intTypePromotion=1

Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền Trung (1802-1883)

Chia sẻ: Nguyen Nguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
3
lượt xem
0
download

Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền Trung (1802-1883)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài “Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền Trung (1802-1883)” nghiên cứu về công cụ “quyền lực mềm” đã được triều Nguyễn sử dụng như một chính sách cai trị và được áp dụng lần đầu tiên tại vùng núi miền Trung Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền Trung (1802-1883)

  1. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Bùi Tiến Huân _____________________________________________________________________________________________________________ CHÍNH SÁCH “GIÁO HÓA” CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI VÙNG NÚI MIỀN TRUNG (1802-1883) BÙI TIẾN HUÂN* TÓM TẮT Đề tài “Chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn đối với vùng núi miền Trung (1802-1883)” nghiên cứu về công cụ “quyền lực mềm” đã được triều Nguyễn sử dụng như một chính sách cai trị và được áp dụng lần đầu tiên tại vùng núi miền Trung Việt Nam. ABSTRACT “Cultivation” policy of the Nguyen dynasty for the people on the mountains in the Central Vietnam(1802-1883) The article is about the result of the research on “Cultivation policy of the Nguyen dynasty for the people on the mountains in the Central Vietnam (1802-1883)” that shows the "soft power" tool was used by the Nguyen dynasty as a ruling policy firstly applied on the mountains in the Central Vietnam. 1. Vài nét về chính sách “giáo hóa” chính quyền Đàng Trong và ngoại quốc. của triều Nguyễn tại vùng núi miền Vùng núi miền Trung còn là vùng “phên Trung (1802-1883) dậu” phía tây của kinh đô Huế. Vùng núi miền Trung dưới triều Kế tục quản lý một khu vực tự Nguyễn bao gồm miền tây các tỉnh nhiên và chiến lược quan trọng nhưng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng cũng hết sức phức tạp, do các triều trước Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, để lại, ngay từ khi mới lên nắm quyền lực Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, chính trị trong cả nước, triều Nguyễn đã Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và cho ban hành và thực hiện một chính Bình Thuận ngày nay, và các châu “ki sách quản lý nhà nước mang tính toàn mi” gồm: Cửu Châu ki mi, Trấn Ninh, diện trên cả vùng núi của miền Trung, từ Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên, Lạc tổ chức hành chính, trị an, cho đến phát Biên, Trấn Nam,... Đó là một khu vực triển kinh tế và giáo hóa nhân dân, tức rộng lớn, tiếp giáp tới tận bờ bắc của bao gồm cả về chính trị, quân sự, kinh tế, sông Khung. Đây là nơi cư trú của hơn văn hóa và xã hội, mà một trong những 20 tộc người bản địa và nhiều nhóm tộc chính sách nhằm góp phần duy trì trật tự người ngoại phiên khác. Vùng núi miền trị an và cố kết cộng đồng dân tộc – quốc Trung chiếm trọn phần phía đông và một gia ở vùng núi miền Trung là chính sách phần phía tây của dãy Trường Sơn, là nơi “giáo hóa” của triều đình Nguyễn. Chính cung cấp những nguồn hàng quý hiếm cho sách đó được triều Nguyễn kế thừa và phát triển từ các chính sách đối với biên * ThS, Viện Nghiên cứu Giáo dục cương của các triều đại Lý, Trần, Lê, và Trường Đại học Sư phạm TP HCM có tham khảo cả những biện pháp áp . 123
  2. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Số 26 năm 2011 _____________________________________________________________________________________________________________ dụng của triều Thanh đối với các nước cống năm nay tới Kinh để thưởng cho. Vả lân bang. Bài viết này nhằm trình bày về lại họ ở nơi xa lánh, từ trước đến nay, chính sách “giáo hóa” của triều Nguyễn chưa từng tập quen lễ độ, nay mới mặc đối với vùng núi phía tây của mảnh đất phẩm phục mà đã có thể đến lạy ở chốn miền Trung, một hình thức đặc biệt trong điện đình không sai nghi thức, thực là do chủ trương lan tỏa văn hóa, lấy phát triển lòng thành khẩn hướng theo phong hóa, văn hóa để cố kết cộng đồng dân tộc, trẫm rất khen nên cho thêm 3 người Thổ nhằm làm cho “phên d ậu” được vững tri châu, 6 người Đại hành, 17 người Thổ chắc, đồng thời qua đó chúng tôi cũng chỉ lại mục áo sa đều 1 cặp, 10 người đầu ra những mặt hạn chế của triều Nguyễn mục áo sa đều 1 cái, để cho họ đều biết trong chính sách nói trên. quen mặc áo mũ mà dần dần tiến đến 2. Việc thực thi chính sách “giáo thánh giáo mãi mãi” [5, tr. 855]. hóa” của triều Nguyễn tại vùng núi Cùng với việc ban áo mũ, vua Minh miền Trung (1802-1883) Mạng còn ban “tên họ” cho các thổ tri Vùng núi miền Trung dưới triều châu: “Thổ tri châu Mường Vanh là Kiềm Nguyễn, nơi tiếp giáp với các quốc gia cho họ Lâm, thổ tri châu Na Bôn là Xiết láng giềng là Lào và Campuchia, nơi cư cho họ Thạch, thổ tri châu Thượng Kế là trú của đông đảo các tộc người thiểu số ở Phủ cho họ Khâu, thổ tri châu Tá Bang Việt Nam, trở thành địa bàn chiến lược là Chiêu cho họ Lĩnh, thổ tri châu X ương (phên dậu) của đất đế đô về phía tây. Tại Thịnh là Khả cho họ Sơn, thổ tri châu đây, triều Nguyễn chủ trương thực thi Tầm Bồn là Nội cho họ Hướng, thổ tri chính sách “giáo hóa” đối với đồng bào châu Ba Lan là Ngân cho họ Đồng, thổ các dân tộc, xem đó là nhiệm vụ tối quan tri châu Mường Bổng là Huân cho họ trọng trong quá trình gắn kết họ với triều Cốc, thổ tri châu Làng Thìn là Đôn cho đình và với cộng đồng chung của dân tộc họ Thiết” [5, tr. 855-856]. Hay đối với Việt Nam, với mục đích đảm bảo vấn đề những vùng đất mới mở ở miền tây trật tự trị an nơi biên cương của quốc gia Thanh – Nghệ, các viên chức cấp phủ, và thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng của huyện được bổ dụng quan chức nhưng các dân tộc ở Việt Nam. tên gọi còn theo thổ tục, cũng đã được Chủ trương trên đây đã được thể nhà vua ban cho họ “Tại Nghệ An: Thổ hiện qua chỉ dụ của vua Minh Mạng vào Tri huyện Huyện Liêm thuộc phủ Trấn năm 1829. Lúc bấy giờ, chín châu đạo Ninh tên là U ẩn, nay ban cho họ Triển; Cam Lộ đưa đến Kinh đô Huế 9 con voi hoặc Thổ Huyện thừa tên là Đông X ỉ đực xin được cống tiến và tạ ơn triều được nhà vua ban cho họ Đông, tên Hỉ… đình, nhà vua bèn bảo với bộ Lễ rằng: Tại Thanh Hóa: Thổ Tri huyện huyện “Chín châu thần thuộc triều đình đã lâu. Trình Cố, thuộc phủ Trấn Man tên là La, Năm ngoái biên cảnh có việc, mới nghe được nhà vua ban cho họ Cảm, tên là hịch triệu thì hưởng ứng ngay. Trẫm thấy Hóa...” [6, tr. 275 -276]. lòng thành cảm kích nên chuẩn cho kỳ 124
  3. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Bùi Tiến Huân _____________________________________________________________________________________________________________ Theo Minh Mạng, việc thực hành mang tính hợp lý và thân dân. Điều này “giáo hóa” để các nhóm dân tộc thiểu số phụ thuộc vào người đứng đầu chính tiến bộ ngang với người Kinh là một điều quyền ở địa phương, mà trước hết là các tối cần thiết, nhưng phải làm từng bước, viên quan của tỉnh, huyện do nhà nước không thể làm nhanh, gây đột ngột, khiến cử. Do đó, Minh Mạng cho ban bố một người ta khó lòng tuân phục và chịu theo. bản quy định cụ thể về các chức danh, Hơn nữa, việc đặt huyện, lập phủ tất phải nhiệm vụ của những người đứng đầu các có quan cai trị và lính canh giữ, nhưng cấp chính quyền ở địa phương nhằm phát vua cho rằng việc cần thiết là quan trên huy cao nhất nhiệm vụ giữ gìn an ninh ở phải thể hiện sự gương mẫu, giữ mình vùng biên cương và giáo hóa nhân dân trong sạch, tuyên dương uy đức của triều các dân tộc, vì lẽ họ đều là “những con đình, cốt cho “dân Man” hiểu biết mà đỏ” của triều đình. Theo quy định đó, các cảm mến, thổ mục sợ oai mà bỏ dần thói quan chức người Kinh có nhiệm vụ phải cũ, nhiễm theo phong hóa của người “giáo hóa” cho nhân dân miền núi, còn Kinh. các quan chức người thiểu số thì lo việc Vào năm 1832, triều đình đổi trấn quản dân và thu thuế, dưới sự chỉ đạo của Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và quan trên. triều thần cho rằng: “Trấn Thuận Thành Công cuộc “giáo hóa” ở đây hoàn là nước Chiêm Thành xưa, thần phục toàn do người Kinh nắm giữ. Và triều triều đình hơn 200 năm nay, hằng năm đình có khuyến khích một số con em các dâng cống sản vật địa phương, nhân dân thổ tù đi học để về làm quan thay cho ở lẫn lộn với tỉnh Bình Thuận. Khoảng người Kinh làm nhiệm vụ này. Đồng niên hiệu Gia Long (1802-1819) mới đặt thời, để tạo sự hòa hợp, ăn ý giữa các ra quan chức, viên dịch, thấy thấm nhuần quan lại người Kinh và người dân tộc tai mắt, dần thành thói Kinh; nếu thêm trong hoạt động quản lý lãnh thổ, cai trị vào đó bằng chính trị và giáo hóa, dùng nhân dân, nhà Nguyễn còn cho phép đưa lối người Kinh thay thói người Hời thì thầy giáo người Kinh lên dạy chữ cho không ngoài vài mươi năm, tưởng có thể con em đồng bào các dân tộc thiểu số ở không khác gì người Kinh vậy… Vậy xin miền núi. Và Trương Đăng Quế, sau khi đặc cách sai quan Kinh một phen kinh lý phụng mệnh vua Minh Mạng đi kinh lý ở để cho sự thể được giống như người tỉnh Thanh Hóa trở về, cũng đã tâu bày: Kinh” [6, tr.391]. “Dân thổ từ trước đến nay chỉ làm đầy tớ Mục đích của nhà vua vốn rất tốt thổ tù, phàm con em thổ tù mới được đón đẹp, mang tầm nhìn toàn diện, có lý có thầy học tập, còn lại đều ngăn cấm, nên tình. Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng duy nhất thổ dân phần nhiều ngu dốt bị mê hoặc; các biện pháp giáo hóa cho vùng núi nay xin cho các viên huyện châu chọn miền Trung thì không đủ, mà cùng với con em thổ dân, những người hơi sáng chính sách “giáo hóa” cần phải có thêm suốt, dạy cho học chữ để biến đổi phong các chính sách về kinh tế và chính trị tục của người Man” [8, tr. 76-77]. . 125
  4. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Số 26 năm 2011 _____________________________________________________________________________________________________________ Cũng dưới triều Nguyễn, triều đình mở trường dạy học. Tính chất một chiều cho đặt chức Huấn đạo tại mỗi tỉnh, nhất trong “giáo hóa” còn được thể hiện ngay là ở tỉnh lớn, để đảm nhận nhiệm vụ cả ở người đứng đầu quốc gia. Đó là việc “giáo hóa” dân chúng, tuy nhiên tại vua Minh Mạng đã từng khiển trách một những vùng núi thì tuỳ theo địa bàn mà viên quan khi ông này chủ trương cho có thể chỉ đặt chức Tổng giáo. Vào năm người Kinh học “tiếng Man”. Theo nhà 1874, nhà nước cho phép các tỉnh, đạo có vua, triều đình phải tìm ra những “người thổ dân thuộc hạt muốn đi học thì liệu lý Man” có tố chất để học tiếng Kinh chứ đặt các chức quan chăm lo về dạy học. không nên làm ngược lại. Và một trong những nội dung quan trọng Lối tư duy một chiều, cùng với cái trong chính sách giáo hóa là việc truyền nhìn cực đoan đã khiến cho chính sách bá Nho học, nhằm củng cố lòng trung “giáo hóa” tại vùng núi miền Trung thành đối với nhà vua và sự phục tùng không được trọn vẹn, và hệ quả tất yếu là đối với nhà nước trung ương. vùng núi miền Trung đã không theo kịp Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện với tiến trình phát triển ở vùng đồng bằng chủ trương này, các viên chức thừa hành và duyên hải, khiến các khu vực trên lãnh địa phương đã áp dụng một cách cứng thổ Đại Nam phát triển bất tương xứng. nhắc, mang tính áp đặt và một chiều. Những ghi chép về tình hình địa lý, điều Những ghi chép về các đoàn quân viễn kiện sinh thái nhân văn của các tộc người chinh của Đại Nam trong nỗ lực bình thiểu số, cũng như những thông tin về định những vùng đất mới đều không cung vùng núi rất hiếm gặp trong các tác phẩm cấp cho chúng ta những thông tin hữu ích khảo cứu của triều đình. “Vũ man tạp lục về một chính sách “giáo hóa”. Bóng dáng thư” của Nguyễn Công Tấn là một công của những viên chức có nhiệm vụ khai trình quý song thuộc loại hiếm hoi, ít gặp. hóa, tuyên dụ những hình ảnh tốt đẹp và Tác phẩm đã cung cấp cho chúng ta cao quí về uy đức của nhà vua là quá ít ỏi những thông tin có giá trị về vùng núi ở so với những nhiệm vụ cấp thời trong Quảng Ngãi, vốn là địa bàn cư trú của việc ổn định tình hình quân sự, chính trị. người “M ọi Đá Vách”, một nhóm tộc Các viên toàn quyền, tổng đốc, tham tán, người thiểu số hay có những hành động án sát, bố chính nắm giữ quyền lực chỉ chống lại triều đình. biết sử dụng sức mạnh về quân sự hơn là Trong quá trình thực hiện chính phát huy sức mạnh của “quyền lực mềm”, sách “giáo hóa” tại vùng núi miền Trung do đó những ảnh hưởng về mặt “giáo cụ thể là ở khu vực ngoại biên, các viên hóa” vẫn chủ yếu nằm ở ý chí chính trị chức thừa hành của triều Nguyễn đã vì hơn là thực tế. Cũng do đó mà những ghi những nhiệm vụ trước mắt nên thường có chép về vùng núi hay những vùng đất xu hướng sử dụng vũ lực để trấn áp hơn mới hầu như chỉ là đề cập đến các cuộc là chăm lo “giáo hóa” cho nhân dân. nổi loạn của người thiểu số và hành động Công cụ “quyền lực mềm” này đôi lúc bị trấn áp từ phía quan quân triều đình, mà các viên chức thừa hành cấp địa phương, hầu như vắng bóng các ghi chép về việc cấp vùng xem nhẹ, thậm chí cố tình bỏ 126
  5. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Bùi Tiến Huân _____________________________________________________________________________________________________________ qua. Do đó những dấu vết của Đại Nam khi kết hợp với những chính sách phát in hằn lên những vùng đất mới được mở triển về kinh tế và xã hội, và trên hết là rộng như Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn một vị minh quân thân dân thì mới mong Biên, Trấn Định hay Cửu Châu ki mi thì có được một đất nước ổn định và phát hầu như bị xoá sạch sau khi quân đội triển. Nhưng thực tế, triều Nguyễn đã triều Nguyễn rút về phía bên này biên không làm được như vậy. Cũng như giới. người Pháp sau này, triều Nguyễn chỉ Thay vì thực thi những chính sách mới cố gắng nắm lấy tầng lớp bên trên “giáo hóa” để giúp cho quá trình “hội của xã hội miền núi – tức bộ máy thống nhập” quốc gia của vùng núi, thì triều trị - để duy trì những ảnh hưởng và quyền Nguyễn, với cái nhìn cực đoan, đã xem lực của mình. Còn đại bộ phận nhân dân vùng núi, nơi cư trú của đông đảo các tộc ở bên dưới đã không thực sự được quan người thiểu số, là vùng an ninh, nặng về tâm và vẫn chịu cảnh ngu muội, hạn chế cai trị, trấn giữ hơn là thúc đẩy, hội nhập về nhiều mặt. Trong khi sự phát triển của sâu rộng về văn hóa. Ngay cả Nguyễn chủ nghĩa tư bản đã đạt tới đỉnh cao và Văn Tường, trong bản tấu sớ dâng vua mọi vùng đất vốn tưởng chừng như bất Tự Đức vào tháng 7 năm 1870, cũng đã khả xâm phạm, khó ai có thể đến được, có những lời cảnh báo như sau: “Ngư ời thì nay dấu chân của các nhà truyền giáo xưa có nói: “được một viên quan huyện và thương nhân đã lan toả trên khắp địa tốt hơn là có 1.300 quân tinh nhuệ, được cầu. Họ từng bước gây dựng, thiết lập 1 quan phủ tốt hơn là có 3 vạn quân tinh được những ảnh hưởng của mình và lôi nhuệ”. N ếu không có chính sự hà khắc kéo đồng bào các dân tộc miền núi đi thì sẽ không có phản nghịch lớn” [10, tr. theo họ, gây nên những trở ngại lâu dài 1259]. Do đó, không thể đổ lỗi cho chính cho quá trình hòa hợp, cố kết dân tộc - sách lưu quan, và lại càng không thể chấp quốc gia ở Việt Nam. nhận việc quay trở lại với chế độ thổ 2. Chính sách “giáo hóa” của triều quan. Nguyễn tại một địa bàn rộng lớn, đa sắc 3. Kết luận tộc, đa văn hóa, có trình độ phát triển 1. Có thể nói, chủ trương “giáo khác nhau và tiến trình hội nhập quốc gia hóa” tầng lớp trên ở miền núi và thông sớm muộn khác nhau, đặt trong bối cảnh qua đó để gắn kết cộng đồng dân tộc – của thời đại, có những hạn chế nhất định, quốc gia, thúc đẩy sự phát triển toàn diện song ở một mặt nào đó, nó cũng đã thành (kinh tế, trị an, văn hóa…) tại vùng núi công trong mục tiêu bảo vệ nền trật tự trị miền Trung nhằm đẩy nhanh tiến trình an ở vùng núi và giữ vững công tác quốc hội nhập đất nước là một chính sách đúng phòng ở biên cương, tạo điều kiện cho sự đắn của triều đình nhà Nguyễn, nhưng nó vững bền của vương triều và đặt nền đã bị thất bại trước những yêu cầu thực tế móng cho công cuộc xây dựng cộng đồng của lịch sử và xu hướng phát triển của quốc gia thống nhất – đa dân tộc, đa văn thời đại. Bởi chính sách “giáo hóa” chỉ có hóa Việt Nam. thể phát huy hết ý nghĩa và giá trị của nó (Xem tiếp trang 144) . 127
  6. Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version) http://www.simpopdf.com Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Số 26 năm 2011 _____________________________________________________________________________________________________________ TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Đức Cung (1998), Lịch sử vùng cao qua V ũ man tạp lục thư, Nxb Nhật Lệ. 2. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam ( X-XIX), Nxb Chính trị Quốc gia, HN. 3. Henri Maitre (2008), Rừng người Thượng (Phần III), Nxb Tri thức, HN. 4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T1), Nxb Giáo dục, HN. 5. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T2), Nxb Giáo dục, HN. 6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T3), Nxb Giáo dục, HN. 7. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T4), Nxb Giáo dục, HN. 8. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T5), Nxb Giáo dục, HN. 9. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T6), Nxb Giáo dục, HN. 10. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T7), Nxb Giáo dục, HN. 128

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản