
Chiến tranh lập quốc Israel
1
Do Thái xung phong vào Palestine
Cuốn Bạch thư của Anh chưa kịp đưa ra hội đồng Vạn Quốc thì Thế chiến nổ,
thành thử nó không có giá trị về pháp lý, nhưng người Anh bất chấp pháp lý, cứ
đem ra thi hành, hạn chế sự hồi hương của dân tộc Do Thái đúng vào cái lúc họ
trốn châu Âu để khỏi bị Hitler tiêu diệt.
Vì từ khi lên cầm quyền, bọn Hitler nuôi cái ý tận diệt nòi giống Do Thái, chẳng
những khơi lại lòng kỳ thị tôn giáo mà còn gây thêm lòng kỳ thị chủng tộc nữa.
Họ tuyên truyền rằng giống Do Thái có máu quỉ quyệt, phản bội - xưa kia đã phản
Chúa rồi đấy - không khi nào đồng hóa với các dân tộc khác, sống ở xứ nào cũng
tìm cách làm hại chính phủ; vậy phải tống cổ chúng đi, để khỏi có hậu hoạn và để
cho giống Đức, một giống thông minh nhất, cao thượng nhất thế giới, khỏi bị lai
bậy bạ mà sa đọa.
Người ta cấm đoán Do Thái đủ thứ: cấm hành nghề, cấm vào các chỗ công cộng
như rạp hát, thư viện...; họ chịu không nổi, bỏ hết cả gia sản, nghề nghiệp, xách
một cái va li nhỏ đựng ít quần áo rồi ra đi.
Từ năm 1942, Âu châu thành một lò sát sinh khổng lồ và kinh khủng. Bọn
Hitler dùng đủ các phương pháp khoa học tối tân để giết cho kỳ hết dân Do Thái ở
Đức và các xứ chúng chiếm được. Chúng lùng bắt Do Thái, bóp cổ trẻ con hoặc
dìm đầu vào bể nước, tung lên cao rồi bắn như bắn chim, xé thây, chôn sống, thiêu
sống...

Thấy những trò đó phí sức, phí thì giờ, tốn xăng, tốn đạn mà kết quả không
được bao nhiêu, chúng nghĩ cách chế tạo lò thiêu và hơi ngạt. Chúng dùng oxyde
de carbone, chỉ trong mươi lăm phút giết được mấy trăm mạng, rồi dùng lò thiêu
đốt xác cho ra tro. Nhờ cách đó chúng giết được sáu triệu người Do Thái. Riêng
trại Auschwitz đã thiêu được ba triệu Do Thái! Rồi còn vô số trại khác nữa:
Dachau, Buchenwald, Mauthausen, Birkeneau... Hết chiến tranh, người ta còn thấy
ở Auschwitz những núi giày, những phòng chất đầy nhóc những cặp kính của các
kẻ bạc mệnh, những kho đầy tóc dùng vào việc nhồi đệm, những kho đầy răng
vàng nhổ ở miệng các thây ma ra! Chỉ văn minh Tây phương mới lưu được những
trang sử như vậy cho nhân loại!
Trước cảnh chết chắc chắn và kinh khủng đó, người Do Thái nào trốn thoát
châu Âu được mà không có cách qua châu Mỹ đành xung phong, phá vòng vây
của Anh mà vào Palestine. Năm 1941 và 1942, hai chiếc tàu chở đầy nhóc Do
Thái bị đắm trong Địa Trung Hải và Hắc Hải chỉ vì Anh cấm vào hải phận
Paslestine. Trên ngàn người Do Thái mới thoát được cảnh lò thiêu Dachau,
Auschwitz thì lại phải làm mồi cho cá mập. Nhiều người Do Thái uất ức chửi Anh:
"Tụi đó cũng chó má như tụi Đức, không kém gì".
Thất bại bi thảm, nhưng họ không nản chí, xung phong một chuyến thứ ba nữa
và năm 1946 thành công. Ba trăm trẻ em Do Thái trốn thoát một trại giam của Anh
trên đảo Chypre, xuống được chiếc tàu Exodus và đậu ngay gần bờ, cương quyết
đòi được qua Palestine, nếu không thì tuyệt thực. Họ tuyệt thực thật, tới ngày thứ
tư, mười em sắp tắt thở, cả thế giới công phẫn, chính phủ Anh đành chịu thua, cho
tàu Exodus nhổ neo lại Palestine.[27]
Chiến tranh Ả rập - Israel

Trước kia Anh là ân nhân thì bây giờ thành kẻ thù của Do Thái. Ở Palestine Do
Thái vừa phải chống với Anh, vừa phải chống với Ả Rập. Bị đặt vào tử lộ, họ phải
đoàn kết với nhau mà chiến đấu và chiến đấu rất hăng.
Đoàn tự vệ Hagana được khuếch sung, họ tổ chức thêm các đoàn nghĩa quân
khác: Irgoun, Stern, hoặc chuyên xung phong, hoặc chuyên ám sát. Ả Rập cũng
bất bình, tấn công cả Do Thái lẫn Anh. Palestine hỗn loạn không tưởng tượng nổi.
Cả ba dân tộc đều thù nghịch nhau và dân tộc nào cũng thù địch cả hai mặt.
Anh bất lực, đề nghị một giải pháp: họp hội nghị bàn tròn để tìm hiểu quan
điểm của nhau. Nhưng đại biểu Ả Rập không thèm ngồi chung với đại biểu Do
Thái; không ai thỏa thuận với ai cả. Anh và Ả Rập bác bỏ đề nghị của Do Thái;
Do Thái và Anh bác bỏ đề nghị của Ả Rập; Ả Rập và Do Thái cũng bác bỏ đề nghị
của Anh.
Do Thái bảo:
- Tổ tiên chúng tôi ở Palestine. Chúng tôi có quyền về quê hương của chúng tôi.
Quyền đó đã được Hội Vạn Quốc thừa nhận. Chúng tôi lại có công khai phá
Palestine mà không làm hại gì cho người Ả Rập; chúng tôi tôn trọng quyền lợi của
họ, và mức sống của họ nhờ chúng tôi mà cao lên, thế thì tại sao lại cấm chúng
tôi? Huống hồ hiện nay có 250.000 đồng bào của chúng tôi sống sót tại các trại
giam của Đức, bảo họ đi đâu bây giờ?
Ả Rập bảo:
- Đất Palestine, tổ tiên chúng tôi đã chiếm được từ năm 687, sau ba năm chiến
đấu với người Ba Tư, vậy thì đâu còn là của Do Thái nữa. Từ trước chúng tôi vẫn
là dân tộc đa số ở đây khi đế quốc Thổ sụp đổ, Anh đã hứa cho chúng tôi độc lập,

Tổng thống Wilson đã nêu quy tắc dân tộc tự quyết. Vậy Palestine phải là một
quốc gia Ả Rập độc lập. Chúng tôi hứa sẽ tôn trọng quyền lợi của Do Thái, phần
thiểu số trong quốc gia chúng tôi.
Anh đã lỡ hứa cho cả hai bên, không biết đáp ra sao, trút cả trách nhiệm cho
Liên hiệp Quốc. Liên hiệp Quốc đưa giải pháp: chia đôi Palestine thành hai quốc
gia. Do Thái chịu vì thà được ít còn hơn không, sau sẽ hay; nhưng Ả Rập nằng nặc
đòi đuổi Do Thái đi.
Anh thấy ôm miếng đất đó chỉ thêm bỏng tay, tuyên bố ngày mùng một tháng
tám 1948 sẽ rút lui, để "hai bên lãnh trách nhiệm với nhau".
Tức thì hai bên thanh toán nhau dữ dội hơn trước nữa. Liên hiệp Quốc chưa kịp
can thiệp thì Anh tỏ ra bất lực mà lại có tinh thần vô trách nhiệm, quyết định chấm
dứt nhiệm kỳ hai tháng rưỡi trước ngày đã định. Tháng 5 họ rút quân lần lần và
giao lại năm mươi đồn cho người Ả Rập.
Rồi ngày 12-5, với tinh thần phớt tỉnh truyền thống của họ, họ tuyên bố:
"Ủy quyền sẽ chính thức mãn hạn vào mười hai giờ một phút trong đêm 14 rạng
15 tháng 5. Tổng ủy đại nhân, ngày 14-5 sẽ rời Jérusalem mà đi Haìfa và xuống
tàu H.M.S Euryalus, chiếc này sẽ nhổ neo mười hai giờ khuya. Các quân đội của
ta cũng bắt đầu rút ra khỏi Jérusalem và các miền khác ở Palestine ngày 14 tháng
5".
Nghĩa là họ chỉ tuyên bố trước có hai ngày rưỡi vào đúng lúc ủy ban Liên hiệp
Quốc không có mặt ở Palestine.

Ngày 14-5, hồi 16 giờ, vị lãnh tụ Do Thái, Ben Gourion, tuyên bố giữa quốc hội
Do Thái họp ở Tel Aviv:
"Tôi tuyên bố thành lập một quốc gia Do Thái ở Palestine. Kể từ hôm nay, quốc
gia đó lấy tên là Israel. Hỡi các đồng bào Do Thái ở khắp thế giới xin các bạn
nghe tôi đây. Các bạn đứng hết cả về phía Israel. Giúp cho quốc gia phát triển.
Giúp cho dân tộc chiến đấu để thực hiện cái mộng ngàn năm của chúng ta, cái
mộng cứu quốc và phục hưng Israel".
Đêm hôm đó, không người Do Thái nào ngủ được. Đúng nửa đêm. Anh hết
quyền ở Palestine, thì nửa giờ sau Tổng thống Truman loan báo rằng Hoa Kỳ đã
thừa nhận quốc gia Israel. Vài giờ sau Nga cũng đánh điện thừa nhận, không biết
hai chục triệu người Hồi giáo ở Nga nghĩ sao. Sau Nga, tới nhiều quốc gia khác.
Các nhà ngoại giao Do Thái hoạt động ngầm trong mấy tháng nay đã thành công.
Nhưng bây giờ mới bắt đầu tới lúc phải hy sinh ghê gớm. Bi kịch đã khai diễn
ngay từ cái lúc bản văn thành lập quốc gia Israel chưa ráo nét mực.
Bom đạn nổ ở khắp nơi, ở phía Bắc, phía Đông, phía Nam. Quân đội Ả Rập tấn
công từ mọi biên giới.
Vua Abdallah xứ Transjordanie, người có cảm tình nhất với Do Thái, cũng
tuyên bố với Liên hiệp Quốc rằng quân đội của ông bắt buộc tiến vào Palestine để
che chở những người Ả Rập sinh trưởng tại đó khỏi bị Do Thái tiêu diệt. Đồng
thời hai đạo quân Ai Cập tiến vào Gaza và Hébron trong sa mạc Neguev. Hai đạo
quân khác của Transjordanie bao Hắc Hải, tiến vào Jérusalem và phía dưới
Sodome. Một đạo quân lính chặn phía Nam Gahlée, một đạo quân Syrie tấn công
Tibériade, Safed. Một đạo quân nữa của Liban tấn công phía Bắc Galilée, đổ về
Haifa. Tel Aviv bị tấn công cả ba mặt. Có một điều lạ là Ibn Séoud đầu năm 1945,

