Chuyên đề tốt nghiệp: Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa, Vạn Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội

Chia sẻ: Anh Ngoc | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:24

0
92
lượt xem
19
download

Chuyên đề tốt nghiệp: Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa, Vạn Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp: Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa, Vạn Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội được biên soạn nhằm tập trung nghiên cứu hiện trạng môi trường tại làng Lụa; hiện trạng về công tác quản lý môi trường tại phường Vạn Phúc; xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề tốt nghiệp: Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa, Vạn Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội

  1. Danh mục chữ viết tắt. Danh mục bảng biểu. Danh mục hình. MỤC LỤC
  2. LỜI MỞ ĐẦU 1. lý do chọn đề tài Làng Vạn Phúc thuộc quận Hà Đông thành phố Hà Nội được biết đến là môt  1 trong hơn 1000 làng nghề truyền thống đã và đang tồn tại  ở Việt Nam. Làng lụa   Vạn Phúc có 9.420 nhân khẩu, trong đó có gần 3.000 người tham gia nghề dệt. Hiện   nay, Vạn Phúc có khoảng 400 lao động thời vụ  từ  quanh vùng đến đây làm việc.  Cửa hàng bán lụa tơ  tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố  lụa với  trên 100 cửa hàng nhằm đáp  ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách. Trong những   năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế­xã hội, đời sống nhân dân ngày càng  cải thiện và khởi săc. Tuy nhiên, cùng với đó nhiều vấn đề  ô nhiễm môi trường   phát sinh ngày càng phức tạp. Tình trạng ô nhiễm môi trường chủ yếu do q uá trình  sản xuất dẫn đến ô nhiễm môi trường  ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng khiến   cho môi trường sống tại phường Vạn Phúc ngày càng xuống cấp. Bảo vệ  môi trường sống là trách nhiệm của cộng đồng và hơn hết là của   người dân, đó không phải là điều mới mẻ, thế nhưng chưa mấy ai làm được nhất là  đối với những người dân đã quen với công việc hằng ngày của mình được truyền   từ  thế  hệ  này sang thế  hệ  khác. Thực trạng này đã và đang xảy ra trên địa bàn   phường Vạn Phúc. Do điều kiện sống, tập quán, và ý thức bảo vệ môi trường còn  hạn chế nên lâu nay, người dân vẫn xả rác, nước thải từ quá trình sản xuất ra ngoài   môi trường trong nhiều năm qua, chính quyền địa phương luôn vận động, tuyên  truyền nâng cao ý thức giữ  gìn vệ  sinh môi trường sống trong nhân dân. Quá trình   xả thải khí thải, nước thải, rác thải sau quá trình sản xuất không được xử  lý gây ô   nhiễm môi trường, đặc biệt trong đó là việc xả nước thải trực tiếp từ quá trình sản   xuất ra ngoài môi trường. Tuy nhiên việc chuyển biến trong hành động của người   dân còn rất chậm. Hương ước bảo vệ môi trường ( BVMT) được xây dựng trên cơ sở tham gia   và đồng thuận của tất cả  các thành viên trong cộng đồng dân cư  tại địa phương,  nhằm tuyên truyền vận động, giáo dục nhân dân xóa bỏ  các hủ  tục, thói quen mất  
  3. vệ sinh, có hại cho môi trường. Đồng thời hương ước BVMT có tác dụng nâng cao  trách   nhiệm   tính   tự   lực   của   từng   người   dân   đối   với   nhiệm   vụ   BVMT   tại   địa  phương, làm cho que hương làng xóm ngày càng xanh­ sạch­ đẹp, nhằm nâng cao   chất lượng cuộc sống cho cả cộng đồng. Bên cạnh đó, góp phần thực hiện tốt và   đạt tiêu chí 17 về môi trường trong bộ chỉ tiêu quốc gia về nông thôn mới. Việc xây dựng hương  ước, quy  ước bảo vệ  môi trường  ở  thôn, xã cần có  tham gia của cộng đồng trong việc phân tích hiện trạng môi trường tại địa phương,  xác định những hành động và quy định nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường. Đặc  điểm quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự  tham gia của cộng đồng và  long ghép các hoạt động truyền thong và nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả  các giai đoạn của dự  án Hương  ước, quy  ước gồm những quy định cụ  thể  về  vệ  sinh nơi  ở và những khu vực chung, quản lý rác thải, khí thải nước thải, chất tẩy   nhuộm, đồng thời quy định về việc bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Vì vậy trong báo cáo đồ  án tốt nghiệp em đã chọn đề  tài “   Xây dựng mô  hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng   tại làng lụa Vạn Phúc phường Vạn phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.” 2. Vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu mô hình hương ước và quy ước bảo vệ môi trường tại làng Lụa   Vạn Phúc Hà Đông. Mô hình hương  ước quy  ước khi có sự  tham gia của cộng đồng, các yếu tổ  tác động đến hương  ước quy  ước bảo vệ  môi trường tại làng Lụa Vạn Phúc Hà   Đông. 3. Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng được mô hình hương  ước, quy  ước bảo vệ  môi trường với sự  tham gia của cộng đồng tại lang Lua Van Phuc ph ̀ ̣ ̣ ́ ương Van Phuc, quân Ha Đông, ̀ ̣ ́ ̣ ̀   ́ ̀ ̣ thanh phô Ha Nôi. ̀ 4. Phương pháp nghiên cứu:
  4. Nghiên  cứu dựa   trên  phương  pháp nghiên  cứu mô  tả,   sử  dụng kỹ   thuật  phỏng vấn trực tiếp với những người có chức tránh tại làng Lụa Vạn Phúc Hà  Đông, kết hợp việc phân tích, tổng hợp các số liệu tại địa phương để xây dựng mô   hình nghiên cứu. 5. Nôi dung nghiêm c ̣ ứu ­  Hiện trạng môi trường tại lang Lua Van Phuc, ph ̀ ̣ ̣ ́ ương Van Phuc, quân Ha ̀ ̣ ́ ̣ ̀  ́ ̀ ̣ Đông, thanh phô Ha Nôi. ̀ ­  Hiện trạng về  công tác quản lý môi trường tại phương Van Phuc, quân Ha ̀ ̣ ́ ̣ ̀  ́ ̀ ̣ Đông, thanh phô Ha Nôi  ̀ ­  Xây dựng hương ước, quy ước bao vê môi tr ̉ ̣ ương v ̀ ới sự tham gia của cộng   đồng tại lang Lua Van Phuc, ph ̀ ̣ ̣ ́ ương Van Phuc, quân Ha Đông, thanh phô Ha Nôi. ̀ ̣ ́ ̣ ̀ ̀ ́ ̀ ̣ 6. Kết cấu đề tài Đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hương ước quy ước. Chương 2: Thực trạng việc thực hiện hương  ước quy  ước  ở làng Lụa Vạn Phúc   Hà Đông. Chương 3: Đề  xuấ  xây dựng mô hình hương ước quy  ước bảo vệ môi trường với   sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa Vạn Phúc Hà Đông.
  5. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HƯƠNG ƯỚC QUY ƯỚC 1.1. Tổng quan về hương ước và quy ước 1.1.1. Các khái niệm  a. nguồn gốc hương ước Mỗi người Việt Nam từ  trong tiềm thức có lẽ  ai cũng hiểu câu thành ngữ  “phép vua thua lệ làng”. Lệ ­ là một từ Hán Việt; Làng là một từ Nôm dùng để chỉ  một đơn vị  tụ  cư  nhỏ nhất nhưng nó chặt chẽ  và hoàn chỉnh nhất của người nông  dân Việt. Trong các văn bản, để cho đơn giản, các nhà nghiên cứu thay vào đó chữ  hương ước, khoán ước. Như  vậy, hương  ước, khoán  ước hiểu một cách nôm na là lệ  làng. Nó là  những quy ước liên quan đến mọi mặt đời sống của làng xã. Nó bao gồm cả những  điều lệ được ghi chép  thành văn bản và những điều lệ không được ghi chép thành   văn bản mà được truyền khẩu trong dân gian. Các làng Việt trong thời kỳ phong kiến gọi là lệ làng thành văn bằng nhiều  tên gọi khác nhau, do tục lệ   ở  mỗi nơi nên có thể  gọi là: hương  ước, khoán lệ;  khoán ước; hương lệ; cựu khoán... Nhưng do được gọi bằng tên gì đi nữa thì trong  mỗi bản đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến đời sống mọi mặt của từng  làng mà từ trước đến nay, chúng ta vẫn hay gọi bằng hai từ phổ biến hơn là:Hương  ước và khoán ước. Khoán  ước lần đầu tiên được chép trong Đại Việt sử  ký toàn thư  vào cuối  đời Trần, năm 1370. Đến thế  kỷ  thứ  XV, nhất là dưới thời vua Lê Thánh Tông,   thuật ngữ  khoán  ước – quy  ước của dân làng trở  nên tương đối phổ  biến. Khoán  ước là một từ  Hán gốc được du nhập vào Việt Nam và đã được Việt hoá. Khoán   (bằng cứ); ước (quy ước), từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, thuật ngữ này dần được  thu hẹp lại. Cũng như khoán ước, hương ước cũng là một từ nguyên Hán được du nhập   vào Việt Nam. Từ  thế kỷ XV, hương  ước bắt đầu xuất hiện trong làng xã người   Việt nhưng nó chỉ thấp thoáng, chưa phổ biến. Đến thế kỷ XVII, hương ước ngày  
  6. càng được phổ biến, và nhất là đến thế kỷ XX, hương ước trở thành một thuật ngữ  quen thuộc rộng rãi trong làng xã. Sự lên ngôi của hương ước đã tự nó làm mờ nhạt  đi khoán  ước. Nhiều nơi không dùng thuật ngữ  khoán    ước. Hương  ước là sản  phẩm của làng, nó là những quy  ước, những quy định được các thành viên trong   làng xã cùng nhau tuân thủ, thực hiện.    Hương  ước có nội dung phong phú, tuỳ  vào phong tục của từng làng. Nó  quy định hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như: Hội tư văn, tư võ,   hội thiện, phe giáp, ngõ xóm cho đến cách tổ chức hoạt động của các thiết chế làng   xã... Kể  cả  các hoạt động xã hội như  hội hè, đình đám, lễ  tế, khao vọng... và các  hoạt động kinh tế. Đó là những quy  ước chung của hương  ước. Hương  ước của   từng làng xã của người Việt bên cạnh những quy ước chung lại có những nét riêng  phù hợp với phong tục tập quán của mỗi làng xã. b. khái niệm: Hương  ước là thuật ngữ  gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được  giữ nguyên nghĩa. Hương ước là những quy ước, điều lệ của một cộng đồng chung   sống trong một khu vực. Là bản pháp lý đầu tiên của các làng xã nhằm góp phần  điều hòa các mối quan hệ trong xã hội cộng đồng. Hương ước là bản ghi chép các  điều lệ  (những quy tắc xử  sự  chung) mang tính bắt buộc phải tuân thủ, liên quan  đến đời sống của cộng đồng dân cư  sinh sống trong làng. Các điều lệ  này hình  thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ  sung mỗi   khi cần thiết. Đến thời  Trần (khoảng cuối thế  kỷ  XVII) Hương  ước  đã trở  nên khá phổ  biến trong hệ  thống làng, xã Việt Nam . Hầu hết các Hương ước đều đề cập nội dung chính như:  an ninh trật tự, quan hệ  ứng xử, công ích công lợi, thưởng phạt, đến việc cụ  thể  bổn phận của con cái đối với cha mẹ, ông bà, vợ đối với chồng, anh đối với em…      Trước đây, Hương ước chủ yếu là do các vị có vai vế trong làng bàn bạc để xây  dựng nên. Tuy nhiên, đến ngày nay, Hương ước cũng có đôi chút thay đổi. Theo quy  định của Chỉ  thị  24/1998/CT­TTg về  xây dựng và thực hiện hương  ước, quy  ước   của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư  do Chính Phủ  ban ngày 19/06/1998 tại điểm 2   thì: “  Dự  thảo hương  ước, quy  ước phải được nhân dân trên địa bàn thảo luận,   được hội nghị cử tri hoặc hội nghị đại biểu hộ gia đình ở  làng, bản, thôn, ấp, cụm  
  7. dân cư thông qua và được ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành   nhằm bảo đảm nội dung của hương  ước, quy  ước không trái với các quy định của   pháp luật hiện hành, không chứa đựng các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí  và lệ phí có thể  gây thiệt hại hoặc làm  ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp  của công dân”. Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây mặc dù đã có sự  khác  biệt trong thủ tục, quá trình tạo lập, ban hành, tuy nhiên, về nội dung và vai trò của   Hương ước làng xã trong đời sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề  thay đổi. 1.1.2. Nội dung của hương ước quy ước Hương ước bao gồm các nội dung chính sau: • Liên quan đến tổ chức nông nghiệp và môi trường sinh thái  • Cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã • Giữ gin an ninh trật tự xã hội trong cộng đồng • Văn hóa, giáo dục, tổ chức thờ cúng • Đảo đảm các nghĩa  vụ sưu thuế, binh dịch của làng xã với nhà nước  • Khen thưởng và xử phạt trong việc tuân thủ các quy ước của làng xã   Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia  quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm phát huy quyền tự  do, dân chủ  của   nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa  vụ công dân; ­Bảo đảm giữ  gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh  trong  ứng xử, giao tiếp, ăn,  ở, đi lại, xóa bỏ  hủ  tục, phát triển các hoạt động văn   hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân,  tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính   sách xã hội của Đảng và Nhà nước; Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và   tài sản công dân, bảo vệ  môi trường sống, bảo vệ  rừng, biển, sông, hồ, danh lam  
  8. thắng   cảnh,   đền   chùa,   miếu   mạo,   các   nguồn   nước,   đê   điều,   đập   nước,   kênh  mương, kè cống, đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm,  trồng cây xanh; Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong, mỹ tục, bài trừ các hủ  tục, tệ nạn   xã hội và mê tín dị  đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ  hội, thờ  phụng  ở  địa  phương; khuyến khích những lễ  nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng  phí, tốn kém; Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng làng,  thôn, bản,  ấp, cụm dân cư  văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia  đình và cộng đồng; khuyến khích mọi người đùm bọc, giúp đỡ  nhau khi gặp khó  khăn, hoạn nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân số – kế hoạch hóa  gia đình, xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa; Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các   thành viên trong gia đình, họ  tộc, xóm làng đoàn kết nhau để  xóa đói giảm nghèo,   phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề   ở  địa phương;   vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm phát   triển sản xuất. Khuyến khích phát triển các làng nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ  tầng và các công trình phúc lợi công cộng: điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa  trang, các công trình văn hóa thể  thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ  trong  khuôn khổ pháp luật và phù hợp khả năng đóng góp của nhân dân. Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn góp phần phòng  chống các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và   các hành vi khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động   trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về  tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ  những người lầm lỗi tại   cộng đồng dân cư. Đề  ra các biện pháp cần thiết hỗ  trợ  cơ  quan có thẩm quyền  phát hiện, xử  lý vi phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các  quy định của pháp luật về tổ  chức tự quản  ở cơ sở như Tổ hòa giải, Ban an ninh,   Tổ bảo vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
  9. Đề  ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để  bảo đảm thực hiện hương  ước:    Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân, hộ  gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ vàng  truyền thống, nêu gương người tốt việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của tập   thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hóa và các hình thức khen thưởng   khác do cộng đồng tự  thỏa thuận hoặc đề  nghị  các cấp chính quyền khen thưởng   theo quy định chung của Nhà nước.    Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương  ước thì  chủ yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng,  thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng  ở  cơ  sở. Trường hợp vi phạm  nghiêm trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất trong  tập thể  cộng đồng, có thể  buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi   cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện   pháp xử  phạt nặng nề  xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự  do, danh dự, nhân  phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. Trong hương ước không   đặt ra các khoản lệ phí.     Hương  ước có thể  đề  ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những   người có hành vi vi phạm pháp luật bị  giáo dục tại xã, phường, thị  trấn; giáo dục,  cảm hóa giúp đỡ  người phạm tội sau khi ra tù trở  thành người lương thiện, có ích  cho xã hội.     Những hành vi vi phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền xử lý   theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hương ước   không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. 1.1.3. Sự khác biệt giữa hương ước và pháp          Vốn có nguồn gốc từ phong tục, tập quán nên hương ước có một sức sống bền  bỉ, lâu dài. Hương ước đã từng tồn tại song song với luật nước, từng giữ vai trò là   công cụ  quan trọng để  điều chỉnh các mối quan hệ  trong cộng đồng dân cư  và để  quản lý làng xã. Trong xã hội, mỗi người dân không những phải làm đúng phép 
  10. nước mà còn phải tuân thủ  lệ  làng. Vậy giữa hương  ước và pháp luật có sự  khác   biệt như thế nào? Nội dung của hương ước đơn giản và gọn nhẹ hơn so với pháp luật. Bộ luật   Hồng Đức có tới 722 điều quy định liên quan hầu hết đến các mặt của đời sống,  còn một bản hương  ước của người Việt chỉ  gồm vài chục điều khoản liên quan  đến một số mặt của đời sống làng mạc. Mỗi mặt của đời sống xã hội (ví dụ những  quy định về hôn nhân gia đình), được luật pháp Nhà nước cụ  thể thành hàng chục,   thậm chí hàng trăm điều khoản, trong khi đó,  ở  các bản hương  ước, vấn đề  này  được ghi nhận trong một vài điều khoản ngắn gọn. Trong văn bản pháp luật chỉ  quy định các hình thức xử  phạt, mà không có  hình thức khen thưởng như  hương  ước. Điều này là do tính cưỡng chế  Nhà nước  của các quy phạm pháp luật quy định. Nó khác với hương ước, ngoài tính áp đặt còn  mang tính khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện. Khung hình phạt của hương  ước  thường đơn giản và ít mang tính nghiêm khắc hơn so với pháp luật. Hình phạt chính   trong hương ước chủ yếu là phạt tiền; còn pháp luật thời kỳ phong kiến quy định 5  hình phạt (ngũ hình) rất nghiêm khắc, đó là: suy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng   gậy), đồ (bắt làm công việc nặng nhọc), lưu (đày ải đi nơi xa) và tử (phải tội chết).   Tuy nhiên, việc xử  phạt theo hương  ước có nét tinh tế  là nó đánh vào tinh thần,  danh dự không chỉ của cá nhân mà có khi còn là cả  gia đình, dòng họ; đánh vào cả  những nỗi sợ hãi vô hình, những điều sâu thẳm trong tâm linh của con người, ví dụ  như việc truất, hạ ngôi thứ, tẩy chay đám tang và cao nhất là việc đuổi ra khỏi làng.  Hương ước nhiều khi còn được nhân dân coi trọng như một nghi lễ thiêng liêng. Nhiều làng, xã vào dịp đầu xuân thường tổ  chức Lễ Minh thệ ­ Lễ ăn thề  ­   tập hợp đông đảo dân làng đến chốn đình chung, hay những nơi linh thiêng của làng  để nghe đọc hương ước và mọi người có mặt phải thề sẽ tuân thủ theo hương ước,  nếu không sẽ bị thần linh trừng phạt. Trong tâm thức của người nông dân, việc tuân   thủ theo các điều khoản của hương ước, tuy là những ràng buộc vô hình nhưng hữu  hiệu mà không phải bất cứ quy phạm pháp luật nào cũng có được. Trong hương  ước không có hình thức giảm tội cho bất kỳ  ai có hành vi vi  phạm, cho dù người đó thuộc thành phần xuất thân và  có địa vị xã hội như thế nào  
  11. trong làng. Trong khi đó, pháp luật phong kiến có quy định bát nghị, cho phép một số  giai tầng trong xã hội (chủ  yếu là thân thích của hoàng tộc, các công thần) được   giảm mức hình phạt khi phạm tội. Điều đó cho thấy tính bình đẳng của   hương   ước rõ nét hơn so với pháp luật. Hương  ước được xây dựng từ  những phong tục truyền thống rất thiết thực   và gần gũi với mỗi cộng đồng làng. Chính bởi vậy, hương ước có tính bảo lưu lâu  dài, ít thay đổi, mặt khác, nó được con người biết đến từ  tấm bé, do cách lưu   truyền tự  nhiên từ  gia đình, từ  dòng họ  và trở  thành một thói quen, một nếp sống.  Trong khi đó, pháp luật được hình thành do ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội,   mang tính cưỡng chế và dễ thay đổi khi thể chế thay đổi. Đây chính là sự khác biệt   cơ bản của hương ước và pháp luật. 1.1.4. Những chính sách của Nhà nuớc về Huơng uớc Tại hội nghị lần V, Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VII) họp tháng 6   năm 1993, Đảng chủ  trương khuyến khích xây dựng và thực hiện hương  ước, các  quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn xã. Năm 1996, trong Nghị  quyết Đại hội Đảng lần VIII của Đảng Cộng sản   Việt Nam đã nêu rõ cần phải phát huy và kế thừa hương ước cổ truyền trong việc   quản lí nông thôn hiện nay. Chủ  trương này sau đó đã được pháp luật hóa bằng Nghị  định 24CT/TTg  ngày 19/6/1998 của Chính phủ chỉ thị cho các địa phương việc kế  thừa hương  ước   cổ truyền trong việc soạn thảo hương ước nông thôn mới. Để  phát huy yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của hương ước,   quy ước, baảo đảm  triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Bộ  Chính trị số 30/CT­TW ngày 18 tháng 2 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chế  dân chủ   ở  cơ  sở, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc xây dựng và  thực hiện hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị: 1. Nội dung của hương  ước, quy  ước cần tập trung vào một số  vấn đề  cơ  bản sau đây:
  12. Bảo đảm giữ  gìn và phát huy thuần phong, mỹ  tục, thực hiện các hành vi  ứng xử  văn minh trong giao tiếp, ăn, ở, đi lại..., xóa bỏ hủ tục, phát triển các hình thức hoạt   động văn hóa lành mạnh, phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương  ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản công cộng và tài sản của công   dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ, rừng, biển, sông, hồ, danh lam thắng cảnh,   đền chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương, kè cống.   Xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh, chống ô nhiễm các  nguồn nước... ở địa phương; Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục trong ma   chay, cưới hỏi, thờ phụng, lễ hội v.v... ở địa phương; Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đề  ra những tiêu chuẩn   gia đình văn hóa, các quy tắc đạo đức mới, giúp đỡ nhau tìm ra các biện pháp xử lý   tốt các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình; Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các   thành viên trong gia đình, họ  tộc, xóm làng đoàn kết nhau để  xóa đói giảm nghèo,   phát triển sản xuất, nâng cao mức sống, khuyến học, khuyến nghề  v.v...  ở   địa  phương; Đề ra các biện pháp thích hợp góp phần bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn. 2. Dự thảo hương  ước, quy  ước phải được nhân dân trên địa bàn thảo luận,   được hội nghị cử tri hoặc hội nghị đại biểu hộ gia đình ở  làng, bản, thôn, ấp, cụm   dân cư thông qua và được ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành   nhằm bảo đảm nội dung của hương  ước, quy  ước không trái với các quy định của   pháp luật hiện hành, không chứa đựng các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí  và lệ phí có thể gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích  hợp pháp   của công dân. 3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Văn hóa ­ Thông tin trong phạm vi   chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ  đạo, hướng dẫn cơ  quan Tư  pháp,  cơ quan Văn hóa ­ Thông tin ở các địa phương trong việc giúp ủy ban nhân dân cùng 
  13. cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện hương  ước,  quy ước, nhằm bảo đảm cho việc soạn thảo hương ước, quy ước ở làng, bản, thôn,  ấp, cụm dân cư được tiến hành một cách thực sự dân chủ, coông khai, dưới sự lãnh   đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cấp xã, với sự tham gia tích cực  của ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở (Đoàn thanh niên  cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội   Nông dân Việt Nam...). Bộ  Tư  pháp chủ  trì, cùng với Bộ  Văn hóa ­ Thông tin phối hợp với  ủy ban Trung   ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức  thành viên, các cơ quan hữu quan  khác chỉ  đạo triển khai thí điểm Chỉ  thị  này tại một số  địa phương để  rút kinh  nghiệm. Trên cơ sở tổng kết tình hình xây dựng và thực hiện hương ước, quy  ước   trên phạm vi toàn quốc, Bộ kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ  các biện pháp, các  mô hình mẫu về các hoạt động văn hóa nhằm tiếp tục tăng cường công tác quản lý   nhà nước và phát huy vai trò của các văn bản hương  ước, quy ước trong giai đoạn  hiện nay. 4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình,   trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết quy định cụ thể việc quản lý nhà  nước và định hướng nội dung hương  ước, quy  ước căn cứ  vào quy định của pháp  luật hiện hành và phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa ­ xã hội, phong   tục tập quán của địa phương.Uỷ  ban nhân dân cấp tỉnh chỉ  đạo triển khai và kiểm   tra việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về các vấn đề nói trên. 5. Uỷ  ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ  phê duyệt các văn bản hương   ước, quy  ước do  ủy ban nhân dân cấp xã trình và chỉ  đạo, hướng dẫn việc thực   hiện hương  ước, quy ước trong phạm vi địa bàn huyện, bảo đảm nội dung hương   ước, quy  ước phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, các quy tắc xây   dựng nếp sống văn hóa mới, duy trì và phát triển phong tục tập quán tốt đẹp ở  cơ  sở. 6. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ các làng, bản, thôn,   ấp, cụm dân cư xây dựng hương  ước, quy  ước có nội dung phong phú, thiết thực,  phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và chủ  trương chính sách của Đảng  
  14. và Nhà nước, và trình  ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt. ủy ban nhân dân cấp  xã thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn. 7. cơ quan thông tin đại chúng  đẩy mạnh việc tuyên truyền về vai trò và tác  dụng của việc xây dựng và thực hiện hương  ước, quy  ước, các mô hình mẫu về  nếp sống văn hóa, gắn với việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát   huy dân chủ  ở cơ sở; nêu gương những điển hình tiên tiến, phát hiện và đấu tranh   chống các biểu hiện tiêu cực, sai trái hoặc lợi dụng hương ước, quy ước để duy trì   các hủ tục, tập quán lạc hậu. 8. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan, Chủ  tịch Hội đồng nhân  dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này./. Năm 1999, Bộ Tư pháp cũng có những công văn, chỉ thị hướng dẫn các địa phương  thực hiện nghị định này của Chính phủ. 1. 2.     Vai trò,  ảnh hưởng tích cực của Hương  ước trong sự  phát triển của   làng xã hôm nay 1.2.1. Hương ước giúp bảo tồn và giữ gìn các danh lam thắng cảnh, đền thờ,   bảo vệ môi trường của làng nói riêng và của toàn dân tộc nói chung. Những phân tích trên đã cho thấy bảo vệ  môi trường, bảo vệ  các danh lam thắng   cảnh, giữ gìn môi trường, các đền chùa, miếu mạo của làng xã là một trong những  nội dung cơ bản của Hương  ước. Điển hình như  thời gian qua là tại xã Nghi Sơn,   Quế Sơn, Quảng Nam, nơi có một khu rừng nhỏ mang tên Miếu Cấm đã được cả  dân làng nâng niu bảo vệ, nguyên nhân là từ một bản Hương  ước truyền từ đời xa   xưa quy định: “Cấm cư dân trong làng vào rừng chặt củi làm than. Nếu vi phạm sẽ  bị  làng xử  phạt. Nhẹ  thì cảnh cáo, nặng thì đòn roi, nghiêm trọng hơn thì đuổi ra   khỏi làng”. Từ đó, không những chỉ người dân trong làng, mà ngay cả những cư dân   nơi khác cũng không dám vào săn bắt, chặt cây, dù rừng có rất nhiều các loại gỗ  quý.  1.2.2.. Hương  ước góp phần duy trì và phát huy thuần phong, mỹ  tục và  truyền thống văn hoá cộng đồng, củng cố  các giá trị  đạo lý và nhân bản. Nuôi   dưỡng, vun đắp ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tinh thần bất khuất, tinh thần  
  15. tự  lực, tự  chủ  cho mỗi thành viên trong cộng đồng làng xã, xây dựng ý thức cộng  đồng làng xã. Trong Hương  ước xưa cũng có nhiều điều “khuyến”. Như  trong bài truyền   thống khuyến học của người Hà Nội xưa qua Hương ước (Tạp chí Xưa và Nay ­ số  tháng 10­1998) đã ghi lại nhiều điều trong Hương  ước một số  làng  ở  Hà Nội với  nội dung chính là khuyến khích việc học hành. Như điều 102 trong Hương ước làng  Nhật Tân ghi lại rằng: “Dạy trẻ con có học thức phổ  thông là nghĩa vụ  của người  làm phụ  huynh, không ai được từ”. Hương  ước làng Phù Xá Đoài (Đông Anh), có  điều khoản ghi: “Con trai con gái 5,6 tuổi cho vào trường học. Bằng không cho đi  học, chỉ nuông con để nghịch giặc, chửi đánh nhau, thời bố mẹ phải phạt một cơi   trầu (10 quả cau, giá tiền một hào)”,  Hương  ước làng Cổ  Nhuế, điều 98 ghi: “Làng trích tiền công để  mua giấy  cho những con nhà nghèo mà hương hội xét không thể  mua được”. Hầu như  làng  nào cũng có khoản học điền để  dành quỹ  trả  lương cho thầy giáo trưởng làng và   phát phần thưởng cho học trò giỏi, nhằm thúc đẩy tinh thần hiếu học, ham học hỏi   của người dân. Về tinh thần văn hoá, tiêu biểu là ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ  đã thực hiện được 100% khu dân cư  có Hương  ước xây dựng nếp sống văn hoá,   trong đó có quy định khá cụ  thể  về  nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc  tang và lễ  hội… trở thành một điểm sáng cho các huyện, tỉnh khác noi theo. Ngoài   ra, các Hương  ước còn có những điều lệ  quy định tinh thần đoàn kết, tương thân  tương ái, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”… trong cộng đồng làng xã  cũng có ảnh hưởng tích cực đến đời sống làng xã Việt Nam hiện nay. Phát huy cái   đẹp, cái tốt trong Hương  ước xưa, ngày nay, xã Quỳnh Hồng (huyện Quỳnh Lưu,   Nghệ An), xã Hải Tân (huyện Hải Hậu, Nam Định) cùng nhiều nơi khác xây dựng  và thực hiện quy chế thôn xã văn hóa, vừa khôi phục những truyền thống tốt đẹp  của mình, vừa nâng cao ý thức tuân thủ  pháp luật chung của đất nước, cùng cả  nước   lo  toan  những nghĩa  vụ  chung của  người dân  bình đẳng.  Xã  Xuân  Thành  (huyện Thọ  Xuân, Thanh Hóa) được coi là lá cờ đầu xây dựng quy  ước nông thôn  mới của tỉnh, nổi bật nhất trong mối quan hệ nhân dân với cán bộ  thôn xã, không 
  16. chỉ trong lao động sản xuất mà còn cả việc sinh đẻ theo kế hoạch, việc xẻ làng đi   xây dựng quê hương mới. 1.2.3.. Tổ  chức và quản lý các mặt của đời sống làng xã, duy trì trật tự, kỷ   cương, tạo ra môi trường ổn định và an toàn cho cả cộng đồng làng xã. Căn cứ các Hương ước cổ còn đến ngày nay ta thấy, hầu như quy định trong  các bản Hương ước đều thể hiện tinh thần ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định  về “Tam cương, ngũ thường”, về “tôn ti trật tự” trong các quan hệ có tính thứ  bậc  trong làng xã. Từ đó, Hương ước đã góp phần điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cụ  thể trong làng xã. Việc phát huy tinh thần tự chủ, tự giác, tự  quản làng xã cùng dư  luận xã hội và các biện pháp thưởng, phạt khác đã giúp cho trật tự, kỷ cương làng   xã được thực hiện một cách rất nghiêm chỉnh, nhờ đó đã giúp rất nhiều cho sự phát  triển của làng xã hôm nay. 1.2.4.. Hương  ước không chỉ  là biểu hiện của pháp luật mà còn giúp khắc   phục các chỗ hổng của pháp luật hoặc pháp luật quy định chưa cụ thể; Đưa pháp   luật đi vào đời sống người dân một cách dễ dàng hơn. Pháp luật dù cụ  thể  đến mấy cũng không thể  bao quát được tất cả  các đặc   thù của quan hệ làng xã. Đặc biệt là các làng xã cổ truyền Việt Nam bên cạnh các  đặc điểm có tính phổ quát, mỗi làng xã lại có các đặc điểm riêng của mình. Do vậy,   mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định gần gũi, dễ hiểu, dễ  thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ  chức và phát  triển vủa mỗi làng, xã cụ thể. Bên cạnh đó, khi có những chính sách của Nhà nước  đưa xuống các vùng nông thôn thì nhờ có Hương ước của các làng nên việc thực thi   những chính sách đó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh hơn, nâng cao ý thức  pháp luật của người dân ta. Trong ý nghĩa ấy, Hương ước là phương tiện, công cụ  bổ sung quan trọng cho khả năng điều chỉnh của luật nước, thể hiện ở các việc cụ  thể:          Hương ước biến các quy định chung của pháp luật thành các quy định cụ thể  của làng: đơn giản hoá các quy định của luật nước, làm cho ý thức hệ pháp luật của   Nhà nước trở nên gần gũi và thâm nhập vào hệ tư tưởng, vào tâm lý và lối sống của   mỗi người dân, làm pháp luật trở  nên dễ  hiểu, dễ  áp dụng. Với lối hành văn dung  
  17. dị, có vần điệu theo dân gian, Hương  ước đi vào đời sống một cách tự  nhiên, nên   thấm sâu vào đời sống cộng đồng mà ít cần đến các phương tiện tuyên truyền, phổ  biến ồn ào, tốn kém.                  Hương  ước góp phần biến cải khuôn khổ  cứng nhắc, các quy tắc có tính   nghiêm khắc lạnh lùng của luật pháp thành sự uyển chuyển, linh động và biến hoá  trong lối hành xử của các cộng đồng. Ở Hương ước, lệ làng, ta nhận thấy các tinh   thần khoan dung, độ lượng và uyển chuyển, hoá giải cái khô cứng, hà khắc, đôi khi  là tàn bạo của luật pháp.          Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết vào các lỗ hổng của pháp   luật, trong các mối quan hệ  cụ  thể  của cuộc sống làng xã. Các vấn đề  như  chia  ruộng đất công, lão quyền, nam quyền, phụ quyền, trưởng quyền, an ninh làng xã,  đời sống tâm linh của cộng đồng… Thường là những vấn đề  được quy định chung  chung trong luật nước lại rất cụ thể trong các Hương ước. 1.3.         Những  ảnh hưởng tiêu cực của Hương  ước trong sự  phát triển của  làng xã  1.3.1. Hương  ước mang theo những quan niệm lạc hậu , chứa những yếu tố  tiêc cực, gây  ảnh hưởng cho sự phát triển của làng xã, cản trờ  việc thực hiện các   chính sách phát triển của nhà nước. Trong thực tiễn đời sống pháp lý  ở  làng xã cổ  truyền Việt Nam, quan niệm “phép   vua thua lệ  làng” đã tạo điều kiện cho sự  thể hiện các tác động tiêc cực của bản   thân mỗi Hương  ước. Vì bên cạnh các giá trị  tích cực như  đã nói ở  trên, thì nhiều  Hương ước cũng chứa đựng không ít các quy tắc mang tính tiêu cực, thể  hiện tinh   thần cục bộ địa phương, bè phái trên cơ sở “tâm lý làng” và bởi tư  duy “ăn cây nào  rào cây ấy”, “ở đình nào chúc đình ấy”, “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào  làng  ấy thờ”, ít quan tâm đến lợi ích của làng khác và lợi ích của cả  nước. Ví dụ  như các bản Hương ước có quy định hủ tục về ma chay, cưới hỏi, hội hè… làm tốn   kém tiền của, thời giờ, thậm chí phá vỡ  hạnh phúc của nhiều người. Ngoài ra, có  nhiều bản Hương ước đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân, khiến cho việc tiếp   nhận những chính sách, những kinh nghiệm tiến bộ bị cản trở, nhất là ở những nơi  

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản