CHƯƠNG 7: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

Chia sẻ: Nhu Kute | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:58

1
578
lượt xem
372
download

CHƯƠNG 7: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chúng ta có thể nhận biết sự biến đổi khí hậu (BĐKH) một cách đơn giản trong cuộc sống đời thường là tại sao năm nay mùa đông lại ngắn lại, hạn hán, mưa lũ thất thường không giống quy luật mấy chục năm về trước. Cây trồng có sự thay đổi về năng suất, dịch bệnh nhiều hơn, bệnh mới xuất hiện. Đặc biệt là cảm giác mùa đông và mùa hè, cảm nhận được nhiệt độ của mùa hè với các đợt nóng tăng lên và kéo dài, mùa đông ngắn lại, v.v......

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG 7: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

  1. CHƯƠNG 7. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 7.1 MỞ ĐẦU Chúng ta có thể nhận biết sự biến đổi khí hậu (BĐKH) một cách đơn giản trong cuộc sống đời thường là tại sao năm nay mùa đông lại ngắn lại, hạn hán, mưa lũ thất thường không giống quy luật mấy chục năm về trước. Cây trồng có sự thay đổi về năng suất, dịch bệnh nhiều hơn, bệnh mới xuất hiện. Đặc biệt là cảm giác mùa đông và mùa hè, cảm nhận được nhiệt độ của mùa hè với các đợt nóng tăng lên và kéo dài, mùa đông ngắn lại, v.v... Tuy đây là hệ quả của rất nhiều yếu tố môi trường khác nhau nhưng việc đánh giá đúng mức những nguy hại cho cuộc sống do Biến Đổi Khí Hậu gây ra là một việc thực sự cần thiết, cho dù đã được thừa nhận hay chưa được thừa nhận thì con người cũng đang chứng kiến và thậm chí hứng chịu những bất thường của khí hậu, thời tiết, những hậu quả không mong muốn từ việc huỷ hoại thiên nhiên một cách quá mức như hiện nay. Các nhà khoa học, cộng đồng các dân cư, các quốc gia và các tổ chức trên thế giới không thể tiếp tục thờ ơ và đang tiến hành những cuộc vận động mang tính chất toàn cầu nhằm khắc phục tình trạng BĐKH. Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi khí hậu và phát triển con người. Theo đó, sinh kế của người Việt đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những thay đổi toàn cầu, đòi hỏi một tầm nhìn dài hơi, một kế hoạch cụ thể và mang tính chiến lược. Vì vậy việc xây dựng một (hay vài) kịch bản về Biến Đổi Khí hậu cho nước ta là rất cần thiết nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài này. 7.2 KHÁI NIỆM VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU. Vậy, Biến đổi khí hậu là gì? Biến đổi khí hậu là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu, “khung” thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đat các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn , để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới.. Trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh của chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường được đề cập đến những thay đổi về khí hậu hiện đại (như sự ấm lên của trái đất).
  2. Đường biến đổi khí hậu theo thời gian Hình 7.1: Biến đổi khí hậu theo thời gian Biến đổi khí hậu: Nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất thay đổi từ năm 1870 cho đến năm 2100. Biến thiên nhiệt độ từ thấp (màu xanh) đến cao (màu đỏ) (Nguồn: http://www.devon.gov.uk) 7.3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Nguyên nhân chủ yếu là do cháy rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất dẫn tới làm thu hẹp nơi cư trú của giống loài, khai thác và đánh bắt quá mức, tình trạng buôn bán trái phép động vật, thực vật quý hiếm, sự phát triển của ngành công nghiệp làm gia tăng lượng khí thải quá mức và vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng. Các yếu tố đó làm cho khí hậu toàn cầu đang biến đổi mạnh. Trong một báo cáo mới đây nhất của Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu cho thấy, sự tích tụ khí các-bon-níc (CO 2) trong bầu khí quyển của trái đất đang ở mức chưa từng có trong 650.000 năm qua. CO2 là một trong các khí gây hiệu ứng nhà kính, con người đã thải vào khí quyển khoảng 42 tỷ
  3. tấn/năm các loại khí nhà kính. Cacbon dioxit đóng vai trò 50% Hiệu ứng nhà kính, trong khi đó metan là 13%, Ozon tầng đối lưu là 7%, Nitơ là 5%, CFC là 22%, lưu nước tầng bình lưu 3%. Hình 7.2 Biến đổi CO2 và Nhiệt đô không khí trong 400. 000 năm gần đây nghìn năm trở lại nay (nguồn: A.V. Fedorov et al. Science 312, 1485, 2006). Biến đổi nhiệt độ (màu xanh) và lượng khí CO2 trong không khí (màu đỏ) trong thời gian 400,000 năm qua dựa vào nghiên cứu băng hà ở hai địa cực. Đường thẳng đứng màu đỏ (tận bên mặt) thấy sự biến đổi đột ngột khí CO2 trong hai thế kỷ vừa qua và trước 2006. Khảo sát hình trên, trong vòng 400 ngàn năm qua, đã có 5 lần biến đổi nhiệt độ và CO2 . Trong 4 lần cách đây trước 120 ngàn năm, khi CO2 tăng đến tối đa khoảng 300 ppm, cũng là lúc có nhiệt độ tối đa, trên dưới 1-2 OC so với nhiệt độ hiện tại, sau đó CO2 giảm cùng lúc với giảm nhiệt độ đến cực tiểu, khoảng 8OC thấp hơn hiện tại, và một chu kỳ như vậy kéo dài khoảng 100 ngàn năm. Đại dương trong quá khứ là môi trường đệm điều hoà CO2 . Khi nhiệt độ giảm đại dương hấp thụ CO2 và biến thành đá vôi, khí đốt, dầu hoả, và thực vật trên đất liền hấp thụ CO2 qua lục hoá và tồn trữ qua than đá và chất hữu cơ. Khi nhiệt độ tăng đại dương thải hồi CO2 vào lại khí quyển. Hiện tại CO2 trong khí quyển đã đột ngột vượt tới 375 ppm (2006) và đang trên đà gia tăng cao hơn nữa. Lý do
  4. chính của sự đột ngột này là do con người thải CO2 qua kỹ nghệ đốt than đá và dầu hỏa trong 2 thế kỷ qua. 7.4. QUAN ĐIỂM NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Loại ý kiến thứ nhất được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là việc tăng hàm lượng khí CO2 và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính. Nguyên nhân này chiếm 90, thậm chí 99% mức gia tăng của nhiệt độ bề mặt Trái đất. Nhiệt độ bề mặt Trái đất có được là nhờ hấp thụ nhiệt từ Mặt trời và dòng nhiệt từ bên trong lòng đất. Sự có mặt của khí CO2 trong bầu khí quyển sẽ duy trì một nhiệt độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống nhưng quá nhiều sẽ trở thành tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ Trái đất thoát vào vũ trụ, từ đó làm gia tăng nhiệt độ bề mặt của trái đất. Loại ý kiến thứ hai tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính, song cho rằng cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội tại. Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất. Không phải chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương. Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn. Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến). Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh. Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kỳ đó, biên độ dao động của nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét. Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động mực nước biển 2-3 m hoặc hơn. 7.5 ẢNH HƯỞNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ảnh hưởng đầu tiên của BDKH là tác động lên hầu hết lên các thành phần môi trưy7ờng mà trước hết, là làm nhiệt độ trái đất tăng cao và sau đó làm mực nước biển dâng. 7.5.1. Biến Đổi Khí Hậu làm nhiệt độ trái đất tăng Nồng độ khí nhà kính đã vượt quá ngưỡng tự nhiên suốt 650 nghìn năm qua. Các tảng băng ở Nam Cực, ở Greenland đang tan chảy với tốc độ ngày càng nhanh. Đại dương xuất hiện hiện tượng axít hóa. Rừng nhiệt đới bị thu hẹp... Từng hiện tượng riêng hay các hiện tượng kết hợp với nhau đều đưa thế giới tiến gần tới "điểm tràn". Trong thế kỷ 21, nhiệt độ thế giới có thể tăng thêm 5 độ C, tương đương với sự thay đổi nhiệt độ từ thời kỳ băng hà, thời kỳ phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ còn nằm dưới lớp băng dầy 1km. Trong khi đó, ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiểm là tăng thêm 2 độ C. Nếu vượt qua ngưỡng 2 độ này, kết quả phát triển con người sẽ bị đẩy lùi trên quy mô lớn, các thảm họa sinh thái không thể đảo ngược sẽ xảy ra.
  5. Trong vòng 1.000 năm qua, nhiệt độ bề mặt Trái đất có tăng, giảm không đáng kể và có thể nói là ổn định. Song, trong vòng 200 năm trở lại đây, nhiệt độ trung bình của Trái đất đã tăng lên tới 0,3-0,40C trong mấy chục năm qua và hiện đang có xu hướng tăng tiếp. Theo các mô hình nghiên cứu trong thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình của Trái đất có thể tăng từ 1,1-6,00C, khả năng xảy ra từ 1,8-4,0 0C tùy thuộc vào sự phát thải khí hiệu ứng nhà kính được cắt giảm đến mức độ nào để giảm bớt các khí CO2 và các khí khác gây hiệu ứng nhà kính. Nếu con người dừng phát thải khí nhà kính ngay từ lúc này thì nhiệt độ bề mặt Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục dâng lên trong vòng 50 năm nữa. Vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lớn nhất của Trái đất là Bắc cực và Nam cực, vì nhiệt độ tăng lên nhanh nhất. Sau đó đến các vùng núi cao như Himalaya, Tây Tạng,v.v... Theo nghiên cứu, những vùng lạnh nhất có nhiệt độ tăng lên nhanh nhất. 7.5..2. Biến đổi khí hậu làm nhiệt độ ở Việt Nam tăng Đánh giá của thế giới về nguyên nhân làm cho trái đất nóng lên, thì Việt Nam không bị xếp vào danh sách nguồn phát thải CO2. Nói một cách dân dã, trong những “thủ phạm” đang đốt nóng trái đất, “tội” của chúng ta là không đáng kể. Thế nhưng, trong danh sách những nước bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam luôn nằm trong “top” đầu thế giới. Và bây giờ, khi mà những kịch bản về tác động của BĐKH được xây dựng cho Việt Nam, kịch bản nào cũng rất đáng buồn, thì việc tìm cách để thích ứng, để đối phó với BĐKH, đang cần thiết hơn là tìm ra người để “bắt đền trái đất”. Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình hàng năm không có gia tăng trong khoảng thời gian từ 1895 (khi bắt đầu có sở khí tượng) đến 1970, tuy nhiên nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam gia tăng đáng kể trong ba thập niên qua, gia tăng khoảng 0.32 oC kể từ 1970. Từ năm 1900 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm tăng 0,1°C một thập kỷ. Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0,1°C – 0,3°C một thập kỷ. Nếu so với năm 1990, nhiệt độ chắc sẽ tăng trong khoảng từ 1,4 – 1,5°C vào năm 2050 và từ 2,5 - 2,8°C vào năm 2100, những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc. Xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên. Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở phía Bắc. Sự biến đổi thất thường của thời tiết còn được thể hiện qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh miền Bắc và ở Miền Trung, Miền Nam. Mưa trái mùa đã cứu hạn cho một vài nơi trồng cây công nghiệp như cà phê,nhưng lại làm tan tành các ruộng muối ven biển, làm cây hoa kiểng nở quá sớm dịp Tết. Các nhà khoa học cũng đã dự tính trong tương lai, các vùng nằm sâu trong lục địa có sự biến đổi nhiệt độ lớn hơn so với các vùng ven biển.
  6. Hình 7.3 :Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ trung bình hàng năm trên toàn cầu (hình trên) và ở Việt Nam VN có khuynh huớng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn. Bảng 7. 1 Gia tăng nhiệt độ trung bình từ 1961-1990 Địa phương gia tăng nhiệt độ trung bình (oC) Điện Biên 3 Mộc Châu 3 Lai Châu 2 Lạng Sơn 1,8 Hà Nội 1 Bắc Giang 1 Rạch Giá 1,2 Ban Mê Thuộc 1,2 Tp. Hồ Chí Minh 0,8 Nha Trang 0,5
  7. Nhiệt độ cao nhất trong khu vực miền Nam luôn luôn xuất hiện tại Phước Long, Ðồng Xoài và Xuân Lộc. Hình 7.4: Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ mùa đông ở Việt Nam trong thế kỷ 20 (theo Dr. Dirk Schaefer, 2002)
