intTypePromotion=1

CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Chia sẻ: Phan Anh Dung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
594
lượt xem
177
download

CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'chương 5: quản trị vận chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

  1. CHƯƠNG 5: QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1- Chức năng và các loại hình vận chuyển hàng hoá. Vận chuyển hàng hoá là sự di động hàng hoá trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm đảm bảo dự trữ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng trên các khu vực thị trường mục tiêu. Xét trên toàn bộ nền kinh tế, vận chuyển hàng hoá là do sự cách biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, và do đó yêu cầu vận chuyền tăng lên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mà chủ yếu là quá trình tập trung hoá và chuyên môn hoá của sản xuất và tiêu dùng. Còn xét về chức năng quản trị hậu cần của doanh nghiệp thì vận chuyển hàng hoá một mặt nhằm bổ sung dự trữ cho mạng lưới hậu cần của doanh nghiệp, mặt khác, nhằm cung cấp dịch vụ hậu cầ n cho khách hàng, và do đó, vận chuyển hàng hoá phải thực hiện cả 2 nhiệm vụ hậu cần doanh nghiệp : nâng cao chất lượng dịch vụ hậu cần khách hàng và giảm chi phí. Trong hệ thống hậu cần của doanh nghiệp thương mại, vận chuyển có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là một trong những yếu tố hậu cần cơ bản của doanh nghiệp thể hiện ở sơ đồ của hình 1(H.1). Một hệ thống vận chuyển hợp lý sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp do nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng và giảm chi phí hậu cần Một trong những tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng cơ bản là tốc độ, độ ổn định và tính linh hoạt trong cung ứng hàng hoá cho khách hàng. Thời gian và độ ổn định cung ứng hàng hoá cho khách hàng chủ yếu do vận chuyển đáp ứng. Chính vì vậy, tốc độ và độ ổn định là những mục t iêu chủ yếu của vận chuyển hàng hoá. Quản trị vận chuyển đáp ứng tốt các mục t iêu dịch vụ sẽ thoả mãn tốt hơn nhu cầu mua hàng của khách hàng, phát triển doanh thu, nâng cao lợi t hế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vận chuyển ảnh hưởng lớn đến chi phí của cả hệ thống hậu cần, bao gồm chi phí vận chuyển, dự trữ (trên đường và trong mạng lưới hậu cần ).Tập trung vận chuyển và sử dụng các phương tiện vận tải tốc độ cao sẽ có tác dụng giảm tổ ng chi phí hậu cần, và do đó giảm giá hàng hoá bán ra, phát triển nhu cầu khách hàng (co giãn của cầu theo giá) đem lại lợ i thế cạnh tranh cao cho doanh nghiệp. Xuất phát từ bản chất hậu cần, vận chuyển có 2 chức năng: chức năng di chuyển và chức năng dự trữ. Chức năng di chuyển: Đây là chức năng chủ yếu của vận chuyển. Thực hiện chức năng này, vận chuyển tiêu tốn các nguồn lực: Thời gian, tài chính và mô i trường. Thời gian là nguồn lực chính mà vận chuyển t iêu tốn và do đó vận chuyển hợp lý khi c hi phí thời gian vận chuyển ít nhất. Chi phí thời gian vận chuyển là một trong những chỉ t iêu cơ bản đánh giá trình độ dịch vụ hậu cần. Tăng tố c độ vận chuyển đảm bảo duy trì dự trữ hợp lý, giảm dự trữ trên đường và trong mạng lưới hậu cần, đồng thời cung cấp kịp thời hàng hoá cho khách hàng. Và do đó, tăng tốc độ vận chuyển hợp lý sẽ đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp thương mại. Vận chuyển hàng hoá gắn liền với các chi phí: phương t iện vận tải, lao động, quản 1
  2. lý, hao hụt... .,có nghĩa vận chuyển hàng hoá tiêu tố n các nguồn lực tài chính. Một phương án vận chuyển hợp lý phải đảm bảo giảm chi phí vận chuyển đến mức thấp nhất. 2
