
Chiêm Thành (Champa) - 10
Triều vương thứ tám (1044-1074) : loạn sứ quân
Quách Gia Gi là một vương tôn thuộc đẳng cấp Ksatriya (chiến sĩ). Sau khi đầu
hàng nhà Lý, ông được triều thần tôn lên làm vua năm 1044, hiệu Jaya
Paramesvaravarman I. Trước một đất nước bị kiệt quệ vì chiến tranh, Quách Gia
Gi một mặt phải giao hảo tốt với Trung Hoa và Đại Việt để được yên thân, mặt
khác tập trung sức lực còn lại bình định loạn lạc ở phía nam. Trước kia, theo thỏa
hiệp giữa Vikrantavarman IV và Surayavarman I (vương quốc Angkor), quân
Khmer vào giúp Chiêm Thành dựng trại tại Panduranga, khi Vikrantavarman IV
mất quân Khmer không những không chịu rút quân về mà còn muốn chiếm giữ
luôn lãnh thổ Panduranga.
Năm 1050, viện cớ một tiểu vương tại Panduranga không tuân phục triều đình
trung ương, Jaya Paramesvaravarman I cùng cháu là hoàng thân Yavaraja
Mahasenapati mang quân chinh phạt và cũng nhân dịp đánh đuổi quân Khmer ra
khỏi lãnh thổ. Tiểu vương Panduranga thua trận, một số binh sĩ và dân chúng đất

Pănrăn (Phan Rang) phải trốn trong các hầm đất, hang động hoặc chạy lên núi
trốn, một số khác chạy theo quân Khmer về bên kia biên giới lánh nạn. Toàn bộ tài
sản, súc vật của dân chúng Pănrăn bị tịch thu mang về Vijaya làm chiến lợi phẩm ;
những tù binh bị mang về làm nô lệ và hạ xuống làm đẳng cấp Sudra. Tiểu quốc
Panduranga bị đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của triều đình trung ương Vijaya.
Trong giai đoạn này, người Chăm chạy loạn lên Tây Nguyên (đặc biệt là cao
nguyên Đắc Lắc) lánh nạn một số đã ở lại định cư vĩnh viễn, hòa trộn với những
nhóm dân cư có trước để thành người Rhadé.
Dẹp xong loạn phía Nam, Jaya Paramesvaravarman I xây dựng lại đất nước. Nhà
vua cho dựng lại các tượng đài bằng đá hoa cương trong tháp Po Nagar, cấp cho
những vị tu sĩ giữ đền 50 nô lệ Chăm, Khmer, Hoa, Miến, Xiêm, 15 cân vàng, 15
cân bạc, và nhiều vật dụng quí giá khác. Nhà vua mất năm 1060, con trai trưởng
lên kế vị hiệu Bhadravarman III, trị vì được một năm (1060-1061) thì mất.

Năm 1061, em trai của Bhadravarman III là Chế Củ lên thay, hiệu Rudravarman
III. Rudravarman III là một người tinh khôn, một mặt giao hảo bình thường nhà
Lý để tránh bị nghi ngờ, mặt khác chuẩn bị quân sĩ tiến đánh Đại Việt. Năm 1068,
Rudravarman III mang quân đánh vào các làng của người Việt tại Ma Linh và Địa
Lý, quân Lý thua phải rút lên phía Bắc.
Năm 1069, Lý Thánh Tôn (lên ngôi năm 1054) cùng Lý Thường Kiệt mang
30.000 quân và 200 chiến thuyền tiến chiếm Sri Bini (Qui Nhơn), rồi đế đô Vijaya
(Bình Định), giết tướng giữ thành là Bố Bì Đà La trên sông Tu Mao (nay là Hà
Giao). Rudravarman III băng rừng chạy sang Chân Lạp tị nạn. Tại đây hoàng gia
Chăm bị người Khmer bạc đãi, Rudravarman III về lại Vijaya chịu cho quân Đại
Việt bắt sống, cùng với 3.000 quân và gia quyến, hơn là qui thuận Angkor. Tuy
vậy thành Vijaya vẫn bị quân Đại Việt tràn vào đốt phá trước khi rút về nước. Dân
số Vijaya lúc đó được ghi nhận là hơn 2.560 gia đình. Để chuộc lại tự do,
Rudravarman III xin dâng ba tỉnh phía bắc Chiêm Thành gồm Bố Chánh (hay Bố
Chính), Địa Lý và Ma Linh (Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay). Lãnh địa
Indrapura bị xóa tên và trở thành ba tỉnh của Đại Việt. Nhà Lý đổi tên Ma Linh

thành châu Minh Linh, Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Bố Chánh được giữ
nguyên tên.
Thật ra ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh đã thuộc về Đại Việt từ lâu, từ đời
nhà Tiền Lê (năm 982), cách đó gần 80 năm. Do sức ép về dân số, nhiều gia đình
nông dân nghèo khó không có đất canh tác trên đồng bằng sông Hồng và sông Cả
đã tự động di cư đến đây rồi khai phá đất hoang và canh tác hoa mầu. Trong cuộc
sống cộng cư, với thời gian, có thể những nhóm di dân cư này đã hòa trộn với các
nhóm dân cư gốc Kinh có mặt từ trước, khi vương quốc Lâm Ấp được thành hình,
hoặc với người Chăm địa phương từ nhiều đời để tạo thành các nhóm "dân miền
Trung". Yếu tố Chăm do đó không còn mạnh mẽ, nếu không muốn nói là mất hẳn
ảnh hưởng trên vùng đất này, nhường chỗ cho yếu tố Kinh, đầy sức sống và đông
đảo hơn. Nói một cách khác, sự dâng đất này là một hình thức công nhận quyền sở
hữu chính thức của nhà Lý trên một vùng đất đã thoát khỏi sự kiểm soát của chính
quyền trung ương Chiêm Thành từ lâu. Sự dâng đất này còn ngụ ý là Chiêm
Thành sẽ không mang quân sang quấy phá nữa, vì thần linh bảo vệ hoàng tộc và
đất đai không còn nữa. Đất ở ba châu này thật ra có phì nhiêu hơn ở vùng Thanh

Hóa (tức châu Điền), nhưng không phì nhiêu bằng đất ở Amavarati (Quảng Nam).
Sự tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành về sau trên phần lãnh thổ này vì tự ái
dân tộc nhiều hơn vì sự mầu mỡ của đất đai.
Sau khi nhượng hẳn cho Đại Việt ba châu phía Bắc, Rudravarman III mất uy tín
trước các tiểu vương. Chiêm Thành bị loạn sứ quân, không ai còn nghe ai nữa.
Hơn mười tiểu vương tự tuyên bố độc lập, kẻ mạnh mang quân đi đánh tiểu vương
quốc yếu để mở rộng lãnh thổ hoặc gây thanh thế. Các tiểu vương ở phía Nam,
liên minh với đế quốc Angkor, biến Panduranga thành trung tâm chống lại vương
triều và các tiểu vương phía Bắc. Năm 1074, buồn phiền trước cảnh đất nước loạn
lạc và bị các tiểu vương phía Nam xua đuổi, Rudravarman III (Chế Củ) dẫn gia
đình sang Đại Việt xin tị nạn và tan biến luôn trong xã hội người Kinh.