  8. Hình 7.6: Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ mùa hè ở Việt Nam trong thế kỷ 20 (theo Dr Dirk Schaefer, 2002) Cũng trong thời gian 1961-1990, số giờ nắng trung bình hàng năm hàng năm ở Việt Nam cũng biến đổi nhiều. Số giờ nắng trung bình hàng năm giảm 20 giờ ở Bắc Giang, Hà Nội và Hải Dương, giảm 10 giờ nắng ở Nam Định. Ở Miền Nam, gia tăng 20 giờ nắng ở Nha Trang, tăng 18 giờ nắng ở Pleiku, tăng 10 giờ nắng ở Ban Mê Thuột, nhưng giảm 20 giờ nắng ở Cần Thơ và Bạc Liêu. Dự báo của trung tâm khu vực Đông Nam Á, nhiệt độ cao nhất trước đây xuất hiện ở vùng dọc biên giới Campuchia sẽ gia tăng tần suất trong tương lai, ảnh hưởng đến Long An, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang. Số ngày nóng trên 35°C ở các tỉnh nói trên sẽ từ 210 – 240 ngày vào giai đoạn năm 2030. Trong tương lai được xác định này (năm 2030), sự gia tăng nhiệt độ cao nhất trung bình vào mùa hè (tháng 3, 4, 5). Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng sẽ xuất hiện những ngày có nhiệt độ >40°C. Tại TPHCM và Cần Thơ, số liệu đo đạc cho thấy nhiệt độ đang tăng lên: từ năm 1960 đến 2005 tăng khoảng 0,02 0C; từ năm 1991 đến 2005 tăng lên khoảng 0,0330C. Riêng tại TP Vũng Tàu, từ năm 1960 đến nay đã tăng lên 20C. Điều đó không chỉ thể hiện sự ấm lên về nhiệt độ mà sẽ kéo theo nhiều hệ lụy như nước biển dâng, hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai bão, lụt, hạn hán
  9. tăng nhanh... Theo đà tăng nhiệt độ trên toàn thế giới, từ năm 1920 đến nay nhiệt độ tại VN cũng tăng lên từ 0,20C đến 10C nhưng tăng nhanh chủ yếu là từ năm 1980 đến nay . Lượng mưa ở vùng giáp vịnh Thái Lan thuộc địa phận Kiên Giang, mũi Cà Mau sẽ giảm khoảng >20%. Các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre giảm từ 10 – 20%. Thời điểm bắt đầu mùa mưa có thể sẽ sớm hơn nhưng nhìn chung, sẽ trễ khoảng hai tuần và lượng mưa sẽ giảm khoảng 20%. Riêng vụ hè thu, lượng mưa sẽ ít hơn và hạn đầu vụ sẽ gay gắt hơn. Đặc biệt, “Hạn bà chằng” (số ngày liên tiếp lượng mưa < 5mm) sẽ nhiều hơn và ác liệt hơn trong mùa mưa. Hiện tượng “xì phèn” làm lúa chết từng đám giống như luộc trong nước sôi vậy! Ngược lại, diện tích ngập lũ vùng đầu nguồn sẽ giảm và vùng hạ lưu phía bán đảo Cà Mau sẽ gia tăng mức ngập. Chúng ta có thể nhận biết sự biến đổi khí hậu một cách đơn giản trong cuộc sống đời thường là tại sao năm nay mùa đông lại ngắn lại, hạn hán, mưa lũ thất thường không giống quy luật mấy chục năm về trước. Cây trồng có sự thay đổi về năng suất, dịch bệnh nhiều hơn, bệnh mới xuất hiện, nhất là lúc giao mùa. Đặc biệt là cảm giác mùa đông và mùa hè, cảm nhận được nhiệt độ của mùa hè với các đợt nóng tăng lên và kéo dài, mùa đông ngắn lại,v.v... Ví dụ, Đà Lạt không có “sương mù dăng dăng cả ngày” nữa. Tất cả những yếu tố này tác động trực tiếp đến cuộc sống của từng người. Báo cáo đầu tiên của GIEC cho thấy rằng nhiệt độ sẽ tăng chừng 2 đến 5 độ nếu lượng CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi. Một sự gia tăng nhiệt độ như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không đảo ngược: các hải lưu thay đổi, các băng cực tan dần, hệ sinh thái thay đổi và tất cả những thay đổi này lại ảnh hưởng ngược lại đến khí hậu. Những thay đổi này sẽ gây nên tình trạng những hệ sinh thái và những xã hội khó thích ứng với môi trường. 7.5.4. Hiện tượng băng tan hai cực mấy năm gần đây và ảnh hưởng đến Việt Nam Hiện tượng nóng lên của trái đất là nguyên nhân chính gây ra tan băng ở hai cực và những nước nằm thấp hơn hoặc xấp xỉ mặt nước biển sẽ là những nơi đầu tiên hứng chịu thảm họa. Các nhà khoa học phát hiện trong hai mùa hè năm 2007 và 2008, lượng băng bao phủ ở hai cực đã xuống tới mức thấp nhất kể từ lần vệ tinh ghi được những hình ảnh đầu tiên vào 30 năm trước.
  10. Hình 7.6: Băng tan ở hai cực sẽ kéo theo những thảm họa toàn cầu trong tương lai. Nguồn Ảnh: Reuters Một nghiên cứu mới (2008) của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ Nam cực đang tăng lên nhanh hơn so với dự đoán trước đây (1990), trong khi những tảng băng ở Bắc cực đang dần biến mất và Greenland (một vùng nằm ở Bắc cực) có thể nằm dưới nước biển trong tương lai không xa. Thảm họa băng tan ở Nam Cực trong những năm gần đây làm cho lượng băng tan từ các dải Nam Cực tăng thêm 75%. Phần tây Nam Cực, khối băng hà lớn có diện tích khoảng 570 km2 đang bị tan ra. Các nhà khoa học Nga ước tính lượng băng tan này cỡ 1/2 thành phố Maxcơva của Nga. Dòng sông băng lớn nhất Nam cực Pine Island đang tan ra với tốc độ nhanh hơn 40% so với năm 1970, trong khi dòng sông băng Smith cũng ở nam cực đang tan chảy với tốc độ nhanh hơn 82% so với năm 1992. Băng hà trên vùng lục địa Wilkins diện tích 13.000 km2, thuộc khu vực tây nam bán đảo Nam Cực, cách Nam Mỹ 1.600 km về phía Nam và vùng Antarktig đã xuất hiện cách đây ít nhất 1500 năm. Ngày 28-2-2008, núi băng Wilkins này bắt đầu hoạt động. Ông Jim Eliot, người tham gia trong chuyến khảo sát cho biết: “Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng nào tương tự. Chúng tôi bay dọc theo vết rạn chính để biết được quy mô phá hủy của núi băng. Từ máy bay nhìn xuống, những tảng băng lớn cỡ bằng ngôi nhà rải tung tán như thể một vụ nổ vừa xảy ra ở đây".
  11. Hình 7.7: Dự báo nguy cơ núi băng Wilkins của Nam Cực biến mất sau 15 năm tới do ảnh hưởng của quá trình nóng lên của vỏ trái đất. Băng tại Bắc Cực năm 1979. Ảnh: NASA.
  12. Diện tích bao phủ của băng giảm đáng kể vào năm 2005. Ảnh: NASA. Hình 7.8: Băng ở Bắc Cực đang tăng nhanh hơn so với dự đoán Tính đến tháng 9/2007, khối lượng băng ở sông băng Grin-len (Greenland) và Bắc Băng Dương đã xuống tới mức thấp nhất từ trước tới nay, lần lượt là 2,9 triệu và 4,4 triệu mét khối. Lượng băng hiện nay đã bị thu hẹp tới 39% so với lượng băng trung bình giai đoạn từ 1979-2000. Việc băng ở Bắc Băng Dương tan chảy, tuy không làm tăng mực nước biển, nhưng lại góp phần làm cho khí hậu Trái Đất nóng lên khi lớp băng vĩnh cửu được thay thế bằng vùng nước tối hấp thụ nhiệt lượng của Mặt Trời. Bên cạnh đó, lớp băng tồn tại lâu năm ở Bắc cực dễ bị ảnh hưởng do sự tái diễn các đợt gió xoáy và các dòng hải lưu, một hiện tượng sẽ khiến cho lớp băng ở khu vực xung quanh Bắc cực bị đẩy về phía Nam, nơi nó sẽ bị tan chảy bởi các dòng nước ấm hơn. Với tốc độ băng tan nhanh như hiện nay ở Bắc cực, các nhà khoa học lo ngại rằng Trái Đất sẽ
  13. phải hứng chịu những hậu quả khó lường. Sự sinh tồn của loài gấu trắng Bắc cực ở Ca- na-đa, nơi tập trung 2/3 số gấu trắng của thế giới, đang bị đe dọa. Hình 7.9: Gấu bắc cực tại Alaska, nơi băng tan đang đe doạ môi trường sống của chúng. Vào mùa đông, khu vực Bắc Cực ở gần Alaska có nhiệt độ cao hơn năm ngoái 9 - 10 độ, một hiện tượng mà các nhà khoa học gọi là hiệu ứng khuếch đại. Hiện tượng này cũng làm cho nhiệt độ mùa thu ở khu vực nóng hơn 6 - 10 độ so với thời điểm những năm 1980. Hiệu ứng khuếch đại được các nhà khoa học giải thích rằng: một khi có một số băng tan, lượng nước biển sẽ tăng lên và do vậy trong mùa hè nó hấp thụ nhiều nhiệt từ Mặt trời hơn. Ngoài ra do băng đã tan bớt nên khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời của khối băng yếu đi do đó các khối băng cũng hấp thụ thêm nhiệt lượng. Và vào mùa đông, nhiệt lượng này sẽ tỏa ra, làm cho nhiệt độ chung tăng lên.
  14. Hình 7.10: Những tảng băng lớn bị tan rã ngày càng nhiều Theo giáo sư Steffen, băng ở Greenland mỗi năm tan xuống biển từ 200-300km3. Một lượng tương đương cũng tan chảy ở tất cả tảng băng của Nam Cực. Những núi băng này tan chảy sẽ làm cho mực nước biển tăng lên từ 28-43 cm. Nhưng có thể mực nước biển này còn cao hơn nữa tùy theo sự phát thải của khí hiệu ứng nhà kính và tác động của con người gây ra. 7.5.5. Mực nước biển dâng Ngoài ra, các đại dương ấm lên chậm hơn so với đất liền. Như vậy, hiện trái đất vẫn chưa cảm nhận được đầy đủ tác động do mức khí nhà kính hiện nay gây ra. Khi đại dương ấm dần, nước sẽ nở ra, đẩy mực nước biển tăng cao hơn nữa. Đây thật sự là một vấn đề toàn cầu bởi vì một phần chính của nền văn minh thật ra ở trong vài mét bên trên mực nước biển. Cho nên bất cứ hoặc mức nhỏ trong mực nước biển dâng cao qua thời gian sẽ có ảnh hưởng rất lớn trên kinh tế thế giới và sự sinh kế của nhân loại.
  15. Hình 7.11: Mực nước biển dâng những năm gần đây Dựa vào phân tích mới nhất do toán Anh quốc-Phần Lan cùng hợp tác thực hiện, mực nước biển hơn 2000 năm qua đã ổn định. Mức đo cho thấy mực nước biển dâng cao 2 phân vào thế kỷ 18 và 6 phân vào thế kỷ 19, nhưng rồi tăng bất ngờ và báo động với 19 phân, hoặc hơn nửa bộ Anh trong thế kỷ vừa qua này. Điều này rất có thể là do lớp băng đá tan chảy. Mực nước biển dâng cao toàn cầu trung bình được dự đoán tăng giữa 0,8 mét và 1,5 mét vào cuối thế kỷ. Cách nay 2 năm, báo cáo AR4 của Ủy ban Nghiên cứu biến đổi khí hậu liên chính phủ (IPCC) thuộc LHQ đã dự báo, mực nước biển sẽ tăng 59cm vào năm 2100. Tuy nhiên, từ đó đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng báo cáo đó ước tính sai và mực nước biển thực tế đang tăng cao gấp đôi. Họ cho biết, các khối băng ở Greenland và Nam Cực tan nhanh sẽ làm mực nước biển dâng thêm 1m hoặc hơn vào năm 2100, dựa vào các dữ liệu vệ tinh cho thấy, mực nước biển mỗi năm dâng cao thêm 3mm, cao hơn 50% so với mức trung bình trong thế kỷ 20, nhấn chìm nhiều thành phố ven biển, phá hủy môi trường sống của 600 triệu người ở những khu vực có nền đất thấp và các đảo quốc. Khoảng 600 triệu người sống ở các vùng đất thấp phải hứng chịu hậu quả nếu mực nước biển tăng thêm vài cm. Ảnh: Boston Globe.
  16. Hình 7.12: Dự bao anh hưởng cua biên dâng đên bờ biên và cư dân ven biên ́ ̉ ̉ ̉ ́ ̉ ̉ Khu vuc phía Bắc New Zealand, vùng đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Qua cac đo đac đã được tiên hanh, IPCC đã ghi nhân những biên đôi về nhiêt độ ́ ̣ ́ ̀ ̣ ́ ̉ ̣ nước biên bề măt và mực nước biên ở Đông Nam A. ̉ ̣ ̉ ́ Hình 7.13: Biên đôi cua mực nước biên trong khu vực Đông Nam Á ́ ̉ ̉ ̉ 7.5. 6. Ảnh hưởng của nước biển dâng đến Việt Nam
  17. Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi khí hậu và phát triển con người. Là môt quôc gia năm trên bao lơn cua Biên Đông thông ra Thai Binh Dương, với hơn ̣ ́ ̀ ̉ ̉ ́ ̀ 75% dân số sông doc theo môt bờ biên dai hơn 3200 km và tai hai đông băng sông Hông và ́ ̣ ̣ ̉ ̀ ̣ ̀ ̀ ̀ sông Cửu Long, Viêt Nam thuôc vao loai cac nước bị uy hiêp nhiêu nhât bởi sự biên đôi khí ̣ ̣ ̀ ̣ ́ ́ ̀ ́ ́ ̉ hâu toan câu và mực nước biên dâng. Câu hoi hiên nay không con là “Liêu cac hiên tượng ̣ ̀ ̀ ̉ ̉ ̣ ̀ ̣ ́ ̣ có anh hưởng đên đât nước ta hay không?”mà là “Ưng phó như thế nao để giam thiêu thiêt ̉ ́ ́ ̀ ̉ ̉ ̣ hai, bao vệ tôi đa thanh quả lao đông quá khứ và tiêp tuc phat triên bên vững”. ̣ ̉ ́ ̀ ̣ ́ ̣ ́ ̉ ̀ Theo dự bao cua Văn phong quan lý điêu tra tai nguyên biên và môi trường (Bộ Tai ́ ̉ ̀ ̉ ̀ ̀ ̉ ̀ nguyên và Môi trường), ở Viêt Nam mực nước biên sẽ dâng cao từ 3 đên 15 cm năm 2010 ̣ ̉ ́ và từ 15 đên 90 cm vao năm 2070. Băng ở đỉnh núi Himalaya tan và Đồng bằng sông Cửu ́ ̀ Long (ĐBSCL) sẽ là nơi hứng chịu mực nước ấy, hay Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) sẽ hứng chịu mực nước của dãy núi Vân Nam (Trung Quốc). Bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 độ C, thì 22 triệu người ở VN sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của VN sẽ ngập chìm trong nước biển.Vựa lúa ĐBSCL sẽ xuất hiện mâu thuẫn khi giai đoạn sinh trưởng cần nước tưới thì thời tiết khô hạn, thậm chí sẽ bị hạn Bà Chằn (tháng 6 – 7), nhưng đến tháng 8, cần giảm nước lại bị lũ. Các kịch bản nước biển dâng từ 1 – 1,4m đến thời điểm 2030 cho thấy, mặn sẽ lấn tới Biên Hòa và vào sâu trong dòng chính sông Mekong lấn tới khu vực Phnom Penh. Theo thống kê, ĐBSCL có tổng diện tích 34.322km2, trong đó 18.066km2 đất thuộc các huyện ven biển. khi mực nước biển dâng cao từ 0,2-0,6m, sẽ có 1.708km2 đất bị ngập ảnh hưởng tới 108.267 người sinh sống và chỉ cần nước biển dâng 1m, thì 14 triệu dân ĐBSCL bị ảnh hưởng, 40.000km2 vùng ven biển bị chìm, TP.HCM sẽ có 43% diện tích bị ngập. Bảng 7.14:
  18. Nguồn:Đánh giá của Jeremy Carew-Reid - Giám đốcTrung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM). 