intTypePromotion=1

Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng - TS Trương Thành Nam

Chia sẻ: Đặng Ngọc Cường | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:25

0
155
lượt xem
20
download

Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng - TS Trương Thành Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chuyên đề Kinh tế môi trường ứng dụng của TS Trương Thành Nam giúp sinh viên nắm rõ kiến thức về kinh tế môi trường ứng dụng, những luận điểm trong nghiên cứu môi trường, bản chất và nội dung cơ bản của kinh tế môi trường,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng - TS Trương Thành Nam

  1. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng KINH TẾ MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm về Kinh tế môi trường. Kinh tế môi trường là một lĩnh vực nghiên cứu có tính liên ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ hữu c ơ gi ữa môi trường và phát triển vì "Môi trường không chỉ là cơ sở, là điều kiện để phát triển mà còn là mục tiêu của phát triển". Mối quan hệ này nói lên rằng nếu không có bảo v ệ môi trường thích hợp, phát triển sẽ không bền vững và không có phát tri ển , bảo v ệ môi trường sẽ thất bại. Như vậy không thể phát triển bằng mọi giá và cũng không th ể b ảo v ệ môi tr ường bằng mọi giá. Từ đây ta thấy "Chỉ bằng cách nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ liên ngành này chúng ta mới có thể khởi đầu sự khẳng định được mối đe dọa của môi trường m ột cách đầy đủ và hình thành những chính sách cần thiết cho sự sống còn của chúng ta". Nhiệm vụ chủ yếu của Kinh tế môi trường là ứng dụng các lý thuyết và nh ững k ỹ thuật phân tích kinh tế nhằm lý giải và làm sáng tỏ các nguyên nhân kinh t ế c ủa suy thoái tài nguyên môi trường, đánh giá các giá trị kinh tế của tài nguyên môi tr ường và phát tri ển các công cụ thích hợp để quản lý và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, nghiên cứu các khía cạnh kinh tế c ủa môi tr ường và tài nguyên s ẽ chỉ cho biết tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi tr ường d ưới danh nghĩa phát tri ển s ẽ tụt giảm mức nào, và phát triển dưới danh nghĩa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã bị tổn thất đến đâu nhằm đảm bảo tối đa hiệu qu ả kinh t ế nh ưng trong kh ả năng cho phép của môi trường và hệ sinh thái tự nhiên. 2. Những luận điểm đặt nền móng cho nghiên cứu ứng dụng kinh tế môi trường. Môi trường không phải là một thực thể tách biệt khỏi nền kinh tế. Các ho ạt đ ộng kinh tế và môi trường luôn có một mối quan hệ khăng khít với nhau theo quy lu ật Nhân - Quả. Không có một quyết định kinh tế nào mà không làm ảnh h ưởng đ ến môi tr ường t ự nhiên hay xã hội và ngược lại không có một thay đ ổi nào xảy ra trong môi tr ường t ự nhiên hay xã hội mà không có tác động về mặt kinh tế. Khi nói đến ô nhiễm môi trường, chúng ta không chỉ nghĩ đ ến những m ất mát v ề vật chất và tổn hại đến sức khỏe của con người và muôn vật mà còn phải tính toán đ ể ch ỉ ra được các tổn thất về kinh tế của sự ô nhiễm môi trường ho ặc sử dụng tài nguyên không hợp lý. Theo quan điểm kinh tế thị trường, không một thức gì là cho không, mọi th ức đ ều được bán. Đây chính là kết quả của sự thay đổi mẫu mực đang diễn ra trong nền kinh tế, đó là sự quá độ từ một nền kinh tế dựa trên nhận th ức r ằng tài nguyên là vô h ạn sang m ột nền kinh tế dựa trên sự hiểu biết về giới hạn của môi trường. Thực tế đang tồn tại một lối suy nghĩ lệch lạc về giá cả c ủa những dạng tài nguyên và môi trường phi thị trường (không khí, đất, nước và những sản phẩm tự do ti ếp cận mà không phải trả tiền vì chúng được cung c ấp vô hạn). Nh ững ch ức năng hay d ịch vụ của môi trường như tuần hoàn nước và chất dinh dưỡng hay điều hòa khi dậu dễ dạng bị bỏ qua vì chúng không có thị trường, chúng nằm ngoài hệ thống hạch toán kinh t ế và chủ yếu được định giá bằng không (P = 0). Vì v ậy các yêu c ầu kh ấu hao, b ảo trì, duy tu các nguồn tài nguyên và môi trường vẫn chưa được kể đến trong hạch toán kinh tế. Ở Việt Nam, có rất nhiều những cuộc tranh luận gần đây t ập trung vào nh ững gì Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  2. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng phải đánh đổi giữa bảo tồn và phát triển kinh tế. Người ta tin r ằng, đ ể phát tri ển thì các địa phương không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải khai thác nhi ều nhất có th ể các nguồn tài nguyên của mình và để các mối lo toan về môi tr ường cho giai đo ạn phát tri ển sau này, lúc đã giàu có hơn rồi. Sau khi đã gặt hái được những thành quả phát tri ển, các đ ịa phương có thể tung tiền ra sửa chữa những hậu quả suy thoái môi trường mà h ọ t ạo ra trong suốt quá trình phát triển. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, có rất nhi ều các thành phố phát triển đã có sự bế tắc trong việc làm thế nào đ ể c ải thi ện môi tr ường n ước ở các kênh rạch nội thành. Mô hình kinh tế đang xuất hiện dựa vào một tầm nhìn rông rãi h ơn v ề các ho ạt động kinh tế, chú ý nhiều hơn vào môi trường vật lý và sinh h ọc mà trong đó các ho ạt động sản xuất và tiêu thụ đang diễn ra. Trong đó chi phí môi trường cần ph ải đ ược n ội hóa đầy đủ (các mô hình kinh tế cổ điển thường xem các chi phí tổn thất môi tr ường nh ư là ngoại ứng) chứ không chuyển sang cho người khác ho ặc thế hệ sau này. B ởi vì mô hình mới dựa vào nội hóa toàn bộ chi phí, nên c ần thiết phải đánh giá chi phí - l ợi ích m ột cách chính xác và phân biệt rõ ràng giữa việc tạo ra thu nhập và gây ra hao mòn các ngu ồn tài nguyên thiên nhiên do việc làm cạn kiệt hoặc suy thoái tài nguyên. Các nỗ lực bảo vệ môi trường suy cho cùng cũng nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Phát triển bền vững cũng là yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Phát triển bền vững trước hết là sự phát tri ển v ới s ự cân đ ối hài hòa cả ba phương diện Kinh tê - Xã hội - Môi trường. 3. Bản chất và những nội dung cơ bản của Kinh tế môi trường. Bản chất và những khía cạnh cốt lõi của kinh tế môi trường có th ể tóm tắt trong một trình tự gồm 3 bước tiếp nối như sau: 1) Đánh giá tầm quan trọng về mặt kinh tế của sự suy thoái môi trường. 2) Tìm các nguyên nhân kinh tế của sự suy thoái môi trường. 3) Đề ra những biện pháp, công cụ thích hợp để ngăn chặn và c ải thi ện s ự suy thoái môi trường, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Nội dung nghiên cứu của kinh tế môi trường tập trung vào những vấn đề sau: 1) Lý thuyết phát triển bền vững: Nghiên cứu mối quan hệ giữa 3 hệ thống lớn (Kinh tế - Xã hội - Môi trường) thông qua mô hình cân bằng v ật ch ất và cân bằng phúc lợi xã hội. Trên cơ sở đó, xác dịnh những bước đi c ần thi ết cho s ự phát triển bền vững, những nguyên tắc hoạt động và thước đo sự phát tri ển bền vững trong thực tế. 2) Lý thuyết sử dụng tối ưu các tài nguyên thiên nhiên và m ức ô nhi ễm t ối ưu kinh tế: Phân tích các nguyên nhân kinh tế dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường, những điều kiện sử dụng tối ưu tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế thị trường, đạo đức môi trường, quy mô ho ạt đ ộng kinh t ế trong những giới hạn sinh thái đối với nền kinh tế. 3) Các phương pháp đánh giá kinh tế: Định lượng các giá trị phi thị trường của những hàng hóa và dịch vụ môi trường, các phí tổn kinh tế và phí t ổn xã h ội do ô nhiễm và suy thoái môi trường. Kinh tế môi trường sẽ không có ý nghĩa th ực tế nếu không định lượng được các giá trị trên. 4) Các giải pháp quản lý môi trường tích hợp: Bao gồm các cách th ức h ữu hi ệu Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  3. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng (các công cụ khuyến khích và xử phạt kinh tế) mà chính phủ và chính quyền đ ịa phương có thể sử dụng để điều tiết thị trường hướng vào việc thực hiện các nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo v ệ môi tr ường, những vấn đề liên quan đến phân tích chi phí - lợi ích xã hội lồng ghép vào trong thủ tục đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư. 5) Mô hình hóa kinh tế môi trường: Bao gồm việc sử dụng mô hình toán kinh tế và mô hình toán về sự chuyển hóa của các dòng vật chất/năng lượng trong môi trường nhằm giúp cho các nhà làm chính sách điều chỉnh cơ c ấu nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế cho phù hợp với khả năng c ủa hệ tự nhiên. Nó cũng bao gồm cả các phương pháp hạch toán kinh tế các dạng tài nguyên và môi trường. 4. Cơ sở khoa học nghiên cứu kinh tế môi trường. 4.1. Sự liên kết giữa Kinh tế - Môi trường. Thông qua hình dưới cho thấy một biểu hiện phức tạp về m ối quan h ệ gi ữa kinh tế và môi trường thông qua biến đổi của dòng vật chất. Trong sơ đồ này cho ta th ấy, những yếu tố ở bên trong hình bầu dục là các bộ phận của hệ thống kinh tế. Toàn bộ các yếu tố đó, về cơ bản, được bao bọc bên trong môi tr ường t ự nhiên. Kinh tế học được chia ra thành hai phân đoạn lớn: "người sản xu ất" và "ng ười tiêu th ụ". "Người sản xuất" bao gồm toàn bộ các hãng, công ty thu n ạp và chuyển hoá nh ững đ ầu vào thành những đầu ra hữu ích. Những đầu vào chủ yếu của khu vực sản xuất lấy từ môi trường tự nhiên là các vật tư ở dạng tự nhiên, dạng nhiên liệu, khoáng sản và gỗ, chất lỏng nh ư n ước và d ầu mỏ, nhiều loại khí như khí tự nhiên và ôxy. Tất cả các lo ại hàng hoá và d ịch v ụ đ ều b ắt nguồn từ các vật tư nhờ sử dụng năng lượng đưa vào. Nh ư vậy. hàng hoá và d ịch v ụ đã được sản xuất ra chính là hiện thân của một phần nguồn vật ch ất và năng l ượng này đ ể rồi sau đó hướng đến "người tiêu thụ". "Người tiêu thụ" cũng có th ể s ử d ụng ngu ồn v ật chất và năng lượng lấy trực tiếp từ tự nhiên mà không qua khâu trung gian (ng ười s ản xuất). Chẳng hạn, chúng ta có thể dùng nước giếng khơi tại nhà hoặc lấy củi để đun nấu. Nhưng để đơn giản hoá, những chức năng này không đ ược tính đ ến và đ ưa vào l ược đ ồ. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể coi "người sản xuất" và "người tiêu thụ" là một. Môi trường thiên nhiên Đã tái tuần hoàn (Rrp) Nguyên liệu Chất thải (Rp) Thải bỏ (Rdp) (M) Sản xuất Material Hàng hóa Chất thải Thải bỏ (Rdc) (G) Tiêu thụ  (Rc) Goods Đã tái tuần hoàn (Rrc) Môi trường thiên nhiên Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  4. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Nguồn: Phiên bản từ Barry C. Field. Environmental Economics: an introduction. 1994, p.24. Sản xuất và tiêu thụ tạo nên chất thải, bao gồm tất cả các loại c ặn bã v ật chất có thể thải vào không khí hoặc nước, hay được huỷ bỏ trên mặt đất. Các chất thải rất nhiều và danh sách của chúng dài đến nỗi không thể tin được: điôxýt lưu huỳnh, h ợp ch ất h ữu cơ bay hơi, dung môi độc hại, phân động vật, thuốc trừ sâu, các loại bụi lơ lửng, vật li ệu xây dựng thải ra, kim loại nặng, v.v... và v.v... Năng lượng thải ra dưới dạng nhiệt, tiếng ồn và phông xạ mang đặc trưng của cả vật chất và năng l ượng cung là nh ững ch ất th ải quan trọng của sản xuất. "Người tiêu thụ" cũng phải chịu trách nhi ệm về vi ệc th ải vào môi trường một lượng chất thải khổng lồ, đặc biệt là c ống rãnh và khí do ô tô th ải ra. T ất cả các vật chất kết tinh trong hàng hoá của người tiêu th ụ cu ối cùng, t ất y ếu ph ải k ết thành các thứ để lại, ngay cả khi chúng có thể được tái tuần hoàn. Điều này gi ải thích tại sao ngày càng có một lượng lớn chất thải rắn, các hoá chất độc hại và dầu đã sử dụng còn tồn tại. Trước hết, chúng ta hãy xem xét vấn đề chất thải c ủa sản xu ất và tiêu th ụ trên quan điểm hoàn toàn vật lý. Sơ đồ trên cho thấy vật chất và năng l ượng đ ược khai thác t ừ môi trường tự nhiên và chất thải được thải trở lại vào môi trường tự nhiên. Đ ịnh lu ật th ứ nhất của nhiệt động học (Định luật nổi tiếng về bảo toàn vật chất) chỉ cho chúng ta thấy rằng: Trong cuộc "chạy đua đường dài", hai dòng này phải bằng nhau, nghĩa là: M = Rpd+ RCd Điều này chứng tỏ một kết luận rất cơ bản là: Nếu chúng ta mu ốn gi ảm kh ối lượng chất thải vào môi trường tự nhiên, thì chúng ta phải gi ảm số l ượng nguyên v ật li ệu đưa vào hệ thống. Để hiểu rõ hơn, bây giờ chúng ta thay thế M theo dòng: Rpd + Rcd = M = G + Rp - Rpr - Rcr Nghĩa là số lượng nguyên, vật liệu (M) bằng tái sản xuất ra (G) c ộng v ới ch ất th ải sản xuất (Rp) trừ đi tổng lượng chất tái tuần hoàn của người s ản xu ất (Rp r) và của người tiêu (Rcr). Có ba cách chủ yếu để giảm M (và do đó giảm chất vào môi trường tự nhiên): a. Giảm G: Tức là giảm chất thải bằng cách giảm lượng hàng hoá và d ịch v ụ do nền kinh tế sản xuất ra. b. Giảm Rp: Có một cách khác để giảm M và do đó giảm được chất thải ra, đó là giảm Rp. c. Tăng (Rpr + Rcr ): Khả năng thứ ba là tăng tái tuần hoàn. Nguồn vật chất đã chuyển hoá thành năng lượng thì không th ể nào có th ể ph ục h ồi được. Thêm nữa, bản thân quy trình tái tuần hoàn cũng có thể tạo nên chất th ải. Hy v ọng rằng, các nghiên cứu, tìm kiếm trong lĩnh vực này sẽ phát hi ện ra nhi ều ph ương pháp tái tuần hoàn mới, nhiều quy trình công nghệ không có hoặc có ít chất thải. 4.2. Mô hình thị trường và hiệu quả kinh tế. Bất kỳ khung cảnh nào trong đó tập hợp những người mua và ng ười bán h ọ tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi, mua bán các lo ại hàng hoá và d ịch v ụ. Trong một số trường hợp, người mua và người bán có thể tiếp xúc trực ti ếp tại các địa điểm cố định như các thị trường hàng tiêu dùng: thực phẩm, rau quả, quần áo... Trong những trường hợp khác, các công việc giao dịch có th ể di ễn ra thông qua vô tuy ến, đi ện Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  5. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng thoại hoặc các phương tiện viễn thông khác như trong thị trường ch ứng khoán, giao d ịch ngân hàng... Điểm chung nhất của các thành viên tham gia thị trường là họ đều tìm cách tối đa hoá lợi ích của mình. Người bán (sản xuất) muốn tối đa hoá lợi nhuận, còn người mua (người tiêu dùng) mượn tối đa hoá sự thoả mãn hay lợi ích mà họ nhận đ ược từ hàng hoá hay dịch vụ mà họ mua. Để hiểu được quá trình này một cách đầy đủ hơn, chúng ta cần một mô hình thị trường đi ển hình trong đó tập trung vào cầu - hành vi của người mua và cung, hành vi của người bán. • Cầu: Là mối quan hệ giữa giá (P) và lượng cầu (Q) của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Đó là lượng hàng hoá dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua tại mức giá đã cho trong m ột thời gian nhất định. Trong những điều kiện như nhau, giá càng thấp thì lượng cầu càng lớn và ngược lại. Nếu biểu thị mối quan hệ này bằng đồ thị ta có đường cầu. Thông thường, đường cẩu dốc xuống từ trái sang phải như trong hình. • Cung: Là mối quan hệ giữa giá (P) và lượng cung (Q) của một loại hàng hoá /dịch vụ. Đó là lượng hàng hoá/dịch vụ mà người bán sẵn lòng và có khả năng cung tại mức giá xác định trong m ột thời gian nhất định. Trong những điều kiện như nhau, giá càng cao thì lượng cung càng lớn và ngược lại. Chúng ta có thể biểu thị mối quan hệ này dưới dạng đồ thị, đó là đường cung. Thông thường, đường cung có độ dốc đi lên từ trái sang phải như hình. • Cân bằng thị trường Khi cần đối với một hàng hoá/dịch vụ nào đó xuất hiện trên thị trường, người sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng mức cầu đó. Thị trường ở trạng thái cân bằng khi việc cung hàng hóa dịch vụ đủ thoả mãn cấu đối với hàng hoá /dịch vụ đó trong m ột th ời kỳ nh ất định. Tại trạng thái cân bằng này chúng ta có m ức giá cân b ằng (P*) và s ản l ượng cân bằng (Q*). Trên hình, mức cân bằng được xác định bằng giao điểm của hai đường cung và cầu. Đặc điểm quan trọng của mức giá cân bằng này là nó không được xác định bởi từng cá nhân riêng lẻ mà được hình thành bởi hoạt động tập thể của toàn bộ người mua và người bán. Đây chính là cách định giá khách quan theo "Bàn tay vô hình" của cơ chế thị trường. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  6. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Tại những mức giá thấp hơn giá cân bằng, sẽ xuất hiện tình trạng dư cầu (thiếu cung); Tình trạng này sẽ tạo ra sức ép làm tăng giá. Ngược lại, tại những mức giá cao hơn giá cân bằng, sẽ xuất hiện tình trạng dư cung; tình trạng này sẽ tạo ra sức ép làm giảm giá. Khi giá thay đổi, lượng cung và lượng cầu cũng điều chỉnh cho tới khi đạt được trạng thái cân bằng. Mô hình cung - cầu cơ bản có thể được dùng để nghiên c ứu nhi ều vấn đ ề môi trường và chính sách. • Phúc lợi xã hội. • Lợi ích và thặng dư tiêu dùng a) Lợi ích Thuật ngữ lợi ích được hiểu như là sự vừa ý, sự hài lòng do việc tiêu dùng hàng hóa dịch vụ đem lại. - Lợi ích toàn bộ (hay Tổng lợi ích - TB) là tổng thể sự hài lòng do toàn bộ sự tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ đem lại. - Lợi ích cận biên (MB) phản ánh mức độ hài lòng do tiêu dùng m ột đ ơn v ị sản phẩm đem lại. Lợi ích là một khái niệm trừu tượng dùng trong kinh tế học để ch ỉ c ảm giác thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc sự thoả mãn do tiêu dùng hàng hoá /dịch vụ mà có. Chúng ta không thể đo được lợi ích và lợi ích cận biên bằng các đơn vị vật lý như chi ều dài, cân nặng. Tuy vậy, chúng ta có thể dùng giá để đo lợi ích c ận biên c ủa việc tiêu dùng: lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hoá /dịch vụ càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho nó, khi lợi ích cận biên giảm thì sự sẵn lòng chi tr ả cũng gi ảm đi. N ếu v ậy, đường cầu cũng chính là đường thể hiện lợi ích cận biên của việc tiêu dùng. b) Thặng dư tiêu dùng Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch gi ữa lợi ích c ủa người tiêu dùng khi tiêu dùng một lượng hàng hoá /dịch v ụ so v ới chi phí th ực t ế đ ể thu đ ược l ợi ích Người tiêu dùng là người tối đa hoá lợi ích nên sẽ tiêu dùng hàng hoá cho đ ến khi lợi ích cận biên của đơn vị hàng hoá cuối cùng bằng với giá ph ải tr ả cho đ ơn v ị hàng hoá đó. • Chi phí và thặng dư sản xuất a) Chi phí Chi phí đối với một doanh nghiệp được hiểu là các kho ản chi trả mà doanh nghi ệp phải thực hiện để duy trì việc sản xuất một số lượng hàng hoá /dịch vụ. - Tổng chi phí (TC) của việc sản xuất một lượng hàng hoá bao gồm giá thị trường của toàn bộ các nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra lượng hàng hoá đó. Có th ể phân biệt hai loại chi phí: Cố định và biến đổi. - Chi phí cố định (FC) là những chi phí không thay đổi khi sản lượng thay đ ổi, đó chính là những chi phí mà doanh nghiệp phải thanh toán dù không sản xu ất ho ặc s ản xu ất Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  7. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng rất ít; ví dụ, tiền thuê nhà xưởng, khấu hao thiết bị, bảo dưỡng thiết bị, tiền lương của bộ máy quản lý. - Chi phí biến đối (VC) là những chi phí tăng hoặc giảm cùng với mức tăng ho ặc giảm của sản lượng, ví dụ như tiền mua nguyên, vật li ệu, nhiên li ệu năng l ượng, ti ền lương công nhân... - Chi phí cận biên (MC) là chi phí phải chi bổ sung để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng hàng hoá /dịch vụ. b) Thặng dư sản xuất Thặng dư sản xuất là khái niệm phản ánh mức chênh lệch gi ữa số ti ền mà người sản xuất thực sự nhận được từ việc cung cấp một lượng hàng hoá /d ịch v ụ so v ới s ố ti ền tối thiểu mà anh ta sẵn sàng chấp nhận chi trả. • Lợi ích ròng xã hội Chúng ta vừa đề cập đến những vấn đề liên quan đến lợi ích và chi phí. T ổng l ợi ích xã hội của việc tiêu dùng một lo ại hàng hoá/dịch v ụ v ới m ột l ượng nào đó đ ược xác định là tổng lợi ích của tất cả các cá nhân trong xã hội được hưởng liên quan đến việc tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ đó. Tổng lợi ích xã hội cũng được xác đmh bằng tổng cộng sự sẵn lòng chi tr ả c ủa các cá nhân trong xã hội cho việc tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ. Tổng chi phí xã hội của việc sản xuất một hàng hoá/dịch vụ được xác định là t ổng chi phí của tất cả các nguồn lực cần thiết (kể cả chi phí c ơ hội) để sản xu ất ra hàng hoá/dịch vụ đó. 4.3. Ngoại ứng (Externality). Yếu tố ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng c ủa m ột một số cá nhân tác động trực tiếp đến vi ệc sản xuất hay tiêu dùng c ủa nh ững ng ười khác mà không thông qua giá cả thị trường. Ngoại ứng có thể xuất hiện gi ữa những người s ản xuất với nhau, giữa những người tiêu dùng với nhau hoặc giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Vấn đề chính yếu của ngoại ứng là nó tạo ra các lợi ích và chi phí không đ ược bồi hoàn, không có sự tham gia của bất kỳ luồng tài chính nào. Các ngoại ứng có thể là tiêu cực hay tích cực. - Ngoại ứng tiêu cực nảy sinh khi các doanh nghiệp hoặc cá nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho người khác mà không phải thanh toán, b ồi th ường cho nh ững t ổn th ất, thi ệt hại đó; nói cách khác ngoại ứng tiêu cực là khi hoạt đ ộng c ủa m ột bên áp đ ặt nh ững chi phí cho các bên khác. Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất giấy và bột giấy thải nước bẩn xuống sông mà không phải chịu một chi phí nào cả, mặc dù vi ệc thải n ước này đã gây nên nh ững t ổn th ất cho các sinh vật dưới dòng sông, làm giảm thu nhập c ủa ngư dân và gây khó khăn cho các hộ tiêu dùng nước sông, gây ra một số bệnh do sử d ụng n ước không s ạch... L ượng ch ất thải vào sông càng lớn thì những tổn thất gây ra càng nhi ều. Rõ ràng doanh nghi ệp đã áp đặt những chi phí cho ngư dân và các hộ tiêu dùng n ước khi đưa ra quyết đ ịnh sản xu ất của mình, tức là đã tạo ra ngoại ứng tiêu cực. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  8. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng - Ngoại ứng tích cực nảy sinh khi các doanh nghiệp hoặc cá nhân tạo ra lợi ích cho những người khác mà không nhận được những khoản thù lao thoả đáng cho việc đó. Ví dụ một hộ gia đình sửa sang lại ngôi nhà của mình, xây bồn trồng hoa làm đ ẹp cho cả khu phố. Các gia đình trong phố được hưởng những tác động tốt đẹp này mà không phải trả một khoản nào, còn chủ nhân của ngôi nhà trên cũng không tính đến lợi ích của xóm giềng trong quyết định sửa nhà, trồng hoa của mình. 4.4. Ô nhiễm tối ưu. 4.4.1. Ô nhiễm là ngoại ứng. Khái niệm ô nhiễm môi trường theo quan điểm kinh tế học phụ thuộc vào 2 yếu tố. Tác động vật lý của chất thải và phản ứng của con người đối với tác đ ộng ấy. Tác động vật lý của chất thải có thể mang tính sinh h ọc như thay đ ổi gen di truy ền, gi ảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến mùa màng hoặc sức khoẻ con người. Tác động cũng có th ể mang tính hoá học như ảnh hưởng của mưa axít đối với các công trình, nhà cửa... Phản ứng của con người đối với các tác động nói trên có thể là sự không hài lòng, buồn phiền, lo lắng và những thay đổi liên quan đến lợi ích. Khi có ô nhi ễm v ật lý không có nghĩa là sẽ có ô nhiễm về mặt kinh tế. Ô nhi ễm về m ặt kinh t ế ch ỉ xu ất hi ện khi con nguời bắt đầu nhận thấy các tác động vật lý của ô nhiễm làm suy gi ảm lợi ích c ủa mình. Nếu một người, bị tác động vật lý của chất thải nhưng lại hoàn toàn bàng quan v ới tác động đó, thì cũng xem như không có ô nhiễm về kinh tế (ví dụ, một số người có th ể v ẫn ngủ ngon và không quan tâm đến những tiếng ồn xung quanh). Như vậy có thể nói ô nhiễm môi trường là một dạng ngoại ứng mà ở đó tác đ ộng được tạo ra bên trong một hoạt động hoặc quá trình sản xuất hay tiêu dùng nào đó nh ưng lại gây ra những chi phí không được tính đến cho những ho ạt đ ộng ho ặc quá trình khác bên ngoài. 4.4.2. Cách tiếp cận ô nhiễm tối ưu. • Tại mức cân bằng xã hội. Các nhà kinh tế cho rằng ô nhiễm tạo ra một loại chi phí sinh thái giống như bất cứ chi phí kinh tế nào khác. Vì thế khi tính chi phí xã hội của sản xuất như là tổng của chi phí cá nhân và chi phí ngoại ứng, chúng ta đạt được mức hoạt động kinh tế tối ưu đối với xã hội tại điểm cân bằng của chi phí cận biên xã hội và lợi ích cận biên xã hội. Mức hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Pareto này cũng được cho là sẽ tạo ra mức ô nhiễm tối ưu đối với xã hội W*. Với cách tiếp cận này, chúng ta đã xem xét một sự đánh đổi tối ưu giữa hàng hoá kinh tế và hàng hoá chất lượng môi trường; theo đó, chúng ta cần giảm việc sản xuất và tiêu dùng hàng hoá kinh tế để có một chất lượng môi trường tốt hơn. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  9. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Đối với cá nhân các doanh nghiệp, điều ki ện tối ưu cho vi ệc gây ô nhi ễm c ủa doanh nghiệp khi tính đến các chi phí của ô nhiễm chỉ ra rằng: Các doanh nghiệp chỉ nên thải ra một lượng ô nhiễm mà tại đó lợi ích cận biên từ ho ạt động gây ô nhiễm (tức là phần lợi nhuận tăng thêm cho doanh nghiệp nhờ việc sản xuất thêm m ột l ượng s ản ph ẩm ứng với mức tăng một đơn vị ô nhiễm) phải bằng đúng với chi phí ngo ại ứng do đ ơn v ị ô nhiễm đó gây ra, tức là điều kiện sau phải được tho ả mãn tại m ức ho ạt đ ộng kinh t ế t ối ưu Q* và mức ô nhiễm tối ưu W*. • Tại mức cực tiểu hoá chi phí ô nhiễm. Ở phần trên chúng ta đã giả định rằng mức ô nhiễm có thể được điều chỉnh thông qua việc điều chỉnh sản lượng. Tuy nhiên trong thực tế, có thể không nhất thi ết phải thay đổi sản lượng mà chỉ cần chi phí cho việc kiểm soát ô nhiễm (như giảm thải do sản xuất sạch hơn, lắp đặt các thiết bị xử lý ô nhiễm...) cũng có thể đạt được mức ô nhiễm tối ưu. Lý luận được bàn đến ở đây là: Một khi đã xuất hiện ô nhi ễm, chúng ta có th ể không hoặc chỉ xử lý một phần ô nhiễm và sẽ chịu đựng những thiệt hại do ô nhiễm gây ra (chi phí thiệt hại do ô nhiễm); Chúng ta có thể xử lý hoàn toàn ô nhi ễm đ ể tránh các chi phí thiệt hại do ô nhiễm gây ra, chúng ta cũng có th ể l ựa ch ọn k ết h ợp v ừa chi phí đ ể giảm một phần ô nhiễm vừa chịu đựng một phần thiệt hại do ô nhiễm gây ra. Theo quan điểm của các nhà kinh tế, hiệu quả kinh tế sẽ đạt được tại m ột m ức ô nhiễm mà tại đó tổng các chi phí môi trường bao gồm chi phí kiểm soát ô nhi ễm và giá tr ị thiệt hại môi trường là thấp nhất. Điều này có nghĩa là chúng ta c ần xem xét s ự đánh đ ổi tối ưu giữa chi phí và lợi ích của việc giảm ô nhiễm bằng cách th ể hi ện c ả hai đ ường MAC và MDC trên cùng một đồ thị như trong hình dưới đây: Tại mức thải lớn nhất Wm chi phí giảm ô nhiễm bằng không và tổng chi phí thiệt hại là lớn nhất. Nếu chúng ta bắt đầu thực hiện giảm thải, tổng chi phí giảm thải tăng, nhờ đó lượng chất thải giảm và vì thể tổng chi phí thiệt hại cũng giảm. Chi phí thiệt hại giảm đi cũng đồng nghĩa với việc lợi ích của người bị ô nhiễm tăng lên hay đó chính là lợi ích của việc giảm ô nhiễm. Nếu chúng ta cố gắng giảm thải về bằng không, chúng ta sẽ phải chi phí rất lớn cho việc này và tổng lợi ích của việc giảm ô nhiễm cũng là rất lớn. Liệu rằng đó có phải là kết quả mà chúng ta mong đợi hay không? Các nhà kinh tế nói rằng tại mức này có thể chúng ta đã phải bỏ ra một chi phí quá lớn để nhận được một lợi ích nhỏ hơn rất nhiều so với chi phí đó. Bằng đồ thị, chúng ta có thể dễ dàng thấy được là tại mức thải W* (t ại đó MAC = MDC), tổng chi phí môi trường là nhỏ nhất bao gồm tổng chi phí gi ảm thải là di ện tích tam giác WmEW* và tổng chi phí thiệt hại là diện tích tam giác OEW*. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  10. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng MAC: Maginal Abatement Costs - Chi phí giảm thải cận biên MDC: Maginal Damage Cost - Chi phí thiệt hại cận biên Nếu mức thải tại Wl thì so với W*, thiệt hại do ô nhiễm giảm nhưng chi phí cho việc giảm ô nhiễm lại tăng thêm quá nhiều. Kết quả là tại W l, tổng chi phí môi trường của xã hội tăng thêm bằng diện tích tam giác EAB. Ngược lại, nếu mức thải tại W 2 thì so với W*, chúng ta tiết kiệm được chi phí giảm ô nhiễm nhưng lại phải gánh chịu nhiều thiệt hại môi trường hơn và vì th ế, tổng chi phí môi trường vẫn tăng thêm bằng diện tích tam giác ECD. 5. Các công cụ kinh tế đối với vấn đề môi trường. 5.1. Giải pháp kinh tế thị trường. Trong thực tế hoạt động của cơ chế kinh tế thị trường, trong m ột sẽ tr ường h ợp xảy ra nhằm hạn chế ô nhiễm trở nên có hiệu quả mà không cần đ ến sự can thi ệp c ủa Nhà nước, khi các ngoại ứng tác động đến ít bên (tác động trực ti ếp đ ến m ột ch ủ th ể kinh tế cụ thể nào đó) và khi quyền tài sản hay quyền sở hữu được xác định rõ ràng. 5.2. Áp dụng chuẩn thải. Các tiêu chuẩn là một trong những giải pháp cơ bản của Nhà n ước sử d ụng đ ể giảm thiểu ô nhiễm. Để xác định các tiêu chuẩn phải tuân thủ thông qua nhiều thủ tục khá dài dòng bao gồm các nghiên cứu khoa học và hàng lo ạt các quá trình đánh giá. Ví d ụ ở Mỹ, để xác định các tiêu chuẩn môi trưởng cơ quan bảo vệ môi tr ường (EPA) đ ược giao nhiệm vụ xem xét lại toàn bộ những nhiệm vụ này và đưa ra ki ến ngh ị chính th ức làm th ế nào để xác định được các định mức chuẩn, trên c ơ sở định m ức chu ẩn đó đ ược qu ốc h ội quy định thực hiện và được EPA theo dõi và kiểm soát. Một loại tiêu chuẩn môi trường có thể thay thế khác là dựa trên c ơ sở chuẩn thải. Như vậy, chuẩn mức thải là quy định giới hạn mang tính pháp lý về lượng chất thải tối đa một doanh nghiệp được phép thải vào môi trường. Nếu doanh nghiệp nào th ải quá gi ới hạn cho phép đó thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Tiêu chuẩn dựa trên cơ sở chuẩn thải qui định rõ mức phát thải đối v ới t ất c ả các chủ thể gây ô nhiễm nhưng khoai quy định công nghệ được sử dụng để đạt đ ược m ức chuẩn thải đó. Bằng biện pháp sử dụng chuẩn thải đảm bảo thủ linh hoạt hơn so với tiêu chuẩn dựa trên công nghệ, tạo ra cơ chế mềm dẻo để các c ơ s ở gây ô nhi ễm có th ể tuỳ chọn biệt pháp giảm thiểu ô nhiễm. 5.3. Thuế ô nhiễm môi trường (Thuế Pigou). Theo cách tiếp cận ô nhiễm tối ưu thứ nhất vừa nêu ở trên, người gây ô nhiễm cần phải giảm sản lượng về mức tối ưu xã hội. Để tạo được một động cơ kinh tế cho người gây ô nhiễm thay đổi mức sản lượng của mình, cần phải buộc họ chịu đầy đủ chi phí xã hội của việc sản xuất, bao gồm cả chi phí cá nhân (nguyên, vật liệu, nhà xưởng, vốn, lao động...) và chi phí ngoại ứng môi trường. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  11. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Pigou đã đưa ra ý tưởng về việc đánh thuế đối với những người gây ô nhiễm. Nguyên tắc đánh thuế do Pigou nêu ra là: "Mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng đo đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tối ưu xã hội Q*". Nếu ký hiệu mức thuế là t*, ta có t* = MEC(Q*) Loại thuế này nhằm mục đích buộc nhà sản xuất phải "nội hoá các ngoại ứng" và điều chỉnh mức hoạt động của mình về sản lượng tối ưu xã hội, vì thế người ta gọi là "thuế ô nhiễm tối ưu". Người ta cũng gọi là thuế Pigou để kỷ niệm người đã có công đầu tiên đề xuất ra loại thuế này. Một số vấn đề liên quan đến áp dụng thuế ô nhiễm tối ưu * Trong thực tế, việc xác định đúng mức thuế t* cần thiết là rất khó khăn vì chúng ta không có đủ thông tin về MNPB và MEC. Khi đó, một mức thuế t nào đó được ban hành có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn t* và như vậy việc áp dụng thuế sẽ không đạt được mục tiêu tối ưu đối với xã hội. Một vấn đề gây nhiều tranh cãi là, mặc dù thuế Pigou góp phần đưa mức sản lượng và ô nhiễm về mức tối ưu xã hội nhưng cách đánh thuế như vậy có vẻ không công bằng lắm vì người gây ô nhiễm phải trả nhiều hơn mức chi phí ngoại ứng môi trưởng mà họ gây ra cho xã hội. Trong hình (Tính công bằng của thuế Pigou), chi phí ngoại ứng môi trường chỉ là diện tích a nhưng người gây ô nhiễm phải trả tổng số thuế bằng diện tích (a + b). Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế lại cho rằng lập luận về sự "không công bằng" chỉ đúng trong trường hợp doanh nghiệp có quyền tài sản về môi trường. Trong trường hợp doanh nghiệp không có quyền tài sản về môi trường, khoản thuế (a + b) sẽ bao gồm cả việc chi trả cho chi phí môi trường và chi trả cho quyền sử dụng các nguồn lực môi trường vốn là khan hiếm, tức là (a + b) bao gồm cả chi phí thực và chi phí cơ hội của việc sử dụng môi trường. Như đã đề cập ở phần trên, thuế ô nhiễm đánh vào từng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra mà không căn cứ vào lượng chất thải gây ô nhiễm thực tế được thải ra môi trường. Hạn chế của cách đánh thuế này là nó không tạo ra được những động cơ khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sạch hơn để giảm lượng chất thải cũng như không khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm các giải pháp tốt hơn để xử lý hay huỷ bỏ chất thải. 5.4. Phí ô nhiễm môi trường (Phí Pigou). Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  12. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Phí xả thải là một loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế của người sản xuất. Đây cũng là một dạng thuế Pigou, chúng ta có thể gọi là phí Pigou. Để xác định mức phí tính trên m ỗi đơn v ị chất thải, người ta cần căn cứ vào chi phí cần thiết để làm giảm đơn vị ô nhiễm đó, tức là MAC đã nói ở trên. Khi áp dụng phí xả thải, người gây ô nhiễm sẽ có phản ứng phù hợp để nhằm tối thiểu hoá chi phí của mình. Chúng ta sẽ xem doanh nghiệp với đường MAC = 72 - 3Q (trong đó Q là lượng phát thải) như trong hình 2.20 dưới đây sẽ phản ứng như thế nào với một mức phí F. Khi chưa có sự can thiệp của Nhà nước, doanh nghiệp thải 24 đơn v ị chất thải và không chi phí một đồng nào cho việc giảm thải. Giả sử Nhà nước yêu cầu phải giảm thải triệt để 24 đơn vị, căn c ứ vào công ngh ệ giảm thải và yêu cầu nộp phí ở mức quy định của nhà n ước có tính t ối ưu v ới m ột m ức phí là 30$/đơn vị chất thải, doanh nghiệp có thể có những l ựa ch ọn khác nhau nh ư đ ược tính toán trong bảng dưới đây: Các lựa chọn giảm thải và chi phí của doanh nghiệp Tổng chi phí môi  Phương án Tổng chi phí giảm thải (TAC) Tổng phí (TF) trường (TAC + TF) Phương án 1: Không chi phí giảm  0 30$ × 24 = 720$ 720$ thải Phương án 2: Giảm thải toàn bộ 1/2 × 72$ × 24 = 864$  0 864$ Phương án 3: Nộp phí 14 đơn vị  (tại mức có MAC = F). Chi phí  1/2 × 30$ × 10 = 150$ 30$ × 14 = 420$ 570$ giảm thải 10 đơn vị Minh họa: Thu phí nước thải Điều 6: Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải quy định như sau: 1. Mức thu phí bảo vệ môi trường đovới nước thải sinh hoạt được tính theo tỷ lệ phần trăm  (%) trên giá bán 1m3(một mét khối) nước sạch, nhưng tối đa không quá 10% (mười phần trăm) của  giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ  chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng (trừ hộ gia đình ở những nơi chưa có hệ thống nước  sạch), thì mức thu được xác định theo từng người sử dụng nước, căn cứ vào số lượng nước sử dụng  bình quân của mỗi người trong xã, phường nơi khai thác và giá cung cấp 1m3 nước sạch trung bình  tại địa phương. 2. Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tính theo từng chất gây ô  nhiễm được quy định như sau: Mức thu (đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong  Chất gây ô nhiễm STT nước thải) Tên gọi Ký hiệu Tối thiểu Tối đa 1 Nhu cầu ôxi sinh hóa ABOD 100 300 2 Nhu cầu ôxi hóa học ACOD 100 300 3 Chất rắn lơ lửng ATSS 200 400 Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  13. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng 4 Thủy ngân AHg 10.000.000 20.000.000 5 Chì APb 300.000 500.000 6 Arsenic AAS 600.000 1.000.000 7 Cadmium Acd 6.000.000 1.000.000 Nguồn: Nghị định của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đôi với nước thải. Số 67/2003/NĐ­CP ngày 13 tháng 6 năn 2003. 5.5. Sự lựa chọn giữa chuẩn mức thải và phí thải trong quản lý môi trường. Thực tế áp dụng các công cụ chuẩn mức thải và phí xả thải cho thấy, ở m ột số quốc gia, trong một số trường hợp các nhà quản lý dựa nhiều h ơn vào chu ẩn m ức th ải trong khi một số quốc gia khác lại sử dụng rất thành công các lo ại phí th ải đ ể đi ều ti ết mức thải. Vậy lý do kinh tế gì đã làm cho người ta ưa thích cách này hay cách khác. Các nhà kinh tế đã chứng minh rằng, trong trường hợp thông tin hoàn h ảo, nói chung các nhà qu ản lý ưa thích dùng công cụ phí thải hơn so với công cụ chuẩn mức th ải. Tuy nhiên, khi không có đủ thông tin, sự ưa thích sẽ còn tùy thuộc vào việc cân nhắc chi phí - l ợi ích c ủa từng trường hợp cụ thể. Chúng ta sẽ xem xét cách lựa chọn c ủa các nhà qu ản lý trong c ả hai trường hợp, khi thông tin hoàn hảo là khi thông tin không hoàn hảo. • Trường hợp thông tin hoàn hảo Khi thông tin hoàn hảo tức là chúng ta hoàn toàn xác định đ ược MAC và MDC và mức thải tối ưu cũng như mức phí cần thiết để đạt được mức thải tối ưu đó. • Trường hợp thông tin không hoàn hảo Thông tin không hoàn hảo sẽ gây ra tình trạng không chắc ch ắn v ề các chi phí giảm thải cận biên và chi phí thiệt hại cận biên, dẫn đến vi ệc xác đ ịnh chuẩn m ức th ải và/hoặc phí thải thấp hơn hoặc cao hơn mức cần thi ết để đạt ô nhi ễm t ối ưu. C ụ th ể hơn, có thể nói rằng thiếu thông tin sẽ dẫn đến việc ban hành các quy đ ịnh v ề chu ẩn th ải hay phí thải không hiệu quả và gây ra những phí tổn gia tăng cho xã hội. Chúng ta gọi đó là sự thất bại của chính sách. Các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý tất nhiên không mu ốn có s ự th ất bại về chính sách. Tuy nhiên, trong trường hợp thi ếu thông tin, đi ều này là khó tránh kh ỏi. Các nhà hoạch định chính sách môi trường sẽ ưa thích sử dụng m ột công c ụ nào đó n ếu biết rằng việc sử dụng công cụ đó gây ra phí tổn gia tăng cho xã hội nhỏ hơn so với khi sử dụng công cụ khác. Trong một số trường hợp thiếu thông tin (thông tin không hoàn hảo) thì các nhà chính sách sẽ xác định tổn thất khi sử dụng bi ện pháp nào (chuẩn hay phí th ải) đ ể k ết luận nên sử dụng chuẩn thải hay phí thải. 5.6. Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng. Năm 1968, nhà kinh tế học người Canađa là Dales lần đầu tiên đ ưa ra đ ề ngh ị v ề một cơ chế trong đó một số lượng nhất định "quyền gây ô nhi ễm" (b ằng v ới m ức ô nhiễm mà xã hội mong muốn) có thể được mua đi bán lại giữa những người gây ô nhiễm. "Quyền gây ô nhiễm" của các doanh nghiệp sẽ được ghi nhận bằng các "gi ấy phép xả thải" do cơ quan quản lý môi trường ban hành. Giả sử cơ quan quản lý môi tr ường xác định tổng mức ô nhiễm cho phép là 100 đơn vị, họ sẽ phát hành 100 gi ấy phép, m ỗi gi ấy phép tương đương quyền được thải 1 đơn vị ô nhiễm. Doanh nghiệp chỉ được phép thải Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  14. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng trong phạm vi số lượng giấy phép mình có. Nhưng vì có th ể mua bán, trao đ ổi gi ấy phép nên doanh nghiệp nào muốn thải nhiều hơn sẽ phải mua thêm gi ấy phép t ừ nh ững doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng. Ngược lại, doanh nghiệp nào có khả năng gi ảm thải tốt có thể thừa ra một số giấy phép và được bán số giấy phép thừa đó. Nói chung doanh nghiệp nên bán giấy phép khi chi phí gi ảm ô nhiễm cận biên c ủa họ thấp hơn giá giấy phép và ngược lại, nên mua gi ấy phép n ếu chi phí này cao h ơn giá giấy phép. Như vậy đường MAC thực tế trở thành đường c ầu đối với gi ấy phép gây ô nhiễm. Động lực của thị trường giấy phép chính là cả người mua và người bán gi ấy phép đều có lợi; đồng thời tổng chi phí giảm thải của toàn xã hội sẽ giảm xuống. Công cụ giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng kết hợp được những ưu đi ểm của hệ thống chuẩn mức thải và phí xả thải. Việc phát hành m ột số lượng nhất đ ịnh gi ấy phép sẽ có tác dụng như chuẩn mức thải, bảo đảm cho các doanh nghiệp không thải nhiều hơn mức cho phép. Mặt khác giá giấy phép trên thị trường sẽ có tác d ụng nh ư m ột m ức phí thống nhất, là cơ sở để tối thiểu hoá chi phí xã hội c ủa việc gi ảm thải do bảo đảm nguyên tắc cân bằng chi phí cận biên của việc giảm thải. Quyền được bán giấy phép với giá xác định bởi cầu trên thị trường sẽ tạo ra động cơ khuyến khích các doanh nghiệp giảm thải nhiều hơn để có gi ấy phép th ừa mà b ản. Trong một số trường hợp, giảm thải có thể trở thành ngành kinh doanh m ới c ủa doanh nghiệp. 5.6. Trợ cấp cho bảo vệ môi trường. Trợ cấp thường được sử dụng trong những trường hợp và ở những khu v ực mà ở đó có khó khăn đáng kể về kinh tế. Trợ cấp của Nhà n ước có th ể áp d ụng cho các ho ạt động tạo ra ngoại ứng tích cực như trồng rừng, xử lý ô nhi ễm... Nguyên nhân d ẫn đ ến việc trợ cấp là do trong các hoạt động này lợi ích cá nhân thường th ấp h ơn l ợi ích xã h ội; do đó chi phí mà các cá nhân chấp nhận bỏ ra đ ể ti ến hành các ho ạt đ ộng trên không đ ạt mức cần thiết đối với xã hội. Nhà nước có thể điều chỉnh mức độ hoạt động cá nhân về đến mức hiệu quá xã hội thông qua mức trợ cấp được xác định đúng bằng chênh lệch gi ữa l ợi ích c ận biên xã hội và lợi ích cận biên cá nhân (tức là bằng lợi ích ngoại ứng cận biên). 5.7. Hệ thống đặt cọc - hoàn trả và việc tái sử dụng rác thải. Một giải pháp được sử dụng thành công ở nhiều nước trên thế gi ới để khuyến khích việc tái sử dụng là tiền đặt cọc có thể được hoàn trả lại. Trong hệ thống đ ặt c ọc - hoàn trả, người tiêu dùng phải trả một khoản tiền cho chủ c ửa hàng khi mua các s ản phẩm mà sau đó có thể tái chế, tái sử dụng (như bia, nước ngọt đ ựng trong chai thu ỷ tinh, ắc quy ô tô, máy giặt cũ...); khoản tiền này sẽ được hoàn lại nếu sau đó, người tiêu dùng đem trả lại đồ thuỷ tinh, ắc quy mô... cho cửa hàng hoặc một điểm thu gom nào đó để tái chế, tái sử dụng. Hệ thống đặt cọc - hoàn trả, ngoài ưu điểm điều tiết mức thải rác về tối ưu xã hội như đã nêu trên, còn có một ưu điểm khác nữa, đó là tạo ra một thị trường sản phẩm tái sử dụng. Ở nhiều nơi, các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân cũng nh ư r ất nhi ều lao đ ộng trong khu vực kinh tế phi chính thức chuyên môn hoá vào hoạt đ ộng thu gom, mua bán và vận chuyển vật liệu có thể tái sử dụng. Khi thị trường này lớn hơn và có hi ệu qu ả h ơn thì cầu về vật liệu tái sử dụng sẽ tăng lên so với cầu về vật li ệu nguyên chất, vì th ế sẽ làm tăng tác động tích cực đối với môi trường. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  15. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng 5.8. Ký quỹ bảo vệ môi trường. Ký quỹ bảo vệ môi trường là việc cá nhân hay tổ chức trước khi ti ến hành ho ạt động sản xuất hay kinh doanh được xác định là gây ra những thi ệt hại cho môi tr ường phải có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kìm khí quí, đá quí ho ặc các gi ấy t ờ tr ị giá được bằng tiền (gọi chung là tiền) vào tài khoản phong to ả tại m ột t ổ ch ức tín d ụng đ ế đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phục hồi môi trường do hoạt động sản xuất hay kinh doanh gây ra theo quy định của pháp luật. Những lĩnh lực hoạt động sán xuất, kinh doanh thường sử dụng hình thức ký quỹ môi trường là khai thác khoáng sản, khai thác rừng hay một số các nguồn tài nguyên khác mà việc khai thác đó đòi hỏi phải có phục hồi lại những mất mát của các thành phần môi trường. 6. Định giá môi trường. 6.1.Phương pháp liều lượng đáp ứng - Đây là phương pháp người ta căn cứ vào khả năng chịu tải của môi trường. Ví dụ: Khi mức thải đưa xuống hồ cá thì cứ ứng với một lượng nước thải tăng lên thì tương ứng với một lượng cá chết đi. Và từ đó sẽ xây dựng được hàm f(ô nhiễm) = f (cá chết đi). Nh ư vậy ng ười ta s ẽ đánh giá được giá trị của ô nhiễm. 6.2 Phương pháp chi phí thay thế - Đây là phương pháp đánh giá giá trị môi trường thông qua m ột v ật thay th ế khác mà người ta còn gọi Phương pháp giá của hưởng thụ. Phương pháp này đánh giá b ằng cách Tìm kiếm thị trường có các yếu tố quan tâm nhưng đôi khi giá trị thu được khi đánh giá môi trường “không thể thương mại hóa được” trở nên tiềm ẩn trong giá tr ị của m ột vật khác. 6.3. Phương pháp chi phí cơ hội (Opportunity Cost) Đây là phương pháp đánh giá chi phí bỏ ra để được lợi ích mà đáng l ẽ ra chúng ta có được nhờ chi phí đó. Phương pháp này thường sử dụng ở những vị trí mà môi trường có nhiều nguồn lực cần lựa chọn. Ví dụ: Khi đánh giá ở khu vực Quảng Ninh có nguồn lực: than, phát tri ển du l ịch, thủy sản, sản xuất xi măng, xây dựng nhà máy nhiệt điện, xây dựng hải c ảng... c ần ph ải có khoản chi phí bỏ ra để lựa chọn một cái và bỏ những cái khác. 6.4. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM - Contingent Value Method) Người ta đánh giá thông qua điều tra ngẫu nhiên với những người dân sẵn lòng chi trả (hay người ta còn gọi là WTP - Willing To Pay) về giá tr ị chất l ượng môi tr ường c ần phải duy trì. Phương pháp này trước khi điều tra tiến hành lấy ý kiến của người dân chúng ta phải xây dựng một tình huống trong đó giải thích sự c ần thi ết phải đóng góp ti ền đ ể duy trì hệ sinh thái. Người dân bằng lòng đóng góp chi trả khi họ đã hi ểu giá tr ị môi tr ường của đóng góp ấy. 6.5. Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method) Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  16. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Người ta đánh giá trên cơ sở chi phí của khách du lịch đến nơi thưởng ngoạn về giá trị cảnh quan môi trường và sinh thái bởi vì những nơi mà có chất lượng môi trường tốt thì sẽ thu hút nhiều khách du lịch và họ chấp nhận đến đó do tổng chi phí mà họ chấp nhận đến đó có thể tính đó là giá trị của chất lượng hàng hóa môi trường. Trên cơ sở thổng kê bằng mô hình điều tra các khách đến du lịch và phân vùng khoảng cách đến du lịch người ta sẽ xây dựng được hàm cầu và mối quan hệ giữa chi phí cho một chuyến đi và số lần đi. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  17. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng 7. Phân tích chi phí - lợi ích. (CBA - Cost Benefit Analasys) 7.1 Khái quát. • Phân tích chi phí - lợi ích Phân tích chi phí - lợi ích (CBA là một kỹ thuật giúp cho các nhà ra quyết đ ịnh đ ưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng bền vững các ngu ồn tài nguyên khan hi ếm, làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong các ch ương trình, k ế ho ạch phát triển kinh tế - xã hội. • Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng Phân tích chi phí - lợi ích mở rộng là m ột phương pháp phân tích kinh tế. so sánh những lợi ích thu được do thực hiện các hoạt động phát triển đem lại với những chi phí và tốn thất do việc thực hiện các hoạt động đó gây ra. Chi phí và lợi ích ở đây đ ược hi ểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chi phí và lợi ích về tài nguyên, môi trường và các thành viên khác trong xã hội cho nên có thể gọi phân tích CBA là phân tích CBA mở rộng. Việc phân tích chi phí - lợi ích mở rộng có liên quan đến ph ạm vi xã h ội. Đi ều này có ý nghĩa là chúng ta cần phải xác định xem đâu là chi phí và lợi ích ảnh h ưởng đ ến m ọi thành viên trong xã hội. Việc thực hiện thường xuyên phương pháp phân tích r ộng rãi toàn xã hội này là một điều khó có thể thực hiện được. Tuy nhiên, các nhà kinh tế đều c ố gắng mở rộng phạm vi của phương pháp này theo khả năng có thể. 7.2. Các bước thực hiện. • Bước 1: Xác định các giải pháp thay thế Như chúng ta đã trình bày ở phần trên, bước đầu tiêu là xác đ ịnh các gi ải pháp khác nhau cho một quyết định chính sách. Với những quyết định có nh ững tác đ ộng môi tr ường nghiêm trọng thì bảo vệ môi trường luôn luôn là một gi ải pháp riêng bi ệt. Ví d ụ nh ư v ới việc tôn trọng quyết định về khai thác gỗ ở khu vực xung quanh vùng ven biển Nam Trung bộ, bảo vệ rừng có nghĩa là giữ nguyên vẹn; không khai thác chúng là m ột gi ải pháp rõ ràng. • Bước 2: Phân định chi phí và lợi ích Việc phân định rạch ròi toàn bộ các chi phí và lợi ích tác động đến mỗi thành viên trong xã hội là việc làm tiếp theo của bước thứ nhất. Trong bước này chúng ta c ần ph ải lập một danh mục đầy đủ về các khoản chi phí có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các hành động của một giải pháp thay thế. • Bước 3: Đánh giá chi phí và lợi ích Trong bước này, mỗi khoản chi phí và lợi ích của các gi ải pháp đã đ ược xác đ ịnh ở bước trước cần phải được định giá bằng tiền. Đối với những m ặt hàng đ ược trao đ ổi trên thị trường, giá trị của nó có thể được tính đơn gi ản bằng cách nhân s ố l ượng c ủa m ặt hàng đó với giá thị trường của nó. Bước 4: Tính toán giá trị các chỉ tiêu liên quan Trên cơ sở đánh giá các giá trị liên quan ở bước ba, căn cứ vào các ch ỉ tiêu chúng ta sẽ tính toán các giá trị để phục vụ cho xem xét so sánh gi ữa các gi ải pháp và nêu ra ở b ước một. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  18. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Thường những chỉ tiêu thông dụng nhất được sử dụng trong việc phân tích chi phí - lợi ích là giá trị hiện tại ròng (NPV); tỷ suất lợi ích - chi phí (BCR) và h ệ s ố hoàn v ốn nội bộ (IRR). • Bước 5: Sắp xếp thứ tự các giải pháp thay thế Trên cơ sở các chỉ tiêu (ra tính toán ở bước bốn, chúng ta sẽ sắp xếp thử tự ưu tiên của các giải pháp đã đề ra ở bước một. Sự sắp xếp này căn cứ vào: - Đối với chỉ tiêu NPV, thông thường chúng ta thích dùng giải pháp mang l ại giá tr ị dương và sắp xếp các giải pháp nào có NPV cao nhất lên đầu. - Đối với chỉ tiêu BCR, thường chúng ta dùng giải pháp nào có t ỷ su ất lớn hơn 1 và sắp xếp giải pháp nào có BCR cao nhất lên đầu. - Đối với chỉ tiêu IRR, sắp xếp ưu tiên lên đầu đối với những h ệ số hoàn v ốn n ội bộ lớn hơn tỷ lệ chiết khấu, bởi lẽ chúng ta đặt ưu tiên chuyển lợi ích cho thế hệ tương lai. 7.3. Chiết khấu và biến thời gian. Do tính chất quan trong của việc xác định trục thời gian và hệ số chi ết kh ấu trong phân tích dự án, cho nên sau đây sẽ đề cập các công thức tính toán và m ột s ố h ệ s ố quan trọng giúp cho việc tính toán. • Chọn biến thời gian thích hợp. Về mặt lý thuyết, phân tích kinh tế các dự án phải được kéo dài trong kho ảng th ời gian vừa đủ để có thể bao hàm hết mọi lợi ích và chi phí c ủa dự án. Trong vi ệc l ựa ch ọn biến thời gian thích hợp, cần lưu ý đến hai nhân tố quan trọng sau đây: - Thời gian tồn tại (sống) hữu ích dự kiến (Expected Useful Life) của dự án để tạo ra các sản phẩm đầu ra và các lợi ích kinh tế cơ sở mà dựa vào đó dự án được thiết kế. - Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong phân tích kinh tế của dự án. Đối với nhân tố thứ nhất, khi lợi ích đầu ra trở nên rất nhỏ thì thời gian sống h ữu ích dự kiến của dự án (Effective Project Life) có thể xem như đã kết thúc. Đối với hệ số chiết khấu (Discount Rate), nếu giá trị chọn lựa ngo ại ứng này càng lớn, thì thời gian sống hữu ích dự kiến sẽ càng ngắn, b ởi vì nó làm gi ảm đi giá tr ị t ại l ợi ích của dự án theo thời gian trong tương lai. Vì vậy, đối v ới m ột d ự án có th ời gian s ống hữu ích dài, căn cứ vào lợi ích của nó (ví d ụ: 100 năm), nh ưng v ới m ột h ệ s ố chi ết kh ấu cao (ví dụ: 10%) thì biến thời gian sẽ ngắn hơn rất nhiều so v ới th ời gian s ống h ữu ích d ự kiến, bởi vì lợi nhuận ròng trong những năm sau sẽ ảnh hưởng không đáng k ể đ ến giá tr ị hiện tại ròng. • Chiết khấu Để so sánh các lợi ích và chi phí xuất hiện ở các thời gian khác nhau bằng cách gắn chúng với một trọng số để quy đổi về các giá trị hi ện tại tương đ ương. M ỗi tr ọng s ố là một hàm số của tỷ lệ chiết khấu và thời gian xảy ra của kết quả . Tỷ lệ chiết khấu là của lãi suất luỹ tích (còn gọi là lãi kép - tính theo tỷ lệ ph ần trăm) dùng để điều chỉnh đưa các lợi ích và chi phí trong tương lai về giá trị hiện tại tương đương. Quá trình điều chỉnh này gọi là "Chiết khấu". Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  19. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Như vậy chiết khấu là một cơ chế mà nhờ nó ta có thể so sánh l ợi ích và chi phí ở các thời điểm khác nhau trên trục thời gian. Đây là một khái ni ệm th ường d ễ b ị l ầm l ẫn nhất trong phân tích kinh tế. Chiết khấu có một vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ một sự thay đ ổi nh ỏ c ủa t ỷ l ệ chiết khấu sẽ luôn luôn làm thay đổi giá trị hiện tại ròng và như vậy sử đ ụng t ỷ l ệ chi ết khấu sai sẽ cho giá trị sai. Quan trọng hơn nữa là sự thay đổi về tỷ lệ chiết khấu sẽ có thể làm thay đổi lợi ích xã hội ròng của một phương án cho biết từ dương sang âm (hay ngược lại), hoặc làm thay đối thứ tự của nhiều phương án lựa chọn. Trong việc sử dụng chiết khấu, cần. bảo đảm hai điều kiện tiên quyết: - Một biến số đưa vào tính toán chiết khấu (ví dụ: chi phí tài nguyên, lợi ích đ ầu ra, v.v...) phải được quy về cùng một hệ đơn vị. Để thuận ti ện, trong tính toán ng ười ta thường dùng Đô la ($) làm đơn vị tiền tệ. Cũng có thể sử dụng các đồng ti ền chuyển đ ổi khác như Yên, Mác, Phrăng, v.v... - Nhiều người tin rằng các dịch vụ và hàng hoá tạo ra trong các h ệ th ống t ự nhiên sẽ tăng lên theo thời gian do nhu cầu và m ức độ khan hi ếm tăng lên. Đ ối v ới đa s ố hàng hoá và dịch vụ thì điều này là hoàn toàn đúng, do đó vấn đ ề này có th ể đ ược x ử lý khi phân tích kinh tế bằng cách thay đôi giá tương đối (Relative Prices) của dịch vụ hay hàng hoá. • Tỷ lệ chiết khấu thích hợp. Thế nào là một tỷ lệ chiết khấu thích hợp được sử dụng trong phân tích kinh tế. Đây là một vấn đề không đơn giản. Cần chú ý đến một số điều kiện sau đây: - Trong một phép phân tích kinh tế, chỉ được sử dụng một tỷ lệ chiết khấu, mặc dù khi phân tích có thể thực hiện lặp đi lặp lại nhiều giá trị khác nhau của tỷ lệ chiết khấu (phép phân tích độ nhạy). - Tỷ lệ chiết khấu không phản ánh lạm phát, mọi giá cả sử dụng trong phân tích là thực hoặc giá đô la không đổi. • Các chỉ tiêu sử dụng khi đánh giá dự án. Một khi mốc thời gian thích hợp và hệ số chiết khấu đã được lựa chọn, những tính toán thực tế có thể căn cứ vào nhiều dạng công thức khác nhau. Trong phần này, sẽ trình bày một số công thức thường dùng. - Giá trị hiện tại (PV - Present Value) Đối với đa số các dự án việc phân tích kiểm tra được thực hiện bằng cách so sánh dòng lợi ích và chi phí theo thời gian (xem hình dưới). Một vài giả thiết cơ bản về dòng tiền tệ như sau: (l) Năm khởi đầu của một dự án có thể được gắn cho cái tên "năm 0" hay "năm 1" (thứ nhất); (2) Tất cả dòng tiền tệ (chi phí hay lợi ích) xảy ra vào cuối mỗi năm, có nghĩa là, bất kỳ chi phí hay lợi ích xuất hiện trong năm sẽ được chiết khấu cho thời gian toàn năm. Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
  20. Chương trình Đào tạo quản lý môi trường - Khóa 7 Chuyên đề: Kinh tế môi trường ứng dụng Ví dụ, một chi phí nào đó xảy ra vào bất cứ thời gian nào ở năm th ứ 5 s ẽ đ ược chiết khấu theo thời gian 5 năm. Giả thiết này sẽ dẫn tới một sai số nhỏ, bởi vì chi phí thực tế hoặc doanh thu phải được chiết khấu từ khi nó xuất hiện; (3) Mọi chi phí và lợi ích cung được xử lý tương tự như dòng tiền tệ (Cash Flow). Một số các ký hiệu thường được sử dụng trong các công thức tính toán: r - Tỷ lệ chiết khấu n - Số năm trên trục thời gian t - Thời gian tương ứng, thường là 1,2,.....năm Bt - Lợi ích tại năm t Ct - Chi phí tại năm t (vốn, chi phí vận hành, bảo dưỡng, thay thế thiết bị Σ - Tổng trong khoảng thời gian từ năm thứ nhất đến năm thứ n. - Giá trị hiện tại ròng (NPV- Net Present Value) Công thức hay sử dụng nhất trong phân tích kinh tế là giá tri hiện tại ròng (Net Present Value) của một dự án. Đại lượng này xác định giá tr ị lợi nhu ận ròng hi ện th ời khi chiết khấu dòng lợi ích và chi phí trở về với năm cơ sở bắt đầu (năm thứ nhất). Hai công thức được sử dụng: n Bt - C t NPV = ¥t = 0 (1 + R) t Hoặc: n n Bt C NPV = �(1 + r)t t = 0 (1 +t r) t t=0 -� - Tỷ suất lợi ích - chi phí (BCR) Tỷ suất lợi ích - chi phí là tỷ lệ của tổng giá trị hiên tại của lợi ích so với tổng giá trị hiện tại của chi phí n Bt ¥ t = 0 (1 + r) t BCR = n C ¥= 0 (1 +t r)t t Tỷ suất này so sánh lợi ích và chi phí đã được chiết khấu. Trong trường hợp này, lợi ích được xem là lợi ích thô bao gồm cả lợi ích môi trường, còn chi phí bao gồm vốn cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng và thay thế cũng như những chi phí môi trường. - Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return IRR) Thực hiện: ThS Trương Thành Nam 23
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2