  3. Vận chuyển hàng hoá cũng đồng nghĩa với t iêu tốn các nguồn lực mô i trường. Vận chuyể n trực tiếp t iêu tốn nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần bị cạn kiệt như dầu mỏ,than đá..., đồng thời làm ô nhiễm mô i trường không khí, gây t iếng ồn, làm tắc nghẽn giao thông... Chính vì vậy, nhà nước rất quan tâm đến ngành giao thông vận tải nhằm giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng của vậ n chuyển đến mô i trường. Chức năng dự trữ hàng hoá : Đây là chức năng không cơ bản gắn liền với việc tồn trữ hàng hoá trong quá trình vận chuyển. Dự trữ hàng hoá trong vận chuyển phụ thuộc vào tốc độ và cường độ vận chuyển. Phương t iện vận tải có tốc độ càng cao thì dự trữ trênđường càng nhỏ. Đồng thời có thể lợi dụng chức năng này để sử dụng phương tiện vận tải dự trữ hàng hoá thay cho kho trong những trường hợp nếu sử dụng phương t iện vận tải để dự trữ tốt hơn kho: do thiếu kho, tha y kho dự trữ ngắn ngày để tiết kiệm chi phí bốc dỡ...Nguyên tắc dự trữ trên phương t iện là đảm bảo chất lượng hàng hoá, giảm thời gian vận động của hàng hoá với chi phí thấp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các loại hình vận chuyển càng phong phú. Có thể phân loại vận chuyển hàng hoá theo một số tiêu thức sau: Theo đặc trưng của con đường và phương tiện vận tải, có các loại hình vận chuyển : vậ n chuyển đường sắt, đường thuỷ, đường bộ(ôtô), đường không (máy bay), đường ống.Đặc điểm cơ cấu chi phí của các loại hình vận chuyển này như sau: - Đường sắt: Chi phí cố định cao, chi phí biến đổi thấp; - Đường thuỷ: Chi phí cố định trung bình, chi phí biến đổi thấp; - Đường bộ: Chi phí cố định thấp, chi phí biến đổi trung bình; - Đường không: Chi phí cố định thấp, chi phí biến đổi cao; - Đường ống: Chi phí cố định rất cao, chi phí biến đổi thấp nhất. Các đặc trưng dịch vụ và chi phí của các loại hình phương tiện vận tải được thể hiện ở bảng 1. (B.1) Khả năng Đặc Tính bảo quản Độ t i n điểm Tính liên Tốc độ Chi phí linh nhiều t ục cậ y hoạt loại hàng Phương tiện 1- Đường sắt 3 4 4 2 2 3 2- Đường thủy 4 5 5 1 4 1 3- Đường bộ 2 2 2 3 1 4 (Ôtô) 4- Đường không 1 3 3 4 3 5 (máy bay) 5- Đường ống 5 1 1 5 5 2 Ghi chú: Từ 1 đến 5- Từ tốt nhất đến kém nhất 3
  4. 4
  5. Những đặc điểm dịch vụ và chi phí của các loại phương tiện vận tải Theo đặc trưng sở hữu và mức độ điều tiết của nhà nước, có các loại hình vận chuyển : vận chuyển riêng, vận chuyển hợp đồng, và vận chuyển chung. Vận chuyển riêng là loại hình vận chuyển trong đó, các doanh nghiệp (không phải kinh doanh vận tải)có phương tiện vận tải và tự cung cấp dịch vụ vận chuyển cho riêng mình.Vận chuyển riêng ít bị điều t iết bởi luật kinh tế, tuy nhiên phải tuân thủ những điều luật liên quan đến d i chuyển những hàng hoá nguy hiểm, đến an toàn lao động,phương t iện, và các điều luật xã hộ i khác do nhà nước ban hành. Vận chuyển hợp đồng: Người vận chuyển hợp đồng cung cấp dịch vụ vận tải cho khác h hàng có chọn lọc.Cơ sở của hợp đồng là sự thoả thuận về chi phí và dịch vụ giữa người vận chuyển và chủ hàng mà không bị nhà nước chi phố i. Trong từng thời kỳ, người vận chuyển hợp đồng bị hạ n chế tuyến đường và hàng hoá vận chuyển, do đó hạn chế lượng khách hàng và khả năng cạnh tranh trực tiếp với những người vận chuyển chung(vận chuyển công cộng). Vận chuyển chung(công cộng): Cơ sở căn bản của hệ thống vận chuyển chung là những người vận chuyển chung(co mmo n carriers). Vận chuyển chung có trách nhiệm cung cấp dịch vụ vớ i mức giá chung(được qui định)cho công chúng. Quyền hạn vận chuyển chung có thể cho mọ i hàng hoá, hoặc giới hạn chuyên mô n hoá cho các loại hàng. Đồng thời người vận chuyển chung được định rõ khu vực địa lý hoạt động. Phân theo mức độ phối hợp các loại phương tiện vận tải, có 2 loại hình vận chuyển : vậ n chuyển một loại phương tiện và vận chuyển liên vận. Vận chuyển theo từng phương tiện: dịch vụ vận chuyển do từng đơn vị cung cấp bằng cách sử dụng phương tiện vận tải của mình. Loại hình vận chuyển này cho phép chuyên doanh hoá cao, tạo khả năng cạnh tranh và hiệu quả. Nhược điểm của loại hình nàylà khi phải vận chuyển trên nhiều phương t iện vận tải, phải t iến hành giao dịch với từng người vận chuyển, và, một hệ thống các nghiệp vụ cho từng phương tiện vận tải đò i hỏ i nhiều nỗ lực quản trị và do đó làm tăng chi phí. Vận chuyển liên vận: Dịch vụ vận chuyển do một tổ chức phối hợp nhiều loại phương tiện của nhiều đơn vị vận tải để vận chuyển hàng hóa cho một doanh nghiệp. Loại hình dịch vụ vậ n chuyển này tận dụng ưu thế kinh tế vốn có của mỗi loại và do đó, cung ứng dịch vụ vận tải thống nhất với tổng chi phí thấp nhất. Vận chuyển liên vận bao gồm: Giao hàng bằng container; vận chuyển liên vận đường sắt-đường thuỷ-ôtô;vận chuyển hàng không-ôtô. Mục tiêu của vận chuyển liên vận là : Thống nhất đặc điểm ưu thế của mỗ i loại để đạt kết quả cao nhất. 2-Các đặc trưng của chi phí và giá cước vận chuyển hàng hoá Khoảng cách là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển do tăng chi phí vận chuyển biến đổ i như lao động,nhiên liệu,chi phí bảo quản...Đồ thị sau(H.3) thể hiện mố i quan hệ này. Theo đồ thị, chúng ta nhận thấy: - Đường cong chi phí không bắt đầu từ gốc toạ độ do chi phí cố định không phụ thuộc vào khoảng cách; 5
  6. - Đường cong chi phí là hàm của khoảng cách,và khi khoảng cách tăng lên,tốc độ tăng c hi phí đơn vị giảm dần.Và nếu tính chi phí cho 1t.km thì khi khoảng cách tăng,chi phí bình quân 1 t.km giảm dần. 6
  7. Như vậy, phải hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đổ i phương tiện vận tải trong quá trình vận chuyển nhằm giảm chi phí vận chuyển hàng hoá. Khối lượng hàng hoá vận chuyển là nhân tố thứ 2 ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển. Cũng như nhiều hoạt động hậu cần, tính kinh tế nhờ qui mô đúng với vận chuyển hàng hoá. Mối quan hệ giữa chi phí vận chuyển bình quân và khố i lượng hàng hoá vận chuyển được thể hiện trên đồ thị(H.4): Theo đồ thị, chi phí bình quân/đơn vị khố i lượng hàng hoá vận chuyển giảm khi khố i lượng hàng hoá vận chuyển tăng lên.Đó là do chi phí cố định được phân bổ đều cho toàn bộ khố i lượng hàng hoá vận chuyển. Vận dụng tính chất này để khi vận chuyển, có thể tập hợp lô hàng nhỏ thành các lô hàng lớn hơn để có ưu thế kinh tế nhờ qui mô. Độ chặt là sự tương quan giữa khố i lượng và dung tích chiếm chỗ.Nhân tố này khá qua n trọng do chi phí vận chuyển luôn luôn được xác định trên 1 đơn vị khối lượng. Phương t iện bị hạ n chế sức chở bởi dung t ích hơn là trọng tải. Do lao động và chi phí nhiên liệu không chịu ảnh hưởng nhiều bởi trọng tải nên sản phẩm có độ chặt càng cao, chi phí bình quân đơn vị khố i lượng vận chuyển càng thấp.Hình 5(H.5) thể hiện mố i quan hệ này.Vì thế, các nhà quản trị hậu cần cố gắng tăng độ chặt của hàng hoá để sử dụng tốt nhất dung t ích phương t iện vận tải. Việc bao gói và sử dụng bao bì tiêu chuấn sẽ lợi dụng được nhân tố này. Hình dạng hàng hoá có ảnh hưởng đến việc sử dụng dung tích phương t iện vận tải. Hàng hoá cồng kềnh, hình dạng không thống nhất làm giảm khả năng chứa hàng, giảm hệ số sử dụng trọng tải, và do đó làm tăng chi phí. Khi vận chuyển đường dài, có thể vận chuyển hàng hoá ở dạng đóng hộp linh kiện, sau đó lắp ráp ở khu vực tiêu thụ. Điều kiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá trong quá trình vận chuyển ảnh hưởng đến chi p hí vận chuyển. Hàng hoá đòi hỏ i điều kiện bảo quản đặc biệt thì sẽ có chi phí cao hơn. Trách nhiệm pháp lý có liên quan đến những rủi ro,thiệt hại trong quá trình vận chuyển. Các yếu tố sau ảnh hưởng đến mức độ thiệt hại do rủi ro: hàng hoá dễ hỏng,những thiệt hại do chất xếp, khả năng xẩy ra trộm cắp, khả năng cháy nổ, giá trị của hàng hoá. Giá trị của hàng hoá càng cao và xác suất rủi ro càng lớn thì chi phí càng nhiều. Người vận chuyển phải mua bảo hiểm để đề phòng khả năng xấu nhất hoặc chấp nhận bất kỳ mọ i sự thiệt hại. Người giao hàng có thể giảm rủ i ro và do đó giảm chi phí vận chuyển bằng cách cải tiến bao gói hoặc giảm bớt những khả năng xẩ y ra hao hụt hoặc thiệt hại. Giá cước Giá/đ vị khố i lượng 7
  8. Khoảng cách Khối lượng v.c 8
  9. H.3: Mối quan hệ giữa khoảng H.4: Mối quan hệ giữa khối lượng và cách và chi phí vận chuyển chi phí vận chuyển /đơn vị k.l Giá/đ vị khố i lượng Độ chặt sản phẩm H.5: Mối quan hệ giữa độ chặt và chi phí vận chuyển /đơn vị khối lượng Nhân tố thị trường là sự phân bố các nguồn cung ứng và các khu vực t iêu thụ. Sự phân bố này càng cân đối tạo nên khả năng sử dụng phương t iện vận tải chạy 2 chiều và do đó giảm được chi phí vận chuyển. Tuy nhiên trong thực tế, sự phân bố các nguồn cung ứng và các khu vực tiêu thụ thường mất cân đố i, do đó công tác kế hoạch hoá tuyến đường vận chuyển của các đơn vị vận tải và việc thiết kế hệ thống hậu cần của các doanh nghiệp thương mại có tác dụng nâng cao hệ số sử dụng quãng đường vận chuyển, giảm chi phí vận chuyển. Giá cước mà nhà quản trị hậu cần phải trả tương ứng với các đặc trưng chi phí của mỗ i loạ i hình dịch vụ vận chuyển. Giá cước vận chuyển hợp lý thường có xu hướng phù hợp với chi phí sản xuất ra dịch vụ vận chuyển. Do mỗ i loại hình dịch vụ vận chuyển có những đặc điểm chi phí khác nhau, cho nên ứng với một trường hợp nhất định, ưu thế giá cước của dịch vụ này thì lại có thể không hiệu quả đối với dịch vụ vận chuyển khác. Dịch vụ vận chuyển phải gánh chịu nhiều chi phí như :lao động, xăng dầu, bảo dưỡng, lệ phí đường, chi phí hành chính, và những chi phí khác. Phối thức các chi phí này được chia thành 2 loại: chi phí biến đổ i- những chi phí thay đổ i theo dịch vụ và qui mô vận chuyển, và chi phí cố định-không thay đổ i theo dịch vụ và qui mô vận chuyển. Lẽ dĩ nhiên, mọ i chi phí đều biến đổ i nếu thời gian và qui mô vận chuyển vượt quá một giới hạn nhất định. Tuy nhiên, với mục đích xác định giá vận chuyển cần phải nghiên cứu những chi phí biến đổ i cũng như chi phí cố định trong những điều kiện bình thường. Mọi chi phí khác được co i là biến đổi. Chi phí cố định bao gồm lệ phí con đường, bảo dưỡng, chi phí nhà ga bến cảng, thiết bị vận tải, chi phí quản lý hành chính; chi phí biến đổi thường là những chi phí gắn liền với quá trình vận chuyển như xăng dầu và lao động, bảo dưỡng thiết bị, bảo quản hàng hoá, và những chi phí tạo lập lô hàng và cung ứng. Không có sự phân biệt thật rõ ràng giữa chi phí cố định và biến đổi, tuy nhiên có sự khác biệt về chi phí và cơ cấu chi phí cố định-biến đổ i khá lớn giữa các loại hình vận chuyển. Mọ i chi phí có phần là cố định và có phần là biến đổ i, và 9
  10. việc đưa các yếu tố chi phí vào loại này hay loại khác là vấn đề có tính chủ quan. 1 0
  11. Giá cước vận chuyển căn cứ vào 2 khía cạnh quan trọng: khoảng cách và qui mô lô hàng vận chuyển. Trong mỗ i trường hợp, không có sự khác nhau nhiều giữa chi phí cố định và biến đổ i. Để minh hoạ cho điều này, chúng ta xem xét các đặc điểm chi phí của vận chuyển đường sắt. Tổng chi phí dịch vụ vận chuyển khác nhau theo khoảng cách, thể hiện trên hình 6a(H.6a). Điều này là đúng do tổng số nhiên liệu sử dụng tuỳ thuộc vào khoảng cách, còn tổng số lao động vận chuyển là hàm của khoảng cách(thời gian). Đây là những chi phí biến đổ i. Chi phí cố định là quan trọng đối với đường sắt do ngành đường sắt sở hữu đường vận chuyển, nhà kho và nhà ga, và các thiết bị. Những chi phí này được co i là không thay đổ i theo khoảng cách vận chuyển. Tổng chi phí cố định và biến đổi là tổng chi phí vận chuyển. Ngược lại, hình 6b(H.6b) trình bày hàm của chi phí vận chuyển đường sắt theo qui mô lô hàng giao. Trong trường hợp này, lao động vận chuyển không phải là chi phí biến đổ i, mà chi phí bảo quản được coi là biến đổ i. Giảm bớt đáng kể việc bảo quản các lô hàng vận chuyển là nguyên nhân gián đoạn đường cong tổ ng chi phí, như đã thể hiện trên hình 6b giữa qui mô lô hàng LCL và CL và giữa qui mô lô hàng đầy tải và không đầy tải. Việc giảm giá cước vì lượng phần lớn là do chi phí. Các đơn vị vận chuyển thường sử dụng các chiến lược giá cước : chiến lược giá cước chi phí, chiến lược giá cước giá trị dịch vụ, và chiến lược giá cước hỗn hợp. Chiến lược giá cước chi phí có nghĩa giá cước được xác định trên cơ sở chi phí cung ứng dịch vụ cộng thêm giớ i hạn lợ i nhuận. Chiến lược này t hường áp dụng để vận chuyển những hàng hoá có giá trị thấp hoặc trong tình thế cạnh tranh cao. Với qui mô đã cho Với khoảng cách đã cho Chi Chi Tổng c.p Phí Chi phí phí cố định Chi phí B iế n đổ iChi phí cố định Khoảng cách Đoàn tàu v.c một Lô hàng Cá c t o a (nơi giao-nơi nhận) Phối hợp phối hợp một sản phẩm L CL CL a- Chi phí là hàm của khoảng cách b- Chi phí là hàm của qui mô H.6: Chi phí vận chuyển(và doanh thu) là hàm của qui mô và khoảng cách Chiến lược giá trị dịch vụ nhằm định giá dựa trên giá trị dịch vụ mà người mua chấp nhận.Đây là chiến lược giá cước cao do cung cấp dịch vụ vận chuyển có trình độ cao cho khác h hàng (dịch vụ vận chuyển hoàn hảo, tốc độ cao,... ). Chiến lược này thường áp dụng trong trường hợp vận chuyển hàng hoá có giá trị cao hoặc trong những t ình thế market ing đặc biệt: Yêu cầu cung ứng khẩn cấp hàng hoá cho thị trường, hoặc trong điều kiện cạnh tranh hạn chế. 6
  12. Chiến lược phối hợp là chiến lược tạo mức giá trung gian giưã mức thấp nhất của giá theo chi phí và mức cao nhất của giá theo giá trị dịch vụ. Trong thực tế, đa số các đơn vị vận chuyển áp dụng giá trung gian, có nghĩa vừa dựa trên chi phí và tình thế cạnh tranh để định giá. 3-Mục tiêu và nguyên tắc vận chuyển hàng hoá Đối với các doanh nghiệp thương mại, có 3 mục tiêu vận chuyển hàng hoá. Đó là mục tiêu chi phí, mục tiêu tốc độ, và mục tiêu ổn định. Mục tiêu chi phí là một trong những mục t iêu hàng đầu của vận chuyển hàng hoá. Quản trị phải đưa ra những quyết định vận chuyển nhằm giảm đến mức thấp nhất chi phí của cả hệ thống hậu cần. Chi phí vận chuyển là số tiền phải trả để di chuyển hàng hoá giữa các vị trí địa lý, chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển. Chi phí phụ thuộc nhiều yếu tố , đặc biệt phụ thuộc hệ thống hậu cần nhằm sử dụng các giải pháp để tối thiểu hoá tổng chi phí của cả hệ thống. Điều này có nghĩa, tối thiểu hoá chi phí vận chuyển không phải luôn luôn liên quan đến tổng chi phí hậu cần thấp nhất. Tốc độ là mục tiêu dịch vụ hàng đầu của vận chuyển. Trình độ dịch vụ khách hàng chịu ảnh hưởng nhiều của chi phí thời gian vận chuyển. Trong một chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng, thờ i gian vận chuyển chiếm nhiều nhất,và do đó tốc độ vận chuyển có liên quan đến việc đáp ứng kịp thời hàng hoá cho khách hàng, đến dự trữ hàng hoá của khách hàng. Tốc độ và chi phí vận chuyển liên quan với nhau theo 2 hướng. Thứ nhất, các đơn vị vận chuyển có khả năng cung cấp dịch vụ vận chuyển nhanh hơn thì cước phí sẽ cao hơn; thứ hai, dịch vụ vận chuyển càng nhanh, thời gian dự trữ trên đường càng giảm. Do đó, chọn phương án vận chuyển phải cân đố i được tốc độ và chi phí vận chuyển. T hông thường, doanh nghiệp thương mại chọn mục t iêu chi phí khi vận chuyển bổ sung dự trữ, còn khi vận chuyển cung ứng hàng hoá cho khách hàng thì chọn mục tiêu tố c độ. Độ ổn định vận chuyển là sự biến động thời gian cần thiết để thực hiện quá trình di chuyể n xác định đối vơí các lô hàng giao, nhận. Độ ổn định phản ánh độ tin cậy của vận chuyển và được coi là đặc trưng quan trọng nhất của chất lượng vận chuyển. Độ ổn định vận chuyển ảnh hưởng đến cả dự trữ của người mua, người bán và những cơ hội, rủi ro trong kinh doanh. Tốc độ và độ ổn định tạo nên chất lượng dịch vụ của vận chuyển. Như vậy: -Trong thiết kế hệ thống hậu cần, phải khéo léo đạt được sự cân đối giữa chi phí vậ n chuyển và chất lượng dịch vụ. Trong một số trường hợp, chi phí thấp là cần thiết; ở t ình thế khác, dịch vụ là cần thiết để đạt được mục đích kinh doanh. Quá trình t ìm kiếm và quản trị phố i thức vậ n chuyển hợp lý là trách nhiệm hàng đầu của hậu cần. -Có 3 khía cạnh vận chuyển mà nhà quản trị phải luôn nhớ có liên quan đến hệ thống hậu cần : +Thứ nhất: Chọn cơ sở hậu cần để thiết lập cấu trúc mạng nhằm tăng cường hệ thống vận tải và đồng thời hạn chế các phương án lựa chọn; + Thứ hai: Tổng chi phí vận chuyển cao hơn cước phí vận chuyển;
  13. + Thứ ba: Toàn bộ mọ i nỗ lực để thống nhất khả năng vận chuyển vào trong hệ thống hậu cần có thể bị thất bại nếu dịch vụ cung ứng phân tán và mâu thuẫn.
  14. Có 2 nguyên tắc vận chuyển :Nguyên tắc kinh tế nhờ qui mô và nguyên tắc kinh tế nhờ khoảng cách. Nguyên tắc kinh tế nhờ qui mô có nghĩa, qui mô lô hàng vận chuyển càng lớn thì chi phí vận chuyển trên một đơn vị khố i lượng sẽ giảm. Điều này là do khi tăng qui mô lô hàng vận chuyển, những chi phí cố định như: chi phí hành chính, chi phí huy động phương tiện vận tải và xếp dỡ hàng hoá, chi phí đặt hàng...không đổi khi tăng khố i lượng hàng vận chuyển. Và do đó, chi phí bình quân trên một đơn vị khố i lượng hàng hoá giảm xuống. Thực hiện nguyên tắc này, trong việc triển khai hệ thống hậu cần phải bằng mọ i cách tập trung hoá vận chuyển, đặc biệt khi vận chuyển ở khoảng cách lớn. Nguyên tắc kinh tế nhờ khoảng cách có nghĩa chi phí vận chuyển trên một đơn vị sản phẩ m dịch vụ vận chuyển - T.Km -theo t ừng loại phương tiện vận tải sẽ giảm xuống khi khoảng cách vậ n chuyển tăng lên. Đó là vì chi phí cố định không thay đổi khi khoảng cách thay đổ i. Thực hiện nguyên tắc này,trong việc tổ chức vận chuyển hàng hoá phải giảm đến mức thấp nhất số lần chuyể n tải, tránh thay đổ i quá nhiều phương tiện vận tải trong quá trình vận chuyển Quản trị vận chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại bao gồm những quyết định cơ bản-các biện pháp cơ bản-: Quyết định phương thức vận chuyển hợp lý; quyết định phương tiện vận tải và con đường vận chuyển hợp lý, quyết định đơn vị vận tải hợp lý. 3-Quyết định phương thức vận chuyển hợp lý. Phương thức vận chuyển trong doanh nghiệp thương mại là cách thức di chuyển hàng hoá từ nguồn hàng đến khách hàng theo những điều kiện nhất định nhằm hợp lý hoá sự vận động của hàng hoá trong kênh hậu cần doanh nghiệp. Thực chất của quyết định phương thức vận chuyể n là lựa chọn kênh hậu cần trong doanh nghiệp một cách hợp lý nhất- đảm bảo thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng với chi phí ít nhất. Có 2 phương thức vận chuyển : vận chuyển thẳng và vận chuyển qua kho(kênh hậu cần trực tiếp và kênh gián tiếp). Có thể mô tả một cách đơn giản các phương thức vận chuyển ở sơ đồ (H.7) Tuỳ thuộc góc độ tiếp cận tổng thể hoặc cục bộ trong kênh phân phố i mà vận chuyển thẳng được hiểu theo những quan niệm khác nhau. Về mặt tổng thể, vận chuyển thẳng được hiểu là sự di động của hàng hoá từ khởi đầu của vận động hàng hoá tới thẳng cửa hàng bán lẻ mà không dừng lại ở các khâu kho trung gian, Về mặt cục bộ(trong phạm vi doanh nghiệp thương mại ), vận chuyển thẳng là sự di động của hàng hoá từ nguồn hàng thẳng đến cơ sở hậu cần của khách hàng hoặc cửa hàng bán lẻ mà không qua bất kỳ một khâu kho trung gian nào. Như vậy, vận chuyển thẳng trong doanh nghiệp thương mại bán buôn có đích cuố i cùng là cơ sở hậu cần của khách hàng mua buôn- kho hoặc cửa hàng bán lẻ; còn trong doanh nghiệp thương mại bán lẻ, đích cuố i cùng là mạng lưới các cửa hàng bán lẻ của doanh nghiệp
  15. Kho nguồn Kênh hậu cần Cơ sở hậu cầ n t r ực t i ế p hàng khách hàng Kênh hậu cần gián t i ếp Hệ thống kho doanh nghiệp H.7: Các loại kênh hậu cần của doanh nghiệp thương mại Trong những tình thế nhất định, vận chuyển thẳng có những ưu thế: Tăng nhanh quá trình dịch chuyển hàng hoá và do đó giảm dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp; có thể giảm được chi phí vận chuyển trong trường hợp cự ly vận chuyển ngắn do giảm được số lần xếp dỡ hàng hoá. Tuy nhiên, vận chuyển thẳng hạn chế khả năng cung ứng dịch vụ cho khách hàng, cho nên chỉ sử dụng trong những điều kiện nhất định. Những điều kiện để áp dụng phương thức vận chuyển thẳng là: -Không làm giảm trình độ dịch vụ khách hàng :Số lượng, cơ cấu, đặc điểm hàng hoá; thờ i gian cung ứng hàng hoá phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Điều này cũng có nghĩa: lô hàng mua phải phù hợp với lô hàng bán-qui mô lô hàng không quá lớn, cơ cấu đơn giản, hàng hoá không phải qua khâu tổ chức mặt hàng thương mại; cự ly vận chuyển ngắn, điều kiện vận chuyển không phức tạp-không phải chuyển tải qua nhiều phương tiện; thời gian thực hiện đơn đặt hàng mua của nguồn hàng nhanh, đáp ứng yêu cầu thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng; -Tổng chi phí vận chuyển thẳng phải giảm: chi phí dự trữ(dự trữ trên đường) và cước phí vận tải chuyển thẳng nhỏ hơn chi phí dự trữ (dự trữ trên đường và kho) và cước phí vận tải (vận chuyển đến kho và từ kho cung ứng cho khách hàng ). Điều này cũng có nghĩa: qui mô lô hàng vận chuyển thẳng phải đủ lớn, điều kiện giao thông vận tải phải thuận tiện. Như vậy, phương thức vận chuyển thẳng thích ứng với mục tiêu định hướng chi phí chứ không phải dịch vụ, và trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển với sự cạnh tranh dịch vụ gay gắt, nó ít được sử dụng. Phương thức vận chuyển phổ biến hơn cả vẫn là vận chuyển qua kho. Vận chuyển qua kho là phương thức vận chuyển trong đó, hàng hoá từ nguồn hàng cung ứng cho khách hàng phải qua ít nhất một khâu kho. Thực chất của phương thức vận chuyển qua kho là triển khai kênh hậu cần gián tiếp trong doanh nghiệp. Có thể vận chuyển qua một hoặc nhiều khâu kho tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố hệ thống hậu cần :Khoảng cách giữa nguồn hàng và khách hàng, mạng lưới kho và giao thông vận tải, đặc điểm của hàng hoá vận chuyển. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tập trung và chuyên mô n hoá, vận chuyển qua kho có nhiều ưu thế vì
  16. nó đảm bảo thoả mãn tốt nhất nhu cầu dịch vụ của khách hàng với chi phí thấp.
  17. Do hàng hoá dự trữ trong mạng lưới kho được phân bố hợp lý nên đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách hàng cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu...đồng thời cung ứng nhanh và ổn định hàng hoá cho khách hàng. Vận chuyển hàng hoá qua mạng lưới kho được phân bố hợp lý sẽ phát huy t ính kinh tế nhờ qui mô trong vận chuyển và do đó giảm được chi phí vận chuyển. Chính vì vậy,xác định một phương thức vận chuyển hợp lý phải gắn liền với việc qui hoạch mạng lưới kho hợp lý. 4-Quyết định phương tiện vận tải hợp lý Gắn liền với quyết định phương thức vận chuyển là quyết định phương t iện vận tải. Quyết định phương tiện vận tải nhằm tạo ra cơ cấu phương tiện đảm bảo cung cấp dịch vụ cho khách hàng tốt nhất và chi phí thấp nhất.Tuỳ thuộc vào mục đích vận chuyển -bổ sung dự trữ hay cung ứng hàng hoá cho khách hàng -mà quyết định phương tiện vận tải định hướng chi phí hay dịch vụ. Thông thường, vận chuyển bổ sung dự trữ định hướng chi phí, có nghĩa lấy tiêu chuẩn chi phí để lựa chọn phương án phương tiện vận tải; vận chuyển cung ứng hàng hoá cho khách hàng lấy tiêu chuẩn trình độ dịch vụ khách hàng, và do đó là khả năng phát triển doanh thu, lợi nhuận, hoặc khả năng cạnh tranh để chọn phương án phương tiện vận tải. Quyết định phương tiện vận tải phải căn cứ vào những yếu tố sau: - Căn cứ vào mục đích vận chuyển để xác định mục tiêu phương tiện vận tải :chi phí dịch vụ; ha y - Căn cứ vào những đặc trưng dịch vụ và chi phí của các loại phương tiện vận tải (B.1)để lựa chọn phương tiện vận tải đáp ứng những yêu cầu dịch vụ với tổng chi phí thấp nhất(H.8) - Căn cứ vào việc phân tích nhu cầu dịch vụ khách hàng, khả năng cung ứng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh nhằm xác định loại phương tiện vận tải đáp ứng yêu cầu cạnh tranh- dịch vụ của doanh nghiệp; - Căn cứ vào việc phân tích khả năng lợi nhuận để chọn phương t iện vận tải ứng với t r ìn h độ dịch vụ khách hàng tối ưu; Tổng chi phí Chi phí Chi phí dịch vụ vận chuyển Chi phí dự trữ (kho + trên đường) Đường Ôtô sắt
  18. Máy bay Dịch vụ vận chuyển (tốc độ và độ tin cậy cao hơn)
  19. H.8: Sự trái ngược giữa chi phí vận chuyển và dự trữ - Hàm của những đặc trưng dịch vụ vận chuyển - Căn cứ vào việc phân tích tổng chi phí liên quan đến loại phương tiện vận tải : chi phí dự trữ trên đường và kho, cước phí vận chuyển. ..để chọn phương tiện vận tải cho chi phí thấp nhất. - Căn cứ tình hình phân bố nguồn hàng và khách hàng, mạng lưới kho và giao thông vận tải. Khi lựa chọn phương tiện vận tải, phải cân nhắc nhiều nhân tố. Có một số nhân tố mà những người ra quyết định không thể kiểm soát được: - Thứ nhất: Cần khuyến khích sự hợp tác hiệu quả giữa người cung ứng và người mua nếu biết được lý do gây ra chi phí là xác thực. Nếu người bán và người mua là những thực thể pháp lý độc lập thì những thông t in về chi phí không đáng tin cậy. Trong trường hợp này, sự nhạy cảm vớ i phản ứng của bên khác đố i với việc lựa chọn dịch vụ vận tải, hoặc mức độ thu hút khách hàng sẽ cho biết phương hướng hợp tác. -Thứ hai: ở đâu có người cung ứng cạnh tranh trong kênh phân phố i, người mua và ngườ i bán sẽ hành độnh để đạt được sự phù hợp tố i ưu dịch vụ - chi phí vận tải. Tuy nhiên, lý lẽ của các bên có thể không đảm bảo chắc chắn. - Thứ ba: Hiệu quả của giá cả thường không được cân nhắc. Nếu người bán cung cấp dịc h vụ vận tải chất lượng cao hơn, họ có thể nâng giá hàng hoá để bù vào chi phí gia tăng. Người mua sẽ phải cân nhắc cả giá và hiệu quả vận chuyển khi quyết định người cung ứng. - Thứ tư: Những thay đổi giá cước vận chuyển, thay đổ i phố i thức sản phẩm và thay đổ i chi phí dự trữ, cũng như sự trả đũa dịch vụ vận chuyển của đố i thủ cạnh tranh, sẽ bổ sung thêm các yếu tố năng động vào những vấn đề không được nghiên cứu trực tiếp. - Thứ năm: ảnh hưởng gián t iếp lựa chọn phương tiện vận tải về dự trữ của người bán không được đánh giá. Người bán có thể có mức dự trữ tăng, giảm là do qui mô lô hàng phù hợp vớ i việc lựa chọn phương tiện vận tải tương tự như người mua. Nhà cung ứng có thể điều chỉnh giá để phản ánh những cái đó. Ngược lại, sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương t iện vận tải. Đồng thời với quyết định phương tiện vận tải, phải xây dựng hành trình vận chuyển nhằm giảm bớt chi phí vận chuyển và tăng tốc độ giao hàng. Trong trường hợp hành trình con tho i-vận chuyển từ một nơi giao đến một nơi nhận-có thể sử dụng phương pháp giải bài toán vận tải; trong trường hợp hành trình rải hàng-nhận hàng một nơi và giao cho nhiều nơi- có thể sử dụng thuật toán người đưa thư để thiết lập hành trình vận chuyển.
  20. 5- Quyết định người vận chuyển. Người vận chuyển có ảnh hưởng rất lớn đến các t iêu chuẩn dịch vụ và chi phí. Do đó phả i lựa chọn một cách cẩn thận. Cần phải đánh giá người vận chuyển theo nhiều tiêu chuẩn để lựa chọn. Quá trình lựa chọn người vận chuyển tiến hành theo các bước sau đây:
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2