Bé quèc phßng
Häc viÖn chÝnh trÞ
TRÞNH XU¢N VIÖT
CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
luËn ¸n tiÕn SÜ kinh tÕ
Hµ Néi - 2015
Bé quèc phßng
Häc viÖn chÝnh trÞ
TRÞNH XU¢N VIÖT
CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyªn ngµnh: Kinh tÕ chÝnh trÞ
M· sè : 62 31 01 02
luËn ¸n tiÕn SÜ kinh tÕ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS Nguyễn Minh Khải
2. PGS, TS Bùi Ngọc Quỵnh
Hµ Néi - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là
trung thực, các tài liệu được trích dẫn đúng quy định và
được ghi đầy đủ trong danh mục tài liệu tham khảo.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trịnh Xuân Việt
MỤC LỤC
Trang 5 11
27 1.1. 27 1.2. 42 1.3.
TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH MỞ ĐẦU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC Những vấn đề lý luận chung về độc quyền, độc quyền doanh nghiệp trong kinh tế thị trường Khái niệm, nội dung và sự cần thiết chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong chống độc quyền doanh nghiệp và một số bài học rút ra đối với Việt Nam
59
78 78 2.1. 2.2. 87 2.3. 123
3.1.
131
3.2.
131
139 170
172
Chương 2 THỰC TRẠNG CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Tình hình độc quyền doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua Một số vấn đề đặt ra về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI Quan điểm cơ bản về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới Giải pháp chủ yếu về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới
KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
174 184
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương 1
2 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
4 EU Liên minh Châu Âu
5 NXB Nhà xuất bản
6 M&A Hoạt động mua bán và sát nhập
7 KTTT Kinh tế thị trường
8 TCT Tổng công ty
9 TĐKT Tập đoàn kinh tế
9 TTKT Tập trung kinh tế
10 TBCN Tư bản chủ nghĩa
11 VCAD Cục Quản lý cạnh tranh
12 XHCN Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1 Bảng 1.1: Xu hướng thay đổi mức phạt đối cá nhân vi phạm pháp 67 luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của một số quốc gia
2 Bảng 1.2: Thống kê nhân lực của cơ quan quản lý cạnh tranh 69 ở một số quốc gia
3 Bảng 2.1: Thống kê ngành, lĩnh vực được đánh giá cạnh tranh 92
4 Bảng 2.4: Thống kê tăng, giảm giá bán lẻ xăng, dầu từ năm 106 2005 đến nay
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
STT Tên hình, đồ thị Trang
83 1 Hình 2.1: Số lượng và giá trị M&A tại Việt Nam (2003 –
Q1/2012)
93 3 Hinh 2.2: Thống kê các vụ việc hạn chế cạnh tranh trong giai
đoạn từ 2006 đến 2013
2 Đồ thị 2.1: Giá xăng và dầu diesel trong năm 2013 107
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu
Đề tài “Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” được nghiên cứu sinh ấp ủ từ lâu.
Để triển khai đề tài này, nghiên cứu sinh đi từ cơ sở lý luận và thực tiễn
chống độc quyền doanh nghiệp, trong đó tập trung xây dựng quan niệm và nội
dung chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, đánh giá thực trạng chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế
nước ta, từ đó đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu trong
chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Những vấn đề được luận
giải trong đề tài, một mặt là sự kế thừa có chọn lọc một số quan điểm của một
số học giả trong và ngoài nước, mặt khác là sự nỗ lực nghiên cứu của tác giả
dưới sự chỉ bảo, định hướng của các cán bộ hướng dẫn.
Kết quả nghiên cứu của luận án được trình bày trong 172 trang, sử dụng
133 danh mục tài liệu tham khảo. Kết cấu gồm phần mở đầu, tổng quan vấn đề
nghiên cứu, ba chương, 8 tiết, phục lục, danh mục công trình khoa học của tác
giả, danh mục tài liệu tham khảo. Phần chính của luận án tập trung vào ba
chương với dung lượng 148 trang , đã trình bày những vấn đề cơ bản mà nghiên
cứu sinh lựa chọn nghiên cứu, để trả lời cho được các câu hỏi cốt lõi mà bản thân
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay thì ai
sẽ là người chống ? chống những vấn đề gì ? và chống bằng cách nào ?
nghiên cứu sinh đặt ra và cần phải giải quyết, đó là: Chống độc quyền doanh
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Độc quyền hoặc khống chế thị trường là ước mơ của hầu hết các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, việc hình thành các doanh nghiệp độc quyền trên thị trường rất
dễ dẫn tới tình trạng doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó nhằm thu lợi nhuận độc
quyền cao, làm ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế, xã hội cũng như người tiêu
6
dùng. Khi có vị trí độc quyền, doanh nghiệp hoàn toàn có thể thao túng thị
trường theo quyền lực thị trường của mình. Theo đó, doanh nghiệp có thể áp
đặt những điều kiện có lợi cho mình nhằm thu lợi nhuận cao, thông qua
những hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho xã hội, cho người tiêu dùng.
Một khi doanh nghiệp giữ vị thế độc quyền, khách hàng buộc phải tuân theo
các điều kiện áp đặt của họ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể chi phối, lũng
đoạn thị trường, làm cho nền kinh tế mất ổn định từ đó ảnh hưởng không tốt
đến tình hình chính trị, xã hội. Vì vậy, việc chống các hành vi độc quyền của
doanh nghiệp là hoạt động vô cùng cần thiết của bất kỳ quốc gia nào.
Nhận thức rõ những tác động tiêu cực của độc quyền doanh nghiệp tạo
ra, Đảng ta chủ trương “thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh
doanh, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp”, đồng thời “hoàn thiện cơ chế, chính
sách để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh
tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả. Xoá bỏ độc quyền và đặc
quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước” [40,tr 25]. Tuy nhiên,
tình hình độc quyền doanh nghiệp vẫn tồn tại với nhiều diễn biến phức tạp.
Tình trạng lạm dụng độc quyền, sự biến tướng của độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp, các hoạt động hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp
độc quyền... đã ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, người tiêu dùng và môi trường
cạnh tranh của nước ta. Trong khi đó, hoạt động chống độc quyền doanh
đối xử giữa các doanh nghiệp vẫn tồn tại; hoạt động chống ấn định giá sản
phẩm bất hợp lý chưa hiệu quả, các hiện tượng tăng giá, bảo hộ, lợi ích của
Nhà nước bị xâm phạm và lợi dụng để phục vụ cho một số nhóm người,
người dân không được hưởng đầy đủ những quyền lợi mà xã hội tạo ra... đã
và đang ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh tế, xã hội của nước ta. Bên
cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa thị trường thông qua việc ký kết và gia
nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đã và sẽ xuất hiện
những công ty đa quốc gia hoạt động ở Việt Nam. Với sức mạnh kinh tế của
nghiệp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, tình trạng phân biệt
7
mình, các công ty này có khả năng tạo lập được vị thế độc quyền để thực hiện
quyền lực thị trường của họ. Tình trạng loại bỏ đối thủ để chiếm đoạt thị
trường, thiết lập vị trí độc quyền sẽ diễn ra. Trong bối cảnh đó, các doanh
nghiệp Việt Nam với tiềm lực hạn chế dễ bị tổn thương, hoặc bị thao túng trở
thành những công ty con, công ty vệ tinh cho các tập đoàn đó. Những điều
trên đặt ra những nghi ngại xung quanh vấn đề chống độc quyền doanh
nghiệp ở nước ta hiện nay.
Dưới góc độ lý luận, chống độc quyền doanh nghiệp thực sự là vấn đề
phức tạp, có liên quan và tác động đến nhiều lĩnh vực nên đã thu hút sự quan
tâm nghiên cứu trong xã hội dưới nhiều giác độ, phạm vi khác nhau và đạt
những kết quả nhất định. Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về chống độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu đặt ra là cần tiếp
tục làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn vấn đề trên, từ đó đề xuất quan điểm
và giải pháp phù hợp trong chống độc quyền doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu
xây dựng một nền kinh tế ổn định và phát triển. Với ý nghĩa đó, tác giả lựa
chọn đề tài: "Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta hiện nay" làm luận án tiến sĩ kinh tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về chống độc quyền doanh
trạng chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta. Từ đó đề xuất những giải pháp
cơ bản chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta trong thời gian tới.
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khảo cứu, đánh giá thực
* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn về chống độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trên cơ sở hệ thống hóa
những vấn đề chung về độc quyền, độc quyền doanh nghiệp, luận án tập trung
vào xây dựng khái niệm trung tâm và nội dung chống độc quyền doanh
8
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khảo sát kinh nghiệm
các nước: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc trong chống độc quyền doanh nghiệp
như, từ đó rút ra một số bài học đối với Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta hiện nay,
với việc chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong chống độc quyền
doanh nghiệp, và những vấn đề đặt ra trong chống độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế của nước ta.
- Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu về chống độc quyền
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án không nghiên cứu chống độc quyền nói
chung mà chủ yếu tập trung vào nghiên cứu chống độc quyền trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
- Phạm vi nghiên cứu: về mặt không gian được xác định là trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; thời gian nghiên cứu khảo
sát từ năm 2005 đến nay; về mặt nội dung: tập trung vào những vấn đề cơ bản
về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam.
5. Cở sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp các
phương pháp trong đó lấy phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử làm phương pháp luận chung trong nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên ngành: Dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
chung, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị
Mác - Lênin: phương pháp trừu tượng hoá khoa học, làm cơ sở trong việc nghiên
cứu triển khai. Bên cạnh đó, luận án coi trọng việc điều tra, tổng kết thực tiễn,
phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, phương pháp lô gic - lịch sử, điều tra xã
* Phương pháp nghiên cứu
9
hội học, thống kê, so sánh, khảo sát,… để nghiên cứu, từ đó khái quát hóa nêu lên
những kiến nghị hoàn thiện giải pháp. Các phương pháp được sử dụng cụ thể là:
- Hệ thống hóa các văn bản chính sách cạnh tranh, độc quyền, nhất là
các quy định, chính sách, pháp luật, thể chế tác động trực tiếp, gián tiếp đến
cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp, từ đó đưa ra các nhận định, đánh
giá, phân tích về tác động của các chính sách đối với chống độc quyền doanh
nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Tiến hành phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp các tài liệu, số liệu từ các
văn bản, báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước, các công trình nghiên cứu của
các tác giả, các bài viết có liên quan đến độc quyền, chống độc quyền doanh nghiệp
như: Số liệu báo cáo từ các cơ quan có liên quan của Đảng, Nhà nước (Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Tổng cục Thống kê, đặc biệt là
nguồn số liệu Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương); các kết quả đã
công bố của các hội nghị, hội thảo, các cuộc điều tra, khảo sát và những thông
tin, số liệu thu thập thông qua việc đi khảo sát tại các cơ quan, doanh nghiệp.
- Luận án sử dụng các phương pháp sơ đồ, bảng, biểu nhằm minh
chứng cho những đánh giá, nhận định, đồng thời khái quát hóa lý luận và thực
tiễn, thấy được mối quan hệ giữa các quy định và chính sách với kết quả của
tạo lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp
khoa học về vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong chống độc quyền doanh
nghiệp ở nước ta.
- Sử dụng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi với các nhà
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chống
độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
trong đó tập trung vào xây dựng quan niệm và nội dung chống độc quyền
doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường định hướng XHCN.
10
Đánh giá đúng thực trạng về chống độc quyền doanh nghiệp, làm rõ
những thành tưu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về
chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay.
Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản về chống độc quyền
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Góp phần bổ sung làm phong phú thêm những vấn đề lý luận và thực
tiễn về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận, thực tiễn để các cấp
tham khảo trong chỉ đạo xây dựng môi trường cạnh tranh, chống độc quyền
doanh nghiệp trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học,
giảng dạy, học tập những vấn đề có liên quan đến độc quyền, chống độc
quyền doanh nghiệp trong các môn kinh tế học cho các nhà trường đại học ở
nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, ba chương,
tham khảo.
8 tiết, phục lục, danh mục công trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu
11
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình khoa học nước ngoài nghiên cứu về độc quyền,
chống độc quyền doanh nghiệp
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến độc quyền, độc quyền doanh nghiệp
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến độc quyền,
độc quyền doanh nghiệp, trong đó phải kể đến tác phẩm “Kinh tế học” của P.A.
Samuelson [78]. Theo P.A.Samuelson, độc quyền là một người bán duy nhất có
quyền kiểm soát hoàn toàn đối với toàn bộ ngành, ở đó chỉ có một người sản
xuất trong ngành và không có ngành nào sản xuất ra các mặt hàng thay thế gần
gũi. P.A.Samuelson cho rằng, để kiềm chế sức mạnh thị trường, Chính phủ nên
điều tiết những ngành có quá ít hàng để có thể khuyến khích cạnh tranh mạnh
mẽ. Chính phủ nên điều tiết những ngành, đặc biệt là trong trường hợp cực đoan
về độc quyền tự nhiên, khi độc quyền xảy ra. P.A.Samuelson cho rằng, phải có
chính sách chống Tơ- rớt với các đạo luật khung, và xây dựng chính sách
khuyến khích cạnh tranh, theo đó cần hạ thấp hàng rào gia nhập thị trường để
khuyến khích các doanh nghiệp khác tham gia, tạo sự liên thông giữa thị trường
trong và ngoài nước, và thực hiện đánh thuế để giảm nhẹ tác động của thu nhập
đối với các hãng độc quyền, tuy nhiên, không nên quá lạm dụng.
Một trong những học giả được giới khoa học đánh giá rất cao trong giai
giá trị, “Chiến lược cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh
quốc gia” [63]. Michael E. Porter đã đưa ra một trong những công cụ cạnh
tranh mạnh mẽ nhất là: Ba chiến lược cạnh tranh phổ quát - chi phí thấp, khác
biệt hóa và trọng tâm. Tác giả chỉ rõ, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản
thân mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau,
với các hoạt động của nhà cung cấp và cả các hoạt động của khách hàng nữa.
Theo Michael E. Porter, cạnh tranh để trở thành giỏi nhất. Cạnh tranh để trở
đoạn hiện nay là Michael E. Porter, ông đã xuất bản ba cuốn sách hết sức có
12
thành độc nhất vô nhị... Porter khẳng định, không có công ty tốt nhất bởi cái
tốt nhất tùy thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng. Vì thế, chiến lược của
công ty sẽ không phải là trở thành tốt nhất, mà phải trở thành độc nhất vô nhị,
là khác biệt. Tác giả cho rằng, trong chiến lược, sai lầm lớn nhất là cạnh tranh
trực tiếp trên cùng một quy mô, một lĩnh vực với đối thủ. Michael E. Porter
chi ra, việc lặp lại những việc mà người khác đã làm sẽ là không hiệu quả.
“Chạy theo” không phải là tư duy chiến lược mà là cái bẫy. Từ đó tác giả
khẳng định, những công ty thành công là những công ty biết tạo ra các giá trị
mới dựa trên việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng.
Mặc dù vấn đề chủ yếu được Michael E. Porter đề cập là cạnh tranh,
nhưng thông qua các cuốn sách đã gợi mở cho nghiên cứu sinh nhiều vấn đề
khi bàn về chống độc quyền, bởi mặt đối lập của cạnh tranh là độc quyền, để
chống độc quyền hiệu quả thì cần có một chính sách cạnh tranh minh bạch, rõ
ràng, một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Vì vậy, cần phải đặt chống độc
quyền trong mối quan hệ với cạnh tranh, qua đó lột tả rõ bản chất của vấn đề
chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Vấn đề độc quyền, chống độc quyền tiếp tục được các học giả phân tích,
luận giải dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, học giả Ben W.F.
Advanced Studies in Law and Economics University of Ghent, Faculty [113].
Hay tác giả Patrick Rey và Paul Seabright với cuốn sách“The activities of a
monopoly firm in adjacent competitive markets: Economic consequences And
Implications For Competition Policy” [117]. Đề tài,“Firms with market power:
monopoly” của Ali Emami [112]. Tác giả Ferguson, Paul R với cuốn
sách“Business economic: the application of economic theory” [114]... Nhìn
Depoorter trong cuốn “5400 Regulation of natural monopoly”của Center for
quyền trong nền kinh tế thị trường khá tương đồng dưới góc độ kinh tế học. Ben
W.F. Depoorter khẳng định, độc quyền tự nhiên tồn tại trong một ngành công
chung, các tác giả đều có cách tiếp cận, đánh giá về độc quyền và chống độc
13
nghiệp mà một công ty đó có thể sản xuất hàng hóa để cung cấp cho thị trường với
chi phí thấp hơn so với hai hay nhiều doanh nghiệp. Cùng góc nhìn đó, Patrick
Rey và Paul Seabright đề cập đến hoạt động của các công ty độc quyền trong thị
trường cạnh tranh - hậu quả kinh tế và những hệ lụy đối với chính sách cạnh tranh.
Tác giả phân tích các hành vi chống cạnh tranh, sự đổi mới của các công ty độc
quyền nhằm củng cố vị trí độc quyền; sức mạnh thị trường và sự đổi mới trong thị
trường độc quyền. Vấn đề lợi nhuận được Ali Emami luận giải, cho rằng, tối đa
hóa lợi nhuận là động cơ đối với các công ty độc quyền. Mô tả hoạt động của
công ty độc quyền, Ali Emami đã chỉ ra lý do tại sao một công ty độc quyền có
thể tránh được sự cạnh tranh của các công ty khác, những áp lực liên tục để giảm
chi phí, nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ali Emami nhấn
mạnh, thực tế là các công ty độc quyền hoạt động như một nhà tạo giá hơn là một
nhà lấy giá trên thị trường do sức mạnh thị trường của công ty.
Còn theo U.S Department of Justice, “Competition and monopoly: single- firm
conduct under section 2 of the Sherman act” [119], khi đề cập tới sức mạnh của độc quyền
khẳng định, nó có thể tác động tiêu cực cho xã hội bằng việc làm cho sản lượng thấp hơn,
giá cao hơn và đổi mới ít hơn trong một thị trường cạnh tranh. Và chính sự hiểu rõ về sức
mạnh của độc quyền sẽ rất hữu ích trong việc tạo chính sách chống độc quyền phù hợp với
các công ty độc quyền. Tác giả Russell Pittman, Vụ Chống Ðộc quyền, Bộ Tư pháp Mỹ
phát triển”, được đăng trên http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov [128]. Russell
Pittman đã chỉ ra trong một số bối cảnh, sức mạnh của thị trường không bảo vệ được sự
cạnh tranh trong kinh doanh và lợi ích mà sự cạnh tranh đó đem lại cho người tiêu dùng thì
cần phải có chính sách cạnh tranh.
với bài viết, “Tại sao phải có chính sách cạnh tranh - đặc biệt đối với những nước đang
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến chống độc quyền doanh nghiệp
Theo X.Nicitin trong cuốn “Chính sách chống độc quyền ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển” [110], tác giả đã khẳng định, đối tượng của Luật
Chống độc quyền của các nước tư bản phát triển chính là các tập đoàn kinh tế thống
14
trị, các nước phát triển đều xây dựng Luật Chống độc quyền với những tên gọi khác
nhau. Tác giả đã đưa ra quan niệm về “người sản xuất lớn”, theo đó, những người
sản xuất lớn này sản xuất phần lớn sản phẩm của ngành và do đó có khả năng thực
hiện chính sách độc quyền một cách độc lập hoặc thỏa thuận về sự độc quyền trong
mối quan hệ của chính sách thị trường thống nhất. Để thực hiện Luật Chống độc
quyền, tác giả đưa ra các phương pháp mà các nước đã áp dụng đó là phương pháp
tòa án - pháp luật và phương pháp hành chính. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra tính
đặc thù dân tộc của hoạt động chống độc quyền, theo đó hoạt động chống độc
quyền ở các nước sẽ khác nhau có nền kinh tế thị trường phát triển khác nhau.
Một số học giả khác có những quan điểm khá đồng thuận về đề cao vai trò
của Chính phủ trong chống độc quyền. Chẳng hạn, tác giải Howard D. Marshall
với cuốn sách “Business and government: The problem of power” [116]; hay tác
giả Stephen J.K. Walters, “Enterprise, government, and the public” [118]; tác
giả Christopher: “Outline of the U.S. Economy” dịch “Phác thảo nền kinh tế
Mỹ” [32]. Theo Howard D. Marshall, cần phải có các chính sách chống độc
quyền và đường lối chỉ đạo của Chính phủ trong việc kinh doanh mang tính chất
nhà nước. Đó là sức mạnh của quyền lực nhà nước. Đồng tình với quan điểm đó,
Stephen J.K. Walters đề cập về sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường, khẳng
định, Chính phủ phải can thiệp vào thị trường, và để can thiệp vào thị trường
vào độc quyền. Còn tác giả Christopher cho rằng, vai trò của Chính phủ và hoạt
động điều tiết của Nhà nước rất quan trọng đối với sự ổn định và tăng trưởng
kinh tế. Christopher chứng minh vai trò các hoạt động của Chính phủ Mỹ trong
chống độc quyền như: Sự ra đời của luật chống độc quyền; sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp, các công ty lớn với nhau; vai trò của Chính phủ trong nền
kinh tế trước sự phát triển mạnh mẽ của các công ty, các tập đoàn công nghiệp
và nỗ lực của Liên bang trong kiểm soát độc quyền… Những quan điểm trên
đã gợi mở cho nghiên cứu sinh trong vấn đề nghiên cứu.
thì Chính phủ phải có những giải pháp hiệu quả, nhất là chính sách công hướng
15
2. Các công trình khoa học trong nước nghiên cứu về độc quyền,
chống độc quyền doanh nghiệp
* Các công trình đề cập đến độc quyền, độc quyền doanh nghiệp
Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia: “Tác động của
cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại tới
xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [62]. Đề tài mang đậm
nét của kinh tế chính trị học, những luận giải, phân tích được các nhà khoa học
đề cập hết sức sâu sắc, đóng góp không nhỏ vào phát triển lý luận về cạnh tranh
và độc quyền trong kinh tế thị trường. Thành công của đề tài là đã hệ thống hóa
được những quan điểm lý luận và thực tiễn lịch sử về cạnh tranh và độc quyền;
những biểu hiện mới của cạnh tranh và độc quyền trong giai đoạn hiện nay, và
những nét cơ bản về tác động của cạnh tranh và độc quyền đối với nền kinh tế thế
giới. Điểm mà nghiên cứu sinh thấy tâm đắc là: Đề tài đã chứng minh được về
mặt lý thuyết cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng
thời, với phương pháp trừu tượng hóa khoa học, đề tài đã luận bàn khá thuyết
phục mối quan hệ cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam. Đây là những gợi ý quan trọng giúp nghiên cứu sinh
tham khảo, nghiên cứu và vận dụng vào đề tài của mình.
Tuy nhiên, đề tài là sự tổng hợp những chuyên đề của các nhà khoa học
ở những nội dung khác nhau, nên mới chỉ đề cập một phần về độc quyền,
tâm, chưa đi vào nội dung chính là sự tác động của cạnh tranh và độc quyền
trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại tới xây dựng nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay. Cùng với đó, do bàn về sự tác động, cho nên vấn
đề chống độc quyền doanh nghiệp trong đề tài không luận bàn nhiều, đây là
những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu.
chống độc quyền, chưa đưa ra các khái niệm công cụ cũng như khái niệm trung
chia thị trường thế giới giữa các liên minh độc quyền tư bản và những biểu
hiện mới trong giai đoạn hiện nay” [59], đã trình bày lý luận của V.I. Lênin về
Theo Trần Văn Hiền, trong luận án kinh tế “Lý luận của Lênin về phân
16
phân chia thị trường thế giới giữa các liên minh độc quyền, khẳng định phân
chia thị trường thế giới là một tất yếu khách quan của chủ nghĩa tư bản độc
quyền, trong đó, cạnh tranh để giành lợi nhuận độc quyền chính là động lực của
phân chia thị trường thế giới. Đề tài cũng đã phân tích những biểu hiện của
phân chia thị trường thế giới giữa liên minh độc quyền tư bản trong giai đoạn
chủ nghĩa tư bản độc quyền với việc chỉ ra chủ thể, đối tượng, hình thức và kết
quả của phân chia thị trường thế giới trong chủ nghĩa tư bản độc quyền.
TS. Bùi Văn Huyền:“Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam” [60], tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và thực
tiễn để hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế; thực trạng hoạt động của
một số tổ hợp kinh doanh theo hướng tập đoàn kinh tế; quan điểm, giải pháp
phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
Cuốn sách: “Cấu trúc thị trường - lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, của
PGS.TS. Nguyễn Văn Dần [37]. Tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận và
thực tiễn cấu trúc thị trường như lý thuyết về hành vi doanh nghiệp, doanh
nghiệp trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không hoàn hảo, độc quyền bán
và độc quyền mua, thực tiễn cấu trúc thị trường Việt Nam. Thành công của
tác giả là đã khái quát được cấu trúc thị trường ở Việt Nam, trong đó có sự
đánh giá quá trình đổi mới nhận thức đến xác định cấu trúc thị trường, và chỉ
phần mà nghiên cứu sinh hết sức quan tâm. Cùng với đó, việc chỉ ra những
rào cản thị trường trong quá trình phân tích cấu trúc thị trường cũng đã tạo
điểm nhấn trong cuốn sách. Những rào cản của hệ thống pháp luật, rào cản
kinh doanh được tác giả phân tích khá cụ thể.
Nhìn chung, các đề tài đã luận giải vấn đề độc quyền dưới góc độ của
kinh tế chính trị học, làm rõ, sâu sắc thêm những biểu hiện của độc quyền
trong CNTB cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ dừng lại trong việc phân tích độc quyền trong
ra độc quyền ở một số công ty và tập đoàn kinh tế ở nước ta. Đây cũng là
17
chủ nghĩa tư bản, hệ thống hóa các luận điểm về mối quan hệ cạnh tranh và
độc quyền, mà chưa đi sâu nghiên cứu về chống độc quyền doanh nghiệp.
* Các công trình tiêu biểu liên quan đến chống độc quyền doanh nghiệp
Đề cập đến chống độc quyền doanh nghiệp, tác giả Bùi Hà với hai công
trình nghiên cứu gồm: “Độc quyền và chống độc quyền trong nền kinh tế thị
trường”[48], và “Các hình thức và biện pháp khuyến khích cạnh tranh và kiểm
soát độc quyền trong nền kinh tế thị trường” [47]. Cả hai đề tài đã đề cập tới cạnh
tranh và độc quyền, chỉ ra các loại độc quyền, vai trò cũng như hạn chế của độc
quyền tạo ra, một số kinh nghiệm chống độc quyền, chống hạn chế cạnh tranh
trên thế giới. Đồng thời, đề tài cũng phân tích quá trình hình thành và đặc trưng
của độc quyền ở Việt Nam, chỉ ra phương hướng và giải pháp xử lý vấn đề độc
quyền ở nước ta. Thành công ở đề tài là sự luận giải, phân tích, sự độc quyền
của doanh nghiệp nhà nước và đặc trưng cơ bản của quá trình hình thành độc
quyền trong giai đoạn đó, khi mà nước ta mới thực hiện phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, những vấn đề của thực
tiễn đang trong quá trình vận động biến đổi, những vấn đề lý luận về kinh tế thị
trường, về cạnh tranh, độc quyền còn khá mới mẻ đối với nước ta. Những quan
điểm và giải pháp chống độc quyền là điểm nhấn trong đề tài của tác giả Bùi
Hà, trong đó tác giả đề xuất những giải pháp xử lý có tính nguyên tắc đối với
thấy được giá trị, cũng như những đóng góp quan trọng của tác giả. Tuy nhiên,
nghiên cứu sinh cũng thấy rằng, đề tài mới chỉ đưa ra những gợi mở ban đầu về
chống độc quyền, chưa đưa ra được quan niệm về chống độc quyền doanh
nghiệp và việc chống độc quyền mới chỉ mang tính chất chung chung, chưa chỉ
rõ nội dung là gì. Những giải pháp xử lý có tính nguyên tắc đối với vấn đề độc
quyền ở nước ta mới chỉ là những định hướng cơ bản, chưa đi vào những vấn
đề cụ thể, tạo cho người đọc mới dừng lại ở sự cảm nhận ban đầu. Đây là
vấn đề độc quyền ở nước ta, nếu đặt chúng ta vào vị trí tại thời điểm đó thì mới
18
những khoảng trống trong đề tài mà nghiên cứu sinh cần khai thác, tiếp tục đi
sâu làm rõ trong luận án của mình.
Luận án kinh tế:“Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
của Nguyễn Quốc Dũng [38], đã nghiên cứu một cách hệ thống về cạnh tranh
với tư cách là một quy luật của nền kinh tế thị trường. Khảo sát thực trạng
cạnh tranh ở một số lĩnh vực chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, từ đó, dự
báo những xu hướng, đưa ra những giải pháp nhằm khuyến khích cạnh tranh
đúng quy luật, hợp pháp, hạn chế và kiểm soát tình trạng độc quyền trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Vấn đề mà nghiên cứu sinh
quan tâm và đánh giá cao của luận án là sự luận giải mối quan hệ cạnh tranh
và độc quyền và vai trò, hạn chế của độc quyền đối với phát triển kinh tế.
Những kinh nghiệm của một số nước trong việc vận dụng quy luật cạnh tranh
mà luận án thể hiện có giá trị tham khảo cho nghiên cứu sinh trong nghiên
cứu vấn đề chống độc quyền. Có thể nói, hệ thống các giải pháp khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền là sự đóng góp nổi bật của
Nguyễn Quốc Dũng trong luận án, trong đó, tác giả đã đề xuất năm giải pháp
chính: Xây dựng chiến lược cạnh tranh thị trường của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; tạo lập chủ thể cạnh tranh theo cơ chế
thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa; từng bước nâng cao sức cạnh
kinh tế; nâng cao vai trò Nhà nước thực hiện kiểm soát độc quyền và chống
các hành vi hạn chế cạnh tranh lành mạnh; phát huy vai trò giáo dục, từng
bước đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi, xây dựng tập quán kinh doanh
lành mạnh trong nền kinh tế thị trường. Những giải pháp trên là những gợi mở
quan trọng cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu.
Đề cập đến cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, Viện nghiên cứu
Quản lý Kinh tế Trung ương với cuốn: “Các vấn đề pháp lý và thể chế về
chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” [107],và Đồng
tranh của hàng hóa và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền
19
Thị Hà trong luận án kinh tế “Hoàn thiện chính sách cạnh tranh và kiểm
soát độc quyền kinh doanh ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế” [51], đã luận giả một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và độc
quyền; đánh giá vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với kiểm
soát độc quyền; tình hình cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam, các yếu tố
pháp lý ảnh hưởng đến cạnh tranh. Đã khảo cứu kinh nghiệm của một số
nước về hoạch định và thực thi chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc
quyền kinh doanh. Vấn đề mà nghiên cứu sinh quan tâm trong cuốn sách
của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương là đã đưa ra quan niệm về
độc quyền trong kinh doanh, luận giải sự hình thành độc quyền thông qua
hai con đường: Thứ nhất là quá trình tích tụ, tập trung tư bản; thứ hai là
Nhà nước chủ trương độc quyền trên một số ngành, lĩnh vực. Trong đó
khẳng định duy trì cạnh tranh và kiểm soát độc quyền là một tất yếu
khách quan trong nền kinh tế thị trường. Tác giả đã đề cập đến cơ chế
hình thành và hậu quả của độc quyền trong kinh doanh gây ra, chỉ ra
những điều kiện nhằm bảo đảm cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh
doanh. Còn trong luận án của Đồng Thị Hà, tác giả đã khá thành công
trong đánh giá thực trạng cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam, chính sách
và pháp luật cạnh tranh về kiểm soát và điểu chỉnh ở Việt Nam. Quan đó,
tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh ở Việt Nam.
Trong luận văn của Phan Thanh Hà: “Chính sách cạnh tranh và kiểm
soát độc quyền kinh doanh: thực trạng và giải pháp” [49], tác giả đề cập đến
những vấn đề lý luận về cạnh tranh và độc quyền, trong đó có bàn về độc quyền
trong kinh doanh. Tác giả đã tiến hành đánh giá thực trạng cạnh tranh và độc
quyền ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp khuyến khích cạnh tranh và hạn chế
độc quyền kinh doanh ở nước ta trong thời gian tới. Tuy nhiên, luận văn mới đề
luận án đã đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách cạnh
20
cập khái lược những vấn đề lý luận về cạnh tranh và độc quyền, cơ chế hình
thành và tồn tại của độc quyền trong kinh doanh và điều kiện nhằm bảo đảm
cạnh tranh và chống độc quyền trong kinh doanh. Những đánh giá trong thực
trạng còn hết sức sơ lược, cũng như những giải pháp mới chỉ mang tính định
hướng. Điều đó đã làm cho chất lượng của luận văn chưa tương xứng với tên
một đề tài nghiên cứu. Và đây cũng là điều mà nghiên cứu sinh không cho mình
mắc phải khi thực hiện công việc của mình.
Đề cập đến chống độc quyền, nhiều công trình, nhiều bài viết đã có những
khảo cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới hết sức có giá trị. Chẳng hạn,
tác giả Đinh Thị Mỹ Lan với cuốn “Luật chống độc quyền Nhật Bản, kinh
nghiệm thực thi” [66]. Cuốn sách: “Chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu
Âu trong bối cảnh phát triển mới” của Đặng Minh Đức [46]. Tác giả Đinh Thị
Mỹ Loan, Cục Quản lý Canh tranh - Bộ Công thương với cuốn sách: “Kiểm soát
tập trung kinh tế- kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam” [67]. Cũng bàn
về kinh nghiệm, nhưng tác giả Bùi Nguyễn Anh Tuấn lại có cách tiếp cận khác
được đề cập trong cuốn “Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc gia đang phát
triển” [99]. Những kinh nghiệm đó là nguồn tham khảo giả trị cho nghiên cứu
sinh trong phục vụ nghiên cứu đề tài.
Dưới góc độ của khoa học pháp luật, chống độc quyền được nhiều học
kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” [54].
Tác giả Lê Anh Tuấn với cuốn “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam” [98]. Các tác giả đều có sự đồng nhất trong cách tiếp cận
cũng như nhìn nhận vấn đề chống độc quyền và chống cạnh tranh không lành
mạnh là một nội dung quan trong của pháp luật cạnh tranh. Các tác giả đã có
những nghiên cứu về lý luận về cạnh tranh và độc quyền trong kinh tế thị
trường, pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành
giả bàn luận. Tác giả Đặng Vũ Huân, luận án tiến sỹ Luật học: “Pháp luật về
21
mạnh. Đặng Vũ Huân đã đưa ra quan niệm về độc quyền, chỉ ra các nguyên
nhân hình thành độc quyền và khẳng định độc quyền cũng có tính hai mặt, cả
tích cực lẫn tiêu cực. Để tăng thêm tính thuyết phục của luận án, tác giả đã
phân tích hậu quả của độc quyền gây ra đối với xã hội, doanh nghiệp và
người tiêu dùng; vấn đề độc quyền Nhà nước và ảnh hưởng của độc quyền
Nhà nước đối với nền kinh tế nước ta. Còn tác giả Lê Anh Tuấn có sự phân
tích khá sâu sắc về những hành vi hạn chế cạnh tranh, nhất là vấn đề lạm
dụng quyền lực thị trường. Các tác giả đã đánh giá thực trạng pháp luật
Việt Nam về cạnh tranh và độc quyền, từ đó đề xuất những biện pháp của
Nhà nước trong kiểm soát độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh,
đưa ra kiến nghị về phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật trong
kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta.
Liên quan đến vấn đề chống độc quyền, một số báo cáo của các cơ
quan chức năng cũng đã đề cập. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương
đã công bố những báo cáo như: “Báo cáo rà soát các quy định của pháp luật
cạnh tranh Việt Nam”, năm 2012 [23]; “Báo cáo cạnh tranh trong lĩnh vực
dịch vụ tài chính - ngân hàng”, năm 2010 [24]; “Báo cáo cạnh tranh trên
thị trường xăng dầu Việt Nam”, năm 2010 [25]; “Báo cáo đánh giá cạnh
tranh trên thị trường sữa bột ở Việt Nam”, năm 2010 [26]. Mỗi bản báo cáo
lớn tới đời sống kinh tế xã hội, nhằm đi sâu đánh giá, phân tích trong từng
lĩnh vực để thấy được những kết quả cũng như hạn chế trong công tác quản
lý cạnh tranh trên từng lĩnh vực, qua đó các cơ quan quản lý có những giải
pháp quản lý phù hợp, hiệu quả hơn.
Vấn đề cạnh tranh, chống độc quyền trong nền kinh tế nước ta được
đánh giá khá rõ nét trong ba bản báo cáo của Cục Quản lý Cạnh tranh gồm
“Báo cáo cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế”, năm 2010; năm
2012 và năm 2013. [15], [16], [17]. Các bản báo cáo đã đánh giá mức độ và
đề cập đến một đối tượng cụ thể - những ngành, hàng có ảnh hưởng tác động
22
môi trường cạnh tranh của các lĩnh vực dưới góc độ của chính sách, pháp
luật cạnh tranh của Việt Nam dựa trên bộ tiêu chí của DFID, các lĩnh vực
của nền kinh tế được lựa chọn bao gồm: Lĩnh vực sản xuất (ô tô tải, bột
giặt, giấy, dầu thực vật, kính xây dựng…) và lĩnh vực dịch vụ (phân phối
dược phẩm, vận tải biển, bảo hiểm nhân thọ, quảng cáo và truyền hình trả
tiền…). Chống độc quyền cũng được đề cập trong các bản báo cáo khác
của Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương như, “Báo cáo hoạt động
của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2010; năm 2011; năm 2012; 2013”
[18], [19], [20], [21]. Các bản báo cáo đề cập các hoạt động quản lý nhà
nước về cạnh tranh, thực thi pháp luật và chính sách cạnh tranh, quản lý,
tiếp nhận hồ sơ, tiến hành xử lý, điều tra các vụ việc vi phạm luật; các
hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng; các hoạt động xây
dựng môi trường ở Việt Nam… Với những thông tin và số liệu được cập
nhật thường xuyên, các bản báo cáo đã cung cấp cho nghiên cứu sinh
những tư liệu, số liệu hết sức phong phú về hoạt động của cơ quan quản lý
cạnh tranh cũng như tình hình hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế.
Các bài viết về chống độc quyền cũng được các nhà khoa học đề cập khá
quyền” [76]; tác giả Khánh An, “Phải kiểm soát chặt hơn những doanh nghiệp
độc quyền” [01]; Phạm Văn Chung, “Độc quyền nhà nước và độc quyền doanh
nghiệp” [14]; Lê Văn Hưng “Cần có các quy định cho doanh nghiệp Nhà nước
trong việc thực hiện luật Cạnh tranh” [57]… Nhìn chung, các tác giả đều đồng
nhất quan điểm cần phải chống độc quyền, theo đó cần hoàn thiện hệ thống
pháp luật, nhất là luật Cạnh tranh, cần phân biệt rõ độc quyền nhà nước và độc
quyền doanh nghiệp, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa
các doanh nghiệp, khuyến khích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
phong phú trên các tạp chí như: Nguyễn Như Phát, “Độc quyền và xử lý độc
23
* Các nghiên cứu đề cập đến khía cạnh của chống độc quyền doanh nghiệp
Đề cập đến các khía cạnh của chống độc quyền doanh nghiệp, nhiều học
giả đã bàn luận các vấn đề dưới góc độ kinh tế học, luật học. PGS.TS Nguyễn
Như Phát và Ths Nguyễn Ngọc Sơn trong cuốn “Phân tích và luận giải các quy
định của pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh” [77]. Luận văn Thạc sĩ “Kiểm soát
hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp
luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Bảo Nga [73]. Tác giả
Đoàn Trung Kiên với bài“Nhận diện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí
độc quyền theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam” [75]. Tác giả Trần Anh Tú
với bài “Nhận diện độc quyền hành chính trong kinh doanh ở Việt Nam” [97].
Hay tác giả Phạm Hoài Huấn trong cuốn sách “Pháp luật chống lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá” [55]… Những phân
tích mặc dù dưới góc độ phương pháp nghiên cứu của Luật học nhưng có giá
trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh.
Liên quan đến doanh nghiệp nhà nước và vấn đề độc quyền, đã có nhiều
công trình, bài viết đề cập những hoạt động lạm dụng độc quyền nhà nước. Viện
nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM: “Báo cáo rà soát, đánh giá quy
định pháp luật và thực trạng giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh
nghiệp nhà nước quy mô lớn, doanh nghiệp nhà nước độc quyền”, năm 2010
quan đến quản trị doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước”, năm
2010 [109]. Trọng tâm của báo cáo là phần đánh giá thực trạng giám sát đối với
các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước lớn, độc quyền trong đó
tập trung đánh giá thực trạng giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN
quy mô lớn, độc quyền trên khía cạnh khung pháp luật và đánh giá thực trạng
giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN quy mô lớn, độc quyền trên
khía cạnh thực hiện. Những kiến nghị được đưa ra trong bản báo cáo có giá trị
tham khảo lớn đối với các nhà quản lý cũng như các nhà nghiên cứu.
[108]. Hay “Báo cáo nghiên cứu rà soát hệ thống quy định pháp luật có liên
24
Đề cập đến DNNN và tái cấu trúc DNNN, đã có nhiều công trình khoa học,
nhiều bài viết của các học giả. Tác giả Tạ Ngọc Tấn- Lê Quốc Lý với cuốn, “Đổi
mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh
tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [86];
Nguyễn Đình Cung với bải viết, “Áp đặt kỷ luật của thị trường cạnh tranh thúc đẩy
tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước” [31]; Nguyễn Lê Quý Hiển, luận án kinh tế,
“Chuyển biến quan hệ sản xuất trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam” [53]; Vũ Thanh Sơn với cuốn: “Cạnh tranh đối với khu vực công trong cung
ứng hàng hóa và dịch vụ” [85]; Trần Hữu Nam: “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà
nước từ góc nhìn quản lý nhà nước” [69]… Nhìn chung, các bài viết, các công trình
khoa học đều khẳng định sự cần thiết phải tái cơ cấu DNNN, đặt DNNN vào môi
trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuốc các thành phần kinh tế
khác; nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm bớt tính độc quyền của DNNN, từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.
Bài viết của Đào Văn Tú “Độc quyền và vấn đề kiểm soát giá độc
quyền ở Việt Nam” [96]. Và “Kiểm soát giá đối với hàng hóa và dịch vụ độc
quyền ở Việt Nam hiện nay” của Lê Việt Thành [90]. Những giải pháp trong
kiểm soát giá trong một số ngành kinh tế ở nước ta là đóng góp quan trọng của
của hai tác giả với việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong kiểm soát giá và
tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, và đề xuất những giải pháp trong
kiểm soát giá hàng hóa, dịch vụ độc quyền.
Việt Nam”[45]. Bài viết của Nguyễn Hữu Huyên “Nhận dạng Cac - ten theo
luật Cạnh tranh của các nước phát triển”[61]… Nhìn chung, các bài viết đề
cập nhiều khía cạnh với cách nhìn nhận đa chiều, thể hiện quan điểm của các
tác giả trong phân tích, đánh giá các mặt, các vấn đề trong chống độc quyền
doanh nghiệp. Các tác giả có khảo cứu kinh nghiệm của các quốc gia trong
Trần Minh Đạo với bài: “Quản lý giá trong nền kinh tế thị trường ở
các tác giả cũng đã đưa ra những biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
chống độc quyền doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
kiểm soát tập trung kinh tế, chống độc quyền. Từ các đánh giá, nhận định,
25
3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Có thể nói, các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều công trình
nghiên cứu, các bài viết với các cách tiếp cận, mức độ, phạm vi và mục đích
nghiên cứu khác nhau, ít nhiều cũng đã đề cập đến độc quyền, chống độc
quyền. Các tác giả cũng đã đưa ra những quan niệm khác nhau về độc quyền,
độc quyền doanh nghiệp. Các công trình đã đặt vấn đề, luận giải nguyên nhân
hình thành độc quyền, những tác động của độc quyền tạo ra, khẳng định sự
cần thiết phải chống độc quyền doanh nghiệp trong xây dựng, phát triển nền
kinh tế thị trường, nhất là trong xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh
chóng và Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, từ đó đề xuất giải
pháp về kiểm soát, chống độc quyền. Những công trình, bài viết nói trên là
những tư liệu quan trọng, đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến luận án có
thể chọn lọc, tham khảo, tạo cơ sở, điều kiện và gợi mở ra những hướng
nghiên cứu mà tác giả luận án tiếp tục kế thừa và triển khai đề tài.
Tuy nhiên, do không thuộc đối tượng nghiên cứu nên các công trình, bài viết
của các tác giả trong và ngoài nước đã không đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, mà mới chỉ đề cập, phân tích những mặt, những khía cạnh, những lát cắt
trong nền kinh tế thị trường, chưa đặt đối tượng nghiên cứu trong một chỉnh thể để
có sự nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và mang tính chất chuyên biệt về
những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong chống độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trong khi đó, những công trình khoa học đề cập trực tiếp đến chống
độc quyền doanh nghiệp hay những mặt, những khía cạnh trong chống độc
đơn lẻ hoặc một phần của đối tượng nghiên cứu là chống độc quyền doanh nghiệp
nghiên cứu mặt đối lập của độc quyền là cạnh tranh, tạo lập môi trường cạnh
tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhiều công trình khoa
quyền doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế chính trị học chưa nhiều, mà thường
26
học lại đề cập vấn đề chống độc quyền và các khía cạnh trong chống độc
quyền doanh nghiệp dưới góc độ luật học, luận giải những vấn đề cụ thể của
khoa học pháp luật. Vì vậy, đây là những khoảng trống để nghiên cứu sinh
cần làm rõ trong đề tài của mình.
Đặc biệt, chưa có công trình nào đưa ra quan niệm về chống độc quyền
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nội dung chống độc
quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc khảo sát
đánh giá thực trạng hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian qua mới chỉ tập trung vào một
số lĩnh vực nhất định. Những giải pháp đưa ra chưa mang tính tổng thể nhằm hạn
chế những tác động tiêu cực do độc quyền doanh nghiệp tạo ra.
Những vấn đề được đề cập trên chính là những nội dung đặt ra để nghiên
cứu sinh nghiên cứu, luận giải làm sâu sắc thêm. Cho đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu tổng thể về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay dưới góc độ chuyên ngành kinh tế
chính trị. Vì vậy, đây là đề tài độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa
học đã công bố trong và ngoài nước.
27
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
1.1. Những vấn đề lý luận chung về độc quyền, độc quyền doanh
nghiệp trong kinh tế thị trường
1.1.1. Quan niệm về độc quyền, độc quyền doanh nghiệp
Độc quyền là thuật ngữ xuất hiện từ khá sớm và được sử dụng rộng rãi
trong nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế từ những năm cuối thế kỷ
XIV- XV ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, quan niệm về độc quyền được
các học giả bàn luận và sử dụng đều gắn với những thời kỳ lịch sử nhất định,
và đi theo những trường phái kinh tế nhất định, cho nên, giữa các học giả cũng
có những quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề này.
* Dưới góc nhìn của các nhà kinh tế học tư sản
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương cho rằng: Nhà nước phải
có sự can thiệp vào kinh tế, ủng hộ độc quyền của tư bản dân tộc trong thương
mại quốc tế bằng những quy định như ngăn cấm hay dùng thuế quan để hạn chế
nhập khẩu hàng hóa nước ngoài nhưng lại đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của
nước mình ra nước ngoài; quy định giành quyền vận tải hàng hóa xuất nhập
chế mang tiền ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền nước ngoài về.
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng nông lên án đặc quyền và độc
quyền phong kiến, họ chủ trương Nhà nước không can thiệp vào kinh tế, xem
đó là những điều trái với “quy luật tự nhiên”, chỉ có tự do cá nhân, chế độ tư
hữu và tự do cạnh tranh mới là phù hợp với “luật tự nhiên”. Không chỉ phê
phán độc quyền và đặc quyền phong kiến, các nhà kinh tế trường phái trọng
nông còn phê phán những ham muốn, tham vọng trở thành độc quyền của các
thương nhân lớn.
khẩu cho đội tàu của nước mình, giành độc quyền buôn bán với thuộc địa; hạn
28
Trường phái tư sản cổ điển đề cao tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp
của Nhà nước vào kinh tế, họ cho rằng: Nhà nước chỉ có chức năng cơ bản là
bảo vệ quyền sở hữu tư bản, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài. W.Petty nghi ngờ
hiệu quả của sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Còn A.Smit cho rằng, chỉ
có thông qua cạnh tranh thì những tính quy định tự nhiên của tư bản mới tự vạch
được con đường đi cho mình. Theo ông, trong số những yếu tố cản trở cạnh
tranh, gây ra sự chênh lệch thường xuyên giữa giá cả thị trường với giá cả tự
nhiên của hàng hóa thì độc quyền là yếu tố quan trọng nhất và phải loại bỏ
những độc quyền như vậy. Ủng hộ tư tưởng tự do cạnh tranh, chống độc quyền
và sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế, Đ.Ricacđo còn đề xuất lý thuyết về lợi
thế so sánh, tin tưởng vào khả năng tự điều tiết của nền kinh tế tự do cạnh tranh.
Trường phái Tân cổ điển mà tiêu biểu là Edward H.Chamberlin đã đưa
ra lý thuyết vừa cạnh tranh vừa độc quyền, thông qua các khái niệm cạnh
tranh thuần túy, độc quyền thuần túy. Ông cho rằng thị trường vừa cạnh tranh
vừa độc quyền và thị trường độc quyền thuần túy hình thành. Ông đã đưa ra
lý thuyết cạnh tranh và độc quyền với khái niệm trung tâm là “sự biệt dị của
sản phẩm”, theo đó, mỗi doanh nghiệp đều có mức độ độc quyền nhất định vì
họ có sản phẩm của riêng mình. Mặc dù các sản phẩm trên thị trường có thể
sản phẩm của mình. Sự thành công trong việc dị biệt hoá sản phẩm phù hợp
với sự đa dạng và tính hay thay đổi của nhu cầu thị trường quyết định mức độ
độc quyền và thành công của doanh nghiệp.
Khác với trường phái tân cổ điển, trường phái Áo mà đại diện là Joseph
Schumpeter cho rằng độc quyền cũng có những ưu việt nhất định, và những
doanh nghiệp độc quyền lớn sở dĩ duy trì được vị trí của chúng trong một thời
gian dài là do thường được Nhà nước che chở. Tuy nhiên, Joseph Schumpeter
không chủ trương phát triển độc quyền một cách vô hạn, mà chủ trương Chính
thay thế cho nhau, song các doanh nghiệp luôn nỗ lực thực hiện cá biệt hoá
29
phủ phải sử dụng lực lượng điều tiết để hạn chế và giảm bớt độc quyền, kiện toàn
cơ chế thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Joseph
Schumpeter cũng khẳng định, độc quyền không xóa bỏ cạnh tranh mà làm thay
đổi phương thức cạnh tranh. Sự ra đời của các tổ chức độc quyền không có nghĩa
là cạnh tranh suy yếu, mà là khiến cạnh tranh tĩnh trở thành cạnh tranh động,
chuyển theo hướng cạnh tranh ở độ sâu cao hơn.
Lý thuyết của trường phái chính hiện đại mà đại biểu là P.A.Samuelson
cho rằng, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó
không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền. Theo P.A.Samuelson, độc quyền
là một người bán duy nhất có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với toàn bộ
ngành, ở đó chỉ có một người sản xuất trong ngành và không có ngành nào
sản xuất ra các mặt hàng thay thế gần gũi. Còn khi đề cập đến độc quyền
nhóm, P.A.Samuelson cho rằng, độc quyền nhóm có nghĩa là ít người bán,
theo đó ít có thể là từ 2 đến 10 hay 15 hãng, và hành động của từng hãng có
thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường” [78, tr323].
Nhìn chung, cách nhìn nhận khác nhau về độc quyền của các nhà kinh tế
học tư sản phản ảnh sự vận động phát triển của lý luận kinh tế chính trị học ở
những giai đoạn lịch sử nhất định, những quan điểm đó có ảnh hưởng khá lớn
* Dưới góc nhìn của các nhà kinh tế học Mác-xít
Độc quyền được C.Mác đề cập khi nghiên cứu phương thức sản xuất
TBCN trong giai đoạn cạnh tranh tự do. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh, mặc dù độc quyền còn chưa phải là hiện tượng kinh tế phổ biến
nhưng C.Mác đã nhìn thấy sự phát triển của lực lượng sản xuất, tích tụ và tập
trung tư bản do cạnh tranh tạo ra tất yếu sẽ dẫn tới sự hình thành của các tổ
chức độc quyền. Trong tác phẩm kinh tế chính trị đầu tiên, “Lược thảo phê
phán khoa học kinh tế chính trị” Ph.Ăngghen cho rằng, mặt đối lập với cạnh tranh
trong nghiên cứu cũng như trong hoạch định chính sách kinh tế của các quốc gia.
30
là độc quyền, độc quyền thời kỳ chủ nghĩa trọng thương làm nảy sinh khát vọng
tự do cạnh tranh, tự do cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi ích tư nhân. Khi cạnh
tranh mỗi cá nhân đều muốn chiếm đoạt được địa vị độc quyền, do đó mà nảy
sinh độc quyền, “cạnh tranh chuyển thành độc quyền. Mặt khác, độc quyền
không thể cản được dòng nước cuồn cuộn của cạnh tranh, hơn nữa, bản thân nó
còn sản sinh ra cạnh tranh” [ 9,tr769]. C.Mác cũng chỉ ra rằng: Kết quả tất
nhiên của cạnh tranh là tư bản được tích lũy trong tay một số ít người, “cũng
tức là quay trở về độc quyền dưới hình thức còn ghê tởm hơn”.
Trong tác phẩm “Chống Duyrinh”, Ph.Ăng Ghen cho rằng tư bản độc
quyền là “một thứ hội liên hợp có mục đích điều tiết việc sản xuất. Họ quyết định
tổng số phải sản xuất, phân phối tổng số ấy với nhau, do đó nắm được cái giá bán
đã được quy định trước” [10, tr 174]. Như vậy, theo quan niệm của Ph.Ăngghen
khi nói đến tư bản độc quyền, đó là sự liên minh giữa các nhà tư bản với nhau tạo
nên sức mạnh khống chế cả đầu vào và đầu ra trong việc sản xuất, phân phối sản
phẩm, quy định giá cả qua đó thu lợi nhuận độc quyền cao. Theo đó, độc quyền
được Ph.Ăngghen diễn đạt “Tổ chức độc quyền (tư bản) là sự liên minh giữa
những nhà tư bản nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một hoặc một số loại
hàng hóa nào đó, nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao” [10, tr 182].
Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn mới -
nhất của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn mới. Ông khẳng định, nguồn
gốc của độc quyền là cạnh tranh, là tích tụ, tập trung tư bản mà nguyên
nhân sâu xa là do sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. V.I.Lênin
viết “do đấy, ta thấy rõ ràng khi phát triển đến mức độ nhất định, thì có
thể nói, sự tập trung tự nó sẽ dẫn thẳng đến độc quyền. Vì vài chục xí
nghiệp khổng lồ có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác, chính quy
mô to lớn của các xí nghiệp làm cho cạnh tranh ngày càng khó khăn và
giai đoạn độc quyền, V.I.Lênin xem độc quyền là đặc điểm kinh tế nổi bật
31
làm nảy sinh khuynh hướng đi đến độc quyền. Sự cạnh tranh biến thành
độc quyền, đó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất”[106, tr398].
Độc quyền được V.I.Lênin nghiên cứu ở đây là một loại hình độc quyền
hình thành trong một giai đoạn phát triển nhất định của một hình thái kinh
tế - xã hội cụ thể tồn tại trong lịch sử. Đó là thứ độc quyền dựa trên cơ sở
cạnh tranh và tập trung sản xuất cao của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Độc quyền này về thực chất là một hình thức liên minh giữa những
nhà tư bản nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào
đó nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao đúng như Ph.Ăngghen đã chỉ ra.
V.I.Lênin đã phân tích các giai đoạn, các hình thức phát triển của
độc quyền từ Cac-ten, Xanhdica, Tơrớt tới Côngxoocxiom, từ độc quyền
trong lưu thông đến độc quyền trong sản xuất, độc quyền cả trong sản
xuất và lưu thông; từ đơn ngành đến đa ngành, đa lĩnh vực, từ độc quyền
trong nước tới độc quyền quốc tế. V.I.Lênin còn phân tích các thủ đoạn
của độc quyền để khống chế nền kinh tế, tiêu diệt đối thủ, thu lợi nhuận
độc quyền như khống chế giá cả, nguồn nguyên liệu, thị trường. Theo đó,
ông cho rằng, “Bây giờ không còn là tình trạng cạnh tranh giữa những nhà
máy nhỏ và nhà máy lớn, giữa những xí nghiệp lạc hậu về kỹ thuật và những xí
nghiệp tiên tiến về kỹ thuật nữa. Mà là tình trạng bọn độc quyền bóp chết
chúng”[106,tr.148]. Mặc dù, độc quyền sinh ra từ cạnh tranh song không thủ
tiêu cạnh tranh, cạnh tranh vẫn là đặc tính cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa và của sản xuất hàng hóa. Cạnh tranh tự do là đặc tính cơ bản của chủ
nghĩa tư bản và của nền sản xuất hàng hóa nói chung. Độc quyền là cái đối lập
trực tiếp với cạnh tranh tự do, nhưng trước mắt chúng ta cạnh tranh tự do biến
thành độc quyền, đồng thời độc quyền không thủ tiêu cạnh tranh là cái sản sinh
ra chúng, chúng tồn tại bên cạnh cạnh tranh tự do và cùng với cạnh tranh tự do,
những người nào không chịu phục tùng ách thống trị và chuyên chế của
32
và do đó sẽ gây ra một số mâu thuẫn, va chạm và xung đột đặc biệt gay gắt và
kịch liệt [106, tr.488]. Từ những phân tích của V.I.Lênin, có thể thấy, độc
quyền mà V.I.Lênin nghiên cứu hình thành là do chính sự vận động nội tại của
chủ nghĩa tư bản sinh ra. Nó là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới, nhưng
nó không vượt ra khỏi các quy luật của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là sự phát
triển, sự mở rộng, sự tiếp tục trực tiếp của những xu thế sâu sắc nhất của chủ
nghĩa tư bản, của nền sản xuất hàng hóa nói chung.
* Quan niệm của các nhà khoa học Việt nam
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm của các học giả nước ngoài và xuất
phát từ yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, các
nhà nghiên cứu kinh tế của Việt Nam cũng đưa ra những quan niệm khác nhau
về độc quyền, độc quyền doanh nghiệp. Theo tác giả Hoàng Đình Cán, độc
quyền kinh tế là tình trạng tập trung lực lượng (thực lực) kinh tế vào tay một
hoặc một số người, làm cho những người đó có quyền lực lớn đối với quá trình
tái sản xuất xã hội [30, tr. 4]. Từ điển Bách khoa Việt Nam thì lại cho rằng, độc
quyền, đó là tình trạng chỉ có một hay một ít người (hoặc tổ chức) độc chiếm thị
trường, được hình thành trên cơ sở tập trung lực lượng kinh tế vào tay một hay
một ít người (hoặc tổ chức), làm cho những người (hay tổ chức) này có quyền
lực kinh tế lớn đối với quá trình sản xuất, chi phối thị trường, quy định giá bán
nhuận độc quyền cao[24, tr.855].Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường, độc quyền
là số ít xí nghiệp lớn tư bản chủ nghĩa đi giành lợi nhuận độc quyền cao đã liên
doanh lại độc chiếm thị trường và sản xuất độc quyền một loại hàng hóa X nào
đó, là một loại kinh doanh và khống chế có tính chất loại trừ lẫn nhau [82, tr
315]. Độc quyền thị trường là mức độ mà một bộ phận hoặc cá biệt chủ thể hoạt
động kinh tế trong cạnh tranh có thực lực kinh tế được phát triển tương đối mạnh
dẫn đến mức có thể hạn chế thị trường và làm trở ngại hoạt động bình thường
của các chủ thể hành vi kinh tế cùng loại khác trong thị trường [82, tr124].
độc quyền cao, giá mua độc quyền hạ. Mục đích cuối cùng là nhằm thu được lợi
33
Dưới góc độ kinh tế học, từ điển Kinh tế học hiện đại cho rằng, độc
quyền là thuật ngữ để chỉ việc một doanh nghiệp nào đó duy nhất tồn tại
trên thị trường mà không có đối thủ cạnh tranh [36, tr682]. Từ điển Phân
tích kinh tế khẳng định: Một doanh nghiệp, hay một cá nhân ở thế độc
quyền là khi đấy doanh nghiệp duy nhất cung cấp một sản phẩm, thường
người ta gọi giản đơn là nhà độc quyền [8, tr190].
Tác giả Nguyễn Văn Ngọc cho rằng, một doanh nghiệp trở thành độc quyền
khi nó là người bán duy nhất đối với sản phẩm của mình và nếu sản phẩm đó không
có sản phẩm thay thế gần gũi [71, tr 362]. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung
ương CIEM cho rằng: Độc quyền trong kinh doanh là việc một doanh nghiệp hay
một tập đoàn kinh tế với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định khống
chế thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ [107, tr. 39]. Luật
Cạnh tranh 2005 của Việt Nam xác định, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc
quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh
nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Theo đó, doanh nghiệp có thị
phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan được coi là có vị trí thống lĩnh
trên thị trường liên quan, nếu là hai doanh nghiệp thì có tổng thị phần từ 50%
trở lên, ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên, và bốn doanh nghiệp
có tổng thị phần từ 75% trở lên. GS, TS Nguyễn Vân Nam cho rằng, độc quyền
lực trên thị trường của doanh nghiệp khi kinh doanh một sản phẩm xác định đối với
người tiêu thụ, đối với đối thủ cạnh tranh, đặt trong thị trường liên quan với những
sản phẩm có thể thay thế lẫn nhau, có tính năng sử dụng tương tự, hoặc có cùng mục
đích sử dụng [121]. Trong khi đó, tác giả Bùi Nguyễn Anh Tuấn (Cục Quản lý cạnh
tranh) đã đưa ra khái niệm độc quyền nhà nước khi cho rằng độc quyền nhà nước
(hay độc quyền quốc doanh) để chỉ các công ty có vị trí thống lĩnh hoặc sức mạnh thị
trường nhờ các hạn chế về cạnh tranh do nhà nước tạo ra. Trong hầu hết các trường
của một doanh nghiệp quy định trong Luật Cạnh tranh phải được hiểu là thứ quyền
34
hợp, các công ty thuộc loại này do nhà nước sở hữu và nhà nước không cho phép bất
kỳ một công ty tư nhân nào cạnh tranh [123].
Như vậy có thể nói, độc quyền là những hiện tượng kinh tế khách quan
của kinh tế kinh tế thị trường. Tuy nhiên, tính phổ quát cũng như những tác động
của nó tới nền kinh tế phụ thuộc vào chính sự phát triển, hoàn thiện của kinh tế
thị trường. Trước thực tế này, dưới góc nhìn khác nhau, các nhà kinh tế học đã
có những cách luận giải khác nhau. Mặc dù, các nhà khoa học trong và ngoài
nước chưa có sự phân định rõ giữa các thuật ngữ độc quyền, độc quyền doanh
nghiệp, nhưng có thể thấy, mục tiêu sử dụng thuật ngữ độc quyền là nhằm giải
thích một hiện tượng nhất định của kinh tế thị trường. Do vậy, dưới góc độ kinh
tế, có thể coi độc quyền doanh nghiệp là một biểu hiện cụ thể của độc quyền
trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, những quan niệm khác nhau trên đều có
những giá trị khoa học của nó, đóng góp vào sự phát triển của lý luận kinh tế học
nói chung và kinh tế chính trị học nói riêng về vấn đề độc quyền.
Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng, độc quyền là một hiện tượng
kinh tế khách quan, phản ánh sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường mà
không có đối thủ cạnh tranh. Khi có vị trí độc quyền, thị trường sẽ trao cho
doanh nghiệp quyền lực của mình, “khả năng tác động đến giá cả thị trường
của một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định”. Theo đó, độc quyền doanh nghiệp là
đầu ra của một loại hàng hóa nào đó trên thị trường. Quyền lực của doanh
nghiệp nếu không được kiểm soát và có biện pháp phòng, chống sẽ rất dễ dẫn
đến tình trạng doanh nghiệp “lạm dụng” quyền lực đó để thực hiện những hoạt
động phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp, duy trì, củng cố vị trí độc quyền
của mình, gây ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, độc quyền doanh
nghiệp thể hiện sức mạnh thị trường của mình thông qua sự lạm dụng độc
quyền, hạn chế cạnh tranh, thu lợi nhuận độc quyền cao. Độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những đặc điểm cơ bản là:
thuật ngữ dùng để chỉ quyền lực của doanh nghiệp trong việc chi phối đầu vào,
35
Một là, sự tập trung vào trong tay một hoặc một số doanh nghiệp nắm
phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa nào đó để bảo đảm vị trí
độc quyền trong một ngành hoặc một lĩnh vực. Theo đó, các yếu tố như số
lượng, quy mô, tiểm lực về vốn, công nghệ, thị phần… là những vấn đề các
doanh nghiệp luôn quan tâm. Việc nắm thị phần lớn cho thấy sự tồn tại sức
mạnh thị trường của doanh nghiệp và khả năng chi phối cung - cầu trên thị
trường. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, không nên đưa ra các mức thị
phần cụ thể, cố định để làm cơ sở xác định sức mạnh thị trường của doanh
nghiệp. Thay vào đó, thị phần của doanh nghiệp bị xem xét được đem so sánh
với thị phần của các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh, hoặc được xem
xét trong quá trình để đánh giá sự tồn tại và sự bền vững của sức mạnh thị
trường mà doanh nghiệp nắm giữ. Bởi có doanh nghiệp mặc dù nắm giữ 30%
thị phần trên thị trường liên quan nhưng không hề có sức mạnh vượt trội so
với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, trên một thị trường có 03 doanh nghiệp
đứng đầu, và nắm giữ lần lượt 50%, 30% và 20% thị phần. Một doanh nghiệp
trong số đó dù nắm giữ 30% thị phần cũng không thể có sức mạnh vượt trội
so với đối thủ hiện đang giữ 50% thị phần, do đó, không thể coi là có vị trí
thống lĩnh trên thị trường. Ngược lại, cũng tồn tại những thị trường trong đó
có 01 doanh nghiệp đứng đầu nắm giữ 20% thị phần, 80% thị trường còn lại
thuộc về các doanh nghiệp chỉ nắm giữ 1%-2% thị phần. Như vậy, doanh
lại có sức mạnh thị trường vượt trội so với phần còn lại của thị trường, hoàn
toàn có khả năng đưa ra những quyết định có ảnh hưởng tới toàn thị trường.
Hai là, khi xác lập được vị trí độc quyền, doanh nghiệp có xu hướng
lạm dụng vị trí đó nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Doanh nghiệp khi xác lập
được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường thì lúc này thị trường đã trao
cho doanh nghiệp đó một quyền lực nhất định, đó là “khả năng trong việc tác
động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc
mua”[34, tr628]. Thế nên, thay vì phải tuân theo quy luật của thị trường, doanh
nghiệp đứng đầu thị trường, mặc dù không nắm giữ tới 30% thị phần, nhưng
36
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền có thể “thao túng” trên thị trường đó,
lạm dụng vị trí đó nhằm thu lợi nhuận độc quyền.
Ba là, doanh nghiệp lợi dụng độc quyền nhà nước thành độc quyền
doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp. Đặc điểm này thể hiện
khá rõ nét trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với việc Nhà nước
chủ trương hình thành độc quyền nhà nước trên một số lĩnh vực thiết yếu, quan
trọng, song doanh nghiệp đã lợi dụng độc quyền nhà nước phục vụ cho lợi ích
của doanh nghiệp, biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.
Bốn là, có khả năng định giá thị trường, buộc đối thủ cạnh tranh và
người tiêu dùng phải tuân theo, giá cả đó gọi là giá cả độc quyền. Trên thị
trường, doanh nghiệp độc quyền nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một
loại hàng hóa nào đó, không chịu áp lực từ việc gia nhập ngành của các đối thủ
tiềm năng, có quyền lực thị trường lớn, vì vậy doanh nghiệp đó có khả năng
kiểm soát, định đoạt sản lượng cung ứng và mức giá thị trường.
Năm là, có khả năng ngăn cản sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác,
nhằm củng cố vị trí độc quyền của doanh nghiệp.
Những đặc điểm trên vừa phản ánh những nét chung của độc quyền doanh
nghiệp trong kinh tế thị trường, vừa thể hiện cái riêng, đặc thù trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Điểm khác biệt căn bản và cốt lõi nhất giữa độc
quyền doanh nghiệp ở các nước tư bản có nền kinh tế thị trường phát triển với
độc quyền đó dựa trên nền tảng quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất gì. Ở các
nước tư bản phát triển, độc quyền doanh nghiệp dựa trên và do quan hệ sở hữu
tư nhân, cao hơn là quan hệ sở hữu tập thể tư nhân về tư liệu sản xuất quyết định
và chi phối. Đến lượt nó, độc quyền chính là yếu tố, là công cụ đắc lực, hữu hiệu
để tiếp tục củng cố và bảo vệ quan hệ sở hữu mà đã sinh ra nó. Còn trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, độc quyền chủ yếu được thể hiện thông
qua độc quyền nhà nước. Nhà nước chủ trương hình thành và duy trì độc quyền
nhà nước trên một số lĩnh vực quan trọng, thiết yếu phục vụ cho đời sống xã hội,
độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là
37
bảo đảm ổn định vĩ mô nền kinh tế. Do đó, độc quyền ở đây dựa trên nền tảng
quan hệ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất mà Nhà nước là đại diện. Độc quyền
đó phục vụ cho lợi ích của toàn dân, của xã hội, với mục tiêu cao cả là làm cho
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”. Những đặc
điểm trên cũng là những dấu hiệu căn bản để nhận biết hiện tượng độc quyền
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
1.1.2. Các hình thức độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, độc quyền được biểu
hiện ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và nghiên
cứu có thể phân loại độc quyền theo các dạng sau:
Thứ nhất, căn cứ theo nguồn gốc hình thành gồm:
- Độc quyền được hình thành do quá trình tích tụ và tập trung sản xuất
mà nguyên nhân sâu xa là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo đó, độc
quyền xuất hiện như một tất yếu, phát triển từ thấp đến cao, từ độc quyền trong
sản xuất đến độc quyền trong lưu thông, từ độc quyền trong nước đến độc
quyền quốc tế. Biểu hiện của hình thức này dưới dạng: Các - ten (tổ chức độc
quyền liên minh về giá cả, độc lập về sản xuất); Xanh - đi - ca (tổ chức độc
quyền độc lập về sản xuất, lưu thông do ban quản trị đảm nhiệm); Tơ - rớt (tổ
trị đảm nhiệm); Công - xoóc - xi –om, Công-lô- mê-rat: (tổ chức độc quyền
cao, hỗn hợp, bao gồm những các - ten, xanh - đi - ca, tơ - rớt, thống nhất về tài
chính, phụ thuộc một nhóm tư bản kếch xù). Phát triển cao là độc quyền siêu
quốc gia với hình thức các công ty xuyên quốc gia và các công ty đa quốc gia.
Ở Việt Nam, độc quyền hình thành theo con đường này chưa phát triển,
do quy mô và khả năng tích tụ vốn của các tổ chức, các doanh nghiệp còn hạn
chế. Nếu so sánh quy mô vốn của một số tập đoàn của một số nước trong khu vực
và thế giới thì các tập đoàn kinh tế của nước ta còn quá khiêm tốn, tốc độ, quy mô
chức độc quyền điều hành tập trung, sản xuất và tiêu thụ đều do một ban quản
38
vốn khá cao nhưng không phải thông qua khả năng tích tụ và tập trung vốn hoặc
huy động qua thị trường chứng khoán mà do sự đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên,
với sự phát triển của kinh tế, sự lớn mạnh của các doanh nghiệp, lực lượng sản
xuất ngày càng phát triển, dưới áp lực của cạnh tranh, xu hướng dẫn tới độc quyền
xuất phát từ việc thỏa hiệp, thôn tính, sát nhập sẽ xuất hiện, phát triển. Quá trình
này làm cho năng lực doanh nghiệp thắng thế tăng lên (về nguồn lực, quy mô...)
thông qua thâu tóm doanh nghiệp yếu thế, dẫn tới sự bành chướng thị phần lớn
hơn. Đó là sân chơi khách quan trên thị trường theo quy luật cạnh tranh.
- Độc quyền có nguồn gốc từ sự can thiệp của Nhà nước, hay từ ý chí chủ
quan của chủ thể quản lý nhà nước. Ở đây, Nhà nước chủ trương hình thành độc
quyền Nhà nước trên một số lĩnh vực quan trọng, hoặc Nhà nước tạo cơ chế cho
một số doanh nghiệp hoạt động nhằm bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế. Trong
hình thức này, độc quyền có các dạng: Độc quyền do chính sách bảo hộ của Nhà
nước; độc quyền do địa vị xác lập (những tổ chức được Nhà nước trao cho
những lĩnh vực, những quy chế mang tính chất độc quyền); độc quyền sở hữu
nhà nước. Thực tế cho thấy ở Việt Nam, hiện tượng độc quyền sinh ra từ ý chí
chủ quan của chủ thể quản lý là trường hợp đặc thù trong nền kinh tế Việt Nam
do quá trình dài Nhà nước bao cấp và trao cho doanh nghiệp nhà nước nhiều ưu
kinh tế chủ yếu được hình thành từ một quyết định thành lập mang tính hành
chính của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại các tổng công ty nhà nước.
Có khi, quy mô vốn còn nhỏ, khả năng tích tụ vốn của các Tổng công ty còn yếu
chưa tương xứng với yêu cầu hình thành tập đoàn kinh tế nhưng vẫn được phê
duyệt hình thành.
- Độc quyền tự nhiên: Xuất hiện nhờ sử dụng các yếu tố sản xuất tự
nhiên có tính chất đặc biệt mà không tìm được các yếu tố đó ở những nơi
khác, hoặc không thể tự tạo ra các yếu tố đó bằng công nghệ, theo đó đưa lại
đãi về nguồn lực và cơ chế. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn
39
lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Biểu hiện dưới dạng này như việc sử dụng,
khai thác đất đai, tài nguyên, vị trí địa lý, những vùng đất, mỏ khoáng sản có
giá trị…Đối với một số ngành có có sự liên kết chặt chẽ về công nghệ tạo ra
lợi thế khác biệt cũng hình thành độc quyền như: đường sắt, hàng không, cấp
thoát nước… cũng được coi là loại hình doanh nghiệp độc quyền tự nhiên.
Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, và kinh tế thị trường, một
số loại độc quyền mà trước đây được cho là độc quyền tự nhiên đã dần được
xóa bỏ, chẳng hạn như bưu chính viễn thông, vận tải hàng không.
Thứ hai, căn cứ theo mức độ chi phối của doanh nghiệp đối với thị
trường, độc quyền có các dạng sau:
- Độc quyền bán: Là tình trạng trên thị trường chỉ có một người bán hàng
hóa nhưng có nhiều người mua.
- Độc quyền mua: Là tình trạng trên thị trường có nhiều người bán nhưng
chỉ có một người mua.
- Độc quyền hạn chế bán và độc quyền hạn chế mua cũng như độc quyền bán và
độc quyền mua, nhưng có điểm khác là ở đó có một số người bán hoặc một số người mua.
- Độc quyền song phương: Đặc điểm của độc quyền này là trên thị trường chỉ
có một người bán và một người mua. Đây là loại đặc biệt, không mang tính phổ biến.
Như vậy, tùy vào từng cách tiếp cận để xác định hình thức của độc quyền,
mỗi hình thức phản ảnh một biểu hiện cụ thể của độc quyền trong nền kinh tế.
1.1.3. Nguyên nhân hình thành độc quyền doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, độc quyền được hình thành từ quá trình cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Với tư cách là kết quả của quá trình cạnh tranh,
độc quyền được tạo bởi quá trình tích tụ, tập trung vốn cho sản xuất phát triển đến
một mức độ thì độc quyền xuất hiện, đúng như C.Mác đã chỉ ra: Tự do cạnh tranh
đẻ ra tập trung sản xuất, tập trung sản xuất đến một giai đoạn nhất định thì độc
40
quyền ra đời [10, tr359]. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, các chủ thể
cạnh tranh chủ yếu là các doanh nghiệp, họ tiến hành cạnh tranh với nhau về kinh
tế để thực hiện tối đa hóa lợi ích. Xét về góc độ lực lượng sản xuất, cạnh tranh đưa
đến sự sáng tạo kỹ thuật, đổi mới tổ chức, nâng cao năng suất lao động làm cho
lực lượng sản xuất phát triển. Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh là biện
pháp, con đường cơ bản để từng doanh nghiệp thu sản phẩm thặng dư hoặc lợi
nhuận độc quyền. Xét ở góc độ xu thế lịch sử, cạnh tranh tăng lên tất yếu dẫn tới
sự tích tụ vốn và tập trung sản xuất, từ đó thúc đẩy độc quyền xuất hiện.
Mặt khác, quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế
sẽ dẫn tới sự phá sản hoặc thôn tính của doanh nghiệp này đối với doanh
nghiệp khác cùng lĩnh vực, hoặc có thể có sự thỏa hiệp của các doanh nghiệp
kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, sự thỏa hiệp này làm xuất hiện một
doanh nghiệp mới mà quy mô và sức mạnh của nó được nhân lên rất nhiều.
Kết quả là số lượng các doanh nghiệp trên thị trường trong một thời điểm nhất
định sẽ giảm đi tương đối, song quy mô và sức mạnh các doanh nghiệp lại
tăng lên tuyệt đối, chính quy mô to lớn của các doanh nghiệp làm cho cạnh
tranh ngày càng khó khăn, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng thỏa thuận
với nhau làm nảy sinh khuynh hướng đi đến độc quyền. Như vậy, chính
trong quá trình cạnh tranh đã mang xu thế hướng tới độc quyền. Mặc dù cạnh
cực, tuy nhiên, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ, đến một giai đoạn
nhất định thì độc quyền xuất hiện.
Thứ hai, Nhà nước chủ trương hình thành độc quyền Nhà nước trên một số
lĩnh vực. Nói cách khác, độc quyền được hình thành từ phía cơ chế Nhà nước, có
những lĩnh vực Nhà nước chỉ cho doanh nghiệp Nhà nước thực hiện, chẳng hạn
tranh đối lập với độc quyền bởi độc quyền luôn triệt tiêu sự cạnh tranh tích
chốt ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế, hoặc có những lĩnh vực Nhà nước tạo cơ chế,
chính sách ưu đãi cho một số doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia một phần,
như các lĩnh vực liên quan đến quốc phòng, an ninh, những ngành kinh tế then
41
một khâu, hoặc một công đoạn trong chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm độc
quyền, hoặc cũng có thể cho doanh nghiệp khác tham gia những phải đáp ứng các
điều kiện và quy định do Nhà nước đề ra. Đây là độc quyền được tạo ra để Nhà
nước có thể chi phối những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đảm bảo sự ổn
định của nền kinh tế và đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho người dân, nó gắn
liền với việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách an ninh, quốc phòng.
Thứ ba, độc quyền hình thành từ đòi hỏi của quy mô đầu tư và kỹ thuật,
công nghệ sản xuất. Theo đó, trong những ngành kinh tế nhất định tồn tại các yêu
cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, hoặc yêu cầu về quy mô đầu tư mà chỉ những nhà đầu
tư nào đáp ứng được yêu cầu về công nghệ, hoặc về số vốn đầu tư tối thiểu đó mới
có thể đầu tư kinh doanh có hiệu quả. Chính những điều kiện về vốn, công nghệ
đã loại bỏ dần những chủ thể nào không đủ khả năng, chỉ còn lại những chủ thể
đáp ứng đủ điều kiện đó, khi đó thị trường đã trao cho họ vị trí độc quyền.
Thực tiễn cho thấy, trong một số ngành, lĩnh vực không phải doanh
nghiệp nào cũng có đủ khả năng cũng như tiềm lực để tiến hành sản xuất, kinh
doanh trên những ngành, lĩnh vực đòi hỏi cao về vốn, khoa học công nghệ, nhất
là trong giai đoạn hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự
đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm đòi hỏi rất lớn,
trong khi đó những tổ chức, những tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền lại có tiềm
khác vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh những sản phẩm mang tính chất độc
quyền sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm trí khó có thể thực hiện được.
Thứ tư, độc quyền hình thành từ sự tồn tại các rào cản trên thị trường. Trên
thị trường thường tồn tại những rào cản như: Quyết định hành chính của cơ quan
quản lý nhà nước; các quy định về điều kiện kinh doanh, sử dụng hàng hóa, dịch
vụ, các chuẩn mực nghề nghiệp; sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công
nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về sở hữu công
lực mạnh cả về nhân lực và vật lực. Vì vậy, việc tham gia của các doanh nghiệp
42
nghiệp; các rào cản về tài chính; tập quán của người tiêu dùng… Chính những rào
cản này là những nhân tố ngăn cản hoặc kìm hãm các doanh nghiệp tham gia vào
một thị trường riêng biệt, làm cho độc quyền từ đó cũng được hình thành.
1.2. Khái niệm, nội dung và sự cần thiết chống độc quyền doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1. Khái niệm về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chống độc quyền doanh nghiệp trên thực tế tuy đã được bàn nhiều,
nhưng cho đến nay chưa có học giả nào đưa ra khái niệm về vấn đề này. Từ
quan niệm chung về độc quyền và độc quyền doanh nghiệp, tác giả cho rằng:
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là tổng thể các cách thức, biện pháp được Nhà nước XHCN và các
chủ thể kinh tế sử dụng để quản lý, kiểm soát và ngăn chặn các hành vi độc
quyền của doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế, nhằm tạo lập môi
trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết hài
hòa các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Từ quan niệm trên, tác giả cho rằng, thực chất của hoạt động này là sự tác
động của Nhà nước và các chủ thể kinh tế đối với những doanh nghiệp có hành
thể kinh tế là chủ thể của hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp. Cần nhấn
mạnh ở đây là Nhà nước pháp quyền XHCN, với vai trò tổ chức và sáng tạo đặc
biệt của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước không chỉ tạo lập môi trường pháp lý
ổn định, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia thị trường, là trung tâm điều phối
các lợi ích, định hướng quá trình phát triển theo yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, mà còn thường xuyên, kiểm kê, kiểm soát, thanh tra,
kiểm tra các hoạt động kinh tế của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, bảo đảm
thực thi pháp luật, giải quyết hài hòa các lợi ích của Nhà nước, xã hội, doanh
vi độc quyền gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế, trong đó Nhà nước và các chủ
43
nghiệp, và của người dân, bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối
kinh tế vĩ mô, đồng thời ngăn chặn những hoạt động phi pháp, gây mất ổn định
cho nền kinh tế. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho hoạt động chống độc
quyền doanh nghiệp đạt hiệu quả, theo định hướng XHCN.
Đối với các chủ thể kinh tế, trong đó vai trò của các doanh nghiệp, tổ
chức xã hội, các hiệp hội và người tiêu dùng trong chống độc quyền cũng hết
sức quan trọng. Doanh nghiệp với tư cách là chủ thể hoạt động trực tiếp, góp
phần quan trọng nếu không nói là quyết định tới tính lành mạnh của môi
trường cạnh tranh. Các tổ chức xã hội không chỉ là nơi tập hợp các nhu cầu cá
nhân, cộng đồng để hình thành nên các nhu cầu xã hội, mà còn tham gia xây
dựng cơ chế, chính sách, pháp luật và giám sát, phản biện xã hội đối với cơ
chế, chính sách, pháp luật phát triển và quản lý xã hội nói chung cũng như
trong hoạt động xây dựng môi trường cạnh tranh, chống độc quyền nói riêng.
Chính các tổ chức xã hội góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành
mạnh, tham gia trực tiếp việc giám sát, kiểm tra hoạt động của bộ máy công
quyền và hành vi của đội ngũ cán bộ công chức, góp phần ngăn chặn và khắc
phục tình trạng quan liêu, tha hóa và lạm quyền trong các cơ quan nhà nước,
đồng thời đưa ra những khuyến nghị nhằm bảo đảm tính dân chủ trong cạnh
tranh và tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cùng với các tổ chức xã
chống độc quyền doanh nghiệp. Người tiêu dùng thông qua hiệp hội của mình
để nói lên tiếng nói của họ, phản ánh những nhu cầu cũng như những khúc
mắc tới các doanh nghiệp. Họ có thể sử dụng “quyền lực” của họ với tư cách
là “thượng đế” để tạo ra những áp lực, dư luận xã hội, buộc các doanh nghiệp
độc quyền phải có những điều chỉnh để đáp ứng thỏa đáng nhu cầu của họ.
Đối tượng của hoạt động chống độc quyền là các doanh nghiệp trong
nền kinh tế hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực
hội, tiếng nói của người tiêu dùng cũng đóng góp không nhỏ trong hoạt động
44
hiện các hành vi lợi dụng độc quyền gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Nói
cách khác, trong hoạt động chống độc quyền, chỉ có những doanh nghiệp nào
lợi dụng độc quyền thao túng thị trường, thu lợi bất chính, gây ảnh hưởng xấu
tới môi trường cạnh tranh, làm méo mó, biến dạng các quy luật vận động, tác
động tiêu cực tới nền kinh tế thì mới là đối tượng của hoạt động chống độc
quyền, không phân biệt về quy mô, lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế.
Để hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp đạt hiệu quả, cần vận dụng
linh hoạt các cách thức, biện pháp bao gồm: Biện pháp pháp chế; kinh tế; giáo
dục. Trong biện pháp pháp chế, pháp luật là công cụ quan trọng nhất và có
tác động lớn nhất, được Nhà nước sử dụng trong quá trình quản lý, chống
độc quyền doanh nghiệp. Ở đây, Nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp
luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động theo những hướng nhất định
vào các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự trong lĩnh vực cạnh tranh. Tác động
quản lý và chống độc quyền của pháp luật được Nhà nước sử dụng thông
qua việc thể chế hóa chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế
của đất nước trong từng giai đoạn, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN để triển khai thực hiện. Trong biện pháp
kinh tế, cùng với việc sử dụng các công cụ, các đòn bẩy kinh tế thì việc
nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là yếu tố quan trọng trong
doanh nghiệp và phát huy sức mạnh của các chủ thể sẽ góp phần hạn chế
những tác động tiêu cực do độc quyền doanh nghiệp gây ra. Trong biện
pháp giáo dục thì yếu tố tuyên truyền phổ biến pháp luật là yếu tố không
thể thiếu. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục để các
chủ thể hiểu, nắm vững và thực hiện đúng.
Mục đích chính của hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp là nhằm
xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh
nghiệp, giải quyết hài hòa các lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế. Để thực
chống độc quyền doanh nghiệp. Thông qua cạnh tranh lành mạnh giữa các
45
hiện được mục tiêu đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tạo ra một trật tự
cạnh tranh, trên cơ sở tuân thủ đúng các quy luật kinh tế, các nguyên tắc cạnh
tranh trên thị trường, phù hợp với tính chất XHCN, do Nhà nước quy định để
có thể bảo đảm tính cạnh tranh lâu dài, trong đó mọi doanh nghiệp đều có cơ
hội như nhau, thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực cạnh tranh của
từng doanh nghiệp. Đồng thời, giải quyết hài hòa các lợi ích cho các chủ thể
trong nền kinh tế, trong đó lợi ích của doanh nghiệp độc quyền phải được đặt
trong tổng thể lợi ích của Nhà nước XHCN, xã hội và người tiêu dùng.
Thực tế cho thấy, đối với doanh nghiệp, bên cạnh nhu cầu xã hội,
doanh nghiệp lại có nhu cầu riêng của mình, lợi ích đó chỉ phản ánh lợi ích
của một bộ phận, nhóm người trong xã hội. Hơn nữa, doanh nghiệp độc
quyền không bao giờ muốn “chia sẻ”, “san bớt” lợi ích của mình cho doanh
nghiệp khác, cho xã hội, bởi như vậy “miếng bánh” mà doanh nghiệp độc
quyền được nhận sẽ bị bớt đi. Trong khi đó, lợi ích của Nhà nước, xã hội là sự
phản ánh lợi ích chung, cho số đông, bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức đều có lợi
ích và được thừa hưởng những lợi ích trong đó. Nhà nước với nhiệm vụ hết
sức quan trọng là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện công bằng xã hội để
phát triển bền vững, đôi khi giữa thực hiện hiệu quả kinh tế và các mục tiêu
vì vậy dễ dẫn đến sự “lệch pha” giữa nhu cầu lợi ích của doanh nghiệp độc
quyền và Nhà nước, xã hội. Do đó để chống độc quyền doanh nghiệp cần phải
giải quyết hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, Nhà nước và xã hội. Chống độc
quyền doanh nghiệp không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bất kỳ đối thủ
cạnh tranh nào. Chống độc quyền doanh nghiệp cũng không đồng nghĩa với
phủ định vai trò của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước là lực
lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, là lực lượng vật chất quan trọng , là
công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, góp
xã hội lại đòi hỏi có sự “đánh đổi” để hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội,
46
phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo định hướng XHCN.
Theo đó, chống độc quyền doanh nghiệp chỉ gạt bỏ vai trò áp đặt hình thành
một cách chủ quan các doanh nghiệp độc quyền nhà nước. Nói cách khác,
chống độc quyền doanh nghiệp không nhằm loại bỏ doanh nghiệp độc quyền
mà chỉ nhằm quản lý, kiểm soát, ngăn chặn các hiện tượng, các hoạt động độc
quyền doanh nghiệp để dẫn đến những tiêu cực cho nền kinh tế, bóp méo cạnh
tranh, đi ngược với tính định hướng XHCN.
1.2.2. Nội dung chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN có phạm vi rất rộng, tính chất phức tạp. Từ quan niệm về
chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN được đề cập ở trên, nội dung chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là:
Một là, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp
Chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp là một
trong những nội dung trọng tâm của chống độc quyền doanh nghiệp nhằm bảo vệ
môi trường cạnh tranh lành mạnh. Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc
vị trí thống lĩnh hoặc có vị trí độc quyền lợi dụng sức mạnh thị trường của
mình nhằm làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Thực
chất, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là hoạt động
hạn chế cạnh tranh nhằm ngăn chặn đối thủ thực tế hoặc tiềm năng tham
gia thị trường, đồng thời khai thác lợi thế mà vị trí thống lĩnh, vị trí độc
quyền đem lại, qua đó tăng cường và củng cố địa vị của mình, thực hiện thu
lợi nhuận độc quyền cao.
quyền trên thị trường là hành vi của một hoặc một nhóm doanh nghiệp có
47
Nội dung chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp gồm:
Thứ nhất, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh để chèn ép, ngăn cản việc
gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh hiện tại cũng như tiềm năng. Để
ngăn cản đối thủ, các doanh nghiệp độc quyền thực hiện nhiều thủ đoạn như tạo ra
những rào cản: Yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh
tranh mới; yêu cầu các nhà phân phối, các cửa hàng bán lẻ không chấp nhận phân
phối những mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới; hoặc bán hàng hoá, cung ứng
dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.
Thứ hai, chống lạm dụng vị trí độc quyền để áp đặt những điều kiện bất
lợi cho người tiêu dùng và xã hội. Chẳng hạn, áp đặt điều kiện thương mại khác
nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; Áp đặt
giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý. Các doanh nghiệp độc quyền áp
đặt giá bán cao (độc quyền bán) hoặc giá mua thấp (độc quyền mua) hơn mức
bình thường nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao. Đối với độc quyền bán,
người tiêu dùng buộc phải trả thêm một khoản tiền cho các doanh nghiệp
độc quyền, mà lẽ ra trong trường hợp cạnh tranh họ không phải trả, và
doanh nghiệp độc quyền chiếm nó bằng cách thủ tiêu quyền lựa chọn của
người tiêu dùng. Đối với độc quyền mua, doanh nghiệp độc quyền sẽ gây
Bên cạnh đó, doanh nghiệp độc quyền còn thực hiện hạn chế sản xuất,
phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường nhằm “bóc lột” khách hàng, thu
lợi nhuận độc quyền. Hoặc lợi dụng vị trí độc quyền, doanh nghiệp còn có thể
đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính
đáng, thậm chí không cần thông báo trước cho khách hàng và không phải chịu
bất cứ một hình thức xử phạt nào. Đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng
đã giao kết căn cứ vào một hoặc một số lý do không liên quan trực tiếp đến các
điều kiện cần thiết để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng.
sức ép để làm giảm giá mua sản phẩm từ những người bán.
48
Thứ ba, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để biến độc
quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp phục vụ cho lợi ích của doanh
nghiệp. Trong thực tiễn, một số doanh nghiệp nhà nước có được vị trí thống
lĩnh, vị trí độc quyền là do Nhà nước chủ trương xác lập hình thành. Những
doanh nghiệp này được Nhà nước giao cho quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật và
các nguồn lực, đồng thời thực hiện sản xuất, kinh doanh trên một số lĩnh vực
mà Nhà nước độc quyền hoặc nắm giữ cổ phần chi phối. Tuy nhiên, nhiều
doanh nghiệp đã lợi dụng sự ủy nhiệm đó để biến độc quyền Nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp và một nhóm
người trong xã hội, làm ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của
quốc gia và sự ổn định của nền kinh tế. Vì vậy, cần phải chống doanh nghiệp
lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để biến độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp. Theo đó, tập trung vào các nội dung sau:
- Chống doanh nghiệp lợi dụng về các cơ chế, chính sách dành cho doanh
nghiệp độc quyền nhà nước. Để thực hiện độc quyền nhà nước trên một số lĩnh
vực quan trọng, thiết yếu, bảo đảm sự ổn định nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước đã
ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, tạo cơ sở pháp lý cho Nhà nước thực
hiện độc quyền trên những lĩnh vực xác định. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện, doanh nghiệp độc quyền nhà nước đã lợi dụng các cơ chế, chính sách,
nghiệp, làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp độc quyền luôn tìm cách tác động đến cơ quan, cá
nhân có thẩm quyền trong việc đề ra cơ chế, chính sách nhằm hướng vào việc
có lợi cho doanh nghiệp đó. Bản thân các tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền
luôn có quan hệ chặt chẽ về chính trị với các công chức, cán bộ lãnh đạo, kể
cả lãnh đạo cao cấp, vì vậy doanh nghiệp rất dễ lợi dụng mối quan hệ đó để tác
động. Ngược lại, trong vai trò là người đại diện chủ sở hữu và người hoạch định
những ưu đãi như về vốn, về tín dụng… để phục vụ cho lợi ích của doanh
49
chính sách, các cơ quan và công chức nhà nước có liên quan có thể can dự trực
tiếp vào nhiều mặt trong việc ra các quyết định đầu tư, kinh doanh và cả nhân sự
ở các tập đoàn, tổng công ty, các doanh nghiệp độc quyền. Vì vậy, trong quá
trình xây dựng cơ chế, chính sách chung cho các đối tượng, các cơ quan và cá
nhân thường dành những ưu ái cho các doanh nghiệp này thông qua những quy
định, điều kiện có tính chất pháp lý nhằm hợp lý hóa sự ưu ái đó.
Thực tế cũng chỉ ra, các quyết định của các cơ quan quản lý trong việc
xây dựng các cơ chế chính sách cũng không thể bao quát và tính toán được hết
mọi khả năng, tình huống có thể xảy ra. Do đó, trong các cơ chế, chính sách
nhiều khi không tránh được những thiếu xót, những lỗ hổng trong quản lý. Theo
đó, các doanh nghiệp độc quyền tìm cách “lách luật” để thực hiện những hoạt
động có lợi cho doanh nghiệp mà không vi phạm. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các
cơ quan quản lý nhà nước là phải đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp
với thực tiễn, để các doanh nghiệp được tiếp cận như nhau, bảo đảm sự công
bằng về cơ hội phát triển, công bằng về sử dụng các nguồn lực và công bằng về
hưởng thụ các cơ chế, chính sách phát triển. Thông qua đó, quản lý tốt các hoạt
động của doanh nghiệp độc quyền, cũng như phục vụ cho lợi ích chung của mọi
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Có như vậy mới thể hiện rõ tính chất định
hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.
nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước ủy quyền nắm giữ một
lượng lớn tài sản của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
mà Nhà nước xác định. Với tài lực, nhân lực và vật lực trong tay, các doanh
nghiệp nhà nước ngoài việc thực hiện chức năng sản xuất, kinh doanh như
một đơn vị kinh tế độc lập còn tham gia các nhiệm vụ chính trị, xã hội mà
Nhà nước giao. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, các doanh nghiệp này có
xu hướng lợi dụng tài lực, nhân lực, vật lực đó để phục vụ cho lợi ích của
doanh nghiệp. Việc không phân định, tách bạch, hạch toán rõ ràng trong hoạt
- Chống doanh nghiệp lợi dụng về tài lực, nhân lực, vật lực. Các doanh
50
động kinh doanh và trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội đã giúp cho
doanh nghiệp càng có điều kiện để lợi dụng.
Hai là, chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp độc quyền
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi câu kết giữa hai hay nhiều
doanh nghiệp để thủ tiêu sự cạnh tranh giữa chúng, ngăn cản việc tham gia thị
trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng như sự gia nhập của các doanh
nghiệp tiềm tàng. Những thỏa thuận này được thể hiện thông qua các hợp
đồng, nghị quyết, các thỏa thuận ngầm giữa các doanh nghiệp với nhau. Hậu
quả tất yếu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự độc quyền hóa thị trường,
theo đó, các vấn đề quan trọng của thị trường như giá cả, sản lượng, khách
hàng… không còn tuân thủ theo quy luật thị trường mà bị khống chế bởi một
nhóm các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
Chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tập trung vào những hoạt động
của doanh nghiệp độc quyền cả trong lưu thông và sản xuất. Trong lĩnh vực
lưu thông: Chống thỏa thuận về phân chia thị phần tiêu thụ sản phẩm, nguồn
cung cấp hàng hóa, ấn định giá hàng hóa. Trong lĩnh vực sản xuất: chống hạn
chế hoặc kiểm soát khối lượng sản xuất hàng hóa; thoả thuận hạn chế phát
triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư.
Ba là, chống ấn định giá sản phẩm bất hợp lý nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
của nhau để xác định một mức giá, hoặc một công thức tính giá duy nhất mà họ sẽ
áp dụng khi tiêu thụ sản phẩm của mình. Đây là kết quả của sự tự nguyện giữa
những người tham gia thỏa thuận (những người tham gia thỏa thuận là đối thủ
cạnh tranh của nhau - cùng kinh doanh trên thị trường liên quan) và tất cả doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận có nghĩa vụ áp dụng giá đã thỏa thuận khi tiêu thụ sản
phẩm của mình. Ấn định giá sản phẩm bất hợp lý là sự phủ định, đi ngược lại quy
luật giá trị - một trong những quy luật cơ bản của kinh tế thị trường, và càng đi
ngược lại những yêu cầu của một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong
việc giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Ấn định giá là sự thống nhất giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
51
Với hoạt động ấn định giá sản phẩm bất hợp lý, người tiêu dùng đã phải chịu
thiệt hại, bởi giá mà họ phải mua quá cao so với giá trị thực tế của sản phẩm; hoặc
phải bán với giá thấp hơn giá thành của sản phẩm. Giá mua, bán sản phẩm trên thị
trường không được hình thành từ cạnh tranh mà do các doanh nghiệp thống lĩnh
hoặc độc quyền ấn định. Mức chênh lệch giữa giá được ấn định với giá cạnh tranh
là khoản tiền lời (lợi nhuận độc quyền) mà doanh nghiệp độc quyền có được. Do
đó, lợi nhuận mà việc ấn định giá bất hợp lý đem lại cho doanh nghiệp không
phải do khả năng kinh doanh hay tài năng của doanh nghiệp mang lại, mà do kết
quả của sự lạm dụng độc quyền, lạm dụng tình trạng không có khả năng lựa
chọn khác của khách hàng, buộc họ phải chấp nhận mức giá mà doanh nghiệp có
sức mạnh thị trường áp đặt. Với những hành vi này, giá mua, giá bán hàng hóa
dịch vụ không được hình thành theo đúng các quy luật của thị trường, mà do các
doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định. Do đó, hành vi ấn định giá mua,
giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt
hại cho khách hàng bị coi là hạn chế cạnh tranh không chỉ bởi mục đích “bóc
lột” khách hàng của các doanh nghiệp, mà còn bởi chúng làm sai lệch cơ chế
hình thành giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ, vì vậy cần phải chống.
Chống ấn định giá sản phẩm bất hợp lý bao gồm cả trong giá mua và
giá bán. Theo đó, thực hiện kiểm soát chặt chẽ giá cả của những mặt hàng
thời xử lý nghiêm những hiện tượng ấn định giá bất hợp lý.
Bốn là, thực hiện kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế của các
doanh nghiệp có xu hướng hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền.
Tập trung kinh tế (hay còn gọi là tập trung sản xuất) được hiểu là tăng
thêm vốn do hợp nhất nhiều doanh nghiệp lại hoặc một doanh nghiệp này thu
hút một doanh nghiệp khác thông qua các con đường sát nhập, hợp nhất. Thực
thiết yếu, hàng hóa có tính chất độc quyền, công khai, minh bạch về giá, đồng
nhằm khai thác những lợi thế kinh tế, qua đó chi phối các vấn đề như: thị
trường, số lượng, giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
chất của tập trung kinh tế là việc hình thành những liên minh, tập đoàn kinh tế
52
Tập trung kinh tế được biểu hiện thông qua các hình thức như: Sáp nhập,
hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tham
gia tập trung kinh tế thường chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế như vốn, lao
động, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh... mà họ đang nắm giữ
riêng lẻ để hình thành một khối thống nhất hoặc phối hợp hình thành các nhóm
doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và cạnh
tranh, hình thành nên các thế lực độc quyền mà không thông qua sự tích tụ vốn
hay tư bản. Như vậy, kết quả của tập trung kinh tế là việc hình thành các công ty,
các tập đoàn kinh tế, thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên
thị trường. Các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh… là cách
thức không tốn kém nhiều thời gian để hình thành nên quyền lực thị trường, và
quyền lực đó nếu không được kiểm soát và giám sát sẽ dễ dẫn đến việc các
doanh nghiệp, các tập đoàn có thể chi phối, lũng đoạn thị trường, xa hơn, có thể
là sự thao túng về kinh tế từ đó thao túng, gây mất ổn định chính trị. Vì vậy,
trong hoạt động tập trung của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp độc
quyền, Nhà nước phải luôn luôn quan tâm và có những quy định cụ thể.
Nội dung kiểm soát cần tập trung vào kiểm soát các hoạt động sáp nhập,
hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp có xu hướng hình thành
vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp. Mục đích của việc kiểm soát
tập trung kinh tế không phải để cấm hành vi này, cũng không phải để khuyến
trường cạnh tranh do hoạt động tập trung kinh tế có nguy cơ gây ra cho thị
trường, bảo đảm trật tự trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh.
khích nó, mà nhằm quản lý, ngăn chặn hậu quả làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi
1.2.3. Sự cần thiết phải chống độc quyền doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
* Xuất phát từ yêu cầu tạo lập môi rường cạnh tranh lành mạnh trong phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào cũng đều cần có một môi trường
cạnh tranh lành mạnh để các doanh nghiệp hoạt động. Khi có sự cạnh tranh lành
53
mạnh, nó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi các bí quyết
kinh doanh, tiếp cận các công nghệ mới… để phát triển hoạt động kinh doanh của
mình. Ngược lại, khi môi trường cạnh tranh lành mạnh bị phá vỡ, cạnh tranh tích
cực sẽ bị triệt tiêu, thay vào đó là các thủ đoạn, các hình thức cạnh tranh gian dối,
vi phạm pháp luật trở nên phổ biến. Những doanh nghiệp tồn tại được trong điều
kiện như vậy thường không phải là những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các tài
nguyên, mà là những doanh nghiệp có nhiều thủ đoạn cạnh tranh nhất. Hệ quả tất
yếu là sự tập trung đặc quyền, đặc lợi cho một nhóm nhỏ doanh nghiệp, trong khi
lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và của xã hội
bị tổn hại và môi trường cạnh tranh bị biến dạng.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN càng đòi hỏi phải có
một môi trường cạnh tranh lành mạnh, ở đó các chủ thể kinh tế hoạt động sản
xuất, kinh doanh và thực hiện cạnh tranh lành mạnh trong một khuôn khổ
pháp luật, phù hợp luật pháp và đạo đức xã hội, theo đúng định hướng với sự
quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, phục vụ sự phát triển lành mạnh,
bình đẳng của mọi doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế, không có sự phân
biệt, được bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực (vốn, cơ sở vật chất, nguồn
nhân lực và cơ hội kinh doanh...), được tự do lựa chọn các phương thức tài
phán để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra và
XHCN, vấn đề đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh không chỉ là yêu cầu
chính đáng, bức thiết của bản thân các doanh nghiệp, mà đó còn là vì lợi ích của
đông đảo người tiêu dùng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta theo
định hướng XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội đã chỉ rõ “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế… Các thành phần
được đối xử công bằng, khách quan. Trong nền kinh tế thị trường định hướng
kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh”[41, tr73]. Vấn đề tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng là
kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền
54
một trong những nội dung quan trọng trong đột phá chiến lược về hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để tạo lập môi trường cạnh tranh lành
mạnh, kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các
giải pháp trong đó có vấn đề kiểm soát, chống độc quyền doanh nghiệp.
* Xuất phát từ những tác động tiêu cực của độc quyền doanh nghiệp
đối với kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng – an ninh.
- Trên lĩnh vực kinh tế. Độc quyền doanh nghiệp làm phá vỡ môi
trường cạnh tranh, hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, triệt tiêu
động lực phát triển kinh tế - xã hội. Khi tồn tại độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế sẽ dẫn đến bất bình đằng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Ở đó, doanh nghiệp độc quyền không phải chịu áp lực lớn từ phía các doanh
nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh của mình, do đó, nó tạo ra sức ì rất lớn đối
với chính bản thân doanh nghiệp độc quyền. Trong khi đó các doanh nghiệp
khác cũng không muốn và cũng không có khả năng để “đối đầu” cạnh tranh
với doanh nghiệp độc quyền. Bên cạnh đó, tình trạng phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các DNNN và các doanh nghiệp tư nhân đã
ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Các DNNN nắm giữ trong
tay nguồn lực lớn với nhiều ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực so với các
doanh nghiệp ngoài nhà nước. Với những lợi thế tuyệt đối, DNNN gần như độc
tranh. Nhưng xét về năng lực cạnh tranh, nhiều DNNN lại hoạt động với hiệu
quả thấp. Hiện tượng phân biệt đối xử giữa DNNN với các doanh nghiệp khác
tạo ra sự thiên vị vô lý trong sản xuất kinh doanh. Điều đó đã làm hạn chế khả
năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, doanh nghiệp không có sự
cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, môi trường cạnh tranh sẽ bị bóp méo, quy
luật cạnh tranh bị phá vỡ, thị trường cạnh tranh bị thu hẹp lại. Theo đó, quyền
được sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích của các chủ thể và của xã hội
không được khơi dậy và phát huy. Trong một xã hội, việc thiếu vắng sự sáng tạo
tôn trong nhiều lĩnh vực mà không có một doanh nghiệp tư nhân nào có thể cạnh
55
sẽ kìm hãm sự phát triển, làm cho ý nghĩa của cạnh tranh, động lực của sự phát
triển cũng theo đó không còn.
Độc quyền doanh nghiệp gây cản trở hoạt động cải tiến, áp dụng những tiến
bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hóa sản xuất kinh doanh, kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Nhìn chung để trở thành độc quyền, doanh nghiệp độc quyền
cũng phải tập trung sức lực để tạo ra sức mạnh riêng cho mình như cải tiến tổ chức,
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện hoạt động nghiên cứu triển khai,
tập trung mọi nguồn lực để giành vị thế độc quyền. Tuy nhiên, khi xác lập được vị trí
độc quyền, doanh nghiệp không phải chịu nhiều sức ép cạnh tranh từ các đối thủ
khác, vì vậy trong những giai đoạn, thời điểm nhất định, vấn đề cải tiến kỹ thuật,
công nghệ sản xuất, phương thức quản lý không được doanh nghiệp độc quyền quan
tâm đúng mức, doanh nghiệp “tự bằng lòng” với những gì họ đang có. Trong khi đó,
các hoạt động dành cho quảng cáo, khuyếch trương sản phẩm, doanh nghiệp, những
chi phí bất hợp lý cho việc bảo vệ vị thế độc quyền đôi khi được đầu tư quá mức.
Những chi phí không phục vụ mục đích kinh doanh nhưng vẫn được hạch toán vào
chi phí sản xuất, điều này làm lãng phí các nguồn lực phát triển của xã hội.
Thực tiễn cho thấy, để tiếp tục duy trì vị thế độc quyền, các tổ chức độc
quyền đã tập trung nguồn lực lớn cả về nhân lực và vật lực để nghiên cứu và
mua phần lớn các phát minh sáng chế khoa học kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên,
vụ phát triển kinh tế lại rất hạn chế, nó phụ thuộc vào vị trí của độc quyền trên thị
trường. Chỉ khi vị trí này bị cạnh tranh thì việc ứng dụng những phát minh, sáng
chế mới đặt ra. Với ý nghĩa đó, độc quyền đã làm biến dạng, lãng phí các nguồn lực
phát triển, trở thành vật cản cho sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội.
Độc quyền doanh nghiệp dễ dẫn đến sự thao túng thị trường, áp đặt những
điều kiện có lợi cho doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cao. Một trong những biểu
hiện là việc áp đặt các điều kiện bất lợi cho xã hội, cho người tiêu dùng, khách
hàng buộc phải tuân theo các điều kiện áp đặt của họ. Trong một số lĩnh vực độc
việc ứng dụng những thành tựu này vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, phục
56
quyền, doanh nghiệp buộc người tiêu dùng phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ của họ
với giá cao, được ấn định trước và không có những lời giải thích hợp lý về cơ cấu
giá. Ở đây, người tiêu dùng không còn sự lựa chọn nào khác, buộc phải chấp nhận
những điều kiện do độc quyền doanh nghiệp đưa ra, thậm trí họ buộc phải trả
thêm một khoản tiền cho các doanh nghiệp độc quyền mà lẽ ra trong trường hợp
cạnh tranh họ không phải trả, và doanh nghiệp độc quyền chiếm nó bằng cách thủ
tiêu quyền lựa chọn của người tiêu dùng. Chính độc quyền doanh nghiệp đã nảy
sinh tình trạng áp đặt phong cách và chất lượng dịch vụ không phù hợp với người
tiêu dùng. Mức giá hàng hóa độc quyền bao giờ cũng cao hơn chi phí cận biên.
Người tiêu dùng phải chấp nhận mức giá đó do không có cơ hội lựa chọn khác đối
với những hàng hóa và dịch vụ do các doanh nghiệp này cung cấp.
- Trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Từ độc quyền trong lĩnh vực kinh tế có
thể dẫn đến chi phối, độc quyền trong lĩnh vực chính trị. Doanh nghiệp lớn,
doanh nghiệp độc quyền có thể thực hiện sự áp đặt các điều kiện kinh tế,
chính trị đằng sau các dự án đầu tư, sản xuất, đúng như C.Mác khẳng định
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: Kẻ nào nắm được quyền lực kinh tế
sẽ nắm được quyền lực chính trị, đến lượt nó, quyền lực chính trị tác động,
chi phối quyền lực kinh tế. V.I.Lênin cũng chỉ ra, “Tổ chức độc quyền, khi đã
hình thành và thao túng hàng nghìn triệu bạc, thì nhất thiết nó phải xâm nhập
“chi tiết” khác” [106, tr 336].
Độc quyền doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân, điều kiện
cho sự xuất hiện và tồn tại của tham nhũng, làm “tha hóa” đội ngũ cán bộ
công chức và bộ máy Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp được hưởng các
đặc lợi từ độc quyền, để có được sự trợ giúp bởi quyền lực từ phía các cơ
quan công quyền, doanh nghiệp phải làm thỏa mãn những lợi ích mà phía bên
kia đề ra, từ đó mà phát sinh ra các hành vi hối lộ, mãi lộ, vi phạm các nguyên
tắc về tài chính, kế toán. Các doanh nghiệp độc quyền luôn có xu hướng liên hệ
hết thảy các lĩnh vực trong đời sống xã hội, bất chấp chế độ chính trị và mọi
57
và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước để tìm kiếm các ưu đãi có
tính phân biệt đối xử so với các chủ thể kinh doanh khác, bảo vệ vị thế độc quyền
của mình. Theo đó, họ tìm cách “tác động” đội ngũ cán bộ trong bộ máy của cơ
quan quản lý nhằm “lái” những chủ trương, chính sách có lợi cho doanh nghiệp,
thậm trí bóp méo những nguyên tắc và công cụ quản lý cũng như các quan hệ thị
trường. Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa bộ máy nhà nước.
Trong giai đoạn hiện nay, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia chính là
các tổ chức độc quyền quốc tế có tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng chi phối rất
lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Các công ty này đã và đang nắm phần lớn các hoạt
động kinh tế chủ yếu của thế giới, thâm nhập hết thảy các lĩnh vực đời sống xã
hội, bất kể chế độ chính trị, đóng vai trò là một nhân tố tác động đến quá trình sản
xuất và lưu thông, tham gia vào điều tiết hoạt động kinh tế của các quốc gia và
quốc tế. Hoạt động của các công ty này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế
mà còn cả trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. Song song với hoạt động xuất
khẩu tư bản, các công ty xuyên quốc gia còn xuất khẩu luôn cả những ý thức tư
tưởng, quan niệm giá trị văn hóa và lối sống của chính nó, điều đó đã tác động
mạnh vào đời sống xã hội, truyền thống văn hóa, lịch sử của nước chủ nhà. Các
công ty xuyên quốc gia cậy thế thực lực kinh tế to lớn đã trở thành “quốc gia trong
các quốc gia” ngay trong lãnh thổ nước chủ nhà, cùng với việc thao túng mạch
của quốc gia đó, can thiệp thô bạo vào nội chính của các nước đó.
- Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Vì đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
nên doanh nghiệp độc quyền luôn có khuynh hướng coi trọng mục tiêu kinh doanh
thuần túy, tìm cách thu được lợi nhuận cao mà không quan tâm đến lợi ích quốc phòng,
an ninh. Việc kết hợp các hoạt động kinh tế với quốc phòng, an ninh trong doanh
nghiệp độc quyền không những không được chú trọng, mà đôi khi mang tính hình
máu kinh tế nước chủ nhà, có lúc còn trực tiếp nhúng tay vào công việc chính trị
chí vấn đề độc quyền còn gây cản trở hoạt động bảo đảm kinh tế cho quốc phòng,
chuyển giao khoa học công nghệ và nâng cao tiềm lực quốc phòng của quốc gia.
thức, làm ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, thậm
58
Bên cạnh đó, các lực lượng bên ngoài lợi dụng vấn đề độc quyền doanh
nghiệp để tuyên truyền, đả kích, gieo dắt tư tưởng hoài nghi về vai trò và hiệu
quả của DNNN, DNNN độc quyền trong xã hội và người tiêu dùng, đồng thời ra
sức cổ súy, đề cao vai trò của doanh nghiệp tư nhân, qua đó gây chia rẽ trong xã
hội, trong các cơ sở sản xuất với nhau, đặc biệt giữa kinh tế tư nhân và kinh tế
nhà nước, giữa các doanh nghiệp sản xuất trong nước với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tạo nên sự đối trọng lẫn nhau trong quá trình phát triển để dễ
dàng lôi kéo, mua chuộc, gây mất ổn định nền kinh tế.
Mặt khác, sự thao túng của các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia gây
tác động xấu tới sự ổn định của chế độ chính trị, an ninh quốc phòng của đất
nước. Thông qua các phương thức sát nhập, mua lại, xây dựng xưởng mới, các
công ty xuyên quốc gia thâm nhập vào thị trường nước chủ nhà, tiến tới khống
chế một số ngành kinh tế quan trọng, lũng đoạn một số hàng hóa và thị trường.
Những hoạt động đó sẽ tác động rất lớn đến đến các hoạt động kinh tế của nước
chủ nhà, đến sự điều chỉnh chính sách ngành, nghề sản xuất, đến sự lựa chọn
chính sách kinh tế của nước chủ nhà, làm cho quyền tự chủ kinh tế của nước chủ
nhà bị chi phối rất nhiều. Xa hơn nữa, các công ty xuyên quốc gia thậm trí còn
khống chế mạch máu kinh tế cơ bản của nước chủ nhà, làm cho nước chủ nhà
phụ thuộc cả về kinh tế lẫn chính trị. Điều này dễ dẫn đến nảy sinh những mâu
thành mâu thuẫn và xung đột về chính trị, và chủ quyền quốc gia dân tộc thường
vì thế mà phải đối mặt với những thách thức và xung đột mới.
Tóm lại, những tác động tiêu cực của động quyền doanh nghiệp có
phạm vi rộng lớn, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc
phòng, ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho Việt Nam là sự cần thiết phải chống độc
quyền doanh nghiệp, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
thuẫn và xung đột trong lòng xã hội, từ mâu thuẫn, xung đột về kinh tế sẽ chuyển
59
1.3. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong chống độc quyền
doanh nghiệp và bài học rút ra đối với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm trong chống độc quyền doanh nghiệp ở một số nước
* Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới sớm ban hành Luật Chống độc
quyền. Cuối thế kỷ XIX , hình thức tổ chức thành tập đoàn là chìa khóa mang lại sự
tăng trưởng rực rỡ cho nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ, tuy nhiên, sự tích tụ tư bản
dưới hình thức Trust (Tờ rớt) đã làm cho một số ngành công nghiệp như thuốc lá,
sắt, đường… rơi vào tay những tập đoàn tư bản lũng đoạn. Sự lạm dụng vị thế của
những tập đoàn này trên thị trường vào đã làm cho Chính phủ Hoa Kỳ phải ban
hành những đạo luật chống Trust, bao gồm đạo luật Sherman năm 1890 và đạo luật
Clayton năm 1914, hai luật cơ bản cho chính sách chống Tơrớt của Hoa Kỳ.
Bản thân Chính phủ Hoa Kỳ luôn khuyến khích cạnh tranh, coi chính
sách cạnh tranh là một bộ phận cơ bản của thực thể kinh tế và có vai trò trung
tâm trong thiết kế pháp luật và quy chế kinh tế. Nhờ môi trường kinh doanh
có tính cạnh tranh cao, một số doanh nghiệp của Hoa Kỳ đã đạt tới tầm cỡ
thống trị, thao túng, khống chế, kiểm soát một số ngành sản xuất, kinh doanh
xuất khẩu trên thị trường thế giới. Để có được môi trường cạnh tranh như vậy
tiêu kinh tế quan trọng nhất:
Trước hết, bảo vệ và duy trì cạnh tranh là mục tiêu trọng tâm bằng
cách không cho phép độc quyền, cấm cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ
hành động phân biệt và câu kết về giá.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách cấm những
hình thức kinh doanh, cạnh tranh thiếu công bằng, mang tính lừa dối
Thứ ba, bảo vệ những hãng kinh doanh với quy mô nhỏ và hoạt động độc
lập, tránh khỏi sức ép kinh tế do sự cạnh tranh của các hãng lớn gây ra.
là do hệ thống luật pháp, chính sách trong lĩnh vực này nhằm vào bốn mục
60
Thứ tư, nhằm vào điều chỉnh nhiều hơn tới các yếu tố chính trị và xã hội
có liên quan so với vấn đề kinh doanh và kinh tế.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn đưa cạnh tranh vào khu vực cung ứng dịch
vụ công, tạo cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ cho Chính phủ, khuyến khích
cạnh tranh giữa các công ty của Chính phủ. Bởi với quan niệm, cạnh tranh buộc
các công ty đó phải tìm cách tiết kiệm chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ,
nhanh chóng đáp ứng nhu cầu và chú trọng làm hài lòng khách hàng.
Trong nền kinh tế Hoa Kỳ, vai trò của Nhà nước, của Chính phủ đối
với các hoạt động kinh tế được “ẩn” dưới các tập đoàn, doanh nghiệp. Chính
phủ chỉ can thiệp khi cạnh tranh trên thị trường xuất hiện những trục trặc,
những khiếm khuyết. Ví dụ như độc quyền, độc quyền nhóm hay những cấu
trúc không hoàn hảo của thị trường cạnh tranh, khiến việc phân bổ các nguồn
lực không hiệu quả và hiệu quả kinh tế- xã hội không được đảm bảo. Trong hoạt
động chống độc quyền doanh nghiệp, vai trò của Ủy ban Thương mại Liên bang
được đề cao. Ủy ban này cùng với Vụ Chống độc quyền của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ
là những cơ quan chuyên trách, chịu trách nhiệm theo dõi các công ty có khả năng
trở nên độc quyền hoặc tiến hành ngăn cản những hoạt động sát nhập, có nguy cơ
làm giảm cạnh tranh nghiêm trọng đến mức người tiêu dùng phải gánh chịu thiệt
hại. Thực tế lịch sử cho thấy, việc có hai cơ quan như trên không dẫn tới sự mâu
lặp. Nhưng việc có hai cơ quan này cũng gây ra một số chi phí cho từng cơ quan
trong việc phối hợp chính sách và hành động với nhau.
Cùng với đó, tính nghiêm minh, răn đe của pháp luật, nhất là những
hành vi vi phạm luật Chống độc quyền ngày càng được thực thi một cách nghiêm
túc. Năm 1990, Đạo luật Sherman đã được sửa đổi, theo đó mức phạt tối đa đối
với doanh nghiệp đã tăng lên 10 triệu đô la Mỹ và mức phạt tối đa đối với cá nhân
cũng tăng lên 350000 đô la Mỹ. Đạo luật Sherman lại một lần nữa được sửa đổi
vào năm 2004 và mức phạt đối với doanh nghiệp đã tăng lên tối đa 100 triệu đô la
thuẫn do hai cơ quan đã phân chia rõ ràng trách nhiệm của họ để tránh sự trùng
61
Mỹ. Chế tài xử phạt đối với cá nhân tăng lên tới 10 năm phạt tù và 1 triệu đô la
phạt tiền. Việc tăng cường mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật cạnh
tranh đã làm giảm động cơ tham gia, thực hiện các-ten.
Có thể nói, các thể chế về chính sách cạnh tranh ở Hoa Kỳ đã sử dụng quyền
lực thực thi và ủng hộ của người tiêu dùng một cách rộng rãi, tuy nhiên, sự ủng hộ
đông đảo cải cách theo hướng tăng cạnh tranh có nghĩa là trách nhiệm thực thi
chính sách cạnh tranh bị phân tán. Do rất nhiều chính sách kinh tế của Mỹ dựa trên
nguyên tắc cạnh tranh, nên nhiều cơ quan khác nhau tự cho mình có quyền lực thực
thi chính sách cạnh tranh. Nhận thức của họ không giống nhau, thậm trí trong một
số trường hợp còn rất khác nhau. Sự phân tán về quyền lực này, trong nội bộ Chính
phủ liên bang và giữa Chính phủ với các bang, vốn được coi là đặc trưng phổ biến
của chính quyền Hoa Kỳ, có thể làm suy yếu sự tập trung của chính sách cạnh
tranh. Với quá nhiều cơ quan đòi có quyền hạn đối với chính sách cạnh tranh, hai cơ
quan thực thi cạnh tranh của chính quyền liên bang bị giảm quyền hạn và tất nhiên
độ rủi ro chính sách lớn hơn, sự trùng lặp là không tránh khỏi.
* Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu
Là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới, có nền kinh tế thị trưởng
phát triển, Liên minh Châu Âu cũng sớm xây dựng một chính sách cạnh
tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Theo đó, năm 1951 hiệp ước Paris hình
kinh tế Châu Âu được thành lập, lúc này vai trò của Ủy ban Châu Âu được đề
cao trong thực hiện hành vi kiểm soát các thỏa thuận thống lĩnh thị trường và
hành vi độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước. Để cụ thể hóa việc chống
độc quyền và hành vi thỏa thuận hạn chế sản xuất, Hội đồng Châu Âu đã ban
hành quy định 17/62 vào ngày 6 tháng 2 năm 1962 [46, tr 34]. Quy định này
làm nền tảng cho EU thực thi chính sách chống độc quyền.
Cùng với đó, Liên minh Châu Âu còn tập trung vào thúc đẩy tự do hóa
cạnh tranh trong các hoạt động năng lượng, viễn thông, giao thông, ngân
thành đặt nền tảng cho sự ra đời chính sách cạnh tranh. Năm 1957, Cộng đồng
62
hàng, thể thao… Đưa cạnh tranh vào thực thi trong các lĩnh vực chỉ có doanh
nghiệp nhà nước hoặc tư nhân độc quyền đảm nhiệm, với các giải pháp xóa
bỏ các rào cản về luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động, hoàn tất thị
trường nội khối. Đến năm 1997, với vai trò của mình, Ủy ban Châu Âu đưa ra
kế hoạch cải tổ theo hướng vừa điều chỉnh luật, vừa hợp tác chặt chẽ hơn với
cấp quốc gia nhằm giảm bớt chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở
đó, các nước thành viên cũng phải điều chỉnh luật Chống độc quyền cho phù
hợp với những cải tổ này, và hướng tới áp dụng trực tiếp các điều khoản này
của hiệp ước vào luật pháp của mỗi nước.
Chính việc nhận thấy độc quyền và lạm dụng độc quyền ảnh hưởng lớn
đến môi trường cạnh tranh, nên EU rất coi trọng vai trò của cơ quan quản lý,
theo đó, đã bổ sung và trao cho Ủy ban Châu Âu thẩm quyền rất lớn trong
việc tiến hành điều tra và truy cứu bất cứ doanh nghiệp nào vi phạm pháp luật
và áp dụng mức phạt tiền lên đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp [46,
tr 77]. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là hành vi vi phạm pháp luật và
những quy định về chống độc quyền, xem xét một vụ việc sát nhập có làm tổn
hại đáng kể tới cạnh tranh hay không, hoặc một doanh nghiệp có thực sự
chiếm vị trí thống trị hay độc quyền hay không cũng là một vấn đề thách thức
đối với cộng đồng và các nước thành viên. Thực tế cho thấy, chỉ có khoảng
Vì vậy, để đảm bảo thủ tục áp dụng chống độc quyền và sát nhập của Liên
minh Châu Âu được thực thi một cách nhanh chóng và có hiệu quả nhằm hỗ
trợ quá trình phát triển và mở rộng quá trình liên kết của mình, đồng thời hỗ
trợ, mở rộng vai trò của Ủy ban Châu Âu trong chống độc quyền và sát nhập,
Hội đồng Châu Âu và Nghị viện Châu Âu đã thông qua quy định mới về áp
dụng các điều khoản 81 và 82 của hiệp ước EC: quy định số 1/2003 thay thế
quy định số 17/62. Đây là văn bản quy định việc thực thi Luật Cạnh tranh EU
được ban hành khi hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu có hiệu lực.
10% vụ việc đệ trình lên Ủy ban Châu Âu phải mở thủ tục xem xét sát nhập.
63
Cùng với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống độc quyền,
Liên minh Châu Âu còn sử dụng khá hữu hiệu các biện pháp kinh tế và biện
pháp hành chính. Theo đó, EU không cho phép các doanh nghiệp độc quyền
định giá độc quyền, cho rằng hành vi định giá bán quá cao so với “giá trị kinh
tế” của sản phẩm là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Đồng thời sử dụng
thuế để đánh vào sản phẩm của các doanh nghiệp độc quyền nhằm thu hẹp sự
bất bình đẳng trong thu nhập giữa các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sự can thiệp
khá mạnh của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền của người tiêu dùng được tôn
trọng trên thực tế. Cơ chế bảo đảm quyền của người tiêu dùng được thể hiện trên
mấy phương diện sau: Nhà nước thành lập hoặc công nhận một hệ thống các
thiết chế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng; Nhà nước
quy định và áp dụng các chế tài; Nhà nước khuyến khích sự phát triển và tham
gia của xã hội dân sự vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng. Ở EU đang chứng
kiến sự phát triển mạnh mẽ của xã hội dân sự, bởi theo quan niệm của EU, một
xã hội hiện đại là một xã hội dựa trên ba nền tảng: Kinh tế thị trường, nhà nước
pháp quyền và xã hội dân sự. Các hiệp hội (nền tảng của xã hội dân sự) tham gia
rất tích cực vào quá trình hoạch định chính sách, pháp luật. Nhiều chức năng vốn
do Nhà nước thực hiện, nay đang có xu hướng chuyển sang cho các tổ chức xã
hội dân sự thực hiện. Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng ở Pháp là một trong
hành chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Từ sau năm 2003, trước những thách thức mở rộng Châu Âu cùng với
xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, EU đã có một số quy định
điều chỉnh chống độc quyền, nhất là quy định tăng thêm thẩm quyền cho Ủy
ban Châu Âu nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hành vi độc quyền và tạo môi
trường kinh doanh bình đẳng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài khu
vực. Chính sách chống độc quyền của EU đã tác động mạnh mẽ tới các tập
đoàn kinh tế, tuy nhiên trên thực tế việc thực thi chính sách không đơn giản.
những ví dụ điển hình, trong đó đáng chú ý là vai trò tham gia vào quá trình ban
64
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
Là quốc gia ở Châu Á nhưng Nhật Bản cũng sớm ban hành luật Chống độc
quyền (07/1947), và tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh. Mặc dù
đạo Luật Chống độc quyền ra đời, song ngay từ đầu sự ảnh hưởng của nó chưa rõ
nét, những khái niệm về chính sách cạnh tranh và phát triển kinh tế qua cạnh tranh
vẫn chưa ăn sâu, bén rễ ngay lập tức ở nước Nhật. Trong những năm 60, các vụ
hợp nhất, mua lại doanh nghiệp với quy mô lớn ở Nhật Bản có biểu hiện gia tăng,
song Luật Chống độc quyền chưa thực sự thể hiện được chức năng của nó trong
giai đoạn này - giai đoạn của tập trung các quyền lực kinh tế thông qua việc hợp
nhất các doanh nghiệp. Những năm 70, nhận thức về chính sách cạnh tranh được
nâng cao hơn, các biện pháp đình chỉ và chấm dứt các hành vi phản cạnh tranh
ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân được áp dụng mạnh mẽ hơn.
Để hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp đạt hiệu quả, Chính phủ Nhật
đã từng bước tiến hành các biện pháp thu hẹp phạm vi sở hữu và kinh doanh của
Nhà nước. Mục tiêu chính của những hoạt động này là nhằm đơn giản hóa công
việc hành chính, xây dựng một thị trường mang tính mở, công bằng, hội nhập vào
nền kinh tế thế giới bằng cách khuyến khích nhập khẩu, mở rộng nhu cầu trong
nước, do đó đã đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng bằng
những lựa chọn hết sức đa dạng. Vì vậy, từ giữa những năm 1980, Chính phủ
Nhật thực hiện việc thu hẹp phạm vi sở hữu kinh doanh của Nhà nước, theo đó,
các lĩnh vực bị điều chỉnh cũng được thu hẹp dần, cho phép sự tham gia hoạt động
của các công ty nước ngoài nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty
trong nước, giá cả các sản phẩm và dịch vụ được quyết định bởi quan hệ cung-
cầu, cơ chế định giá được tự do hóa và phải công khai hóa.
Bên cạnh đó, Nhật Bản đặt trọng tâm vào cải thiện chất lượng cuộc sống,
giảm sự khác biệt về giá giữa trong nước và ngoài nước, nâng cao khả năng tiếp
cận thị trường, kết hợp hài hòa các thiết chế và cơ cấu quốc tế, sắp xếp lại cơ cấu
ngành, khuyến khích tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới... và những
các quy định điều tiết của Nhà nước trước đây được hạn chế đến mức tối thiểu,
65
hoạt động phù hợp với chính sách cạnh tranh. Theo đó, đầu những năm 90 thế kỷ
XX, một loạt các kế hoạch, chính sách đã được Chính phủ đưa ra, nhờ đó cải
thiện đáng kể môi trường kinh doanh, giá cả nhiều loại dịch vụ đã được giảm bớt
trong khi chất lượng phục vụ được cải thiện, các thủ tục hành chính cấp phép và
xét duyệt đã được đơn giản xong hiệu quả được nâng cao, góp phần vào tăng
cường hiệu lực hiệu quả trong chống độc quyền doanh nghiệp.
Có thể nói, hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp được Chính phủ
Nhật Bản hết sức chú trọng, được luật hóa đã trải qua hàng loạt lần sửa đổi, với
nội dung chặt chẽ hơn và khả năng thực thi hiệu quả, tích cực hơn. Đồng thời,
cơ cấu tổ chức của Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản cũng được mở
rộng để phù hợp với quy mô của Luật. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vụ việc
các-ten thông đồng đấu thầu nằm ngoài tầm kiểm soát của Ủy ban Thương mại
Lành mạnh Nhật Bản. Hơn thế, những vụ việc này còn xuất hiện sự tham gia
của các doanh nghiệp, tập đoàn nổi tiếng, tiêu biểu của Nhật Bản, thậm chí có
những doanh nghiệp còn bị phát hiện đã thực hiện hành vi vi phạm lặp lại
nhiều lần. Trong bối cảnh đó, Luật Chống độc quyền, vũ khí để duy trì môi
trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng đã được sửa đổi nhằm đáp ứng với
hoàn cảnh thực tế, lấy trọng tâm là cải tiến hệ thống tính mức tiền phạt, được
coi là biện pháp chế tài cứng rắn đối phó với các loại các-ten nghiêm trọng; đưa
ra chính sách khoan dung; và cuối cùng là áp dụng quyền khám xét (biện pháp
liệt trên đã góp phần đáng kể vào thành công trong hoạt động chống độc quyền
doanh nghiệp ở Nhật Bản. Nhân tố chính dẫn đến thành công trong quá trình
đẩy mạnh chính sách cạnh tranh, thể hiện ở lần sửa đổi Luật Chống độc quyền
năm 2005 chính là sự đồng thuận cao độ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, các tổ
chức kinh tế-xã hội Nhật Bản, coi chính sách cạnh tranh đóng vai trò tích cực
thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo điều kiện cho quá trình nới lỏng các quy định.
Khi đạo luật sửa đổi này chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2006, cơ chế thực
thi mới đã giúp vận hành tốt chức năng thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
bắt buộc đối với điều tra hình sự). Chính những biện pháp mạnh tay và quyết
66
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1978
với các mục tiêu cơ bản: Quá độ sang kinh tế thị trường và cải tạo trong lĩnh
vực quan hệ sở hữu. Trong giai đoạn 1978 -1984, giai đoạn “khởi đầu” với
việc thông qua “Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về
cải cách thể chế kinh tế”, tính tự chủ kinh doanh của các xí nghiệp, sự xuất
hiện của hoạt động kinh doanh cá thể được mở rộng, hoạt động kinh doanh
theo nhóm được mở rộng hơn.
Giai đoạn 1984- 1991, Trung Quốc thực hiện công khai hóa hình thức sở
hữu ngoài nhà nước, áp dụng hình thức kinh doanh mới tại các xí nghiệp nhà
nước. Theo đó, các xí nghiệp nhà nước chuyển sang hình thức hoạt động
kinh tế hợp đồng, bên cạnh đó, hình thức thuê và cổ phần hóa cũng được
thực hiện. Năm 1993, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc khóa XIV đề xuất việc xây dựng chế độ doanh nghiệp
hiện đại với “quyền tài sản minh bạch, quyền hạn và chức năng rõ ràng, tách
chức năng quản lý hành chính ra khỏi chức năng quản lý doanh nghiệp, quản
lý một cách khoa học”[44, tr332]. Trước đó năm 1992, Quốc vụ viện Trung
Quốc đã thông qua “Quy định thay đổi cơ chế quản lý xí nghiệp sở hữu toàn
dân”, trong đó đề ra những biện pháp cải cách khác nhau đối với các xí
nghiệp có quy mô khác nhau và tầm quan trọng khác nhau. Đối với các xí
vận tải hàng không và các tuyến đường bộ và đường sắt, cung cấp điện
nước, bảo vệ môi trường vẫn thuộc hệ thống sở hữu nhà nước. Đối với các
xí nghiệp lớn độc quyền (trong công nghiệp năng lượng, hóa dầu, luyện kim,
chế tạo ô tô và các xí nghiệp khác thuộc ngành quan trọng chế tạo máy) phải
được cải tổ thành các tập đoàn lớn với cả gói cổ phần được kiểm soát trong
tay nhà nước. Các xí nghiệp “bình thường” mang tính cạnh tranh trong các
ngành khác nhau được cổ phần hóa cùng với việc tham gia một phần nào đó
của nhà nước hoặc không có sự tham gia của nhà nước.
nghiệp thuộc ngành có ý nghĩa toàn quốc (bưu chính viễn thông, đướng sắt,
67
Trong những năm 1998-2002, Trung Quốc tiến hành tái cơ cấu xí
nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, ở Trung Quốc vẫn tồn tại ba nhóm ngành do khu
vực công độc quyền nắm giữ: Nhóm độc quyền tự nhiên (đường sắt, điện lực,
bưu chính, viễn thông, ngân hàng, thuốc lá, rượu...); nhóm hàng hóa công
cộng (giao thông, chiếu sáng, môi trường); nhóm ngành chiến lược (dầu mỏ,
tài nguyên rừng, khí đốt...). Nhận thấy những rào cản trong phát triển kinh tế
do độc quyền doanh nghiệp mang lại, từ năm 2000 đến năm 2006, cải cách
khu vực này được tiến hành mạnh mẽ và đã đạt được một số kết quả như: Dỡ
bỏ một số rào cản đối với việc gia nhập thị trường các ngành độc quyền tự
nhiên; thực hiện cấp giấy chứng nhận sở hữu rừng; qui hoạch khai thác dầu và
khí... Các biện pháp cải cách đã và đang thực hiện bao gồm:
- Tách Chính phủ ra khỏi doanh nghiệp; huy động vốn ngoài nhà nước
với tỷ lệ sở hữu khác nhau. Trung Quốc đã hình thành cơ quan quản lý và giám
sát tài sản nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương để giải phóng hầu hết
sự can thiệp chủ sở hữu của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp nhà nước, bao gồm cả các tập đoàn kinh tế. Ủy ban quản lý và giám sát
tài sản nhà nước cấp trung ương thực hiện quản lý, giám sát đối với tập đoàn
trung ương; cơ quan quản lý và giám sát tài sản nhà nước cấp địa phương thực
hiện quản lý, giám sát đối với tập đoàn địa phương. Hiện nay, các bộ, ngành
trung ương và tương tự là sở, ngành địa phương gần như không thực hiện quản
nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp; bỏ hẳn tình trạng bộ ngành can thiệp vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bằng quyết định
hành chính; tạo điều kiện cho bộ, ngành tập trung vào quản lý nhà nước theo
ngành, lĩnh vực đối với mọi loại hình doanh nghiệp[108, tr 5].
- Đưa cơ chế cạnh tranh vào ngành độc quyền bằng cách mở cửa cho
khu vực tư nhân và nước ngoài tham gia, tạo cạnh tranh trong nội bộ ngành
(ví dụ trong ngành giao thông thì tạo cạnh tranh giữa vận tải đường bộ, đường
hàng không và đường sắt).
lý doanh nghiệp nhà nước theo chức năng chủ sở hữu, kể cả việc tham gia bổ
68
- Dùng pháp luật để giám sát và quản lý thay vì bằng mệnh lệnh hành
chính trước đây. Đặc biệt, luật Chống độc quyền của Trung Quốc được thông
qua có hiệu lực từ tháng 8/2008, cùng với đó, Hội đồng Chống độc quyền trực
thuộc Hội đồng nhà nước được thành lập để thực thi các quy định pháp luật về
chống độc quyền. Mục tiêu chính của luật là: Xây dựng môi trường cạnh tranh
bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt trong nước hay nước
ngoài, tư nhân hay nhà nước; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; duy trì trật tự
thị trường trong khuôn khổ pháp luật. Luật Chống độc quyền không nhằm chống
doanh nghiệp độc quyền mà chống hành vi lạm dụng độc quyền. Theo nhiều nhà
phân tích, Trung Quốc thông qua Luật Chống độc quyền như "một mũi tên trúng
hai đích", hai "đối tượng điều chỉnh" chính của luật này là các công ty đa quốc
gia nước ngoài (MNC) và các doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc (SoE). Theo
Luật Chống độc quyền, việc công ty nước ngoài sáp nhập hoặc mua công ty
Trung Quốc sẽ được kiểm tra nghiêm ngặt nhằm bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia.
Tuy vậy, trong hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp, Trung Quốc
còn tồn tại những hạn chế nhất định như: Kinh tế ngoài chế độ công hữu chưa
tiếp cận hoặc tham gia chưa được bao nhiêu trong các lĩnh vực như năng
lượng, thông tin, giao thông, tài chính tiền tệ, công trình công cộng thị chính,
cơ sở hạ tầng- những ngành mà tính độc quyền vẫn còn cao; việc chuyển đổi
chức năng của chính phủ chưa được thực hiện triệt để, cơ quan giám sát việc
kính” trong thị trường tiếp nhận tiền, vốn ngoài chế độ công hữu. Hiện tượng
này chủ yếu tồn tại trong một số cơ quan độc quyền hành chính và trong
ngành nghề, sự nghiệp công, cơ sở hạ tầng như thông tin, truyền hình, bưu
chính, điện lực [44, tr 352]; tồn tại vấn đề “mở cửa thật” và “mở cửa giả”
khiến cho trên thực tế các doanh nghiệp tư doanh khó gia nhập thị trường…
Những vấn đề trên đã và đang đặt ra cho Trung Quốc những thách thức không
nhỏ trong tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh.
thi hành pháp luật thì “coi trọng doanh nghiệp lớn, xem nhẹ doanh nghiệp nhỏ” [36, tr 351]; vẫn tồn tại chính sách phân biệt đối xử và hiện tượng “cửa
69
1.3.2. Một số bài học rút ra đối với Việt Nam từ kinh nghiệm chống độc
quyền doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới
Từ việc khảo cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên, có thể rút ra một số
bải học cho Việt Nam trong hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp như sau:
Một là, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, trong đó sớm ban hành
Luật Chống độc quyền và thực thi một cách nghiêm túc, làm cơ sở cho các
doanh nghiệp kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.
Kinh nghiệm của các quốc gia trên cho thấy, một nền kinh tế vận hành
với hệ thống thể chế kinh tế mà trước hết là hệ thống pháp luật chặt chẽ, đầy đủ
là yếu tố quan trọng, cần thiết cho các chủ thể khi tham gia vào “sân chơi” của
nền kinh tế căn cứ vào đó thực hiện. Bản thân các nước có nền kinh tế phát
triển như Hoa Kỳ, các nước thuộc Liên minh Châu Âu, Nhật Bản sớm nhận
thức rõ vấn đề này nên đã xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật ngày
càng đồng bộ, hoàn chỉnh, trong đó có Luật Cạnh tranh, chống độc quyền hết
sức chặt chẽ. Ở Trung Quốc, Luật Chống độc quyền có hiệu lực từ tháng
8/2008, đây là dấu mốc quan trọng trong hoạt động chống độc quyền doanh
nghiệp, xây dựng một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh ở Trung
Quốc. Bước sang thế kỷ 21, việc sử dụng Luật Cạnh tranh như một công cụ
Hiệp quốc (UNCTAD), tính đến năm 2004, khi Việt Nam thông qua Luật Cạnh
tranh thì trên thế giới có khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ đã có Luật Cạnh
tranh. Cho đến thời điểm năm 2007, theo thống kê của UNCTAD hiện có 113
nước và vùng lãnh thổ đang thực thi Luật Cạnh tranh của riêng mình.
Đi liền với việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật thì việc tăng cường thực
thi pháp luật đối với cac-ten của các cơ quan cạnh tranh ở các quốc gia phát triển
được tiến hành nghiêm túc, mạnh mẽ với việc xử phạt nặng các thỏa thuận cac-ten.
chính sách đã trở thành xu thế. Theo diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên
70
Bảng 1.1: Xu hướng thay đổi mức phạt đối cá nhân vi phạm pháp luật
về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của một số quốc gia
Mức phạt tù tối đa Mức phạt tiền tối đa Quốc gia Năm SĐBS
Hà Lan 2001 Trước SĐBS Sau SĐBS Trước SĐBS Sau SĐBS 300,000 NZ$ 500,000NZ$
Ailen 2002 2 năm 5 năm 3 triệu € 4 triệu €
Hoa Kỳ 2004 3 năm 10 năm 350,000$ 1 triệu $
TâyBanNha 2007 6o,000€
Chi lê 2009 2 năm 5 năm
Nhật Bản 2009 3 năm 5 năm
(Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh, “Báo cáo rà soát các quy định của luật
Cạnh tranh Việt Nam, 2012”)
Hai là, phát huy vai trò của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội
trong chống độc quyền doanh nghiệp nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh bình
đẳng, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.
Kinh nghiệm các nước chỉ ra: Khi nào, nơi nào, vai trò của cơ quan chuyên
trách được xác định rõ ràng, được quan tâm đúng mức thì khi đó, ở quốc gia đó pháp
luật thực sự đi vào cuộc sống, nền kinh tế vận hành theo đúng quy luật của nó.
Thực tiễn trong hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp của nhiều quốc
một thực thể độc lập và có tính độc lập tương đối với các cơ quan khác của bộ máy
Nhà nước. Công việc của cơ quan này có thể ảnh hưởng sâu sắc tới lợi ích kinh
doanh của những chủ thể kinh tế Nhà nước mà lợi ích của họ không phải lúc nào
cũng trùng với lợi ích của người tiêu dùng xã hội. Chẳng hạn, ở Mỹ, Ủy ban
Thương mại Liên bang và Vụ chống độc quyền của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ được trao
quyền trực tiếp trong quản lý, giám sát và xử lý các vụ việc liên quan đến độc
quyền. Cả hai cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh đều có đủ quyền lực để hành
động một cách độc lập và có thể vận dụng các sáng kiến mà không cần có sự cho
gia trên thế giới đã cho thấy, cơ quan quản lý cạnh tranh cần được xây dựng như
71
phép chính thức từ các bộ phận khác trong chính phủ. Tuy nhiên, hai cơ quan này
có thể trao đổi ý kiến không chính thức với các cơ quan khác của chính phủ nếu họ
thấy rằng các cơ quan này quan tâm đến việc thực thi pháp luật. [107, tr 286].
Một điểm đáng lưu ý là nguồn lực dành cho hoạt động của cơ quan
cạnh tranh các nước ngày càng được quan tâm. Theo đó, kinh phí hoạt động
đều lấy từ ngân sách nhà nước và tăng thêm hàng năm do tính chất của công
việc, đồng thời đội ngũ làm công tác này cũng được bổ sung cho phù hợp với
yêu cầu thưc tiễn. Lượng công việc cho cơ quan cạnh tranh ngày càng nhiều
bởi yêu cầu, sự phát triển của kinh tế thị trường, và hành vi vi phạm của các
chủ thể ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn. Do vậy, các quốc gia đều ý
thức được điều này và có sự ưu tiên nhiều đối với công tác quản lý cạnh tranh.
Bảng1.2: Thống kê nhân lực của cơ quan quản lý cạnh tranh ở
một số quốc gia
(Đơn vị tính: người)
Australia Canada Pháp Thụy Singapore
Quốc gia Nhân Hoa Kỳ 1110 Nhật Bản 779 Đài Loan 222 813 435 200 60 Sỹ 76
lực
(Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh, “Báo cáo rà soát các quy định của
Trong hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp của các nước, tiếng nói
của các tổ chức xã hội, các hiệp hội cũng được đề cao. Chẳng hạn, quốc gia
trong EU như Hà Lan, cơ quan bảo vệ người tiêu dùng mới được thành lập vào
năm 2007, tuy nhiên hoạt động bảo vệ người tiêu dùng được tiến hành rất hiệu quả
không chỉ từ các cơ quan nhà nước như Cục Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tòa
án mà còn từ các tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng, cũng như tổ chức độc
lập có các thành viên là nhà nước, hội người tiêu dùng và hiệp hội doanh nghiệp
đứng ra để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Hiện nay, trên cả nước Hà Lan có 50
luật Cạnh tranh Việt Nam, 2012”)
72
cơ quan giải quyết khiếu nại người tiêu dùng, trong mỗi cơ quan đều có đại diện của
cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng, hiệp hội doanh
nghiệp, hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế như: điện tử, điện, nước,
giao thông vận tải, nhà ở, y tế, giáo dục, bưu chính viễn thông, du lịch, phim ảnh…
Ba là, xây dựng chính sách cạnh tranh lành mạnh với một thị trường mở, mang
tính cạnh tranh cao cùng với sự tham gia của các thành phần, các doanh nghiệp.
Thực tiễn của các nước đã chỉ ra, việc xây dựng một chính sách cạnh
tranh, hình thành một thị trường thống nhất với sự đa dạng của các doanh
nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh
lành mạnh, hạn chế những tác động tiêu cực của độc quyền. Bản thân các
quốc gia như Hoa Kỳ, Chính phủ luôn khuyến khích cạnh tranh. Trong chính
sách cạnh tranh của quốc gia này, không có sự phân biệt đối xử đặc biệt với
công ty nhỏ cũng như các công ty thuộc sở hữu nhà nước. Để đạt được mục
đích phát triển kinh tế của mình, chính phủ Hoa Kỳ một mặt theo đuổi chính sách
phát triển mũi nhọn, tập trung sức mạnh cho một số doanh nghiệp bằng phương
thức tích tụ tập trung tư bản, mặt khác, nước này cũng hết sức coi trọng xây dựng
chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế. Đây là một công cụ chống lại mặt trái của
chính sách phát triển mũi nhọn nói riêng và chống lại sự lũng đoạn của các doanh
nghiệp độc quyền nói chung, tạo điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và
Liên minh Châu Âu cũng đã xây dựng chính sách cạnh tranh nhằm tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy tự do hóa thương mại. Chính sách đó
tập trung vào bốn lĩnh vực chủ yếu là: Chính sách chống độc quyền; chính
sách kiểm soát sát nhập doanh nghiệp; chính sách kiểm soát hỗ trợ của nhà
nước; chính sách thúc đẩy tự do hóa [46, tr12]. Đây là cơ sở pháp lý quan
trọng trong việc cạnh tranh tự do, công bằng giữa các doanh nghiệp trong các
lĩnh vực kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp năng động trong sản xuất
kinh doanh, đặt quyền lợi người tiêu dùng lên hàng đầu, hạn chế những tác
động tiêu cực của độc quyền doanh nghiệp đưa lại.
nhỏ tham gia các hoạt động kinh tế được bình đẳng.
73
Đối với Nhật bản, quan niệm đối xử bình đẳng cũng quan trọng như tự do.
Thuật ngữ “cạnh tranh” thường đi kèm với “tự do” và “lành mạnh”. Cơ quan cạnh
tranh coi cạnh tranh bình đẳng là điều không thể thiếu, và tính chất lành mạnh được
quyết định bởi ba yếu tố: Các đối thủ được tự do cạnh tranh với nhau bằng phương
pháp giá cả, chất lượng, dịch vụ phục vụ khách hàng và quyền tự do quyết định một
cách tự nguyện. Trong điều kiện hiện nay, khi toàn cầu hóa ngày càng có quy mô
rộng lớn thì Nhật Bản đã dần hạn chế chính sách bảo hộ các doanh nghiệp và các
ngành không có khả năng cạnh tranh. Thay vào đó là chính sách cạnh tranh trao
nhiều quyền tự chủ hơn cho chủ thể kinh doanh [107, tr 179].
Với Trung quốc, nền kinh tế có sức cạnh tranh cao là một trong những
thành công sau hơn 30 mươi năm cải cách, mở cửa. Với chiến lược trong phát
triển kinh tế và thực hiện chính sách cạnh tranh, Trung Quốc thực hiện từng bước
tự do hóa thị trường, đi đôi với cải cách khu vực quốc hữu, xóa bỏ dần hầu hết độc
quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Cùng với đó, Trung Quốc đã đưa
cơ chế cạnh tranh vào ngành độc quyền bằng cách: Mở cửa cho khu vực tư nhân
và nước ngoài tham gia, tạo cạnh tranh trong nội bộ ngành. Đồng thời, đẩy mạnh
xây dựng hệ thống thị trường hiện đại thống nhất, mở, cạnh tranh, kiên quyết phá
bỏ sự độc quyền mang tính hành chính và hiện tượng phong tỏa khu vực, thúc đẩy
yếu tố hàng hóa và tài nguyên tự do lưu chuyển trong phạm vi cả nước.
Kinh nghiệm ở tất cả các nước cho thấy, kể cả đang phát triển và phát triển, khu
phát triển bền vững. Một đặc điểm nổi bật của các nền kinh tế trong giai đoạn đầu của
quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang các nền kinh tế
theo hướng thị trường là tình trạng độc quyền và phân biệt đối xử giữa các thành phần
kinh tế, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân. Vị trí độc quyền của
doanh nghiệp hầu hết đều do Nhà nước quyết định theo phương thức hành chính.
Trong bối cảnh đó, tự do hóa thương mại và tự do gia nhập ngành, bãi bỏ hàng rào bảo
hộ sẽ là những biện pháp hữu hiệu bảo đảm môi trường cạnh tranh, hạn chế sự bất
công và phi hiệu quả gắn liền với độc quyền [5, tr154].
vực tư nhân luôn là một trong những động lực quan trọng của quá trình tăng trưởng và
74
Bốn là, kết hợp chặt chẽ các biện pháp kinh tế, hành chính trong chống độc
quyền doanh nghiệp.
Kết hợp các biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính trong chống độc
quyền doanh nghiệp đã được các nước thực hiện khá linh hoạt nhằm tạo ra sự tối ưu
trong giải quyết, xử lý các hoạt động lạm dụng độc quyền. Qua đó, giải quyết tốt
mối quan hệ và lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, hạn chế
những áp đặt mang tính mệnh lệnh hành chính, không tuân thủ quy luật thị trường.
Một trong những biện pháp quan trọng là việc sử dụng công cụ thuế và kiểm
soát giá cả nhằm quản lý, điều tiết nền kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực của
độc quyền cũng được các quốc gia áp dụng khá nhiều. Do lợi thế chiếm lĩnh được
vị trí thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền thu được lợi nhuận cao so
với mức bình thường, hay còn gọi là lợi nhuận độc quyền, điều đó đã tạo ra khoảng
cách chênh lệch lớn về thu nhập giữa các doanh nghiệp, và trong một chừng mực
nhất định tạo sự bất bình đẳng trong phân phối. Để thu hẹp khoảng cách và sự bất
bình đẳng đó, với chức năng của mình trong nền kinh tế, Nhà nước của nhiều quốc
gia đã sử dụng công cụ thuế như một biện pháp mang tính kỹ thuật nhằm xử lý
những bất hợp lý trong quan hệ thu nhập giữa các doanh nghiệp độc quyền với các
doanh nghiệp khác và với xã hội. Do vậy, nhiều nước đã thực hiện thuế xuất cao để
điểu tiết, phân phối lại thu nhập của doanh nghiệp độc quyền.
Đối với việc thực hiện kiểm soát giá cả trong chống độc quyền, đây là biện
Pháp, từ những năm 40 của thế kỷ XX cho đến nay, nước này đã thực hiện kiểm
soát giá cả gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế. Thời gian đầu, việc kiểm soát
khá chặt chẽ, thậm chí nhiều mặt hàng do Nhà nước quy định. Hiện nay, Chính phủ
Pháp đang tập trung thực hiện các chính sách để bảo đảm môi trường cạnh trạnh
bình đẳng, do vậy việc kiểm soát giá cả được thực hiện trong một số trường hợp và
có tính linh hoạt hơn trước. Ở Mỹ, trong từng giai đoạn cụ thể, chính phủ Mỹ cũng
đã áp dụng biện pháp này. Chẳng hạn trong những năm 70, chính phủ Mỹ đã kiểm
soát giá cả trong một số mặt hàng nhằm khống chế lạm phát và giữ ổn định giá. Tuy
pháp cũng được các nước áp dụng và cũng đem lại những hiệu quả nhất định. Ở
75
nhiên, do quá lạm dụng biện pháp này nên đã gây tác dụng ngược lại khiến cho một
số mặt hàng khan hiếm giả tạo [78, tr 377]. Ở một số quốc gia khác như Đức,
Nhật… Chính phủ cho phép các doanh nghiệp áp dụng chiêu thức “đại hạ giá” một
số mặt hàng tiêu dùng, thường là hai lần trong một năm. Ngoài thời gian này, họ chỉ
được phép điều chỉnh dao động giá theo một tỷ lệ rất hẹp. Khi thay đổi mức giá cao
hơn thì phải xin phép cơ quan quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên kinh nghiệm cho
thấy, việc sử dụng biện pháp này cần hết sức thận trọng, nếu lạm dụng quá sẽ dẫn
đến tác động tiêu cực, triệt tiêu động lực phát triển.
Năm là, tách bạch rõ chức năng quản lý hành chính và quản lý kinh doanh
của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, đồng thời đẩy mạnh cải cách doanh
nghiệp nhà nước theo hướng giảm bớt tính độc quyền của các doanh nghiệp.
Ở các nước công nghiệp phát triển, việc phân định chức năng của Nhà
nước đối với doanh nghiệp khá rõ ràng, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên đối với các
nước đang phát triển, việc tách bạch hai chức chức năng trên còn nhiều bất cập.
Sự thành công của Trung Quốc cho thấy, sự tách bạch rõ quyền sở hữu
với quyền kinh doanh của công ty nhà nước, chức năng chính quyền và doanh
nghiệp đã hạn chế rất lớn những rào cản trong phát triển kinh tế của Trung
Quốc nói chung cũng như trong các nỗ lực chống lạm dụng vị trị độc quyền
Cùng với đó, đẩy mạnh cải cách khu vực kinh tế nhà nước mà trọng tâm
là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, phân định rõ chức năng cùa Nhà nước
đối với doanh nghiệp, thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần
quan trọng trong chống độc quyền doanh nghiệp. Kinh nghiệm cải cách DNNN
ở Trung Quốc chỉ ra, để thực hiện thành công cải cách DNNN là phải kết hợp cải
cách với việc không ngừng điều chỉnh kết cấu kinh tế nhà nước. Mục đích của sự
điều chỉnh này là nhằm tối ưu hoá kết cấu ngành nghề, thúc đẩy sự phát triển hài
của doanh nghiệp ở Trung Quốc nói riêng.
76
hoà của các khu vực kinh tế, nâng cao sức mạnh tiềm tàng cho các DNNN. Điều
chỉnh kết cấu là quá trình cấu trúc lại hệ thống DNNN, nhằm loại bỏ các doanh
nghiệp làm ăn kém hiệu quả, giữ lại những doanh nghiệp quan trọng, nâng cao
chất lượng quản trị doanh nghiệp. Nhà nước chỉ cần duy trì các DNNN ở những
lĩnh vực then chốt, nắm huyết mạch nền kinh tế.
Để giảm bớt tính độc quyền của các doanh nghiệp, các quốc gia tiến
hành đa dạng hoá sở hữu các DNNN quy mô lớn. Hiện nay, Trung quốc đang
đẩy nhanh cải cách theo cơ chế đa dạng hoá sở hữu các DNNN lớn. Bởi lẽ,
các doanh nghiệp này chủ yếu đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực độc
quyền, nên việc cải cách sẽ phá bỏ độc quyền doanh nghiệp. Đồng thời, các
DNNN quy mô lớn thường có quan hệ rất chặt với chính phủ. Thực hiện cải
cách theo cơ chế đa dạng hoá sở hữu DNNN sẽ cải thiện được hai cấu trúc và
một cơ chế, đó là, cải thiện cấu trúc quyền tài sản doanh nghiệp và cấu trúc
quản lý công ty, chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế hoạt động doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thực tiễn quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc đang
gặp phải khâu nhạy cảm và cơ bản nhất đó là “cải cách quyền sở hữu tài sản
DNNN”. Theo đó, đã nảy sinh việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản
doanh nghiệp không đúng quy định, làm thất thoát tài sản nhà nước. Tình
trạng tham ô, tham nhũng, làm tài sản nhà nước chảy vào túi tư nhân ở
phủ chưa có những giải pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng này. Vấn đề
đặt ra là, đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN phải đồng thời coi trọng làm tốt vấn
đề phân cấp, phân định rạch ròi, quản lý vốn tài sản doanh nghiệp giữa trung
ương và địa phương. Đồng thời, phải luật hoá toàn bộ việc sử dụng vốn, tài
sản trong các doanh nghiệp; xây dựng hệ thống định giá tài sản chính xác,
hợp lý; thiết kế hệ thống ngăn chặn tệ tham nhũng chiếm dụng tài sản, biến
công thành tư. Kết hợp đồng bộ việc quản lý tài sản vốn nhà nước với các
mặt quản lý khác như: thuế, ngân hàng, tiền tệ, thị trường chứng khoán.
Trung Quốc đang trở thành vấn nạn của nền kinh tế. Trong khi đó, Chính
77
Kết luận chương 1
Độc quyền, độc quyền doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế khách quan
trong kinh tế thị trường, được các nhà khoa học trong và ngoài nước bàn luận
với nhiều khía cạnh khác nhau, phản ảnh tính phong phú, đa dạng trong cách
tiếp cận đánh giá, thể hiện sự quan tâm của giới học giả kinh tế cũng như các
nhà khoa học trong các lĩnh vực khác. Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm của
các nhà khoa học, tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về độc quyền, độc
quyền doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra các đặc điểm của độc quyền doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, những đặc điểm đó
đồng thời là những dấu hiệu căn bản để nhận diện độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN là một hoạt động phức tạp, và trước đó chưa có học giả nào đề
cập một cách hoàn chỉnh, mang tính hệ thống. Việc đưa ra quan niệm trung
tâm, xác định chủ thể, đối tượng, mục đích, phương pháp chống độc quyền
doanh nghiệp, cùng với việc chỉ ra những nội dung cơ bản chống độc quyền
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là yêu cầu
không thể thiếu, có ý nghĩa quan trọng. Đây chính là trọng tâm trong chương
1, làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp.
Việc khảo cứu kinh nghiệm của các nước trong vấn đề chống độc quyền
nhìn toàn diện hơn trong vấn đề này, từ đó rút ra những bài học cho Việt nam
trong hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp. Kinh nghiệm của các nước
trong việc thực hiện luật chống độc quyền cho thấy, một đạo luật tốt và một cơ
quan thực thi có khả năng phân tích chưa đủ, mà còn cần cần có ý chí chính trị
thực sự muốn sử dụng công cụ cạnh tranh làm động lực cho kinh tế thị trường
mới đem lại hiệu quả.
doanh nghiệp trong đó có cả thành công và không thành công giúp ta có cách
78
Chương 2
THỰC TRẠNG CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
2.1. Tình hình độc quyền doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua
Từ khi Luật Cạnh tranh ra đời đến nay cho thấy, việc tạo lập môi
trường cạnh tranh đã được cải thiện một bước đáng kể, tuy nhiên, hoạt động
này còn bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập. Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp
luật; sự quản lý của Nhà nước về cạnh tranh còn chưa theo kịp sự phát triển
của kinh tế, xã hội; sự ổn định của nền kinh tế còn thiếu vững chắc; tình trạng
phân biệt, đối xử chưa thực sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế còn diễn
ra… là những hạn chế, gây cản trở cho phát triển kinh tế. Trong khi đó, tâm lý
chạy theo lợi nhuận, lợi dụng sự thiếu vắng một khung pháp lý hoàn chỉnh điều
chỉnh các hoạt động kinh tế, cũng như khe hở của các quy định pháp luật hiện
hành… đã làm xuất hiện trên thị trường những hành vi lạm dụng độc quyền, hạn
chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh gây khó khăn, làm tổn hại đến nền
kinh tế, đến hoạt động kinh doanh và lợi ích kinh tế chính đáng của các doanh
nghiệp và của người tiêu dùng. Biểu hiện của tình hình đó là:
Trước hết, hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền mặc dù chưa có nhiều vụ việc dẫn đến vi
phạm pháp luật song tính chất các vụ việc và biểu hiện trong thực tiễn có
chiều hướng ngày càng phức tạp hơn. Hiện tượng ngăn cản, chèn ép việc gia
nhập thị trường của doanh nghiệp độc quyền đối với doanh nghiệp khác là đối
thủ cạnh tranh vẫn diễn ra. Chẳng hạn như trường hợp của bia Laser của Công
ty Hiệp Phát (100% vốn Việt Nam,) khi mới gia nhập thị trường bia Việt Nam
đã bị “từ chối” ở nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Lý do là bởi các
cơ sở này đã cam kết tại hợp đồng giữa Liên doanh nhà máy bia Việt Nam
trường, vị trí độc quyền vẫn tồn tại. Ở nước ta, thời gian qua, tình hình lạm
79
- một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là “chỉ được bán những
nhãn hiệu Heineken, Tiger và Bivina” của hãng này, và yêu cầu các chủ
cơ sở kinh doanh nhà hàng không được giao dịch với công ty Hiệp Phát
cũng như không được bán bia Laser tại cơ sở kinh doanh của họ. Bên
cạnh đó, đã xuất hiện tình trạng áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác
ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc buộc doanh nghiệp
khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của
hợp đồng làm ảnh hưởng lớn tới môi trường cạnh tranh.Tiêu biểu là vụ
việc năm 2010, Megastar được xác định là một doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh trên thị trường phân phối các phim nước ngoài để chiếu rạp tại
Việt Nam trên phạm vi toàn quốc. Megastar đã yêu cầu các doanh nghiệp
khác phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Hoặc như
trường hợp của Công ty Cổ phần Xăng dầu Hàng không (Vinapco), lợi
dụng vị trí là doanh nghiệp bán nhiên liệu bay duy nhất trên thị trường đã
đơn phương chấm dứt bán hàng cho Pacific Airlines vào ngày 01/04/2008,
khiến hơn 5.000 hành khách bị hoãn, hủy chuyến bay.
Cùng với các vụ việc đã được cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện và
đang tiến hành điều tra xử lý, trên thị trường Việt nam hiện nay còn xuất hiện
một loạt các hành vi có dấu hiệu lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cần phải
trường hợp hạn chế số lượng lịch bloc (đặt ra định mức 16,2 triệu bloc lịch
cho cả nước và áp đặt mỗi nhà xuất bản không được làm quá 270.000 bloc
lịch), quyết định giá bán một số sản phẩm, chỉ định một số đơn vị phân phối...
của Hội xuất bản và Cục xuất bản Việt Nam, những hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền trên đã gây cản trở, làm méo mó môi trường cạnh
tranh trong nền kinh tế ở nước ta.
Tình hình lạm dụng độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp
khá phức tạp. Theo đó, đã có sự biến tướng của độc quyền nhà nước thành
được kiểm soát, nhưng chưa có căn cứ để tiến hành cáo buộc vi phạm, như
80
độc quyền doanh nghiệp, phục vụ lợi ích của doanh nghiệp. Sự biến tướng này
nhằm mục đích phục vụ lợi ích của doanh nghiệp và một bộ phận nhóm người
trong xã hội. Những quan hệ thị trường, quan hệ dân sự đã bị biến thành quan
hệ hành chính theo cơ chế bao cấp, xin - cho, vi phạm cơ chế thị trường.
Doanh nghiệp, người bán có quyền đề ra các quy định và định giá, đồng thời
có toàn quyền trong việc bán hay không, còn người mua thì nhất thiết phải
mua và thực hiện theo các quy định mà không có sự lựa chọn khác. Liên tiếp
xảy ra các vụ việc khá điển hình về sự lạm dụng độc quyền nhà nước như:
Việc điều hành giá xăng, dầu của Tổng công ty xăng dầu; vụ Hiệp hội Thép
Việt Nam ra nghị quyết ấn định giá bán (yêu cầu các thành viên phải bán với
giá 13,7- 14 triệu đồng/tấn thép), vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống
nhất nâng mức phí bảo hiểm lên 3,95%/năm cho tất cả các đối tượng khách
hàng. Vụ Công ty Cổ phần Xăng dầu Hàng không (Vinapco), lợi dụng vị trí
là doanh nghiệp bán nhiên liệu bay duy nhất trên thị trường, đơn phương
chấm dứt bán hàng cho Jestar Pacific Airlines... Tất cả những hành vi trên đã
ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người dân trong sinh hoạt và cuộc sống
hàng ngày và làm cho nền kinh tế trở nên méo mó, lợi ích chung của Nhà nước đã
bị biến thành cái riêng có của doanh nghiệp, phục vụ lợi ích và làm giàu cho một
bộ phận, một nhóm người trong xã hội, còn phần lớn người dân phải “chấp nhận”
Hơn nữa, việc nắm giữ thị phần áp đảo cũng đang tạo "đất sống" cho
độc quyền doanh nghiệp. Hiện nay, “Tập đoàn điện lực Việt Nam cung cấp
hơn 80% tổng lượng điện sản xuất, quản lý hầu như toàn bộ khâu truyền tải,
vận hành hệ thống điện quốc gia, phân phối và kinh doanh bán điện”[42,tr
122]. Trong lĩnh vực xăng dầu, Petrolimex tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên thị
trường nội địa với thị phần thực tế khoảng 48%, trong số khoảng 13.500 cửa
hàng xăng dầu thuộc tất cả các thành phần kinh tế, Petrolimex sở hữu 2.170
cửa hàng hiện diện trên khắp cả nước [124]. Trong khi đó, “trình độ công
những áp đặt mà các doanh nghiệp đó đã đề ra.
81
nghệ của doanh nghiệp nhà nước trong một số ngành như dầu khí, viễn
thông… được đánh giá là ngang bằng với mức trung bình thế giới. Còn nhiều
DNNN khác thì trình độ công nghệ rất hạn chế. Chẳng hạn như tập đoàn Than
khoáng sản Việt Nam theo thang điểm của Liên hợp quốc thì trình độ công
nghệ của tập đoàn khoảng 60/100, thấp so với khu vực và thế giới. Máy móc,
thiết bị của nhiều DNNN còn cũ kỹ, lạc hậu, thậm trí lạc hậu so với thế giới từ
20 đến 30 năm” [42,tr 136]. Có thể nói, việc các doanh nghiệp Nhà nước vẫn
nắm giữ một thị phần áp đảo đã tạo tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp,
bảo hộ, bù lỗ của Nhà nước mà không cần phải tăng cường đầu tư, cải tiến
trang thiết bị, cơ sở vật chất và đổi mới phương pháp làm việc để nâng cao
hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hoạt động thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp độc
quyền ngày càng tinh vi. Sự thỏa thuận đó không chỉ dưới hình thức thoả
thuận theo chiều ngang mà còn ở cả với hình thức thoả thuận theo chiều dọc
và nó diễn ra trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Các hoạt động thỏa thuận
này nhiều khi được che đậy một cách kín đáo, thậm trí được hợp lý hóa bằng
những văn bản pháp lý của cơ quan quản nhà nước cho phép doanh nghiệp
hoạt động, điều này đã vô hình dung tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bắt
tay với nhau. Chẳng hạn, trong đợt điều chỉnh đồng loạt cước phí 3G của ba
quản lý Cạnh tranh cho rằng chưa phát hiện các dấu hiệu bất thường của sự
câu kết, bắt tay, thỏa thuận giữa ba doanh nghiệp nhưng cũng đặt ra những
nghi ngại trong xã hội. Hay trong lĩnh vực y tế, đấu thầu có thể được coi là
một hình thức phân phối “bán buôn, bán lẻ” của các công ty dược phẩm trong
nước. Các hãng dược phẩm nước ngoài phải thông qua các công ty trong nước để
phân phối thuốc vào bệnh viện. Theo số liệu của Bộ Y tế, doanh số bán thuốc của
bệnh viện chiếm khoảng 70% thị phần bán lẻ [16,tr 61]. Do đó, đây là một kênh
“phân phối” không thể bỏ qua, và tất cả các doanh nghiệp sản xuất và phân phối
doanh nghiệp Viettel, Mobiphone, Vinaphone vào tháng 10/2013, mặc dù Cục
82
đều mong muốn “thắng thầu” trong việc cung cấp thuốc vào bệnh viện. Để đạt
được điều đó, giữa doanh nghiệp và bệnh viện có sự “bắt tay” với nhau, nên nảy
sinh hiện tượng thông đồng trong đấu thầu theo chiều dọc giữa bên mời thầu
(bệnh viện) và các nhà thầu (các doanh nghiệp phân phối thuốc).
Có thể nói, hiện tượng thông đồng, đấu thầu “khép kín” diễn ra khá
phổ biến song cơ quan quản lý khó phát hiện và xử lý. Điều đó dẫn đến
hiện tượng thất thoát, lãng phí các nguồn lực của xã hội ở nước ta, triệt tiêu
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Tôi cho rằng, về
bản chất, hiện tượng này chính là một sự “thoả thuận theo chiều dọc, và tệ
hại hơn, đó không những là sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau
mà còn là sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước.
Vấn đề này không chỉ tồn tại trong lĩnh vực y tế mà còn cả ở các lĩnh vực
khác nhất là trong xây dựng cơ bản, giao thông cầu đường… Nó hiện hữu
trong đời sống thực tế hàng ngày, song việc quản lý của các cơ quan chức
năng chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Chính điều này làm cho tính
chất thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp phức tạp hơn rất
nhiều, làm triệt tiêu khả năng gia nhập của các doanh nghiệp khác khi
muốn tham gia, đồng thời làm tha hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nước.
Sự thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp độc quyền
là hiện tượng liên kết chiều ngang để ấn định giá, liên kết chiều dọc để đẩy
giá lên hoặc liên kết ghi hóa đơn với giá thấp hơn thực tế để giảm thuế
nhập khẩu. Một ví dụ rõ nhất của vấn đề này là mặt hàng sữa, nhà nhập
khẩu bán sản phẩm với giá cao và để hợp lý chi phí, họ chuyển một phần
lớn chênh lệch giá vào chi phí quảng cáo, khuyến mãi, chi phí bán hàng...
Tất cả các chi phí đội lên, người tiêu dùng phải gánh chịu. Trong thực tế,
đã từng tồn tại những ví dụ liên quan đến những thoả thuận về giá như
trường hợp thỏa thuận của các hãng taxi trong hiệp hội taxi TP Hồ Chí
trong cùng lĩnh vực kinh doanh đã xâm hại đến lợi ích người tiêu dùng. Đó
83
Minh vào năm 2000, 2001. Bằng sự độc quyền của mình, 14 doanh nghiệp
taxi thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi thành lập hiệp hội đã thống nhất
đồng loạt tăng giá cước từ 6.000 đồng/km đầu tiên lên 12.000 đồng/2 km
đầu và 5.000 đồng/km tiếp theo. Hoặc vụ việc 20 doanh nghiệp bảo hiểm
thỏa thuận tăng mức phí tối thiểu đối với dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ôtô
vào năm 2008. Theo đó, mức phí bảo hiểm tăng từ 1,3% lên 1,56%/năm.
Những doanh nghiệp tham gia ký thỏa thuận mà không thu đúng sẽ bị hiệp
hội bảo hiểm phạt 10% số phí bảo hiểm thu được của hợp đồng vi phạm,
nhưng tối thiểu 10 triệu đồng đối với bảo hiểm tàu biển và 5 triệu đồng với
bảo hiểm hàng hóa[43,tr 80].
Qua đây có thể thấy, trong khi đối tượng trực tiếp của việc thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh là đối thủ của họ thì “nạn nhân” chịu tác động từ hoạt động đó
lại chính là người tiêu dùng. Những hoạt động liên kết, thỏa thuận định giá buộc
người tiêu dùng phải chấp nhận đều thuộc các ngành kinh tế trọng yếu như ngân
hàng, xăng dầu, vận tải, bảo hiểm… đã ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng
nói riêng và toàn xã hội nói chung. Mức độ tác hại của sự thoả thuận giữa các
doanh nghiệp hoàn toàn giống như tác động tiêu cực của việc lạm dụng vị thế độc
quyền (nhóm) trong việc nâng giá hoặc giảm chất lượng sản phẩm.
Hoạt động ấn định giá sản phẩm bất hợp lý nhằm thu lợi nhuận độc
và người dân. Những hiện tượng nâng giá đầu vào, tăng giá đầu ra không
hợp lý của một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền đã làm giảm khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp khác. Báo cáo cạnh tranh trong 10 lĩnh vực
năm 2012 của Cục Quản lý Cạnh tranh đã khẳng định, có hiện tượng ấn
định giá của những doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh. Chẳng hạn, các doanh nghiệp phân phối dược phẩm có sự ấn định
mức giá của doanh nghiệp nhập khẩu có vị trí thống lĩnh thị trường trong
quyền cao của doanh nghiệp độc quyền đã gây tác động tiêu cực cho xã hội
84
từng mặt hàng thuốc cụ thể, bao gồm cả những mặt hàng do một nhà phân
phối độc quyền và những mặt hàng có trên hai nhà phân phối [16,tr 189].
Hay trong lĩnh vực vận tải biển, hiện tượng các hãng tàu nước ngoài đưa ra
mức cước cơ sở rất thấp tại Việt Nam, thậm chí thấp hơn giá cước vận
chuyển nội địa. Ví dụ, tính trung bình một công-ten-nơ vận chuyển từ Việt
Nam sang Singapore chỉ có 30 đô la Mỹ - 50 đô la Mỹ cho công-ten-nơ 40
feet, thậm chí đã có lúc giá cước xuống 10 đô la Mỹ. Trong khi đó giá cước
cho một công-ten-nơ chạy nội địa từ cảng Hải phòng vào TP Hồ Chí Minh
có giá là 1,3 triệu đồng (tương đương 60 đô la Mỹ), cao hơn mặc dù tuyến
đường ngắn hơn. Tuy nhiên, đây không phải là giá thực trả cho một lô
hàng, vì để bù đắp lại giá cước vận tải trên, các hãng tàu đã tăng thêm rất
nhiều loại phụ phí. Hiện tượng các hãng tàu nước ngoài đưa ra mức cước
cơ sở rất thấp và việc thu thêm một số phụ phí ở mức rất cao của các hãng
tàu có dấu hiệu ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách bất hợp lý [16,tr
187]. Những hoạt động ấn định giá đã ảnh hưởng lớn tới xã hội, cuộc sống
của người dân cũng như môi trường cạnh tranh.
Hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp nhằm hình thành vị
trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có xu hướng gia tăng. Ngày càng có nhiều công
ty nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua hình thức mua
năm mở cửa tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (1988 – 2007), đã có 46
dự án với tổng số vốn đầu tư trên 900 triệu USD được sáp nhập với các dự án
khác[27,tr 54]. Số lượng và giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam có xu hướng
tăng mạnh, nếu như năm 2006 mới chỉ có 38 thương vụ, thì năm 2007 đã tăng
lên 108; năm 2008 là 146; năm 2009 là 295 thương vụ với giá trị 1,14 tỷ USD,
năm 2010 là 345 với giá trị 1,75 tỷ USD; năm 2011 là 266 và giá trị là 6,25 tỷ
USD; năm 2012 giá trị các thương vụ đạt 5,1 tỷ USD [132]
bán và sát nhập (M&A) với giá trị giao dịch có xu hướng tăng mạnh. Sau 20
85
Hình2.1 : Số lượng và giá trị M&A tại Việt Nam (2003 – Q1/2012)
(Cục Quản lý cạnh tranh, “Báo cáo tập trung kinh tế 2012”)
Phương thức thực hiện thâu tóm và sáp nhập đa dạng. Tùy thuộc vào mục
tiêu, cấu trúc sở hữu, lợi thế so sánh, đặc điểm quản trị, văn hóa công ty của các
công ty trong giao dịch mà các công ty tiến hành các cách thức thực hiện thâu tóm
và sáp nhập khác nhau. Cách phổ biến mà các công ty thường thực hiện là: Chào
mua công khai; mua dần cổ phiếu thông qua giao dịch trên thị trường chứng
khoán; mua tài sản của công ty; trao đổi cổ phần để nắm giữ cổ phiếu chéo lẫn
nhau. Thực tế cho thấy, các thương vụ M&A ở Việt Nam thời gian qua, chủ yếu là
mua bán doanh nghiệp (toàn bộ hoặc một phần), hoạt động M&A đa số diễn ra
ngoài tham gia là mua lại. Nhiều thương vụ được coi là M&A nhưng thực chất là
hoạt động đầu tư tài chính, mua lại cổ phần để trở thành đối tác chiến lược như
Indochina Capital – Mai Linh Corp, hay là Vina Capital và Phở 24…
Các vụ tập trung kinh tế nằm trong ngưỡng phải thông báo hoặc bị
cấm đã bắt đầu xuất hiện và có xu hướng gia tăng. Trong thời gian vừa qua,
trên thế giới đã có một loạt các vụ sáp nhập lớn mà trong đó các bên tham gia
đều có công ty con hoặc chi nhánh tại Việt Nam, ví dụ như Alcatel - Lucent,
ICI - Akzo Nobel… Nhiều công ty đã chiếm lĩnh được thị phần lớn, thậm chí
với một bên là đối tác nước ngoài và hình thức M&A mà các nhà đầu tư nước
86
có thể đã có thị phần chi phối trên thị trường Việt Nam. Đã xuất hiện nhiều
trường hợp các công ty tự tuyên bố hoặc quảng bá về thị phần lớn đối với các
sản phẩm của mình.
Trong quá khứ đã từng xuất hiện vài thương vụ mang tính thủ đoạn,
thâu tóm doanh nghiệp như thương vụ CocaCola Vietnam với Công ty nước
giải khát Chương Dương. Hoạt động liên kết giữa hai doanh nghiệp ban đầu
mang tính liên doanh hợp tác, nhưng sau đó, chính từ việc thiếu kinh nghiệm
và kiến thức trong liên doanh với nước ngoài, mà Cocacola đã thâu tóm được
công ty nước giải khát Chương Dương. Hay thương vụ Colgate - Palmolive
mua lại Kem đánh răng Dạ Lan (chiếm 30% thị phần Việt Nam lúc đó) với giá 3
triệu USD và tập đoàn Unilever mua lại kem đánh răng P/S (chiếm 65% thị phần
nội địa) chỉ với 5 triệu USD, hai thương hiệu này đã ăn sâu vào nhận thức của
người Việt Nam lại bị rơi vào tay công ty nước ngoài do thiếu kinh nghiệm trên
sân chơi quốc tế. Rủi ro từ việc thiếu kiến thức, thiếu tầm nhìn, kinh nghiệm
trong những hoạt động này là một nhược điểm làm cho doanh nghiệp tại Việt
Nam sẽ gặp khó khăn, thua thiệt khi tham gia vào thị trường M&A, một thị
trường mà yếu tố nước ngoài chi phối rất nhiều.
Các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước có mức độ tập trung kinh tế khá
cao, chiếm vị trí thống lĩnh thị trường ở những ngành, lĩnh vực then chốt của
thí điểm thành lập, trong đó có 11 tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập. Xét về ngành nghề kinh doanh, hầu hết tập
đoàn kinh tế nhà nước đều được xây dựng trên nền tảng của các tổng công ty
90 và 91 thành lập trước đây. Những tập đoàn kinh tế nhà nước chiếm vị trí
thống lĩnh thị trường ở những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, thể
hiện rõ nhất là các tập đoàn: Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp Than và Khoáng
sản, Dệt may, Công nghiệp cao su, Công nghiệp tàu thủy. Trong đó, một số
tập đoàn giữ vị trí chi phối hoặc độc quyền ngành như Dầu khí, Điện lực,
nền kinh tế nước ta. Thời gian qua, đã có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước được
87
Công nghiệp Than và Khoáng sản với mức độ tập trung cao. Hiện nay, với
chủ trưởng tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, Chính
phủ đã có một số biện pháp để thực hiện sáp nhập một số doanh nghiệp nhà
nước để hoạt động có hiệu quả hơn, cụ thể là: Sáp nhập EVN Telecom vào
Viettel; chuyển giao vốn nhà nước tại Jetstar Pacific sang Vietnam Airlines
quản lý; sáp nhập 3 Tổng công ty dịch vụ Cảng hàng không tại 3 miền...
Những đề cập trên về độc quyền doanh nghiệp, mặc dù chưa thể bao
quát được hết nhưng đã cho thấy phần nào bức tranh độc quyền trong nền
kinh tế nước ta. Đứng trước tình hình trên, thời gian qua, Việt Nam đã có
nhiều hoạt động cụ thể trong chống độc quyền doanh nghiệp.
2.2. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong chống độc quyền
doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua
2.2.1.Thành tựu và nguyên nhân
2.2.1.1.Những thành tựu đạt được
Có thể nói rằng, thời gian qua, hoạt động chống độc quyền doanh
nghiệp ở nước ta đã đạt được những kết quả đáng kích lệ, góp phần không
nhỏ vào tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, qua đó thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế. Những thành tựu đạt được trên một số mặt sau:
Trước hết, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống các khung khổ pháp
Với quyết tâm chính trị, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định trong các văn kiện xây
dựng, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, xoá bỏ độc quyền. Nghị quyết
số 34 - NQ/TW, Hội nghị lần thứ 9 BCH T.Ư Đảng khóa IX chỉ rõ: “Khẩn
trương xóa bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước kiểm soát, điều tiết hoạt
động của các doanh nghiệp có thị phần lớn, có thể khống chế thị trường, trước
hết là thị trường hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với an sinh xã hội” [41, tr 34].
lý, phục vụ cho công tác quản lý cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp.
88
Đại hội Đảng lần thứ X chủ trương “Thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc
quyền kinh doanh, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp” [40,tr 192]. Đại hội XI xác
định: “Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh
bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế”,
“Tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật
về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu
dùng...” [41,tr 108]. Đây là những định hướng quan trọng để Nhà nước thực hiện
công tác quản lý, chống độc quyền doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở các nghị quyết của Đảng, một chương trình xây dựng luật pháp
đã được xác định nhằm hoàn thiện từng bước môi trường pháp lý cho tạo lập
môi trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Nhiều văn bản quy
phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý đã được ban hành như: Luật Cạnh
tranh năm 2004; Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010; Bộ Luật Dân sự
2005; Luật Doanh nghiệp 2005… Và các nghị định, hướng dẫn việc thực thi,
góp phần phục vụ công tác quản lý như: Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày
30/9/2005 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị
định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh; Nghị định 05/2006/NĐ-CP
ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
05 tháng 9 năm 2007 về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh
nghiệp… Bên cạnh đó, cũng ghi nhận sự đóng góp của một số văn bản luật có sự
điều chỉnh đối với hoạt động quản lý cạnh tranh theo ngành, nghề, trong đó hoạt
động quản lý cạnh tranh được xác định thuộc về cơ quan chuyên ngành: Luật
Viễn thông, Luật Điện lực, Luật Chứng khoán, Luật Ngân hàng… Xu hướng
đưa các vấn đề cạnh tranh vào luật chuyên ngành như vậy đã và đang được thể
hiện rõ nét bằng sự ra đời của nhiều luật điều tiết ngành, trong đó có đề cập đến
phạm vi quản lý cạnh tranh thuộc về cơ quan quản lý ngành.
và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh; Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày
89
Song song với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống
các cơ quan quản lý, giám sát và theo dõi các hoạt động cạnh tranh, độc
quyền của các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng đã được xây dựng và đi vào
hoạt động với các thiết chế quản lý cạnh tranh rất đa dạng. Theo đó, không
chỉ có các cơ quan quản lý của Nhà nước, mà còn có sự góp mặt của các thiết
chế như: Các hiệp hội doanh nghiệp; hiệp hội người tiêu dùng; các cơ quan về
lưu trữ, nghiên cứu và phân tích thông tin thị trường. Ngoài ra, còn có sự
giám sát, cảnh báo, định hướng của dư luận, của các cơ quan báo chí, các viện
nghiên cứu và các cơ quan đào tạo. Ở góc độ quản lý của Nhà nước, ngoài hệ
thống quản lý kinh tế của các cơ quan quản lý từ Trung ương tới địa phương,
còn có các cơ quan chuyên biệt, chuyên quản lý, theo dõi các hoạt động liên
quan tới cạnh tranh, trong đó tập trung vào hai cơ quan chức năng, bao gồm
Hội đồng cạnh tranh và Cục Quản lý cạnh tranh. Theo đó, liên quan đến các
vụ việc hạn chế cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh có chức năng thụ lý và tổ
chức điều tra, trong khi đó Hội đồng cạnh tranh có chức năng xử lý vụ việc.
Với mô hình cơ quan thực thi như hiện tại, việc điều tra và xử lý vụ việc hạn
chế cạnh tranh mang tính chất độc lập.
Việc xử lý các hoạt động lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí
độc quyền của doanh nghiệp bước đầu có tác dụng tích cực trong tạo lập
Quản lý cạnh tranh đã thụ lý và điều tra 02 vụ liên quan đến hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường do doanh nghiệp nộp hồ sơ khiếu nại. Đó là
Công ty thương mại dịch vụ Tân Hiệp Phát khiếu nại Công ty liên doanh nhà
máy bia Việt Nam lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trên thị trường bia
cao cấp để ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh mới. Vụ
thứ hai liên quan đến khiếu nại của một số doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực điện ảnh kiếu nại công ty cổng phần truyền thông Megastar đã lạm
dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu.
môi trường cạnh tranh. Từ khi Luật Cạnh tranh ra đời cho đến nay, Cục
90
Trong khi đó, Hội đồng Cạnh tranh chưa xử lý một vụ việc nào liên quan
đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà mới chỉ dừng lại đình chỉ
một vụ việc và giải quyết trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường-
lạm dụng vị trí độc quyền. Cụ thể là Jestar Pacific Airlines kiện Vinapco, thuộc
Tổng công ty hàng không Việt Nam năm 2009. Việt Nam Airlines thông qua
công ty con của mình áp đặt Jestar Pacific Airlines hàng tháng phải ứng trước
tiền cho Vinapco để công ty này mua nguyên liệu bay về bán lại. Hội đồng Cạnh
tranh đã quyết định phạt Vinapco 3,3 tỷ đồng, yêu cầu Vinapco lập tức cung cấp
xăng cho Jestar Pacific Airlines, đồng thời cấp quyền cung cấp xăng hàng không
cho PJF thuộc Petrolimex để xóa thế độc quyền của Vinapco.
Bên cạnh đó, đã xác định cụ thể những ngành, lĩnh vực sản xuất kinh
doanh thuộc độc quyền nhà nước làm cơ sở cho Nhà nước trong quản lý,
kiểm soát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước. Để
phục vụ cho công tác quản lý của Nhà nước, chống độc quyền doanh nghiệp,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 14/2011/QĐ-TTg về tiêu chí,
danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước, ngày 04 tháng 3 năm 2011, quyết
định này thay thế cho quyết định số 38/2007/QĐ-TTg, theo đó, có 20 ngành,
lĩnh vực do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 27 ngành, lĩnh vực Nhà
nước chi phối nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần đối với những doanh nghiệp
Trước đó, quyết định số 38/2007/QĐ-TTg cũng đã xác định rõ những
ngành, lĩnh vực Nhà nước độc quyền, với 19 ngành, lĩnh vực do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ và 27 ngành, lĩnh vực Nhà nước chi phối nắm giữ
trên 50% tổng số cổ phần đối với những doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa.
Còn trong quyết định 58/2002/QĐ-TTg quy định rõ sáu lĩnh vực độc quyền nhà
nước, tuy nhiên, trong các quyết định thay thế là quyết định 155/2004/QĐ-TTg và
quyết định 38/2007/QĐ-TTg (đã nêu trên) về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước lại không đề cập đến những lĩnh vực mà Nhà
thực hiện cổ phần hóa.
91
nước độc quyền. Năm trong số sáu lĩnh vực độc quyền nhà nước được quy định
trong Quyết định 58/2002/QĐ-TTg vẫn có trong Quyết định 38/2007/QĐ-TTg (trừ
mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế). Trên thực tế, có thể hiểu 20 ngành, lĩnh
vực do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là những ngành, lĩnh vực độc quyền
nhà nước hiện đang có hiệu lực tại Việt Nam (xem bảng 1, phụ lục).
Việc kiểm soát, giám sát hoạt động của các tập đoàn kinh tế, DNNN
lớn được coi trọng. Để tạo cơ sở pháp lý quản lý việc hình thành, tổ chức
quản lý và giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN lớn
ngay từ đầu những năm 90 của thập kỷ XX, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành một số văn bản pháp lý làm cơ sở cho việc hình thành, cơ cấu tổ chức
quản lý và giám sát hoạt động của DNNN, trong đó có:
- Quyết định 90/TTG ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tiếp tục sắp xếp lại DNNN.
- Quyết định 91/TTG ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thí điểm tập đoàn kinh doanh.
- Luật doanh nghiệp nhà nước 1995.
- Chỉ thị 15/1999/CT-TTG ngày 26/05/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về hoàn thiện tổ chức hoạt động của các tổng công ty nhà nước.
- Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 09/08/2004 của Chính phủ về tổ
công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ, công ty con.
- Luật doanh nghiệp 2005.
- Nghị định số 111/2007 NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về tổ
chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổng công ty nhà nước,
công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ. công ty con hoạt động
theo luật doanh nghiệp.
- Nghị định số 101/2009 NĐ-CP ngày 05/11/2009 của Chính phủ về thí
điểm thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước.
chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổng công ty nhà nước,
92
Ngoài ra còn một loạt văn bản khác liên quan đến quản lý, giám sát tập
đoàn kinh tế nhà nước, DNNN quy mô lớn như Nghị định 132/2005/NĐ-CP,
Nghị định 86/2007/NĐ-CP, Nghị định 09/2009/NĐ-CP (trước kia là Nghị
định 199/2004/NĐ- CP) về quản lý tài chính công ty nhà nước và các văn bản
khác. Nguyên tắc chung là:
- Quản lý, giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước được thực hiện từ cấp
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cho tới các Bộ, ngành. Chính phủ, các Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý,
giám sát các tập đoàn theo lĩnh vực quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ
sở hữu. Công ty mẹ thực hiện giám sát với các công ty con do công ty mẹ nắm giữ
100% vốn điều lệ, nắm giữ cổ phần chi phối và công ty liên kết.
- TĐKT nhà nước thực hiện hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi đồng
thời phải đảm bảo thực hiện nhiệm vụ đối với Nhà nước.
- Nhà nước thực hiện từng bước “mềm hóa” cơ chế giá đầu vào. Đối
với các tập đoàn kinh tế đặc biệt như Tập đoàn bưu chính viễn thông, Tập
đoàn Điện lực… Nhà nước vẫn thống nhất quản lý giá cả các dịch vụ chủ yếu.
- Nhà nước giao vốn cho các TĐKT nhà nước quản lý và sử dụng.
TĐKT nhà nước có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và
phát triển vốn Nhà nước giao…
quyết TW6 khóa XI , cả nước đã sắp xếp được 5347 doanh nghiệp, trong đó
giai đoạn 2001- 2011 là 4757 doanh nghiệp, cổ phần hóa 3388 doanh nghiệp và
bộ phận doanh nghiệp; giao 189 doanh nghiệp, bán 135 doanh nghiệp; khoán,
kinh doanh, cho thuê 30 doanh nghiệp; sát nhập 427 doanh nghiệp; hợp nhất
110 doanh nghiệp; giải thể 220 doanh nghiệp [42,tr 117]. Hoạt động của
DNNN cơ bản tập trung vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn then chốt, quan
trọng mà Nhà nước cần nắm giữ, góp phần để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và nhu cầu
Cùng với đó, DNNN được sắp xếp lại một bước quan trọng. Theo nghị
93
của quốc phòng, an ninh. Theo đó, các quy định pháp luật về tiêu trí phân loại
DNNN làm cơ sở cho sắp xếp, cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu DNNN, đối
tượng doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ đã được điều chỉnh
từ trên 60 ngành, lĩnh vực năm 2002 xuống còn 30 ngành, lĩnh vực năm 2005,
đến năm 2011 chỉ còn 19 ngành, lĩnh vực quan trọng mà Nhà nước cần nắm giữ.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê
duyệt đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng
công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu cơ cấu lại hệ thống doanh
nghiệp nhà nước hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, nâng
cao sức cạnh tranh, cung ứng các dịch vụ công ích thiết yếu. Chính phủ cũng
đã ban hành một số Nghị định để hoàn thiện cơ chế, chính sách phục vụ cho
việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước như: Nghị định 99/2012/NĐ-CP
ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm,
nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và Nhà
nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp; Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày
25/6/2013 của Chính phủ về quy chế giám sát tài chính và đánh giá kết quả
hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước do
Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước; Nghị định
71/2013/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản
lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các DNNN lớn, các TĐKT, qua đó,
tránh việc các doanh nghiệp lợi dụng độc quyền nhà nước thành độc
quyền doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp.
Hoạt động chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp
độc quyền đã đạt được một số kết quả ban đầu góp phần cải thiện môi trường
kinh doanh. Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành,
chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ…
94
các cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam thông qua quá trình thực thi đã thực
sự bắt đầu đưa Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống. Hàng năm, cơ quan quản lý
cạnh tranh thực hiện việc rà soát, đánh giá tình hình cạnh tranh trên các lĩnh
vực của nền kinh tế, quan đó thấy được tình hình của các doanh nghiệp trong
hoạt động cạnh tranh.
Bảng 2.1: Thống kê ngành, lĩnh vực được đánh giá cạnh tranh
Năm 2010 Năm 2012 Năm 2013
Sữa bột Phân phối dược phẩm Điện máy 1
Thép xây dựng Bảo hiểm nhân thọ Lĩnh vực bia 2
Xi măng Truyền hình trả tiền Chứng khoán 3
Thức ăn chăn nuôi Vận tải biển Chuyển phát nhanh 4
Phân bón Quảng cáo Mía đường 5
Ngân hàng Ôtô tải Nước giải khát 6
Bảo hiểm Bột giặt Sản xuất ôtô 7
Xăng dầu Giấy Sản xuất dược phẩm 8
Viễn thông Dầu thực vật Thẻ ngân hàng 9
10 Hàng không Kính xây dựng Sản xuất xe máy
Nguồn: Cục Quản lý Cạnh tranh “Báo cáo đánh giá cạnh tranh trên
Nhìn vào những ngành, lĩnh vực được đánh giá cho thấy, phần lớn là những
ngành lĩnh vực thiết yếu, một số ngành có tính chất độc quyền. Thông qua việc
đánh giá, thấy được môi trường cạnh tranh và mức độ cạnh tranh trong các ngành
lĩnh vực trong nền kinh tế, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành,
lĩnh vực của nền kinh tế, phục vụ cho công tác giám sát doanh nghiệp độc quyền.
Cùng với việc đánh giá các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, cơ quan quản lý
cạnh tranh đã tiến hành xử lý các vụ việc liên quan đến hạn chế cạnh tranh.
các lĩnh vực năm 2010, 2012, 2013”
95
Hình 2: Thống kê các vụ việc hạn chế cạnh tranh trong
giai đoạn từ 2006- 2013
(Nguồn: Tổng hợp từ “Báo cáo hoạt động Cục quản lý cạnh tranh năm 2013)
Đã thực hiện kiểm soát giá đối với một số mặt hàng thiết yếu, hàng hóa
mang tính chất độc quyền có tác động ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội. Để
phục vụ cho hoạt động kiểm soát giá, Quốc hội, đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật trong đó có Luật giá 2012 (trước đó có pháp lệnh giá
ngày 26/04/ 2002) và Chính phủ ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn
như Nghị định số 177/2013/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá. Hoạt động kiểm soát giá cũng
được quy định trong Luật Cạnh tranh, theo đó Nhà nước kiểm soát doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp:
vi thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước. Trong
pháp lệnh giá năm 2002 đã quy định về kiểm soát giá độc quyền, khẳng
định, Nhà nước kiểm soát giá độc quyền, trong trường hợp cần thiết, cơ
quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về giá tiến hành việc kiểm soát chi phí
sản xuất, lưu thông, giá hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khi phát hiện
có dấu hiệu liên kết độc quyền về giá hoặc khi cần phải xem xét việc hình
thành giá độc quyền [100,tr 8].
Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa; quyết định số lượng, khối lượng, phạm
96
Cùng với các hoạt động kiểm soát giá, việc thực hiện công khai, minh
bạch về giá trên một số hàng hóa dịch vụ mang tính độc quyền đã được xác
định. Trong Pháp lệnh giá và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định
170/2003/NĐ-CP, Nghị định 75/2008/NĐ-CP, Thông tư 104/2008/TT-BTC)
đã chỉ rõ cơ chế xác định giá là: giá hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc
quyền nhà nước do doanh nghiệp lập phương án giá, Cục Quản lý giá thẩm
định và trình Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định sau khi có ý kiến bằng văn
bản của các bộ có liên quan. Theo đó, những lĩnh vực, ngành hàng sản xuất,
kinh doanh hàng hóa mang tính chất độc quyền cũng có những quy định cụ
thể. Chẳng hạn, trong hoạt động kinh doanh xăng, dầu, Nghị định 84/NĐ-CP
ngày 15/12/2009 thay thế Nghị định 55 đã quy định rất cụ thể, khống chế định
mức, định lượng, thời hạn của việc tăng, giảm giá xăng dầu. Chỉ thị số 11/CT-
BCT ngày 22/4/2014 “Về việc tăng cường công khai, minh bạch đối với hoạt
động kinh doanh xăng dầu” công khai hóa việc tính toán hình thành giá bán lẻ
xăng dầu, làm căn cứ giám sát quá trình tăng, giảm giá.
Đã tiến hành xử lý doanh nghiệp độc quyền có hành vi ấn định giá
sản phẩm bất hợp lý. Từ khi có Luật Cạnh tranh đến nay, cơ quan quản lý
cạnh tranh đã xử lý 01 vụ liên quan đến việc ấn định giá bất hợp lý. Cụ thể,
ngày 12 tháng 8 năm 2013, Hội đồng Cạnh tranh đã ban hành Quyết định giải
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đối với 12 doanh nghiệp Bảo hiểm thỏa thuận
ấn định giá bảo hiểm học sinh. Mười hai doanh nghiệp vi phạm về các thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và phải nộp vào Kho bạc nhà nước tiền phí
xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại Điều 63 Luật Cạnh tranh.
Thực hiện kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế của các doanh
nghiệp có xu hướng hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Hệ thống
pháp luật liên quan đến tập trung kinh tế (TTKT) bước đầu đã được xây dựng
bằng quy định thuộc nhiều chế định pháp luật khác nhau, trong đó cơ bản là
quyết khiếu nại của doanh nghiệp Bảo hiểm Toàn cầu về Quyết định của Hội
97
pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp, pháp luật về thực hiện quyền góp vốn,
mua cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, pháp luật đầu tư, pháp luật chứng
khoán… Đã có một số văn bản pháp luật mới được ban hành điều chỉnh một số
vấn đề hoặc lĩnh vực cụ thể trong hoạt động tập trung kinh tế như Luật Viễn
thông (2009) và Nghị định hướng dẫn thi hành, Thông tư 04/2010 của Ngân
hàng nhà nước quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng,
Nghị định 119 (2011) của Chính phủ sửa đổi thủ tục hành chính tại Nghị định
116 (2005) hướng dẫn Luật Cạnh tranh, Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về quy
định giới hạn tỷ lệ phần trăm tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị
trường chứng khoán Việt Nam... Các quy định về việc mua bán, sáp nhập,
chuyển nhượng, góp vốn... được quy định ngày càng chặt chẽ hơn nhằm đảm
bảo sự quản lý và giám sát tốt của Nhà nước. Bên cạnh đó, đã tiến hành tiếp
nhận hồ sơ tập trung kinh tế, tham vấn một số vụ việc, trong đó có những
trường hợp thuộc chương trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Cho tới nay
Cục Quản lý cạnh tranh đã phê chuẩn tất cả các vụ việc TTKT được thông báo,
và chưa có vụ việc nào thuộc dạng bị cấm theo quy định của Luật cạnh tranh.
Theo đó, năm 2008 có 3 vụ việc TTKT được phê chuẩn, năm 2009 là 1 vụ,
năm 2010 là 3 vụ, năm 2011 có 4 vụ, năm 2012 có 4 vụ và năm 2013 có 4 vụ
(xem phụ lục 4).
doanh nghiệp bước đầu đạt được kết quả nhất định, có tác dụng tích cực trong
duy trì và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, giải quyết hài hòa lợi
ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
2.2.1.2. Nguyên nhân thành tựu.
Những kết quả đạt được trong chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian qua có
nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan. Tựu chung lại gồm những
nguyên nhân sau:
Những thành tựu trên phần nào cho thấy, hoạt động chống độc quyền
98
Một là, vai trò tích cực của các cơ quan quản lý nhà nước trong chống
độc quyền doanh nghiệp tạo lập môi trường cạnh tranh giữa các chủ thể kinh
tế. Có thể nói rằng, những kết quả đạt được trong chống độc quyền doanh
nghiệp có sự đóng góp quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước trong đó
phải kể đến Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh. Đây là hai cơ
quan chuyên trách của nhà nước trong hoạt động quản lý cạnh tranh. Với
nhiệm vụ và chức năng giám sát chính sách cạnh tranh, hai cơ quan này đã
luôn tích cực tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến vào các văn bản pháp
luật để hoàn thiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chính sách cạnh tranh và
chính sách ngành. Tiến hành các hoạt động nghiên cứu cấu trúc thị trường,
trực tiếp tham gia đàm phán và tổng hợp ý kiến từ các cơ quan có liên quan
trong các nội dung về chính sách cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp nhà nước kinh doanh, và tham gia các hoạt động trao đổi, đàm phán
với các định chế quốc tế về chính sách cạnh tranh. Bên cạnh đó, cơ quan quản
lý cạnh tranh cũng tích cực trong các hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp
luật cạnh tranh, nâng cao năng lực thực thi luật và chính sách cạnh tranh.
Thông qua các hình thức khác nhau như hội thảo tuyên truyền, hội nghị quốc
tế, tập trung vào chất lượng và hướng tới những doanh nghiệp trong ngành
nhất định, phát hành ấn phẩm, thông tin, bản tin chuyên đề… Qua đó đã tạo
tranh, phòng vệ thương mại và bảo vệ người tiêu dùng, bổ sung diễn đàn trao
đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức chuyên ngành giữa các nhà hoạch định
chính sách với các nhà nghiên cứu, doanh nhân và người tiêu dùng, góp phần
gây dựng hình ảnh và nâng cao vị thế cho cơ quan quản lý cạnh tranh.
Hai là, sự phát triển mạnh mẽ và tham gia tích cực, chủ động của các
doanh nghiệp trong chống độc quyền. Sau gần 30 năm đổi mới, đa sở hữu đã
trở thành một đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp nhà nước
gồm doanh doanh nghiệp 100% sở hữu và doanh nghiệp có sở hữu chi phối
sự đa dạng hóa kênh cung cấp thông tin về chính sách và pháp luật cạnh
99
của nhà nước, đang hoạt động trên hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế
trên địa bàn cả nước. Trong khi đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đóng góp nhiều vào sự phát
triển của nền kinh tế quốc dân, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền
kinh tế nước ta. Tính đến 31/12/2011, tổng số doanh nghiệp đăng ký theo
Luật Doanh nghiệp là 622.977 doanh nghiệp. Xét theo hình thức sở hữu, có
đến 96,3% các doanh nghiệp Việt Nam được coi như thuộc khu vực ngoài nhà
nước. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,5% và khu
vực kinh tế nhà nước chỉ chiếm 1,15% trong tổng số doanh nghiệp. Tỷ trọng
các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh không ngừng tăng lên, trong khi
đó, khu vực kinh tế nhà nước giảm cả về số lượng và tỷ trọng, lần lượt từ gần
8200 doanh nghiệp, chiếm 3,6% năm 2005 xuống còn trên 3300 doanh nghiệp,
chiếm 1,15% năm 2011 [58,tr215]. Tuy nhiên, sự suy giảm về số lượng và tỷ
trọng của các doanh nghiệp nhà nước là kết quả của chính sách đổi mới và phát
triển doanh nghiệp khu vực nhà nước của Chính phủ, hướng tới việc Nhà nước
chỉ nắm giữ cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp hoạt động trong các
ngành quan trọng chủ chốt của nền kinh tế quốc dân. Điều đó cho thấy, môi
trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng thông thoáng, tạo cơ hội bình đẳng
cho sự phát triển của mọi loại hình doanh nghiệp. Và đây cũng là tiền đề thúc
Ba là, nhận thức của các doanh nghiệp, hiệp hội về thực thi luật Cạnh
tranh ngày càng đầy đủ hơn. Theo khảo sát tại một số cơ quan nhà nước như
Cục Điều tiết điện lực, Cục Hàng hải, Cục Bảo hiểm… của Bộ Công thương,
kết quả cho thấy, việc nhận biết Luật Cạnh tranh của các đối tượng này là
tương đối cao (70,8% năm 2008; 73,2% năm 2009; 78,5% năm 2010). Tỷ lệ
nhận biết về luật đã tăng lên đáng kể (khoảng 3- 5%/năm). Trong khi đó, nhận
thức của đối tượng doanh nghiệp, hiệp hội tăng đều qua các năm, cụ thể:
Nhận biết về Luật Cạnh tranh (69,8% năm 2008; 73,6% năm 2009; 79,8%
đẩy sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
100
năm 2010); hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ việc cạnh tranh
(82,2% năm 2008; 86,7% năm 2009; 91,3% năm 2010) và áp dụng Luật Cạnh
tranh như công cụ bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình trong thị trường cạnh
tranh (74,5% năm 2008; 80,1% năm 2009; 84,5 % năm 2010) [3,tr 35, tr 47].
Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp, hiệp hội ngày càng quan tâm đến Luật
Cạnh tranh hơn.
Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng được nâng cao. Từ khi ban hành
Luật Bảo vệ người tiêu dùng (tháng 11/2010) đến nay được hơn 3 năm, các hội
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên toàn quốc mỗi năm giải quyết được
khoảng 2000 vụ với tỉ lệ thành công là từ 80-82%, một số hội như Hải Phòng,
Hà Tĩnh, Kiên Giang tỉ lệ giải quyết thành công lên đến 90%. Tính đến hết năm
2013, trên cả nước đã có 48 hội ở các tỉnh, 01 hội trung ương trong đó có 08
Hội đã được công nhận là hội đặc thù, được cấp kinh phí hoạt động thường
xuyên, bao gồm: Bình Dương, Tiền Giang, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Đak Lak,
Cà Mau, Bến Tre, Long An [130]. Ngoài ra, tại nhiều địa phương công tác phát
triển hội đã được triển khai đến cấp huyện, xã như Tiền Giang, Kiên Giang, Hà
Tĩnh... Đặc biệt Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam
(Vinastas) là hội có phạm vi hoạt động trên cả nước đã có những hoạt động hết
sức tích cực trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Một trong những đòi hỏi trong
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là phải tạo
lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, ở đó các thành phần kinh tế, các
doanh nghiệp cạnh tranh một cách bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt,
đối xử. Điều đó đặt ra vấn đề cần phải chống độc quyền doanh nghiệp, không
để yếu tố độc quyền làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh, cũng như gây
tác động tiêu cực cho nền kinh tế. Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế, xã hội đến năm 2000, Đảng ta đã xác định: “Tạo môi trường và điều kiện
Bốn là, do yêu cầu nội tại của nền kinh tế trong tạo lập môi trường
101
cho sự cạnh tranh hợp pháp và sự hợp tác, liên doanh tự nguyện, bình đẳng
giữa các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và với nước ngoài.
Xóa bỏ độc quyền, và đặc quyền ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế.
Đối với những lĩnh vực không thể tránh được độc quyền, Nhà nước có cơ chế
kiểm soát để tránh cửa quyền, lũng đoạn” [40,tr 205]. Các Đại hội VIII, IX,
X, XI đều nêu yêu cầu phải tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, thúc
đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình
đẳng giữa các doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
đã xác định, đây là một trong những nội dung trọng tâm trong hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trước những đòi hỏi của thực tiễn,
vấn đề chống độc quyền doanh nghiệp được đặt ra như một yêu cầu khách
quan không thể bỏ qua, nhằm tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh,
góp phần thúc đẩy vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Năm là, do những tác động tích cực của mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một xu thế
khách quan. Đây là một bước đi tất yếu, phản ánh quá trình “Toàn cầu hóa kinh
tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia… vừa có
và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Việc hội nhập vào nền kinh tế khu vực
và thế giới đã tạo điều điện thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho
tiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn, tạo cơ hội tốt để
Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế
quản lý, phù hợp với thông lệ chung của khu vực và thế giới. Môi trường kinh
doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện và Việt Nam có được vị thế bình
đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn
mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh” [39,tr 91],
102
cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn,
hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.
2.2.2 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
2.2.2.1.Những hạn chế, yếu kém
Mặc dù, Việt Nam đã rất nỗ lực trong hoạt động chống độc quyền nhằm tạo lập
môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, tuy nhiên, kết quả đem lại chưa được
nhiều, hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp vẫn còn bộc lộ những hạn chế
nhất định, cụ thể là:
Một là, chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh
nghiệp hiệu quả chưa cao. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp độc quyền
trong thời gian qua thường tìm cách trục lợi từ vị thế của mình trong các hoạt
động kinh tế, hạn chế, ngăn cản các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường,
trong khi cơ quan quản lý chưa có những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn một
cách có hiệu quả. Mặc dù thời gian qua, cơ quan quản lý cạnh tranh đã có nhiều
nỗ lực cố gắng trong quản lý, giám sát, xử lý các vụ viêc liên quan đến hoạt động
cạnh tranh song số lượng vụ việc được giải quyết còn khiêm tốn. Theo báo cáo
thường niên của Cục Quản lý Cạnh tranh năm 2013, cho đến nay, Cục mới chỉ
có quyết định điều tra 6 vụ việc về hạn chế cạnh tranh, trong đó có 3 vụ việc liên
quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và 3 vụ việc liên
tốn với những hoạt động lạm dụng của doanh nghiệp độc quyền trên thực tế.
Việc xử lý các vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền còn
gặp nhiều vướng mắc trong quy định của pháp luật. Chẳng hạn, việc làm rõ
những thuật ngữ, khái niệm trong luật Cạnh tranh về lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp, thị trường liên quan… chưa rõ ràng và
thống nhất, mà đây là việc làm đầu tiên, quan trọng, tốn kém và cũng khó
khăn nhất để trả lời câu hỏi liệu một doanh nghiệp có lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường hay không. Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi
quan đến hành vi liên kết độc quyền nhóm [17,tr11]. Kết quả trên còn quá khiêm
103
hành mới chỉ đưa ra định nghĩa vị trí thống lĩnh, độc quyền mà chưa có định
nghĩa hoặc các tiêu chí chung nhất để xác định như thế nào là hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền. Thiếu sót này khiến doanh nghiệp không
hiểu được bản chất của hành vi để tránh, đồng thời có thể dẫn đến nhiều cách
hiểu khác nhau trong nội bộ các cơ quan cạnh tranh, từ đó dẫn tới thiếu định
hướng, thậm chí nhầm lẫn trong quá trình thực thi.
Ngoài ra, các quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền
chưa bao quát được toàn điện các hành vi lạm dụng gây tác động hạn chế
cạnh tranh. Lý do là Luật Cạnh tranh hiện nay định nghĩa hành vi lạm dụng
bằng cách liệt kê một số lượng hạn chế các hành vi lạm dụng tiêu biểu. Qua 8
năm thực thi các quy định này cho thấy, cơ quan cạnh tranh đã phải đối mặt
với nhiều vụ việc mà hành vi bị điều tra cũng có tác động hạn chế cạnh tranh
giống với những hành vi được Luật liệt kê. Tuy nhiên, do các hành vi đó
không được liệt kê và giải thích trong Luật hiện hành, nên cơ quan cạnh tranh
không thể sử dụng Luật Cạnh tranh để xử lý các hành vi đó.
Hai là, hoạt động chống doanh nghiệp lợi dụng độc quyền nhà nước
thành độc quyền doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Mặc dù quy định về giám sát
tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN quy mô lớn đã có nhưng chưa hình thành
khung pháp lý chi tiết để quản lý, giám sát tập đoàn kinh tế trên các lĩnh vực
mô lớn vẫn tập trung chủ yếu vào hoạt động sản xuất kinh doanh (hoạt động tài
chính), chưa có cơ chế giám sát quá trình hình thành và triển khai các đề án thí
điểm hình thành tập đoàn kinh tế. Nhiều nội dung của các đề án hình thành tập
đoàn kinh tế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chưa trở thành đối tượng của
quản lý, giám sát, chẳng hạn: Kết quả hình thành cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
thành viên của tập đoàn, đặc biệt tình hình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp thành
viên.... kết quả và tình hình thực hiện đầu tư trong ngành nghề, lĩnh vực hoạt
động theo đề án; kết quả triển khai các chiến lược, kế hoạch về sản xuất kinh
hoạt động cụ thể. Việc giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN quy
104
doanh, đầu tư, lao động, tài chính, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ và năng
lực lãnh đạo, tình hình đổi mới quản trị doanh nghiệp. Một loạt các vấn đề quan
trọng chưa được quy định cụ thể, chi tiết như quy định về đầu tư ngược, đầu tư
chéo; quy định về giám sát, kiểm soát lợi ích của Nhà nước để tránh lợi dụng vị
thế tập đoàn kinh tế phục vụ lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; chưa có quy định về
quản lý, giám sát đối với tập đoàn kinh tế, DNNN quy mô lớn liên quan đến vay
nợ nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài ảnh hưởng đến nợ quốc gia…
Bên cạnh đó, chưa phân định rõ sở hữu nhà nước và sở hữu doanh
nghiệp, theo đó việc tách bạch chức năng quản lý nhà nước về hành chính và
về kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng. Hiện nay, đại diện
chủ sở hữu vốn nhà nước tại nhiều DNNN hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư
của Nhà nước vẫn là Chính phủ, các Bộ chủ quản, UBND cấp tỉnh, TP. Đây là
những cơ quan vừa thực hiện vai trò quản lý nhà nước, vừa thực hiện vai trò
của chủ sở hữu. Các tập đoàn kinh tế lớn nhất báo cáo trực tiếp với Thủ tướng
Chính phủ, trong khi các DNNN quy mô nhỏ hơn thì báo cáo với các Bộ chủ
quản, và gần đây là Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Những quyết định kinh doanh và đầu tư quan trọng của họ do chủ sở hữu đồng
thời cũng là người quản lý, điều tiết toàn bộ nền kinh tế, hoặc từng ngành riêng
biệt quyết định hoặc thông qua như cơ chế hoạt động, chế độ tiền lương, chế độ
năng quản lý nhà nước, được Nhà nước hướng dẫn doanh nghiệp nhà nước
thực hiện và nó đúng với chức năng và quyền chủ sở hữu. Tuy nhiên, về hình
thức thực hiện lại không thể hiện là quyết định của chủ sở hữu, mà luôn thể
hiện bằng hình thức văn bản pháp luật (nghị định, thông tư…) hoặc văn bản
hành chính. Điều này tạo nên những xung đột lợi ích nghiêm trọng khi các
DNNN có mối liên hệ mật thiết với các cơ quan làm chính sách, những người
rất dễ dàng quyết định những chính sách có lợi hơn cho họ so với những đối
thủ cạnh tranh thuộc các thành phần kinh tế khác. Hơn nữa, Chính phủ sẽ
đặt hàng, đấu thầu… Tôi cho rằng, đây là nội dung quản lý xuất phát từ chức
105
không có đủ nhân lực và nguồn lực để theo sát các hoạt động của các tập đoàn
nhà nước khi họ ngày càng mở rộng, dẫn tới những lỗ hổng trong quản lý.
Mặt khác, cách tiếp cận truyền thống của Chính phủ trong việc quản lý
kinh tế thông qua áp dụng các biện pháp hành chính trong nhiều trường hợp đã
không còn hiệu quả cũng như không phù hợp với quy luật của thị trường. Ví dụ
như, các vấn đề liên quan đến tranh chấp của các tập đoàn và công ty lớn đều
không được trình lên và xét xử tại cơ quan quản lý cạnh tranh, mà trình Thủ
tướng Chính phủ để giải quyết theo đường hành chính, nên chậm trễ, hiệu lực
thấp. Trong khi đó, các tập đoàn kinh tế nhà nước có chủ tịch và tổng giám đốc
do Thủ tướng bổ nhiệm không sẵn sàng để Cục Quản lý Cạnh trạnh điều tiết
những vấn đề liên quan đến lợi ích to lớn do vị thế độc quyền đem lại. Lộ trình
áp dụng cơ chế thị trường cho ngành mang tính độc quyền tiếp tục kéo dài, trong
khi Cục Quản lý Cạnh tranh rất khó có thể giám sát các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước này. Cách tiếp cận hiện tại trong can thiệp của Chính phủ đã không
giúp tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng để buộc mọi doanh nghiệp phải
cạnh tranh nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Hiện nay, việc sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm
và chưa chặt chẽ. DNNN vẫn dàn trải trong nhiều ngành, lĩnh vực mà Nhà nước
không cần nắm giữ. Theo đề án sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2011- 2015,
cả nước sẽ phải cổ phần hóa 531 doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến
doanh nghiệp; 2012 là 13 doanh nghiệp; năm 2013 là 74 doanh nghiệp). Nếu
tính từ năm 2007 đến hết 2013, cả nước cổ phần hóa được 300 doanh nghiệp
[133]. Kế hoạch năm 2014 – 2015 số doanh nghiệp phải cổ phần hóa là 432,
trung bình mỗi năm là 216 doanh nghiệp. Điều này đặt ra áp lực lớn đối với các
doanh nghiệp, trong khi đó, hoạt động quản lý, giám sát của các cơ quan quản lý
2013 mới cổ phần hóa được 99 doanh nghiệp (năm 2011 cổ phần hóa được 12
cần được nghiên cứu, kiện toàn về người đại diện phần vốn nhà nước tại các
doanh nghiệp cổ phần hóa và Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.
nhà nước đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa chưa chặt chẽ, còn nhiều vấn đề
106
Một số nội dung trong các đề án cơ cấu của từng tập đoàn, tổng công ty
chưa có giải pháp mạnh mẽ, đột phá thực hiện mục tiêu “đổi mới, phát triển và
tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế” theo Quyết
định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Thực tế cho
thấy, những doanh nghiệp có động lực và chịu áp lực thì có xu hướng tích cực
đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn mực quốc tế hơn.
Nhìn chung, việc triển khai thực hiện tái cơ cấu DNNN chưa có tính chiến
lược, còn rời rạc, chủ yếu là chuyển giao nội bộ tập đoàn, tổng công ty hoặc
giữa các DNNN, chưa tạo ra động lực và áp lực để buộc các doanh nghiệp đẩy
nhanh quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Việc chậm tiến hành tái cơ cấu, đẩy
mạnh tiến trình cổ phần hóa, tập trung vào ngành nghề sản xuất - kinh doanh
chính đã làm kéo dài thời gian phục hồi của nền kinh tế, chậm thúc đẩy thị
trường vốn phát triển, giảm niềm tin của các nhà đầu tư [101,tr 7].
Bên cạnh đó, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
chưa được đặt trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, nhiều ưu ái được dành
cho các DNNN, nhất là những doanh nghiệp độc quyền. Những ưu đãi đối với
doanh nghiệp nhà nước như: Tiếp cận thông tin; tiếp cận tín dụng, đất đai; các
dự án hợp đồng, về vốn, tài chính, giá cả... và các doanh nghiệp này đã biết
doanh nghiệp. Trong khi đó, sự đóng góp của DNNN chiếm vị trí độc quyền
chưa tương xứng. Độc quyền của DNNN được hình thành trên cơ sở các quyết
sách mang tính hành chính – kinh tế của Nhà nước chứ không phải là kết quả của
quá trình cạnh tranh như quy luật vốn có của nó. Tính chất độc quyền của DNNN
không phản ánh năng lực nội tại của doanh nghiệp mà là do tác động ngoại lai. Vì
vậy, tính chất độc quyền của DNNN thường đi liền với tính cửa quyền (vốn xa lạ
với hoạt động kinh doanh), biểu hiện trì trệ kém hiệu quả, thua lỗ, khả năng thích
nghi và chuyển đổi kịp với những đòi hỏi của cơ chế mới rất kém. Điều này khiến
lợi dụng những chính sách, cơ chế ưu đãi đó phục vụ cho chính lợi ích của
107
cho sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế – vốn là
một điều kiện cơ bản của luật cạnh tranh – trở nên khó thực hiện.
Ba là, hoạt động chống việc ấn định giá sản phẩm bất hợp lý nhằm thu lợi
nhuận độc quyền chưa hiệu quả. Cơ chế kiểm soát giá cả của cơ quan Nhà nước
đối với từng sản phẩm của các doanh nghiệp độc quyền còn bất cập, tính hiệu
quả, linh hoạt chưa cao. Để kiểm soát giá cả hàng hóa, Nhà nước giao quyền cho
doanh nghiệp định giá, nhưng Nhà nước sẽ tham gia một phần trong việc điều
chỉnh giá. Cơ chế điều hành giá như vậy là không phù hợp với cơ chế thị trường,
còn mang “lưỡng tính” hay “nửa vời”. Hiện nay tất cả mọi quốc gia trên thế giới
hoạt động theo cơ chế thị trường xác định nguyên tắc quản lý giá theo cơ chế thị
trường đó là: Tùy thuộc vào vị trí, tính chất (độc quyền hay cạnh tranh) của sản
phẩm đó trên thị trường mà có cách thức quản lý giá phù hợp. Nếu là sản phẩm
có tính độc quyền thì do Nhà nước định giá, còn sản phẩm có tính cạnh tranh thì
việc định giá do thị trường quyết định, (do doanh nghiệp tự định giá). Nghĩa là
trên thị trường không có cơ chế định giá “lưỡng tính” hay “song trùng”, hoặc
kiểu “nửa vời” như trên. Tuy nhiên, tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay một số
doanh nghiệp độc quyền ở nước ta ngoài chức năng kinh doanh còn phải đảm
đương nhiệm vụ công ích thì những bất cập về giá là không tránh khỏi, song về
Cùng với đó, sự thiếu minh bạch của doanh nghiệp độc quyền trong việc xác
định giá sản phẩm gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát
giá cả. Tình trạng hạch toán gian lận chi phí sản xuất, chi phí đầu tư, chi phí góp vốn
chưa được thẩm định đầy đủ. Chi phí tiền lương, tiền thưởng hạch toán chưa đúng
quy định, lãi suất và doanh lợi trên vốn bị giảm sút một cách không hợp lý. Những
hiện tượng nâng giá đầu vào, tăng giá đầu ra không hợp lý của một số hàng hóa, dịch
vụ, lợi dụng sự biến động của giá thị trường, chủ trương điều chỉnh giá của Nhà nước
để tăng giá không hợp lý, chưa được kiểm soát tốt. Việc điều chỉnh giá của cơ quan
lâu dài cần xác định rõ cơ chế giá đối với từng ngành, hàng độc quyền.
108
quản lý nhà nước đối với các sản phẩm hàng hóa độc quyền chưa theo kịp diễn biến
giá cả của hàng hóa đó trên thị trường quốc tế. Chẳng hạn, trong lĩnh vực kinh doanh
xăng, dầu, trong điều kiện trên thị trường xăng dầu còn độc quyền, giá thế giới lại
luôn biến động, với cơ chế “lưỡng tính” trong định giá xăng dầu, nên sự điều chỉnh
giá không kịp thời. Có thời kỳ lỗ 2.500 – 3.000đ/lít, làm cho các doanh nghiệp lỗ
nặng. Qua các lần điều chỉnh tăng, giảm giá cho thấy việc điều hành giá không đúng
với diễn biến của giá thị trường thế giới (trong hai năm 2009 -2010) khi có sự diễn
biến phức tạp của giá xăng dầu thế giới. Và khi điều chỉnh phải tăng đột biến với mức
tăng cao, tạo ra một cú sốc lớn cho người tiêu dùng và xã hội.
Bảng 2.4: Thống kê tăng, giảm giá bán lẻ xăng, dầu từ năm 2005 đến nay
Mogas 92 (đồng/lít) Diesel 0.25S(đ/lít)
Tăng Giảm Tăng Giảm TT Năm Chênh lệch Chênh lệch
giá giá giá giá giá giá
Số lần 2 Số lần 1 2450 500 1950 Số lần 3 3700 Số lần 2 2040 1660 1 2005
2500 2 2 1500 1000 3 2040 2040 2 2006
3400 3 2 900 2500 2 1730 1730 3 2007
2 6 6000 10 8000 -2000 2 19050 4500 14550 4 2008
5800 9 2 850 4950 7 4900 3 1300 3600 5 2009
4900
2
1
500
4400
2
6350
2
700
5650
7
2011
6050
6
6
3700
2350
6
3450
6
2300
1150
8
2012
5860
4
7
4800
1060
5
2060
3
650
1410
9
2013
3
480
4
760
-280
10 Q1/2014 3
690
690
1450 3 2 1000 450 2 650 2 500 150 6 2010
Tổng
36 39100 33 21750 17350 35 44410
28
12750 31660
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ http://xangdau.net/thong-tin-chung
109
Đồ thị 2.1: Giá xăng và dầu diesel trong năm 2013
Nguồn: Vinanet.com.vn
Nhìn vào đồ thị trên cho thấy, trong năm 2013 mặt hàng xăng đã có 11
lần điều chỉnh giá, với 4 lần giá xăng tăng tổng cộng là 5860 đồng và giảm 7
lần tổng cộng là 4800 đồng, trong khi đó dầu diesel 0,25s với 5 lần tăng giá
tổng cộng là 2060 đồng, và 3 lần giảm giá tổng cộng 650 đồng. Điều này đã
ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động của nền kinh tế
Việc kiểm soát các hoạt động ấn định giá giữa các nhà xuất khẩu hàng
hóa ở nước ngoài với nhà phân phối độc quyền tại thị trường Việt Nam dường
điều chỉnh. Pháp luật quản lý cạnh tranh còn thiếu phạm vi điều chỉnh đối với
quản lý cạnh tranh có yếu tố "ngoài nước", theo đó, Luật cạnh tranh Việt Nam
không điều chỉnh các đối tượng hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có tác
động tới môi trường cạnh tranh. Đồng thời, luật Cạnh tranh chưa điều chỉnh
được các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh dọc, loại thỏa thuận thường xảy ra
trong hệ thống phân phối hàng hóa tại các nước phát triển và đang phát triển.
Chính vì vậy dẫn đến sự ấn định mức giá của doanh nghiệp nhập khẩu có vị
trí thống lĩnh, độc quyền trong từng mặt hàng cụ thể.
như không thể thực hiện được, do hành lang pháp lý vẫn thiếu vắng quy định
110
Bốn là, thực hiện kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế của các
doanh nghiệp có xu hướng hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền còn
thiếu tập trung. Khuôn khổ pháp lý trong kiếm soát các hoạt động tập trung
kinh tế của các doanh nghiệp có xu hướng hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí
độc quyền chưa đầy đủ. Hiện nay, các quy định pháp lý liên quan đến hoạt
động mua bán, sáp nhập ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản khác
nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh,
Chuẩn mực kế toán… Các quy định vẫn còn đang nằm rải rác ở các bộ luật,
nghị định, thông tư hay các cam kết gia nhập WTO và chỉ dừng lại ở việc xác
lập về mặt hình thức của hoạt động M&A, tức là mới chỉ giải quyết được các
vấn đề về việc “thay tên, đổi họ’’ cho doanh nghiệp. Hiện tại, chỉ có hai văn
bản được xem là chi tiết nhất trong lĩnh vực này là: Chuẩn mực kế toán số 11
ban hành kèm theo Quyết định số 100/QĐ-BTC ngày 28-12-2005 hướng dẫn
thực hiện hợp nhất kinh doanh trong giao dịch mua bán doanh nghiệp là được
quy định khá cụ thể và rõ ràng. Mặc dù vậy, văn bản này cũng chỉ mới hướng
dẫn cụ thể cách thức xử lý kế toán khi tiến hành giao dịch mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp chứ chưa có hướng dẫn nào về quy trình thực hiện, thẩm tra, tính
pháp lý. Gần đây nhất là thông tư 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập,
mua lại, hợp nhất tổ chức tín dụng. Thông tư này hướng dẫn khá chi tiết về
– hợp nhất tổ chức tín dụng, quy định trách nhiệm của các bên liên quan, chế tài
xử phạt… Tuy nhiên văn bản này chưa đề cập đến hoạt động M&A của doanh
nghiệp mà chỉ tập trung hướng dẫn các ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty cho
thuê tài chính với những đặc thù riêng, chưa phù hợp để áp dụng cho đại bộ phận
các doanh nghiệp vừa vả nhỏ vốn chiếm đa số tại Việt Nam.
Trong khi đó, Luật Cạnh tranh chưa đề cập đến việc kiểm soát đối với
TTKT theo chiều dọc, TTKT hỗn hợp. Ngoài ra, Luật cạnh tranh cũng chưa đề
cập đến việc kiểm soát hình thức liên kết thông qua đội ngũ lãnh đạo, quản lý
nguyên tắc, hình thức, điều kiện, trình tự thủ tục, hồ sơ, đề án sáp nhập – mua lại
111
chung, đây là một lỗ hổng trong quản lý mà theo tôi cần sớm khắc phục. Những
dạng TTKT này, có khả năng xảy ra trong tương lai cùng với sự đa dạng hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường, và có thể gây hạn chế cạnh
tranh ở mức độ nhất định hoặc làm gia tăng nguy cơ thỏa thuận giữa các doanh
nghiệp sau khi tiến hành TTKT. Luật Cạnh tranh vẫn chưa có quy định để trao
quyền cho cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xây dựng nội dung thẩm tra
trong thủ tục thông báo, thủ tục miễn trừ các trường hợp TTKT và quy chế kiểm
soát TTKT. Nếu khung pháp lý này được hoàn thiện, doanh nghiệp có thể hình
dung được phạm vi của quyền tự do kinh doanh liên quan đến hoạt động sáp nhập,
hợp nhất, mua lại, góp vốn thành lập doanh nghiệp… mà họ muốn thực hiện.
Cơ chế phối hợp quản lý các hoạt động TTKT giữa cơ quan quản lý
cạnh tranh với các cơ quan quản lý nhà nước chưa xác định rõ. Hiện chưa có
quy định về cơ chế phối hợp giữa các thủ tục kiểm soát TTKT với thủ tục
quản lý nhà nước trong việc đăng ký kinh doanh, thủ tục đầu tư…chưa có quy
chế liên kết làm việc giữa cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm
soát TTKT là Cục QLCT với các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
nói trên. Mặc dù đã có sự liên kết về mặt pháp lý nhưng việc thiếu quy định
về cơ chế phối hợp trong quá trình thực thi khiến cho việc kiểm soát TTKT
trên thực tế là khó thực hiện.
cơ quan quản lý cạnh tranh còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, ngoài cơ quan
quản lý cạnh tranh có chức năng kiểm soát các hoạt động TTKT đối với
những trường hợp thuộc diện phải thông báo hoặc bị cấm, một số cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành khác cũng có chức năng kiểm soát mua lại,
sáp nhập trong phạm vi ngành, cụ thể là:
- Bộ Kế hoạch Đầu tư và Sở Kế hoạch đầu tư các tỉnh thành phố thẩm
định và cấp giấy phép cho các dự án đầu tư; thay đổi giấy phép đăng ký kinh
Trong khi đó, việc thu thập thông tin, dữ liệu về tập trung kinh tế của
112
doanh do nguyên nhân sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh; khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các chương trình xúc tiến đầu tư, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
- Ủy ban Chứng khoán nhà nước: Việc sáp nhập, hợp nhất các công ty
chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải được sự chấp thuận của Ủy ban.
- Ngân hàng nhà nước: Việc sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tín dụng
phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
- Các cơ quan điều tiết ngành phải thông báo cho cơ quan quản lý
chuyên ngành nếu thị phần kết hợp trên 30%.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một cơ chế phối hợp và trao đổi thông
tin giữa các cơ quan trong việc kiểm soát TTKT dẫn đến việc nắm bắt các
thông tin, dữ liệu về các vụ việc TTKT còn nhiều khó khăn và không đầy đủ.
Hiện tại, Cục Quản lý Cạnh tranh chủ yếu dựa vào các nguồn thông tin từ
phía doanh nghiệp thực hiện TTKT, phương tiện thông tin truyền thông trong
nước và quốc tế, sự hợp tác của các Sở Kế hoạch đầu tư…
Việc kiểm soát các hoạt động M&A liên quan đến sát nhập, liên doanh,
hợp nhất chưa chặt chẽ, dễ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng
tính độc quyền. Thực tế, việc doanh nghiệp trong nước hoặc FDI sau khi
sát nhập hoặc liên doanh, hoặc hợp nhất sẽ dẫn tới tập trung kinh tế, trở
lĩnh đó để bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành nhằm loại bỏ
đối thủ cạnh tranh hoặc ấn định giá bán, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại
cho khách hàng... có thể sẽ xảy ra làm xấu đi môi trường cạnh tranh của
nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam. Trong khi đó, các cơ quan
quản lý thị trường với thực tiễn khuôn khổ pháp lý của Việt Nam đều cho
thấy, mức độ quan tâm chưa đúng mức đến “tính thị trường”, hay cụ thể
hơn là tính chất cạnh tranh khốc liệt phía sau những thương vụ M&A.
Trong bối cảnh nước ta đang nỗ lực cho một cơ chế thị trường thực thụ,
thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí thống
113
từng bước thay thế và loại bỏ bảo hộ, độc quyền để “hội nhập” một cách
đúng nghĩa, thì việc các doanh nghiệp thông qua công cụ M&A để bành
trướng quy mô nhằm mục đích kiểm soát hiệu quả hơn là xu hướng tất yếu.
Do vậy, vai trò kiểm soát của cơ quan quản lý cạnh tranh rõ ràng cần được
nâng cao hơn nữa.
2.2.2.2. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong chống độc
quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay, trong đó có nguyên
nhân chủ quan từ phía cơ quan quản lý nhà nước, từ doanh nghiệp, các hiệp
hội cũng như người tiêu dùng, có nguyên nhân khách quan từ việc chưa hoàn
thiện của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, từ sự tác động từ bên
ngoài vào nền kinh tế nước ta.
Trước hết, sự nhận thức về pháp luật trong đó có luật Cạnh tranh của
cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, hiệp hội chưa đồng đều.
Theo khảo sát mức độ nhận thức của cộng đồng đối với Luật Cạnh tranh do
Cục Quản lý Cạnh tranh tiến hành đã chỉ ra “Về tổng thể, nhận biết mới
dừng lại ở mức độ biết luật Cạnh tranh mới ra đời”, “số doanh nghiệp hiểu
chi tiết về Luật Cạnh tranh như biết về ngưỡng thị phần bị cấm, mức phạt,
thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh còn khá khiêm tốn” [125]. Luật Cạnh
và áp dụng chưa lâu nên khái niệm về Luật Cạnh tranh vẫn còn mới đối với
nhiều người, kể cả cộng đồng doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý
nhà nước. Nhận thức về Luật Cạnh tranh của doanh nghiệp, hiệp hội tăng đều
qua các năm nhưng không đều, mức độ nhận biết của cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam về Luật Cạnh tranh đang ở mức đáng lo ngại. Có đến 25%
doanh nghiệp vừa và nhỏ khi được hỏi chưa biết đến Luật Cạnh tranh. Một
điểm đáng lưu ý là đa số các trường hợp tiếp cận Luật Cạnh tranh đều thông
qua con đường tự tìm hiểu (96,6%). Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này
tranh kể từ khi có hiệu lực đến nay đã được hơn 8 năm, thời gian thực thi
114
là do không có cán bộ đủ trình độ để hiểu luật (86,2%) hoặc doanh nghiệp
không mấy quan tâm đến lĩnh vực này [3,tr 47, tr 64]. Điều này một mặt cũng
cho thấy, mức độ nhận biết của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về Luật
Cạnh tranh ở mức đáng lo ngại, nhiều cơ quan chuyên ngành biết về Luật
Cạnh tranh nhưng cho rằng quy phạm pháp luật chỉ điều chỉnh các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Chỉ có một số ít hiểu rõ và đầy đủ về Luật Cạnh
tranh. Ngược lại, đa phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại nghiên
cứu và hiểu rõ về pháp luật cạnh tranh. Trước những hoạt động giao dịch,
kinh doanh có tiềm ẩn yếu tố có khả năng vi phạm pháp luật cạnh tranh, các
doanh nghiệp này đều tư vấn cán bộ pháp chế, các văn phòng luật sư và Cục
Quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành giao dịch.
Thực tế cho thấy, đa số các vụ việc vi phạm cạnh tranh đều xuất phát từ
nhận thức chưa được đầy đủ và đúng đắn của doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về nội dung của các quy định pháp luật. Vì vậy, có thể dẫn
tới việc vô tình vi phạm Luật Cạnh tranh, hoặc chưa biết sử dụng công cụ Luật
Cạnh tranh để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như chưa đánh
giá được những tác động và hệ quả do môi trường cạnh tranh bị bóp méo gây ra.
Hai là, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong chống độc
quyền doanh nghiệp chưa thực sự phát huy có hiệu quả. Với hệ thống quản lý
và cơ quan hành chính. Tuy nhiên, vai trò của những cơ quan này còn chưa
phát huy tốt. Đối với cơ quan quản lý cạnh tranh gồm Cục Quản lý cạnh tranh
và Hội đồng cạnh tranh, do mới được thành lập và còn hạn chế về kinh
nghiệm và nhân sự, hai cơ quan này đã bộc lộ nhiều bất cập trong lý luận và
thực tiễn tổ chức, hoạt động. Xét về mặt tổ chức, hai cơ quan này chưa được
tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc độc lập và chịu chi phối của Bộ Công
thương. Theo “Báo cáo tổng hợp đánh giá, tổng kết 05 thực thi pháp luật cạnh
tranh” của Bộ Công thương cho thấy, tỷ lệ các đối tượng được hỏi biết đến
hiện nay, việc quản lý, giám sát được giao cho cơ quan cơ quản lý cạnh tranh
115
vai trò và vị trí của Cục Quản lý cạnh tranh vẫn còn thấp (39,6% năm 2008,
45,2% năm 2009, và 50,5% năm 2010) [3,tr 35,tr 43]. Điều đó cho thấy, ảnh
hưởng của cơ quan này đến các cơ quan nhà nước còn khá mờ nhạt. Thậm trí,
các sở, ban, ngành địa phương cũng không hề biết có Cục Quản lý Cạnh
tranh, một số đơn vị nghe nói nhưng không biết chức năng, nhiệm vụ của cơ
quan, Hội đồng cạnh tranh tồn tại như “cái bóng” của Cục quản lý cạnh tranh.
Trong khi đó, các cơ quan hành chính như Chính phủ, các bộ ngành,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thanh tra chuyên trách cũng được coi là bộ máy
thực thi cạnh tranh theo quy định của luật chuyên ngành. Với hai hệ thống cơ
chế giải quyết tranh chấp cạnh tranh hiện nay là cơ quan cạnh tranh và cơ
quan hành chính, khung quy định về chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của
các bộ máy này thì về cơ bản địa vị pháp lý, thẩm quyền giải quyết giữa
chúng là ngang nhau mà không có sự phân định thẩm quyền. Điều đó sẽ dẫn
đến mâu thuẫn, chống chéo và ỉ lại của các cơ quan quản lý.
Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, giám sát DNNN bị buông lỏng, tính
hiệu quả chưa cao, cách thức giám sát chưa sát thực, thường căn cứ vào báo
cáo của doanh nghiệp. Hoạt động giám sát được giao cho nhiều cơ quan thực
hiện, chẳng hạn, đối với các tập đoàn, công ty nhà nước quy mô lớn , Bộ Kế
hoạch Đầu tư chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm
hợp pháp, chính xác, trung thực trong việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của
Hội đồng quản trị, Bộ Tài chính giám sát tình hình sử dụng vốn, phân phối
thu nhập, trích lập và sử dụng các quỹ của công ty mẹ. Nhiều cơ quan cũng
thực hiện việc giám sát gây phiền hà cho doanh nghiệp. Trong khi đó, cơ chế
giám sát hiện nay không đủ mạnh buộc các doanh nghiệp độc quyền thực hiện
công khai hóa thông tin và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Các
doanh nghiệp lớn, độc quyền, các TĐKT cũng chưa phải chịu tính chính xác
của thông tin và những tuyên bố. Trong một số trường hợp, các vi phạm
vụ Thủ tướng Chính phủ giao cho công ty mẹ, Bộ quản lý ngành giám sát tính
116
không được xử lý nghiêm làm mất đi tinh thần thượng tôn của pháp luật, giảm
tính răn đe. Nếu thiếu tính công khai thì không thể thực hiện giám sát, chủ thể
giám sát cũng không đủ quyền để buộc các tổ chức này minh bạch thông tin,
do đó các sai phạm khó được ngăn chặn kịp thời.
Hơn nữa, sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ
quan quản lý chuyên ngành chưa chặt chẽ. Ở Việt Nam, đặc thù của một số
ngành công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi phải có sự điều tiết của các cơ quan
chuyên biệt (cơ quan điều tiết ngành). Các cơ quan này nắm vững chuyên
môn, đặc thù của ngành, thông tin về các hoạt động trên thị trường ngành
nghề đó. Tuy nhiên, Cục Quản lý cạnh tranh là một cơ quan còn non trẻ, mới
chỉ có hơn 8 năm hoạt động, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc thuyết phục
các cơ quan điều tiết ngành chia sẻ thông tin thị trường, số liệu thống kê nhằm
phục vụ công tác điều tra vụ việc cạnh tranh. Do đó, dễ nhận thấy sự chồng
chéo về trách nhiệm khi Cục Quản lý cạnh tranh (VCAD) phải xử lý các khiếu
kiện liên quan đến cạnh tranh. Dù VCAD đã đạt được một số thống nhất với các
cơ quan quản lý chuyên ngành như viễn thông, điện và ngân hàng, nhưng việc
thuyết phục và vận động để các cơ quan quản lý chuyên ngành hiểu được tác
động của các quyết định của họ đối với môi trường cạnh tranh chung, hay hiểu
được tầm quan trọng của môi trường cạnh tranh chung so với những lợi ích
cục bộ của ngành hay của một số doanh nghiệp trong ngành của họ vẫn còn là
Ba là, vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp chưa rõ nét trong tạo lập
môi trường cạnh tranh. Hiện nay, có tới hàng trăm hiệp hội, tổ chức ngành
nghề đang hoạt động trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
hiệp hội chưa thực hiện đúng vai trò, chức năng là cầu nối giữa doanh nghiệp
và Nhà nước, trung gian tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động, khuyến
khích doanh nghiệp thành viên chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực cạnh tranh, một số hiệp hội còn đóng vai trò tổ
chức cho các doanh nghiệp thành viên tham gia, thực hiện các hành vi vi
một thách thức lớn đối với cơ quan quản lý cạnh tranh.
117
phạm pháp luật cạnh tranh. Trong khi đó năng lực của các hiệp hội còn nhiều
hạn chế. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI): Các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam tuy nhiều nhưng chưa đủ
mạnh, năng lực hoạt động và vai trò của hiệp hội doanh nghiệp còn hạn chế.
Có đến 47% hiệp hội chưa có quy định về quản trị nhân sự, khó khăn về tài
chính, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ còn hạn chế [131]. Để giải quyết các
khó khăn hiện tại, rất nhiều hiệp hội doanh nghiệp đã tìm giải pháp xin hỗ trợ
trực tiếp từ ngân sách Nhà nước, với sự đảm bảo của Nhà nước về tài chính,
nhân lực và cơ sở vật chất. Cũng theo kết quả khảo sát, những nghiên cứu, đề
xuất, tham mưu có tính chất dự báo, cảnh báo của hiệp hội về những vấn đề lớn
trong hội nhập, phát triển kinh tế, tạo lập môi trường cạnh tranh còn hạn chế.
Việc phản hồi ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp với VCCI đôi khi chưa thật
sự mạnh dạn, vẫn chỉ là ý kiến phản hồi một chiều. Công tác hỗ trợ doanh
nghiệp của hiệp hội tuy đã có sáng tạo nhưng chưa phát triển được nhiều hoạt
động đa dạng, chưa có sức lan tỏa và tác động sâu rộng đến việc nâng cao năng
lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Thực tế thực thi pháp luật Cạnh tranh tại Việt Nam cho thấy, trong 06
vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (điều tra chính thức 02 vụ việc) mà cơ
quan cạnh tranh Việt Nam đã xem xét, xử lý, Hiệp hội đều là tổ chức đứng sau,
giữ vai trò tổ chức, lôi kéo doanh nghiệp tham gia và giám sát việc thực thi thỏa
hành các “quyết định”, các “nghị quyết” về giá cả, sản lượng… trên thị trường
để các doanh nghiệp thành viên thực hiện. Điều đó càng làm cho vai trò của các
hiệp hội trong bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh bị méo mó.
Bốn là, tiếng nói của người tiêu dùng và các tổ chức xã hội trong bảo
về quyền lợi cho khách hàng chưa cao. Hiện nay, vẫn chưa có những Hiệp hội
người tiêu dùng đủ mạnh để hỗ trợ giám sát cạnh tranh và độc quyền, nhằm
bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Ở Việt Nam, Hội bảo vệ người tiêu dùng
đã ra đời, nhưng quy chế và cơ chế hoạt động chưa hoàn chỉnh, hiệu quả hoạt
thuận giữa các doanh nghiệp. Thậm chí trong nhiều vụ việc, Hiệp hội còn ban
118
động cũng rất hạn chế. Người tiêu dùng nhiều khi bị thiệt hại nhưng không biết
làm cách nào để bảo vệ quyền lợi cho mình và cũng không nhận được sự hỗ trợ
thích đáng từ Hội bảo vệ người tiêu dùng. Người dân còn ít biết tới sự tồn tại của
tổ chức này. Bản thân Hội hoạt động cũng rất thụ động, không tuyên truyền
quảng bá tích cực về chức năng của mình, trong những vụ việc cụ thể cũng
không năng động tìm tới người tiêu dùng. Điểm mấu chốt hơn là tiếng nói của
Hội cũng không có ảnh hưởng lớn. Thực trạng này trái ngược hẳn với các nước
phát triển, nơi có những tổ chức bảo vệ lợi ích người tiêu dùng rất hiệu quả.
Những tổ chức này cũng có ảnh hưởng lớn trên thị trường, và trong việc ra
những quyết định của Chính phủ liên quan tới môi trường cạnh tranh. Bởi người
tiêu dùng tin tưởng họ, doanh nghiệp nào bị tổ chức này liệt vào danh sách “đen”
(ghi tên những doanh nghiệp có vấn đề trong phục vụ khách hàng) thì chắc chắn
sẽ gặp khó khăn lớn. Những tổ chức này cũng là nguyên đơn trong các vụ kiện
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tạo thuận lợi cho khách hàng có quyền lợi bị
vi phạm bảo vệ quyền lợi của mình. Có thể nói, việc không phát huy được vai trò
của các hội bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta đã bỏ qua một cơ chế giám sát môi
trường cạnh tranh thực sự hiệu quả, một nguồn thông tin hữu ích cho việc đảm
bảo tính lành mạnh trong sạch của môi trường cạnh tranh.
Trong khi đó, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương thiếu
tại các cơ quan cấp huyện hầu như không có. Về tổ chức bộ máy, hiện nay các
Sở Công Thương của các tỉnh thành trên cả nước chưa có sự đồng nhất về
việc giao nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng cho một đơn vị cấp phòng chuyên
môn nào. Có Sở giao cho Phòng Quản lý Thương mại, có Sở giao cho Phòng
Kinh tế hoặc cho Quản lý thị trường... Sự thiếu một đầu mối thống nhất về
mặt chuyên môn này dẫn đến những khó khăn trong quản lý và phối hợp công
việc. Về nhân lực, nguồn lực dành cho công tác này đến nay vẫn còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đề ra. Hầu hết các Sở Công
đồng nhất, nguồn lực hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
119
Thương chưa có một bộ phận, thậm chí là một cán bộ chuyên trách thực hiện
chức năng bảo vệ người tiêu dùng. Về phía các cơ quan cấp huyện, Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đặt ra nghĩa vụ giải quyết yêu cầu cho người
tiêu dùng thuộc thẩm quyền của cơ quan này, nhưng thực tế thì hầu hết các cơ
quan cấp huyện trên cả nước hiện nay chưa có bộ phận nào đảm trách công
việc này. Về tài chính, bên cạnh việc chưa được phân công bố trí cán bộ thực
thi công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì tại các địa phương vẫn chưa
chủ động giành nguồn kinh phí hợp lý cho hoạt động này. Tại các địa phương
hầu như chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các cá nhân tổ chức hỗ trợ
cho hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trừ thành phố Hà Nội, Hồ
Chí Minh. Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng ở Trung ương còn nhiều khó
khăn. Đội ngũ cán bộ của Ban Bảo vệ người tiêu dùng hết sức mỏng, mặc dù
có nhiều cố gắng nhưng có nhiều biến động về nhân sự. Nguồn lực và cơ sở
vật chất cho công tác bảo vệ người tiêu dùng còn sơ sài. Nguồn lực hỗ trợ cho
hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là
kinh phí tổ chức triển khai công tác bảo vệ người tiêu dùng.
Việc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng còn nhiều bất cập. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã
quy định về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ
nhiệm vụ của Nhà nước và được hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính
cũng đã ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2011
quy định việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội có hoạt động gắn
với nhiệm vụ của Nhà nước giao. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này việc triển
khai các quy định nói trên vẫn gặp lúng túng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt
động. Thêm nữa, quy định về cấp ngân sách cho các tổ chức xã hội tham gia
hoạt động còn thiếu chặt chẽ. Điều này được minh chứng bởi việc cấp ngân
quyền lợi người tiêu dùng, được giao thực hiện một số nhiệm vụ gắn với
120
sách cho các tổ chức xã hội này nhưng chưa hình thành được dự toán chi phí
cho các hoạt động cụ thể, chưa xây dựng được những đề án, kế hoạch hoạt
động và đánh giá hiệu quả hoạt động. Chính vì thế hoạt động của các tổ chức
xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng đã có nhưng tính chủ động chưa cao.
Năm là, nguồn nhân lực của cơ quan quản lý cạnh tranh còn quá ít,
năng lực trình độ của những người làm công tác quản lý, điều tra giám sát
còn hạn chế. Cục Quản lý Cạnh tranh, trong điều kiện mới được thành lập
chưa lâu, số lượng chuyên gia cạnh tranh, điều tra viên còn ít chưa đủ để đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và người
tiêu dùng. Nguồn lực điều tra viên của Cục về lĩnh vực cạnh tranh còn mỏng.
Theo quy định của Điều 52 - Luật cạnh tranh Việt Nam, điều tra viên phải là
những người có thời gian công tác thực tế ít nhất là năm năm thuộc một trong
các lĩnh vực luật, kinh tế và tài chính. Trong khi thực tế các cán bộ, nhân viên
của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay đến hơn 80% là những cán bộ mới ra
trường hoặc có ít hơn 5 năm kinh nghiệm. Vì vậy, căn cứ các tiêu chuẩn nói
trên, tính đến nay, Bộ trưởng Bộ Công Thương mới chỉ bổ nhiệm gần 20 điều
tra viên [23, tr 237]. Ngoài ra, các điều tra viên còn lại công tác rải rác ở các đơn
vị khác trong Cục. Việc huy động các điều tra viên ở các ban chuyên môn khác
tham gia, theo đuổi quá trình điều tra một vụ việc hạn chế cạnh tranh kéo dài từ
mới mẻ, đội ngũ nhân sự của Cục Quản lý cạnh tranh chưa có nhiều kinh nghiệm
để xử lý và điều tra các vụ việc phức tạp và kéo dài như các cuộc điều tra cạnh
tranh, chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ.
Hội đồng cạnh tranh cũng gặp những khó khăn, hầu hết các thành viên
đều kiêm nhiệm, bộ máy còn chưa hoàn chỉnh về nhân sự và biên chế. Còn
các cơ quan hành chính như Chính phủ, các bộ ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
thanh tra chuyên trách cũng được coi là bộ máy thực thi cạnh tranh theo quy định
của luật chuyên ngành cũng hạn chế về nguồn nhân lực, cán bộ hành chính chỉ am
nửa năm đến hơn một năm là tương đối khó khăn [19,tr 62]. Với công việc còn
121
hiểu về một chuyên ngành cụ thể, số lượng chuyên viên hiểu biết và có kinh
nghiệm chuyên sâu về cạnh tranh chưa nhiều [73, tr 68]. Trong hoạt động quản lý,
cơ quan quản lý nhà nước không đủ nguồn lực để kiểm tra tính trung thực và
hợp lý của kê khai, chỉ có thể kiểm tra ngẫu nhiên nên không thể kiểm soát giá
cả hàng hóa của doanh nghiệp độc quyền một cách toàn diện được. Điều này có
thể dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước chỉ có thể thực hiện khâu hậu
kiểm khi phát hiện những vấn đề bất hợp lý trên thị trường. Cho dù cơ quan quản
lý nhà nước có tiến hành các biện pháp để giải quyết vấn đề phát sinh thì cũng
luôn đi sau thị trường và cơ chế không mang tính phòng ngừa.
Sáu là, khung khổ pháp lý và thực thi chính sách cạnh tranh, chống độc
quyền doanh nghiệp còn thiếu và yếu. Hệ thống pháp luật còn thiếu, chưa đồng
bộ, nhiều luật của Việt Nam chưa đầy đủ nội dung cần thiết, chưa có khả năng bao
quát tình huống pháp luật có liên quan nên cần rất nhiều văn bản hướng dẫn của
cơ quan hành pháp dưới dạng thông tư, nghị định mới có thể áp dụng. Trong khi
đó các quy định hiện hành của Luật Cạnh tranh còn mang tính kỹ thuật, cứng
nhắc, chưa nhắm vào bản chất phản cạnh tranh của hành vi mà chỉ nhắm đến hình
thức biểu hiện bên ngoài của hành vi, vì vậy, chưa bắt kịp với điều kiện thực tiễn,
gây khó khăn cho quá trình thực thi pháp luật. Luật Cạnh tranh được ban hành
năm 2005, tuy nhiên cho đến 21/07/2014 mới có nghị định 71/2014/NĐ/CP quy
Quy trình xây dựng, ban hành, thi hành các chính sách liên quan đến tạo
lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền hiện nay còn bộc lộ một
số hạn chế gây cản trở tới hoạt động của các doanh nghiệp. Quy trình dài và
không linh hoạt, trung bình quá trình ban hành một Luật mới mất hai năm; pháp
lệnh hoặc Luật bổ sung và sửa đổi mất một năm. Các chính sách cạnh tranh
trong nhiều trường hợp còn chung chung, mơ hồ, chưa đáp ứng được yêu cầu
của xã hội và thị trường. Sự mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các
chính sách và các quy định khác nhau, thiếu sự gắn kết giữa kế hoạch ngắn hạn
định chi tiết luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
122
và chiến lược dài hạn. Còn áp đặt chủ quan và thiếu minh bạch trong việc giải
thích và áp dụng các chính sách. Một số văn bản pháp luật quan trọng đã ban
hành song hiệu lực thực thi chưa cao.
Luật cạnh tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống. Theo báo cáo khảo sát
doanh nghiệp và phỏng vấn chuyên gia về pháp luật cạnh tranh Việt Nam, do
Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) công bố, cho thấy: Có tới 92,8%
trong số 500 doanh nghiệp được khảo sát “chưa hiểu rõ” về Luật Cạnh tranh, số
doanh nghiệp “hiểu rất rõ” chỉ chiếm 1,6%. Ngoài ra còn một lượng lớn doanh
nghiệp đã được loại bỏ khỏi cuộc khảo sát do “không biết gì”, không sẵn sàng
trả lời các câu hỏi hoặc từ chối tham gia khảo sát. Có tới 30,6% doanh nghiệp
được khảo sát chưa từng biết đến Cục Quản lý Cạnh tranh cho tới khi được hỏi.
Trong khi đó, pháp luật điều chỉnh về độc quyền thì hầu như không có, các quy
định về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng còn đơn giản, còn
thiếu và hiệu quả điều chỉnh thấp, thiếu các quy phạm cần thiết cho việc vận
hành nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường và bảo đảm tự do cạnh tranh,
các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, tính răn đe chưa cao. Quá trình hơn 8 năm
thực thi pháp Luật Cạnh tranh đã bộc lộ những bất cập về các quy định của pháp
luật cạnh tranh như: Quy định về xác định thị trường liên quan, cách tính thị
phần, chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh… Những bất
ngại to lớn trong quá trình thực thi pháp luật của Cục Quản lý cạnh tranh.
Bảy là, môi trường cạnh tranh trong nền kinh tế chưa cao, doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau chưa được đặt trong môi trường cạnh
tranh bình đẳng. Trên các văn bản pháp lý đều khẳng định sự bình đẳng giữa các
thành phần, các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nhưng thực tế cho
thấy vẫn tồn tại sự phân biệt, đối xử với các thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
Trong khi các DNNN nhận được những đối xử đặc biệt dưới nhiều hình thức
khác nhau, cả công khai và không công khai. Họ không phải chịu áp lực cạnh
cập và sai sót trong các quy định của pháp luật cạnh tranh đã gây ra những trở
123
tranh và kỷ luật thị trường như các thành phần kinh tế khác. Thực tế ở nước ta,
tư tưởng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong
nước và nước ngoài không chỉ tồn tại ở những hành vi thực tế mà còn nằm ngay
trong quá trình hoạch định chính sách, trong nội dung nhiều qui định pháp luật.
Những hành vi phi cạnh tranh cùng những ưu đãi sẽ ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh của các DNNN về dài hạn, làm triệt tiêu động lực hoạt động hiệu quả
và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Mặt khác, điều đó cũng tạo gánh
nặng chi phí khổng lồ lên các thành phần kinh tế khác vốn đang hoạt động hiệu
quả hơn, vì họ không có nhiều cơ hội kinh doanh và phải cạnh tranh hơn khi tiếp
cận các nguồn lực ngày càng khan hiếm hơn.
Tám là, sự tác động của các định chế khu vực và quốc tế vào nước ta. Khi
mở cửa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, môi trường cạnh tranh ở nước
ta sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều "đối thủ" hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu
hơn, theo đó, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia tham gia vào nền kinh tế
nước ta, đi kèm với đó là những áp lực, những “thủ đoạn” cạnh tranh không lành
mạnh. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn
thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó
khăn không nhỏ. Bên cạnh đó, áp lực trước những yêu cầu của định chế khu vực
và thế giới đòi hỏi Việt Nam phải điểu chỉnh một loại những cơ chế, chính sách,
lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta.
pháp luật cho phù hợp với “sân chơi” chung đã tác động lớn đến hoạt động tạo
2.3. Một số vấn đề đặt ra về chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp có sự liên quan và tác động
mạnh mẽ, nhiều chiều với nhiều cấp độ khác nhau trong đời sống xã hội. Điều
đó đặt ra đối với chủ thể quản lý phải chủ động nhận thức tìm ra những mâu
thuẫn và có những biện pháp phù hợp. Để chống độc quyền doanh nghiệp đạt
hiệu quả, cần giải quyết tốt một số mâu thuẫn sau:
124
Một là, chống độc quyền doanh nghiệp đòi hỏi phải tạo lập đồng bộ
các yếu tố về thể chế cạnh tranh, chống độc quyền, trong khi đó, hệ thống
pháp luật cạnh tranh, bộ máy quản lý và các cơ chế, chính sách cạnh tranh
còn thiếu hoàn chỉnh, chồng chéo.
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN là lĩnh vực còn hết sức mới mẻ đối với nước ta, kinh nghiệm
hoạt động chưa nhiều, thể chế, bộ máy và các cơ chế chính sách đang từng
bước hoàn thiện. Yêu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải không ngừng nâng cao
khả năng chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế nước ta, bảo đảm
một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động. Trong
khi đó, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về cạnh tranh, chống độc quyền
ở nước ta bước đầu mới được hình thành, quá trình triển khai trong thực tiễn
cũng là quá trình vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm để từng bước hoàn
thiện. Vì vậy, sẽ không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót, sự khập khễnh, chưa
đồng bộ của hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về cạnh tranh, chống độc
quyền. Đánh giá thực trạng đã cho thấy những hạn chế, bất cập của hệ thống
pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền của nước ta. Việc tiếp cận liệt kê theo
các hình thức biểu hiện bên ngoài đã dẫn đến việc bỏ sót hành vi phản cạnh
tranh, tạo kẽ hở để doanh nghiệp lách luật. Cơ chế quản lý và kiểm soát độc
quyền chủ yếu thông qua chính sách thuế, kiểm soát giá cả và sản lượng, nhưng
doanh nghiệp độc quyền, sản phẩm độc quyền. Vấn đề kiếm soát giá độc quyền
còn mang nặng tính hành chính, bộc lộ nhiều vấn đề bất hợp lý cần hoàn thiện.
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế nước ta cùng với sự hội nhập sâu,
rộng vào nền kinh tế quốc tế làm cho một số nội dung của luật Cạnh tranh
không còn phù hợp, hoặc chưa bắt kịp với thực tiễn hoạt động của doanh
nghiệp. Nhiều chiến lược cạnh tranh mới, trong đó có cả hành vi phản cạnh
tranh đã “du nhập” và được các doanh nghiệp vận dụng trong thực tiễn. Trong
khi đó, hoạt động chống độc quyền của các chủ thể còn bó hẹp trong từng phạm
trên thực tế hiện nay ở nước ta chưa có chính sách thuế áp dụng đối với các
125
vi, lĩnh vực đảm trách, theo kiểu “việc ai lấy làm”, mà chưa có sự chia sẻ, hợp
tác, phối hợp với nhau. Mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt trong điều kiện nước
ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, là thành viên của hầu hết các tổ chức khu
vực và quốc tế quan trọng như ASEAN, APEC, WTO… và hiện Việt Nam đang
đàm phán để tham gia hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP). Điều đó
đặt ra cho Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có
luật cạnh tranh, chống độc quyền cho phù hợp với đòi hỏi thực tiễn và thông lệ
quốc tế. Cần xây dựng chính sách cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp
trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện các cơ chế cạnh
tranh, kiểm soát độc quyền cùng với việc hình thành đồng bộ các yếu tố thị
trường để các doanh nghiệp cạnh tranh một cách bình đẳng.
Hai là, chống độc quyền doanh nghiệp đòi hỏi phát huy tốt vai trò và
sự phối hợp của các chủ thể, trong khi đó, nhận thức, vị trí, vai trò và phối
hợp của các lực lượng chống độc quyền doanh nghiệp chưa cao.
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN là công việc không phải của riêng một tổ chức, cá nhân nào, mà là của cả
xã hội bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp, các hiệp hội và người tiêu dùng, trong
đó Nhà nước là chủ thể quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định trong tạo lập
môi trường cạnh tranh, chống độc quyền, còn các doanh nghiệp, hiệp hội và
người tiêu dùng có vị tri, vai trò hết sức quan trọng, góp phần vào bảo đảm hiệu
và thực trạng chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta đã chỉ ra những tồn tại
bất cập trong nhận thức của các cơ quan quản lý cũng như xã hội về pháp luật
cạnh tranh, về vị trí, vai trò của các chủ thể trong hoạt động chống độc quyền.
Để giải quyết vấn đề này, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
Nhà nước XHCN bằng công cụ pháp luật và chính sách, bảo đảm sự quản lý của
Nhà nước phải phù hợp với đặc điểm, quy luật và các nguyên tắc cơ bản của
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, nâng cao vai trò của cơ quan
quản lý cạnh tranh thực sự là cơ quan chuyên trách, nòng cốt trong quản lý giám
quả trong chống độc quyền doanh nghiệp. Khảo sát kinh nghiệm của các nước
126
sát hoạt động cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Phát huy vai trò của
các tổ chức, các lực lượng khác như doanh nghiệp, các hiệp hội, người tiêu dùng
để mỗi chủ thể phát huy tối đa khả năng, năng lực trong tạo lập môi trường
cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Theo đó, cần có sự phối hợp đồng
bộ, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan quản lý cạnh
tranh, cơ quan quản lý của các bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương), doanh
nghiệp, xã hội và người tiêu dùng qua đó thực hiện việc quản lý, giám sát, phát
hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm của doanh nghiệp độc quyền.
Muốn vậy, cần xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các lực lượng nhằm gắn kết
chặt chẽ các tổ chức, cá nhân trong hoạt động chống độc quyền. Cơ chế phối hợp
các lực lượng càng chặt chẽ thì hoạt động quản lý, giám sát, ngăn chặn những
tiêu cực do doanh nghiệp độc quyền gây ra càng giảm bớt.
Ba là, chống độc quyền doanh nghiệp đang đặt ra những đòi hỏi ngày
càng cao về tính chuyên nghiệp, hiệu quả, trong khi đó sự đầu tư các nguồn
lực về con người và tài chính cho hoạt động này còn nhiều hạn chế.
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta có nhiều nội dung khó, phức tạp, với sự đòi hỏi yêu
cầu cao, động chạm đến lợi ích của các chủ thể. Việc xác định những biểu
hiện của độc quyền doanh nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực trong thực tế rất
minh trên thực tế việc vi phạm pháp luật của doanh nghiệp độc quyền. Thực
tiễn cho thấy, chống độc quyền doanh nghiệp có hiệu quả đòi hỏi tính chuyên
nghiệp ngày càng cao, trong đó phải xây dựng được hệ thống pháp luật, bộ
máy quản lý và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, bảo đảm thực thi có hiệu quả
các quy định của pháp luật. Kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật cạnh
tranh ở nhiều quốc gia cho thấy, cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh cần
phải chuyên nghiệp và tổ chức như một thực thể độc lập tương đối. Đồng
khó khăn, nhiều hoạt động mang tính chất tinh vi, khó có bằng chứng chứng
127
thời, đội ngũ cán bộ phải có khả năng làm việc độc lập, năng động để giải
quyết tốt các khâu trong quá trình điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật cạnh tranh cũng như các vụ việc về chống bán phá giá, chống chợ cấp và
tự vệ, kể từ khâu tiếp nhập thông tin đến tổ chức điều tra, xử lý, giám sát, thực
hiện các thủ tục giải quyết khiếu nại… Các công việc đó rất phức tạp, khối
lượng công việc nhiều, quy mô lớn, liên quan đến nhiều bộ, ngành và các
doanh nghiệp. Hơn nữa, quy trình xử lý công việc cũng như tính chất của vụ
việc gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực kinh tế, tài chính, đầu tư, lao
động…Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có kiến
thức chuyên môn sâu mới có thể thực hiện được
Từ thực trạng cho thấy, với bộ máy quản lý cạnh tranh hiện nay, việc
theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động cạnh tranh, chống độc quyền tập
trung chủ yếu vào hai cơ quan là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh
tranh. Trong khi đó, đội ngũ làm công tác quản lý cạnh tranh còn mỏng, trình
độ, năng lực còn hạn chế, số lượng điều tra viên còn quá khiêm tốn, ngân sách
dành cho hoạt động của cơ quan cạnh tranh còn chưa nhiều, kinh phí hoạt
động của các tổ chức xã hội (các hiệp hội doanh nghiệp, Hội bảo vệ người
tiêu dùng) còn hạn hẹp… đang là những trở ngại lớn đối với hoạt động quản
lý cạnh tranh, chống độc quyền. Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tiếp tục
lập, minh bạch, đáp ứng hơn nữa yêu cầu và kỳ vọng của cộng đồng doanh
nghiệp và xã hội. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản
lý cạnh tranh đủ về số lượng, vững về chuyên môn, có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn. Bản thân cơ quan quản lý
cạnh tranh cần phải có chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên một cách
nhanh chóng và hiệu quả. Mặt khác phải tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,
kinh phí hoạt động cho cơ quan quản lý cạnh tranh, nhằm đáp ứng yêu cầu
ngày càng lớn số lượng và tính chất các vụ việc mà cơ quan này đảm nhiệm.
hoàn thiện bộ máy tổ chức của cơ quan quản lý cạnh tranh bảo đảm tính độc
128
Bốn là, chống độc quyền doanh nghiệp đòi hỏi giải quyết mối quan hệ giữa yêu
cầu bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Để nền kinh tế nước ta phát triển thì một trong những yếu tố quan trọng là
phải có một môi trường cạnh tranh lành mạnh, ở đó, các chủ thể kinh doanh
được tự do hoạt động kinh doanh trong một khuôn khổ pháp lý chung mà không
có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế; được tiến hành các phương thức
kinh doanh và thực hiện cạnh tranh lành mạnh phù hợp pháp luật và đạo đức xã
hội; được bình đẳng để tiếp cận các nguồn lực (vốn, cơ sở vật chất, nguồn nhân
lực và cơ hội kinh doanh...); được tự do lựa chọn các phương thức tài phán để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra và được đối
xử công bằng, khách quan. Đồng thời, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN cũng đặt ra yêu cầu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Đánh giá thực trạng đã chỉ ra, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau chưa được đặt trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, tư tưởng
phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước
và nước ngoài không chỉ tồn tại ở những hành vi thực tế mà còn nằm ngay
trong quá trình hoạch định chính sách. Các DNNN nhận được những đối xử
đặc biệt dưới nhiều hình thức khác nhau, cả công khai và không công khai, họ
không phải chịu áp lực cạnh tranh và kỷ luật thị trường như các thành phần
tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt, đã bị nhầm lẫn thành độc
quyền kinh doanh của một số doanh nghiệp nhà nước, trong khi đó những đặc
quyền được hành chính hóa đã tạo ra những rào cản cho sự gia nhập thị trường
trong một số ngành, lĩnh vực, hạn chế tiềm năng của các thành phần kinh tế khác và
khả năng huy động các tiềm lực của xã hội.
Phương hướng cơ bản để cho vấn đề này là: Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo khung khổ pháp lý, thiết lập
một “sân chơi” thật sự công bằng, bình đẳng, xóa bỏ sự ưu đãi đối với bất kỳ
kinh tế khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc nhìn nhận vai trò chủ đạo của kinh
129
thành phần kinh tế. Xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh
trong kinh doanh, lấy nguyên tắc “cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh” làm cơ
chế chủ yếu cho việc vận hành nền kinh tế, tập trung vào các hướng điều
chỉnh cấu trúc thị trường, điều chỉnh hành vi kinh doanh và giám sát hiệu quả
các hành vi lạm dụng vị thế trên thị trường; bảo đảm tính đồng bộ, công khai,
dân chủ trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế, mà ở đó tính đồng bộ trong
hệ thống pháp luật, hệ thống chính sách và cơ chế là tiền đề để bảo đảm tính
hiệu lực, hiệu quả khi triển khai thực hiện. Thứ hai, tiếp tục phát huy vai trò
then chốt của doanh nghiệp nhà nước, theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tái cơ
cấu doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung vào lĩnh
vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng, quốc phòng và an ninh. Kinh
nghiệm của các quốc gia trên thế giới hiện nay đều duy trì độc quyền kinh
doanh của Nhà nước, song xu thế chung là thu hẹp dần phạm vi độc quyền
này, đồng thời Nhà nước quy định các biện pháp kiểm soát chi phí sản xuất và
kiểm soát giá cả độc quyền để bảo vệ lợi ích chung cho xã hội. Thứ ba,
DNNN phải tự đổi mới, sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, đi đầu trong
đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy, dẫn dắt nền kinh tế cùng
phát triển, cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác; khắc
phục những tồn tại, yếu kém để cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng cho nền kinh tế quốc dân. Quyết liệt, đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN
nhiệm vụ chính trị, công ích. Hoàn thiện cơ chế và mô hình thực hiện quyền
sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, thực hiện
công khai, minh bạch kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước...
theo phương án đã phê duyệt. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và
130
Kết luận chương 2
Độc quyền doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua vẫn diễn biến
phức tạp, hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí
độc quyền vẫn diễn ra; tình hình lạm dụng độc quyền nhà nước thành độc
quyền doanh nghiệp vẫn tồn tại; hoạt động thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của
các doanh nghiệp độc quyền ngày càng tinh vi; hoạt động ấn định giá sản phẩm
bất hợp lý nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao của doanh nghiệp độc quyền vẫn tiếp
tục xảy ra; tình trạng cạnh tranh không lành mạnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh, củng cố vị trí độc quyền của doanh nghiệp độc quyền diễn biến phức
tạp; hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp nhằm hình thành vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền có xu hướng gia tăng.
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định,
góp phần vào tạo lập môi trường cạnh tranh, bảo đảm sự ổn định và phát triển
của nền kinh tế. Tuy nhiên, còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế về pháp luật, cơ
chế, chính sách, công tác quản lý của các cơ quan... ảnh hưởng không nhỏ tới
môi trường cạnh tranh cũng như lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế.
Nguyên nhân của những tồn tại trên bao gồm cả nguyên nhân khách quan và
chủ quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta thời gian qua, có thể thấy bốn vấn
đề đặt ra trong chống độc quyền doanh nghiệp là những vấn đề hết sức cơ
bản, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp trong chống độc quyền doanh
nghiệp ở nước ta trong thời gian tới. Việc giải quyết tốt những vấn đề đặt ra
sẽ góp phần quan trọng vào hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đạt hiệu quả.
Từ đánh giá thực trạng chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh
131
Chương 3
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là yêu khách cầu quan và cấp thiết đối với nền kinh tế
nước ta hiện nay. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề chống độc quyền doanh
nghiệp hết sức phức tạp. Trên cơ sở đánh giá tình hình độc quyền doanh nghiệp,
chỉ ra thực trạng của hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta trong
thời gian qua cũng như những vấn đề đặt ra trong chống độc quyền doanh
nghiệp, cần thực hiện tốt một số quan điểm sau:
3.1.1. Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa không nhằm loại bỏ doanh nghiệp độc quyền hay
phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mà là chống các hoạt động
lạm dụng độc quyền của doanh nghiệp gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế
Như phần đầu đã đề cập, mục đích của chống độc quyền doanh nghiệp
nghiệp đều có cơ hội như nhau, thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong chống độc quyền doanh nghiệp, đối
tượng trước tiên được xác định là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đã hoặc đang thực hiện các hoạt động
lạm dụng vị trí đó để hạn chế cạnh tranh, làm sai lệch, cản trở hoặc giảm
cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên cần lưu ý, chống độc quyền doanh
nghiệp không nhằm loại bỏ doanh nghiệp độc quyền, mà chỉ loại bỏ hoạt
động lạm dụng sức mạnh thị trường của doanh nghiệp trên thị trường này để
là nhằm thiết lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó các doanh
132
trục lợi, bóp méo cạnh tranh. Một khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí
độc quyền trên thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì doanh
nghiệp đó chưa phải là đối tượng của chống độc quyền.
Hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp là nhằm thúc đẩy cạnh tranh
hiệu quả và không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bất kỳ doanh nghiệp
nào. Các chính sách cạnh tranh, chống độc quyền được xây dựng và áp dụng
để khuyến khích cạnh tranh mà không phải để trừng phạt các doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, hay loại bỏ doanh nghiệp độc quyền, phủ
định vai trò chủ đạo của kinh tế của nhà nước. Nếu doanh nghiệp độc quyền
được tạo lập hợp pháp và thực hiện các chiến lược cạnh tranh lành mạnh thì
không phải là đối tượng của hoạt động chống độc quyền. Nói cách khác,
chống độc quyền doanh nghiệp không nhằm xoá bỏ doanh nghiệp độc quyền,
phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà chỉ loại bỏ hành vi lạm
dụng độc quyền để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh. Một khi doanh
nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì
chúng vẫn là chủ thể được pháp luật bảo vệ. Để thực hiện quan điểm này, cần
làm tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh, chống độc
quyền. Theo đó cần rà soát lại những quy định trong luật, kịp thời bổ sung
xây dựng các văn bản quy phạm hướng dẫn thi hành, bảo đảm pháp luật
nhanh chóng đi vào cuộc sống, tránh tình trạng quy định pháp lý đã được ban
hành mà không có điều kiện thực hiện. Xây dựng cơ chế ban hành, kiểm soát
các quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Rà soát, đánh giá lại
các quy định về giấy phép, điều kiện kinh doanh ngành, nghề, bãi bỏ những
quy định không phản ánh đúng thực tiễn. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế kiểm
tra, giám sát tình trạng văn bản quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực ngành,
nghề kinh doanh có điều kiện không vì lợi ích chung, hoặc không phù hợp với
những vấn đề còn thiếu, còn hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn. Tiếp tục
133
nguyên tắc phục vụ, hỗ trợ doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế công khai, minh
bạch những ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện để định hướng
doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân tuân thủ các điều kiện khi tham gia kinh
doanh các ngành, nghề này. Hoàn thiện các quy định về thanh, kiểm tra và xử
lý vi phạm. Hệ thống pháp luật thanh, kiểm tra, giám sát các hoạt động của
doanh nghiệp cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, các quy định về chế tài xử phạt
hành chính phải đủ sức răn đe, tăng cường các quy định về cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cường
chế tài và biện pháp xử lý hành chính đối với cán bộ không tuân thủ quy định
pháp luật về doanh nghiệp, lợi dụng quyền lực nhà nước để lạm dụng, trục lợi.
Thứ hai, khẳng định nhất quán vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc tiếp tục khẳng định vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là kết quả của quá trình tổng kết lý luận và thực
tiễn đổi mới gần 30 năm qua của Đảng ta; phản ánh nét đặc thù của nền
KTTT định hướng XHCN so với nền KTTT định hướng tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nước nhất thiết giữ vai trò chủ đạo nhằm định hướng, dẫn dắt
kinh tế - xã hội phát triển theo mục tiêu đã được Đảng và Nhà nước hoạch
định. Trong kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận chứ
không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải thiết lập vị trí độc quyền của doanh
nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế
nhà nước, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước
điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy kinh tê, xã hội
của đất nước theo định hướng XHCN.
Thứ ba, tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước phải tập trung hoạt động ở những khâu,
công đoạn then chốt của các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, độc quyền tự
không phải là toàn bộ kinh tế nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
134
nhiên, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu và một số ngành công
nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn. Doanh nghiệp nhà nước chỉ
tập trung vào những ngành, lĩnh vực cung cấp những hàng hóa và dịch vụ mà
các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có
khả năng cung cấp để đảm bảo sự vận hành một cách bình thường cho nền kinh
tế theo định hướng XHCN. Những doanh nghiệp nhà nước có lợi thế do Nhà
nước giao, có ưu thế độc quyền tự nhiên phải được quản lý theo cơ chế phù hợp,
đảm bảo điều kiện kinh doanh công bằng với các doanh nghiệp khác.
3.1.2. Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm của cả xã hội, trong đó cơ
quan quản lý nhà nước về cạnh tranh là lực lượng nòng cốt
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay không phải là trách nhiệm của
riêng một cá nhân hay một tổ chức nào mà là trách nhiệm của cả xã hội, trong
đó Nhà nước với vai trò “nhạc trưởng”, tạo môi trường khung khổ pháp lý
cho các chủ thể căn cứ vào đó thực hiện. Ban hành các cơ chế, chính sách
khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia, bảo đảm cho mọi
doanh nghiệp, người dân đều có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các nguồn
lực, các thông tin, và tự do kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật. Doanh
góp phần hiệu quả vào tạo lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền.
Thực hiện quan điểm này là sự khẳng định nhất quán vai trò, trách
nhiệm của các lực lượng trong xã hội trong hoạt động chống độc quyền doanh
nghiệp, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh là lực lượng nòng cốt.
Theo pháp luật Việt Nam, cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia là Cục Quản lý
cạnh tranh thuộc Bộ Công thương, trong các lĩnh vực chuyên ngành, quản lý
nghiệp, các tổ chức xã hội, và người tiêu dùng là những chủ thể quan trọng
với cơ quan quản lý cạnh tranh chung. Cục quản lý cạnh tranh có chức năng
quản lý nhà nước về cạnh tranh; về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng
cạnh tranh do các cơ quan chuyên ngành thực hiện và có sự phối hợp hoạt động
135
các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong
việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá
giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ và thực hiện các nhiệm vụ khác do
Bộ trưởng Bộ Công thương giao cho. Cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò
quan trọng trong việc bảo đảm thực thi Luật Cạnh tranh, đây vừa là cơ quan
điều tra, xử lý, đồng thời là cơ quan hành chính.
Để thực hiện tốt quan điểm này, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của
Nhà nước trong quản lý. Nhà nước phải có những chính sách phù hợp để
khuyến khích cạnh tranh lành mạnh theo đúng quy luật của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý
cạnh tranh bảo đảm tính độc lập. Nguyên tắc độc lập được biểu hiện ở cách
xử lý và ra quyết định trong vụ việc cạnh tranh đối với doanh nghiệp và với
cả những cơ quan có lợi ích gắn bó mật thiết với doanh nghiệp. Tính độc lập
còn được biểu hiện thông qua việc bổ nhiệm nhân sự của cơ quan quản lý
cạnh tranh. Để đảm bảo tính độc lập thực tế khi Cục Quản lý cạnh tranh là
một cơ quan rất đặc biệt cho nên cần được xây dựng nguyên tắc hoạt động
độc lập trên cơ sở giao cho những thẩm quyền đặc biệt để tương thích với
chức năng của cơ quan này. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý cạnh tranh đáp
chức xã hội và người tiêu dùng trong chống độc quyền doanh nghiệp.
ứng với yêu cầu phát triển của xã hội. Phát huy vai trò của các hiệp hội, các tổ
3.1.3. Chống độc quyền doanh nghiệp phải được thực hiện đồng bộ
với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Chống độc quyền doanh nghiệp phải được thực hiện đồng bộ với quá
trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là sự phát
triển cụ thể của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong vấn đề tạo lập
môi trường cạnh tranh, chống độc quyền. Theo đó, quá trình hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN cũng đồng thời hoàn thiện thể chế cạnh tranh, chống
136
độc quyền doanh nghiệp. Hoàn thiện thể chế cạnh tranh, chống độc quyền phải dựa
trên cơ sở, nội dung của hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đến
lượt mình, việc hoàn thiện thể chế cạnh tranh, chống độc quyền lại bổ sung, làm rõ
nội dung của hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thực tế cho thấy, chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta mới được quan tâm đúng mức trong thời
gian gần đây, nhất là từ khi có Luật Cạnh tranh, vì vậy, trong quá trình hoạt
động, chúng ta đang từng bước hoàn thiện thể chế cạnh tranh, chống độc quyền.
Chống độc quyền doanh nghiệp được đề cập trong điều kiện nước ta đang tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là một trong ba
đột phá quan trong trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội mà đại hội Đảng
lần thứ XI đã xác định, với trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng
và cải cách hành chính. Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN là nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh", xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều nội dung trong đó
tập trung vào hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các
bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường;
hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội
trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường; hoàn thiện thể
chế nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về
kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội, nghề nghiệp và của nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vì
vậy, việc hoàn thiện thể chế cạnh tranh, chống độc quyền phải căn cứ vào mục
tiêu, nội dung đó để xác định mục tiêu, nội dung cụ thể.
loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh; hoàn thiện thể chế
137
Để hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp được thực hiện đồng thời
trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trước
hết,cần hoàn thiện khung khổ pháp lý nói chung và pháp luật về cạnh tranh,
chống độc quyền nói riêng nhằm bảo đảm cho các chủ thể hoạt động phù hợp
với quy luật vận hành của nền KTTT, cũng như để giữ vững định hướng
XHCN trong quá trình phát triển. Việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động quản lý cạnh tranh phải trên cơ sở phù hợp điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Theo đó, nguyên tắc cho việc xây
dựng đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh là quán triệt
sâu sắc và thể chế hóa đầy đủ các đường lối, chủ trương chính sách của
Đảng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm các quan hệ sản xuất
được xác lập và không ngừng hoàn thiện theo hướng ngày càng phù hợp
hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thực hiện xóa bỏ mọi sự
phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu. Hai là, phát huy vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế
và các loại hình doanh nghiệp; hình thành một số tập đoàn kinh tế, các tổng
công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, có năng lực cạnh
tranh quốc tế. Ba là, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt
cho các doanh nghiệp và mọi công dân đều có quyền tự do và bình đẳng
tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, mọi công dân đều có quyền như
nhau trong tiếp cận các cơ hội, nguồn lực, kể cả tiếp cận các nguồn thông
tin thị trường. Cần phát triển đồng bộ, đa dạng các loại thị trường cơ bản
thống nhất trong cả nước, từng bước liên thông với thị trường khu vực và
thế giới. Nâng cao hơn hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy
vai trò của các tổ chức xã hội và nhân dân trong quản lý, phát triển kinh tế
- xã hội, cũng như trong tạo lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền.
động, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với nhau. Theo đó, phải bảo đảm
138
3.1.4. Chống độc quyền doanh nghiệp phải bảo đảm phù hợp với
những quy định và thông lệ quốc tế
Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Một
trong các chủ trương quan trọng mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra
khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu là: “Sớm hoàn
thành việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh
phù hợp với điều kiện Việt Nam, bảo vệ thị trường nội địa, đồng thời tuân thủ
những quy định của các tổ chức quốc tế và khu vực mà Việt Nam tham gia”
[41, tr210]. Trong xu thế thực hiện chính sách mở cửa, thị trường Việt Nam
đã nhanh chóng hòa nhập với thị trường khu vực và quốc tế, các quan hệ giao
lưu trên nhiều lĩnh vực ngày càng mở rộng và phát triển. Hầu hết các điều ước
quốc tế và các tổ chức quốc tế mà chúng ta ký kết và là thành viên đều đòi hỏi
pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật cạnh tranh, chống độc quyền nói
riêng phải có sự tương thích; thực hiện quyền bình đẳng trong hoạt động kinh
doanh và xây dựng một “sân chơi” bình đẳng và môi trường kinh doanh lành
mạnh giữa các quốc gia. Bên cạnh sự đòi hỏi của nhu cầu hội nhập quốc tế,
tình hình thực tiễn kinh doanh trong nước cũng yêu cầu pháp luật cạnh tranh
đến lượt mình phải là công cụ hữu hiệu thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các
khỏi bị xâm hại bởi các hành vi lạm dụng của các chủ thể kinh doanh nước
ngoài, đặc biệt là các chủ thể có sức mạnh thị trường.
Là thành viên chính thức của WTO, Việt Nam phải hội nhập toàn diện
vào nền kinh tế toàn cầu, do vậy hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp
không chỉ căn cứ theo pháp luật Việt Nam mà còn phải trong khuôn khổ luật lệ
quốc tế, phải thỏa mãn những nghĩa vụ từ điều ước quốc tế song phương và đa
phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn tham gia. Những cam kết trong
các hiệp định đòi hỏi hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về
doanh nghiệp Việt Nam, bảo vệ môi trường cạnh tranh và chủ thể trong nước
139
cạnh tranh, chống độc quyền nói riêng phải có sự phù hợp, nhất là các quy định
liên quan đến quyền tự do kinh doanh, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, nguyên
tắc không phân biệt đối xử... Pháp luật về cạnh tranh phải tạo môi trường pháp lý
bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh trên thị trường, phù hợp với luật chơi chung
của thương mại thế giới. Đến lượt mình, pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền
phải là công cụ để thúc đẩy sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, bảo vệ
môi trường cạnh tranh và các chủ thể trong nước trước những xâm hại bởi cạnh
tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra là Việt Nam cần phải hoàn thiện
hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy
định, thông lệ quốc tế. Theo đó, hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải rà
soát, đối chiếu lại, điều chỉnh kịp thời và chuyển hóa các điều ước quốc tế,
các hiệp định thương mại đã ký kết vào hệ thống pháp luật Việt Nam để đi
tới thống nhất, đáp ứng với hội nhập kinh tế thế giới. Đồng thời, Việt nam
cần phải nắm bắt các luật lệ quốc tế có liên quan như Luật Thương mại quốc
tế; Luật Cạnh tranh, Luật Chống độc quyền của các đối tác; Luật Đấu thầu
quốc tế... Điều quan trọng hiện nay là Việt Nam cần lựa chọn liệu pháp điều
chỉnh theo lộ trình thích hợp với điều kiện kinh tế chính trị của mình, từ đó
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp. Chống độc quyền
quyết tâm của chúng ta trong việc hội nhập quốc tế một cách toàn diện, song
vẫn phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có
lợi, giữ vững định hướng XHCN.
doanh nghiệp không chỉ bảo đảm lợi ích chung của quốc gia mà còn thể hiện
3.2. Giải pháp chủ yếu về chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới
Trên cơ sở những quan điểm đã xác định, chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới cần tập
trung thực hiện tốt các giải pháp, đó là:
140
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa trong đó trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh
Hoàn thiện thể chế thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa trong đó trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh có có vai
trò to lớn trong thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế, là công cụ điều tiết
kinh tế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho các doanh nghiệp. Đây là giải
pháp tiền đề, nhằm tạo lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể căn cứ vào đó thực
hiện. Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
trong đó trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng
giữa các chủ thể kinh tế, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có Luật Cạnh tranh.
Trước hết, khẩn trương rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành luật,
loại bỏ những văn bản chồng chéo trùng lặp, trái ngược nhau, không phù hợp
với thực tế và thiếu tính khả thi, kịp thời sửa chữa những quy định trái với
định hướng trên để bảo đảm sự nhất thể hóa và tính đồng bộ giữa các văn bản
pháp luật. Đồng thời nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật để
có thể có hiệu lực tương đối ổn định trong một thời gian nhất định. Hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh trên cơ sở thực trạng
thực thi pháp luật quản lý cạnh tranh. Theo đó, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ
bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ và các quy định khác theo hướng nhất
quán, phù hợp, không ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh, không ngăn cản
các hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.
Hoàn thiện Luật Cạnh tranh cho phù hợp với thực tiễn phát triển của
đất nước và thông lệ quốc tế. Thay đổi cách tiếp cận mô tả hành vi theo hình
thức biểu hiện bên ngoài, thay vào đó là cách tiếp cận nhắm trực diện vào bản
chất hạn chế cạnh tranh của hành vi, bỏ cách thức đánh giá vị trí thống lĩnh
phụ thuộc vào tiêu chí thị phần theo các mức thị phần cố định như hiện nay.
sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về cạnh tranh, luật chống
141
Có như vậy, việc thực thi pháp luật cạnh tranh mới thực sự mang lại hiệu quả
cho toàn bộ nền kinh tế theo đúng mục tiêu ban hành pháp luật. Trong bối
cảnh hiện nay, để đảm bảo việc thực thi luật có hiệu quả, tránh bỏ sót hành vi
hoặc xử lý không triệt để, cần kết hợp hài hòa phương pháp liệt kê hiện tại và
phương pháp tiếp cận hợp lý. Nói cách khác, bên cạnh việc coi các hành vi
được liệt kê trong luật cũng như trong các văn bản hướng dẫn, Việt Nam cần
cho phép áp dụng quy định chung, theo đó bao quát toàn bộ các hợp đồng,
liên kết, hay bất kỳ hoạt động thông đồng nào khác (không phụ thuộc vào tên
gọi hay hình thức) có mục đích hoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai
lệch quy luật cạnh tranh.
Bổ sung chế tài giám sát chống nguy cơ lũng đoạn thị trường. Hiện tại
và trong tương lai khi mà xu hướng M&A ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ hơn,
sẽ tồn tại 2 xu hướng chính: Thứ nhất, các cuộc sáp nhập giữa các công ty
vừa và nhỏ nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong cuộc chiến sinh tồn khắc
nghiệt của cơ chế thị trường; Thứ hai, các cuộc sáp nhập của các “đại gia”
trong các ngành, nghề sản xuất nhằm củng cố hơn vị thế của mình tại thị
trường trong nước và vươn ra thị trường quốc tế, từ đó, sẽ tạo ra các tập
đoàn kinh tế lớn, có khả năng thâu tóm và chi phối độc quyền đối với sự
phát triển của ngành, tác động không tốt đến nền kinh tế quốc gia trong bối
doanh nghiệp tiến hành các thương vụ mua bán và sáp nhập, nhưng mặt
khác, cũng cần phải ban hành các quy định pháp luật để kiểm soát mức độ
độc quyền, chống nguy cơ lũng đoạn thị trường của công ty sau khi sáp
nhập. Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp luật có liên quan để
định hướng cho thị trường phát triển ổn định bền vững và nên được điều
hành bởi các ban ngành chuyên môn có trách nhiêm quản lý như: Uỷ ban
chứng khoán Nhà nước và Cục quản lý cạnh tranh - chống độc quyền. Về
dài hạn, Luật Cạnh tranh cần được điều chỉnh và hoàn thiện để có thể kiểm
cảnh hội nhập. Vì vậy, Nhà nước cần chú ý, một mặt khuyến khích các
142
soát được hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động ngoài lãnh thổ
Việt Nam nhưng có ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh trong nước.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế cạnh tranh, kiểm soát, chống độc
quyền doanh nghiệp. Theo đó, cần tạo lập một môi trường kinh tế trong đó có
sự hiện diện hài hoà của cả khu vực doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và nước
ngoài, hoạt động trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực, qua đó, tạo
điều kiện để các doanh nghiệp có đóng góp nhiều vào sự phát triển của nền
kinh tế nhanh và bền vững.
Nhà nước phải tích cực thúc đẩy thi hành Luật Cạnh tranh bảo đảm luật
Cạnh tranh thực sự đi vào cuộc sống. Bổ sung và hoàn thiện cách thức quản
lý: Chế độ thống kê, nghĩa vụ chế độ thông báo, báo cáo định kỳ; tăng cường
giám sát chéo ở nhiều hoạt động, áp dụng cho nhiều nhóm hành vi, chủ động
giám sát ở cơ quan có thẩm quyền; nghiên cứu thực tế và quy mô để xác định
tính hiệu quả và hợp lý của từng loại chế độ để vận dụng vào quản lý phù
hợp; trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh những công cụ điều tra mạnh. Cần
tập trung ra soát và phân loại doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp nào phục vụ
cho các nhiệm vụ đặc biệt quan trọng về an ninh- quốc phòng thì có cơ chế
đặc biệt để quản lý và kiểm soát, phần còn lại hoạt động kinh doanh theo
nguyên tắc thị trường, không nói chung chung về vai trò doanh nghiệp nhà
Cần kiên quyết từ bỏ những ưu đãi, hỗ trợ các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước dưới dạng bao cấp hoặc bảo hộ. Tập trung xây dựng chính sách tạo
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tạo môi trường phù hợp, tự chủ, minh
bạch cho hoạt động của doanh nghiệp. Thực tế chứng minh trong quá trình
đổi mới, những chính sách thành công nhất không phải là ưu tiên, ưu đãi mà
là tạo môi trường thuận lợi. Những can thiệp phi kinh tế sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Kiên quyết
khắc phục tình trạng thiếu nhất quán, chồng chéo, mâu thuẫn trong các chính
sách và thực hiện chính sách.
nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường như trước đây.
143
Xây dựng các văn bản pháp lý và có hướng dẫn quy định cụ thể, minh
bạch cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp, nhất là những lĩnh vực
kinh doanh có điều kiện, những lĩnh vực “nhạy cảm”. Tạo điều kiện cho các nhà
đầu tư thuộc các thành phần kinh tế thực hiện quyền lựa chọn hình thức đầu tư vào
các loại hình doanh nghiệp theo đúng Luật Doanh nghiệp, dỡ bỏ những rào cản
không phù hợp, ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp. Quy định
cụ thể các ngành, nghề cấm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện,
những ngành nghề còn lại được coi là đương nhiên tự do kinh doanh. Việc quy
định các ngành nghề cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện phải theo thông lệ
và lộ trình cam kết quốc tế, đồng thời có những tiêu chí cụ thể để phân biệt rõ độc
quyền nhà nước và độc quyền doanh nghiệp. Nhà nước độc quyền quản lý và
giám sát một số ngành nghề nhưng có thể giao cho mọi loại hình doanh nghiệp
thực hiện theo nguyên tắc cạnh tranh của kinh tế thị trường.
Ba là, hoàn thiện đồng bộ các yếu tố thị trường, nhất là các ngành, lĩnh
vực có tính chất độc quyền. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về giá, cung- cầu, cạnh
tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh. Theo đó, thực hiện nhất quán cơ
chế giá thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Nhà nước chỉ điều tiết
thông qua những công cụ kinh tế như thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái hoặc điều tiết
thông qua việc khuyến khích đầu tư phát triển nhằm tăng cung của thị trường,
hoặc kích cầu của thị trường để thúc đẩy sản xuất. Chỉ khi thật cần thiết và đối
mức giá của một số mặt hàng để bảo đảm sự bình ổn cho sản xuất và đời sống.
Nhà nước cũng có thể sử dụng nguồn lực kinh tế của mình để can thiệp vào thị
trường, giảm tối đa việc can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Hoàn thiện khung
pháp lý cho ký kết, thực hiện hợp đồng, không hình sự hóa các tranh chấp dân sự
trong hoạt động kinh tế. Hoàn thiện thể chế giám sát, điều tiết thị trường của Nhà
với mặt hàng thiết yếu, Nhà nước sẽ đưa ra khung giá (giá trần, giá sàn) hoặc
thị trường và các cam kết quốc tế. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng
cao lòng tin của xã hội đối với pháp luật và các cơ quan tư pháp.
nước và xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp phù hợp với kinh tế
144
Hoàn thiện thể chế thị trường hàng hoá, dịch vụ, theo đó thực hiện đa dạng
hoá các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại, chú
trọng phát triển thị trường dịch vụ. Trong thời gian tới cần: Phát triển cơ sở hạ
tầng phục vụ cho các thị trường hàng hóa, dịch vụ, xây dựng các khu trung tâm
thương mại lớn; thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư phù hợp với các cam
kết quốc tế; phát triển các phương thức giao dịch thị trường hiện đại; tăng cường
công tác quản lý nhà nước về giá đối với một số ít hàng hoá, dịch vụ độc quyền,
bảo đảm tuân thủ yêu cầu của cơ chế thị trường và các cam kết quốc tế; xây dựng
tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường.
Có hệ thống chính sách đồng bộ để thúc đẩy sản xuất phát triển trên
cơ sở kích thích việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại, cung
cấp thông tin đầy đủ chính xác và minh bạch, sản xuất gắn với tiêu dùng,
tăng cường việc giám sát, kiểm soát thị trường, kiểm soát được độc quyền
trong thương mại và đầu tư. Các chính sách kinh tế bao gồm chính sách
tiền tệ, tài khóa cần tôn trọng các quy luật của thị trường; quan hệ cung cầu
và tín hiệu giá cả phản ánh đúng thực chất của thị trường. Giảm dần, tiến
tới loại bỏ các hành vi can thiệp trực tiếp vào thị trường và hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp qua chính sách hỗ trợ hoặc hạn chế kinh doanh
và các trợ cấp trực tiếp. Các thông tin thị trường thiếu chính xác, các chính
những tín hiệu thị trường sai lệch và doanh nghiệp sẽ mất phương hướng
trong hoạt động. Cần phát triển và vận hành đồng bộ các loại thị trường
khác như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị
trường khoa học - công nghệ… để doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, huy
động có hiệu quả các nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo
đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường tài chính, thể chế thị trường bất
động sản, thể chế thị trường lao động, thể chế thị trường công nghệ, và thể
chế thị trường một số loại dịch vụ công cơ bản.
sách vĩ mô thay đổi quá đột ngột và không nhất quán, tất cả sẽ dẫn đến
145
Bốn là, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù
hợp với yêu cầu tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước cần tập trung duy trì ổn định
kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển
nhanh, bền vững. Tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật và cơ chế
vận hành của kinh tế thị trường, phát huy mặt tích cực, hạn chế, ngăn ngừa
mặt trái của cơ chế thị trường, tạo ra những tiền đề để nền kinh tế phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm
cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người
dân, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho sự phát
triển, khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũng.
Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là một trong những
công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nước nhằm bảo đảm nền kinh tế
phát triển theo mục tiêu xác định. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính
đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công
ty. Điều hành chính sách lãi suất, tỷ giá linh hoạt theo nguyên tắc thị trường.
tác thanh tra, giám sát hoạt động tài chính, tiền tệ.
Cần tiếp tục cải cách hành chính mạnh mẽ, triệt để, tiến hành một cách
đồng bộ, tập trung triển khai dứt điểm các phương án đơn giản hóa thủ thủ tục
hành chính. Tiếp tục triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông”, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và doanh nghiệp trong giải
quyết thủ tục hành chính. Cần chuyển đổi mạnh mẽ, cơ bản vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính nhà nước cũng như của mỗi cơ quan hành
chính để phù hợp hơn với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường và dân chủ
Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá. Kiện toàn công
146
hóa đời sống xã hội. Theo đó, vai trò và chức năng của Chính phủ cần được
điều chỉnh để đảm bảo “Chính phủ nhỏ cho xã hội lớn”. Đây là vấn đề then
chốt trong việc đổi mới thể chế quản lý hành chính nhà nước, vì với sự thay đổi
của chức năng Chính phủ, các vấn đề khác như cơ cấu bộ máy hành chính,
phương thức quản lý hành chính, cán bộ viên chức hành chính... đều phải có sự
thay đổi tương ứng, kể cả thực chất mối quan hệ công việc giữa nhà nước và
doanh nghiệp, nhà nước và thị trường, nhà nước và xã hội, nhà nước và nhân
dân. Với những yêu cầu của giai đoạn mới, chức năng của Chính phủ cần được
xác định chính xác, vai trò của Chính phủ phải chuyển dần từ chỗ là tác nhân
kinh tế chính sang vai trò người thúc đẩy phát triển, người trọng tài kinh tế.
3.2.2. Nâng cao vai trò của các chủ thể trong quản lý cạnh tranh,
chống độc quyền doanh nghiệp
Thực chất đây là giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp toàn xã hội
trong tạo lập môi trường cạnh tranh. Mỗi tổ chức, mỗi lực lượng, mỗi người dân đều
có vai trò khác nhau trong tạo lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh
nghiệp. Để phát huy tốt vai trò của các chủ thể trong chống độc quyền doanh nghiệp
cần tập trung lầm tốt một số biện pháp sau:
* Đối với Nhà nước:
Cần xác định đúng vai trò của Nhà nước trong tạo lập môi tường cạnh
tranh, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo
tranh bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ
sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Nhà nước tạo môi
trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi để phát huy các nguồn lực cho phát
triển theo cơ chế thị trường. Nhà nước cung cấp một môi trường thể chế minh
bạch và hiệu quả trong đó các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần cạnh tranh
với nhau một cách bình đẳng trên mọi mặt. Đồng thời, Nhà nước phải thực
đó, Nhà nước phải định hướng quá trình phát triển, tạo lập môi trường cạnh
147
hiện vai trò hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội quan trọng, bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh
tế vĩ mô, hạn chế rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, quản lý
nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, tác động đến thị trường chủ yếu thông
qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế.
Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về cạnh tranh. Hệ thống cơ
quan cạnh tranh của Việt Nam (bao gồm Hội đồng cạnh tranh và Cục Quản lý
cạnh tranh) cần phải hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng được yêu cầu và kỳ vọng
của cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Việc kiện toàn bộ máy cơ quan
quản lý cạnh tranh cần phải:
- Đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh,
theo đó, vị trí của cơ quan quản lý cạnh tranh nên được quy định là cơ quan
ngang Bộ trực thuộc Chính phủ. Đánh giá thực trạng cho thấy, với vị trí của cơ
quan quản lý cạnh tranh hiện nay trực thuộc Bộ Công thương, thì tính độc lập
của cơ quan này chưa được phát huy hiệu quả, trong khi đó, hoạt động của cơ
quan quản lý cạnh tranh chủ yếu được thể hiện trong hoạt động điều tra và xử
lý vụ việc cạnh tranh. Trong điều kiện nước ta hiện nay, các doanh nghiệp nhà
nước đang giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, do đó, đối tượng
điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh có thể sẽ là các tổng công ty nhà nước,
không có một vị thế đủ mạnh, mang tính độc lập cao thì cơ quan quản lý cạnh
tranh sẽ không thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình. Việc thành lập một cơ
quan quản lý cạnh tranh độc lập của Chính phủ sẽ tăng thêm tính tự chủ của cơ
quan quản lý cạnh tranh, giúp đảm bảo và thúc đẩy việc tập trung chuyên môn,
tính công chính, minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm và giải trình của cơ
quan này. Vì vậy, theo tác giả, cần hợp nhất hai cơ quan quản lý cạnh tranh của
Việt Nam hiện nay thành một cơ quan duy nhất, điều đó sẽ mang lại nhiều lợi
các tập đoàn kinh tế lớn và thậm chí là cả các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu
148
ích, khắc phục được những nhược điểm còn tồn tại, phù hợp với xu hướng
chung của các nước trên thế giới. Như vậy, cơ quan quản lý cạnh tranh mới này
sẽ là sự hợp nhất của Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh, mang
tính chất cơ quan ngang bộ. Trong cơ quan này, phải tách riêng bộ phận điều
tra và bộ phận xử lý vụ việc độc lập với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ nhưng phải kết hợp trong việc xử lý vụ việc, nhân sự hoạt động theo chế độ
chuyên trách, xây dựng chế độ các báo cáo viên.
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan quản lý
cạnh tranh trong giải quyết các vấn đề cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao
tính năng động, linh hoạt trong xử lý công việc. Đổi mới một số nội dung cơ
chế hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh: Xây dựng cơ chế rà soát, giải quyết
các khiếu kiện liên quan đến các quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh; Xây
dựng cơ chế tham khảo ý kiến trước.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý cạnh
tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Đây là một trong những biện pháp
cơ bản, quan trọng có tính chất quyết định đến hiệu quả trong chống độc
quyền, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh. Vì vậy, vấn đề đặt ra là
phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ quản lý cạnh tranh chuyên
nghiệp, bảo đảm có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ để thực thi có hiệu
giải quyết tốt các khâu trong quá trình điều tra xử lý các hành vi vi phạm.
Vì vậy, cần làm tốt công tác lựa chọn những cán bộ quản lý có phẩm chất,
năng lực trong các cơ quan quản lý cạnh tranh. Đội ngũ cán bộ đó phải có
phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan; có trình độ về chuyên
ngành quản lý; có kinh nghiệm thực tế trong công tác quản lý cạnh tranh;
được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho hoạt
động của cơ quan quản lý cạnh tranh. Thực hiện việc bố trí, xắp xếp cán
quả chức năng quản lý, có khả năng làm việc độc lập, năng động để có thể
149
bộ quản lý đúng, phù hợp với năng lực, khả năng của cá nhân, gắn trách
nhiệm rõ ràng của từng cá nhân trên từng lĩnh vực được đảm nhiệm.
Để bảo đảm tính chuyên nghiệp và có hiệu quả của cơ quan quản lý
cạnh tranh, nên thay đổi cách thức, quy trình bổ nhiệm nhân sự cơ quan quản
lý cạnh tranh mới, theo đó, các thành viên quản lý của cơ quan quản lý cạnh
tranh mới (Chủ tịch và các Phó Chủ tịch) sẽ do Thủ tướng bổ nhiệm nhưng
nguồn bổ nhiệm ngoài các bộ có thể mở rộng thêm ở các chuyên gia pháp luật
cạnh tranh, thương mại, kinh tế. Điều kiện được bổ nhiệm đối với những
thành viên này có sự tiếp thu những điều kiện của thành viên Hội đồng cạnh
tranh theo pháp luật hiện nay, như: Có kiến thức, am hiểu về pháp luật cạnh
tranh, pháp luật thương mại và kinh tế; am hiểu về kỹ năng điều tra xử lý
trong vụ việc cạnh tranh là một lợi thế; có tầm ảnh hưởng và uy tín nhất định
trong lĩnh vực khoa học pháp lý hay kinh tế, tài chính; có phẩm chất đạo đức
tốt, trung thực, khách quan, có tinh thần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có
trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính trở lên; có thời gian công
tác thực tế nhiều năm thuộc một trong các lĩnh vực nói trên; có khả năng hoàn
thành nhiệm vụ được giao. Đối với nhân viên các bộ phận của cơ quan quản lý
cạnh tranh thì tổ chức thi tuyển. Người đứng đầu các bộ phận của cơ quan quản
lý cạnh tranh có thể được bổ nhiệm bởi Thủ tướng trên cơ sở đề nghị của người
Cùng với đó, nâng cao chất lượng đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực
cho các cơ quan quản lý cạnh tranh. Theo đó, chương trình đào tạo cần xây
dựng toàn diện cho từng loại đối tượng đào tạo, chú trọng đào tạo điều tra
viên và hoàn thiện quy chế tài chính đối với hoạt động điều tra. Tổ chức các
lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác quản lý cạnh
tranh, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ của các cơ quan có liên
quan như: Cán bộ làm công tác bảo vệ người tiêu dùng tại địa phương, lực
lượng quản lý thị trường tại các tỉnh,thành phố. Đưa các nội dung, kiến thức
đứng đầu cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc được tuyển dụng công khai.
150
của pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ vào trong
công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngành luật, tài
chính, kinh tế... hoặc các viện nghiên cứu. Đây chính là nơi đào tạo và cung
cấp nguồn nhân lực chủ yếu và chuyên nghiệp về lĩnh vực này cho cơ quan
quản lý cạnh tranh và các cơ quan hữu quan sau này. Cần sớm có chính sách
nâng cao năng lực và tăng cường nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý cạnh
tranh để hình thành một đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa. Việc đào tạo nâng
cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác này là hết sức cần thiết và cấp
bách, góp phần tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ của các bộ, ngành trong việc
thi hành các quy định pháp luật liên quan đến cạnh tranh.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho cơ quan quản
lý cạnh tranh nhằm đáp ứng với yêu cầu ngày càng lớn của xã hội, cũng như
tính chất phức tạp trong hoạt động quản lý, chống độc quyền doanh nghiệp,
Tạo dựng sự rõ ràng, minh bạch trong chức năng và trách nhiệm của cơ
quan quản lý cạnh tranh và các bộ quản lý ngành để giải quyết tình trạng khác
nhau trong áp dụng các chuẩn mực và cách xử lý. Nói rộng hơn, tất cả các cơ
quan của Chính phủ đều cần nhận thức và đánh giá được những tác động của các
chính sách và hoạt động của mình đến môi trường cạnh tranh chung. Theo đó,
xây dựng và làm rõ cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ
chế phối hợp giữa quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên ngành và quản
lý cạnh tranh là yêu cầu tiên quyết để đảm bảo hiệu quả quản lý chung của
nhà nước đối với sự vận hành lành mạnh của thị trường, xóa bỏ các lỗ hổng
pháp lý giữa các khu vực pháp luật khác nhau. Trong đó, các nguyên tắc cần triệt
để tuân thủ là không có sự chồng chéo giữa quản lý cạnh tranh và quản lý
chuyên ngành kinh tế. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản
lý cạnh tranh, cơ quan quản lý các lĩnh vực chuyên ngành, Hội bảo vệ người tiêu
dùng… Để quản lý cạnh tranh có hiệu quả cao, theo tôi, cần có sự phối hợp hoạt
quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc xây dựng cơ
151
động của các thiết chế có tổ chức và cả bản thân những người tiêu dùng cũng
như các doanh nghiệp khi tham gia thị trường. Tuy nhiên, chỉ có những thiết chế
quyền lực (cơ quan quản lý cạnh tranh, tòa án) mới thực sự có khả năng can
thiệp mạnh mẽ đối với hoạt động quản lý cạnh tranh. Do pháp luật quy định có
sự liên hệ và phối kết hợp trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ nhưng
phân chia thẩm quyền rất rõ rệt nên yêu cầu đặt ra cho các thiết chế là cần sự bảo
đảm bổ trợ lẫn nhau về chức năng, tránh những xung đột về thẩm quyền.
Chủ động kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp độc
quyền, kịp thời phát hiện những biểu hiện độc quyền doanh nghiệp gây tác
động tiêu cực cho nền kinh tế. Các cơ quan quản lý nhà nước cần thường
xuyên theo sát diễn biến thị trường, tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý
nghiêm khắc các hành vi lạm dụng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh,
trục lợi, không tuân thủ các yêu cầu quy định của pháp luật về cạnh tranh.
Tăng cường giám sát, quản lý các hoạt động sát nhập, hợp nhất, kịp thời phát
hiện các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế có khả năng hình thành độc
quyền doanh nghiệp, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh. Mục tiêu của hoạt
động này nhằm tránh tạo ra các doanh nghiệp độc quyền hoặc thống lĩnh mới
trên thị trường dẫn đến việc hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và phá
nâng cao ý thức thực thi pháp luật, đặc biệt là luật cạnh tranh, luật doanh
nghiệp... cho các đối tượng hiểu và thực hiện đúng pháp luật.
* Đối với tổ chức xã hội nghề nghiệp, cộng đồng dân cư và người dân:
Cần nâng cao ý thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận cao của các tổ
chức xã hội và người dân trong chống độc quyền doanh nghiệp. Để nâng cao
ý thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận cao của các tổ chức xã hội và người dân
trong chống độc quyền doanh nghiệp cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục
cho các đối tượng nắm và hiểu rõ pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền. Có
vỡ cấu trúc thị trường. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến,
152
hình thức, phương pháp tuyên truyền đa dạng, phong phú, xác định nội dung
tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng. Phát huy vai trò của hệ thống thông
tin, truyền thông trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các tổ
chức xã hội và người dân trong chống độc quyền doanh nghiệp.
Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
trong tạo lập môi trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Cùng
với các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội cũng phải đẩy mạnh các hoạt
động tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho các đối tượng về cạnh tranh,
chống độc quyền. Đây là nhiệm vụ và trách nhiệm hàng đầu của các hội.
Thực tế cho thấy, nhờ số lượng và phạm vi hoạt động rộng khắp trên cả nước
nên việc truyền tải các nội dung văn bản pháp luật đến nhiều đối tượng khác
nhau sẽ được thực hiện dễ dàng nếu có sự tham gia của các hiệp hội. Thông
qua các hình thức đa dạng và phong phú như in và phát hành tài liệu, treo
băng rôn, tổ chức tọa đàm... để tuyên truyền kiến thức. Đối tượng hướng tới
của các hiệp hội từ doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả các thành viên của
hội. Nội dung tuyên truyên tập trung vào kiến thức pháp luật và kinh nghiệm
trong nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, hoặc các vấn đề cạnh tranh
đang thu hút sự chú ý của dư luận. Cũng cần lưu ý là thông qua các hoạt động
tuyên truyền này, thương hiệu và khả năng của các hiệp hội sẽ được biết đến
nghiệp. Cùng với đó, cần tăng cường sự phối hợp, trao đổi làm việc giữa các
hội với các cơ quan nhà nước, với doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Các hiệp hội cần hợp tác chặt chẽ với cơ quan quản lý cạnh tranh trong
việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành
hàng về pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;
tích cực phòng chống các vi phạm pháp luật nhằm xây dựng môi trường
cạnh tranh lành mạnh và cơ chế kinh tế thị trường phát triển bền vững.
ngày càng nhiều hơn trong cộng đồng người tiêu dùng và cộng đồng doanh
153
Nâng cao vai trò của hiệp hội trong việc hỗ trợ doanh nghiệp về pháp luật
cạnh tranh để duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và tham vấn hòa
giải khi các doanh nghiệp có khiếu kiện nhau liên quan đến các vấn đề
cạnh tranh. Đồng thời, tăng cường liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp
với nhau, giữa các doanh nghiệp với hiệp hội ngành hàng và cơ quan quản
lý Nhà nước, giúp các tổ chức, cá nhân trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh theo đúng quy định của pháp luật.
Tăng cường hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp cũng như người tiêu
dùng. Đây cũng là một trong những chức năng chính và cũng là trách nhiệm
của các hiệp hội. Hoạt động tư vấn, hỗ trợ cho người tiêu dùng thực tế được
thực hiện từ rất sớm và là hoạt động nổi bật của các hội. Thông qua các văn
phòng tiếp nhận và giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng để giải quyết các
yêu cầu, khiếu nại của người tiêu dùng. Do đó, các hiệp hội cần kết nối chặt
chẽ với với người tiêu dùng, kịp thời nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của họ, từ
đó đưa ra những tư vấn sát đúng, phù hợp, đảm bảo giải quyết nhanh và chính
xác các yêu cầu của người tiêu dùng.
Cần tích cực nghiên cứu, khảo sát thực tế, tập hợp ý kiến, phản ánh nhu cầu
của người tiêu dùng. Thực tế cho thấy, các cơ quan quản lý nhà nước khó có thể
phát hiện tất cả các vấn đề của người tiêu dùng, do vậy, sự tham gia nghiên cứu và
công bố các vấn đề tiêu dùng đang gây quan ngại cho cộng đồng là trách nhiệm
động nghiên cứu, khảo sát thực tế của các hội, nhiều vấn đề tiêu dùng nóng bỏng
sẽ được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng để cảnh báo người tiêu dùng,
đồng thời đây là kênh thông tin quan trọng, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện
và xử lý các vi phạm xảy ra trên phạm vi của các doanh nghiệp.
Kịp thời cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có dấu hiệu lạm dụng độc quyền gây ảnh hưởng
cần thiết và mang lại giá trị thực tế cao cho người tiêu dùng. Thông qua các hoạt
154
tiêu cực tới nền kinh tế cũng như người tiêu dùng. Kết hợp với trách nhiệm
khảo sát, thử nghiệm, công bố kết quả khảo sát, các tổ chức xã hội cũng có thể
tận dụng các thông tin điều tra để thực hiện trách nhiệm cung cấp cho cơ quan
quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp
luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Với lợi thế phạm vi
hoạt động sâu rộng, gắn bó trực tiếp với các hoạt động tiêu dùng của người
dân, cùng với đó là khả năng chuyên môn trong lĩnh vực phát hiện các dấu hiệu
gây ảnh hưởng tiêu cực môi trường cạnh tranh, vi phạm quyền lợi người tiêu
dùng, các tổ chức xã hội thực sự là “tai mắt” của các cơ quan quản lý nhà nước
trong việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp.
Cần tích cực, chủ động tham gia đóng góp, góp ý vào nội dung các văn
bản pháp luật liên quan đến cạnh tranh, chống độc quyền. Thực tế, các văn bản
được ban hành trong thời gian vừa qua trong lĩnh vực cạnh tranh, chống độc
quyền như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, các nghị định… đều mang
tiếng nói và phản ảnh những đóng góp thiết thực của các tổ chức xã hội. Các hội,
trong phạm vi hoạt động của mình, cần chủ động trong việc tổ chức các hội nghị
lấy ý kiến đóng góp cho các văn bản pháp luật, và thực tế, nhiều góp ý của hội
đã được tiếp thu và đưa vào các văn bản pháp luật. Việc thực hiện trách nhiệm
trên đây của các hội không chỉ đảm bảo tiếng nói quyền lợi của các hội trong
lĩnh vực cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, mà còn thể hiện trách
bằng và đáp ứng các thay đổi của thực tế hoạt động bảo vệ người tiêu dùng.
Nhà nước cần sớm ban hành luật hoặc nghị định riêng nhằm nâng cao
vai trò hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam. Thiết lập một cơ chế
rà soát và tham vấn tự động để các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan,
bao gồm các hiệp hội doanh nghiệp, có thể góp ý kiến vào các dự thảo luật và
quy định chính sách trong một khoảng thời gian cần thiết trước khi ban hành.
Cần có cơ chế theo dõi và đánh giá xem các ý kiến đóng góp đã được tiếp thu và
phản ánh vào các dự thảo chính sách như thế nào. Cũng cần có một cơ chế cho
nhiệm của hội trong việc đóng góp, xây dựng môi trường pháp lý tiêu dùng công
155
phép các doanh nghiệp và công dân được kháng nghị hành chính đối với các quy
định và chính sách trái luật hoặc không phù hợp. Khi cần thiết, các hiệp hội là
người đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích
công cộng của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng.
*Đối với người tiêu dùng:
Nâng tầm tiếng nói của người tiêu dùng trong xây dựng môi trường
cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường, người
tiêu dùng được coi là “thượng đế” và luôn là đối tượng hướng tới của các
doanh nghiệp. Một thể chế kinh tế thị trường hiện đại phải hướng về người
tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm chủ thể. Nền kinh tế Việt Nam đang hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu và được nhiều nước trên thế giới công
nhận là nền kinh tế thị trường. Vì vậy, hơn lúc nào hết người tiêu dùng cần
phải thể hiện trách nhiệm của mình bảo vệ môi trường cạnh tranh, chống độc
quyền. Để nâng tầm tiếng nói của mình, người tiêu dùng cần phải nâng cao sự
hiểu biết và khả năng tự bảo vệ của chính bản thân họ, cần có sự lựa chọn
đúng đắn, tự phòng vệ và trách nhiệm đấu tranh với các hành vi vi phạm của
doanh nghiệp làm tổn hại lợi ích của xã hội cũng như của người tiêu dùng, để
họ thực sự trở thành những người tiêu dùng thông thái.
3.2.3. Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước theo hướng giảm
Từ thực trạng hoạt động của DNNN trong thời gian qua đặt ra vấn đề cần
phải tiếp tục đổi mới, cải cách doanh nghiệp doanh nghiệp nhà nước theo hướng
giảm bớt tính độc quyền. Đây là giải pháp quan trọng trong giai đoạn hiện nay
nhằm vừa nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, làm nòng cốt để
kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng
để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng
thời, hạn chế những tác động tiêu cực do độc quyền tạo ra. Để thực hiện đẩy
mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, cần tập trung vào một số biện pháp sau:
bớt tính độc quyền
156
Một là, tiếp tục rà soát, phân loại, xác định rõ những tiêu chí cụ thể đối
với DNNN lớn, độc quyền. Chính phủ cần có những quy định cụ thể những
lĩnh vực cho phép độc quyền, hạn chế độc quyền, giảm bảo hộ, hạn chế độc
quyền trong sản xuất. Phân biệt rõ độc quyền nhà nước và độc quyền doanh
nghiệp. Tùy thuộc vào các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế tại từng thời
kỳ, Nhà nước xác định ấn định những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước giữ độc
quyền. Phương thức thực hiện độc quyền nhà nước cũng cần thay đổi. Trước
đây, độc quyền nhà nước đồng nhất với độc quyền doanh nghiệp. Điều này có
nghĩa là sẽ có một số doanh nghiệp nhà nước được hưởng những ưu đãi đặc
biệt so với các doanh nghiệp khác. Nay cần phải điều chỉnh lại theo hướng:
Nhà nước giữ độc quyền nhưng có thể cho phép nhiều doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau tham gia nhưng phải tuân theo những quy
định đặc thù của Nhà nước. Điều này tạo khả năng cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong việc thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước thông qua
đấu thầu công khai. Nhà nước độc quyền một số lĩnh vực nhưng Nhà nước
không tự mình lập các doanh nghiệp để thực hiện độc quyền, mà ban hành
các chuẩn mực, quy tắc, yêu cầu để bất kỳ doanh nghiệp nào, nếu có đủ
điều kiện đều có thể tham gia. Đây chính là cách tốt nhất để giải quyết hai
yêu cầu vốn mâu thuẫn nhau về bản chất: cạnh tranh và độc quyền.
ở những lĩnh vực hoạt động chính như: Quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ
quyền quốc gia; độc quyền tự nhiên; hàng hóa công cộng không thuần túy
(trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa là một số ngành, lĩnh vực
liên quan đến tiềm lực tài chính quốc gia); một số ngành, lĩnh vực công nghệ
cao có sức lan tỏa tạo lợi thế cạnh tranh, nhưng đầu tư có tính rủi ro cao nên
các doanh nghiệp khác không làm, các ngành, lĩnh vực cung cấp hàng hóa dịch
vụ công thiết yếu, thực hiện an sinh xã hội, nhất là ở những vùng khó khăn.
Thực tế và nghiên cứu cho thấy rằng, chỉ nên duy trì, phát triển DNNN
157
Ngoài những lĩnh vực trên, yêu cầu phải có lộ trình phù hợp và xóa bỏ độc
quyền ở một số lĩnh vực: Khai thác khoảng sản, kinh doanh xăng dầu, vận tải
đường sắt, đường bộ, rút khỏi những ngành cạnh tranh, như dệt may, hóa chất,
điện dân dụng, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, du lịch. Phân định rõ
ngành, lĩnh vực nào Nhà nước nắm 100% vốn; ngành, lĩnh vực nào nắm cổ
phần chi phối và ngành, lĩnh vực nào không cần DNNN, cần đẩy mạnh cổ phần
hóa thoái vốn nhà nước, kiên quyết xử lý dứt điểm các DNNN thua lỗ kéo dài.
Hai là, đổi mới cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với
DNNN, DNNN độc quyền và cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại doanh
nghiệp. Theo đó, cần hình thành tổ chức thực hiện thống nhất chức năng đại
diện chủ sở hữu đối với DNNN. Trước mắt, tập trung xem xét, điều chỉnh sự
phân cấp, phân công giữa Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền các địa
phương trong việc thực hiện chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu
DNNN cấp trên của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, và không trực tiếp
chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó, phân định rõ
quyền chủ sở hữu của Nhà nước và quyền chủ động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Cần xác định rõ hai mục tiêu và hai cơ chế quản lý tính chất hoạt
động công ích và kinh doanh của các DNNN trong sự bình đẳng với các doanh
nghiệp khác, từ đó, làm rõ cơ chế quản lý phù hợp. Đây cũng là “điểm nút” để
hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong thực
tiễn quản lý nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN lớn, độc
quyền khiến các doanh nghiệp này không hoạt động hiệu quả như mong muốn
và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.
Xây dựng cơ chế quản lý và hoạt động của các tập đoàn kinh tế và tổng
công ty nhà nước theo hướng xóa bỏ dần độc quyền doanh nghiệp và giảm hỗ
trợ của Nhà nước, công khai các hoạt động của các doanh nghiệp này. Thực hiện
triệt để hơn phân định và tăng cường chức năng quản lý nhà nước và chức
giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán, đánh giá các
158
năng thực hiện quyền chủ sở hữu trên cơ sở hoàn thiện cơ chế phân cấp thực
hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo nguyên tắc phải có một
cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính theo dõi việc sử dụng vốn, tài sản
nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, kể cả tập
đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đặc biệt. Nêu cao vai trò và trách nhiệm
của Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và ban thường vụ đảng ủy. Mở
rộng diện và tiến tới áp dụng bắt buộc chế độ thi tuyển, hợp đồng có thời hạn
tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh đối với giám đốc, tổng giám đốc.
Ba là, đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, chú trọng vào các tập đoàn kinh tế,
tổng công ty theo hướng giảm số lượng DNNN và giảm vốn nhà nước tại
doanh nghiệp. Thực hiện đa dạng hoá sở hữu trong các DNNN, thu hút các nhà
đầu tư chiến lược tư nhân lớn có năng lực tài chính, quản trị trong và ngoài
nước tham gia đầu tư vào DNNN. Đẩy mạnh cổ phẩn hóa và tái cấu trúc các
doanh nghiệp nhà nước là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để áp đặt kỷ luật
thị trường cạnh tranh đối với doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước để nhằm thu hẹp phạm vi, quy mô hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước nhằm thị trường hóa hoạt động của nền kinh tế, đẩy mạnh
cạnh tranh và kiểm soát tốt độc quyền. Đồng thời, thu hồi một phần vốn đã đầu
tư ở các doanh nghiệp nhà nước về cho ngân sách để tập trung vốn giành cho
quan hành chính của Nhà nước tập trung nguồn lực cho quản lý xã hội, hoạch
định và thực hiện tốt các chính sách ổn định kinh tế - xã hội, tạo hành lang
pháp lý tốt, tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội tốt cho phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện tốt công việc bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự xã
hội, bảo đảm tốt phúc lợi xã hội nhằm từng bước nâng cao đời sống của nhân
dân. Trong thời gian tới cần tập trung vào đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước nhằm thu hẹp phạm vi và giảm thiểu tỷ trọng, số lượng doanh nghiệp
mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Chỉ duy trì những doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư vào các hoạt động sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, và giúp các cơ
159
nhà nước trong một số ngành, lĩnh vực mà Nhà nước cần độc quyền, giữ vị trí
then chốt của nền kinh tế và các lĩnh vực mà doanh nghiệp khu vực kinh tế tư
nhân không hoặc chưa muốn, chưa có khả năng tham gia. Rà soát, điều chỉnh
những quy định không phù hợp đang cản trở quá trình cổ phần hóa DNNN.
Để đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cần phải xóa bỏ
quan điểm phải bán cổ phần của doanh nghiệp nhà nước với giá cao để vốn
nhà nước đã đầu tư không bị thất thoát. Vấn đề không phải là thu hồi đầy đủ
vốn đã bỏ ra đầu tư hoặc có lãi khi thu hồi vốn đã đầu tư trong việc thực hiện
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mà vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước là để thực hiện các mục tiêu như đã phân tích ở trên. Do đó, không
nên lấy lý do thị trường chứng khoán đang sụt giảm để làm chậm quá trình cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước. Ngược lại, trong điều kiện khó khăn hiện nay là cơ hội để đẩy mạnh tái
cấu trúc doanh nghiệp nhà nước thông qua cổ phần hóa. Đối với các doanh
nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa nhưng Nhà nước còn chiếm tỷ lệ
cổ phần chi phối thì phải nhanh chóng thoái vốn để tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp này thực hiện tốt nhất kỷ luật thị trường. Bởi vì, nếu còn chiếm
tỷ trọng vốn lớn, thì Nhà nước còn chi phối doanh nghiệp đó và doanh nghiệp
đó cũng sẽ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Nhà nước thông qua ban quản lý
doanh nghiệp chủ yếu do Nhà nước đề cử.
là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước trong những lĩnh vực, ngành nghề
độc quyền tự nhiên. Hoàn thiện khung pháp lý để doanh nghiệp nhà nước phải
hoạt động công khai, minh bạch và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt phải sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực đã đầu tư. Mở rộng chế độ đấu thầu, đặt hàng sản xuất, cung ứng
sản phẩm, dịch cụ công ích. Áp đặt kỷ luật thị trường, tăng cường kiểm tra,
giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch trên cơ sở mở rộng diện niêm yết trên
Bốn là, thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của DNNN, đặc biệt
160
thị trường chứng khoán. Đối với các DNNN được Nhà nước giao nhiệm vụ
sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, quốc phòng, an ninh hoặc
bình ổn giá, thì Nhà nước có cơ chế, chính sách để doanh nghiệp hạch toán
kinh doanh bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ này. Chức năng hỗ trợ điều tiết vĩ
mô và bảo đảm an sinh xã hội của doanh nghiệp phải được đổi mới và thay
thế bằng cơ chế đặt hàng của Nhà nước, được hạch toán theo cơ chế thị
trường. Cùng với đó, ban hành quy định công khai kết quả, hiệu quả sản xuất,
kinh doanh và trách nhiệm giải trình của lãnh đạo doanh nghiệp, của các cơ
quan quản lý nhà nước. Ban hành tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp đồng thời với chế độ công bố minh bạch báo cáo tài chính,
thông tin tài chính, kinh doanh, điều hành của các tập đoàn kinh tế, tổng công
ty nhà nước. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, đánh giá cán
bộ quản lý ở doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện cơ chế đầu tư, kinh doanh
vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp
Năm là, cải cách mô hình quản trị đối với các doanh nghiệp nhà nước.
Theo đó, khẩn trương bổ sung hoàn thiện thể chế quản lý DNNN, đồng thời với
việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Các DNNN
phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn phù hợp với quy định của pháp luật. Ở cấp độ hệ thống, cần phải tách bạch
cấp độ công ty, cần minh bạch tới mức tối đa có thể kết quả hoạt động của khu
vực DNNN. Trừ những trường hợp đặc biệt, ảnh hưởng đến quốc phòng, an
ninh, hay đối ngoại, ngoài ra các DNNN, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty
nhà nước, phải công khai báo cáo kiểm toán của mình, nhờ đó tăng cường sự
giám sát của các nhà chuyên môn cũng như của toàn xã hội. Người dân với tư
cách là chủ sở hữu cuối cùng của các DNNN ít nhất cũng phải có quyền được
biết hiện trạng thực của các doanh nghiệp này như thế nào. Các tập đoàn kinh tế,
các tổng công ty nhà nước lớn cần phải được cơ cấu lại, được kiểm toán hằng
các chức năng quản lý hành chính nhà nước, điều tiết, và kinh doanh trực tiếp. Ở
161
năm, tăng cường vai trò và sự giám sát, kiểm tra của đại diện chủ sở hữu nhà
nước, nhất là trong việc phê duyệt điều lệ, quyết định chiến lược phát triển sản
xuất, kinh doanh, quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.
Sáu là, đưa các DNNN vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các
thành phần kinh tế khác. Từ thực tiễn cho thấy, khi phải đối diện với cạnh
tranh (từ bên trong cũng như bên ngoài) và khi không thể dựa dẫm một cách
vô điều kiện vào Nhà nước thì DNNN buộc phải cải thiện hiệu quả để tồn tại.
Theo đó, cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành độc quyền. Cần
có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia vào sản
xuất kinh doanh trong các lĩnh vực độc quyền thông qua quá trình xã hội hóa.
Cơ hội tham gia của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cao thì cơ hội độc
quyền của doanh nghiệp càng ít, và người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội lựa
chọn những sản phẩm hàng hóa phù hợp. Nhà nước cần xây dựng cơ chế rõ
ràng để các chủ thể có thể tham gia, thực hiện đơn giản hóa các thủ tục hành
chính, bảo đảm sự thuận tiện khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham
gia vào “sân chơi”, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài, ổn định cho các chủ thể.
Bên cạnh đó, kích thích sự cạnh tranh trong nội bộ doanh nghiệp độc
quyền, Nhà nước phải thiết lập được cơ chế thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh
tập đoàn, doanh nghiệp, coi đây như một giải pháp tạo thị trường bên trong tập
đoàn. Doanh nghiệp, tập đoàn nào bảo đảm tính độc lập, tự chủ trong chỉnh thể
thống nhất thì tập đoàn đó sẽ dễ dàng xây dựng được môi trường cạnh tranh nội
bộ. Cần xây dựng hệ thống kiểm soát và điều tiết cạnh tranh, không để xảy ra
tình trạng xung đột giữa các đơn vị thành viên, vừa tạo ra áp lực cạnh tranh
thúc đẩy, phát triển, vừa hạn chế được các “thủ đoạn” cạnh tranh thiếu lành
mạnh. Cho phép thành lập doanh nghiệp mới để thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh
vực độc quyền. Nhà nước có thể cho phép thành lập nhiều doanh nghiệp hoạt
của doanh nghiệp không chỉ với môi trường bên ngoài mà ngay cả trong nội bộ
162
động sản xuất, kinh doanh trong cùng một loại hình hàng hóa, tránh tình trạng
thị trường duy nhất một người cung ứng. Các DNNN được phép cạnh tranh với
nhau trong việc thu hút khách hàng trên thị trường. Điều đó làm cho thị trường
hoàn hảo hơn, cơ hội cạnh tranh trong nội bộ ngành trở nên phong phú hơn.
Đặt các doanh nghiệp độc quyền trong môi trường cạnh tranh với khu
vực, quốc tế buộc các doanh nghiệp đó không ngừng hoàn thiện, đổi mới,
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là đến cuối năm 2015, Cộng
đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ được thiết lập, 10 nước ASEAN sẽ hình
thành một thị trường thống nhất và Việt Nam đang tích cực đàm phán để gia
nhập Hiệp định Hợp tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Do đó, việc
đặt các doanh nghiệp độc quyền trong môi trường cạnh tranh với khu vực,
quốc tế thực hiện cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật là động lực cần thiết để
nâng cao hiệu quả và sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam.
3.2.4. Sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước
trong kiểm soát, chống độc quyền doanh nghiệp
Đây là giải pháp mang tính kỹ thuật, cần có để bảo đảm hoạt động
chống độc quyền doanh nghiệp đạt hiệu qủa. Để thực hiện giải pháp này, cần
tập trung làm tốt một số biện pháp sau:
Một là, thực hiện kiểm soát giá sản phẩm của các ngành sản xuất kinh
khách quan. Mỗi hình thái thị trường (cạnh tranh; độc quyền; cạnh tranh-độc
quyền) đều có cách thức quản lý, chính sách điều tiết giá riêng của nó. Trên thị
trường cạnh tranh, giá cả do thị trường quyết định (do doanh nghiệp tự quyết
định theo cung- cầu trên thị trường), trên thị trường độc quyền giá cả do Nhà
nước quyết định. Đó là cách thức quản lý giá của cơ chế thị trường. Điều này
được thể hiện trong các văn bản pháp quy ở nước ta cũng như trong Luật của
các nước có nền kinh tế thị trường. Tại những nước có nền kinh tế thị trường
phát triển, pháp luật được coi trọng, kiểm toán được tiến hành thường xuyên,
doanh độc quyền. Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh và độc quyền tồn tại
163
các doanh nghiệp độc quyền đều phải kiểm soát giá cả (thông qua việc Nhà
nước định giá), coi đây là biện pháp rất cơ bản nếu khả năng cạnh tranh còn ít.
Vì vậy, để thực hiện biện pháp này, trước hết cần ban hành và thực hiện
nghiêm chính sách và kiểm soát giá cả sản phẩm độc quyền, hay nói cụ thể hơn
là chính sách định giá sản phẩm độc quyền (bao gồm cả giá bán và giá mua).
Theo đó, quy định giá giới hạn và quy định khung giá (giá sàn và giá trần) đối
với các sản phẩm độc quyền cùng với hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm.
Nếu sản phẩm đó trên thị trường chưa có sự cạnh tranh thực sự (còn độc quyền
– như điện, xăng dầu), không để cho doanh nghiệp tự quyết định về giá. Đây là
nguyên tắc quản lý giá đối với sản phẩm độc quyền trong nền kinh tế thị
trường. Nhà nước phải là người quyết giá, định giá, chỉ có Nhà nước mới đảm
bảo được nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu
dùng. Việc quy định giá độc quyền này của Nhà nước là thể hiện việc thực hiện
cơ chế thị trường, chứ không phải là cơ chế hành chính mệnh lệnh. Đây là một
trong những biểu hiện tập trung của vai trò điều tiết trong “cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước”. Về lý thuyết cũng như thực tiễn về chính sách
giá đó được minh chứng trong nền kinh tế thị trường là: Chính sách can thiệp
trực tiếp về giá cả đối với doanh nghiệp độc quyền là giải pháp tốt thứ hai sau
giải pháp cạnh tranh hoá mà khoa học và thực tiễn kinh tế thế giới đã tìm ra cho
đến nay, mặc dù giải pháp này có khiếm khuyết lớn là vẫn chưa loại trừ được
đảm trách việc định giá. Thứ hai, có thiết chế cơ quan độc lập, hay bộ phận độc
lập, có nghiệp vụ chuyên môn về giá cả, nghiệp vụ sâu về kinh doanh loại sản
phẩm độc quyền đó, có thẩm quyền pháp lý thực hiện chính sách định giá sản
phẩm độc quyền, quan trọng nhất là kiểm soát, nắm bắt chính xác được chi phí
sản xuất và trên cơ sở xác định và quy định được giá tối ưu sẽ do cơ quan hoặc
khả năng nảy sinh quan hệ tiêu cực giữa doanh nghiệp độc quyền và cơ quan
kiến rộng rãi của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật am hiểu về hàng hóa, dịch vụ
đó. Trong giai đoạn trước mắt, cần nhanh chóng chấm dứt việc giao quyền tự
bộ phận tư vấn trình Chính phủ ban hành. Quá trình duyệt giá cần tham khảo ý
164
định giá cho các doanh nghiệp độc quyền hoặc ngành độc quyền. Việc chấm
dứt này không căn cứ vào ý nghĩa kinh tế hay độ lớn của giá trị sản phẩm, dịch
vụ mà phải căn cứ vào tính độc quyền của sản phẩm. Thứ ba, nhanh chóng rà
soát và xác định các loại sản phẩm, dịch vụ độc quyền trong nền kinh tế để làm
căn cứ xác định đối tượng chịu sự điều chỉnh của chính sách định giá sản phẩm
độc quyền. Cần tập trung lưu ý đặc biệt với loại hình độc quyền mua. Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Nhà nước nhận thức rằng loại hình độc
quyền này sẽ ngày một hình thành nhanh chóng. Thứ tư, kiên trì thực hiện lộ
trình giá thị trường đối với những sản phẩm Nhà nước còn định giá, điều chỉnh
chiến lược thị trường và thống nhất việc quản lý giá về một đầu mối cơ quan,
tránh chồng chéo. Nên tập trung về một đầu mối chức năng, trách nhiệm quản
lý về giá cho một cơ quan, tránh sự trùng lặp. Nên tách hoạt động định giá ra
khỏi cơ quan quản lý Nhà nước. Hoạt động định giá thuộc về các tổ chức độc
lập, khách quan, theo luật pháp quy định. Cơ quan quản lý Nhà nước chỉ ban
hành tiêu chuẩn, chuẩn mực, phương pháp định giá.
Hai là, xây dựng cơ chế công bố và tiếp cận thông tin, tạo sự công khai
minh bạch trong xác định giá các sản phẩm của doanh nghiệp độc quyền. Thực
hiện công khai minh bạch không những tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận
thông tin, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để cho mọi người dân giám sát,
hiệu quả của thị trường. Theo đó, giá trần sản phẩm sẽ được cơ quan nhà nước
công bố công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác
của số liệu công bố. Ban hành và hướng dẫn thực hiện phương pháp tính giá,
niêm yết giá thống nhất cho các doanh nghiệp, ngành độc quyền, từ đó tạo
khuôn mẫu chung cho các doanh nghiệp tự định giá sản phẩm của mình.
Ba là, cần có cơ chế điều tiết bảo đảm ổn định thị trường, cân đối cung
- cầu về sản phẩm thiết yếu, sản phẩm có tính độc quyền cho nền kinh tế. Cần
chuyển đổi cơ chế điều tiết giá những hàng hóa thiết yếu, hàng hóa có tính
chất độc quyền cho phù hợp với giá thị trường quốc tế. Từ bỏ hẳn cơ chế bao
ngăn ngừa tình trạng lạm dụng, hạn chế đầu cơ, giảm chi phí kinh doanh và tăng
165
cấp, định giá trái với cách thức quản lý giá của nền kinh tế thị trường, quản lý
theo kiểu hành chính đối với kinh doanh hàng hóa có tính chất độc quyền. Cần
có chính sách điều tiết giá phù hợp với cách thức quản lý giá của sản phẩm độc
quyền trong nền kinh tế thị trường. Thị trường trong nước cần được điều hành
linh hoạt các yếu tố của cơ cấu giá hàng hóa có tính chất độc quyền, để đảm bảo
giá hàng hóa đó ổn định phù hợp với giá thế giới. Không định giá trong nước cố
định một cách cứng nhắc tách rời giá thế giới. Việc điều tiết cần được hình thành
bằng một hệ thống chính sách và công cụ kinh tế để phát huy vai trò quản lý của
Nhà nước và vai trò tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, trước hết là đối với
những doanh nghiệp lớn trong sản xuất, xuất - nhập khẩu và phân phối sản phẩm
độc quyền, Nhà nước chỉ điều tiết ở thời điểm cần thiết.
Bốn là, Nhà nước cần có cơ chế tài chính nhằm điều tiết lợi nhuận độc
quyền phục vụ cho nhu cầu chung của xã hội. Áp dụng mức thuế thu nhập
doanh nghiệp cơ bản cao hơn mức bình thường đối với ngành độc quyền có
lợi nhuận siêu ngạch, thực hiện đánh thuế thu nhập bổ sung, thực hiện định
mức khống chế tối đa với các khoản chi phí như quảng cáo, tiếp thị, tiền
lương... nhằm thúc đẩy tiết kiệm, giảm chi phí, hạ giá thành
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát của cơ quản quản lý giá đối với
những hàng hóa sản phẩm có tính chất độc quyền. Kết hợp giữa kiểm tra
thường xuyên với kiểm tra đột xuất chi phí sản xuất, giá thành, việc chấp
giả tạo. Thực hiện kiểm toán bắt buộc, định kỳ đối với các doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh các hàng hóa dịch vụ độc quyền, báo cáo kết quả kiểm toán
hoạt động tài chính lên các cơ quan chức năng xem xét, giám sát.
Sáu là, thực hiện kiểm soát chi phí sản xuất của doanh nghiệp độc
quyền. Theo đó, cần kiểm tra chi phí sản xuất, giá thành, giá bán của các loại
hàng hóa khi có sự biến động về giá. Đặc biệt coi trọng kiểm soát chi phí, giá
thành của các hàng hóa dịch vụ độc quyền, qua đó có thể sử dụng các biện pháp
kinh tế, hành chính, tổ chức để xử lý.
hành mức giá, chống gian lận trong kinh doanh tạo ra sự mất cân đối cung cầu
166
3.2.5. Tăng cường hợp tác với các định chế của khu vực và thế giới
trong hoạt động chống độc quyền
Chống độc quyền doanh nghiệp là lĩnh vực còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam,
nhưng lại có bề dày lịch sử tại các nước phát triển. Vì vậy, hợp tác quốc tế được xác
định là cầu nối giữa cơ quan cạnh tranh còn non trẻ của Việt Nam với cơ quan cạnh
tranh nhiều kinh nghiệm trên thế giới nhằm chia sẻ những thông tin, kinh nghiệm,
nhất là trong bối cảnh hiện nay, cùng với toàn cầu hóa nền kinh tế, các hoạt động
các-ten ngày càng có xu hướng mở rộng ra phạm vi quốc tế. Số lượng các vụ việc
các- ten xuyên biên giới ngày một gia tăng, thì nhu cầu hợp tác giữa các cơ quan
cạnh tranh của các quốc gia khác nhau trở nên cấp thiết nhằm đảm bảo hiệu quả
thực thi chống các- ten. Hợp tác quốc tế chính là chìa khóa quan trọng để đảm bảo
hành vi các- ten xâm phạm đến lợi ích cạnh tranh ở nhiều quốc gia được xử lý một
cách hiệu quả và tối ưu. Theo đó, cần thực hiện một số biện pháp sau:
Một là, đẩy mạnh hoạt động trao đổi, nghiêm cứu kinh nghiệm đối với
các quốc gia khác, nhất là các quốc gia có nền kinh tế tương đồng với nước ta
trong xây dựng thể chế, cơ chế quản lý, kiểm soát chống độc quyền. Thông
qua các hoạt động trao đổi nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia, Việt
Nam sẽ từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật được quốc tế thừa nhận
như quy chế đối xử tối huệ quốc, quy chế đối xủ quốc gia trong thương mại,
thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử, thuế
trong nước và sự cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài.
Đồng thời, từng bước xóa bỏ bảo hộ và độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước
để bảo đảm mức giá cung cấp các yếu tố đầu vào cơ bản như điện, nước, viễn
thông, hạ tầng… ở mức phù hợp. Đảm bảo và tạo điều kiện bình đẳng về mặt
pháp lý cho các doanh nghiệp, giảm bớt và đi đến xóa độc quyền kiểu cũ của kinh
tế quốc doanh trước đây tạo động lực cho cạnh tranh lành mạnh phát triển.
Cùng với đó, đẩy mạnh việc tham gia các hiệp định quốc tế về trọng tài, mở
rộng khả năng giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan trọng tài, đặc biệt là tranh
tự vệ, chế độ hạn ngạch thuế quan, quy chế xuất xứ nhằm bảo vệ thị trường
167
chấp quốc tế. Tiếp tục ban hành nghị định về các hiệp hội kinh tế bao gồm hiệp
hội ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp… làm đại diện bảo vệ quyền lợi của doanh
nghiệp, nhất là trên thị trường quốc tế và làm đầu mối quan hệ với quan nhà nước.
Cần thiết lập một cơ quan hoặc một chương trình kiểm duyệt chất lượng với các
tiêu chuẩn mang tính quốc tế để có một đầu mối kiểm định hàng hóa chính thức,
trước khi xuất khẩu ra nước ngoài nhằm bảo đảm hàng hóa xuất khẩu đáp ứng yêu
cầu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng của các thị trương.
Hai là, xây dựng cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các quốc gia
trong hợp tác quốc tế điều tra các - ten xuyên biên giới. Theo đó, cần ký kết
điều khoản pháp lý hoặc một hiệp định giữa các quốc gia hay giữa các cơ
quan cạnh tranh về trao đổi, chia sẻ thông tin về điều tra cac - ten, hoặc có thể
thông qua hỗ trợ kỹ thuật, trao đổi thông tin chung, thông tin giữa các cơ quan
quản lý cạnh tranh. Cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng các thông tin đó làm
chứng cứ trong thủ tục tố tụng của mình, tùy thuộc vào các nghĩa vụ thông tin
khác nhau ở những quốc gia đó. Việc trao đổi thông tin diễn ra giữa các cơ
quan quản lý cạnh tranh của các quốc gia giúp tăng cường đáng kể sức mạnh
của các cơ quan cạnh tranh để đối phó với các vụ việc các-ten.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế giữa cơ quan cạnh tranh Việt Nam với các
cơ quan cạnh tranh trong khu vực và thế giới trong điều tra các-ten thông qua
qua con đường không chính thức là hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh mà
không bao gồm việc chia sẻ thông tin bí mật hoặc thu thập chứng cứ trên danh
nghĩa của cơ quan khác. Hình thức hợp tác này phổ biến hơn so với các hình
thức hợp tác chính thức, bởi vì nó dễ thực hiện hơn và không vướng phải
những khó khăn về mặt pháp lý liên quan đến việc trao đổi các thông tin bí
mật tồn tại ở mỗi quốc gia. Thực tiễn cho thấy hợp tác trong phát hiện và điều
tra các-ten thường phải kết hợp cả hai hình thức hợp tác chính thức và không
chính thức giữa các cơ quan cạnh tranh. Sự tồn tại của các hiệp định quốc tế
các cấp độ khác nhau như song phương, khu vực hoặc đa phương. Hoặc thông
168
không đảm bảo cho sự hợp tác, ngược lại thiếu hiệp định quốc tế cũng không
có nghĩa là loại trừ hợp tác. Ưu điểm của phức hợp các hiệp định quốc tế giữa
các chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ là ở chỗ nó tạo ra một khuôn khổ
hợp tác chính thức, mặc dù còn tồn tại những hạn chế về mặt pháp lý. Theo
đó, việc ký kết các hiệp định quốc tế chính là dấu hiệu về khả năng và sự sẵn
sàng tham gia vào các cuộc đối thoại mang tính xây dựng với các cơ quan đồng
nhiệm nước ngoài. Thách thức đối với các cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam đó là
phải xác định sự cân bằng giữa những gì có thể đạt được thông qua hợp tác
không chính thức và những gì đòi hỏi phải có cơ chế hợp tác chính thức hơn
Phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng hệ thống quản lý thông tin
tích hợp về lĩnh vực cạnh tranh. Theo đó, cần đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin và hệ thống phần mềm tích hợp dữ liệu và quản lý
các vụ việc cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và phòng vệ thương mại.
Ba là, đẩy mạnh hoạt động hợp tác trong đào tạo cán bộ quản lý cạnh
tranh. Phối hợp với các tổ chức quốc tế, các cơ quan cạnh tranh nước ngoài, tổ
chức các khoá đào tạo ngắn hạn về kỹ năng điều tra cho các điều tra viên của
Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực hợp tác với các tổ chức quốc tế
trong lĩnh vực cạnh tranh như: Mạng lưới cơ quan cạnh tranh quốc tế (ICN);
Nhóm chuyên gia cạnh tranh của ASEAN (AEGC); Ban Cạnh tranh OECD;
này, Việt Nam cần tích cực hợp tác và tạo điều kiện cử các cán bộ ra nước
ngoài tham gia các khoá đào tạo ngắn và dài hạn, đào tạo kỹ năng và kinh
nghiệm cho các cán bộ cơ quan quản lý cạnh tranh để nâng cao kỹ năng xử lý
các vụ việc bảo vệ người tiêu dùng. Thực hiện khảo sát, học tập kinh nghiệm
ở các nước có kinh nghiệp trong chống độc quyền nhằm nâng cao trình độ
năng lực cho cán bộ quản lý.
Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)... Thông qua các tổ chức
169
Kết luận chương 3
Chống độc quyền doanh nghiệp là vấn đề khó, phức tạp. Vì vậy cần
nắm vững các quan điểm cơ bản mang tính định hướng, bao gồm: Chống độc
quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không nhằm loại bỏ doanh nghiệp độc quyền hay phủ định vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước mà là chống các hoạt động lạm dụng độc quyền của doanh
nghiệp gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế. Chống độc quyền doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm của cả
xã hội, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh là lực lượng nòng cốt.
Chống độc quyền doanh nghiệp phải được thực hiện đồng thời trong quá trình
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chống độc quyền
doanh nghiệp phải bảo đảm phù hợp với những quy định và thông lệ quốc tế.
Để chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN đạt kết quả tốt, cần thực hiện tốt các giải pháp, bao gồm: Tiếp
tục hoàn thiện thể chế thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong đó trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh; nâng cao vai trò
của các chủ thể trong quản lý cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp bao
gồm Nhà nước, doanh nghiệp, các hiệp hội và người tiêu dùng; tiếp tục sắp xếp,
đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh
soát, chống nghiệp độc quyền doanh nghiệp; tăng cường hợp tác với các định
chế trong khu vực và thế giới trong hoạt động chống độc quyền
Mỗi biện pháp có vị trí, vai trò nhất định, góp phần vào tạo lập môi
trường cạnh tranh, chống độc quyền doanh nghiệp, biện pháp trước là sơ cở,
tiền đề cho biện pháp sau, đến lượt nó, biện pháp sau bổ sung, hỗ trợ, làm
sáng tỏ biện pháp trước. Để hoạt động chống độc quyền đạt hiệu quả, cần vận
dụng linh hoạt các biện pháp trên, không tuyệt đối hóa cũng như coi nhẹ một
biện pháp nào.
tế; sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước trong trong kiểm
170
KẾT LUẬN
1. Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
nghiên cứu sinh cho rằng, việc nhìn nhận, đánh giá một cách có hệ thống dưới
góc độ kinh tế chính trị từ cơ sở lý luận đến thực tiễn chống độc quyền doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, có
cách nhìn toàn diện về thực trạng chống độc quyền doanh nghiệp trong nền
kinh tế nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp trong chống độc quyền doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề mới, không
trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố, có ý nghĩa cả về mặt lý
luận cũng như thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
2. Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN thực chất là là sự tác động của Nhà nước và chủ thể kinh tế đối
với những doanh nghiệp có hành vi độc quyền gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế,
trong đó Nhà nước và chủ thể kinh tế là chủ thể của hoạt động chống độc quyền
doanh nghiệp. Nội dung chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN bao gồm: Chống doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống
lĩnh, vị trí độc quyền; chống doanh nghiệp lạm dụng độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp; chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp
độc quyền; chống ấn định giá sản phẩm bất hợp lý nhằm thu lợi nhuận độc
hướng hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền.
3. Ở nước ta trong thời gian qua, tình hình độc quyền doanh nghiệp diễn
biến phức tạp: Hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền vẫn tồn tại; doanh nghiệp lạm dụng độc quyền nhà nước
thành độc quyền doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích doanh nghiệp; hoạt động
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp độc quyền ngày càng tinh
vi; hoạt động ấn định giá sản phẩm bất hợp lý nhằm thu lợi nhuận độc quyền
quyền cao; kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế của doanh nghiệp có xu
171
cao của doanh nghiệp độc quyền đã gây tác động tiêu cực cho xã hội và
người dân; hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp nhằm hình thành
vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có xu hướng gia tăng.
4. Chống độc quyền danh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp
phần vào tạo lập môi trường cạnh tranh, bảo đảm sự ổn định và phát triển của
nền kinh tế. Trong đó, thành công nhất là Việt Nam đã xây dựng được một hệ
thống khung khổ pháp lý và bộ máy quản lý về cạnh tranh, chống độc quyền,
và sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.Tuy nhiên, chống độc quyền danh nghiệp trong nền
kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập cả về mặt thể chế cũng như
tổ chức thực hiện. Những ưu, nhược điểm đó do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan chi phối, trong đó, nguyên nhân chủ quan giữ vai trò quan
trọng, chủ yếu. Bốn vấn đề đặt ra trong chống độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế nước ta là những vấn đề cơ bản. Việc giải quyết tốt những vấn đề
đặt ra sẽ góp phần vào hoạt động chống độc quyền doanh nghiệp đạt hiệu quả.
4. Để chống độc quyền danh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN thời gian tới đạt hiệu quả, đòi hỏi phải quán triệt bốn quan điểm đã được đề
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó trọng tâm là tạo lập môi trường
cạnh tranh lành mạnh; nâng cao vai trò của các chủ thể trong quản lý cạnh tranh,
chống độc quyền doanh nghiệp; tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh
của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế ; sử dụng hiệu quả các công cụ
quản lý kinh tế của Nhà nước trong trong kiểm soát, chống nghiệp độc quyền doanh
nghiệp; tăng cường hợp tác với các định chế của khu vực và thế giới trong hoạt
động chống độc quyền. Mỗi giải pháp có vị trí quan trọng khác nhau, làm tiền đề,
bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không tuyệt đối hóa, hay coi nhẹ một giải pháp nào.
cập, từ đó thực hiện tốt các giải pháp sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế thể chế kinh tế
172
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Trịnh Xuân Việt (2009), “Suy nghĩ về độc quyền trong các doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 29, tr 59- 63.
2. Trịnh Xuân Việt (2011), “Chống độc quyền doanh nghiệp trên thế giới
và một số bài học”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 23, tr 54- 56.
3. Trịnh Xuân Việt (2012), “Vận dụng quan điểm Mác- Lênin vào giải
quyết mối quan hệ cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí Giáo dục lý luận, HVCT-HCQG
HCM, số 188, tr 17- 20.
4. Trịnh Xuân Việt (2013), “Nhận diên độc quyền doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Giáo dục lý luận, HVCT-HCQG HCM, số 206, tr 23- 25.
5. Trịnh Xuân Việt (2014), “Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh
– giải pháp chống độc quyền doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Châu
Mỹ ngày nay, số 01, tr 29- 36.
6. Trịnh Xuân Việt (2014), “Chống độc quyền doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN - quan niệm và nội dung”, Tạp chí Quản
lý kinh tế, số 42, tr 15- 20.
173
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Khánh An, (2004), “Phải kiểm soát chặt hơn những doanh nghiệp độc
quyền”, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 243.
2. Nguyễn Thị Kim Anh, (2013), “Chuyển giá và chống chuyển giá của các công
ty xuyên quốc gia tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 422.
3. Bộ Công thương, (2011),“Báo cáo tổng hợp đánh giá, tổng kết 05 thực thi
pháp luật cạnh tranh” , Hà Nội.
4. Bộ Công thương, (2010), “Bảo vệ doanh nghiệp trong thương mại quốc
tế”, Nxb Công thương, Hà Nội.
5. Vũ Đình Bách, (2006), “Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Hoàng Chí Bảo, (2010), “Bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa
Mác- Lênin”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Lê Thanh Bình, (2012), “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người
tiêu dùng Việt Nam”, luận án tiến sĩ luật, HVCT-HCQG HCM, Hà Nội.
8. Bernard Guerrien, (2000), “Từ điển phân tích kinh tế” Nxb Tri thức, Hà Nội.
9. C.Mác và Ăng ghen toàn tập, (1995), Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. C.Mác và Ăng ghen toàn tập, (1995), Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. C.Mác và Ăng ghen toàn tập, (1995), Tập 25, P 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Vương Dật Châu, (2004), “An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa”,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Phạm Văn Chung, (2005), “Độc quyền nhà nước và độc quyền doanh
nghiệp”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật - Số 8(161).
15. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2009) “Báo cáo tập trung
kinh tế tại Việt Nam, hiện trạng và dự báo”, Hà Nội.
11. C.Mác và Ăng ghen toàn tập, (1993), Tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
174
16. Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, (2012), “Báo cáo cạnh tranh
trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế năm 2012”, Hà Nội.
17. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2013), “Báo cáo cạnh tranh
trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế năm 2012”, Hà Nội.
18. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2010), “Báo cáo hoạt động
của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2010”, Hà Nội.
19. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2011), “Báo cáo hoạt động
của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2011”, Hà Nội.
20. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2012), “Báo cáo hoạt động
của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2012”, Hà Nội
21. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2013), “Báo cáo hoạt động
của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2013”, Hà Nội.
22. Cục Quản lý Canh tranh - Bộ Công thương, (2007), “Kiểm soát tập trung kinh tế-
kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2012), “Báo cáo rà soát các
quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam”, Hà Nội.
24. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2010), “Báo cáo cạnh tranh
trong lĩnh vực dịch vụ tài chính- ngân hàng”, Hà Nội
25. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2010),“Báo cáo cạnh tranh
trên thị trường xăng dầu Việt Nam”, Hà Nội.
cạnh tranh trên thị trường sữa bột ở Việt Nam”, Hà Nội.
27. Cục Quản lý Canh tranh - Bộ Công thương, (2009), “Báo cáo tập trung kinh tế
tại Việt Nam, hiện trạng và dự báo”, Hà Nội.
28. Cục Quản lý Canh tranh- Bộ Công thương, (2010), “Lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, vị trí độc quyền”, Sổ tay pháp luật cạnh tranh, Hà Nội.
29. Cục Quản lý Canh tranh- Bộ Công thương, (2006), “ Lịch sử hình thành luật
Chống độc quyền Nhật Bản”, ấn phẩm Luật Chống độc quyền Nhật Bản,
Hà Nội.
26. Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công thương, (2010), “Báo cáo đánh giá
175
30. Hoàng Đình Cán, (1997), “Những biểu hiện mới của độc quyền tư bản
chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
31. Nguyễn Đình Cung, “Áp đặt kỷ luật của thị trường cạnh tranh thúc đẩy
tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước”.
32. Christopher, (2009), “Outline of the U.S. Economy” dịch “Phác thảo nền
kinh tế Mỹ”, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
33. Bùi Ngọc Chưởng, (1983), “Học thuyết của Lênin về chủ nghĩa đế quốc”,
Nxb sách giáo khoa Mác- lênin , Hà Nội.
34. Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III), (2009), "Hành
vi hạn chế cạnh tranh: Một số vụ việc điển hình của Châu Âu", Hà Nội.
35. Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III), (2011),
“Báo cáo các phương pháp quản lý hành vi cạnh tranh hạn chế cạnh
tranh trong viễn thông”,Hà Nội.
36. David W.Pearce, (1999), “Từ điển kinh tế học hiện đại” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Nguyễn Văn Dần, (2009), “Cấu trúc thị trường- lý luận và thực tiễn ở
Việt Nam”, Nxb Tài chính, Hà Nội.
38. Nguyễn Quốc Dũng, (2000), “Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
TƯ Đảng khóa IX” , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006),Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
41. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn
quốc lần thứ XI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Đảng Cộng Sản Việt Nam, (2013), Tài liệu nghiên cứu “Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa
XI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2004), “Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, BCH
176
43. Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, (2010), “Giáo trình Luật Cạnh tranh”.
44. Trâu Đông Đào, (2010), “Báo cáo phát triển kinh tế và cải cách thể chế
phát triển Trung Quốc 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc
(1978-2008)”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
45. Trần Minh Đạo, (2012), “Quản lý giá trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam”, Tạp chí Kinh tế & phát triển, số 184.
46. Đặng Minh Đức, (2010), “Chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu Âu
trong bối cảnh phát triển mới”, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
47. Bùi Hà, (1995), “Các hình thức và biện pháp khuyến khích cạnh tranh và kiểm
soát độc quyền trong nền kinh tế thị trường”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
48. Bùi Hà, (1993), “Độc quyền và chống độc quyền trong nền kinh tế thị
trường”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Viện nghiên cứu Quản lý
kinh tế TW, Hà Nội.
49. Phan Thanh Hà, (2003), “Chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, thực
trạng và giải pháp”, luận văn tốt nghiệp, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Đỗ Huy Hà, (2011), “ Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế gắn với củng cố quốc
phòng ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
51. Đồng Thị Hà, (2013), “Hoàn thiện chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc
luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
52. Trần Văn Hải, (2001), “Lý luận của V.I.Lênin về phân chia thị trường thế giới và
những biểu hiện mới trong giai đoạn hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. Nguyễn Lê Quý Hiển, (2012), “Chuyển biến quan hệ sản xuất trong cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế,
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
54. Đặng Vũ Huân, (2002), “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh
tranh không lành mạnh ở Việt Nam” luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội,.
quyền kinh doanh ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”,
177
55. Phạm Hoài Huấn, (2013), “Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí
độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
56. Trần Thanh Hương, (2013), “Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp nước ngoài: thực trạng, vấn đề và giải pháp”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, số 416.
57. Lê Văn Hưng, (2002), “Cần có các quy định cho doanh nghiệp Nhà nước
trong việc thực hiện luật cạnh tranh” Tạp chí Cộng sản, số 25.
58. Phạm Thị Thu Hằng, (2102), “Tái cơ cấu doanh nghiệp ngoài nhà
nước”,Kỷ yếu hội thảo “Tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh
nghiệp nhà nước”, Viện kinh tế Việt Nam, Hà Nội.
59. Trần Văn Hiền, (2000), “Lý luận của Lênin về phân chia thị trường thế
giới giữa các liên minh độc quyền tư bản và những biểu hiện mới trong
giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị- Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
60. Bùi Văn Huyền, (2008), “Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
61. Nguyễn Hữu Huyên, (2009), “Nhận dạng Cacten theo luật Cạnh tranh của các nước
phát triển”, Bản tin số 07/2009, Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công Thương.
62. Học viện chính trị quốc gia, (1994), “Tác động của cạnh tranh và độc quyền
thị trường ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
63. Michael. E. Porter, (1996), “Chiến lược cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh
tranh”, “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
64. M.L.Titarenko; Đỗ Tiến Sâm, (2009), “ Trung Quốc những năm đầu thế
kỷ XXI” Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
65. Ngô Thanh Lương, (2003), “Mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”,
luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại tới xây dựng nền kinh tế
178
66. Đinh Thị Mỹ Lan , (2007), “Luật chống độc quyền Nhật Bản, kinh nghiệm
thực thi”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
67. Đinh Thị Mỹ Loan, (2007), “Kiểm soát tập trung kinh tế- kinh nghiệm quốc
tế và thực tiễn tại Việt Nam” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
68. Nguyễn Ngọc Long, (2009), “Chủ nghĩa Mác- Lênin với vận mệnh và tương
lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
69. Trần Hữu Nam, (2012), “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước từ góc nhìn
quản lý nhà nước”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 184.
70. Phạm Văn Nhiên, (2005) ,“Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát cấp tỉnh
trong lĩnh vực kinh tế- tài chính ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế, Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
71. Nguyễn Văn Ngọc, (2001), “Bài giảng nguyên lý kinh tế vi mô”, Nxb Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
72. Dương Xuân Ngọc, (2012), “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam”,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
73. Nguyễn Thị Bảo Nga, (2012), “Kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt
Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
74. Trần Hoàn Nga, (2011), “Pháp luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa
tiến sỹ luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
75. Đoàn Trung Kiên, (2006), “Nhận diện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí
độc quyền theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam” , Tạp chí Luật học, số 1.
76. Nguyễn Như Phát, (2004), “Độc quyền và xử lý độc quyền”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Số 8.
77. Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn, (2006), “ Phân tích và luận giải các
quy định của pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị ttrí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh”, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Kỳ, Việt Nam- so sánh và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam”, luận án
179
78. P.A.Samueson, (2001), “Kinh tế học”, Nxb Thống kê, Hà Nội.
79. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, (2010), “Báo cáo thường
niên doanh nghiệp Việt Nam 2009”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
80. Pradeep S Mehta, Tổng thư ký tổ chức CUTS, (2009), “Cac-ten và người tiêu
dùng”, Bản tin số 07/2009, Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công Thương.
81. Quốc hội nước cộng hòa XNCN Việt Nam, Pháp lệnh giá năm 2002.
82. Nguyễn Hữu Quỳnh, (1998), “Đại từ điển kinh tế thị trường”, Viện
nghiên cứu và phổ biến trị thức bách khoa.
83. Nguyễn Ngọc Sơn, (2007), “Pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam”, luận án tiến sỹ luật học,
Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
84. Vũ Thanh Sơn, luận án tiến sĩ kinh tế, (2007), “Cạnh tranh đối với khu vực công:
kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam”, Đại học quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
85. Vũ Thanh Sơn, (2009), “Cạnh tranh đối với khu vực công trong cung ứng
hàng hóa và dịch vụ”, Nxb Chính trị- Hành chính, Hà Nội.
86. Tạ Ngọc Tấn- Lê Quốc Lý, (2012), “Đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nhà nước bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb Chính trị
87. Quyết Thắng, (2009),“Nghiên cứu tiêu dùng mặt hàng xăng dầu tại thị
trường Châu Âu”, Cục Quản lý cạnh tranh, Bản tin số 8/2009.
quốc gia, Hà Nội.
đầu tư nước ngoài của một số nước Châu Á và giải pháp cho Việt
Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
88. Trần Quang Thắng, (2012), “Những vẫn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong
doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
89. Nguyễn Hữu Thắng, (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các
180
90. Lê Việt Thành, (2002), “Kiểm soát giá đối với hành hóa và dịch vụ độc quyền ở
Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
91. Lưu Ngọc Trịnh, (2004), “Suy thoái kinh tế kéo dài cải cách nửa vời
tương lai nào cho nền kinh tế Nhật Bản”, Nxb Thế giới, Hà Nội.
92. Thủ tướng Chính phủ, (2011), “Quyết định về ban hành tiêu chí, danh mục
phân loại doanh nghiệp nhà nước”, số: 14/2011/QĐ-TTg, ngày 04/ 3/ 2011.
93. Phạm Thanh Thủy, (2013), “Sắp xếp lại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà
nước- việc làm không thể trì hoãn”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 422.
94. Lê Hồng Tính, (2010), “Quản lý nhà nước đối với TCT 90-91 theo hướng hình
thành tập đoàn kinh tế”, luận án tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia.
95. Nguyễn Phú Trọng, (2011), “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết
tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
96. Đào Văn Tú, (2002), “Độc quyền và vấn đề kiểm soát giá độc quyền ở
Việt Nam” Tạp chí Kinh tế & Phát triển,số 57.
97. Trần Anh Tú, (2008), “ Nhận diện độc quyền hành chính trong kinh
doanh ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 24.
98. Bùi Nguyễn Anh Tuấn, (2009), “ Tập trung kinh tế và xác định cấu trúc thị
trường” Bản tin số 04, Cục Quản lý Cạnh tranh- Bộ Công Thương.
đang phát triển”, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách- Trường
Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
100. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, (2002), “Pháp lệnh giá số: 40/2002/PL-
UBTVQH10, ngày 26 Tháng 04 năm 2002”, Hà Nội
101. Ủy ban Kinh tế quốc hội, (2013), Báo cáo số: 1497/BC-UBKT13,
ngày 17 tháng 10 năm 2013, “Một số ý kiến về việc triển khai thực
99. Bùi Nguyễn Anh Tuấn, (2010), “Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc gia
tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả
năng cạnh tranh”.
hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình
181
102. V.I Lênin Toàn tập, (1994), Tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
103. V.I Lênin Toàn tập, (1994), Tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
104. V.I Lênin Toàn tập, (1994), Tập 30, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
105. V.I Lênin Toàn tập, (1994), Tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
106. V.I Lênin, (1976), “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ
nghĩa tư bản”, Nxb Sự thật, Hà Nội.
107. Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, (2002), “Các vấn
đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền
kinh doanh”, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội.
108. Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, (2010), “Báo cáo
rà soát, đánh giá quy định pháp luật và thực trạng giám sát đối với tập
đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, doanh
nghiệp nhà nước độc quyền”.
109. Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, (2010), “Báo cáo
nghiên cứu rà soát hệ thống quy định pháp luật có liên quan đến quản trị
doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước”.
110. X.Nicitin, (1992), “Chính sách chống độc quyền ở các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển”Nxb Sự thật.
111. Lê Thành Ý, (2013), “Năng lực công nghệ, vấn đề cốt lõi trong giải pháp hỗ
tế, số 422.
trợ doanh nghiệp nhằm tái cơ cấu nền kinh tế”, Tạp chí Nghiên cứu kinh
Tiếng Anh
112. Ali Emami, “Firms with market power: monopoly”, Department of
Finance Charles H. Lundquist College of Business University of
Oregon.
113. Ben W.F. Depoorter, (1999) , “5400 Regulation of natural monopoly”,
Center for Advanced Studies in Law and Economics University of
Ghent, Faculty.
182
114. Ferguson, Paul R, (1993), “Business economic: the application of
economic theory”, Nxb Hamsphire, London: the MacMilan press,.
115. Hu Aguang, (2004), “The current state and problems of Anti-Monopoly
legislation in the Peoples republic of China”, Beijing Youth Daily.
116. Howard D. Marshall, (1970), “Business and government: The problem of
power” Nxb Lexington : D. C. Heath and Company,
117. Patrick Rey and Paul Seabright, (2001), “The activities of a monopoly firm
in adjacent competitive markets: Economic consequences And
Implications For Competition Policy”, Jean Tirole1 Institut d’Economie
Industrielle, Université de Toulouse-1.
118. Stephen J.K. Walters, (1993), “Enterprise, government, and the
public”Nxb McGraw-Hill, New York,
119. U.S Department of Justice, (2008), “Competition and monopoly: single-
firm conduct under section 2 of the Sherman act”.
Internet
120. “Bao-cao-tong-hop-thi-truong-xang-dau-nam-2013-va-du-bao-nam-2014”,
http://www.vinanet.com.vn/tin-thi-truong-hang-hoa-viet-nam.
121. Cách hiểu về độc quyền của chúng ta rất chủ quan",
http://www.thesaigontimes.vn/ Minh Tâm, ",24/7/2010
luật
riêng về độc quyền nhà nước?
122. http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn
123. Có cần một đạo
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/21427/Bùi
Nguyễn Anh Tuấn
124. http://www.petrolimex.com.vn/
125. Khảo sát mức độ nhận thức đối với Luật Cạnh tranh , http://
www.moit.gov.vn / 03/03/2009
126. Luat-canh-tranh-suc-lan-toa-con-han-che,
http://www.baocongthuong.com.vn/phap-luat/42177/
183
127. http://vi.wikipedia.org/wiki
128. Tại sao phải có chính sách cạnh tranh - đặc biệt đối với những nước
đang phát triển,http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/ Russell
Pittman,
129. Tổng kết công tác bảo vệ người tiêu dùng năm 2013, phương hướng
2014, http://www.vac.gov.vn
130. Nhìn lại hai năm thực hiện công tác bảo vệ người tiêu dùng- sự khởi đầu
hiệu quả và nhiều thách thức, http://www.vac.gov.vn
131. Công bố thực trạng năng lực của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam,
http://www.nhandan.com.vn/kinhte/nhan-dinh/item/263702-.html
132. Tập trung kinh tế và môi trường cạnh tranh, http://www.vac.gov.vn
133. Cổ phần hóa-lịch sử chậm trễ lại lặp lại,
http://www.vietnam.net.vn/kinhte
184
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước
TIÊU CHÍ, DANH MỤC PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 04 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) __________
I. NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ ĐỐI VỚI NHỮNG DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC SAU:
- Sản xuất, cung ứng vật liệu nổ.
- Sản xuất, cung ứng hoá chất độc.
- Sản xuất, cung ứng chất phóng xạ;
- Sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; sản phẩm mật mã, trang thiết bị chuyên dùng cơ yếu, tài liệu kỹ thuật và cung ứng dịch vụ bảo mật thông tin bằng kỹ thuật nghiệp vụ mật mã.
- Các doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Truyền tải hệ thống điện quốc gia; sản xuất, phân phối điện quy mô lớn đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh;
- Điều hành bay; điều hành vận tải đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị;
- Bảo đảm an toàn hàng hải;
- Bưu chính công ích;
- Phát thanh, truyền hình;
- Xổ số kiến thiết;
- Xuất bản, báo chí;
- Quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; các cảng hàng không; cảng biển loại I (cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô lớn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng)
185
- In, đúc tiền;
- Sản xuất thuốc lá điếu;
- Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh,
liên huyện, kè đá lấn biển;
- Quản lý, duy tu công trình đê điều, phân lũ và phòng chống thiên tai;
- Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
- Tín dụng chính sách, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
- Những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh, công nghệ mà tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần thiết phải nắm giữ 100% vốn để thực hiện các nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính được giao.
II. NHỮNG DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA,
NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ TRÊN 50% TỔNG SỐ CỔ PHẦN
1. Những doanh nghiệp tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch
vụ công ích:
- Bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia;
- Quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy nội địa; quản lý, khai
thác cảng biển (trừ các cảng nêu tại mục I);
- Đo đạc bản đồ;
- Sản xuất phim khoa học; phim thời sự, phim tài liệu, phim cho thiếu nhi;
- Vệ sinh môi trường;
- Chiếu sáng đô thị;
- Điều tra cơ bản về địa chất, khí tượng thủy văn;
- Khảo sát, thăm dò, điều tra về tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các
loại tài nguyên thiên nhiên;
- Sản xuất, lưu giữ giống gốc cây trồng vật nuôi và tinh đông; sản xuất
vắcxin phòng bệnh.
2. Những doanh nghiệp bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền
- Thoát nước ở đô thị;
186
núi, vùng sâu, vùng xa.
3. Những doanh nghiệp có vai trò đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh
tế, bình ổn thị trường hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:
- Sản xuất điện quy mô lớn từ 500 MW trở lên;
- Khai thác các khoáng sản: than, bô xít, quặng đồng, quặng sắt, quặng
thiếc, vàng, đá quý;
- Khai thác, chế biến dầu mỏ và khí tự nhiên;
- Đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải đường không;
- Cung cấp hạ tầng mạng thông tin truyền thông;
- Sản xuất gang, thép có công suất trên 500.000 tấn/năm;
- Sản xuất xi măng lò quay có công suất thiết kế trên 1,5 triệu tấn/năm;
- Sản xuất hóa chất cơ bản, phân hóa học thuốc bảo vệ thực vật;
- Trồng và chế biến cao su, cà phê;
- Sản xuất giấy in báo, giấy viết chất lượng cao;
- Bán buôn lương thực;
- Bán buôn xăng, dầu;
- Bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh hóa dược;
- Khai thác, lọc và cung cấp nước sạch mạng cấp I, cấp II;
- Vận tải đường biển quốc tế; vận tải đường sắt và đường không;
- Tài chính, tín dụng, bảo hiểm./.
Nguồn: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban
187
Phụ lục 2: Số lượng doanh nghiệp cả nước tại thời điểm 01/01/2012
Tên tỉnh
Tổng số doanh nghiệp
C 1 Doanh nghiệp nhà nước 2 Chia ra Doanh nghiệp ngoài nhà nước 3
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 4 12312 4715 524076 541103
Toàn quốc (tổng số) Toàn quốc (loại trừ DN không xác minh được) 1 DN thực tế đang hoạt động SXKD 2 DN đã đăng ký nhưng chưa HĐ 3 DN tạm ngừng SXKD 4 DN chờ giải thể 5 DN không xác minh được 432559 362540 16505 23422 30092 91517 4505 3807 26 35 637 210 11329 9385 1016 232 696 983
448393 375732 17547 23689 31425 92710 ( Nguồn: Tổng Cục Thống kê, Báo cáo kết quả rà soát số lượng doanh
nghiệp năm 2012)
Phụ lục 3: Thống kê điều tra các vụ việc cạnh tranh
không lành mạnh từ 2006 – 2012
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng
5 20 33 37 95
1
4
1
2
8
1
1
3
1
23
2
4
1
3
10
3
2
1
1
2 2 4
(Nguồn: Báo cáo hoạt động Cục Quản lý cạnh tranh năm 2012)
Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh Gièm pha, nói xấu doanh nghiệp khác Chỉ dẫn gây nhầm lẫn Bán hàng đa cấp bất chính Gây rối hoạt động kinh doanh của DN khác
188
Phụ lục 4: Thống kê các vụ việc TTKT được thông báo/tham vấn đến
Cục QLCT
STT
Năm
Ngành
Các công ty tham gia TTKT
1
Sản xuất giấy
2008
2
2008 Công nghệ thông tin
3
Thiết bị viễn thông
2008
4
2009
5
2010
Dịch vụ khoan dầu khí Sản xuất hàng tiêu dùng
6
2010 Bảo hiểm nhân thọ
7
2010 Kinh doanh thực phẩm
8
2011 Dịch vụ nghỉ dưỡng
9
2012 Kinh doanh sắt, thép
CTCP Giấy Tân Mai CTCP Giấy Đồng Nai CTCP Sáng Tạo CT TNHH Giải pháp NEC Việt Nam CT TNHH Lucent Technologies Việt Nam CT TNHH Alcatel - Lucent Việt Nam Tổng CTCP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí CTCP Đầu tư Khoan Dầu khí Việt Nam CT TNHH Unilever Việt Nam CT TNHH Unilever Quốc tế Việt Nam CT BHNT Prudential CT BHNT AIA CTCP Kinh Đô CTCP Miền Bắc CTCP Kem Kido's CTCP Vinpearl CTCP VinpearlHội An CTCP Vinpearl Đà Nẵng CTCP Vincharm CTCP thép Việt Ý CTCP luyện thép Sông Đà Kinh doanh ngân hàng Ngân hàng TMCP Hà Nội
10
2012
11
2012
Sản xuất contener, dịch vụ vận tải biển sắt thép xây dựng
12
2012
SXKD bánh kẹo
13
2013
2013
14
SXKD điện thương phẩm
Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội CTCP Hưng Đạo CTCP cơ khí vận tải Đại hưng CTCP thép Tiến Lên CTCP thương mại Phúc Tiến CTCP Kinh Đô CTCP Vinabico CTCP thủy điện Cồn Đơn CTCP thủy điện Nà Lơi CTCP thủy điện RyNinh II
Xây lắp, nước sinh hoạt CTCP Sông Đà 11
2013
15
16
2013
Xuất khẩu, phân phối thép, sắt
CTCP Sông ĐàThăng Long CTCP đâu tư, xây lắp Sông Đà 11 CTTNHH Nippon Việt Nam CTTNHH Sumikin Việt Nam
(Nguồn tác giả tổng hợp từ “Báo cáo hoạt động Cục quản lý cạnh tranh năm 2013”
và “Báo cáo tập trung kinh tế tế năm 2012- Cục Quản lý cạnh tranh)
189
Phụ lục 5: Thị phần của 10 doanh nghiệp nhập khẩu thuốc đứng đầu trên
thị trường năm 2010
Doanh thu
STT
Tên Doanh nghiệp
Thị phần
(triệu đồng)
Cty Cp Dược Liệu TW2 (Phyto Pharma)
6,313,412
12.09%
1
Cty TNHH Zuellig Pharma Việt Nam
5,271,024
10.09%
2
Cty Cổ Phần Y Dược Phẩm Vimedimex
5,072,745
9.72%
3
Cty Dược Phẩm Tw2 (Coduphar)
1,824,108
3.49%
4
Cty Dược Phẩm Trung Ương 1 (Pharbaco)
1,767,818
3.39%
5
Cty Cổ Phần Dược Phẩm Thiết Bị Y Tế Hà Nội
1,307,928
2.50%
6
Cty Dược Sài Gòn
1,226,360
2.35%
7
Cty Cổ Phần Dược, Thiết Bị Y Tế Đà Nẵng
1,185,490
2.27%
8
Cty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Y Tế 1 Hà Nội
918,664
1.76%
9
875,054
1.68%
10 Cty Dược Trang Thiết Bị Y Tế Bình Định
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
190
Phụ lục 6: So sánh tỷ lệ thuốc nhập khẩu và Việt Nam trúng thầu vào
các bệnh viện năm 2009
Tỷ lệ số
Tỷ lệ giá trị
Tỷ lệ số lượng
Tỷ lệ giá trị
lượng thuốc
thuốc Việt
Khu
thuốc Việt Nam
thuốc NK
Nam trúng
NK trúng
STT
Bệnh viện
trúng thầu so với
trúng thầu so
vực
thầu so với
thầu so với
thuốc NK
với thuốc nội
thuốc nội
thuốc NK
Bạch Mai
5,94%
99,99%
0,01%
94,06%
Hữu Nghị
8,28%
43,59%
56,41%
91,72%
Tai Mũi Họng
67,23%
32,77%
96,66%
3,34%
Lao phổi TW
30,34%
96,31%
3,69%
69,66%
Hà Nội
1
Viện Mắt
25,76%
85,59%
14,41%
74,24%
Nhi TW
100%
100%
Phụ sản TW
25,33%
99,99%
0,01%
74,67%
Thống Nhất
24,04%
95,13%
4,87%
75,96%
TP Hồ
Chợ Rẫy
62,55%
37,45%
99,56%
0,44%
Chí
2
Minh
Lê Hữu Trác
40,59%
59,41%
96,59%
3,41%
TW Huế
59,54%
40,46%
99,34%
0,66%
Tỉnh
thành
Thái Nguyên
39,65%
60,35%
98,42%
1,58%
3
khác
Phong Quy Hòa
16,61%
57,91%
42,09%
83,39%
Uông Bí
53,84%
46,16%
90,97%
9,03%
(Nguồn : Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực, năm 2012)
191
Phụ lục 7: Tổng số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
giai đoạn 2009 -2011
Doanh nghiệp BH
2009
2010
2011
1
1
1
100% vốn VN
9
10
11
100% vốn nước ngoài
1
1
2
Liên doanh
11
12
14
Tổng cộng
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Phụ lục 8: Thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
D a i-ichi L ife 7.27%
C ông ty khác 8.43%
P rudential 37.50%
AIA 7.53%
Manulife 11.10%
B ảo Việ t L ife 28.17%
Nguồn: Cục QLCT tổng hợp và tính toán
Năm 2011
192
Phụ lục 9: Thị phần các doanh nghiệp trên thị trường cung cấp thuê
bao truyền hình trả tiền năm 2011
Nguồn: Cục QLCT tổng hợp và tính toán
Phụ lục 10: Lưu lượng hàng công-ten-nơ thông qua cảng
theo khu vực tại Việt Nam.
193
Nguồn: Tổng Cục thống kê, Cục QLCT tính toán
Phụ lục 11: Thị phần vận tải biển năm 2011
Phụ lục 12: Thống kê các doanh nghiệp đang hoạt động trong
lĩnh vực ô tô năm 2011
DN tư nhân
Hình thức sở hữu Liên doanh nước ngoài
DN Nhà nước
DN nước ngoài
TNHH, cổ phần
16
19
117
121
46
Số lượng
5%
6%
37%
38%
14%
Tỷ lệ
Nguồn: Tổng Cục thống kê
194
2005
2006
2007
2008
2009
2010
STT
Chỉ tiêu
Đơn vị
Phụ lục 13: Sản lượng vận tải biển năm 2005 - 2010
Sản lượng
I
Tấn
42.603.365
49.480.000
61.350.000
69.284.522
81.056.074
88.919.900
vận tải biển
TEU
645.964
1.114.000
13.423.000
1.451.552
1.708.109
1.737.033
1000TKm
64.962.061
72.000.000
93.100.000
115.415.472
139.284.506
163.533.151
1
Vận tải nước
Tấn
26.471.976
36.300.000
44.286.000
47.389.626
53.235.103
62.449.000
ngoài
TEU
522.017
712.000
823.000
1.005.704
1.137.704
1.230.175
1000TKm
44.775.608
48.589.000
66.510.000
101.779.033
121.700.550
144.135.778
2
Vân tải trong
Tấn
16.131.388
13.180.000
17.031.000
21.997.434
27.820.971
26.470.900
nước
TEU
123.947
402.000
522.000
445.686
570.405
506.858
1000TKm
20.187.032
23.411.000
26.590.000
13.639.873
17.583.956
19.397.373
Hàng hoá
II
thông qua
TTQ
139.161.413
154.497.732
181.116.296
196.579.572
251.218
259.144.580
cảng
TEU
1
Hàng Công-
2.910.793
3.420.498
4.489.165
5.023.312
5.539.247
6.521.004
TEU
ten-nơ
tấn
29.639.065
37.193.877
49.286.332
55.460.018
62.303.340
72.936.941
Xuất khẩu
TEU
1.253.737
1.485.048
1.837.189
2.046.790
2.189.192
2.686.993
Tấn
11.106.059
13.733.319
16.695.774
19.098.551
19.390.749
24.153.255
Nhập khẩu
TEU
1.209.873
1.428.496
1.878.405
2.105.408
2.248.051
2.675.655
Tấn
12.741.623
15.512.191
21.002.167
24.690.903
27.521.828
32.411.096
447.183
507.124
773.571
871.114
1.102.004
1.158.356
Nội địa
TEU
Tấn
5.791.384
7.946.367
11.588.391
11.670.564
15.390.763
16.372.590
2
Hàng Lỏng
Tấn
36.205.112
34.806.154
35.271.834
35.682.346
42.517.556
51.608.624
Xuất khẩu
Tấn
16.838.352
16.203.856
14.686.681
13.497.430
13.252.584
10.548.857
Nhập khẩu
Tấn
13.829.897
13.532.043
14.571.869
16.307.787
16.829.573
18.610.606
Nội địa
Tấn
5.536.863
5.070.255
6.013.284
5.877.129
12.321.773
22.449.161
3
Hàng Khô
Tấn
60.584.571
67.761.359
79.444.184
87.759.214
68.321.773
105.109.355
22.605.334
27.644.259
31.111.920
31.130.450
68.758.875
39.969.098
Xuất khẩu
Tấn
Nhập khẩu
Tấn
19.351.632
20.012.795
22.993.960
31.365.572
25.048.534
28.461.340
Nội địa
Tấn
18.627.411
20.104.305
25.338.949
25.263.192
32.514.364
36.678.917
4
Hàng quá
Tấn
12.732.665
14.736.342
17.113.949
17.677.994
20.075.633
29.489.660
cảnh
III
195
56.893
62.291
88.619
98.593
108.016
119.744
Lượt tàu
Chuyến
Nguồn: Cục Hàng Hải Việt Nam
196
Phụ lục 14: tổng hợp giá bán lẻ xăng từ năm 2005 đến nay
Ngày
1/1/2005 31/03/2005 3/7/2005 28/7/2005 17/8/2005 22/11/2005 27/4/2006 9/8/2006 12/9/2006 6/10/2006 13/1/2007 6/3/2007 7/5/2007 16/8/2007 22/11/2007 23/02/2008 21/7/2008 14/8/2008 27/08/2008 18/09/2008 17/10/2008 18/10/2008 31/10/2008 8/11/2008 15/11/2008 2/12/2008 11/12/2008 9/2/2009 19/03/2009 2/4/2009 11/4/2009 8/5/2009 10/6/2009 1/7/2009 9/8/2009 30/08/2009 1/10/2009 24/10/2009 20/11/2009 15/12/2009 14/01/2010 21/02/2010
Mogas 92 (đồng/lít) 7550 8800 10000 9500 11000 12000 11000 10500 10100 11000 11800 11300 13000 14500 19000 18000 17000 16500 16000 15500 15000 14000 13000 12000 11000 11000 11000 11500 12000 12500 13500 14200 14700 15700 15200 15500 16300 15950 16400 16990
1250 1200 -500 1500 1000 -1000 -500 -400 900 800 -500 1700 1500 4500 -1000 -1000 -500 -500 -500 -500 -1000 -1000 -1000 -1000 0 0 500 500 500 1000 700 500 1000 -500 300 800 -350 450 590
Diesel 0.25S(đ/lít) 4970 5610 6630 5610 7650 6630 7650 8050 8670 8870 10400 14000 15450 15450 14950 14450 13950 12950 12950 11950 10950 10450 9950 9950 9950 10450 11450 12050 12050 13050 12750 13250 14250 14550 14850 14850
640 1020 -1020 2040 -1020 1020 400 620 200 1530 3600 15450 0 -500 -500 -500 -1000 0 -1000 -1000 -500 -500 0 0 500 1000 600 0 1000 -300 500 1000 300 300 0
197
Ngày
0 -500 -500 410 2900 2000 -500 0 2100 900 -500 -600 -800 -700 -600 400 900 1100 650 -500 0 1400 -500 -410 -310 420 -2640 3460 -300 -390 -250 580 0 0 300 0 180 0 0 210
Mogas 92 (đồng/lít) 16990 16490 15990 16400 19300 21300 20800 20800 22900 23800 23300 22700 21900 21200 20600 21000 21900 23000 23650 23150 23150 24550 24050 23640 23330 23750 21110 24570 24270 23880 23630 24210 24210 24210 24510 24510 24690 24690 24690 24900
39 14 11 15 13 12 10 11
3/3/2010 27/05/2010 8/6/2010 9/8/2010 24/02/2011 29/03/2011 26/08/2011 10/10/2011 7/3/2012 20/04/2012 9/5/2012 23/05/2012 7/6/2012 21/06/2012 2/7/2012 20/07/2012 1/8/2012 13/08/2012 28/08/2012 11/11/2012 28/12/2012 28/03/2013 9/4/2013 18/04/2013 26/04/2013 14/06/2013 28/06/2013 17/07/2013 22/08/2013 7/10/2013 11/11/2013 18/12/2013 27/01/2014 10/2/2014 21/02/2014 6/3/2014 19/03/2014 31/03/2014 11/4/2014 22/04/2014
Diesel 0.25S(đ/lít) 14550 14550 14350 14700 18250 21050 20759 20350 21350 21850 21550 21150 20450 20050 19850 20250 20750 21500 21800 21800 21500 21850 21400 21300 21200 21420 21840 22260 22260 22260 22260 22910 22590 22480 22720 22720 22790 22550 22460 22630
-300 0 -200 350 3550 2800 -291 -409 1000 500 -300 -400 -700 -400 -200 400 500 750 300 0 -300 350 -450 -100 -100 220 420 420 0 0 0 650 -320 -110 240 0 70 -240 -90 170
Nguồn: http://xangdau.net/thong-tin-chung