7.5.6. Dự báo tác động của biển dâng lên môi trường tự nhiên Khi mực nước biên dâng, hâu quả dễ thây nhât là nhiêu vung sẽ bị ngâp. Nhưng hâu quả ̉ ̣ ́ ́ ̀ ̀ ̣ ̣ cua biên dâng không phai chỉ có ngâp tinh. Đông lực biên vung ven bờ và cửa sông, song vỡ ̉ ̉ ̉ ̣ ̃ ̣ ̉ ̀ ́ khi tiêp cân bờ sẽ tac đông manh hơn lên đường bờ, bai triêu. Bờ biên bị xâm thực và cơ sở ́ ̣ ́ ̣ ̣ ̃ ̀ ̉ hạ tâng ven biên bị đe doa lớn hơn. ̀ ̉ ̣ Ở cac đông băng ven biên, độ ngập sâu hơn, thời gian ngâp keo dai hơn. Xâm nhập mặn ́ ̀ ̀ ̉ ̣ ́ ̀ sẽ vao sâu hơn, nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thuy văn, thuy lực trên từng đia ̀ ̉ ̉ ̣ ban và trên cả đông băng sẽ có những thay đôi, khiên cho động thái bồi xói bờ sông, cù lao, ̀ ̀ ̀ ̉ ́ côn bai, bồi lắng phù sa trên hệ thống sông chính và vùng cửa sông cung thay đôi. ̀ ̃ ̃ ̉ 7. 5.6. 1. Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Bản đồ các vùng chịu ảnh hưởng nước biển dâng ở ĐBSCL:
  19. Hình 7.15: Theo dự báo, nhiều vùng thuộc ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau... sẽ ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới (Nguồn: ICEM) Đông băng sông Cửu Long được hinh thanh vao khoang 11000 năm trở lai đây. Cao trinh ̀ ̀ ̀ ̀ ̀ ̉ ̣ ̀ măt đât tương đôi thâp trên nhiêu vung khá rông chăng han Đông Thap Muời, Tứ giac Long ̣ ́ ́ ́ ̀ ̀ ̣ ̉ ̣ ̀ ́ ́ Xuyên, Ban đao Cà Mau, nhiêu nơi cao trinh chỉ vao khoang 20 – 30 cm. Với những tac ́ ̉ ̀ ̀ ̀ ̉ ́ đông đã đề câp, cac yêu tố thuy nông quyêt đinh cơ câu mua vu, sinh thai thuy vực, hệ sinh ̣ ̣ ́ ́ ̉ ́ ̣ ́ ̀ ̣ ́ ̉ thai rừng ngâp nước ngot (trong Đông Thap Mười, Tứ giac Long Xuyên và trong U Minh ́ ̣ ̣ ̀ ́ ́ thượng và ha), ... chiu tac đông manh me, thâm chí có nơi đe doa cả chinh sự tôn tai. ̣ ̣ ́ ̣ ̣ ̃ ̣ ̣ ́ ̀ ̣ Đông băng sông Cửu Long trước đây rât it hứng chiu bao. Thế nhưng trong thâp kỷ vừa ̀ ̀ ́ ́ ̣ ̃ ̣ qua, vào năm 1997 đã hứng chiu tác động của cơn bão Linda và năm 2006 đã bị đuôi bao ̣ ̃ Durion quet qua (Hinh 7). Nhiêu nghiên cứu gân đây tim môi tương quan giữa viêc bao ở ́ ̀ ̀ ̀ ̀ ́ ̣ ̃ Tây Thai Binh Dương có xu hướng xay ra thường xuyên hơn sau thang 10 dương lịch và đi ́ ̀ ̉ ́ về hướng đường xich đao, với nhiêt độ nước biên trên bề măt tăng, kêt quả cua dong hai lưu ́ ̣ ̣ ̉ ̣ ́ ̉ ̀ ̉ bị thay đôi bởi biên đôi khí hâu toan câu. ̉ ́ ̉ ̣ ̀ ̀ Cơn bao NARGIS quet qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) thang 5/2008 (Hinh 6) và ̉ ́ ́ ̀ hâu quả năng nề mà cơn bão đã gây ra là môt canh bao đôi với Đông băng sông Cửu Long. ̣ ̣ ̣ ̉ ́ ́ ̀ ̀ Sự tan phá mà đuôi cơn bao Dorion đã gây ra ở Đông băng sông Cửu Long sẽ con lớn lao ̀ ̃ ̀ ̀ ̀ hơn và khăc nghiêt hơn nhiêu nêu mực nước biên dâng lên so với hiên nay (Hinh 7). ́ ̣ ̀ ́ ̉ ̣ ̀
  20. ̀ ̃ ̀ Hinh 7.16. Bao NARGIS vao Myanmar ̀ ̃ ̀ Hinh 7.17: Đuôi bao Durion vao 2/5/2008 ĐBSCL 11/2006 7.5.6. 2. Vùng Duyên Hải Miền Trung Vung duyên hai miên Trung được câu tao bởi môt dai đât kep giữa day Trường Sơn về ̀ ̉ ̀ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̣ ̃ phia Băc, và vung cao Nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) về phia Nam, và Biên Đông. ́ ́ ̀ ́ ̉ Dai đât bị chia căt bởi nhiều nhánh núi Trường Sơn vươn ra đên tận biển, và môt số con ̉ ́ ́ ́ ̣ sông ngăn mà lưu vực chuôi về phia Biên Đông. Hinh 9. ́ ̀ ́ ̉ ̀

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản