi, với ν là tần số và r, i tương
ứng là phần thực và phần ảo của hằng số điện môi của kim loại. Hằng số điện môi
của môi trường xung quanh là ε0. Đường kính của quả cầu 2r được giả định là nhỏ
hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng λ (giới hạn Rayleigh). Một phân tử được đặt ở
một khoảng cách d so với hạt nanô kim loại và được chiếu xạ bởi một điện trường
tới E0. Trường tới sẽ gây ra một moment lưỡng cực trong hạt nanô kim loại (trường
ESP). Khi đó, trường tại vị trí phân tử EM sẽ là chồng chập của trường tới và các
trường của lưỡng cực gây ra trong các hạt kim loại và được xác định bởi:
3
=
r
EM = E0 + ESP (4.4)
SPE
E 0
3
( r
1 + ) d
ε ε - 0 + ε ε 2 0
(4.5)
Sự tăng cường trường EM sẽ được biểu diễn bởi hệ số tăng cường trường
A(ν) được xác định bằng tỷ lệ của trường ở vị trí của phân tử và trường tới:
3
=
∼
A
ν ( )
119
3
r +
ν ( ) ν ( )
r (
d )
ME E 0
ε ε - 0 + ε ε 2 0
(4.6)
Phương trình (4.4) cho thấy rằng hệ số tăng cường A(ν) sẽ rất lớn khi phần
thực của hằng số điện môi, ε(ν) bằng -2ε0. Thêm vào đó, để có sự tăng cường điện
từ mạnh phần ảo của hằng số điện môi cũng cần phải nhỏ. Những điều kiện này mô
tả các kích thích cộng hưởng của plasmon bề mặt của quả cầu kim loại.
Hình 4.7. Sơ đồ giải thích cơ chế tăng cường EM trong SERS [82].
Tương tự như đối với trường laser tới, các trường tán xạ Stokes hoặc đối
Stokes cũng sẽ được tăng cường nếu chúng cộng hưởng với plasmon bề mặt của
quả cầu kim loại. Hệ số tăng cường SERS được định nghĩa là tỉ số của cường độ tán
xạ Raman trong trường hợp có các hạt kim loại và giá trị này ghi nhận được trong
trường hợp không có các hạt kim loại [82]. Nếu tính đến cả những hiệu ứng tăng
cường đối với trường laser và trường Stokes, hệ số tăng cường điện từ tổng cộng
2
2
2
2
=
∼
)
)
)
GEM (νS) có thể được viết dưới dạng như sau:
G
EM
ν ( S
ν A ( L
ν A ( S
r +
r
d
(
12
ε 0 ε 0
0
εν ) - ( L + εν ( 2 ) L
εν ε ) - ( 0 S + ε εν 2 ) S
(4.7)
với |A(νL)|2 và |A(νS)|2 tương ứng là các hệ số tăng cường của trường laser tới tại tần
số νL và trường tán xạ Raman tại tần số νS. Công thức này dựa trên một mô hình rất
đơn giản đã được sử dụng để mô tả các tính chất quan trọng và đặc thù của sự tăng
cường SERS điện từ. Nó cho thấy rằng mức độ tăng cường gần bằng lũy thừa bốn
của trường định xứ của cấu trúc nanô kim loại và nó sẽ trở nên rất mạnh khi sự kích
thích và các trường tán xạ cộng hưởng với plasmon bề mặt. Sự tăng cường điện từ
120
không yêu cầu tiếp xúc trực tiếp giữa các phân tử và kim loại, nhưng lại phụ thuộc
rất nhiều vào khoảng cách giữa chúng như được chỉ ra trong phương trình (4.7). Sự tăng cường sẽ giảm dần theo sự tăng khoảng cách theo hệ số (1/d)12.
Có thể dễ dàng thấy rằng sự tăng cường của trường EM trên bề mặt kim loại
được xác định bởi tần số của ánh sáng kích thích và độ nhám bề mặt của đế. Bằng
cách kiểm soát hình dạng, kích thước và khoảng cách giữa các hạt nanô, ta có thể có
được sự tăng cường tín hiệu SERS tối ưu từ các cấu trúc nanô kim loại tại một bước
sóng mong muốn [78]. Trong số những yếu tố này, hình thái bề mặt và khoảng cách
giữa các hạt là hai yếu tố đặc biệt quan trọng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khoảng
cách giữa các hạt nanô càng nhỏ (khoảng một vài nanô mét) có thể tăng cường rất
mạnh tín hiệu Raman của các phân tử chất phân tích hấp thụ trên các hạt nanô này
[82, 121]. Các tính toán lý thuyết cũng đã dự đoán rằng sự tăng cường của các
trường EM sẽ mạnh hơn đối với các điểm nhọn và khu vực có độ cong lớn trên các
cấu trúc nanô kim loại [193]. Vì vậy, trong thời gian gần đây đã có một sự thay đổi
mạnh trong việc chế tạo các đế SERS trong đó thay vì sử dụng các hạt nanô (với
hình dạng hình cầu hoặc gần hình cầu) thì các cấu trúc nanô trật tự với hình dạng
phức tạp, chẳng hạn như dạng nhánh cây, dạng hoa hoặc dạng lông nhím [160,
165], sẽ được ưu tiên chế tạo để có được sự tăng cường SERS mạnh hơn. Các khu
vực mà trường EM cục bộ được tăng cường mạnh được gọi là “điểm nóng” SERS,
nghĩa là vùng giữa các hạt nanô kim loại, các điểm nhọn, các vùng nhô ra của các
cấu trúc nanô, … là các “điểm nóng” chính. Mật độ của các “điểm nóng” càng
nhiều thì sự tăng cường tín hiệu SERS sẽ càng mạnh.
Cũng cần nhấn mạnh rằng kích thước của các cấu trúc nanô kim loại cũng
đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng cường SERS. Để cho sự tăng cường
SERS đạt được giá trị tối ưu thì kích thước của các cấu trúc nanô kim loại phải nhỏ
hơn so với bước sóng ánh sáng kích thích, nhưng cũng không được nhỏ hơn quãng
đường tự do trung bình điện tử (electronic mean free path) của các điện tử dẫn
[121]. Khi kích thước của các cấu trúc kim loại là lớn hơn so với bước sóng ánh
sáng kích thích, lúc này ánh sáng không chỉ kích thích các plasmon lưỡng cực mà
121
các dao động đa cực và các quá trình khác trong kim loại cũng sẽ được kích thích.
Khác với plasmon lưỡng cực, các dao động đa cực và các quá trình khác là các quá
trình không bức xạ. Vì vậy, sự tăng cường SERS do đó sẽ bị giảm dần đi. Tuy
nhiên, nếu kích thước của kim loại trở nên quá nhỏ, độ dẫn hiệu dụng của các hạt
nanô kim loại sẽ bị giảm đi do các quá trình tán xạ điện tử tại bề mặt của các hạt. Sự
tăng cường SERS vì vậy cũng bị giảm đi. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sẽ có
một vùng kích thước tối ưu của các cấu trúc kim loại đối với sự tăng cường SERS.
Đối với các kim loại quý như Ag, Au, Pt, …, vùng kích thước tối ưu này là từ 10
đến 100 nm [121].
4.2.1.2. Cơ chế tăng cường hóa học
Các kết quả thực nghiệm xác nhận sự hiện diện của cơ chế tăng cường EM
mạnh trong SERS, tuy nhiên lại có bằng chứng khác để kết luận rằng cơ chế EM
không phải là cơ chế duy nhất trong SERS. Thật vậy, nếu SERS chỉ đơn thuần là
một cơ chế tăng cường EM thì sự tăng cường Raman mạnh sẽ được quan sát thấy
đối với một phân tử bất kỳ nằm gần bề mặt nanô kim loại, nhưng điều này lại không
hoàn toàn đúng. Methanol không hiển thị bất kỳ một sự tăng cường SERS nào dù
nó có tín hiệu Raman mạnh [82]. CO và N2 là các phân tử hai nguyên tử có cùng số
điện tử với sự phân cực tương tự nhau và do đó theo cơ chế EM sẽ có sự tăng cường
SERS gần giống nhau cho cả hai. Tuy vậy, quan sát thực nghiệm về tán xạ Raman
từ các phân tử khí CO2 và N2 hấp thụ trên một bề mặt kim loại đặc biệt cho thấy sự
khác nhau 200 lần về cường độ SERS của chúng trong cùng các điều kiện thí
nghiệm như nhau [30]. Những phát hiện thực nghiệm này chỉ ra rằng có một sự phụ
thuộc của hiệu ứng SERS vào sự chọn lọc phân tử và tính chất hóa học của phân tử
phân tích và cho thấy có sự hiện diện của một cơ chế tăng cường ‘hóa học’ trong
SERS.
Trong tán xạ Raman thông thường, sự chuyển tiếp từ quỹ đạo phân tử bị
chiếm cao nhất (highest occupied molecular orbital – HOMO) tới quỹ đạo phân tử
trống thấp nhất (lowest unoccupied molecular orbital – LUMO) (đường (a) trong
hình 4.8) của nhiều phân tử đòi hỏi phải có năng lượng lớn hơn nhiều hơn so với
122
năng lượng của photon ánh sáng tới trong các thí nghiệm Raman – thường nằm
trong vùng hồng ngoại hoặc vùng nhìn thấy. Tuy nhiên, khi các phân tử hóa học
được hấp phụ lên trên bề mặt kim loại, mức Fermi của kim loại sẽ nằm giữa HOMO
và LUMO của các phân tử hấp thụ, do đó sự chuyển mức giữa HOMO và LUMO
của phân tử có thể thực hiện thông qua mức Fermi của kim loại mà chỉ cần ánh sáng
có năng lượng thấp hơn nhiều (đường (b) và (c) trong hình 4.8). Trong trường hợp
này, các kim loại sẽ đóng vai trò chuyển điện tích trung gian, vì vậy cơ chế tăng
cường hóa học cũng được gọi là cơ chế chuyển điện tích trong một số trường hợp.
Hình 4.8. Sơ đồ biểu diễn cơ chế chuyển điện tích trong SERS.
Trong khi sự tăng cường EM áp dụng cho tất cả các chất phân tích thì sự tăng
cường hóa học lại phụ thuộc vào chất phân tích và yêu cầu một số loại liên kết với
bề mặt kim loại. Từ các cơ chế tăng cường SERS có thể thấy rằng phổ SERS có thể
hiển thị một số sai lệch về cường độ tương đối so với phổ Raman thông thường của
cùng một phân tử. Do sự tương tác giữa phân tử và kim loại, các vạch Raman có thể
bị một chút thay đổi về tần số và thay đổi chiều rộng dải phổ so với một phân tử "tự
do". Các gradient trường mạnh có thể dẫn đến sự nới lỏng quy tắc chọn lọc và làm
xuất hiện các vạch Raman bị cấm thông thường [40, 73]. Bất chấp tất cả những thay
đổi nhỏ có thể xảy ra trong một phổ SERS so với một phổ Raman thông thường, nói
chung phổ SERS vẫn cung cấp một "dấu vết" rõ ràng của phân tử cần phân tích, đặc
biệt là các phân tử hữu cơ và y sinh.
4.2.2. Các loại đế SERS
123
Bề mặt kim loại hoặc hệ hạt nanô kim loại được dùng để khuếch đại tín hiệu
tán xạ Raman của các phân tử chất phân tích hấp thụ trên nó được gọi là đế SERS.
Kể từ khi phát hiện ra SERS, vấn đề quan trọng nhất đối với các nghiên cứu ứng
dụng của SERS là phải chế tạo được các đế SERS với khả năng tăng cường tín hiệu
Raman mạnh nhất và có độ ổn định, độ lặp lại tốt nhất. Các đế SERS với hình thái
học thích hợp sẽ giúp cho cường độ tín hiệu Raman của phân tử cần phân tích được tăng lên đến 1014 lần. Do đó việc lựa chọn loại đế SERS cũng như các phương pháp
chế tạo đế SERS trở thành một vấn đề trọng tâm của các nghiên cứu về SERS trong
thời gian gần đây.
Có thể phác thảo một đế SERS lý tưởng như sau [111, 114]:
(1) Phải có khả năng tăng cường tín hiệu SERS tốt và có độ nhạy SERS cao.
(2) Phải đồng nhất.
(3) Có độ ổn định và khả năng lặp lại tốt.
(4) Các đế phải sạch để có thể áp dụng được cho nghiên cứu không chỉ các
chất hút bám mạnh mà còn áp dụng cho các chất hút bám yếu hoặc thậm
chí cho cả những mẫu chưa biết rõ về độ thấm hút.
Thật không may, hiện nay rất khó để có được các đế SERS có thể cùng một
lúc đáp ứng tất cả các yêu cầu trên. Do đó, tùy theo từng mục đích ứng dụng cụ thể,
người ta phải thực hiện một số thỏa hiệp. Ví dụ, trong phân tích định lượng, một đế
SERS đồng nhất và tái sản xuất được là vô cùng quan trọng; tuy nhiên, trong phân
tích dấu vết, việc tăng cường tối đa là điều kiện tiên quyết. Trong việc phát hiện liên
quan đến sinh học, một đế SERS sạch và cho hiệu suất tăng cường cao thường được
sử dụng do sự phức tạp trong nghiên cứu các hệ sinh học [111, 114].
Cho đến nay các đế SERS có thể được phân ra chủ yếu các loại như sau:
(1) Các bề mặt kim loại gồ ghề;
(2) Huyền phù hạt kim loại nanô;
(3) Hệ các hạt kim loại nanô nằm cố định trên bề mặt phẳng;
(4) Hệ các hạt kim loại nanô nằm cố định trên bề mặt của một hệ dây nanô
trật tự; và
124
(5) Hệ các hạt kim loại có hình dạng biến đổi (dạng lá, hoa, nhím, sao, …)
Ag và Au là những kim loại được sử dụng để chế tạo các đế SERS rộng rãi
nhất. Các kim loại này có thể hỗ trợ cộng hưởng plasmon tốt trong các bước sóng
kích thích trong vùng nhìn thấy và hồng ngoại gần – những vùng quan trọng đối với
SERS [36, 150]. Ag là vật liệu hứa hẹn nhất cho SERS vì nó cung cấp sự tăng
cường tín hiệu trong SERS tốt nhất. Au có lợi thế là tính ổn định hóa học cao hơn
và khả năng tương thích sinh học với nhiều phân tử quan trọng tốt hơn so với Ag.
Các kim loại khác như đồng (Cu) và bạch kim (Pt) cũng đã được sử dụng để chế tạo
đế SERS nhưng các kim loại này cho hiệu quả tăng cường SERS thấp hơn so với
Ag và Au.
Trong số các loại đế SERS, các hạt kim loại nanô trong dung dịch huyền phù
là đế SERS được sử dụng nhiều nhất [42, 67, 131, 142]. Các điểm thu hút chính của
các hạt nanô huyền phù là chế tạo chúng dễ dàng với chi phí thấp. Các đế huyền
phù được báo cáo là có khả năng cung cấp sự tăng cường SERS lớn.Tuy vậy, các đế
thuộc loại này có một nhược điểm lớn là có độ ổn định và độ lặp lại không cao, do
các hạt kim loại nanô trong huyền phù liên tục chuyển động khiến cho khoảng cách
giữa chúng cũng liên tục thay đổi. Sự tụ hợp của các hạt nanô trong dung dịch
huyền phù cũng là một nguyên nhân làm cho khả năng tái sản xuất của đế loại này
khó khăn hơn. Một cách tiếp cận để khắc phục được hạn chế về độ ổn định và sự lặp
lại của các đế hạt nanô kim loại huyền phù là gắn cố định các hạt nanô kim loại trên
một đế phẳng. Loại đế này cũng cho thấy hiệu quả tăng cường tín hiệu Raman khá
tốt với độ ổn định tốt hơn so với các đế SERS huyền phù nanô kim loại [59].
Vì sự tăng cường SERS phụ thuộc rất mạnh vào các “điểm nóng”, mật độ
“điểm nóng” càng nhiều thì sự tăng cường SERS sẽ càng mạnh. Dựa vào điểm này,
một số các công trình nghiên cứu đã được triển khai với mục đích tăng cường mật
độ “điểm nóng” bằng cách sử dụng các đế có diện tích bề mặt lớn như các đế nanô
xốp [110] hay SiNW [17, 160, 164] thay cho các đế phẳng. Với việc sử dụng các hệ
SiNW, diện tích bề mặt hiệu dụng của Si được tăng lên nhiều, nhờ đó số lượng các
hạt nanô kim loại lắng đọng trên bề mặt đế Si cũng được tăng lên rất nhiều. Hơn
125
nữa, khi các phân tử của chất phân tích được lắng đọng lên trên đế SERS là các hạt
nanô kim loại bao phủ trên các hệ SiNW, chúng sẽ được bao quanh bởi các hạt nanô
kim loại theo nhiều hướng giống như trong một huyền phù kim loại. Vì vậy chúng
ta có thể mong đợi rằng sự tăng cường SERS sẽ tăng lên đáng kể so với trường hợp
của đế SERS là các hạt nanô kim loại trên đế phẳng. Hơn nữa sự chế tạo các hệ
SiNW có trật tự đồng nhất đã trở nên khá dễ tiếp cận và kiểm soát tốt. Do đó, hiệu
suất SERS có thể được cải thiện hơn nữa bằng cách thay đổi hình thái cấu trúc của
các SiNW một cách thích hợp đồng thời vẫn có thể đảm bảo độ lặp lại của đế SERS.
Với việc chế tạo được các hệ SiNW trên đế Si với cấu trúc và mật độ có thể kiểm
soát được, chúng tôi hi vọng rằng có thể sử dụng các mẫu mà chúng tôi chế tạo
được để làm các đế SERS với khả năng tăng cường tín hiệu SERS tốt. Các kết quả
đạt được sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.
Thời gian gần đây, một số báo cáo cũng đã trình bày về việc chế tạo các hạt
kim loại với các hình dạng biến đổi phức tạp có nhiều góc cạnh và những điểm
nhọn như dạng nhánh cây (dendrite-like), dạng hoa (flower-like), … để làm các đế
SERS với hệ số tăng cường Raman rất lớn mở ra một bước tiến mới trong công
nghệ chế tạo các đế SERS [160, 165].
4.2.3. Hệ số tăng cường SERS
Hệ số tăng cường SERS (SERS enhancement factor - SERS EF) của một
phân tử phân tích có thể được định nghĩa là sự so sánh giữa các cường độ của các
đỉnh Raman thu được khi có và không sử dụng các đế SERS trong điều kiện thử
nghiệm tương tự nhau [37]. Đây là một trong những thông số quan trọng nhất để
đặc trưng cho hiệu ứng SERS. Có những định nghĩa khác nhau về hệ số tăng cường
SERS dựa trên sự phụ thuộc của SERS vào các thông số khác nhau như đặc điểm
của ánh sáng tới, tính toán số lượng các phân tử đóng góp trong vào quá trình, định
hướng của chất phân tích trên đế, loại đế (chất lỏng hay đế rắn) và thiết lập của hệ
quang phổ. Có bốn phương pháp để tính SERS EF bao gồm [36, 37] a) Hệ số tăng
cường đơn phân tử, b) Hệ số tăng cường đế SERS và c) Hệ số tăng cường phân tích
và d) Hệ số tăng cường được ước tính dựa trên phép đo mặt cắt ngang. Cụ thể là:
126
4.2.3.1. Hệ số tăng cường đơn phân tử (SMEF)[36, 37]
Đây là sự tăng cường SERS được xác định cho một phân tử tại một điểm cụ
thể. Nói chung, hệ số tăng cường này phụ thuộc vào sự định xứ của phân tử cần
phân tích, định hướng của nó trên bề mặt SERS và sự định hướng của đế SERS đối
với sự phân cực và hướng của laser tới. Do đó, nó đòi hỏi phải xác định chính xác
của hình thái học đế SERS và vị trí chính xác và định hướng của phân tử phân tích
đối với nó. Vì những khó khăn này nên định nghĩa này phù hợp với ước tính lý
thuyết về EF hơn so với phép đo thực nghiệm.
=
SMEF
Hệ số tăng cường SERS đơn phân tử được xác định bởi phương trình:
SM I SERS SM I RS
I
(4.8)
SM SERS
SM RSI
là cường độ SERS của đơn phân tử đang được xem xét còn là cường với
độ Raman trung bình cho mỗi phân tử của chất phân tích tương tự.
4.2.3.2. Hệ số tăng cường đế SERS (SSEF)[36, 37]
Định nghĩa này cung cấp một sự so sánh giữa các hệ số tăng cường của các
SERS
=
SSEF
đế khác nhau và được trình bày về mặt toán học như sau:
I I
N Normal N
SERS
Normal
(4.9)
với INomarl và ISERS tương ứng là cường độ của phổ Raman của chất hữu cơ hấp được
phụ trên đế SERS và đế không SERS. NNormal = CNormalV là số phân tử trung bình
trong thể tích tán xạ (V) của phép đo Raman thông thường (không SERS), và NSERS
là số phân tử trung bình hấp thụ trong thể tích tán xạ của các thí nghiệm SERS.
Định nghĩa EF này thường xuyên được sử dụng bởi nhiều tác giả trong các công
trình khác nhau và được coi là đại diện cho sự tăng cường của đế SERS. Để xác
định số lượng của các phân tử góp phần vào việc tạo ra một phổ SERS không phải
là một việc dễ dàng do đó thông thường người ta sẽ sử dụng một phép ước tính đối
với số lượng phân tử trong SERS.
127
4.2.3.3. Hệ số tăng cường phân tích (AEF) [36, 37]
Đối với một số ứng dụng quan tâm đến sự tăng cường SERS có thể dự đoán
được là mạnh hơn bao nhiêu khi so sánh với tín hiệu từ điều kiện không SERS.
Trong trường hợp này căn cứ vào nồng độ của chất phân tích, hệ số tăng cường
=
AEF
phân tích (AEF) được sử dụng và được xác định bằng toán học như sau:
I I
C SERS Normal C
Normal
SERS
(4.10)
với CSERS là nồng độ của phân tử phân tích trong phép đo SERS và CNormal là nồng
độ của phân tử phân tích này trong cùng một điều kiện thí nghiệm trong trường hợp
phép đo không SERS. Định nghĩa này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính hấp
phụ và phạm vi bao phủ của đế cũng như số phân tử hấp thụ. Vì vậy, quá trình
chuẩn bị mẫu có vai trò quan trọng trong định nghĩa này của EF.
4.2.3.4. Hệ số tăng cường được ước tính dựa trên phép đo mặt cắt ngang [36, 37]
Việc thực hiện đo đạc trực tiếp mặt cắt ngang Raman là rất tốn thời gian và
đòi hỏi việc sử dụng các dụng cụ đặc biệt. Phương pháp thay thế là xác định mặt cắt
ngang tương ứng với mặt cắt ngang đã được báo cáo của tài liệu tham khảo tiêu
I
Ref
=
Sample
Ref
chuẩn. Trong trường hợp này mặt cắt ngang có thể được tính toán bởi công thức:
δ d RS Ω d
δ d RS Ω d
Sample I
C C
Ref
Sample
(4.11)
với CSample và CRef tương ứng là nồng độ phân tử phân tích trong phép đo SERS và
trong trường hợp không SERS. ISample và IRef tương ứng là cường độ của đỉnh Raman
đo được trong phép đo SERS và không SERS. Phương pháp này được sử dụng cho
trường hợp đế SERS là các hạt nanô kim loại trong các dung dịch.
4.2.4. Các ứng dụng của SERS
SERS khắc phục những vấn đề về độ nhạy và tăng giới hạn phát hiện của kỹ
thuật tán xạ Raman. Những lợi thế phân tích chính của SERS là độ nhạy, đặc trưng
bề mặt và dập tắt huỳnh quang được tăng cường bởi các hạt nanô kim loại. Vì các
tín hiệu SERS là hẹp hơn nhiều so với các dải phổ huỳnh quang nên có thể phát
128
hiện đồng thời nhiều chất phân tích. SERS có tiềm năng ứng dụng trong phân tích
hóa học, hóa sinh, khoa học pháp y, môi trường,…, những lĩnh vực mà việc xác
định và mô tả đặc điểm cấu trúc của các phân tử đóng vai trò trung tâm. Một số ứng
dụng nổi bật của SERS bao gồm:
4.2.4.1. Ứng dụng trong các cảm biến sinh học
SERS từ lâu đã được sử dụng rất rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến
sinh học [19, 21, 80, 81, 111]. Giống như các công cụ phân tích khác, ứng dụng của
SERS trong lĩnh vực sinh học bao gồm hai hướng chính: nghiên cứu cơ bản, trong
đó tập trung vào việc sử dụng SERS để kiểm tra cấu trúc, cấu tạo, truyền điện tích
của các phân tử sinh học [27, 84, 98, 141]; và nghiên cứu ứng dụng [19, 21, 80,
167, 168]. Hướng thứ hai có thể được chia thành các ứng dụng như trực tiếp chẩn
đoán y sinh (ví dụ như chẩn đoán ung thư [167, 179], theo dõi glucose [80]) và phát
hiện mục tiêu (ví dụ như đối với DNA [168, 186, 200], protein [201], và thậm chí
cả virút và vi khuẩn [44, 154]).
4.2.4.2. Ứng dụng trong các phân tích môi trường
Trong suốt thời gian kể từ khi được phát hiện cho đến nay, SERS đã được sử
dụng như một công cụ vô cùng hữu ích đối với các phân tích một trường. Đã có
nhiều báo cáo tổng quan về việc sử dụng kỹ thuật SERS trong phân tích môi trường
[68, 111, 137, 138, 168]. Các phân tử mục tiêu được phân tích bởi SERS cũng rất
phong phú bao gồm thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các hóa chất dược phẩm trong
nước và trong nước bọt, các loại thuốc nhuộm thực phẩm bị cấm, các hóa chất gốc
thơm trong dung dịch nước thường và trong nước biển, các dẫn xuất chlorophenol
và axít amin, các thành phần hóa học dùng trong chiến tranh, chất nổ, nicotine, các
chất ô nhiễm hữu cơ có trong các phần mùn của đất, Technetium-99, các hóa chất
gây ảnh hưởng đến nội tiết và methane hòa tan, …[68, 111, 168, 182]. SERS có thể
được sử dụng để phát hiện các chất gây ô nhiễm ở nồng độ femtomol và có khả
năng phát hiện đồng thời nhiều chất gây ô nhiễm với tính phân cực và trọng lượng
phân tử khác nhau, một công việc mà hầu hết các chiến lược phát hiện hiện tại khó
129
có thể đạt được [137, 138]. Bên canh đó, SERS rất nhạy với sự khác biệt nhỏ trong
cấu trúc vật liệu, do đó nó cho phép phân biệt các phân tử hữu cơ và các chủng vi
khuẩn có cấu trúc tương tự nhau.
4.2.5. Ưu điểm và nhược điểm của SERS
Kỹ thuật SERS có rất nhiều lợi thế. Là một kỹ thuật phổ dao động, một phổ
SERS cung cấp nhiều thông tin về cấu trúc phân tử và môi trường định xứ hơn so
với quang phổ huỳnh quang. Các quy tắc lựa chọn Raman bổ sung cho các quy tắc
lựa chọn hấp thụ hồng ngoại do đó các thông tin thu được từ phổ Raman là duy nhất
và đặc trưng cho từng phân tử cần phân tích. Ngoài ra, những thay đổi nhỏ trong
định hướng của một chất phân tích trên bề mặt cũng có thể được nhận biết bởi
SERS do các dao động nhẹ tạo ra các thay đổi có thể đo được tại các vị trí của các
đỉnh phổ Raman. Với các thiết bị thích hợp, các mode dao động tần số thấp vượt ra
ngoài phạm vi của quang phổ hấp thụ IR cũng có thể được quan sát bằng SERS.
Hơn nữa, sự phân rã đột ngột của các trường điện từ đảm bảo rằng chỉ có các phân
tử bám dính trên hoặc gần bề mặt kim loại (trong vòng 4 nm) mới được phân tích.
Điều này giúp cho SERS trở thành một công cụ lý tưởng cho các nghiên cứu bề
mặt, phân tích dấu vết, hoặc các tương tác phân tử sinh học. Trong thực tế, các thí
nghiệm SERS được thường được sử dụng để phân tích một đơn lớp nhỏ của các
phân tử liên kết với bề mặt kim loại, sự phát hiện các chất phân tích với nồng độ từ
pico tới zeptomol cũng có thể đạt được với SERS. Một lợi thế khác, đặc biệt là bởi
vì các nghiên cứu sinh học đang trở nên ngày càng quan trọng, đó là kỹ thuật này
rất thích hợp cho các phân tích được thực hiện trên các phân tử trong môi trường
nước.
Những hạn chế của kỹ thuật này cũng cần phải được xem xét. Hạn chế rõ
ràng nhất nằm ở việc lựa chọn bề mặt có cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ. Các
đế SERS thông dụng nhất được làm bằng Au, Ag, và Cu. Các công trình nghiên cứu
thực nghiệm và lý thuyết cũng đã chứng minh hiệu ứng SERS trên các đế nhôm,
cesium, gali, indi, lithium, bạch kim, kali,…, tuy nhiên, các vật liệu này thường
không sử dụng được trừ khi chúng được dùng như một lớp phủ mỏng trên các đế
130
SERS. Bên cạnh đó, sự ổn định và khả năng lặp lại của đế SERS vẫn đang là một
thách thức lớn đối với các nghiên cứu về công nghệ chế tạo đế SERS. Sự thay đổi
(dù rất nhỏ) trong quy trình chế tạo các đế SERS có thể sẽ dẫn đến sự tạo thành các
tính chất quang học tương phản nhau và theo đó, các hệ số tăng cường SERS trên
các đế sẽ khác nhau. Bởi vì hầu hết các kỹ thuật vi chế tạo hiện nay được thực hiện
để tạo ra các đế SERS cho thấy có sự không lặp lại dẫn đến các hệ số tăng cường có
thể dao động lên đến một bậc đối với các đế được chế tạo bởi các phương pháp gần
giống như nhau.
Mặc dù SERS có hiệu quả với vai trò là một kỹ thuật khoa học bề mặt, nó lại
bị hạn chế khi ứng dụng đối với các phân tử không hấp thụ trực tiếp lên bề mặt. Các
phương án khắc phục, chẳng hạn như sử dụng một lớp phân vùng để tập trung các
phân tử quan tâm trong khu vực tăng cường điện từ, phải được thực hiện để nghiên
cứu các phân tử không hấp thụ trực tiếp lên bề mặt kim loại. Cuối cùng, một phổ
nền liên tục khá cao thường hiển thị rõ trong phổ SERS. Mặc dù nguồn gốc của phổ
nền cao này đang được tranh luận, nhưng điều quan trọng nhất là phổ nền cao có thể
che khuất tín hiệu SERS cường độ thấp và hạn chế phạm vi hoạt động đo lường.
4.3. Ứng dụng các hệ ASiNW trong SERS
4.3.1. Quy trình chế tạo đế SERS từ hệ ASiNW trên đế Si
Đầu tiên, chúng tôi đã tiến hành chế tạo các hệ ASiNW bằng phương pháp
MACE. Các hệ ASiNW này sau đó sẽ được lắng đọng các hạt nanô Ag (AgNP) lên
trên bề mặt. Bước lắng đọng AgNP được thực hiện bằng cách nhúng mẫu ASiNW
vào dung dịch HF/AgNO3 ở nhiệt độ phòng. Sau khi thực hiện bước lắng đọng
AgNP, chúng tôi thu được các hệ ASiNW được bao phủ bởi các AgNP
(AgNPs/ASiNW). Các mẫu này sau đó được rửa bằng nước khử ion và để khô trong
không khí.
Các chất hữu cơ được sử dụng để kiểm tra hiệu ứng SERS trên các đế
AgNPs/ASiNW là malachite green (MG) và thuốc diệt cỏ paraquat (PQ). Các phép
đo SERS được thực hiện bằng cách nhỏ 50μl dung dịch của phân tử cần phân tích
131
trong nước với nồng độ khác nhau lên bề mặt của đế SERS có diện tích là khoảng 1 × 1 cm2. Sau đó mẫu được để khô tự nhiên trong không khí ở nhiệt độ phòng. Phổ
tán xạ Raman của các mẫu được ghi lại bằng cách sử dụng hệ đo Jobin-Yvon
LabRam với bước sóng kích thích là 632,8 nm từ laser He-Ne.
Malachite green (MG) là một hóa chất hữu cơ có công thức hóa học là
C23H25ClN2, có dạng bột mịn màu xanh lá cây, hay dùng để nhuộm các nguyên vật
liệu như da, sợi và giấy trong ngành công nghiệp nhuộm. Trong lĩnh vực thủy sản,
trước đây MG được sử dụng để xử lý nước, phòng trị các bệnh nấm trong các mô
hình nuôi trồng thủy sản. Vì là một hóa chất có hiệu quả trong việc điều trị bệnh đối
với thủy sản và lại rẻ tiền nên MG được các hộ nuôi thủy sản sử dụng rất nhiều dẫn
đến việc hóa chất này đã bị phát hiện còn tồn lưu bên trong cơ thể của một số loài
thủy sản. Theo các chuyên gia về y học thì MG là một hóa chất có thể gây bệnh ung
thư, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người nên đã bị cấm sử dụng trong thực phẩm ở
nhiều nước trên thế giới. Trước những tác hại có thể gây ra đối với sức khỏe con
người và nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Nông nghiệp & PTNT đã có thông
báo về việc cấm sử dụng MG trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, trong thời gian
gần đây MG đã được sử dụng bất hợp pháp để làm cho thực phẩm trở thành màu
xanh (điển hình là cốm và bánh cốm). Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe của những người sử dụng.
Thuốc diệt cỏ PQ là tên thương mại của hợp chất hữu cơ methyl viologen
dichloride hydrate với công thức C12H14Cl2N2. PQ là hoạt chất trừ cỏ cháy nhanh,
cực độc, tác động luôn lên bề mặt cỏ làm cỏ cháy khô và hiện đang được sử dụng
rộng rãi tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác để kiểm soát cỏ dại [139]. PQ được
cảnh báo là rất độc hại đối với con người, đặc biệt là nó có tác động độc hại đến
tim, gan, phổi và mô não. Người bị nhiễm độc PQ có tỷ lệ tử vong cao do thiếu
phương pháp điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, thời gian gần đây ở nước ta đang xảy ra
tình trạng báo động về tình trạng tự tử bằng PQ, bên cạnh đó số các vụ tai nạn
nhiễm độc PQ trong quá trình sử dụng cũng tăng cao khiến cho việc sử dụng loại
thuốc này trở thành một vấn đề đáng lo ngại. Thêm nữa, việc PQ có thể dễ dàng hòa
132
tan hoàn toàn trong nước (trong khi phần lớn các loại thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ
khác chỉ có thể hòa tan trong dung môi hữu cơ như methanol, acetone…) làm cho
mức độ nghiêm trọng của ngộ độc PQ trở nên cao hơn [139].
Với những ảnh hưởng tiêu cực trên, việc phát hiện dư lượng MG và PQ là
một điều rất cần thiết, cần được quan tâm nghiên cứu và phát triển. Chính vì vậy,
chúng tôi đã chọn MG và PQ là các đối tượng cần phát hiện và sử dụng các
AgNPs/SiNWs để phát hiện chất hữu cơ này dựa trên hiệu ứng SERS.
4.3.2. Sử dụng các hệ ASiNW thẳng đứng có phủ các AgNP (AgNPs/VASiNW)
để phát hiện các phân tử MG nồng độ thấp thông qua hiệu ứng SERS
Hình 4.9. Ảnh TEM của VASiNW trước (a) và sau khi lắng đọng các AgNP (b).
Ảnh TEM của một vài SiNW của hệ ASiNW thẳng đứng (VASiNW) được
chế tạo trên đế Si bằng phương pháp MACE trước và sau khi lắng đọng AgNP
trong dung dịch 0,1 M HF và 0,1 mM AgNO3 trong 10 phút được trình bày tương
ứng trong các hình 4.9(a) và (b). Từ các ảnh này có thế thấy rõ rằng sau bước lắng
đọng AgNP, các SiNW sẽ được bao phủ bởi các AgNP (các chấm đen nhỏ trên hình
4.19) với đường kính của các AgNP thay đổi trong khoảng 10 – 30 nm.
Sau khi tiến hành bao phủ các AgNP lên trên các hệ VASiNW, chúng tôi sử
dụng mẫu này để làm các đế để phát hiện các phân tử MG trong nước thông qua
hiệu ứng SERS. Đường cong (a) trong hình 4.10 cho thấy phổ Raman của 50μl dung dịch MG nồng độ 10-5 M trong nước trên 1 cm2 đế SERS do chúng tôi chế tạo.
Trước tiên, so sánh với phổ Raman chuẩn của MG [8 ], có thể thấy rằng tất cả các
đỉnh được phân tách rõ ràng và có cường độ mạnh trên hình 4.10 chính là các đỉnh Raman đặc trưng của phân tử MG. Cụ thể là, tín hiệu quan sát tại 914 cm-1 được
133
cho là do các dao động vòng khung xuyên tâm; các tín hiệu tại 1171 và 1294 cm- 1 đến từ dao động uốn trong mặt phẳng C-H của chất thơm; tín hiệu tại 1366 cm- 1 được đóng góp từ sự kéo căng N-C; tín hiệu tại 1394 cm -1 đến từ dịch chuyển phẳng C-C và C-H (của chất thơm) và các tín hiệu ở 1617 cm-1 được quy cho N-C
(liên kết φ) và sự kéo căng C-C [8].
Hình 4.10. Phổ Raman của dung dịch MG nồng độ 10-5M được nhỏ lên trên
các loại đế khác nhau: (a) AgNPs/VASiNW; (b) AgNPs/PSi; (c) AgNPs/Si và
(d) VASiNW không lắng đọng AgNP.
Để khẳng định vai trò quan trọng của các AgNP trong sự tăng cường tín hiệu
Raman trong hiệu ứng SERS, chúng tôi đã tiến hành nhỏ dung dịch có chứa các
phân tử MG lên trên đế VASiNW không được lắng đọng AgNP và sau đó thực hiện
các phép đo Raman. Kết quả Raman thu được (đường cong (d) của hình 4.10) cho
thấy rằng nếu không có các AgNP, hiệu ứng SERS sẽ không xảy ra (ta không thu
được phổ Raman của các phân tử MG). Kết quả này một lần nữa khẳng định vai trò
quyết định của các hạt nanô kim loại trong việc tăng cường tín hiệu Raman trong
hiệu ứng SERS.
Tiếp theo, để so sánh tín hiệu SERS thu được của đế AgNPs/VASiNW so
với tín hiệu SERS thu được của một số loại đế khác, các phép đo Raman cũng đã
134
được thực hiện đối với các đế Si xốp và đế Si phẳng có bao phủ các AgNP (tương
ứng là AgNPs/PSi và AgNPs/Si) được nhỏ dung dịch có chứa các phân tử MG có cùng nồng độ 10-5 M lên trên bề mặt. Các kết quả thu được cũng được chỉ ra trong
hình 4.10 (đường cong (b) và (c)). Ở đây, chúng ta có thể thấy rằng tín hiệu SERS
của MG trên đế AgNPs/VASiNW mạnh hơn nhiều so với những tín hiệu thu được
của MG trên các đế AgNPs/PSi (đường cong (b)) và đế AgNPs/Si (đường cong (c)).
Kết quả trên có thể được giải thích như sau: Do các đế SiNW có diện tích bề
mặt hiệu dụng lớn hơn so với đế Si xốp (PSi) và đế Si phẳng cho nên nếu tính trên
một đơn vị diện tích bề mặt, mật độ các AgNP trên đế VASiNW sẽ nhiều hơn hẳn
so với mật độ các AgNP trên hai đế còn lại. Như đã trình bày trước đó, mật độ của
các AgNP (hay mật độ các “điểm nóng”) sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến khả năng tăng
cường tín hiệu SERS của đế. Do đó, khả năng tăng tăng cường SERS của đế
AgNPs/VASiNW sẽ mạnh hơn nhiều so với hai loại đế kia nhờ có mật độ “điểm
nóng” nhiều hơn. Ngoài ra, chúng tôi còn quan sát thấy rằng các AgNP bám chặt
vào các SiNW và không bị rơi ra ngay cả khi SiNW bị rung siêu âm. Nhờ vào đó,
các đế AgNPs/ASiNW thường khá bền theo thời gian.
Hình 4.11. Phổ Raman của dung dịch có chứa MG với nồng độ khác nhau: (a) 10-5, (b) 10-6, và (c) 10-7 M được nhỏ lên trên các đế AgNPs/VASiNW giống hệt nhau.
135
Kết quả tiếp theo mà chúng tôi quan sát được là cường độ của đỉnh Raman
giảm khi giảm nồng độ MG trong các dung dịch nhỏ lên bề mặt đế SERS giảm đi.
Kết quả này được minh họa bằng hình 4.11, trong đó các đường cong (a), (b) và (c) tương ứng là phổ Raman của các dung dịch chứa 10-5, 10-6 và 10-7 M MG trong
nước. Từ hình vẽ này có thể thấy rằng khi nồng độ MG trong dung dịch giảm,
cường độ các đỉnh Raman sẽ giảm đi nhưng sự phân tách của các đỉnh phổ vẫn khá
rõ ràng.
Hình 4.12. Ảnh TEM của các VASiNW sau khi được lắng đọng AgNP trong
dung dịch HF/AgNO3 với nồng độ AgNO3 khác nhau: 0,1 mM (a), 0,3 mM (b)
và 0,4 mM (c), các điều kiện khác như nhau.
Như đã đề cập đến trước đó, kích thước và mật độ của các AgNP trên các
SiNW đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả tăng cường SERS của đế. Vì vậy,
với mục đích tăng giới hạn phát hiện của đế AgNPs/VASiNW, chúng tôi đã tiến
hành thay đổi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng AgNP sau đó khảo sát cấu
trúc và mật độ của các AgNP trên các VASiNW cũng như sự thay đổi về khả năng
tăng cường SERS của đế theo sự thay đổi trên. Các kết quả TEM của VASiNW sau
khi được lắng đọng AgNP trong các dung dịch lắng đọng có nồng độ AgNO3 khác
nhau (hình 4.12) cho thấy sự thay đổi nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng
làm cho đường kính của các AgNP trên các VASiNW thay đổi. Cụ thể là khi tăng
136
nồng độ AgNO3 trong dung dịch lắng đọng từ 0,1 mM lên 0,3 mM thì kích thước
của các AgNP sẽ tăng lên (đạt khoảng 50 – 70 nm). Tuy nhiên, nếu nồng độ AgNO3
trong dung dịch lắng đọng tăng lên 0,4 mM thì các AgNP tụ thành các đám Ag với
kích thước khá lớn (cỡ 100 – 120 nm) và rơi ra khỏi SiNW.
Hình 4.13. Phổ Raman của dung dịch 10-7 M MG trong nước được nhỏ lên trên
các đế VASiNW được lắng đọng AgNP trong các dung dịch có nồng độ AgNO3
khác nhau: (a) 0,1 mM, (b) 0,3 mM, và (c) 0,4 mM.
Để khảo sát ảnh hưởng của nồng độ của AgNO3 trong dung dịch lắng đọng
lên khả năng tăng cường tín hiệu SERS, chúng tôi đã nhỏ MG lên trên các đế
VASiNW được lắng đọng AgNP trong các dung dịch có nồng độ AgNO3 khác nhau
và thực hiện phép đo Raman. Các kết quả nhận được (hình 4.13) cho thấy có một
nồng độ AgNO3 tối ưu đối với sự lắng đọng các AgNP lên trên hệ VASiNW (0,3
mM trong trường hợp của chúng tôi) mà ở đó đế SERS – AgNPs/VASiNW sẽ cho
khả năng tăng cường tín hiệu SERS đối với các phân tử MG tốt nhất.
Tiếp theo, chúng tôi tiến hành thay đổi thời gian lắng đọng các AgNP và
quan sát thấy rằng khi tăng thời gian lắng đọng AgNP từ 10 phút lên 15 phút, mật
độ của các AgNP trên các SiNW tăng lên khá dày. Tuy vậy, nếu tiếp tục tăng thời
gian lắng đọng lên cao hơn thì sẽ lại xuất hiện sự tạo đám của các AgNP và các đám
137
này bị rơi ra khỏi các NW do kích thước quá lớn. Các kết quả này được chỉ ra trên
hình 4.14.
Hình 4.14. Ảnh TEM của các VASiNW sau khi được lắng đọng AgNP trong dung dịch 0,1 M HF và 0,3 mM AgNO3 trong 10 phút (a), 15 phút (b) và 17 phút (c), các điều kiện khác như nhau.
Hình 4.15. Phổ Raman của dung dịch 10-8 M MG trong nước được nhỏ lên
trên các đế VASiNW được lắng đọng AgNP trong dung dịch 0,1 M HF và 0,3
mM AgNO3 trong 10 phút (a), 15 phút (b).
138
Các kết quả Raman của MG nồng độ 10-9 M trong nước được nhỏ lên trên
các đế VASiNW được lắng đọng AgNP với thời gian ăn mòn khác nhau (hình 4.15)
cho thấy, có sự tăng cường về cường độ đỉnh phổ Raman của MG khi thời gian lắng
đọng tăng từ 10 phút lên 15 phút (mật độ của các AgNP tăng lên). Kết quả này là
hoàn toàn dễ hiểu vì khi mật độ của các AgNP tăng lên, số ‘điểm nóng’ sẽ tăng lên,
hơn nữa khoảng cách giữa các AgNP lân cận cũng trở nên nhỏ hơn sẽ làm cho sự
tăng cường trường EM cục bộ tăng lên và kết quả là tín hiệu Raman của MG trên đế
SERS cũng sẽ được tăng cường lên đáng kể.
Với mục đích khảo sát giới hạn phát hiện đối với MG của đế SERS, chúng
tôi giảm nồng độ MG trong dung dịch xuống thấp hơn nữa. Kết quả thu được cho thấy với nồng độ MG trong dung dịch giảm đến khoảng 10-13 M, chúng tôi vẫn thu
được tín hiệu Raman của chất này trên các đế SERS mà chúng tôi chế tạo. Kết quả
này được chỉ ra trong hình 4.16 (đường cong (a)). Nhìn vào hình vẽ này ta thấy, khi nồng độ giảm xuống 10-13 M, cường độ tín hiệu Raman của MG thu được là khá
yếu, một số đỉnh Raman đã bị mất hoặc bị chồng chập vào nhau. Tuy vậy có thể
thấy rằng một vài đỉnh chính đặc trưng cho MG vẫn được phân tách rõ ràng. Do đó
vẫn có thể sử dụng phổ Raman này để làm dữ liệu phát hiện MG. Khi chúng tôi tiếp tục giảm nồng độ MG trong dung dịch xuống đến 10-14 M thì các đỉnh phổ Raman
đặc trưng của MG gần như biến mất. Như vậy, giới hạn phát hiện đối với các phân tử MG của đế AgNPs/VASiNW đã chế tạo là 10-13 M.
Để chứng minh hiệu suất SERS của các đế AgNPs/VASiNW, chúng tôi tính
hệ số tăng cường tán xạ Raman của các đế này đối với phân tử MG. Dựa trên các
định nghĩa về các hệ số tăng cường tán xạ Raman đã trình bày trước đó, chúng tôi
sử dụng công thức (4.9) để ước tính hệ số tăng cường tán xạ Raman của các đế
SERS
=
REF
I I
N Normal N
SERS
Normal
SERS của chúng tôi.
Đỉnh Raman của MG tại 1617 cm-1 sẽ được sử dụng để xác định cường độ
ISERS và INormal. Chúng tôi đã chọn đỉnh này vì đó là đỉnh Raman có cường độ mạnh
139
nhất trong phổ, hơn nữa khi giảm nồng độ MG trong dung dịch thì đỉnh này vẫn
được phân tách khá rõ chứ không bị chồng chập bởi các đỉnh khác.
Hình 4.16. Phổ Raman của dung dịch MG 10-13 M được nhỏ lên trên AgNPs/VASiNW (a) và phổ Raman của dung dịch MG 1 M được nhỏ lên trên hệ VASiNW (b).
Để xác định được INormal, chúng tôi đã tiến hành nhỏ 50μl dung dịch MG nồng độ 1 M lên trên hệ VASiNW có diện tích 1 cm2 sau đó tiến hành đo phổ
Raman của mẫu này. Như đã chỉ ra trước đó, khi không có các AgNP thì không có
hiệu ứng SERS xảy ra nghĩa là các phép đo Raman thực hiện trên các hệ VASINW
không có AgNP có thể được coi là một phép đo không SERS. Kết quả Raman thu
được được trình bày trên hình 4.16 (đường cong (b)). Từ đây, có thể ước tính được giá trị của INormal tại đỉnh 1617 cm-1 là ∼ 1178. Giá trị ISERS tương ứng của các mẫu SERS tại đỉnh 1617 cm-1 của có thể xác định từ đường cong (a) trên hình 4.16 là ∼
400. Do lượng dung dịch nhỏ lên các đế và diện tích các đế chúng tôi sử dụng là
như nhau do đó tỉ số NNormal /NSERS có thể ước tính gần đúng bằng tỉ số của các nồng
độ dung dịch tương ứng. Từ đây có thể ước tính được hệ số tăng cường Raman của các đế AgNPs/VASiNW đối với các phân tử MG là khoảng 2×1012. Các kết quả
nghiên cứu về chế tạo đế SERS sử dụng hệ VASiNW và sau đó dùng các đế này để
140
phát hiện các phân tử MG nồng độ thấp đã được chúng tôi công bố trên tạp chí
Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology năm 2013 [164].
4.3.3. Sử dụng các hệ ASiNW xiên có phủ các AgNP (AgNPs/OASiNW) để phát
hiện các phân tử MG nồng độ thấp thông qua hiệu ứng SERS
Hình 4.17. Ảnh SEM bề mặt (a) và mặt cắt (b) của các hệ OASiNW được sử dụng làm các
đế SERS; Ảnh TEM của một OASiNW trước (c) và sau khi được lắng đọng Ag (d).
Dựa trên các kết quả báo cáo về sự tăng cường mạnh hiệu ứng SERS đối với
các phân tử R6G trên các hệ ống cacbon nanô thẳng hàng nằm ngang so với các ống
thẳng đứng có bao phủ hạt vàng của nhóm tác giả [180], với mục đích nâng cao
cường độ SERS của các đế AgNPs/SiNW, chúng tôi đã tiến hành chế tạo các đế
AgNPs/SiNWs với sự cải tiến là sử dụng các hệ ASiNW xiên (obliquely ASiNW)
thay cho các hệ ASiNW thẳng đứng (VASiNW). Các hệ OASiNW đã được chế tạo
bằng phương pháp ăn mòn MACE các đế Si định hướng (111). Hình 4.17 (a) và (b)
tương ứng là ảnh SEM bề mặt và mặt cắt của hệ SiNW xiên trên đế Si (111) mà
chúng tôi đã chế tạo. Từ các ảnh trên ta có thể thấy rằng các SiNW phân bố đồng nhất trên toàn bộ bề mặt của đế Si và tạo với đế Si một góc 45o với chiều dài của
các dây nanô là khoảng 6 – 7 µm. Các đế này sau đó được tiến hành phủ các hạt
AgNP với các điều kiện lắng đọng giống hệt như đã thực hiện đối với các hệ
141
VASiNW (lắng đọng trong dung dịch 0,1 M HF và 0,3 mM AgNO3 trong 15 phút ).
Ảnh TEM của OASiNW trước và sau khi được phủ các AgNP được chỉ ra trong
hình 4.17 (c) và (d). Từ các ảnh này ta thấy rằng đường kính của các NW là khoảng
100 – 200 nm và có thể thấy rõ được các hạt Ag (các chấm đen nhỏ) với kích thước
20 – 50 nm bám trên các NW. Mật độ của các AgNP là khá dày và phân bố đồng
đều trên toàn bộ bề mặt của sợi SiNW.
Để kiểm tra về hiệu ứng SERS trên các đế AgNPs/OASiNW, chúng tôi đã
tiến hành nhỏ phân tử MG lên trên các đế này rồi sau đó tiến hành đo phổ Raman
của các mẫu trên. Các kết quả thu được như sau:
Hình 4.18. Phổ Raman của dung dịch chứa: (a) 10-10, (b) 10-11, (c) 10-13, (d) 10-14 và (e) 10-15 M MG được nhỏ lên trên các đế AgNPs/OASiNWs.
Đường cong (a) trên hình 4.18 là phổ Raman của dung dịch MG trong nước nồng độ 10-10 M. Có thể thấy rằng, các đỉnh đặc trưng của MG hiện lên rất rõ ràng
trong phổ này. Chúng tôi cũng đã tiến hành giảm nồng độ của MG để tìm ra giới
hạn phát hiện của các đế SERS của chúng tôi đối với các phân tử MG và thu được
các kết quả như trên các đường cong (b), (c), (d) và (e) trên hình 4.18. Từ các kết
quả trên, chúng tôi thấy rằng đối với các đế SERS sử dụng các hệ OASiNW thì với
142
nồng độ MG nhỏ tới 10-15 M vẫn có thể ghi được phổ Raman với một số đỉnh đặc trưng của MG. Khi nồng độ MG giảm xuống 10-16 M thì các đỉnh Raman của MG
gần như biến mất, do đó chúng tôi xác định được giới hạn phát hiện đối với phân tử MG trên đế AgNPs/OASiNW của chúng tôi là 10-15 M.
Từ các kết quả thu được như trên, chúng tôi đã tiến hành xác định hệ số tăng
cường Raman đối với các đế AgNPs/OASiNW theo cách xác định đã trình bày
trong phần trước đối với đế AgNPs/VASiNW. Kết quả thu được là hệ số tăng cường
tán xạ Raman của các đế SERS – AgNPs/OASiNW đối với các phân tử MG là khoảng 1014. Như vậy với việc sử dụng các hệ OASiNW thay cho các hệ VASiNW,
hệ số tăng cường Raman của các đế SERS mà chúng tôi chế tạo được có thể được
tăng lên hơn một bậc.
Hình 4.19. Ảnh TEM của OASiNW (a) và VASiNW (b) sau khi được lắng đọng
các AgNP cùng một lúc trong cùng điều kiện như nhau.
Các ảnh TEM của một NW đại điện cho các đế OASiNW (hình 4.19(a)) và
VASiNW (hình 4.19(b)) sau khi được tiến hành bao phủ các AgNP cùng một lúc
trong cùng điều kiện cho thấy trong khi OASiNW được các AgNP bao phủ đều toàn
bộ sợi dây thì mật độ các AgNP trên VASiNW lại giảm dần từ trên đỉnh xuống
dưới. Theo ý kiến của chúng tôi, điều này giải thích cho sự gia tăng của REF khi đế
OASiNW được sử dụng thay cho đế VASiNW trong phép đo SERS. Như đã được
chỉ ra trước đó, các tín hiệu SERS phụ thuộc vào mật độ, kích thước, hình thái và độ
dày của các hạt nanô kim loại. Trong trường hợp đang được nghiên cứu ở đây,
ngoại trừ mật độ hạt kim loại, các yếu tố khác đều như nhau đối với các AgNP trên
các đế OASiNW và VASiNW. Cụ thể hơn, sự giảm dần tỷ lệ bao phủ của các
143
AgNP dọc theo các NW của đế VASiNW sẽ làm giảm số lượng các “điểm nóng” và
một cách tương ứng, điều này dẫn đến sự sụt giảm của hiệu ứng SERS trên các đế
này so với các đế OASiNW. Sự khác biệt về mật độ bao phủ của các AgNP trên đế
OASiNW và VASiNW có thể được giải thích bằng hiệu ứng mao dẫn [11]. Trong
quá trình lắng đọng AgNP (bằng phương pháp lắng đọng hóa học), đối với các NW
dài và xếp chặt, các hệ NW có độ sâu càng lớn hơn thì sẽ càng khó khăn hơn để
dung dịch lắng đọng thẩm thấu vào, và do đó sau quá trình lắng đọng AgNP lên các
hệ ASiNW, các AgNP sẽ có mật độ rất dày ở đỉnh các NW và số lượng các AgNP
sẽ giảm dần theo chiều sâu của các hệ SiNW như được chỉ ra trong hình 4.19(b). Tuy nhiên, đối với các OASiNW do bị ngiêng một góc 45o so với bề mặt đế nên
chiều sâu của các hệ này sẽ ngắn hơn rất nhiều so với các hệ VASiNW. Chính vì
vậy, sự bao phủ các AgNP trên các hệ OASiNW sẽ đồng đều từ chân cho đến đỉnh
các NW (hình 4.19(a)) và do đó số lượng các AgNP trên các OASiNW cùng sẽ
nhiều hơn. Các kết quả nghiên cứu sử dụng các hệ OASiNW có bao phủ các AgNP
làm đế SERS để phát hiện MG với nồng độ rất thấp đã được chúng tôi công bố trên
International Journal of Nanotechnology năm 2015 [108].
Như đã trình bày trong các phần trước đó, một đế SERS có được đánh giá là
tốt hay không, ngoài khả năng tăng cường tín hiệu SERS mạnh, nó còn phải có độ
ổn định và độ lặp lại tốt để đảm bảo sao cho các kết quả Raman của chất phân tích
trên các các loạt đế khác nhau được chế tạo cùng một công nghệ dưới cùng một
điều kiện là ổn định và không bị sai khác nhau nhiều qua mỗi lần đo. Do đó, để
kiểm tra độ lặp lại của các đế AgNPs/OASiNW, chúng tôi đã tiến hành chế tạo bốn
loạt mẫu khác nhau vào những thời điểm khác nhau với các điều kiện chế tạo giống hệt như nhau, sau đó tiến hành nhỏ dung dịch MG nồng độ 10-10 M lên trên các đế
này và sau đó tiến hành đo Raman dưới cùng một chế độ đo. Các kết quả thu được được chỉ ra trên hình 4.20. So sánh các phổ Raman của 10-10 M MG trên các loạt đế
được chế tạo tại các thời điểm khác nhau ta thấy, các phổ này gần như trùng nhau
về số đỉnh, vị trí đỉnh cũng như cường độ các đỉnh phổ. Kết quả này cho thấy, độ
lặp lại và độ ổn định của các đế SERS mà chúng tôi chế tạo được là khá tốt.
144
Hình 4.20. Phổ Raman của dung dịch MG 10-10 M được nhỏ lên trên các đế
AgNPs/OASiNW được chế tạo tại các thời điểm khác nhau với các điều kiện
chế tạo giống hệt nhau.
4.3.2. Sử dụng các hệ AgNPs/OASiNW để phát hiện các phân tử thuốc diệt cỏ
paraquat thông qua hiệu ứng SERS
Với kết quả khả quan thu được đối với MG, chúng tôi cũng đã sử dụng các
đế SERS mà chúng tôi chế tạo được để phát hiện các phân tử thuốc diệt cỏ PQ pha
loãng trong nước. Hình 4.21 là phổ Raman thu được của dung dịch PQ với nồng độ
50, 10 và 5 ppm trong nước được nhỏ lên các đế SERS AgNPs/OASiNW. Trước hết
dựa trên các dữ liệu được trình bày trong [139], tất cả các đỉnh Raman tách biệt
trong hình 4.21 này là các đỉnh Raman đặc trưng của các phân tử PQ. Cụ thể là, các tín hiệu quan sát tại 842, 1025 và 1302 cm-1 được cho là do các dao động uốn trong mặt phẳng C-H; tín hiệu tại 1200 cm-1 được đóng góp từ sự kéo căng C-N+; tín hiệu tại 1537 cm -1 đến từ sự kéo căng C-C và các tín hiệu ở 1652 cm-1 được quy cho sự
kéo căng C-H3 [139].
Nồng độ PQ trong dung dịch càm giảm thì cường độ đỉnh phổ Raman sẽ càng giảm đi và khi nồng độ PQ trong dung dịch giảm xuống cỡ 5 ppm (∼ 10-5 M)
thì các đỉnh phổ Raman của PQ gần như bị biến mất (đường cong c), tuy vậy có thể
145
thấy rằng một số đỉnh đặc trưng của PQ vẫn còn xuất hiện trên phổ, do đó vẫn có
thể sử dụng phổ này để phát hiện ‘vết’ của PQ. Như vậy có thể kết luận rằng, giới
hạn phát hiện các phân tử paraquat của các đế SERS của chúng tôi là cỡ 5 ppm.
Mặc dù ngưỡng phát hiện trên còn khá cao so với dư lượng cho phép của PQ trên
các loại rau, củ, quả (∼ 0,05 – 0,1 ppm theo khuyến cáo của Bộ Y tế), tuy nhiên các
kết quả này cũng mở ra hi vọng cho việc sử dụng các hệ SiNW để làm đế SERS
phát hiên các phân tử PQ. Các kết quả nghiên cứu về sử dụng AgNPs/OASiNW làm
đế SERS để phát hiện thuốc diệt cỏ PQ trong nước đã được chúng tôi công bố trên
Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology năm 2015 [160].
Hình 4.21. Phổ Raman của dung dịch paraquat với các nồng độ khác nhau:
(a) 50, (b) 10, và (c) 5 ppm được nhỏ lên trên các đế AgNPs/OASiNW.
4.4. Kết luận Chương 4
1. SERS là hiệu ứng mà trong đó cường độ của các vạch phổ tán xạ Raman của các
phân tử đang là đối tượng phân tích tăng lên lên nhiều lần do chúng nằm trong
môi trường có chứa bề mặt kim loại gồ gề. Có hai cơ chế chủ yếu góp phần vào
sự tăng cường tín hiệu trong hiệu ứng SERS là cơ chế điện từ và cơ chế hóa học.
Cơ chế điện từ giải thích rằng việc tăng cường chủ yếu là do cộng hưởng
plasmon bề mặt định xứ. Cơ chế hóa học lại cho rằng sự tăng cường là kết quả
146
của sự tương tác hóa học giữa các chất hấp thụ và bề mặt kim loại. Hầu hết các
nghiên cứu cho thấy sự tăng cường điện từ đóng góp phần lớn vào cơ chế SERS.
2. Các đế SERS đóng vai trò tiên quyết đối với sự tăng cường SERS cũng như
những ứng dụng của kỹ thuật này. Các đế SERS có thể được phân ra chủ yếu
thành các loại: 1) huyền phù hạt kim loại nanô, 2) hệ các hạt kim loại nanô nằm
cố định trên bề mặt phẳng, 3) hệ các hạt kim loại nanô nằm cố định trên bề mặt
của một hệ dây nanô trật tự và 4) hệ các hạt kim loại có hình dạng biến đổi. Mỗi
loại đế SERS đều có ưu điểm và hạn chế riêng cho nên tùy vào những ứng dụng
cụ thể của SERS mà lựa chọn sử dụng các loại đế cho thích hợp.
3. Đã nghiên cứu sử dụng đế AgNPs/VASiNW làm các đế để phát hiện MG nồng
độ thấp sử dụng hiệu ứng SERS và thấy rằng, các đế AgNPs/VASiNW có thể phát hiện MG trong nước với giới hạn phát hiện thấp đến 10-13 M và hệ số tăng cường Raman là khoảng 2x1012.
4. Đã nghiên cứu cải tiến các đế SERS để có khả năng tăng cường SERS tốt hơn
bằng cách thay các hệ VASiNW bằng các hệ OASiNW. Kết quả nhận được cho
thấy bằng việc sử dụng các đế AgNPs/OASiNW giới hạn phát hiện các phân tử MG có thể hạ thấp xuống tới 10-15 M với hệ số tăng cường Raman đạt đến 1014
lần. Đã kiểm tra và thấy rằng độ ổn định và độ lặp lại của các đế SERS
AgNPs/ASiNW đạt được là khá tốt.
5. Đã sử dụng các đế AgNPs/OASiNW làm các đế SERS để phát hiện thuốc diệt cỏ
PQ pha loãng trong nước và thấy rằng các đế SERS này có thể phát hiện PQ trong dung dịch có nồng độ thấp đến 5 ppm (∼ 10-5 M).
147
KẾT LUẬN
1. Đã chế tạo thành công các hệ ASiNW trên đế Si bằng phương pháp MACE
và MAECE với các thông số về hình thái cấu trúc có thể điều khiển được. Đã
nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chế tạo và vật liệu ban đầu lên cấu
trúc của các hệ ASiNW trên đế Si và thấy rằng thông số này có ảnh hưởng
mạnh đến chiều dài, mật độ và định hướng của các SiNW nhưng lại hầu như
không ảnh hưởng đường kính của các SiNW.
2. Đã quan sát thấy sự tăng cường cường độ huỳnh quang tới hàng trăm lần của
mẫu SiNW xếp thẳng hàng chế tạo bằng phương pháp MAECE so với mẫu
chế tạo bằng phương pháp MACE. Mật độ dòng điện hóa càng tăng thì
cường độ PL của mẫu càng tăng lên và đỉnh phổ PL của mẫu cũng dịch về
phía bước sóng ngắn hơn. PL của các mẫu ASiNW được chế tạo bằng
MAECE rất mạnh và bền theo thời gian.
3. Nguồn gốc PL mạnh trong vùng đỏ của các mẫu SiNW chế tạo bằng phương
pháp MAECE đã được nghiên cứu và thảo luận. Theo đó đã thấy rằng sự
phát quang này liên quan chặt chẽ với lớp ôxít Si được hình thành trên bề
mặt mẫu do quá trình ôxy hóa anốt trong quá trình ăn mòn MAECE. Cơ chế
phát PL của các mẫu ASiNW cũng đã được đề xuất. Cụ thể, sau quá trình ăn
mòn trên bề mặt các SiNW sẽ là các SiNC nằm trong lớp ôxít Si. Khi mật độ
dòng điện hóa tăng lên, diện tích và độ dày của lớp ôxít Si ngày càng tăng
lên làm cho kích thước của các SiNC ngày càng thu nhỏ và cường độ PL của
mẫu tăng lên đồng thời đỉnh phổ PL của các mẫu cũng dịch về phía xanh
theo QCE.
4. Đã nghiên cứu sử dụng hệ ASiNW có bao phủ các hạt nanô Ag làm các đế để
phát hiện MG nồng độ thấp sử dụng hiệu SERS. Các đế AgNPs/VASiNW có thể phát hiện MG với giới hạn phát hiện 10-13 M và hệ số tăng cường Raman là khoảng 1012, trong khi nếu thay hệ VASiNW bằng hệ OASiNW thì có thể hạ thấp giới hạn phát hiện MG xuống 10-15 M với hệ số tăng cường Raman
148
đạt đến 1014 lần. Đã sử dụng các đế AgNPs/OASiNW làm các đế SERS để
phát hiện thuốc diệt cỏ PQ và thấy rằng các đế SERS này có thể phát hiện PQ với nồng độ thấp đến 5 ppm (∼ 10-5 M).
149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN
1. T. C. Dao, T. Q. N. Luong, T. A. Cao, N. H. Nguyen, N. M. Kieu, T. T. Luong, and V. V. Le (2015), Trace detection of herbicides by SERS technique, using
SERS-active substrates fabricated from different silver nanostructures deposited on silicon, Adv. Nat. Sci.: Nanosci. Nanotechnol., Vol. 6, p. 035012
(6pp).
2. L. T. Q. Ngan, D. T. Cao, C. T. Anh, and L. V.Vu (2015), Improvement of Raman enhancement factor due to the use of silver nanoparticles coated obliquely aligned silicon nanowire arrays in SERS measurements, Int. J.
Nanotechnol., Vol. 12, 358 – 366.
3. D. T. Cao, L. T. Q. Ngan, T. V. Viet, and C. T. Anh (2013), Effect of AgNO3 concentration on structure of aligned silicon nanowire arrays fabricated via silver-assisted chemical etching, Int. J. Nanotechnology, Vol. 10, 343 – 350.
4. T. Q. N. Luong, T. A. Cao, and T. C. Dao (2013), Low-concentration organic molecules detection via surface-enhanced Raman spectroscopy effect using Ag nanoparticles-coated silicon nanowire arrays, Adv. Nat. Sci.: Nanosci. Nanotechnol., Vol. 4, p. 015018 (5pp).
5. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2014), Fabrication of aligned SiNW arrays via metal-assisted chemical etching, Journal of Science and Technology, Vol. 52, 1 – 8.
6. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2015), Fabrication of vertical aligned silicon nanowire arrays with strong photoluminescence by metal-assisted electrochemical etching, Proc. of IWNA 2015, 11 – 14 November 2015, Vung Tau, Vietnam, 352 – 355.
7. L. T. Q. Ngan, D. T. Cao, C. T. Anh, N. N. Duong, and L. V. Vu (2014), Effect of density and size of the silver nanoparticles, which have been deposited onto the SiNW arrays, on the SERS measurements, Proc. of The 3rd Academic Conference on Natural Science for Master and PhD Students from Asean Countries, 11-15 November 2013, Phnom Penh, Cambodia, 432 – 437. 8. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2013), Fabrication of aligned silicon nanowire arrays via metal-assisted electrochemical etching, Proc. of
150
IWAMSN 2012, October 30th – November 2nd 2012, Halong City, Vietnam, 104 – 107.
9. C. T. Anh, L. T. Q. Ngân, Đ. T. Cao (2013), Huỳnh quang của các mảng dây nanô silic xếp thẳng hàng theo chiều dọc được chế tạo bằng phương pháp ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại, Kỷ hiếu Hội nghị Quang học và Quang phổ toàn quốc lần thứ VII, 26-29 tháng 11 năm 2012, TP Hồ Chí Minh,
544 – 548.
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tiếng Việt
1. C. T. Anh, L. T. Q. Ngân, Đ. T. Cao (2013), Huỳnh quang của các mảng dây nanô silic xếp thẳng hàng theo chiều dọc được chế tạo bằng phương pháp ăn mòn điện hóa có sự trợ giúp của kim loại, Kỷ hiếu Hội nghị Quang học và
Quang phổ toàn quốc lần thứ VII, 26-29 tháng 11 năm 2012, TP Hồ Chí Minh,
trang 544 – 548.
2. A. G. Cullis and L. T. Canham (1991), Visible-light emission due to quantum size
B. Tiếng Anh
effects in highly porous crystalline silicon, Nature, Vol. 353, 335 – 338.
3. A. I. Boukai, D. Gargas, Y. J. Hwang, and P. Yang (2009), Single Crystalline
Mesoporous Silicon Nanowires, Nano Lett., Vol. 9, 3550 – 3554.
4. A. I. Hochbaum, R. Chen, R. D. Delgado, W. Liang, E. C. Garnett, M. Najarian, A. Majumdar, and P. Yang (2008), Enhanced thermoelectric performance of rough
silicon nanowires, Nature, Vol. 451, 163 – 167.
5. A. J. Read, R. J. Needs, K. J. Nash, L. T. Canham, P. D. J. Calcott, and A. Qteish (1992), First-principles calculations of the electronic properties of silicon quantum wires, Phys. Rev. Lett., Vol. 69, 1232 – 1235.
6. A. Loni, A. J. Simons, P. D. J. Calcott, J. P. Newey, T. I. Cox and L. T. Canham (1997), Relationship between storage media and blue photoluminescence for oxidized porous silicon, Applied Physics Letters, Vol. 71, 107 – 109.
7. A. Najar, A. B. Slimane, M. N. Hedhili, D. Anjum, R. Sougrat, T. K. Ng, and B. S. Ooi (2012), Effect of hydrofluoric acid concentration on the evolution of
photoluminescence characteristics in porous silicon nanowires prepared by Ag- assisted electroless etching method, J. Appl. Phys., Vol. 112, 033502.1 – 033502.6. 8. A. Power, J. Cassidy, and T. Betts (2011), Non aggregated colloidal silver nanoparticles for surface enhancedresonance Raman spectroscopy, The Analyst,
Vol. 136, 2794 – 2801.
9. A. S. Kuznetsov, T. Shimizu, S. N. Kuznetsov, A. V. Klekachev, S. Shingubara, J. Vanacken, and V. V. Moshchalkov (2012), Origin of visible photoluminescence
vertically arranged Si-nanopillars decorated with Si-
from arrays of nanocrystals, Nanotechnology, Vol. 23, 475709.1 – 475709.7.
10. A. Yoffe (1993), Low-dimensional systems: quantum size effects and electronic
152
properties of semiconductor microcrystallites (zero-dimensional systems) and some quasi-two-dimensional systems, Adv. Phys., Vol. 42, 173 – 262.
11. B. H. Zhang, H. S. Wang, L. H. Lu, K. L. Ai, G. Zhang, X. L. Cheng (2008), Large- Area Silver-Coated Silicon Nanowire Arrays for Molecular Sensing Using Surface-Enhanced Raman Spectroscopy, Adv. Funct. Mater., Vol. 18, 2348 –
2355.
12. B. R. Tao, J. Zhang, S. C. Hui, and L. J. Wan (2009), An amperometric ethanol sensor based on a Pd–Ni/SiNWs electrode, Sens. Actuators B, Vol. 142, 298 – 303.
13. B. Hamilton (1995), Porous silicon, Semicond. Sci. Technoi., Vol. 10, 1187 – 1207. 14. B. S. Swain, B. P. Swain, S. S. Lee, and N. M. Hwang (2012), Microstructure and
Optical Properties of Oxygen-Annealed c-Si/aSiO2 Core−Shell Silicon Nanowires, J. Phys. Chem. C, Vol. 116, 22036 – 22042.
15. C. Chartier, S. Bastide, and C. Levy-Clement (2008), Metal-assisted chemical
etching of silicon in HF-H2O2, Electrochim. Acta, Vol. 53, 5509 – 5516.
16. C. Delerue, G. Allan, and M. Lannoo (1993), Theoretical aspects of the
luminescence of porous silicon, Phys. Rev. B, Vol. 48, 11024 – 11036.
17. C. Fang, A. Agarwal, E. Widjaja, M. V. Garland, S. M. Wong, L. Linn, N. M. Khalid, S. M. Salim, and N. Balasubramanian (2009), Metallization of Silicon
Nanowires and SERS Response from a Single Metallized Nanowire, Chem. Mater., Vol. 21, 3542 – 3548.
18. C. H. Lin, C. H. Hung, C. Y. Hsiao, H. C. Lin, F. H. Ko, and Y. S. Yang (2009),
Poly-silicon nanowire field-effect transistor for ultrasensitive and label-free detection of pathogenic avian influenza DNA, Biosen. Bioelectron., Vol. 24, 3019 – 3024.
19. C. L. Haynes, A. D. McFarland, and R. P. Van Duyne (2005), Surface-Enhanced
Raman Spectroscopy, Anal. Chem., Vol.1, 338A – 346A.
20. C. O. Dwyer, W. McSweeney, and G. Collins (2016), Quantum Confined Intense
Red Luminescence from Large Area Monolithic Arrays of Mesoporous and Nanocrystal-Decorated Silicon Nanowires for Luminescent Devices, ECS J. Solid
State Sci. Technol., Vol. 5, R3059 – R3066.
21. C. R. Yonzon, C. L. Haynes, X. Zhang, J. T. Walsh, and R. P. Van Duyne (2004), A
glucose biosensor based on surface-enhanced Raman scattering: improved partition layer, temporal stability, reversibility, and resistance to serum protein interference, Anal. Chem., Vol. 76, 78 – 85.
22. C. Y. Chen, C. S. Wu, C. J. Chou, and T. J. Yen (2008), Morphological Control of
153
Single-Crystalline Silicon Nanowire Arrays near Room Temperature, Adv.
Mater., Vol. 20, 3811 – 3815.
23. C. Y. Hsiao, C. H. Lin, C. H. Hung, C. J. Su, Y. R. Lo, C. C. Lee, H. C. Lin, F. H. Ko, T. Y. Huang, and Y. S. Yang (2009), Novel poly-silicon nanowire field effect
transistor for biosensing application, Biosen.Bioelectron., Vol. 24, 1223 – 1229. 24. C. Zhang, C. Li, Z. Liu, J. Zheng, C. Xue, Y. Zuo, B. Cheng, and Q. Wang (2013), Enhanced photoluminescence from porous silicon nanowire arrays, Nanoscale
Res. Lett., Vol. 8, 277.1 – 277.4.
25. D. A. Long (2002), The Raman Effect: A Unified Treatment of the Theory of
Raman Scattering by Molecules, John Wiley & Sons.
26. D. D. Malinovska, M. S. Vassileva, N. Tzenov, and M. Kamenova (1997), Preparation of thin porous silicon layers by stain etching, Thin Solid Films, Vol.
297, 9 – 12.
27. D. H. Murgida, and P. Hildebrandt (2004), Electron-transfer processes of
cytochrome C at interfaces. New insights by surface-enhanced resonance Raman spectroscopy, Acc. Chem. Res., Vol 37, 854 – 861.
28. D. K. Nagesha, M. A. Whitehead, and J. L. Coffer (2005), Biorelevant Calcification and Non-Cytotoxic Behavior in Silicon Nanowires, Adv. Mater., Vol. 17, 921 – 924.
29. D. Li, Y. Wu, P. Kim, L. Shi, P. Yang, and A Majumdar (2003), Thermal conductivity of individual silicon nanowires, Appl. Phys. Lett., Vol. 83, 2934 – 2936.
Jeanmaire, and R. P. V. Duyne
(1977), Surface
raman
30. D. L.
spectroelectrochemistry: Part I. Heterocyclic, aromatic, and aliphatic amines adsorbed on the anodized silver electrode, J. Electroanal. Chem., Vol. 84, 1–20.
31. D. R. Kim, C. H. Lee, and X. L. Zheng (2009), Probing Flow Velocity with Silicon
Nanowire Sensors, Nano Lett., Vol. 9, 1984 – 1988.
32. D. R. Turner, On the Mechanism of Chemically Etching Germanium and Silicon
(1960), J. Electrochem. Soc., Vol. 107, 810 – 816.
33. D. T. Cao, L. T. Q. Ngan, T. V. Viet, and C. T. Anh (2013), Effect of AgNO3
concentration on structure of aligned silicon nanowire arrays fabricated via silver-assisted chemical etching, Int. J. Nanotechnology, Vol. 10, 343 – 350. 34. D. T. Cao, L. T. Q. Ngan, and C. T. Anh (2013), Enhancement and stabilization of
from porous
silicon prepared by Ag-assisted
the photoluminescence electrochemical etching, Surf. Interface Anal., Vol. 45, 762 – 766.
154
35. E. C. Garnett, and P. Yang (2008), Silicon Nanowire Radial p−n Junction Solar
Cells, J. Am. Chem. Soc., Vol. 130, 9224 – 9225.
36. E. C. L. Ru, and P. G. Etchegoin (2009), Principles of Surface-Enhanced Raman
Spectroscopy and Related Plasmonic Effects, Elsevier.
37. E. C. L. Ru, E. Blackie, M. Meyer, P.G. Etchegoin (2007), Surface Enhanced Raman Scattering Enhancement Factors: A Comprehensive Study, J. Phys. Chem. C, Vol. 111, 13794 – 13803.
38. E. F. Pecora, N. Lawrence, P. Gregg, J. Trevino, P. Artoni, A. Irrera, F. Priolo, and L. D. Negro (2012), Nanopatterning of silicon nanowires for enhancing visible
photoluminescence, Nanosale, Vol. 4, 2863 – 2866.
39. E. Halfon, S. Galassi, R. Brüggemann, and A. Porvini (1996), Selection of priority properties to assess environmental hazard of pesticides, Chemosphere, Vol. 33, 1543 – 1562.
40. E. J. Ayars, H. D. Hallen, and C. L. Jahncke (2000), Electric Field Gradient Effects
in Raman Spectroscopy, Phys. Rev. Lett., Vol. 85, 4180 – 4183.
41. E. Peled, F. Patolsky, D. Golodnitsky, K. Freedman, G. Davidi, and D. Schneier (2015), Tissue-like Silicon Nanowires-Based Three-Dimensional Anodes for High-Capacity Lithium Ion Batteries, Nano Lett., Vol. 15, 3907 – 3916.
42. E. Prodan, P. Nordlander, and N. J. Halas (2003), Electronic structure and optical
properties of gold nanoshells, Nano Lett., Vol. 3, 1411 – 1415.
HNO
HF
43. E. S. Kooij, K. Butter, and J. J. Kelly (1999), Silicon Etching in
3/
Solution: Charge Balance for the Oxidation Reaction, Electrochem. Solid St. Lett., Vol. 2, 178 – 180.
44. E. Temur, I. H. Boyacı, U. Tamer, H. Unsal, and N. Aydogan (2010), A highly sensitive detection platform based on surface-enhanced Raman scattering for Escherichia coli enumeration, Anal. Bioanal. Chem., Vol. 397, 1595 – 1604. 45. F. Deiss, N. Sojic, D. J. White, and P. R. Stoddart, Nanostructured optical fibre arrays for high-density biochemical sensing and remote imaging, Anal.
Bioanal. Chem., Vol. 396 (2010), 53 – 71.
46. F. Koch (1993), Models and mechanisms for the luminescence of porous Si,
Mater. Res. Soc. Symp. Proc., Vol. 298, 319 – 329.
47. F. Koch, V. Petrova-Koch (1996), Light from Si-nanoparticle systems - a
comprehensive view, J. Non-Cryst. Solids, Vol. 198-200, 840 – 846.
48. F. Patolsky, B. P. Timko, G. H. Yu, Y. Fang, A. B. Greytak, G. F. Zheng, and C. M. Lieber (2006), Detection, stimulation, and inhibition of neuronal signals with
155
high-density nanowire transistor arrays, Science, Vol. 313, 1100 – 1104.
49. F. Peng, Y. Su, , X. Ji, Y. Zhong, X. Wei, Y. He (2014), Doxorubicin-loaded silicon nanowires for the treatment of drug-resistant cancer cells, Biomaterials, Vol. 35, 5188 – 5195.
50. G. Belomoin, J. Therrien, A. Smith, S. Rao, R. Twesten, S. Chaieb, M. H. Nayfeh, L. Wagner and L. Mitas (2002), Observation of a magic discrete family of ultrabright Si nanoparticles, Appl. Phys. Lett., Vol. 80, 841 – 843.
51. G. Gautier, and P. Leduc (2014), Porous silicon for electrical isolation in radio frequency devices: A review, Appl. Phys. Rev., Vol. 1, 011101.1 – 011101.18. 52. G. G. Qin and Y. Q. Jia (1993), Mechanism of the visible luminescence in porous
silicon, Solid State Communications, Vol. 86, 559 – 563.
53. G. G. Qin, and Y. J. Li (2003), Photoluminescence mechanism model for oxidized porous silicon and nanoscale-silicon-particle-embedded silicon oxide, Phys. Rev.B, Vol. 68, 085309.1 – 085309.7.
54. G. J. Zhang, A. Agarwal, K. D. Buddharaju, N. Singh, and Z. Q. Gao (2007), Highly
sensitive sensors for alkali metal ions based on complementary-metal-oxide- semiconductor-compatible silicon nanowires, Appl. Phys. Lett., Vol. 90, 233903.1 – 233903.3.
55. G. X. Zhang (2005), Electrochemistry of Si and Its Oxide, Kluwer Academic
Publishers.
Electropolishing of Silicon by Anodic Polarization in
56. G. X. Zhang, S. D. Collins, and R. L. Smith (1989), Porous Silicon Formation and Solution, J.
HF
Electrochem. Soc., Vol. 136, 1561 – 1565.
57. H. Fang, Y. Wu, J. Zhao, and J. Zhu (2006), Silver catalysis in the fabrication of
silicon nanowire arrays, Nanotechnology, Vol. 17, 3768 – 3774.
58. H. Foll, M. Christophersen, J. Carstensen, G. Hasse (2002), Formation and
application of porous silicon, Mater. Sci. Eng. R, Vol. 39, 93 – 141.
59. H. H. Wang, C. Y. Liu, S. B. Wu, N. W. Liu, C. Y. Peng, T. H. Chan, C. F. Hsu, J. K. Wang, and Y. L. Wang (2006), Highly Raman-Enhancing Substrates Based on
Silver Nanoparticle Arrays with Tunable Sub-10
nm Gaps, Adv. Mater., Vol. 18,
491 – 495.
60. H. Koyama (2006), Photoluminescence properties of porous silicon layers prepared by electrochemical etching in extremely dilute HF solutions, Journal of
Applied Electrochemistry , Vol. 36, 999 – 1003.
61. H. Seidel, L. Csepregi, A. Heuberger, and H. Baumgärtel (1990), Anisotropic
156
Etching of Crystalline Silicon in Alkaline Solutions I. Orientation Dependence and Behavior of Passivation Layers, J. Electrochem. Soc., Vol. 137, 3612 – 3626.
62. H. Tomioka, and S. Adachi (2013), Optical Absorption, Photoluminescence, and Raman Scattering Studies on Si Nanowire Arrays Formed in Ag2SO4−HF−H2O Solution, ECS J. Solid State Sci. Technol., Vol. 2, P253 – P258.
63. H. Wang, X. Han, X. Ou, C. S. Lee, X. Zhang, S. T. Lee (2013), Silicon nanowire
based single-molecule SERS sensor, Nanoscale, Vol. 5, 8172 – 8176.
64. H. Xu, J. Aizpurua, M. Kall, and P. Apell (2000), Electromagnetic contributions to single-molecule sensitivity in surface-enhanced raman scattering, Phys. Rev. E,
Vol. 62, 4318 – 4324.
65. I. Ponomareva, M. Menon, E. Richter, and A. N. Andriotis (2006), Structural
stability, electronic properties, and quantum conductivity of small-diameter silicon nanowires, Phys. Rev. B, Vol. 74, 125311.1 – 125311.5.
66. I. Ponomareva, D. Srivastava, and M. Menon (2007), Thermal Conductivity in Thin Silicon Nanowires: Phonon Confinement Effect, Nano Lett., Vol. 7, 1155 –
1159.
67. J. A. Creighton, C. G. Blatchford, and M. G. Albrecht, Plasma resonance enhancement of Raman scattering by pyridine adsorbed on silver or gold sol particles of size comparable to the excitation wavelength, J. Chem. Soc., Faraday
Trans. 2, Vol. 75 (1979), 790 – 798.
68. J. A. Dieringer, A. D. McFarland, N. C. Shah, D. A. Stuart, A. V. Whitney, C. R. Yonzon, M. A. Young, X. Zhang, and R. P. Van Duyne (2006), Introductory
Lecture: Surface enhanced Raman spectroscopy: new materials, concepts, characterization tools, and applications, Faraday Discuss., Vol. 132, 9 – 26. 69. J. A. Rodríguez, M. A. Vásquez-Agustín, A. Morales-Sánchez, and M. Aceves- Mijares (2014), Emission Mechanisms of Si Nanocrystals and Defects in SiO2 Materials, J. Nanomater., Vol. 2014, 409482.1 – 409482.17.
70. J. A. Yan, L. Yang, and M. Y. Chou (2007), Size and orientation dependence in the electronic properties of silicon nanowires, Phys. Rev. B, Vol. 76, 115319.1 –
115319.6.
71. J. E. Allen, E. R. Hemesath, D. E. Perea, J. L. Lenscch-Falk, Z. Y. Li, F. Yin, M. H. Gass, P. Wang, A. L. Bleloch, R. E. Palmer, and L. J. Lauhon (2008), High-
resolution detection of Au catalyst atoms in Si nanowires, Nat. Nanotechnol., Vol.
3, 168 – 173.
72. J. Jiang, K. Bosnick, M. Maillard, and L. Brus (2003), Single Molecule Raman
157
Spectroscopy at the Junctions of Large Ag Nanocrystals, J. Phys. Chem. B, Vol.
107, 9964 – 9972.
73. J. K. Sass, H. Neff, M. Moskovits, and S. Holloway (1981), Electric field gradient effects on the spectroscopy of adsorbed molecules, J. Phys. Chem., Vol. 85 , 621 –
623.
74. J. P. Wilcoxon, G. A. Samara, and P. N. Provencio (1999), Optical and electronic properties of Si nanoclusters synthesized in inverse micelles, Phys. Rev.B:
Condens. Matter. Mater. Phys., Vol. 60, 2704 – 2714.
75. J. R. Maiolo, B. M. Kayes, M. A. Filler, M. C. Putnam, M. D. Kelzenberg, H. A. Atwater, and N. S. Lewis (2007), High Aspect Ratio Silicon Wire Array Photoelectrochemical Cells, J. Am. Chem. Soc., Vol. 129, 12346 – 12347.
76. J. Wang, and J.S. Wang (2007), Dimensional crossover of thermal conductance in
nanowires, Appl. Phys. Lett., Vol. 90 , 241908.1 – 241908.3.
77. J. Zhu, and Y. Cui (2010), Photovoltaics: More solar cells for less, Nature Mater.,
Vol. 9, 183 – 184.
78. K. A. Willets, and R. P. Van Duyne (2007), Localized Surface Plasmon Resonance
Spectroscopy and Sensing, Annu. Rev. Phys. Chem., Vol. 58, 267-297.
(2011), Handbook of nanophysics: Nanoelectronics and
79. K. D. Sattler
nanophotonics, Taylor and Francis Group.
80. K. E. Shafer-Peltier, C. L. Haynes, M. R. Glucksberg, and R. P. Van Duyne (2003), Toward a glucose biosensor based on surface-enhanced Raman scattering, J. Am. Chem. Soc., Vol. 125, 588 – 593.
81. K. Kneipp, H. Kneipp, V. B. Kartha, R. Manoharan, G. Deinum, I. Itzkan, R. R. Dasari, and M. S. Feld (1998), Detection and identification of a single DNA base molecule using surface-enhanced Raman scattering (SERS), Phys.Rev. E, Vol. 57, R6281 – R6284.
82. K. Kneipp, H. Kneipp, I. Itzkan, R. R. Dasari, and M. S. Feld (2002), Surface-
enhanced Raman scattering and biophysics, J. Phys.: Condens. Matter, Vol. 14, R597 – R624.
83. K. Kneipp, Y. Wang, H. Kneipp, L. T. Perelman, I. Itzkan, R. R. Dasari, and M.S. Feld (1997), Single Molecule Detection Using Surface-Enhanced Raman Scattering (SERS), Phys. Rev. Lett., Vol. 78, 1667 – 1670.
84. K. Niki, Y. Kawasaki, Y. Kimura, Y. Higuchi, and N. Yasuoka (1987), Surface-
enhanced Raman scattering of cytochromes c3 adsorbed on silver electrode and their redox behavior, Langmuir, Vol. 3 , 982 – 986.
158
85. K. Omar, Y. Al-Douri, A.Ramizy, and Z. Hassan (2011), Stiffness properties of
porous silicon nanowires fabricated by electrochemical and laser-induced etching, Superlattice Microst., Vol. 50, 119 – 127.
86. K. Q. Peng, A. Lu, R. Zhang, and S. T. Lee (2008), Motility of Metal Nanoparticles in Silicon and Induced Anisotropic Silicon Etching, Adv. Funct. Mater., Vol. 18,
3026 – 3035.
87. K. Q. Peng, and J. Zhu (2003), Simultaneous gold deposition and formation of
silicon nanowire arrays, J. Electroanal. Chem., Vol. 558, 35 – 39.
88. K. Q. Peng, and J. Zhu (2004), Morphological selection of electroless metal deposits on silicon in aqueous fluoride solution, Electrochim. Acta, Vol. 49, 2563 – 2568.
89. K. Q. Peng, H. Fang, J. Hu, Y. Wu, J. Zhu, Y. Yan, and S. T. Lee (2006), Metal-
Particle-Induced, Highly Localized Site-Specific Etching of Si and Formation of Single-Crystalline Si Nanowires in Aqueous Fluoride Solution, Chem. Eur. J., Vol. 12, 7942 – 7947.
90. K. Q. Peng, J. J. Hu, Y. J. Yan, Y. Wu, H. Fang, Y. Xu, S. T. Lee, and J. Zhu (2006),
Crystalline Silicon Nanowires by Scratching a Silicon
‐
Fabrication of Single Surface with Catalytic Metal Particles, Adv. Funct. Mater., Vol. 16, 387 – 394. 91. K. Q. Peng, J. S. Jie, W. J. Zhang, and S. T. Lee (2008), Silicon nanowires for rechargeable lithium-ion battery anodes, Appl. Phys. Lett., Vol. 93, 033105 – 033107.
92. K. Q. Peng, M. L. Zhang, A. J. Lu, N. B. Wong, R. Q. Zhang, and S. T. Lee (2007),
Ordered silicon nanowire arrays via nanosphere lithography and metal-induced etching, Appl. Phys. Lett., Vol. 90, 163123-1 – 163123-3.
93. K. Q. Peng, Y. Xu, Y. Wu, Y. Yan, S. T. Lee, and J. Zhu (2005), Aligned Single- Crystalline Si Nanowire Arrays for Photovoltaic Applications, Small, Vol. 1, 1062 – 1067.
94. K. Q. Peng, Y. Wu, H. Fang, X. Zhong, Y. Xu, and J. Zhu (2005), Uniform, Axial-
Silicon
of One-Dimensional
Single-Crystal
Orientation Alignment Nanostructure Arrays, Angew. Chem. Int. Ed., Vol. 44, 2737 – 2742.
95. K. Q. Peng, Y. J. Yan, S. P. Gao, and J. Zhu (2003), Dendrite-Assisted Growth of Silicon Nanowires in Electroless Metal Deposition, Adv. Funct. Mater., Vol. 13,
127 – 132.
96. K. S. Brammer, C. Choi, S. Oh, C. J. Cobb, L. S. Connelly, M. Loya, S. D. Kong, and S. Jin, Antibiofouling, Sustained Antibiotic Release by Si Nanowire
159
Templates, Nano Lett., Vol. 9 (2009), 3570 – 3574.
97. K. Tsujino, and M. Matsumura (2005), Boring Deep Cylindrical Nanoholes in Silicon Using Silver Nanoparticles as a Catalyst, Adv. Mater., Vol. 17, 1045 – 1047.
98. L. A. Dick, A. J. Haes, and R. P. V. Duyne, Distance and Orientation Dependence
of Heterogeneous Electron Transfer: A Surface-Enhanced Resonance Raman Scattering Study of Cytochrome c Bound to Carboxylic Acid Terminated
Alkanethiols Adsorbed on Silver Electrodes, J. Phys. Chem. B, Vol. 104 (2000),
11752 – 11762.
99. L. B. Luo, J. S. Jie, W. F. Zhang, Z. B. He, J. X. Wang, G. D. Yuan, W. J. Zhang, L. C. M. Wu, and S. T. Lee (2009), Silicon nanowire sensors for Hg2+ and Cd2+ ions, Appl. Phys. Lett., Vol. 94, 193101.1 – 193101.3.
100. L. H. Lin, X. Z. Sun, R. Tao, Z. C. Li, J. Y. Feng, and Z. J. Zhang (2011),Photoluminescence origins of the porous silicon nanowire arrays, J. Appl. Phys. 110, 073109.1 – 073019.6.
101. L. Lin, X. Sun, R. Tao, J. Feng, and Z. Zhang (2011), The synthesis and
photoluminescence properties of selenium-treated porous silicon nanowire arrays, Nanotechnology, Vol. 22, 075203.1 – 075203.6.
102. L. Liu (2014), Regulation of the morphology and photoluminescence of silicon
nanowires by light irradiation, J. Mater. Chem. C, Vol. 2, 9631 – 9636.
103. L. T. Canham (1990), Silicon quantum wire array fabrication by electrochemical and chemical dissolution of wafers, Appl. Phys. Lett., Vol. 57, 1046 – 1048. 104. L. T. Canham, M. R. Houlton, W. Y. Leong, C Pickering and J. M. Keen (1991), Atmospheric impregnation of porous silicon at room temperature, Journal of Applied Physics, Vol. 70, pp 422-431.
105. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2013), Fabrication of aligned silicon nanowire arrays via metal-assisted electrochemical etching, Proc. of IWAMSN 2012, October 30th – November 2nd 2012, Halong City, Vietnam, 104 – 107.
106. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2014), Fabrication of aligned SiNW arrays via metal-assisted chemical etching, Journal of Science and Technology, Vol. 52, 1
– 8.
107. L. T. Q. Ngan, C.T. Anh, D. T. Cao (2015), Fabrication of vertical aligned silicon nanowire arrays with strong photoluminescence by metal-assisted electrochemical etching, Proc. of IWNA 2015, 11 – 14 November 2015, Vung Tau, Vietnam, 352 – 355. 108. L. T. Q. Ngan, D. T. Cao, C. T. Anh, and L. V.Vu (2015), Improvement of Raman
160
enhancement factor due to the use of silver nanoparticles coated obliquely aligned silicon nanowire arrays in SERS measurements, Int. J. Nanotechnol., Vol. 12, 358 – 366.
109. L. X. Mu, W. S. Shi, J. C. Chang, and S. T. Lee (2008), Silicon Nanowires-Based
Fluorescence Sensor for Cu(II), Nano Lett., Vol. 8, 104 – 109.
110. L. Zeiri, K. Rechav, Z. Porat, and Y. Zeiri (2012), Silver nanoparticles deposited on porous silicon as a surface-enhanced Raman scattering (SERS) active substrate, Appl. Spectrosc., Vol. 66, 294 – 299.
111. M. Fan, G. F.S. Andrade, and A. G. Brolo (2011), A review on the fabrication of
substrates for surface enhanced Raman spectroscopy and their applications in analytical chemistry, Anal. Chim. Acta, Vol. 693, 7 – 25.
112. M. Fleischmann, P. J. Hendra, and A. J. McQuillan (1974), Raman spectra of pyridine adsorbed at a silver electrode, Chem. Phys. Lett., Vol. 26 , 163 – 166. 113. M. G. Albrecht, and J. A. Creighton, Anomalously intense Raman spectra of pyridine at a silver electrode, J. Am. Chem. Soc., Vol. 99 (1977), 5215 – 5217. 114. M. J. Natan (2006), Concluding Remarks Surface enhanced Raman scattering,
Faraday Discuss., Vol. 132, 321 – 328.
115. M. K. Dawood, S. Tripathy, S. B. Dolmanan, T. H. Ng, H. Tan, and J. Lam (2012), Influence of catalytic gold and silver metal nanoparticles on structural, optical, and vibrational properties of silicon nanowires synthesized by metal-assisted chemical etching, J. Appl. Phys., Vol. 112, 073509.1 – 073509.8.
116. M. Khorasaninejad, M. A. Swillam, K. Pillai, and S. S. Saini (2012), Silicon nanowire arrays with enhanced optical properties, Opt. Lett., Vol. 37, 4194 – 4196.
117. M. Lajvardi, H. Eshghi, M. E. Ghazi, M. Izadifard, A. Goodarzi (2015), Structural and optical properties of silicon nanowires synthesized by Ag-assisted chemical etching, Materials Mater. Sci. Semicond. Process., Vol. 40, 556 – 563.
118. M. Lajvardi, H. Eshghi, M. Izadifard, M. E. Ghazi, and A. Goodarzi (2016), Effects
of silver and gold catalytic activities on the structural and optical properties of silicon nanowires, Physica E, Vol. 75, 136 – 143.
119. M. L. Zhang, C. Q. Yi, X. Fan, K. Q. Peng, N. B. Wong, M. S. Yang, R. Q. Zhang, and S. T. Lee (2008), A surface-enhanced Raman spectroscopy substrate for highly sensitive label-free immunoassay, Appl. Phys. Lett., Vol. 92, 043116.1 –
043116.3.
120. M. Moskovits (1985), Surface-enhanced spectroscopy, Rev. Mod. Phys., Vol. 57,
161
783 – 826.
121. M. Moskovits (2006), Surface-Enhanced Raman Spectroscopy: a Brief
Perspective, Topics Appl. Phys., Vol. 103, 1 – 17.
(2009), Visible
luminescence
in photo-
122. M. Naddaf and H. Hamadeh
illumination
electrochemically etched p-type porous silicon: Effect of wavelength, Materials Science and Engineering C, Vol. 29, 2092 – 2098.
123. M. Otto, M. Algasinger, H. Branz, B. Gesemann, T. Gimpel, K. Füchsel, T. Käsebier, S. Kontermann, S. Koynov, X. Li, V. Naumann, J. Oh , A. N. Sprafke, J.
Ziegler, M. Zilk, and R. B. Wehrspohn (2015), Black Silicon Photovoltaics, Adv.
Optical Mater., Vol. 3, 147-164.
124. M. V. Wolkin, J. Jorne, P. M. Fauchet, G. Allan, and C. Delerue (1999), Electronic
States and Luminescence in Porous Silicon Quantum Dots: The Role of Oxygen, Phys. Rev. Lett., Vol. 82, 197 – 200.
125. M. W. Shao, H. Yao, M. L. Zhang, N. B. Wong, Y. Y. Shan, and S. T. Lee (2005),
Fabrication and application of long strands of silicon nanowires as sensors for bovine serum albumin detection, Appl. Phys. Lett., Vol. 87, 183106.1 – 183106.3.
126. M. W. Shao, M. L. Zhang, N. B. Wong, D. D. D. Ma, H. Wang, W. W. Chen, and S. T. Lee (2008), Ag-modified silicon nanowires substrate for ultrasensitive surface-enhanced raman spectroscopy, Appl. Phys. Lett., Vol. 93, 233118.1 – 233118.2.
127. M. W. Shao, Y. Y. Shan, N. B. Wong, and S. T. Lee (2005), Silicon Nanowire
Sensors for Bioanalytical Applications: Glucose and Hydrogen Peroxide Detection, Adv. Funct. Mater., Vol. 15, 1478 – 1482.
128. M. Z. Si, Y. P. Kang, R. M. Liu (2012), Surface-enhanced Raman scattering (SERS) spectra of three kinds of azo-dye molecules on silver nanoparticles prepared by electrolysis, Appl. Surf. Sci., Vol. 258, 5533 – 5537. 129. O. Kayser, A. Lemke, and N. Hernandez-Trejo (2005), The
impact of nanobiotechnology on the development of new drug delivery systems, Curr.
Pharm. Biotechnol., Vol. 6, 3 – 5.
130. P. Artoni, A. Irrera, F. Iacona, E. F. Pecora, G. Franzò, and F. Priolo (2012),
and aging
effects on
silicon nanowires
Temperature dependence photoluminescence, Opt. Express, Vol. 20, 1483 – 1490.
131. P. C. Lee, and D. Meisel (1982), Adsorption and surface-enhanced Raman of
dyes on silver and gold sols, Phys. Chem., Vol. 86 , 3391 – 3395.
132. P. D. Kanungo, N. Zakharov, J. Bauer, O. Breitenstein, P. Werner, and U. Goesele
162
(2008), Controlled in situ boron doping of short silicon nanowires grown by
molecular beam epitaxy, Appl. Phys. Lett., Vol. 92, 263107.1 – 263107.3.
133. P. Kumar, P. Lemmens, M. Ghosh, F. Ludwig, and M. Schilling (2009), Effect of HF Concentration on Physical and Electronic Properties of Electrochemically Formed Nanoporous Silicon, Journal of Nanomaterials, Vol 2009, 1 – 7.
134. P. M. Fauchet, E. Ettedgui, A. Raisanen, L. J. Brillson, F. Seiferth, S. K. Kurinec, Y. Gao, C. Peng and L. Tsybeskov (1993), Can oxidation and other treatments help us understand the nature of lightemitting porous silicon?, Materials Research
Society symposia proceedings, Vol. 298, 271 - 276.
135. P. M. M. C. Bressers, J. J. Kelly, J. G. E. Gardeniers, and M. Elwenspoek (1996),
Type (100) Silicon Etched in Aqueous Alkaline
Surface Morphology of p Solution, J. Electrochem. Soc., Vol. 143, 1744 – 1750.
‐
136. P. R. Bandaru, and P. Pichanusakorn (2010), An outline of the synthesis and properties of silicon nanowires, Semicond. Sci. Technol., Vol. 25, 024003.1 - 024003.16.
138. R. A. Halvorson, and P. J. Vikesland
137. R. A. Alvarez-Puebla, and L. M. Liz-Marzan (2010), Environmental applications of plasmon assisted Raman scattering, Energy Environ. Sci., Vol. 3, 1011 – 1017. (2010), Surface-Enhanced Raman Spectroscopy (SERS) for Environmental Analyses, Environ. Sci. Technol., Vol.
44 , 7749 – 7755.
139. R. Gao, N. Choi, S. I. Chang, S. H. Kang, J. M. Song, S. I. Cho, D. W. Lim, and J. Choo (2010), Highly sensitive trace analysis of paraquat using a surface-
enhanced Raman scattering microdroplet sensor, Anal. Chim. Acta, Vol. 681, 87
– 91.
140. R. J. C Brown, J. Wang, R. Tantra, R. E Yardley, and M. J. T. Milton (2006),
Electromagnetic modelling of raman enhancement from nanoscale substrates: a route to estimation of the magnitude of the chemical enhance ment mechanism in SERS, Faraday Discuss., Vol. 132, 201 – 213.
141. R. Picorel, G. Chumanov, T.M. Cotton, G. Montoya, S. Toon, and M. Seibert (1994),
Surface-Enhanced Resonance Raman Scattering Spectroscopy of Photosystem II Pigment-Protein Complexes, J. Phys. Chem., Vol. 98 , 6017 – 6022.
142. R. R.Sato-Berru, R. Redon, A. Vaquez-Olmos, and J. M. Saniger (2009), Silver
nanoparticles synthesized by direct photoreduction of metal salts. Application in surface-enhanced Raman spectroscopy, J. Raman Spectrosc., Vol. 40, 376 – 380.
143. R. Rurali (2010), Colloquium: Structural, electronic, and transport properties of
163
silicon nanowires, Rev.Mod.Phys., Vol. 82, 427 – 449.
144. R. S. Wagner, and W. C. Ellis (1965), The vapor-Liquid-Solid Mechanism of Crystal Growth and Its Application to Silicon, Trans. Metall. Soc. AIME, Vol. 233, 1053.
145. S. A. Razek, M. A. Swillam, and N. K. Allam (2014), Vertically aligned crystalline
silicon nanowires with controlled diameters for energy conversion applications: Experimental and theoretical insights, J. Appl. Phys., Vol. 115, 194305.1 –
194305.8.
(2004), Direct-write patterning of
146. S. Chattopadhyay, and P. W. Bohn
microstructured porous silicon arrays by focused-ion-beam FPt deposition and metal-assisted electroless etching, J. Appl. Phys., Vol. 96, 6888 – 6894.
147. S. Chattopadhyay, X. L. Li, and P. W. Bohn (2002), In-plane control of
morphology and tunable photoluminescence in porous silicon produced by metal-assisted electroless chemical etching, J. Appl. Phys., Vol. 91, 6134 – 6140.
148. S. Congli, H. Hao, F. Huanhuan, X. Jingjing, C. Yu, J. Yong, J. Zhifeng, S. Xiaosong (2013), Synthesis of porous silicon nano-wires and the emission of red luminescence, Appl. Surf. Sci., Vol. 282, 259 – 263.
149. S. Cruz, A. Honig-dOrville, and J. Muller (2005), Fabrication and Optimization of Porous Silicon Substrates for Diffusion Membrane Applications, J. Electrochem.
Soc., Vol. 152, C418 – C424.
150. S. J. Oldenburg, J. B. Jackson, S. L. Westcott, and N. J. Halas (1999), Infrared
extinction properties of gold nanoshells, Appl. Phys. Lett., Vol. 75, 2897 – 2899.
151. S. K. Saxena, H. M. Rai, R. Late, P. R. Sagdeo, and R. Kumar (2015), Origin of
Photoluminescence from Silicon nanowires Prepared by Metal Induced Etching (MIE), AIP Conf. Proc., Vol. 1661, 080027.1 – 080027.3.
152. S. M. Prokes (1993), Light emission in thermally oxidized porous silicon: related luminescence, Applied Physics Letters, Vol. 64, 3244 –
Evidence for oxide
3246.
‐
153. S. Nie, and S. R. Emory (1997), Probing Single Molecules and Single Nanoparticles by Surface-Enhanced Raman Scattering, Science, Vol. 275 , 1102
– 1106.
154. S. Shanmukh, L. Jones, J. Driskell, Y. Zhao, R. Dluhy, and R. A. Tripp (2006),
Rapid and Sensitive Detection of Respiratory Virus Molecular Signatures Using a Silver Nanorod Array SERS Substrate, Nano Lett., Vol. 6, 2630 – 2636.
155. S. Su, Y. He, M. L. Zhang, K. Yang, S. P. Song, X. H. Zhang, C. H. Fan, and S. T.
164
Lee (2008), High-sensitivity pesticide detection via silicon nanowires-supported
acetylcholinesterase-based electrochemical sensors, Appl. Phys. Lett., Vol. 93, 023113.1 – 023113.2.
156. S. Veprek, and M. G. J. Veprek-Heijman (2015), Photoluminescence from nanocrystalline silicon nc-Si, nc-Si/SiO2 nanocomposites, and nc-Si oxidized in O2 and treated in H2O, Vac. Sci. Technol. A, Vol. 33, 043001.1 - 043001.4.
157. S. W. Chang, V. P. Chuang, S. T. Boles, C. A. Ross, and C. V. Thompson (2009),
Densely Packed Arrays of Ultra-High-Aspect-Ratio Silicon Nanowires Fabricated using Block-Copolymer Lithography and Metal-Assisted Etching,
Adv. Funct. Mater., Vol. 19, 2495 – 2500.
158. S. Yae, Y. Kawamoto, H. Tanaka, N. Fukumuro, and H. Matsuda (2003), Formation
of porous silicon by metal particle enhanced chemical etching in HF solution and its application for efficient solar cells, Electrochem. Commun., Vol. 5, 632 – 636.
159. S.Y. Chen, Y.H. Huangb, H.K. Lai, C. Li, J.Y. Wang (2007), Investigation of passivation of porous silicon at room temperature, Solid State Communications, Vol. 142, pp. 358–362.
160. T. C. Dao, T. Q. N. Luong, T. A. Cao, N. H. Nguyen, N. M. Kieu, T. T. Luong, and V. V. Le (2015), Trace detection of herbicides by SERS technique, using SERS-
active substrates fabricated from different silver nanostructures deposited on silicon, Adv. Nat. Sci.: Nanosci. Nanotechnol., Vol. 6, 035012.1 – 035012.6.
161. T. Hadjersi (2007), Oxidizing agent concentration effect on metal-assisted electroless etching mechanism in HF-oxidizing agent-H2O solutions, Appl. Surf. Sci., Vol. 253, 4156 – 4160.
162. T. Kang, S. M. Yoo, I. Yoon, S. Y. Lee, and B. Kim (2010), Patterned Multiplex Pathogen DNA Detection by Au Particle-on-Wire SERS Sensor, Nano Lett., Vol.
10 , 1189 – 1193.
163. T. Selvaraju, and R. Ramaraj (2009), Electrocatalytic reduction of hydrogen peroxide at nanostructured copper modified electrode, J. Appl. Electrochem.,
Vol. 39, 321 – 327.
164. T. Q. N. Luong, T. A. Cao, and T. C. Dao (2013), Low-concentration organic molecules detection via surface-enhanced Raman spectroscopy effect using Ag nanoparticles-coated silicon nanowire arrays, Adv. Nat. Sci.: Nanosci. Nanotechnol., Vol. 4), 015018.1 – 015018.5.
165. T. T. Nhung, and S. W. Lee (2014), Green Synthesis of Asymmetrically Textured
165
Silver Meso-Flowers (AgMFs) as Highly Sensitive SERS Substrates, ACS Appl.
Mater. Interfaces, Vol. 6 , 21335 – 21345.
166. T. Unagami (1980), Formation Mechanism of Porous Silicon Layer by
Anodization in
HF
Solution, J. Electrochem. Soc., Vol. 127, 476 – 483.
167. T. Vo-Dinh, L. R. Allain, and L. David (2002), Cancer gene detection using surface-enhanced Raman scattering (SERS), J. Raman Spectrosc., Vol. 33, 511 – 516.
168. T. Vo-Dinh (1998), Surface-enhanced Raman spectroscopy using metallic
nanostructures, Trac-Tren. Anal. Chem., Vol. 17, 557 – 582.
169. U. K. Sur, and J. Chowdhury (2013), Surface-enhanced Raman scattering: overview of a versatile technique used in electrochemistry and nanoscience,
Curr. Sci., Vol. 105, 923 – 939.
170. V. A. Sivakov, F. Voigt, A. Berger, G. Bauer, and S. H. Christiansen (2010), temperature
silicon nanowire
sidewalls
room
and
of
Roughness photoluminescence, Phys. Rev. B, Vol. 82, 125446.1 – 125446.6.
171. V. Lehmann (2002), Electrochemistry of silicon: instrumentation, science,
materials, and applications, Wiley-VCH.
172. V. Lehmann (1993), The Physics of Macropore Formation in Low Doped n-Type
Silicon, J. Electrochem. Soc., Vol. 140, 2836 – 2843.
173. V. Schmidt, J. V. Wittemann, and U. Gosele (2010), Growth, Thermodynamics, and Electrical Properties of Silicon Nanowires, Chem. Rev., Vol. 110, 361–388. 174. V. Schmidt, S. Senz, and U. Gösele (2005), Diameter-Dependent Growth
Direction of Epitaxial Silicon Nanowires, Nano Lett., Vol. 5, 931 – 935.
175. W. Kim, J. K. Ng, M. E. Kunitake, B. R. Conklin, and P. D. Yang (2007), Interfacing Silicon Nanowires with Mammalian Cells, J. Am. Chem. Soc., Vol. 129, 7228 – 7229.
176. W. L. Barnes, A. Dereux, and T. W. Ebbesen (2003), Surface plasmon
subwavelength optics, Nature, Vol. 424, 824 – 830.
177. W. W. Chen, H. Yao, C. H. Tzang, J. J. Zhu, M. S. Yang, and S. T. Lee (2006), Silicon nanowires for high-sensitivity glucose detection, Appl. Phys. Lett., Vol. 88,
213104.1 – 213104.3.
(2000), Metal-assisted
chemical
etching
178. X. Li, and P. W. Bohn
in HF/H2O2 produces porous silicon, Appl. Phys. Lett., Vol. 77, 2572 – 2574. 179. X. M. Qian, X. H. Peng, D. O. Ansari, Q. Yin-Goen, G. Z. Chen, D. M. Shin, L. Yang, A. N. Young, M. D. Wang, and S. M. Nie (2008), In vivo tumor targeting
166
and spectroscopic detection with surface-enhanced Raman nanoparticle tags,
Nat. Biotechnol., Vol. 26 , 83 – 90.
180. X. N. He, Y. Gao, M. Mahjouri-Samani, P. N. Black, J. Allen, M. Mitchell, W. Xiong, Y. S. Zhou, L. Jiang, and Y. F. Lu (2012), Surface-enhanced Raman
spectroscopy using goldcoated horizontally aligned carbon nanotubes,
Nanotechnology, Vol. 23, 205702.1 – 20572.9.
181. X. Q. Zheng, C.E. Liu, X.M. Bao, F. Yan and H.C. Yang (1993), Midgap localized states and light emission of porous silicon, Solid State Communication, Vol 87,
1005 – 1007.
182. X. T. Wang, W. S. Shi, G. W. She, L. X. Mu, and S. T. Lee (2010), High- performance surface-enhanced Raman scattering sensors based on Ag nanoparticles-coated Si nanowire arrays for quantitative detection of pesticides,
Appl.Phys. Lett., Vol. 96, 053104.1 – 053104.3.
183. X. T. Vu, J. F. Eschermann, R. Stockmann, R. GhoshMoulick, A. Offenhausser, and S. Ingebrandt (2009), Top-down processed silicon nanowire transistor arrays for
biosensing, Phys. Status Solidi A, Vol. 206, 426 – 434.
184. X. Y. Bi, W. L. Wong, W. J. Ji, A. Agarwal, N. Balasubramanian, and K. L. Yang (2008), Development of electrochemical calcium sensors by using silicon nanowires modified with phosphotyrosine, Biosen. Bioelectron., Vol. 23, 1442 – 1448.
185. Y. Harade, X. Li, P. W. Bohn, and R. G. Nuzzo (2001), Catalytic amplification of
the soft lithographic patterning of Si. Nonelectrochemical orthogonal fabrication of photoluminescent porous Si pixel arrays, J. Am. Chem. Soc., Vol. 123, 8709 – 8717.
186. Y. He, S. Su, T. Xu, Y. Zhong, J. A. Zapien, J. Li, C. Fan, and S. T. Lee (2011),
Silicon nanowires-based highly-efficient SERS-active platform for ultrasensitive DNA detection, Nano Today, Vol. 6, 122 – 130.
187. Y. Kanemitsu, H. Uto, Y. Masumoto, T. Matsumoto, T. Futagi, and H. Mimura (1993), Microstructure and optical properties of freestanding porous silicon
films: size dependence of absorption spectra in Si nanometer-sized crystallites,
Phys. Rev.B, Vol. 48, 2827 – 2830.
188. Y. Kanemitsu, T. Ogawa, K. Shiraishi, and K. Takeda (1993), Visible
from oxidized Si nanometer-sized spheres: Exciton
photoluminescence confinement on a spherical shell, Phys. Rev.B, Vol. 48, 4883 – 4886.
(1994), Luminescence properties of nanometer-sized Si
189. Y. Kanemitsu
167
crystallites: core and surface states, Phys. Rev.B, Vol. 49, 16845 – 16848.
190. Y. Qu, L. Liao, Y. Li, H. Zhang, Y. Huang, and X. Duan (2009), Electrically Conductive and Optically Active Porous Silicon Nanowires, Nano Lett., Vol. 9 , 4539 – 4543.
191. Y. Wang, K. K. Lew, T.T. Ho, L. Pan, S. W. Novak, E. C. Dickey, J. M. Redwing, and T. S. Mayer (2005), Use of Phosphine as an n-Type Dopant Source for Vapor−Liquid−Solid Growth of Silicon Nanowires, Nano Lett., Vol. 5 , 2139
– 2143.
192. Y. Zhao, D. Li, W. Sang, D. Yang, and M. Jiang (2007), The optical properties of porous silicon produced by metal-assisted anodic etching, J. Mater. Sci., Vol. 42, 8496 – 8500.
193. Z. L. Yang, J. Aizpurua, and H. X. Xu (2009), Electromagnetic field enhancement
in TERS configurations, J. Raman Spectrosc., Vol. 40, 1343 – 1348.
194. Z. P. Huang, N. Geyer, P. Werner, J. Boor, and U. Gösele (2010), Metal-Assisted
Chemical Etching of Silicon: A Review, Adv. Mater., Vol. XX, 1 – 24.
195. Z. P. Huang, N. Geyer, L. F. Liu, M. Y. Li, and P. Zhong (2010), Metal-assisted electrochemical etching of silicon, Nanotechnology, Vol. 21, 465301.1 – 465301.6. 196. Z. P. Huang, T. Shimizu, S. Senz, Z. Zhang, N. Geyer, and U. Gosele (2010),
Oxidation Rate Effect on the Direction of Metal-Assisted Chemical and Electrochemical Etching of Silicon, J. Phys. Chem. C, Vol. 114, 10683 – 10690. 197. Z. P. Huang, T. Shimizu, S. Senz, Z. Zhang, X. X. Zhang, W. Lee, N. Geyer, and U. Gosele (2009), Ordered Arrays of Vertically Aligned [110] Silicon Nanowires by
Suppressing the Crystallographically Preferred <100> Etching Directions, Nano Lett., Vol. 9 , 2519 – 2525.
198. Z. P. Huang, X. Zhang, M. Reiche, L. Liu, W. Lee, T. Shimizu, S. Senz, and U. Gosele (2008), Extended Arrays of Vertically Aligned Sub-10 nm Diameter [100] Si Nanowires by Metal-Assisted Chemical Etching, Nano Lett., Vol. 8, 3046 – 3051.
199. Z. Q. Gao, A. Agarwal, A. D. Trigg, N. Singh, C. Fang, C. H. Tung, Y. Fan, K. D. Buddharaju, and J. M. Kong (2007), Silicon Nanowire Arrays for Label-Free
Detection of DNA, Anal. Chem., Vol. 79, 3291 – 3297.
200. Z. Y. Jiang, X. X. Jiang, S. Su, X. P. Wei, S. T. Lee, and Y. He (2012), Silicon-
based reproducible and active surface-enhanced Raman scattering substrates for sensitive, specific, and multiplex DNA detection, Appl. Phys. Lett., Vol. 100, 203104-1 – 203104-4.
168
201. Z. Zhou, X. X. Han, G. G. Huang, and Y. Ozaki (2012), Label-free detection of binary mixtures of proteins using surface-enhanced Raman scattering, J. Raman Spectrosc., Vol. 43, 706 – 711.
---------------------------------------

