BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ___________________________ Mai Thị Chuyên
Chuyên ngành : Địa lý học Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS ĐẶNG VĂN PHAN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành gửi lời
cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đặng Văn Phan – người đã
tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Qua đây, tác giả cũng trân trọng gửi lời cảm ơn đến các cơ quan:
UBND huyện Long Thành, Phòng Thống kê huyện Long Thành, Phòng Tài
nguyên – Môi trường huyện Long Thành, Phòng Kinh tế huyện Long Thành,
BGH trường THPT Long Thành, Bưu điện huyện Long Thành đã giúp đỡ tác
giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội
dung nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và
người thân đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời
gian học tập và thực hiện luận văn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng …. năm 2009
Tác giả luận văn
Mai Thị Chuyên
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN : Công nghiệp
CNH : Công nghiệp hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
DT : Diện tích
HĐH : Hiện đại hóa
KT : Kinh tế
NN : Nông nghiệp
NS : Năng suất
SL : Sản lượng
TB : Trung bình
TCLTNN : Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
TCSX : Tổ chức sản xuất
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCN : Trung tâm công nghiệp
XH : Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập với quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa (CNH – HĐH) sôi nổi, có sức lan truyền tới mọi địa phương. Quá trình
này đã làm thay đổi rất lớn tới kinh tế, xã hội, tới đời sống của người dân. Bên cạnh
những đóng góp tích cực, quá trình này cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mà
trong thực tế khó tìm được cách giải quyết hợp tình, hợp lí.
Long Thành – một trong những huyện thuộc tỉnh Đồng Nai – đã, đang và sẽ
chịu ảnh hưởng rất lớn từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vị trí đặc biệt
quan trọng trên tuyến quốc lộ 51 nối liền các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, lại có thể thông với quốc lộ 1A nên quá trình này càng phải có tốc độ
phát triển nhanh hơn nữa để kịp thời đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Vì vậy bên
cạnh những thành tựu to lớn mà quá trình này đem lại thì cũng có nhiều vấn đề
phức tạp đã nảy sinh.
Là người sống tại địa phương, dưới góc độ khoa học Địa lí, chúng tôi muốn
tìm hiểu quá trình chuyển đổi kinh tế từ một huyện sản xuất nông nghiệp sang sản
xuất công nghiệp ở huyện Long Thành trong thời kì CNH – HĐH nhằm tìm ra
những ảnh hưởng của nó đến kinh tế, xã hội, môi trường và đời sống người dân địa
phương. Nhận thấy đây là vấn đề còn mới, tôi mạnh dạn chọn nó làm đề tài nghiên
cứu của mình với tên: Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thời kì CNH – HĐH.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài được xác định là:
- Nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế từ huyện sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.
- Kiến nghị những phương hướng và biện pháp giải quyết những vấn đề nảy
sinh khi chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện
Long Thành trên cơ sở khoa học và lâu dài.
Dựa trên mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài được xác định là:
- Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến quá trình công nghiệp hóa và hiện
đại hóa đất nước, tìm hiểu các khái niệm và những tác động của quá trình này đến
kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm chuyển đổi quá trình
sản xuất của các địa phương.
- Điều tra, khảo sát các số liệu cần thiết.
- Phân tích tác động của quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp đến một số mặt kinh tế, xã hội, môi trường và đời sống
người dân trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai: những thành tựu đạt được
và những hạn chế cần khắc phục.
- Tham khảo và đưa ra những định hướng phát triển của huyện trong tương lai
và những biện pháp thực hiện khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài được xác định là quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội dưới góc độ
địa lý kinh tế - xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: tập trung nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó.
Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
Về thời gian: chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ 1995 cho đến
nay (năm 1994 huyện Nhơn Trạch mới tách ra khỏi Long Thành).
4. Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Hệ thống quan điểm
4.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của Địa lý
học, đó là: khi xem xét các sự vật hiện tượng địa lý phải đặt chúng trong mối quan
hệ về không gian. Quan điểm này luôn chiếm được sự đồng thuận bởi trong thực tế
các sự vật và hiện tượng địa lý luôn luôn có sự phân hóa về không gian, làm cho
chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác. Trong nghiên cứu về quá trình
chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp trong thời kì
CNH – HĐH, chúng tôi luôn đặt Long Thành trong mối quan hệ không gian với các
huyện khác trong tỉnh và trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để xem xét và
đánh giá.
4.1.2. Quan điểm hệ thống
Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công
nghiệp của một địa phương không phải là một quá trình đơn lẻ, độc lập mà sẽ gắn
kết với các quá trình khác. Xét trong mối quan hệ nhân quả thì đây vừa là kết quả
của những vấn đề kinh tế xã hội này, vừa là nguyên nhân của những vấn đề kinh tế
xã hội khác. Vì thế khi nghiên cứu quá trình này tại huyện Long Thành, chúng tôi
luôn đặt quá trình này trong quan điểm hệ thống để nghiên cứu nhằm có những
phân tích mang tính khoa học và đảm bảo tính chất dây chuyền của các đối tượng.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Các sự vật hiện tượng trong tự nhiên không chỉ biến đổi về mặt không gian mà
còn có sự phát triển theo thời gian. Việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế từ
sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng
Nai được xem xét kĩ lưỡng ttrong mối liên hệ quá khứ - hiện tại – tương lai để làm
rõ hơn bản chất của vấn đề theo thời gian và dự báo được hướng phát triển của nó,
bảo đảm tính logic, khoa học và chính xác.
4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quá trình phát triển của con người luôn chịu ảnh hưởng từ môi trường bên
ngoài. Đồng thời con người cũng có những tác động làm biến đổi môi trường xung
quanh. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình phát
triển của mình đến môi trường xung quanh cần phải quán triệt quan điểm sinh thái
và phát triển bền vững khi nghiên cứu vấn đề. Trong việc nghiên cứu quá trình
chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp tại huyện
Long Thành tỉnh Đồng Nai cũng phải xem xét đến ảnh hưởng của nó đến môi
trường xung quanh và đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát
triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trưvờng à phát triển bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã thực hiện các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp sưu tầm và xử lí tài liệu: quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
có nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên cần có một quá trình sưu tầm và xử lí số liệu
sao cho có hiệu quả và đáng tin cậy.
- Phương pháp điều tra, đánh giá: do địa phương nghiên cứu giới hạn trong
một huyện nên những tài liệu tìm được chưa đủ để có thể hoàn thành đề tài. Vì vậy,
việc điều tra đánh giá để tìm ra những số liệu mới là rất quan trọng để có thể hoàn
thành được đề tài.
- Phương pháp thực địa: là phương pháp cần thiết để tăng thêm độ tin cậy và
tính khách quan cho đề tài.
- Phương pháp bản đồ: phương pháp này tạo một cái nhìn tổng quát và khách
quan, đặc biệt là đối với những đối tượng không thể kiểm soát hết bằng mắt thường
trong thực tế, đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau để có
những hướng giải quyết phù hợp.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính
khoa học và đưa ra được những dự báo chính xác, hợp lí... cần phải tham khảo ý
kiến của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực qui hoạch, kinh
tế, môi trường...
5. Ý nghĩa của đề tài
Cho đến hiện nay, chưa có đề tài nghiên cứu nào tại địa phương nghiên cứu về
vấn đề này. Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cung cấp một cách nhìn
khách quan những vấn đề đang tồn tại và buộc các nhà quản lí phải có những thay
đổi để giải quyết những vấn đề đó trong quá trình chuyển Long Thành thành một
huyện sản xuất công nghiệp.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng giúp cho những địa phương
khác có được những bài học kinh nghiệm để có thể thực hiện quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của mình tốt hơn.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Quá trình CNH ở Việt Nam diễn ra muộn hơn rất nhiều so với các nước khác
trên thế giới. Vì vậy Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc học hỏi kinh nghiệm từ
các nước đi trước để có được những kết quả nhanh chóng và hiệu quả như mong
muốn. Việc gắn CNH với HĐH là một sự sáng tạo trong chủ trương, chính sách của
Đảng và nhà nước, do đó nó cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà
lãnh đạo, nhà khoa học và nhà kinh tế...
Ở cấp vĩ mô và trong nhiều ngành kinh tế, đã có rất nhiều sách và công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau viết về vấn đề CNH – HĐH và những ảnh
hưởng của nó như:
- Trong giai đoạn đầu thực hiện CNH – HĐH, tác giả Đặng Kim Sơn đã cho
xuất bản cuốn sách có tựa đề CNH từ nông nghiệp – lí luận thực tiễn và triển vọng
áp dụng ở Việt Nam (2001) đã đặt nền móng cho việc thực hiện CNH – HĐH từ
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
- Năm 2002, dưới sự chủ biên của GS.TS. Nguyễn Trong Chuẩn; PGS.TS.
Nguyễn Thế Nghĩa; PGS. TS. Đặng Hữu Toàn cuốn sách có tựa đề CNH, HĐH ở
Việt Nam – Lý luận và thực tiễn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành đã
cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan, toàn diện về quá trình CNH – HĐH
ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI.
- Năm 2004, đóng góp vào những nghiên cứu về quá trình CNH – HĐH ở Việt
Nam để có được kết quả toàn diện và sâu sắc hơn, nhóm tác giả Đào Thế Tuấn, Đào
Thế Anh và Nguyễn Vũ Quang đã cho xuất bản cuốn sách Cơ sở khoa học của vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH – HĐH ở
Việt Nam trong tương lai.
- Để cụ thể hóa những chỉ tiêu trong quá trình thực hiện CNH – HĐH đất
nước, tác giả Vũ Năng Dũng cũng đã cho ra đời cuốn sách được Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn cấp phép có tựa đề Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng
tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông
thôn (năm 2004).
- Năm 2006, nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới, tác giả Đỗ Quốc Sam đã
viết Một số vấn đề CNH, HĐH sau 20 năm đổi mới với những đánh giá hết sức
khách quan về những thành tựu đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện
CNH – HĐH đất nước.
- Với những thay đổi to lớn của đất nước, các khía cạnh của quá trình CNH –
HĐH cũng như ảnh hưởng của nó đến các ngành kinh tế cũng được nghiên cứu kĩ
hơn trong những công trình nghiên cứu sau:
+ Đề tài Xác định nội dung và phương thức CNH – HĐH trong thương mại ở
nước ta thời kì tới 2010 (năm 2003) của tác giả Vũ Tiến Dương và đề tài Nghiên
cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp CNH – HĐH ở Việt Nam (năm 2005) của
tác giả Nguyễn Văn Lịch thuộc Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên
cứu rất kĩ những vấn đề trong ngành thương mại ở nước ta thời kì CNH – HĐH.
+ Nói đến một khía cạnh khác, tác giả Nguyễn Thành Nghị cũng có viết
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí và sử dụng nguồn nhân
lực trong quá trình CNH – HĐH đất nước (năm 2005). Bên cạnh đó, tác giả Đặng
Hữu cũng có viết Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến
sự phát triển và lựa chọn chiến lược CNH – HĐH ở Việt Nam (năm 2005), giúp
chúng ta có một cách nhìn mới về quá trình CNH – HĐH.
+ Quan tâm đến việc phát triển kinh tế của lãnh thổ trong sự nghiệp CNH –
HĐH đất nước, năm 2006 tác giả Nguyễn Xuân Thu đã cho ra đời cuốn sách có tựa
đề Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH – HĐH.
+ Việc thay đổi cơ cấu kinh tế cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong quá
trình CNH – HĐH. Do đó Viện kinh tế Việt Nam đã cho xuất bản cuốn sách
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình CNH – HĐH năm 2006.
Nhìn chung, có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu đến vấn
đề CNH – HĐH nhưng đa số đều ở tầm vĩ mô chứ chưa nghiên cứu nó trong một
phạm vi lãnh thổ nhỏ (một huyện). Với đề tài Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản
xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thì
vấn đề CNH – HĐH với những ảnh hưởng của nó lần đầu tiên được nghiên cứu ở
cấp độ vi mô và cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế huyện Long Thành trong thời kì CNH – HĐH.
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
1.1.1. Công nghiệp hóa
1.1.1.1. Khái niệm
Trong quá trình phát triển của tất cả các nước trên thế giới, công nghiệp hóa
(CNH) được xem là xu thế tất yếu khách quan. Vậy công nghiệp hóa là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về CNH: [9], [21]
- Theo B. Mazlish: “CNH là một quá trình được đánh dấu bằng một sự chuyển
động của một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là
công nghiệp”.
- Một tác giả khác, Ladriere lại cho rằng: “CNH là một quá trình mà các xã hội
ngày nay chuyển từ một kiểu kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp với các đặc
điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực kì thấp hay bằng 0 sang một kiểu kinh tế về
cơ bản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương
đối cao”.
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) lại đưa ra một
khái niệm về CNH có chiều sâu hơn như sau: “CNH là một quá trình phát triển kinh
tế, trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân
được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kĩ thuật
hiện đại. Đặc điểm cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để
sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm cho toàn
nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã
hội”. [21]
Sự khác biệt của định nghĩa này là đã đặt CNH trong bối cảnh chung của phát
triển kinh tế với nội dung cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế (trong đó công nghiệp
chế tạo đóng vai trò quan trọng) trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế, đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội.
- Bên cạnh đó, Encyclpelu Francies năm 1973 cũng đưa ra một định nghĩa
tương đối ngắn gọn: “CNH là hoạt động mở rộng tiến bộ kĩ thuật với sự lùi dần tính
thủ công trong sản xuất và công nghiệp hàng hóa và dịch vụ”. [27]
Tiếp thu các quan niệm về CNH của các nước, các nhà nghiên cứu và các nhà
kinh tế ở Việt Nam lại có những quan niệm về CNH riêng cho mình.
- Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10: “công nghiệp
hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào
lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến
hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao”. [4]
Dựa trên định nghĩa này, Đại hội cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2020, Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỉ trọng trong GDP của nông
nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ
trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%,
nông nghiệp là 50%.
1.1.1.2. Đặc điểm của quá trình CNH
Dù trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về CNH, nhưng tựu chung lại
tất cả các khái niệm CNH đều toát lên 3 đặc điểm của quá trình CNH: [21]
- CNH là một sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế (theo cách phổ biến hiện nay
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế), một sự chuyển dịch từ kiểu kinh tế nông nghiệp và
thủ công nghiệp sang kiểu kinh tế được gọi là công nghiệp và sự biến đổi trong bản
thân ngành công nghiệp, trước hết là trong công nghiệp chế tạo – một bộ phận đặc
trưng nhất của công nghiệp.
Đây là đặc điểm có tính chất bao trùm của quá trình CNH. Một mặt là sự giảm
phần của khu vực nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế, sau đó là sự giảm tương
đối của khu vực công nghiệp do sự gia tăng của khu vực dịch vụ nhờ chính kết quả
phát triển của khu vực công nghiệp. Mặt khác, là sự thay đổi trong nội bộ khu vực
công nghiệp chế tạo.
Chính sự chuyển dịch cơ cấu sẽ là nguyên nhân của sự tăng trưởng kinh tế.
- CNH đặc trưng với kiểu kinh tế công nghiệp có năng suất cao, tăng trưởng
nhanh nhờ sự ra đời của những công nghệ mới và việc tích cực áp dụng công nghệ
đó.
Công nghệ là nhân tố đặc biệt quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu. Phát triển
công nghệ là một nội dung quan trọng và không thể tách rời của CNH. Trong lịch
sử CNH thế giới có 3 con đường phát triển công nghệ khác nhau:
+ Phát triển công nghệ chủ yếu lấy nghiên cứu cơ bản làm cơ sở.
+ Phát triển công nghệ bắt đầu bằng sử dụng công nghệ nhập từ nước ngoài.
+ Tự lực về công nghệ trên cơ sở coi trọng nghiên cứu cơ bản kết hợp với việc
nhập công nghệ.
Đáng chú nhất đối với các nước đang phát triển là mô hình về chính sách công
nghệ trong công nghiệp hóa của Hàn Quốc: nước này đã chọn con đường thứ hai sử
dụng công nghệ nhập, truyền bá, đồng hóa, thích nghi và cải tiến công nghệ nhập
kết hợp với sáng tạo công nghệ mới và đã thành công, đẩy nhanh quá trình CNH
của nước mình. Quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc trong suốt 25 năm
(1967 – 1991) gắn chặt với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với sự giảm tương đối
của tỉ trọng nông nghiệp và tăng tỉ trọng công nghiệp trong GDP với bước đi từ
công nghiệp nhẹ, qua công nghiệp nặng tới công nghiệp điện tử cao cấp.
- CNH phải được đặt trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế và đó là cách
đi đạt được tăng trưởng nhanh, thúc đẩy sự phát triển.
Dù trong thực tế lịch sử phát triển CNH có những hậu quả tiêu cực xảy ra về
mặt xã hội, môi trường và văn hóa, CNH vẫn luôn luôn là một giai đoạn phát triển
mà các quốc gia từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp muốn vươn lên
nhanh chóng đến một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua.
CNH chắc chắn là nguyên nhân của quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, phát
triển kinh tế thực chất được coi ngang với CNH.
1.1.2. Hiện đại hóa
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hiện đại hóa (HĐH). Đây là một cụm
từ có từ gốc là một tính từ: hiện đại. Từ này có nhiều cách giải thích khác nhau theo
nhiều lĩnh vực về sử học, về văn học nghệ thuật, về kiến trúc… và rất ít khi trùng
khớp với nhau.
Theo cách dùng thông thường, hiện đại có nghĩa là “thuộc thời đại ngày nay”
(Từ điển Tiếng Việt – 1996, Hoàng Phê chủ biên), đối lập với truyền thống là thói
quen nhiều đời đã qua, tương tự như mới với cũ, tiên tiến với lạc hậu. Theo nghĩa
này, HĐH là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến,
hiện đại. HĐH chỉ có tính so sánh về thời gian trước sau, còn thời gian khởi đầu và
thời gian kết thúc lại xác định tùy theo ngữ cảnh cụ thể. [3]
Theo ý nghĩa về kinh tế, HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn
bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, kéo dài từ thế kỉ 17 – 18 cho đến
ngày nay vẫn còn chưa kết thúc. HĐH về kinh tế vừa là sự thay đổi về tính chất, vừa
có tính xác định về thời gian (có thời gian khởi đầu và thời gian kết thúc từng giai
đoạn). Giai đoạn đầu của quá trình HĐH được coi là trùng với thời kì CNH, nên
nhiều người cho rằng CNH là cốt lõi của HĐH trong giai đoạn này. Nếu tính đến
định nghĩa CNH theo nghĩa rộng , có xét đến các mặt xã hội, văn minh, thì nội hàm
của CNH và HĐH giai đoạn đầu cũng không khác nhau bao nhiêu. Sau giai đoạn
đầu, HĐH sẽ chuyển sang giai đoạn hậu CNH, giai đoạn kinh tế tri thức (có thể tạm
gọi là giai đoạn tri thức hóa). Có người còn nói đến một giai đoạn hậu hiện đại.
Giữa HĐH và CNH có một mối quan hệ ràng buộc không dễ tách bạch ra được. [4]
Ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau.
Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội kinh tế công
nghiệp sang xã hội kinh tế tri thức. Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá
trình đẩy nhanh phát triển để đuổi kịp các nước phát triển, trước mắt là giai đoạn
CNH.
1.1.3. Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam
1.1.3.1. Hình thành đường lối CNH – HĐH
Chính sách CNH ở nước ta đã được nêu ra từ sau khi đổi mới, nó là một quá
trình tự nhiên và không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam cũng
như của các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, đến Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kì khóa VII của Đảng (1/1994) vấn đề công nghiệp hóa gắn kết với
HĐH mới chính thức được đề xuất, khi nêu lên những thành tựu quan trọng về phát
triển kinh tế xã hội đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang
một thời kì phát triển mới, thời kì đẩy tới một bước CNH, HĐH đất nước, kèm theo
là 7 nhiệm vụ kinh tế - xã hội cho thời gian còn lại của nhiệm kì Đại hội VII. [4]
Tiếp theo Hội nghị giữa nhiệm kì, Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa VII
(7/1994) đã cụ thể hóa bước đầu ý tưởng CNH, HĐH nêu trên, đi đến hình thành
một đường lối CNH, HĐH cho đất nước với một định nghĩa về CNH, HĐH cụ thể;
đưa ra mục tiêu và quan điểm về CNH, HĐH cũng như các chủ trương phát triển
công nghiệp và khoa học, công nghệ cùng các chính sách và biện pháp CNH, HĐH.
CNH, HĐH được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. [3]
Mục tiêu và các quan điểm CNH – HĐH đã được chuẩn xác hóa trong văn
kiện Đại hội VIII (1996). Đại hội VIII đã khẳng định những yếu tố cơ bản của
đường lối CNH – HĐH của Việt Nam. Trong khi xác định mục tiêu thời gian, từ
nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, và nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh CNH – HĐH (khác năm 1994 là đẩy
nhanh một bước CNH). Đại hội VIII củng đã tái khẳng định: Mục tiêu của CNH –
HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an
ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. [4] Bên cạnh
đó, Đại hội cũng phác thảo một cách định tính những mục tiêu cụ thể về cơ cấu kinh
tế, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, đời sống vật chất và văn hóa… với một
chỉ tiêu định lượng duy nhất cho năm 2020 là GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với 1990.
Sáu quan điểm về CNH – HĐH cũng đã được thông qua:
- Độc lập tự chủ đi dôi với hợp tác quốc tế.
- CNH – HĐH là sự nghiệp của toàn dân.
- Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững.
- Khoa học và công nghệ là động lực của CNH – HĐH.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn phát triển.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh.
Đến Đại hội IX, đường lối CNH – HĐH xây dựng từ Đại hội VIII đã được cụ
thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2010 đến 2020, trong
đó có bao hàm phần chiến lược CNH – HĐH giai đoạn 2001 – 2010. Chiến lược
này đề ra nhiệm vụ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội cũng đã bổ sung, hoàn thiện nhiều
quan điểm về CNH – HĐH. Văn kiện đại hội yêu cầu tìm ra con đường rút ngắn
thời gian, nhấn mạnh đến trình độ công nghệ tiên tiến, từng bước phát triển kinh tế
tri thức trong điều kiện CNH gắn với HĐH ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn
phát triển.
Trong bối cảnh trong nước và quốc tế mới, Đại hội đã nhấn mạnh yêu cầu phát
triển vừa nhanh vừa bền vững; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng chủ
động hội nhập quốc tế; đề cao vai trò của giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là
nền tảng và động lực của CNH – HĐH; đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp và
nông thôn là nhiệm vụ lớn và cấp thiết của quá trình CNH – HĐH.
Như vậy, quá trình hình thành đường lối CNH – HĐH có thể được tóm tắt như
sau:
- Năm 1994: Hội nghị giữa nhiệm kì khóa VII đã khởi động lại quá trình CNH
với ý tưởng CNH – HĐH gắn kết với nhau.
- Năm 1996: Đại hội VIII đã hình thành đường lối CNH – HĐH thời kì mới.
- Năm 2001: Đại hội IX đã hoàn thiện đường lối CNH – HĐH và xây dựng
bước đầu chiến lược CNH – HĐH.
1.1.3.2. Đặc điểm chủ yếu của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
CNH, HĐH ở Việt Nam có nhiều nét đặc thù cả về nội dung, hình thức, qui
mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù này thể hiện ở
một số điểm sau:
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn
diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa
phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về
lượng và biến đổi về chất, … của các tác nhân tham gia quá trình. Mục tiêu của quá
trình CNH, HĐH mang tính chất bao trùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta về
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu sâu xa
hơn là nước ta trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra
mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà
phải thực hiện đồng thời và đồng bộ CNH và HĐH như một quá trình thống nhất.
Về đại thể, riêng về mặt kinh tế, có thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thống
nhất với nhau: một là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, cũng có nghĩa
là tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; và hai là
quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập [4]. CNH gắn
với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong khu
vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Việc cần được rút
ngắn ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát
triển. Bên cạnh đó, bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước
ta có khả năng rút ngắn quá trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta có thể
thực hiện CNH, HĐH rút ngắn bao gồm hai mặt: một là đạt và duy trì tốc độ tăng
trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để
đuổi kịp); và hai là lựa chọn và áp dụng một phương thức CNH, HĐH cho phép bỏ
qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu tuần tự, để đạt tới một nền kinh tế có
trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp
CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể thống nhất với
nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh
CNH, HĐH ở nước ta.
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát
triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua, tại không ít diễn đàn khoa học và công
trình nghiên cứu, mối quan hệ hai chiều giữa CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri
thức đã từng bước được làm rõ. Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh
tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH.
Hay nói cách khác, phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực hiện mô
hình CNH, HĐH rút ngắn ở nước ta. Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục
tiêu của quá trình CNH, HĐH tạo ra kết cấu hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội để đi
vào kinh tế tri thức. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải nắm bắt các tri thức và
công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp và các ngành kinh tế
hiện có, đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri
thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
nhanh các ngành kinh tế tri thức.
Từ những phân tích trên, có thể thấy nội dung cốt lõi về kinh tế của quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam trong thời gian tới như sau:
+ Đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của các
ngành công nghiệp và dịch vụ.
+ Nắm bắt tri thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hóa nông nghiệp và các
ngành kinh tế hiện có.
+ Phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa trên tri thức, khoa
học và công nghệ.
+ Không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.1.3.3. Mục tiêu CNH, HĐH ở Việt Nam
a. Chặng đường đến năm 2010
Tính đến nay, chúng ta đã thực hiện được gần hết chặng đường của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010. Những kết quả đạt được cho đến nay
tạo điều kiện và là tiền đề quan trọng cho chặng đường CNH, HĐH đến năm 2020.
Trong những năm tới, nước ta tập trung tạo chuyển biến cơ bản về năng lực nội sinh
về khoa học công nghệ và công nghiệp của đất nước, tiếp tục nâng cao vị thế trong
hội nhập và chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế, định hình về cơ bản nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Cụ
thể hơn là phải hoàn thành các mục tiêu chủ yếu sau:
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao tích
lũy trong nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó cơ cấu ngành và lĩnh
vực tạo được hiệu quả cao và bền vững, cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài
hòa giữa vùng động lực phát triển và các vùng khác, các vùng khó khăn có thể tự
lực phát triển và cơ bản hết đói nghèo. Trong nền kinh tế hình thành một số ngành,
lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; khoa học và công nghệ có cơ sở tốt để chủ động tiếp
nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài và tự tạo được đáng kể công nghệ tiên
tiến của nước ta; giáo dục và đào tạo phát triển hình thành đội ngũ lao động và quản
lí có trình độ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao
hơn.
- Định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu, thể
chế đồng bộ, hoàn chỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ở một vị thế
tốt hơn, cân bằng lợi ích và mở rộng hội nhập ngoài khu vực. Hoàn chỉnh đồng bộ
các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển của chặng đường
tiếp theo.
- Tạo sự chuyển biến rõ rệt về đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân: no
đủ, lành mạnh, yên vui, có nhiều yếu tố văn minh, hiện đại; chỉ số phát triển con
người (HDI) đạt mức trung bình cao trong so sánh quốc tế. Giải quyết tốt hơn, toàn
diện hơn các vấn đề xã hội; cơ bản xóa nghèo, tạo nhiều việc làm, tạo điều kiện để
đi tới thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khoảng cách về mức sống
giữa các tầng lớp dân cư.
Tựu trung lại, kết thúc chặng đường 10 năm, quá trình CNH, HĐH đất nước đã
định hình nên cơ sở vật chất, kĩ thuật, kinh tế để nước ta đi nhanh hơn, mạnh hơn,
vững chắc hơn trong chặng đường tiếp theo (2010-2020).
b. Chặng đường từ 2010-2020
Trong chặng đường này, nước ta đã hội đủ nhiều điều kiện mang tính tiền đề
về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh
và khả năng hội nhập quốc tế để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH, thực hiện thành
công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020. Cụ thể đó là:
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đẩy mạnh chuyển dịch và
nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH có hiệu quả và bền vững. Tỉ trọng
nông nghiệp trong GDP và tỉ trọng lao động trong nông nghiệp giảm; ở nông thôn
có nền nông nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ bản hiện đại, phát triển đa dạng các ngành
công nghiệp và dịch vụ, thực hiện sự chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn Việt
Nam phù hợp với một xã hội công nghiệp. Công nghiệp có đủ khả năng hợp tác và
cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực, có chỗ đứng vứng chắc trên thị
trường quốc tế. Khu vực dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó dịch vụ tài chính, ngân
hàng, viễn thông phát triển hiện đại, tiếp cận trình độ quốc tế.
- Hình thành hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tương
hợp với trình độ quốc tế. Mở rộng hội nhập quốc tế ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh
vực đầu tư, tài chính, tiền tệ, lao động, công nghệ, thông tin. Tham gia có hiệu quả
vào WTO và các tổ chức quốc tế khác, về kinh tế có vị thế của một nước có trình độ
phát triển trung bình trên thế giới.
- Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo kịp trình độ
quốc tế. Hình thành đội ngũ các nhà quản lí nhà nước tinh thông nghiệp vụ, trung
thành, trung thực và tận tụy với công việc; đội ngũ doanh nhân giỏi, năng động,
nhạy bén, sáng tạo; đội ngũ trí thức có trình độ cao, tâm huyết; và đội ngũ công
nhân kĩ thuật lành nghề theo kịp yêu cầu phát triển đất nước đi dần tới hiện đại hóa
và nền kinh tế tri thức. Chỉ số HDI đạt trên mức trung bình của thế giới.
- Tạo dựng và phát huy năng lực công nghệ nội sinh, kể các lĩnh vực công
nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, chế
tạo máy, tự động hóa, hóa dầu, năng lượng… và sự kết hợp các công nghệ đó; có
chỗ đứng vững chắc trên thị trường công nghệ, đạt trình độ tiên tiến về công nghệ
trong khu vực. Tăng cường ứng dụng và nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho sự rút ngắn trong
một số ngành, lĩnh vực, tiến thẳng đến trình độ hiện đại.
- Hình thành lối sống và đạo đức trong xã hội lành mạnh, văn minh, hiện đại,
gắn kết các cá nhân với cộng đồng và dân tộc; nền dân chủ được mở rộng, mọi
người dân có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ công bằng các thành quả phát triển;
quản lí xã hội có hiệu quả; các tệ nạn xã hội không còn là điều suy tư, lo lắng của
gia đình và xã hội; môi trường tự nhiên và sinh thái được giữ gìn, hài hòa với cuộc
sống con người. An ninh chính trị, xã hội luôn luôn được củng cố vững chắc.
1.2. Cơ cấu kinh tế
1.2.1. Khái niệm
Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để
chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các
mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan
hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như một thuộc tính của sự
vật, hiện tượng và sự biến đổi sự vật, hiện tượng. Như vậy, có thể thấy rất nhiều
trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống.
Đối với nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế là một hệ thống phức tạp có nhiều
bộ phận hợp thành, có sự vận động biến đổi và phát triển theo thời gian. Như vậy có
thể hiểu: “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất
lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời
gian và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định”. [11]
Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các ngành, lĩnh vực, các bộ phận kinh tế có quan hệ
hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Cơ cấu kinh tế quốc dân là phạm trù phản ánh cấu tạo cùng các quan hệ bên
trong của nền kinh tế quốc dân, trong đó nền kinh tế được hiểu như một hệ thống
tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Như vậy, nghiên cứu cơ cấu kinh tế nhằm nhận biết cấu trúc của nền kinh tế và
phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng thời kì để có những tác động
cần thiết, thúc đẩy các xu hướng tích cực hay hạn chế những tiêu cực, tiến tới đạt
các mục tiêu định trước. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với thực
tiễn phát triển kinh tế trong từng thời kì phát triển KT - XH của đất nước.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế không chỉ quy định về số lượng và tỉ lệ giữa các
yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng (là sự tăng trưởng của hệ thống), mà còn thể
hiện những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất (là sự phát triển
của hệ thống). Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi có cơ cấu
cân đối, hợp lí.
Trên phạm vi cả nước, cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung của chiến lược KT -
XH. Một cơ cấu kinh tế hợp lí phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển
khách quan. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội nhất định và luôn biến động
phụ thuộc vào sự biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị thế giới và đặc điểm kinh
tế xã hội của đất nước. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao về mặt KT
– XH và môi trường theo hướng CNH, HĐH trong những điều kiện cụ thể của đất
nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với sự biến đổi và phát triển không ngừng
của các yếu tố, các bộ phận cấu thành nền kinh tế và những mối liên hệ giữa chúng.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: Nền kinh tế quốc dân có một
cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành phần,
các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố trí cân
đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển ổn định.
Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển
của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó. Ứng với mỗi giai đoạn phát
triển nhất định, trong những điều kiện cụ thể nhất định, phải xây dựng, điều chỉnh
cơ cấu kinh tế cho phù hợp.
1.2.2. Các khía cạnh của cơ cấu kinh tế
1.2.2.1. Cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ
nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như
giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành [27]. Cơ cấu ngành là
bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung
và tỉ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân.
Đối với nền kinh tế quốc dân, chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận
động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng
tăng tỉ lệ các ngành khu vực II, III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng
sản phẩm quốc nội.
Trong công nghiệp xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện bằng sự gia
tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp có thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại, tăng
sản phẩm có hàm lượng chất xám, giảm tỉ trọng các ngành, các xí nghiệp có thiết bị
và công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều lao động.
1.2.2.2. Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu
sản xuất. Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị
chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại.
Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, lấy kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể làm nền tảng. Trong đó, kinh tế quốc doanh đóng
vai trò chủ đạo. Kinh tế tư bản nhà nước được phát triển phổ biến và tồn tại dưới
nhiều hình thức. Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản là bộ phận hợp thành quan trọng.
1.2.2.3. Cơ cấu lãnh thổ kinh tế
Cơ cấu lãnh thổ kinh tế phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không
gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến
lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thu chính sách sát thực và phù hợp với đặc
điểm của từng lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ.
Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu
hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ
đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò
quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành,
các thành phần kinh tế phân bố hợp lí các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân
đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế của một nền
kinh tế.
1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có nhiều cách lí giải khác nhau về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Song dù được lí
giải như thế nào thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn được xem là sự thay đổi trang
thái cơ cấu của nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác.[19]
Quá trình phát triển KT – XH là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực KT – XH nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực sản xuất và chuyển dịch các
nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất của các ngành. Xu hướng chung
trong thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công
nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng
nhanh hơn so với công nghiệp. Để lí giải cho quá trình này E. Engel cho rằng: khi
thu nhập của các gia đình tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm
sẽ giảm xuống và cho sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng lên, dẫn tới tỉ trọng
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến KT – XH từ lạc hậu,
mang tính chất tự cấp tự túc bước vào chuyên môn hoá hợp lí, trang bị kĩ thuật,
công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng
trưởng mạnh cho nền kinh tế [9]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa
các ngành của nền kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu
hướng nhất định.
1.3. Vai trò của quá trình CNH – HĐH đối với sự phát triển KT - XH
CNH – HĐH ở Việt Nam được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí KT – XH từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Về thực chất, CNH – HĐH không chỉ là quá trình tăng thêm một cách đơn giản tốc
độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà còn là quá
trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với việc đổi mới công nghệ một cách thường
xuyên, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ
nền kinh tế. Cũng có thể thấy rằng CNH – HĐH là một quá trình xây dựng một xã
hội văn minh, cải biến căn bản các ngành kinh tế, các hoạt động xã hội theo phong
cách của nền công nghiệp hiện đại, tạo ra sự phát triển bền vững và không ngừng
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Chính vì vậy, quá trình
này có những tác động sâu sắc đến sự phát triển KT – XH không chỉ của quốc gia
nói chung mà các lãnh thổ ở cấp nhỏ hơn đều chịu ảnh hưởng.
1.3.1. Tích cực
1.3.1.1. Đối với các ngành kinh tế
Quá trình CNH – HĐH tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế. Cụ thể:
- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế thông qua việc ứng dụng
một cách triệt để sự tiến bộ của khoa học và công nghệ nhằm mục đích cuối cùng là
tạo ra năng suất lao động xã hội cao nhất có thể. Và quá trình này tác động đến tất
cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân nên không chỉ trong toàn bộ nền kinh tế mà
nội bộ từng ngành cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ.
- Trong sự tăng trưởng của các ngành kinh tế thì ngành công nghiệp trong giai
đoạn đầu của quá trình CNH – HĐH sẽ được ưu tiên phát triển hơn để tạo ra các
công cụ sản xuất hiện đại phục vụ cho các ngành sản xuất khác, đồng thời cũng tạo
ra lượng hàng hóa dồi dào, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người… chính
vì thế mà tốc độ tăng trưởng của nó sẽ tăng nhanh hơn các ngành kinh tế khác và
cũng có đóng góp lớn hơn trong nền kinh tế quốc dân. Ngược lại, trong giai đoạn
sau của quá trình CNH – HĐH, khi công nghiệp đã đủ mạnh, ngành dịch vụ sẽ là
ngành được ưu tiên phát triển để phục vụ tốt hơn cho chính con người nên phần
đóng góp quan trọng và chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế không phải là công nghiệp
nữa mà là ngành dịch vụ. Nói cách khác, quá trình CNH – HĐH sẽ tạo ra một sự
chuyển dịch trong nền kinh tế quốc dân. Và bản thân các ngành kinh tế muốn phát
triển mạnh cũng cần phải có một sự thay đổi trong nội bộ từng ngành.
- Để thực hiện tốt quá trình CNH – HĐH đất nước, cần phải tích cực tăng
cường mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới để có thể đón
đầu công nghệ, tránh tình trạng lạc hậu so với các nước, đặc biệt là những nước có
nền kinh tế phát triển. Đây chính là cơ hội tốt để nền kinh tế quốc gia hội nhập được
với thế giới, một mặt có thể học hỏi kinh nghiệm, trao đổi công nghệ mà còn tăng
khả năng mở rộng thị trường cho các mặt hàng.
- Đồng thời, với quá trình mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nhà nước cũng có
những chính sách tích cực và những biện pháp nhằm thu hút được sự đầu tư từ bên
ngoài. Đây cũng là một lợi thế cho các ngành kinh tế bởi để thu hút được đầu tư,
nhà nước không chỉ chú đến các cơ sở pháp lí mà còn phải quan tâm đến việc đầu
tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng vững mạnh, an toàn.
1.3.1.2. Xã hội
Quá trình CNH – HĐH đất nước được thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng một
xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nên có
những chuyển biến tích cực trong các vấn đề XH:
- Sự xuất hiện và phát huy hết khả năng của máy móc hiện đại đã làm chuyển
đổi cơ cấu lao động trong XH: số người làm việc trong các ngành sản xuất vật chất
có xu hướng giảm (do máy móc đã thay thề sức lao động của con người) và trong
các ngành sản xuất phi vật chất thì tăng.
- Cuộc sống của người dân được cải thiện thông qua lượng hàng hóa ngày
càng nhiều, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của người dân. Đồng thời trong
quá trình CNH – HĐH, máy móc được thay thế để giải phóng sức lao động của con
người để con người có thời gian nghỉ ngơi và tham gia vào các hoạt động giải trí.
- Thu nhập và mức sống của người dân được nâng cao do tổng sản phẩm xã
hội làm ra lớn.
- Quá trình CNH – HĐH cũng tạo ra được nhiều việc làm mới, giải quyết phần
nào nạn thất nghiệp do số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng nhanh bởi
gia tăng dân số.
- Trong tiến trình thực hiện CNH – HĐH, nhà nước cũng quan tâm nhiều hơn
đến vấn đề làm sao để có được lực lượng lao động vừa hồng, vừa chuyên, nắm bắt
tốt khoa học kĩ thuật nên giáo dục đào tạo cũng được chú trọng đầu tư. Vấn đề sức
khỏe của người dân cũng nhờ có CNH – HĐH mà tiến bộ hơn trước, y tế đã góp
phần phục vụ tốt hơn cho người dân.
- Quá trình CNH – HĐH làm xuất hiện các khu CN, cụm CN và các đô thị và
thu hút người lao động đến đây sinh sống và làm việc. Do đó góp phần làm tăng tỉ
lệ dân thành thị lên cao hơn và tác động mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa.
- Quá trình CNH – HĐH cũng đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất ở mỗi địa
phương nhằm đáp ứng mặt bằng cho các ngành sản xuất, qua đó nâng cao hiệu quả
sử dụng đất trong tất cả các ngành kinh tế bởi tấc đất chính là tấc vàng.
- Nông thôn và nông nghiệp là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá
trình thực hiện CNH – HĐH do đặc thù nước ta đi lên từ nền nông nghiệp lạc hậu
và đại đa số người dân sống ở vùng nông thôn. Nhờ quá trình CNH – HĐH mà cuộc
sống của người dân ở nông thôn đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực.
1.3.2. Hạn chế
Quá trình CNH – HĐH cũng như tất cả các quá trình hình thành và diễn ra
trong tự nhiên, trong XH: đều có 2 mặt tác động đến những vấn đề xung quanh. Bên
cạnh những đóng góp tích cực thì quá trình này cũng tạo ra những vấn đề chưa giải
quyết được:
1.3.2.1. Kinh tế
- Do nhiều yếu tố khách quan, quá trình CNH – HĐH không thể diễn ra đồng
thời, cùng lúc trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là nhà nước không thể
đầu tư tốt cho tất cả các địa phương để thực hiện đồng bộ quá trình này. Dẫn đến
tình trạng thiếu đồng bộ trong sự phát triển kinh tế giữa các địa phương.
- Chính sự hội nhập và mở cửa cũng tạo ra một bất lợi cho chúng ta là nền kinh
tế không ổn định, chịu sự bấp bênh của thị trường thế giới, những thay đổi của các
nhà đầu tư cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế bền vững và lâu dài
của chúng ta.
- Quá trình CNH – HĐH đã làm thay đổi diện tích đất nông nghiệp, trong khi
trọng trách và thế mạnh về nông nghiệp ở nước ta vẫn được đặt lên cao thì đây lại
trở thành một gánh nặng cho ngành nông nghiệp nói chung và người nông dân nói
riêng. Họ bị mất đất canh tác, buộc phải chuyển sang các ngành hoạt động khác mà
tay nghề không cao, và thậm chí là không thể đáp ứng nhu cầu tuyển dụng dẫn đến
năng suất xã hội bị kéo xuống và khả năng thất nghiệp của họ là rất lớn.
1.3.2.2. Xã hội
- Quá trình thực hiện CNH – HĐH cùng với những thay đổi của nó đã làm cho
cuộc sống của người dân có nhiều thay đổi. Với những người biết nắm bắt thời cơ
và có đủ điều kiện thì sẽ có cơ hội tốt để đem lại thu nhập rất cao. Ngược lại có
những người sẽ trở thành nạn nhân của quá trình này, rơi vào tình trạng mất đất,
mất nhà và thậm chí là không tìm được việc làm… Đây chính là mặt trái đầu tiên
của CNH – HĐH khi nó tạo ra một sự chênh lệch trong thu nhập và mức sống của
người dân.
- Cùng với sự mở cửa và hội nhập, nhiều văn hóa phẩm đồi trụy cùng với
những lối sống buông thả đã du nhập vào nước ta một cách nhanh chóng và rất khó
kiểm soát, làm thay đổi thuần phong mỹ tục của nước ta, tạo ra nhiều tệ nạn xã hội.
Đây cũng là một vấn đề lớn trong tiến trình thực hiện CNH – HĐH mà chúng ta
chưa tìm được hướng giải quyết triệt để.
- Sự phát triển rầm rộ các nhà máy xí nghiệp công nghiệp và các ứng dụng của
nó trong các ngành kinh tế và đời sống một mặt làm cạn kiệt nguồn tài nguyên
không có khả năng phục hồi, một mặt gây ra những biến đổi về môi trường một
cách nghiêm trọng. Làm thế nào để không gây ô nhiễm môi trường và phát triển bền
vững cũng là một bài toán lớn khi chúng ta cần phải giải được trong việc thực hiện
CNH – HĐH.
- Ngoài ra, đối với mỗi địa phương khi thực hiện quá trình CNH – HĐH còn
có một đặc điểm là tạo nên sự di dân cơ học từ nơi này sang nơi khác cũng tạo nên
nhiều vấn đề cần phải xem xét lại ở nhiều khía cạnh.
1.4. Đánh giá một lãnh thổ công nghiệp như thế nào?
1.4.1. Tiêu chí của một nước công nghiệp trên thế giới [25]
Tiêu chí công nghiệp hóa của một nước (hay một lãnh thổ) có thể hiểu là
những đặc trưng để nhận biết hay để phân biệt trình độ đạt được trong tiến trình
công nghiệp hóa. Thí dụ, một nét đặc trưng của quá trình công nghiệp hóa là kinh
tế phải phát triển, tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế phải được nâng cao, tỷ
trọng nông nghiệp, lao động nông nghiệp phải giảm v.v. đó là tiêu chí công nghiệp
hóa về kinh tế. Nếu xem xét nội dung công nghiệp hóa theo nghĩa rộng thì còn có
tiêu chí công nghiệp hóa về xã hội, văn hóa, văn minh v.v.
Muốn ước lượng và so sánh trình độ công nghiệp hóa của một nước hay một
vùng lãnh thổ, cần phải lượng hóa các tiêu chí đánh giá. Phương pháp thường dùng
là phương pháp chỉ tiêu, theo đó, mỗi tiêu chí lựa chọn ra một số chỉ tiêu định
lượng có thể tính toán được và thể hiện đầy đủ tính chất của tiêu chí đó. Thí dụ với
tiêu chí kinh tế đã nêu ở trên, có thể chọn các chỉ tiêu: tổng sản phẩm bình quân
đầu người, tỷ lệ cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, tỷ lệ cơ cấu lao động
trong nền kinh tế v.v.
Một mặt, có thể dựa vào kinh nghiệm quốc tế để xác định đối với mỗi chỉ tiêu
cần đạt đến mức chuẩn nào là đủ thỏa mãn yêu cầu của một nước công nghiệp hoặc
hoàn thành quá trình công nghiệp hóa. Mặt khác, dựa vào số liệu thống kê có thể
thu thập được để tính toán các chỉ tiêu tương ứng của nước ta và so sánh với chuẩn
đã chọn để đánh giá xem hiện nay chúng ta đang ở điểm nào trên con đường công
nghiệp hóa. Ước lượng mỗi năm ta có thể phát triển được bao nhiêu theo mỗi chỉ
tiêu công nghiệp hóa, chúng ta sẽ dễ dàng làm rõ được thời hạn công nghiệp hóa
của nước ta còn cần bao nhiêu năm và sắp xếp các nguồn lực ưu tiên hợp lý để đạt
được trong thời gian ngắn nhất.
Cũng có thể dùng phương pháp gia quyền, quy các chỉ tiêu đánh giá về một
chỉ số duy nhất (không thứ nguyên) để dễ so sánh quốc tế và so sánh theo thời gian.
Những tiêu chí, chỉ tiêu, chỉ số trên không chỉ có ích trong khi nghiên cứu xây
dựng chiến lược phát triển toàn quốc và các khu vực, mà còn rất cần thiết để đánh
giá, theo dõi và điều chỉnh trong quá trình thực hiện chiến lược.
Trên con đường thực hiện CNH, mỗi nước sẽ có những bước đi khác nhau .
Do đó không thể có một tiêu chí chung nào phù hợp đối với tất cả các quốc gia.
Nhưng xét ở một mức độ tương đối thì có thể có những tiêu chí chung để mỗi quốc
gia có thể dựa vào đó để so sánh xem mình đang ở trình độ nào của quá trình CNH.
Ở đây, xin trình bày hai thí dụ mẫu về hệ chỉ tiêu công nghiệp hóa: một hệ chỉ tiêu
ứng với công nghiệp hóa cổ điển và một hệ chỉ tiêu gần với khái niệm công nghiệp
hóa mở rộng.
Bộ chỉ tiêu công nghiệp hóa do giáo sư Mỹ H. Chenery, cố vấn Ngân hàng
thế giới, đề xuất cuối những năm 80 của thế kỷ 20 có thể coi là những tiêu chí công
nghiệp hóa tối thiểu để áp dụng cho loại công nghiệp hóa cổ điển. Chenery chia
thời kỳ công nghiệp hóa làm 3 giai đoạn, giai đoạn khởi đầu, giai đoạn phát triển và
giai đoạn hoàn thiện, không kể một thời đoạn tiền công nghiệp hóa và một thời
đoạn hậu công nghiệp hóa. Tương ứng với mỗi giai đoạn có xác định chỉ tiêu GDP
bình quân đầu người, tỷ lệ cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu lao
động và cơ cấu không gian .
Chỉ tiêu cơ bản
Tiền CNH
Khởi đầu
Phát triển
Hoàn thiện
Hậu CNH
CNH
CNH
CNH
GDP/người
USD1964
100-200
200-400
400-800
800-1550
>1550
USD 2004
720-1440
1440-2880
2880-5760
5760-10810
Bảng 1.1: Các giai đoạn công nghiệp hóa theo H. Chenery
>10810
Cơ cấu ngành
A>I
A>20% A
A<20% I>S
A<10% I>S A<10% I
Tỷ trọng CN chế tác
> 20%
20-40%
40-50%
50-60%
>60%
Lao động NN
>60%
45-60%
30-45%
10-
<10%
30%
Đô thị hoá
<30%
30-50%
50-60%
60-75%
>75%
Ghi chú : A: Nông nghiệp; I: Công nghiệp; S: Dịch vụ.
Nguồn:[ trang 3, 25]
Bộ chỉ tiêu tiêu biểu thứ hai được cho là do nhà xã hội học người Mỹ A.
Inkeles giới thiệu cũng vào những năm 80 thế kỷ 20, ngoài tiêu chí kinh tế còn nêu
ra nhiều chỉ tiêu về văn hóa và xã hội, phù hợp hơn với loại công nghiệp hóa theo
nghĩa rộng. Bộ chỉ tiêu này gồm 11 hạng mục, tuy đơn giản và dễ sử dụng, song có
nhược điểm là chưa chú ý đến các tiêu chí về chất lượng và chưa đề cập đến các xu
hướng tin học hóa, toàn cầu hóa, do đó chưa đáp ứng được yêu cầu của loại hình
công nghiệp hóa kiểu mới.
Các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Hiện đại hoá thuộc Viện
Khoa học Trung quốc cũng dựa trên bộ chỉ tiêu của Inkeles để xây dựng bộ chỉ tiêu
đánh giá “hiện đại hoá lần thứ nhất” là giai đoạn tương đương với thời kỳ công
nghiệp hoá. Bộ chỉ tiêu của Trung quốc bỏ qua hạng mục “Tăng dân số” và chọn
chuẩn công nghiệp hoá tương đương với mức bình quân của 19 nước công nghiệp
hoá sớm nhất (khoảng năm 1960-1965), trong đó mức GNP/đầu người quy đổi về
năm 2000 là khoảng 6400 USD. Chỉ tiêu này cũng xấp xỉ với chỉ tiêu của Chenery
và Inkeles nếu tính quy đổi từ thập niên 60 và 80 của thế kỷ 20.
Chỉ tiêu cơ bản
Chuẩn CNH
Trị số tham khảo
1. GDP/đầu người
USD
>3000
Mỹ 3243 (1965)
2. Tỷ trọng A/GDP
%
12-15
11 (1929)
3. Tỷ trọng S/GDP
%
>45
48 (1929)
4. Lao động phi NN
%
>75
79 (1929)
5. Tỷ lệ biết chữ
%
>80
----
6. Tỷ lệ sinh viên ĐH
%
12-15
16 (1945)
7. Bác sĩ / 1000 dân
%o
>1
1.3 (1960)
8. Tuổi thọ trung bình
---
>70
70 (1960)
9. Tăng dân số
%
<1
1 (1965)
10. Tử vong sơ sinh
%
<3
2.6 (1960)
11. Đô thị hoá
%
>50
66 (1960)
Bảng 1.2: Chỉ tiêu công nghiệp hóa do A.Inkeles đề xướng
Chú thích : A: Nông nghiệp; S : Dịch vụ; ĐH : Đại học.
Nguồn: [trang 5, 25]
1.4.2. Những tiêu chí công nghiệp cho Việt Nam
Ở nước ta, quá trình CNH - HĐH có nhiều nét khác biệt với các nước trên thế
giới, do vậy các tiêu chí đánh giá cụ thể nhằm xem xét nước ta đã cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 hay chưa khó có thể tuân
theo tiêu chí của các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Châu Âu. Tổng
hợp từ nhiều nghiên cứu tại Việt Nam [9], có thể dựa vào một số tiêu chí chủ yếu
sau để đánh giá:
- Về cơ cấu kinh tế: Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP đạt 90% trở
lên, trong đó tỉ trọng công nghiệp đạt khoảng 40-45% GDP, tỉ trọng nông nghiệp
còn khoảng 10% trở xuống; tổng đầu tư xã hội/GDP đạt trên dưới 40%; kết cấu hạ
tầng đáp ứng đầy đủ cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội. [19]
- Về hội nhập kinh tế quốc tế: Đạt trình độ cao (độ mở cửa nền kinh tế đạt trên
90%; tốc độ tăng xuất khẩu gấp 2-3 lần tốc độ tăng GDP; hội nhập với thị trường
thế giới về nhiều lĩnh vực; hội nhập với thông lệ quốc tế và các thể chế,… ).
- Về trình độ hiện đại hóa: Năng suất lao động xã hội đạt khoảng
10.000USD/lao động.năm; áp dụng công nghệ hiện đại khoảng trên 60%; tỉ trọng
lao động phi nông nghiệp đạt 70-75% trở lên; tỉ trọng lao động có trình độ cao đạt
khoảng 30% trở lên; áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lí nhà nước và
quản lí nền kinh tế (100% công sở và doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin)…
- Về mức sống và văn hóa xã hội: Chỉ số HDI đạt nhóm 30-40 số nước trên
cùng của thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.000 USD; tỉ lệ lao động
được đào tạo đạt trên 70%; hoàn thành phổ cập THCS trong phạm vi cả nước; tuổi thọ bình quân là 75; nhà ở đô thị đạt trên 20m2/người; cả nước không còn hộ nghèo;
hệ số GINI nhỏ hơn 0,4.
Dựa trên những luận điểm và cơ sở trên, GS. Đỗ Quốc Sam đã đưa ra các tiêu
chí xác định với những chỉ tiêu cụ thể để đánh giá quá trình CNH – HĐH ở Việt
Nam sao cho vừa đảm bảo tính đại diện cho từng tiêu chí, tính khả thi cao (nghĩa là
có đủ các số liệu thống kê tương ứng để tính toán và so sánh quốc tế) và các chỉ tiêu
phải độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau. Ông đã đưa ra các tiêu chí như sau:
- Tiêu chí kinh tế: dựa vào các chỉ tiêu GDP bình quân đầu người; tỉ trọng giá
trị gia tăng nông nghiệp trong GDP; tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao
động.
- Tiêu chí khoa học công nghệ: dựa vào tỉ lệ kinh phí đầu tư cho giáo dục trong
GDP; số sinh viên đại học trên 10.000 dân; tỉ lệ sử dụng internet trong tổng dân số;
tỉ lệ hàng công nghệ cao trong tổng số hàng công nghiệp chế tác xuất khẩu.
- Tiêu chí xã hội: dựa vào tỉ trọng dân số đô thị trong tổng dân số; chênh lệch
giữa nhóm 20% dân số thu nhập cao nhất và thấp nhất; số bác sĩ trên 1.000 dân.
- Tiêu chí tài nguyên môi trường:dựa vào tỉ lệ sử dụng nước sạch và tỉ lệ rừng
che phủ.
Danh mục các chỉ tiêu của ông đưa ra tuy vẫn chưa phản ánh hết đặc trưng
CNH của nước ta, song tương đối thuận tiện cho khâu tìm kiếm số liệu trong và
ngoài nước trong giai đoạn đầu nghiên cứu.
Bảng 1.3: Chỉ tiêu CNH do Đỗ Quốc Sam đưa ra
TT CHỈ TIÊU ĐƠN CHUẨN MỨC
VỊ CNH 2005
1 GDP bình quân đầu người USD > 5000 640
2 Tỉ trọng NN/GDP 10 21 %
3 Tỉ trọng lao động NN <30 54 %
4 Tỉ lệ đô thị hóa >50 27 %
5 Chênh lệch thu nhập nhóm 20% dân số cao/số thấp 4 4,9 Lần
6 Số bác sĩ/1.000 dân 1 0,62 %
7 Chi phí khoa giáo/GDP 8 6,4 %
8 Số sinh viên/10.000 dân 15 16,7 %
9 Sử dụng Internet/dân số 25 12,9 %
12 6 10 Tỉ lệ công nghệ cao trong hàng chế tác xuất khẩu %
100 85 11 Sử dụng nước sạch/dân số %
12 Độ che phủ cây xanh 42 38,8 %
Nguồn: [trang 8, 20]
Các số liệu trong bảng chỉ tiêu được ông lấy từ WDI của Ngân hàng Thế giới,
Niên giám thống kê Việt Nam, có tham khảo CHELEM, sơ sở dữ liệu của Tổng ủy
Kế hoạch Pháp và PWT, cơ sở dữ liệu của trường Đại học Pennsyl-vania của Mỹ.
Các giá trị chuẩn của các chỉ tiêu trong bảng có thể được chọn lựa theo số liệu
bình quân của các nước đi trước khi đã hoàn thành quá trình CNH, gồm khoảng gần
20 nước phát triển nhất vào những năm 60 và 70 của thế kỉ trước. Những chỉ tiêu
liên quan đến công nghệ mới và vấn đề môi trường có thể tham khảo số liệu của các
nước công nghiệp hóa mới vào đầu thập kỉ 90 thế kỉ XX.
Đối với một lãnh thổ nhỏ (tỉnh, huyện hay xã) ở Việt Nam, để xác định những
chỉ tiêu cho quá trình CNH – HĐH có thể dựa vào bảng chỉ tiêu của Đỗ Quốc Sam
nhưng cần lược bỏ những chỉ tiêu mà trong lãnh thổ ấy không thể tính toán được vì
cấp lãnh thổ quá nhỏ. Như vậy, để đánh giá huyện Long Thành trên con đường thực
hiện CNH – HĐH có thể dựa vào các tiêu chí sau:
- Về kinh tế: Có thể dựa vào thu nhập của người dân (thường được nhắc tới là
GDP/người) trong năm: được GS Đỗ Quốc Sam xác định thấp hơn mức trung bình
của các nước đã tiến hành xong CNH (do đặc thù ở Việt Nam là chịu ảnh hưởng
nặng nề của chiến tranh và đi lên từ một nước thuần nông nên có xuất phát điểm
thấp và chỉ mới tiến hành các chính sách đổi mới nền kinh tế cách đây hơn 20 năm
(1986), chậm hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới). Và ông
đã đưa ra chỉ tiêu chung của cả nước: phải đạt thu nhập bình quân đầu người là
5.000USD. Đối với huyện Long Thành cũng như các lãnh thổ tương đương cấp
huyện, cần phải cố gắng thật nhiều mới có thể đạt được tiêu chí này vì đây là một
tiêu chí khá cao và khó đạt tới. Tiêu chí này giúp xác định được mức sống của
người dân, sự tăng giảm của chỉ số này cho biết mức độ ổn định và phát triển của
nền kinh tế đang theo chiều hướng như thế nào, đồng thời thấy được nền kinh tế
trên lãnh thổ có bấp bênh hay không, có phụ thuộc vào yếu tố thị trường hay biến
động từ bên ngoài hay không? Ngoài ra, có thể dựa vào cơ cấu phân theo ngành
kinh tế trong GDP (mặc dù trên thế giới không tính GDP cho lãnh thổ nhỏ hơn quốc
gia nhưng ở Việt Nam, tất cả các địa phương đều tính GDP nên đây là một lợi thế
để lựa chọn tiêu chí này): các ngành sản xuất phi nông nghiệp phải đạt từ 90% trở
lên, trong đó công nghiệp phải chiếm trên 40%, nông nghiệp chỉ chiếm dưới 10%.
Chỉ tiêu này có thể cho biết vai trò đóng góp giá trị của các ngành kinh tế trong tổng
thể chung, qua đó thấy được ngành nào quan trọng nhất, đồng thời thấy được sự
phát triển của nền kinh tế; Trong tiêu chí này còn có chỉ tiêu cơ cấu lao động hoạt
động trong các ngành kinh tế: tỉ trọng lao động phi nông nghiệp đạt từ 70% trở lên,
còn lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm dưới 30%. Đây là chỉ tiêu có thể cho thấy
được mức độ tập trung dân cư trong các ngành kinh tế, qua đó thể hiện sự thu hút
của các ngành này và vai trò của nó trong việc cải thiện cuộc sống của người dân,
đồng thời thấy được phần nào mức độ cơ giới hóa và hiện đại hóa trong các ngành
kinh tế.
- Về xã hội: dựa vào tỉ trọng dân số đô thị trong tổng dân số, số bác sĩ / 1000
dân. Các tiêu chí này sẽ cho thấy được mức độ phát triển của xã hội và sự đáp ứng
nhu cầu của nó cho người dân như thế nào…
- Về khoa học công nghệ: dựa vào số sinh viên/10.000 dân. Tiêu chí này không
chỉ cho thấy mức độ đầu tư cho giáo dục của mỗi địa phương mà còn cho thấy được
trình độ của dân trí tại địa phương đó cũng như mức độ đáp ứng về lao động có tri
thức như thế nào…
- Về môi trường: dựa vào tỉ lệ sử dụng nước sạch / dân số và độ phủ xanh
rừng. Hai chỉ tiêu này cho thấy mức độ an toàn của môi trường và sự bảo đảm để
phát triển bền vững của địa phương.
Chương 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ
TỪ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP SANG CÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN LONG THÀNH TRONG THỜI KÌ
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. Sơ lược về huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
2.1.1. Vị trí địa lí
Huyện Long Thành nằm ở phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, được thành lập trên
cơ sở tách ra từ huyện Long Thành cũ theo nghị định số 51/CP ngày 23 tháng 6 năm
1994 của Chính phủ, ranh giới của huyện được xác định như sau:
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 53.996 ha, chiếm 9,1% diện tích tự nhiên
của tỉnh Đồng Nai.
Về phân chia hành chính, huyện Long Thành gồm có 1 thị trấn Long Thành và
18 xã: Lộc An, Long An, Long Phước, Tân Hiệp, Phước Thái, Phước Bình, An
Phước, Tam An, Tam Phước, Phước Tân, An Hòa, Long Hưng, Long Đức, Bình
Sơn, Bình An, Suối Trầu, Cẩm Đường và Bàu Cạn. [33]
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Long Thành
(Nguồn: UBND huyện Long Thành)
Về vị trí tiếp giáp, huyện Long Thành được xem là có ưu thế lớn trong việc mở
rộng quan hệ buôn bán và thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội do:
- Tiếp giáp với các huyện và thành phố có nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh,
dễ dàng trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa, kinh tế:
+Phía Bắc giáp thành phố Biên Hòa và huyện Trảng Bom.
+Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và huyện Nhơn Trạch.
+Phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh và huyện Nhơn Trạch.
+Phía Đông giáp huyện Thống Nhất và huyện Cẩm Mỹ.
- Có tuyến quốc lộ 51 chạy qua, nối Biên Hòa, thành phố Hồ Chí Minh với
Vũng Tàu và thông với quốc lộ 1A. Trong tương lai còn có thêm tuyến đường cao
tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, tuyến đường sắt thành phố
Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu và cụm cảng hàng không quốc tế Long
Thành… Là những tuyến đường giao thông huyết mạch không chỉ của Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam mà còn là của cả nước. Vị trí này đã đem lại cho Long Thành
một ưu thế lớn về phát triển kinh tế mà trước mắt là hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở
vật chất kĩ thuật được đầu tư nâng cấp cho xứng tầm; góp phần tạo ra cơ hội phát
triển cho cho các nhà đầu tư khi đến với Long Thành bởi đây sẽ là cửa ngõ vào
thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa và thành phố Nhơn Trạch.
- Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Long Thành có những lợi thế
mà không một địa phương nào có được nhờ nhận được sự quan tâm, đầu tư của các
cấp, các ngành. Những chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho Vùng đã tác động
trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Long Thành như: sự đầu tư xây
dựng các khu công nghiệp trong chiến lược đưa Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
trở thành vùng công nghiệp lớn nhất và phát triển bền vững nhất nước đã giúp cho
ngành công nghiệp của huyện có những bước phát triển nhanh và vượt bậc ngay từ
những năm đầu của thập niên 90 thế kỉ XX (ví dụ như Trung ương đã đầu tư khu
lọc dầu Tuy Hạ năm 1986, dự án xây dựng khu công nghiệp dốc 47 thuộc xã Tam
Phước với diện tích 350ha , khu công nghiệp Phước Thái (350ha) và cảng Gò Dầu
cho tàu từ 20.000 – 100,000 ngàn tấn ra vào năm 1994). Những năm gần đây, số
lượng các khu, cụm công nghiệp trong huyện ngày càng nhiều như khu công nghiệp
Long Thành, khu công nghiệp Long Đức… Trong tương lai, các khu và cụm công
nghiệp cũng được đầu tư để tăng về số lượng và đảm bảo về chất lượng như cụm
công nghiệp vật liệu xây dựng An Phước, cụm công nghiệp Tam Phước 1, cụm
công nghiệp Long Phước 1, Long Phước 2, cụm công nghiệp Tam An 1, Tam An 2
(trại bò sữa hiện nay), cụm công nghiệp công nghiệp Bình Sơn… Và hầu hết các
khu và cụm công nghiệp này đều nằm ven quốc lộ 51.
- Là địa bàn thích hợp trồng các loại cây ăn trái có chất lượng cao và rất đặc
trưng cho địa phương, hình thành thị trường nông sản thuận lợi và có lợi thế về phát
triển du lịch, dịch vụ, nhất là khi cụm cảng sân bay quốc tế Long Thành được xây
dựng xong và đi vào hoạt động.
Từ vị trí địa lý nêu trên và bối cảnh chung về phát triển kinh tế xã hội của cả
nước nói chung và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như tỉnh Đồng Nai
nói riêng, huyện Long Thành đã, đang và sẽ có những lợi thế hơn hẳn các huyện
khác trong tỉnh, mở ra cho huyện triển vọng thuận lợi về phát triển kinh tế với tốc
độ tăng trưởng cao trong những thập niên đầu của thế kỉ XXI và ngày càng có vai
trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai cũng
như Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Hình 2.2: Vị trí địa lý huyện Long thành
(Nguồn: UBND huyện Long Thành)
2.1.2. Điều kiện tự nhiên
Là cơ sở quan trọng để huyện chọn lựa phương án phát triển các ngành kinh tế
sao cho phù hợp với những thế mạnh và khắc phục những khó khăn trong tự nhiên
để đảm bảo phát triển ổn định, bền vững.
2.1.2.1. Địa hình
Huyện Long Thành nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng đồng bằng của hạ
lưu sông Đồng Nai lên vùng cao thuộc huyện Xuân Lộc. Toàn huyện được chia
thành 2 dạng địa hình chính với những đặc điểm chủ yếu sau:
- Dạng địa hình đồng bằng ven sông: phân bố về phía Tây quốc lộ 51, thuộc
địa bàn của 8 xã với diện tích tự nhiên khoảng 10.000ha, chiếm 20% diện tích tự
nhiên toàn huyện, trong đó có thể chia thành 2 khu vực nhỏ:
+ Khu vực đồng bằng ven sông Đồng Nai: bao gồm toàn bộ diện tích các xã
An Hòa, Long Hưng, Tam An và một phần diện tích các xã Phước Tân, An Phước,
Tam Phước. Vùng này được bồi đắp bởi phù sa của sông Đồng Nai, địa hình bằng
phẳng, có độ cao bình quân biến đổi từ 0,6 – 1,5m, gần nguồn nước ngọt, thích hợp
cho việc trồng lúa nước và đang là vùng trọng điểm sản xuất lúa 2-3 vụ của huyện.
+ Khu vực đồng bằng thấp trũng ven sông Thị Vải: bao gồm một phần diện
tích các xã Phước Thái và Long Phước, có cao độ trung bình biến đổi từ 0,1-1,2m,
chịu sự chi phối bởi nguồn nước của sông Thị Vải, nên chỉ có 6-7 tháng trong năm
có nước ngọt (tháng V đến tháng XI), còn lại 5-6 tháng bị nước mặn xâm nhập
(tháng XII đến tháng IV năm sau), do đó chỉ có thể phát triển rừng ngập mặn hoặc
trồng 1 vụ lúa.
- Dạng địa hình đồi thấp lượn sóng: phân bố về phía Đông quốc lộ 51, diện
tích tự nhiên 43.482ha, chiếm 80% diện tích toàn huyện, cao độ trung bình biến đổi từ 5-117m, độ dốc dao động từ 3-150, tiêu thoát nước dễ, nền móng tốt, rất thuận lợi
cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các khu công nghiệp. Tuy nhiên do địa hình cao,
nguồn nước mặt hiếm nên đa phần diện tích của vùng này thích hợp với các cây
trồng cạn như hoa màu, cây công nghiệp ngắn và dài ngày.
2.1.2.3. Thổ nhưỡng
Theo bản đồ đất tỉ lệ 1/25.000, huyện Long Thành có 6 nhóm đất với 12 đơn vị
bản đồ đất như sau:
Tên đất
Diện tích
Kí hiệu
Việt Nam
Theo WRB
Ha
%
3.680,26
6,88
I. Nhóm đất phèn
Sp1Mm
1. Đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng
Epiproto
Thionic
1.145,66
2,14
ngập mặn
Fluvisols
Sp2
2. Đất phèn tiềm tàng sâu
Endoproto
Thionic
2.534,60
4,74
Fluvisols
II. Nhóm đất phù sa
4.105,89
7,6771
3. Đất phù sa có tầng loang lổ
Epiferric Fluvisols
3.137,66
5,87
Pf
4. Đất phù sa gley
Gleyic Fluvisols
968,23
1,81
Pg
III. Nhóm đất xám
10.548,77
19,724
5. Đất xám trên phú sa cổ
Arenic Acrisolc
7.239,20
13,54
X
6. Đất xám gley trên phú sa cổ
Gleyic Acrisols
3.309,57
6,19
Xg
IV. Nhóm đất đen
5.733,07
10,72
7. Đất nâu thẫm trên bazan
Chromic Luvisols
5.480,38
10,25
Ru
8. Đất đen trên bồi tụ bazan
Ferric Luvisols
252,69
0,47
Rk
26.432,51
49,423
V. Nhóm đất đỏ vàng
Rhodic Ferrasols
1.737,22
3,25
9. Đất nâu đỏ trên bazan
Fk
Xanthic Ferrasols
1.994,29
3,73
10. Đất nâu vàng trên bazan
Fu
11. Đất vàng nâu trên phù sa cổ
Chromic Acrisols
22.701,00
42,45
Fp
798,42
1,4929
VI. Nhóm đất dốc tụ
1,49
Dk
12. Đất dốc tụ trên bazan
Cumuli Orchric Gleysols
798,42
4,08
2.697,13
VII. Sông suối và đất khác
53.996,05
100,00
TỔNG DIỆN TÍCH
Bảng 2.1: Các loại đất ở huyện Long Thành
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Long Thành)
- Nhóm đất phù sa: có diện tích 4.106 ha (7,68%), phân bố ở ven sông Đồng
Nai và được chia thành 2 đơn vị bản đồ là đất phù sa có tầng loang lổ và đất phù sa
gley. Nhìn chung cả hai loại đất này có độ phì tương đối cao, ít chua, giàu mùn,
đạm tổng số cao, lân tổng số nghèo, thành phần cấp hạt thay đổi từ thịt trung bình
đến thịt nặng. Hướng sử dụng lâu dài là trồng lúa nước, có thể xen canh với các cây
rau màu ở những nơi có địa hình cao thoát nước hoặc trồng cây ăn trái.
- Nhóm đất phèn: có diện tích 3.680ha (6,88%), phân bố tập trung ở ven sông
Đồng Nai, được chia thành 2 đơn vị bản đồ là đất phèn tiềm tàng dưới rừng ngập
mặn có diện tích 1.146ha, chủ yếu sử dụng cho trồng rừng ngập mặn hoặc có thể
khai thác cho nuôi trồng thủy sản nước mặn; và đất phèn tiềm tàng sâu có diện tích
2.534ha, không còn bị ảnh hưởng bởi nước mặn, độ phèn thấp nên có khả năng sử
dụng tốt cho việc trồng lúa hoặc có thể lên liếp trồng cây ăn trái.
- Nhóm đất xám: có 2 đơn vị bản đồ với diện tích 10.549ha, phân bố ở nhiều
xã, hình thành chủ yếu trên phù sa cổ, địa hình đồi thoải, tầng đất thường rất dày và
thường nghèo dinh dưỡng, nhưng lại thích hợp với nhiều loại hình sử dụng như
trồng cây hàng năm (lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày…) lẫn cây lâu
năm (cây công nghiệp như cao su hoặc cây ăn trái…) cũng như có thể làm đất ở hay
xây dựng các công trình.
- Nhóm đất đen: 5.733ha với 02 đơn vị bản đồ. Loại đất này được hình thành
trên các sản phẩm đá bazan và đá bọt bazan nên có độ phì nhiêu hơn hẳn các loại
đất khác trong vùng, trong đó hàm lượng mùn, đạm, lân tổng số giàu (2-3% OM;
0,1-0,25% N; 0,15-0,25 P2O5); nghèo kali tổng số, nhưng lại rất giàu cation kiềm trao đổi (Ca2+: 12-14me/100gam đất); dung tích hấp thu cao và độ no bazơ cao
(CEC: 25-30 me/100 gam; BS: 52-57%). Bên cạnh đó, đất cũng có hạn chế là tầng
đất thường rất mỏng, lẫn nhiều mảnh đá và nhiều đá tảng lộ đầu, gây trở ngại cho
khâu làm đất và sự phát triển của bộ rễ cây. Vì vậy, nó chỉ phù hợp cho trồng các
loại cây ngắn ngày có bộ rễ ăn nông. Hiện tại, hầu hết đất đen đã được khai thác
dùng trong nông nghiệp, trong đó, trên địa hình cao, thoát nước tốt trồng các cây
hoa màu và cây công nghiệp hàng năm như: đậu nành, thuốc lá, bông, bắp và các
loại đậu đỗ hay trồng các loại cây ăn quả như chuối, na, chôm chôm và trên địa hình
thấp chủ yếu dùng cho việc trồng lúa kết hợp với trồng màu trong mùa khô.
Hình 2.3: Phân bố các loại đất huyện Long Thành
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Mội trường huyện Long Thành)
- Nhóm đất đỏ vàng: diện tích 26.432ha với 03 đơn vị bản đồ, phân bố ở hầu
hết các xã trong huyện. Đất đỏ vàng được hình thành từ 2 loại mẫu chất là đá bazan
và phù sa cổ với những đặc điểm sau:
+ Đất nâu đỏ và đất nâu vàng trên bazan (gọi chung là đất đỏ bazan) có diện
tích 3.731ha (6,98%) và là đất có chất lượng cao nhất so với các loại đất đồi núi ở
nước ta nên thường được sử dụng cho việc trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao
như cà phê, cao su, cây ăn quả. Tuy vậy, quá trình sử dụng loại đất này cần có biện
pháp chống xói mòn, rửa trôi.
+ Đất nâu vàng hình thành trên phù sa cổ có diện tích lớn nhất trong các loại
đất trên địa bàn huyện với diện tích 22.701ha (42,45% diện tích toàn huyện). Đất có
tầng đất tương đối dày; thành phần cơ giới nhẹ (cát pha, thịt nhẹ); có phản ứng
chua, hàm lượng mùn, đạm, lân và kali nhìn chung tương đối thấp. Loại đất này tuy
có chất lượng không cao, nhưng nó lại thích hợp với nhiều loại cây trồng và nên ưu
tiên cho việc trồng các loại cây dài ngày như cao su, điều, cây ăn trái các loại.
Trong sản xuát cần có biện pháp chống xói mòn, rửa trôi và tăng cường bón phân
bổ sung cho đất vốn rất nghèo dưỡng chất.
- Nhóm đất dốc tụ: có diện tích 798ha (chiếm 1,49% diện tích toàn huyện)
được hình thành và phát triển từ các sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loại đất ở
các chân sườn thoải hoặc khe dốc. Do đặc điểm hình thành và phân bố rộng rãi nên
đất dốc tụ có đặc điểm hình thái rất phức tạp, nó phụ thuộc vào thành phần mẫu chất
tạo đất cũng như đặc điểm của địa hình khu vực. Nhìn chung đất dốc tụ có 2 dạng
rất cơ bản: đất dốc tụ có thành phần cơ giới nặng và đất dốc tụ có thành phần cơ
giới nhẹ. Cả hai loại đất này đều có độ phì nhiêu khá cao, giàu mùn, đạm, lân và
kali tổng số và có phản ứng chua. Đất có khả năng sử dụng chủ yếu cho việc trồng
và thâm canh lúa nước.
Tóm lại, tài nguyên đất của huyện khá đa dạng về chủng loại nhưng hầu hết
đều có các yếu tố hạn chế đối với sản xuất nông – lâm nghiệp như đất dễ bạc màu
(chiếm 61%), đất có tầng đất mỏng (16%), đất có kết von (23%), đất có gley (22%),
đất có phèn (7%), đất bị nhiễm mặn (2%), đất phân bố trên địa hình cao, hạn chế
nước mặt và nước ngầm (68%) và đất trên địa hình thấp trũng, bị ngập do ảnh
hưởng lũ sông, suối (32%). Tùy theo mức độ của mỗi hạn chế của mỗi loại đất mà
trong quá trình sử dụng cần chú trọng các biện pháp cải tạo thích hợp nhằm bảo vệ
tốt và sử dụng lâu bền đất đai.
2.1.2.3. Khí hậu
Huyện Long Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo
với những đặc trưng chính sau:
- Nắng nhiều, trung bình khoảng 2.600-2.700 giờ/năm, nhiệt độ cao đều trong năm (trung bình năm khoảng 260C, trung bình thấp nhất cũng ở khoảng 250C, trung bình cao nhất vào khoảng 28-290C).
- Lượng mưa khá (trung bình 1.800-2.000mm/năm), nhưng phân hóa sâu sắc
theo mùa, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, chiếm trên 90% lượng
mưa cả năm, mùa khô kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm sau, chỉ chiếm 10%
lượng mưa cả năm.
- Lượng bốc hơi trung bình 1.100-1.300mm/năm, trong đó mùa khô thường
gấp 2-3 lần mùa mưa, tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về chế độ ẩm, nhất là
trong các tháng cuối mùa khô. Tuy nhiên, trong các tháng mùa khô nếu có nước
tưới thì sản xuất nông nghiệp thường cho năng suất và chất lượng sản phẩm cũng
như hiệu quả kinh tế cao và ổn định hơn các tháng mùa mưa.
2.1.2.4. Thủy văn
a. Hệ thống sông rạch:
Trong phạm vi huyện Long Thành có một hệ thống sông lớn là hệ thống sông
Đồng Nai với các nhánh chính sau:
- Sông Đồng Nai: bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn Nam, đoạn sông chính
chảy qua huyện dài 15km, có lòng sông khá rộng (trung bình 900-1.000m) và sâu
(5-10m) nhưng do đáy sông có nhiều cồn cát ngầm nên chỉ có thể lưu thông được
tàu có trọng tải dưới 1.000 tấn. Các chi lưu lớn của sông gồm có sông Lá Buông
(đoạn chảy qua huyện dài 36km, rộng 100m), suối Cây Khế, suối Nước Trong…
- Sông Thị Vải: bắt nguồn từ huyện Xuân Lộc và đổ ra biển Đông, đoạn sông
chính chảy qua huyện dài 13km, rộng trung bình 400m và có các chi lưu chính như
suối Cả, suối Đá Vàng…
Tóm lại, ngoài hai đoạn sông chính là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho
khu vực phía Đông quốc lộ 51, các sông suối còn lại tuy có mật độ thưa nhưng là
nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho khu vực phía Tây Quốc lộ 51. Trên các sông
này có một số vị trí thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa nước phục vụ một
phần cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, còn chủ yếu cho sinh hoạt và cho công
nghiệp sau này.
b. Chế độ thủy văn:
Nhìn chung, chế độ thủy văn của hệ thống sông Đồng Nai chịu sự chi phối của
4 yếu tố: chế độ mưa nội vùng, ảnh hưởng của thủy triều, ảnh hưởng của chế độ
điều tiết nước từ các công trình đầu nguồn, khả năng giữ nước và bổ sung của lưu
vực.
- Về thủy triều: các sông rạch thuộc khu vực 6 xã dọc sông Đồng Nai bị ảnh
hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông, biên độ triều bình quân
1,86m, cao nhất 2,06m (tháng 2 năm 1989), thấp nhất 1,05m đã có tác dụng rất lớn
đến khả năng tưới, tiêu nước ở khu vực đất bằng ven sông.
- Về xâm nhập mặn: Trước đây khi chưa có công trình thủy điện Trị An, mặn
theo triều xâm nhập tới hạ lưu cầu xa lộ Đồng Nai. Sau khi công trình thủy điện Trị
An đi vào hoạt động, mặn đã bị đẩy lùi tới Nhà Bè, nên khu vực thuộc lưu vực sông
Đồng Nai trên địa bàn huyện có nước ngọt quanh năm. Riêng khu vực thuộc hạ lưu
sông Thị Vải, do phân bố trên địa hình thấp, gần cửa sông nên trong năm thường có
5-6 tháng (từ tháng VII đến tháng IV) mặn xâm nhập trực tiếp vào sâu trong sông
rạch và nội đồng.
- Về tình trạng ngập: Trước khi có công trình thủy điện Trị An, thường vào
thời điểm từ tháng VIII đến tháng X, do mưa lớn tập trung làm cho lưu lượng dòng
chảy trên các sông tăng nhanh, cộng với thủy triều biển Đông dâng cao đã hạn chế
lớn đến khả năng tiêu thoát của các sông này và gây ra tình trạng ngập úng các khu
vực đất thấp ven sông, làm trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp. Sau khi có công
trình thủy điện Trị An, tình trạng trên đã gần như được khắc phục.
c. Tài nguyên nước:
- Nước mặt: Ngoài nước mưa, nguồn nước mặt chủ yếu của huyện được cung
cấp từ các sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Theo số liệu quan trắc nhiều năm, trên sông Đồng Nai, lưu lượng trung bình 312 m3/s (tháng IX). Chất lượng
nước trong khu vực huyện khá tốt, có thể sử dụng nguồn nước mặt dồi dào này cho
phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Nước ngầm: Theo đánh giá của Liên đoàn Địa chất 8, nước ngầm trong phạm
vi huyện khá dồi dào, căn cứ về mức độ và khả năng khai thác, có thể chia thành 3
cấp sau:
+ Cấp mô-duyn 1-1,05 l/s-km2: phân bố ở khu vực phía Tây của huyện, chiều
dày tầng chứa nước từ 30-90m, có thể khai thác tập trung với lưu lượng mỗi lỗ khoan từ 500-1.000 m3/ ngày.
+ Cấp mô-duyn 0,5 l/s-km2: phân bố ở khu vực phía Bắc huyện, tầng chứa
nước có chiều dày từ 20-40m, cũng có thể khai thác lỗ khoan 500-1.000 m3/ngày.
+ Cấp mô-duyn 0,2 l/s-km2: phân bố ở khu vực phía Tây Bắc huyện, chiều dày
tầng chứa nước mỏng, nên lưu lượng khai thác lỗ khoan chỉ đạt <100 m3/ngày.
2.1.2.5. Sinh vật
Theo số liệu của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Đồng Nai, diện tích đất
rừng của huyện năm 2005 là 3.384 ha (tăng 228 ha so với năm 1995) và toàn bộ là
rừng trồng, trong đó tỉ lệ che phủ của rừng trồng gỗ lớn trong những năm gần đây
giảm nghiêm trọng và đang trong tình trạng có nguy cơ bị thu hẹp do tranh chấp với
đất nông nghiệp. Diện tích còn lại chủ yếu là rừng nguyên liệu tràm và bạch đàn.
2.1.2..6. Khoáng sản
Theo tài liệu đánh giá của Đoàn Địa chất 20B – Liên đoàn Địa chất 8 và Ủy
ban Khoa học tỉnh Đồng Nai (nay là Sở Khoa học – Công nghệ), trong phạm vi
huyện Long Thành có các điểm khoáng sản sau:
- Đá vật liệu xây dựng: Phân bố ở Phước Tân, trữ lượng chưa được xác định,
chất lượng chỉ có khả năng làm vật liệu rải đường và vật liệu xây dựng.
- Sét gạch ngói: Phân bố ở Long An (khu vực suối Đồng Hươu phía quốc lộ 51, trữ lượng khoảng 2 triệu m3, có khả năng sản xuất gạch ngói nhưng phải trộn
các loại sét với nhau để tránh co rút) và ở Phước Tân (điểm số tại cây số 17, quốc lộ 51, trữ lượng khoảng 500.000 m3).
- Than bùn: Phân bố ở Long Hưng trên phạm vi 30 ha, trữ lượng khoảng
400.000 tấn, chất lượng đạt yêu cầu chế biến phân bón và chất đốt.
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có nhiều điểm đất sỏi sạn có khả năng khai
thác phục vụ nhu cầu giao thông và san lấp mặt bằng xây dựng.
Nhìn chung, khoáng sản trên địa bàn huyện Long Thành không có nhiều chủng
loại, nhưng trữ lượng tương đối lớn, chất lượng ở mức trung bình, có khả năng đáp
ứng nhu cầu phát triển một số ngành công nghiệp địa phương, đáng kể nhất là công
nghiệp sản xuất gạch ngói vốn đã là thế mạnh của huyện trong những năm qua.
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
Đây là cơ sở quan trọng để huyện chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp bởi ở đây có nhân tố con người.
2.1.3.1. Dân cư
Theo số liệu của Phòng Thống Kê huyện Long Thành, dân số và lao động của
huyện qua các năm như sau:
a. Dân số
Năm 2008, dân số toàn huyện là 236.201 người, mật độ dân số trung bình 437 người/km2, đứng vào hàng thứ 5 so với các huyện khác trong tỉnh. Tuy nhiên có sự
phân bố dân số không đồng đều giữa các xã, trong đó hầu hết các xã dọc theo QL
51 có mật độ dân số cao, đang có xu hướng hình thành các khu dân cư tập trung có
qui mô lớn; ngược lại các xã vùng sâu như Bình Sơn, Long Đức, Lộc An, Cẩm
Đường… có mật độ dân số thấp.
Hiện trạng từ năm 1995-2008
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
1995
2000
2005
2006
2007
2008
1. Dân số
Người
175.238 192.890 212.692 220.903 229.315 236.201
trung bình
- Thành thị
Người
20.154
22.732
25.757
26.674
27.126
27.514
- Nông thôn
Người
155.084 170.158 186.935 194.229 202.189 208.687
2. Tỉ lệ phát
%
2,40
2,23
3,27
3,86
3,81
3,00
triển dân số
- Tăng dân số
1,50
1,31
1,2
1,12
1,11
1,1
tự nhiên
%
- Tăng dân số
%
0,90
0,93
2,07
2,74
2,70
1,9
cơ học
3. Mật độ dân
328
361
394
409
425
437
Người/km2
số
Bảng 2.2: Thống kê dân số huyện Long Thành thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Tốc độ phát triển dân số thời kì 1995-2000 khá cao (2,23-2,40 %/năm) và từ
sau năm 2001 trở lại đây tăng nhanh hơn (trên 3,00 %/năm), chủ yếu là do gia tăng
cơ học còn gia tăng tự nhiên đang có xu hướng giảm dần (chỉ còn 1,10% năm
2008). Điều này làm cho mật độ dân số trung bình của huyện tăng lên nhanh chóng (từ 328 người/km2 năm 1995 lên 437 người / km2 năm 2008, chứng tỏ huyện có một
sức hút rất lớn đối với những người di cư.
b. Lao Động
Năm 2008, lao động trong huyện có 136.997 người (chiếm 58% dân số toàn
huyện), trong đó, lao động có việc làm là 130.334 người (chiếm 95,13% lao động
xã hội).
Cơ cấu lao động xã hội của huyện thời kì này có sự chuyển dịch đúng hướng,
trong đó tỉ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp giảm từ 85,6% năm 1995
xuống còn 27,6% năm 2008, tương ứng tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp
– xây dựng tăng từ 6,6% lên 44,8% và tỉ trọng lao động trong khu vực dịch vụ tăng
từ 7,8% lên 27,6%.
Hiện trạng từ năm 1995-2008
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2005
2006
2007
2008
1. Số người trong
Người
93.253
115.859
122.078
127.719
132.583
136.997
độ tuổi lao động
- Tỉ lệ so với tổng
%
53
60
57,4
57,8
57,8
58,0
dân số
2. Lao động làm
việc trong các
Người
90.421
108.355
116.248
121.480
126.106
130.334
ngành kinh tế
- Tỉ lệ so với lao
%
97
94
95,2
95,11
95,11
95,13
động trong độ tuổi
- Nông nghiệp
Người
77.358
75.406
36.397
36.341
36.167
36.013
- Công nghiệp –
Người
5.996
10.802
49.603
53.201
55.928
58.428
xây dựng
Người
7.067
22.147
30.248
31.938
34.011
35.893
- Dịch vụ
3. Cơ cấu lao động
phân theo các
%
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
ngành kinh tế
- Nông nghiệp
%
85,6
69,6
31,3
29,9
28,7
27,6
- Công nghiệp –
%
6,6
10,0
42,7
43,8
44,3
44,8
xây dựng
- Dịch vụ
%
7,8
20,4
26,0
26,3
27,0
27,6
Bảng 2.3: Hiện trạng lao động huyện Long Thành thời kì 1995 – 2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Thống kê lao động huyện Long Thành theo trình độ chuyên môn thấy được:
năm 2000, toàn huyện có 8.528 lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật, chiếm
8,8% so với tổng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và đến
năm 2003, số lao động có chuyên môn kĩ thuật của huyện tăng lên 12.088 lao động,
chiếm 11,2% so với tổng lao dộng đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân,
tăng 2,4% so với năm 2001.
Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm
2006 ở 18 xã (nông thôn) trong huyện đã có nhiều tiến bộ hơn, cụ thể:
Bảng 2.4: Lao động nông thôn huyện Long Thành phân theo trình độ
chuyên môn năm 2006
TT Trình độ Số người Tỉ lệ
(người) (%)
1 Tổng số 104.168 100
2 Chưa qua đào tạo và không có 86.997 83,52
bằng/chứng chỉ chuyên môn
3 Sơ cấp, công nhân kĩ thuật 6.675 6,41
4 Trung cấp 6.003 5,76
5 Cao đẳng 1.645 1,58
6 Đại học trở lên 2.848 2,73
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành)
Có thể xem đây là một trong những cố gắng về phát triển nguồn nhân lực của
huyện. Tuy nhiên, so với yêu cầu chung của quá trình CNH, HĐH thì vẫn còn thấp.
2.1.3.2. Cơ sở hạ tầng
Đã được đầu tư trên nhiều lĩnh vực và ngày càng mở rộng hơn về số lượng,
nâng cao về chất lượng để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển của huyện.
- Về giao thông vận tải: xây dựng mạng lưới giao thông vận tải với sự đa dạng
về loại hình, nâng cấp về phương tiện, bảo đảm cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội không chỉ của huyện, của tỉnh mà còn cả của khu vực kinh tế trọng điểm phía
Nam.
+ Đường bộ: Hệ thống các tuyến đường đang được nâng cấp và mở rộng từ
đường quốc lộ cho đến đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã… Bên cạnh đó, các
tuyến đường mới cũng đang được hình thành, nếu đưa vào hoạt động, vị trí của
Long Thành sẽ được nâng cao hơn như 3 tuyến đường cao tốc (1) Biên Hòa – Vũng
Tàu, (2) thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, (3) Bến Lức – thành
phố Hồ Chí Minh – Long Thành (nối vào sân bay Long Thành).
+ Đường thủy: hiện tại trên địa bàn huyện đã tồn tại một số cảng sông nhưng
chủ yếu là dùng vào việc sản xuất chứ chưa phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.
Trong tương lai, trên địa bàn huyện sẽ nâng cấp và tạo mới 11 cảng sông và hình
thành 3 bến tàu khách trên sông Đồng Nai, sông Thị Vải và rạch Nước Lạnh (xã
Tam An) để phục vụ không chỉ nhu cầu vận chuyển hàng mà còn phục vụ vận tải
hành khách trong và ngoài huyện.
+ Đường sắt: trên địa bàn huyện sẽ có 2 tuyến đường sắt chạy qua và 5 nhà ga:
chạy song song với quốc lộ 1, vòng tránh thành phố Biên Hòa dài 14,1 km; chạy
song song và kẹp giữa quốc lộ 51 và đường cao tốc dài 32,5 km; nhà ga ở các xã
Phước Tân, An Hòa, Long An, Phước Thái và thị trấn Long Thành sẽ phục vụ tốt
hơn nhu cầu vận chuyển người và hàng hóa của huyện.
- Về điện: mạng lưới điện ở huyện Long Thành đang ngày càng được hoàn
thiện nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất và cho sinh hoạt của người dân. Nguồn
cung cấp điện chủ yếu cho huyện là từ lưới điện quốc gia và từ các máy phát điện
dự phòng của các doanh nghiệp.
+ Điện dân dụng: phấn đấu đưa tỉ lệ hộ dùng điện từ 95% năm 2003 lên 99%
năm 2010. định mức tiêu thụ điện bình quân 450Kwh/năm đối với dân cư đô thị và
200 Kwh/năm đối với dân cư nông thôn. Tổng điện năng tiêu thụ dân dụng năm
2010 toàn huyện sẽ đạt 23 triệu Kwh/năm, tương ứng công suất 7,75 MW.
+ Điện cho công nghiệp: ngày càng có nhu cầu cao. Từ nay đến năm 2010 và
định hướng đến 2020 sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ điện cho các khu công nghiệp và
dịch vụ (kể cả đang trong giai đoạn hình thành). Tổng điện năng tiêu thụ điện công
nghiệp năm 2020 toàn huyện là 626 triệu Kwh/năm, tương ứng công suất 156,5
MW.
- Thông tin liên lạc: toàn huyện hiện có 1 bưu điện trung tâm, 3 bưu cục và 15
điểm bưu điện văn hóa xã, bình quân có 20 máy điện thoại / 100 người dân, 19/19
xã có loa truyền thanh. Hệ thống bưu chính – viễn thông đang ngày càng phát triển
rầm rộ do có sự cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ. Đây là một điều kiện tốt
để phát triển kinh tế - xã hội trong huyện, đồng thời xóa dần sự mất cân bằng giữa
các xã trong huyện. Trong tương lai, huyện đang cố gắng đến 2010 sẽ có ít nhất 1
bưu điện văn hóa/xã, và đạt 25 máy điện thoại/100 dân, đồng thời nâng cấp và xây
mới các tổng đài, đầu tư mới 4 trạm phát sóng Bình An, Tam An, Suối Trầu, khu
công nghiệp Long Thành.
- Về thương mại – tài chính: phát triển nhanh chóng và rầm rộ trên địa bàn
huyện trong những năm gần đây, kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của
huyện. Hệ thống ngân hàng có mặt trên địa bàn huyện ngày cáng tăng và hoạt động
ngày càng có hiệu quả trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và hỗ trợ tích
cực cho các doanh nghiệp.
2.1.3.3. Chính sách
Do có vị trí thuận lợi và đóng vai trò chiến lược trong sự phát triển kinh tế của
tỉnh và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, huyện Long Thành đã nhận được sự
quan tâm rất lớn của các cấp lãnh đạo và sự đầu tư lớn từ phía các ngành và cơ quan
để huyện có thể vươn lên đứng thứ hạng cao về phát triển kinh tế - xã hội so với các
huyện khác trong tỉnh cũng như là trong khu vực.
Ngoài ra, ngay trong các ban ngành lãnh đạo của huyện cũng thể hiện rõ sự
quan tâm sâu sắc đối với sự phát triển của huyện nhà nên đã hoạch định và tham
mưu, đưa ra những đường lối phát triển riêng cho huyện nhưng không tách rời cái
chung của tỉnh và của cả nước. Những chính sách ấy phù hợp với đặc điểm riêng
của huyện và đưa huyện phát triển nhanh và đúng hướng hơn.
2.1.4. Bối cảnh trong và ngoài nước ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế -
xã hội huyện Long Thành
2.1.4.1. Bối cảnh trong nước
a. Bối cảnh trong nước nói chung
Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-
2010, nền kinh tế đất nước đã có bước phát triển mới, tốc độ tăng trưởng trong giai
đoạn 2001-2005 đạt khá cao, bình quân 7,5%/năm; tính trong năm 2008, tốc độ tăng
trưởng GDP đạt 6,5%, GDP bình quân đầu người được nâng lên trên 1.000 USD
(Báo cáo của Ban tuyên giáo TW Đảng). [1]
Thể chế kinh tế thị trường đã hình thành và bắt đầu vận hành có hiệu quả; môi
trường pháp lí chính sách được tăng cường xây dựng, bổ sung đồng bộ theo hướng
hội nhập; tiến trình cải cách hành chính, đổi mới cơ chế quản lí kinh tế bước đầu đã
có tác động tích cực đến thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Đặc biệt, Nghị
quyết TW IX (khóa IX) đã đánh dấu bước đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy kinh tế,
tạo điều kiện thuận lợi để hoạch định cơ chế chính sách thông thoáng trong việc thu
hút các nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư.
Hoạt động kinh tế đối ngoại được đẩy mạnh, việc mở rộng kí kết các hiệp định
thương mại và trao đổi hợp tác đầu tư đa phương và song phương, gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) có ý nghĩa rất quan trọng mở ra nhiều cơ hội để có thể
phát triển kinh tế nhanh hơn trong thời kì mới. Hiện số nước có quan hệ trao đổi
hợp tác quốc tế và thương mại, đầu tư với nước ta đã lên đến hơn 220 nước và lãnh
thổ trong tổng số 250 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Quan hệ giữa Việt Nam
với các nền kinh tế và cũng là những thị trường lớn như Nhật Bản, EU, Hoa Kì
ngày càng được củng cố và mở rộng toàn diện đem lại những tiềm năng lớn về hợp
tác quốc tế cùng phát triển.
Quá trình đổi mới cơ chế chính sách quản lí, xây dựng hệ thống pháp luật và
không ngừng cải thiện môi trường đầu tư của nước ta được các bạn bè, đối tác đồng
tình, ủng hộ. Bối cảnh phát triển và hội nhập tuy có những thách thức nhưng mở ra
cơ hội to lớn và điều kiện thuận lợi để khai thác lợi thế so sánh, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện nhanh CNH-HĐH.
Quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới của nước ta trong thời kì tới
được dự báo ngày càng thu được những kết quả tích cực hơn, góp phần thúc đẩy
kinh tế nước ta phát triển.
b. Bối cảnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trong đó có tỉnh Đồng Nai) đang là vùng
kinh tế phát triển sôi động, giá trị tổng sản phẩm hiện chiếm trên 40% GDP cả
nước, GDP bình quân đầu người xấp xỉ gần 1300 USD; giai đoạn 2001-2005 tốc độ
tăng trưởng bình quân 8,4%/năm. Từ 2006 đến nay, tốc độ tăng trưởng của vùng
luôn xấp xỉ 10% (năm 2006: 11,42%, năm 2007: 9,54%, năm 2008: 11,16%). Ngoài
ra, đây còn là trung tâm công nghiệp tập trung nhiều nhất các khu công nghiệp,
đồng thời là trung tâm đô thị lớn nhất trong nước, tỉ lệ dân số chiếm gần 50%. [27]
Tuy phát triển kinh tế nhanh nhưng hiện nay vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam đang phải đối mặt với những vấn đề lớn về môi trường, kết cấu hạ tầng quá
tải, cải thiện điều kiện sinh hoạt (nhà ở, cấp nước…) và nâng cao mức sống cho
người lao động theo kịp với nhịp độ phát triển kinh tế. Do xây dựng trạm xử lí nước
thải khu công nghiệp, khu đô thị chưa kịp thời đã làm ô nhiễm nguồn nước một số
nơi thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.
Thời kì tới, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với xuất phát điểm đã đi trước
một bước so với nhiều vùng khác trong nước, được dự báo sẽ tiếp tục phát triển với
nhịp độ nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể đạt trên 10% trong từng giai đoạn
từ nay đến 2020 sẽ là một cơ hội tốt để tỉnh Đồng Nai nói chung và huyện Long
Thành nói riêng phát huy tiềm năng của mình để phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.4.2. Bối cảnh quốc tế
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang
có những bước nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, làm chuyển dịch nhanh
cơ cấu kinh tế và làm biến đổi nhanh các lĩnh vực xã hội. Tri thức và sở hữu trí tuệ
ngày càng có vai trò quan trọng. Mặt khác, mở cửa và hội nhập đang trở thành xu
thế và con đường tất yếu của mọi quốc gia. Toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra
hết sức mau lẹ, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa gia tăng sức ép cạnh tranh đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như nước ta. Vì vậy, không chỉ đối
với tỉnh Đồng Nai, mà từng huyện cần xác định rõ hướng đi cho mình, sao cho vừa
phát huy được những lợi thế so sánh, vừa tận dụng được những cơ hội từ bên ngoài
để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, phù hợp với
định hướng của cả tỉnh và của cả nước. Cụ thể:
- Sớm hình thành đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là về giao thông, hạ
tầng các khu công ngiệp; đồng thời kiến nghị với tỉnh được thực hiện các cơ chế,
chính sách ưu đãi nhằm tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư từ bên ngoài,
trong đó hướng vào các ngành mà tỉnh đang ưu tiên đầu tư.
- Đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi theo hướng thị trường,
hình thành các vùng chuyên canh có tỉ trọng hàng hóa cao; tích cực ứng dụng tiến
bộ kĩ thuật để nâng cao chất lượng các nông sản hàng hóa, chú trọng các sản phẩm
sạch và sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật cao.
- Tập trung cao độ cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực để có thể đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hòa mình vào trong bối cảnh chung của cả nước và của thế giới, huyện Long
Thành có nhiều cơ hội cũng như thách thức phát triển kinh tế xã hội mà trước mắt
chính là quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công
nghiệp.
2.1.5. Đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội huyện Long Thành
2.1.5.1. Thuận lợi
Qua phân tích sơ lược về các điều kiện tạo nên nội lực và ngoại lực của huyện
Long Thành, nhận thấy huyện có khả năng phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực:
- Có một vị trí thuận lợi, dễ dàng giao lưu kinh tế - văn hóa với các huyện và
tỉnh khác và mang tính chiến lược mà không một địa phương nào có thể thay thế
được. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa,
xã hội không chỉ đối với tỉnh Đồng Nai, với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà
còn đối với cả nước.
- Các đặc điểm và điều kiện tự nhiên cho phép huyện vừa khai thác được trong
sản xuất nông nghiệp (hình thành các vùng chuyên canh và các vùng chăn nuôi lớn
với tính chất sản xuất hàng hóa chuyên nghiệp), vừa khai thác được trong sản xuất
công nghiệp (hình thành các khu và cụm công nghiệp vừa khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên, vừa thu hút đầu tư cho các ngành công nghệ cao…) lại có thể
phát triển mạnh mẽ các ngành dịch vụ (tài chính, thương mại, du lịch…) phù hợp
với yêu cầu của xã hội.
- Các điều kiện kinh tế - xã hội cũng tạo ra một thế mạnh để huyện có thể phát
triển các ngành kinh tế và xã hội một cách mạnh mẽ, nhất là nguồn lao động trong
huyện đông, trình độ ngày càng được nâng cao và thị trường của huyện ngày càng
được mở rộng. Đây là một yếu tố quan trọng để huyện có thể phát triển hơn nữa.
- Bối cảnh trong và ngoài nước cũng tạo ra nhiều cơ hội để huyện có thể phát
huy hết tiềm năng, vươn lên trở thành một huyện phát triển với thứ hạng cao trong
tỉnh và trong vùng.
2.1.5.2. Khó khăn
Bên cạnh những tiềm năng dồi dào to lớn, huyện Long Thành cũng còn nhiều
vấn đề do các đặc điểm về tự nhiên và kinh tế xã hội mang lại cần phải khắc phục
trên con đường phát triển của mình.
- Vị trí địa lí tuy rất thuận lợi cho việc giao lưu và vận chuyển hàng hóa...
nhưng lại đem đến cho huyện những vấn đề xã hội phức tạp, khó giải quyết. Mặt
khác, hình thể của huyện không chỉ chạy dài theo quốc lộ 51 nhưng trong thực tế thì
chỉ những khu vực gần con đường này mới phát triển mạnh mẽ về kinh tế nên cũng
tạo ra sự mất cân đối giữa các khu vực trong huyện.
- Các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khí hậu đã dẫn đến sự thiếu nước trong
mùa khô cũng là một trở ngại lớn cho phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp.
Còn vào mùa mưa, những cơn mưa lớn và kéo dài có thể làm ngập các khu vực (chủ
yếu là những vùng trũng thuộc hạ lưu các con sông, suối).
- Dân số trong huyện đông, lượng người nhập cư nhiều và tăng nhanh là một
vấn đề đòi hỏi huyện cần đưa ra những biện pháp thích hợp để đảm bảo an ninh xã
hội, đồng thời phải đảm bảo sự ổn định về nhiều mặt trong huyện như việc làm, nhà
ở, y tế, văn hóa…
- Bối cảnh trong và ngoài nước vừa tạo cơ hội cho huyện nhưng cũng đặt ra
nhiều thách thức, đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải biết cách nhìn xa trông rộng và đưa
ra nhiều biện pháp phù hợp để phát triển huyện nhà, đồng thời phải tỉnh táo để bảo
vệ môi trường và tài nguyên của huyện.
2.2. Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
công nghiệp ở huyện Long Thành
2.2.1. Giai đoạn trước 1995
Sau khi đất nước được giải phóng, Long Thành (bao gồm cả Nhơn Trạch – sáp
nhập tháng 1 năm 1976) cũng như các địa phương khác phải đối mặt với rất nhiều
khó khăn, nhất là vấn đề giải quyết ruộng đất và thủy lợi cho người dân để đảm bảo
nhu cầu lương thực, ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Việc làm đầu tiên của Ban
Lãnh đạo huyện là thực hiện quyết định 80/CP của Chính phủ về việc tịch thu, trưng
thu, trưng mua ruộng đất của địa chủ, của những người cố tình chạy theo địch, bỏ
lại đất hoang để chia lại cho những người nông dân không có đất. Đồng thời thành
lập vùng kinh tế mới gồm 3 xã: Bàu Cạn, Suối Trầu, Cẩm Đường. Phong trào làm
thủy lợi được phát động mạnh mẽ trong 21 xã và đã đào đắp được 22 con đập, 18 hồ
chứa nước và nạo vét được 7.600m kênh mương. Phòng vật tư và ngân hàng của
huyện cũng đã tạm ứng vốn và cung cấp phân bón, giống và các vật dụng khác để
phục vụ nông nghiệp... (tổng vốn đầu tư xã hội cho nông nghiệp chiếm 61%, 15%
cho giao thông và 24% cho các ngành khác).Với những nỗ lực trên, kết quả sản xuất
nông nghiệp của huyện là đã khai hoang được 4.473ha, phục hóa được 1.503ha đất.
[23]
Theo báo cáo của ngân hàng huyện Long Thành (năm 1976), ngân hàng cho
người dân vay vốn với 2 hình thức là ngắn hạn và dài hạn, song tất cả đều phục vụ
cho nông nghiệp như vay mua phân bón, mua giống, thuế và sửa chữa dụng cụ làm
nông nghiệp, mua thức ăn gia súc, mua máy cày, trâu cày… Và trong báo cáo của
ngành Tài chính huyện thì các nguồn thu, chi của huyện cũng là các sản phẩm nông
nghiệp và tiền mặt từ việc sản xuất nông nghiệp.
Trong các lĩnh vực khác, thời gian này huyện chú trọng nhiều đến việc ổn định
đời sống cho người dân như bảo vệ trật tự trị an, thực hiện chính sách xã hội… còn
sản xuất công nghiệp thì chưa được nhắc tới trong bất kì một báo cáo nào mặc dù có
một vài cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Từ những phân tích trên cho thấy: sau khi được giải phóng, huyện Long Thành
là một huyện sản xuất nông nghiệp hoàn toàn (tính chất thuần nông).
Cho đến Đại hội Đảng bộ huyện Long Thành lần thứ I (nhiệm kì 1977-1978),
ngành công nghiệp của huyện đã được cho là phát triển hơn một bước với 7 cơ sở
quốc doanh (có 75 công nhân làm việc), 5 tổ hợp làm ăn dưới dạng tập thể và làm
ăn có hiệu quả như trại mộc, nhà máy xay xát, chế biến nông sản… thu được tổng
giá trị 1.588.633 đồng. [18]
Để phục vụ tốt hơn cho nông nghiệp và các nhu cầu khác trong xã hội, ngành
công nghiệp trong huyện cần phải cố gắng nhiều hơn nữa. Hiểu rõ được điều đó,
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Long Thành lần thứ I đã đề ra: “Ra sức học tập
nắm vững những vấn đề cơ bản về đường lối, chủ trương chính sách của Trung
ương Đảng, của Tỉnh ủy, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động để
tiến hành cải tạo nông nghiệp, trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất lương thực; kết hợp
chặt chẽ giữa cải tạo và xây dựng, lấy xây dựng là chủ yếu; cải tiến một bước lưu
thông phân phối, phát triển một bước y tế, giáo dục, văn hóa; không ngừng củng cố
an ninh - quốc phòng, trật tự xã hội. Trên cơ sở đó, ra sức củng cố xây dựng chi bộ
- chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở. Hoàn chỉnh một bước về tổ chức cấp huyện
thành cấp kế hoạch toàn diện; từng bước khẩn trương xây dựng huyện Long Thành
thành một huyện nông – công nghiệp vững mạnh [18].” Có nghĩa là nông nghiệp
được xác định là ngành trọng yếu, công nghiệp và dịch vụ phát triển với mục đích
cao nhất chỉ là để phục vụ tốt hơn cho nông nghiệp.
Tuy có một quyết tâm cao nhưng trong suốt một thời gian dài, công nghiệp của
huyện vẫn phát triển chậm và không có những bước đột phá. Năm 1985 phần lớn
đóng góp trong nền kinh tế là của ngành nông nghiệp (gần 90%), trong khi công
nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ (chưa đến 10%) .
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với những nội dung
cơ bản:
- Đổi mới tư duy.
- Là chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ lên CNXH.
- Phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và 3 chương trình kinh tế lớn.
- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn
các thành phần kinh tế.
- Là năm khởi đầu thực hiện xây dựng khu lọc hóa dầu Thành Tuy Hạ, theo chỉ
thị của trung ương, kinh phí do trung ương đầu tư.
- Sắp xếp lại cơ chế sản xuất, mở rộng đầu tư hàng hóa, nguyên vật liệu trong
dân.
Ngành công nghiệp huyện Long Thành đã có những khởi sắc: huyện ủy đã
duyệt và cắt 500 ha đất trên khu lòng chảo Nhân Trạch để Trung ương xây khu lọc
dầu. Đồng thời tiến hành xây dựng các hạng mục công trình liên quan như khởi
công xây dựng nhà hát lớn của huyện với sức chứa 3.000 – 5.000 người nhằm phục
vụ cho người dân khi khu lọc hóa dầu được hoàn thành. Bên cạnh đó, các ngành
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp khác cũng có những thành tựu đáng kể: mở
thêm được 17 lò gạch, thành lập thêm 1 hợp tác xã đan mây tre, xay xát được
100.000 ngàn tấn lương thực… Song những đóng góp này của ngành công nghiệp
vẫn chưa đủ để huyện thực hiện mục tiêu là trở thành một huyện nông – công
nghiệp vững mạnh vì nông nghiệp vẫn giữ một vị trí quá lớn trong nền kinh tế.
Cho đến năm 1994, trước khi Nhơn Trạch tách khỏi Long Thành thì Long
Thành vẫn chỉ là một huyện nông – công nghiệp với tỉ trọng giá trị của các ngành:
nông nghiệp chiếm 79,87%, công nghiệp chiếm 10,17%, dịch vụ chiếm 9,96%. Bên
cạnh đó, cơ cấu lao động của huyện trong các ngành kinh tế cũng thể hiện đặc điểm
của huyện Long Thành: lao động trong nông nghiệp là 89,95%, công nghiệp là
7,24%, dịch vụ là 2,81%. Điều này cho thấy huyện vẫn chưa thể chuyển mình thành
một huyện công – nông nghiệp (lấy công nghiệp làm ngành sản xuất chính).
2.2.2. Từ 1995 đến 2005
Chỉ sau 1 năm tách Nhơn Trạch ra khỏi Long Thành (năm 1995), nền sản xuất
trong huyện đã có những bước phát triển tiến bộ. Trong nông nghiệp: thực hiện
Nghị quyết Trung ương về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ngành nông
nghiệp trong huyện đã phát triển mạnh, phần lớn diện tích, năng suất, sản lượng các
loại cây trồng chủ lực liên tiếp tăng hằng năm, số lượng đàn trâu, bò (đặc biệt là bò
sữa) tăng mạnh (23.430 con), phong trào nuôi gà, vịt và đào ao nuôi tôm, cá cũng
phát triển rầm rộ; chuyển một phần diện tích trồng lúa sang trồng các loại cây công
nghiệp như cao su, mía, bông vải, dâu tằm và cây ăn trái… đảm bảo cung cấp
nguồn nguyên liệu tại chỗ cho công nghiệp chế biến và đáp ứng nhu cầu lương thực
thực phẩm cho người dân. Trong công nghiệp: giá trị tổng sản lượng đã tăng lên
10,176 tỉ đồng, tăng 9,6% so với năm 1993; có thêm hàng trăm cơ sở sản xuất được
hình thành; thu hút khoảng 3.000 lao động tham gia sản xuất vào các ngành công
nghiệp địa phương với số vốn đầu tư 18,766 tỉ đồng; mặt khác, trên cơ sở qui hoạch
của Trung ương và tỉnh thì trên địa bàn huyện hình thành 3 khu công nghiệp lớn.
Các ngành dịch vụ cũng từ đó phát triển mạnh hơn để đáp ứng nhu cầu của các
ngành sản xuất và phục vụ nhu cầu đời sống của người dân. Kết quả đạt được trong
năm 1995, tỉ trọng đóng góp của các ngành kinh tế vào cơ cấu GDP huyện có những
thay đổi lớn: công nghiệp – xây dựng: 39,4%, nông – lâm nghiệp: 33,2%, dịch vụ:
27,4%. Tổng giá trị GDP theo giá thực tế đạt 655 tỉ đồng, nâng mức thu nhập của
người dân lên 3,736 triệu đồng… Với kết quả đạt được đáng tự hào trên, nền kinh tế
của huyện thật sự đã chuyển mình và trở thành một huyện sản xuất công – nông
nghiệp theo đúng Nghị quyết Đại hội Đại biểu huyện Long Thành nhiệm kì VI đã
đề ra. [18]
Từ năm 1995 đến năm 2005, tất cả các ngành kinh tế trong huyện đều phát
triển với giá trị năm sau luôn lớn hơn năm trước và tốc độ tăng trưởng luôn đạt giá
trị dương. Trong 3 khu vực kinh tế, do ảnh hưởng của quá trình CNH – HĐH đất
nước, ngành công nghiệp của huyện luôn luôn có tốc độ tăng trưởng cao và nhanh
nhất, đồng thời luôn chiếm một vị trí cao trong nền kinh tế: năm 2005, tỉ trọng
ngành công nghiệp đã chiếm tới 61,0% trong GDP (gấp 1,55 lần so với năm 1995);
ngược lại, ngành nông nghiệp lại có tỉ trọng giảm mạnh (trong thực tế, giá trị ngành
nông nghiệp luôn tăng nhưng tốc độ chậm hơn rất nhiều so với công nghiệp), từ
33,2% năm 1995 xuống còn 16,2% năm 2005 (giảm 17%); ngành dịch vụ cũng
tương tự ngành nông nghiệp nhưng do tốc độ tăng giá trị nhanh hơn ngành nông
nghiệp nên tốc độ giảm về tỉ trọng cũng chậm hơn: từ 27,4% năm 1995 xuống còn
22,8% năm 2005 (giảm 4,6%) trong cơ cấu GDP.
Bên cạnh những yếu tố trên, ngành công nghiệp của huyện còn thể hiện rõ vai
trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống
của người dân; là một trong những nhân tố quan trọng để huyện thu hút đầu tư từ
bên ngoài và đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước, giúp cải thiện cuộc
sống người dân trong huyện bằng việc xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật và
cơ sở hạ tầng.
Ngoài ra, số lao động làm việc trong các ngành kinh tế từ năm 1995 đến 2005
cũng có cơ cấu với nhiều biến động: năm 1995, số người làm việc trong ngành nông
lâm nghiệp là 77.358 người, chiếm 85,55%, trong công nghiệp và xây dựng là 5.996
người, chiếm 6,63%, dịch vụ là 7.076 người, chiếm 7,82%; nhưng đến năm 2005,
cơ cấu lao động hoạt động trong các ngành kinh tế đã thay đổi: nông lâm ngư
nghiệp là 36.397 người, chiếm 31,31%, công nghiệp và xây dựng là 49.603 người,
chiếm 42,67%, trong dịch vụ là 30.248 người, chiếm 26,02%.
Với những kết quả đạt được như trên, trong giai đoạn từ 1995 đến 2005, huyện
Long Thành xứng đáng được đánh giá là một huyện có nền sản xuất công – nông
nghiệp vững mạnh trong thời kì CNH – HĐH nhưng chưa thể trở thành một huyện
công nghiệp.
2.2.3. Giai đoạn từ 2006 cho đến nay
Với những nỗ lực không ngừng trên con đường tiến hành CNH – HĐH đất
nước, mục tiêu trở thành một huyện sản xuất công nghiệp vững mạnh, từ đó làm bệ
phóng để huyện Long Thành có thể vươn cao và xa hơn trên con đường phát triển,
trở thành một trung tâm đô thị công nghiệp hàng đầu tại Việt Nam đang dần trở
thành hiện thực, mà mục tiêu trước mắt là trở thành một huyện công nghiệp (năm
2010) theo Qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Long Thành từ năm 2005 đến
2010 và định hướng đến năm 2020..
Thế nhưng làm thế nào để biết huyện Long Thành đã trở thành một huyện
công nghiệp? Trên thế giới và ở Việt Nam, chưa có một tiêu chí nào thống nhất để
xét thế nào là một lãnh thổ công nghiệp (đặc biệt khó khăn hơn khi lãnh thổ ấy lại
tương đối nhỏ - là một huyện). Căn cứ trên tình hình thực tế về phát triển kinh tế -
xã hội huyện Long Thành thời gian qua, xem xét và so sánh với các tiêu chí của một
nước sản xuất công nghiệp (tuy là khập khiễng nhưng có thể chắt lọc một vài tiêu
chí cho phù hợp), dễ nhận thấy rằng:
- So sánh với các giai đoạn công nghiệp hóa của H. Chenery thì huyện Long
Thành có 2 chỉ tiêu thuộc giai đoạn phát triển là đã hòan thiện quá trình công nghiệp
hóa, đó chính là cơ cấu ngành trong GDP (nông nghiệp 16,2% - dưới 20% và công
nghiệp > dịch vụ. Đây là cơ cấu chuẩn của H. Chenery, còn cơ cấu của huyện là
nông nghiệp: 9,76%, công nghiệp: 65,3% và dịch vụ: 24,94%); Cơ cấu lao động
trong nông nghiệp của huyện cũng đạt được tỉ lệ theo yêu cầu của H. Chenery
(27,6% trong khi ông đưa ra là từ 10-30%). Có 2 chỉ tiêu mà huyện rất khó đạt là
GDP/người và tỉ lệ đô thị hóa. Tuy đã được nâng lên một mức cao
(1.286,7USD/người) và tỉ lệ đô thị hóa đạt 11,65% nhưng vẫn chỉ ở mức tiền CNH
so với mức thang phân loại của H. Chenery nên huyện chỉ mới được xem là một
huyện đang ở giai đoạn phát triển công nghiệp hóa.
- Xét theo Chỉ tiêu công nghiệp hóa do A. Inkeles giới thiệu: GDP/ người
Long Thành xấp xỉ 1/3 chỉ số chuẩn của một huyện công nghiệp; tỉ trọng nông
nghiệp trong GDP đã đạt ngoài mong đợi so với yêu cầu (từ 12-15%). Tỉ lệ lao
động phi nông nghiệp ở mức xấp xỉ (72,4% trong khi yêu cầu là 75% trở lên).
Ngoài ra, các chỉ tiêu khác đòi hỏi huyện phải phấn đấu nhiều hơn nữa và phải thật
tích cực, nhưng cũng không phải là quá khó để thực hiện được về “cơ bản”.
Để phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta nói
chung và huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai nói riêng, cần phải xét theo một bộ tiêu
chí riêng, mang tính đặc thù cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn
ra rất sôi nổi ở Việt Nam.
Theo chỉ tiêu công nghiệp hóa dự kiến (Giáo sư Đỗ Quốc Sam - phần cơ sở lí
luận) thì không chỉ huyện Long Thành mà cả nước Việt Nam cũng chưa thể là một
nước công nghiệp.
Tuy nhiên, ở nước ta, cụm từ cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại được nhắc đến rất nhiều. Với cách hiểu đơn giản, theo Giáo sư Đỗ
Quốc Sam, thì chỉ cần qui các chỉ tiêu đánh giá của thế giới về một nước công
nghiệp ra một hệ số cụ thể, nếu một đất nước hoặc địa phương nào đó đạt được từ
100% trở lên thì là một nước công nghiệp, còn nếu chỉ đạt 80% trở lên thì có thể coi
là cơ bản trở thành một nước hay lãnh thổ công nghiệp. Vậy nếu theo sơ đồ của H.
Chenery thì chỉ cần ở giai đoạn thứ 3 – giai đoạn phát triển thì cũng đã cơ bản trở
thành một nước hay lãnh thổ công nghiệp. Và nếu vậy, huyện Long Thành đã cơ
bản trở thành một huyện công nghiệp trên con đường CNH – HĐH đất nước với
những tiêu chí đã được xác định từ năm 2006 nhưng để trở thành một huyện có nền
công nghiệp thực sự vững mạnh thì cần phải xem xét đến những khía cạnh khác.
Có thể đánh giá những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội huyện Long
Thành qua bộ chỉ tiêu CNH do Đỗ Quốc Sam đề xướng như sau:
- Về cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế: đến 6 tháng đầu năm 2009, cơ cấu
GDP phân theo thành phần kinh tế của huyện Long Thành là: nông lâm ngư nghiệp
9,76%, công nghiệp và xây dựng 65,30%, dịch vụ 24,94%. Với kết quả này, huyện
Long Thành đã đạt được tiêu chí đầu tiên (phi nông nghiệp từ 90% trở lên, nông
nghiệp dưới 10%).
- Về cơ cấu lao động: tính đến năm 2008, số lao động trong khu vực I của
huyện đạt 27,6%, khu vực II và III là 72,4% và mức độ lao động đã qua đào tạo và
có trình độ chuyên môn cũng đạt trên 50%. Vậy trong tiêu chí này, huyện Long
Thành cũng đạt trên mức của một huyện công nghiệp.
- Về thu nhập của người dân: đến năm 2008, GDP bình quân đầu người của
huyện đạt 1.286,7 USD – chỉ bằng ¼ so với chỉ tiêu của Đỗ Quốc Sam. Đây là một
chỉ tiêu rất khó đạt tới không chỉ của huyện Long Thành mà còn là trở ngại của cả
nước trong quá trình thực hiện CNH – HĐH.
- Về mức độ đô thị hóa: cho đến cuối năm 2008, tỉ lệ dân thành thị ở huyện
Long Thành chỉ mới đạt 11,65%, còn rất thấp so với chỉ tiêu. Tuy nhiên, trong
tương lai không xa, khi các khu đô thị hiện nay đang xây dựng được đưa vào sử
dụng (nhất là khi khu hành chính tỉnh được xây dựng ở xã Tam Phước) thì tỉ lệ dân
thành thị ở huyện Long Thành sẽ tăng lên một cách nhanh chóng (ước chừng đạt
gần 50%). Vì vậy trong tiêu chí này, tương lai không xa (có thể trước năm 2015)
huyện Long Thành sẽ đạt và thậm chí là vượt chỉ tiêu.
- Về môi trường: theo báo cáo 6 tháng năm 2009 của Huyện ủy Long Thành, tỉ
lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh trong toàn huyện là 93,3% và tỉ lệ cây xanh che phủ
là 41,5%. Hai chỉ tiêu này của huyện đều đạt xấp xỉ so với mức mà Đỗ Quốc Sam
đưa ra.
Như vậy, với những tiêu chí cơ bản của một huyện công nghiệp, Long Thành
đã đạt được các tiêu chí về mặt kinh tế và môi trường (cơ cấu GDP, cơ cấu lao động
trong các ngành kinh tế). Các tiêu chí còn lại (chủ yếu là về xã hội và trình độ khoa
học công nghệ như mức độ đô thị hóa, thu nhập…) thì huyện chưa thể đạt được
trong thời điểm này nhưng trong một thời gian không xa có thể đạt được.
Có thể kết luận được rằng cho đến thời điểm này (6 tháng đầu năm 2009),
huyện Long Thành đã thực sự trở thành một huyện sản xuất công nghiệp chứ không
còn là huyện sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, để trở thành một huyện công nghiệp
thì huyện cần phải phấn đấu thêm nữa để các chỉ tiêu về mặt xã hội được đảm bảo,
cũng như trình độ khoa học và công nghệ phải được nâng lên ở mức cao hơn. Nói
cách khác, quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp
trong thời kì CNH – HĐH của huyện đã diễn ra thành công và có nhiều ảnh hưởng
đến các mặt kinh tế - xã hội của huyện.
2.3. Ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp thời kì CNH – HĐH đến phát triển kinh tế - xã hội
huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
Quá trình CNH – HĐH diễn ra tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai đã tạo ra
quá trình cuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp (đã
phân tích ở trên). Cả hai quá trình này đã có những tác động sâu sắc đến sự phát
triển KT – XH huyện Long Thành ở cả 2 khía cạnh tích cực và hạn chế.
2.3.1. Tích cực
Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Long Thành đã có sự phấn
đấu vượt bậc, khắc phục mọi khó khăn trong sự nghiệp đổi mới, đưa nền kinh tế
huyện Long Thành từng bước phát triển với những thành tựu đáng khích lệ trong
quá trình thực hiện CNH – HĐH đất nước và chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông
nghiệp sang sản xuất công nghiệp tại địa phương.
2.3.1.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a. Tăng trưởng
Tốc độ tăng bình quân GDP (giá 1994) trên địa bàn huyện thời kì 1996-2000
đạt 10,1%/năm, thấp hơn mức tăng bình quân của tỉnh (12,6%), nhưng đến giai
đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng GDP của huyện tăng lên 12,7%, xấp xỉ mức
tăng của tỉnh (12,8%). Và đến năm 2008, tốc độ tăng GDP của huyện đạt 16,65%,
vượt mức bình quân chung của tỉnh (15,45%).
Có thể thấy rõ tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của huyện qua biểu đồ sau:
tỉ đồng
6000
5014.9
5000
4157.9
4000
2496
3000
2644.4
2266
1698
2000
1149
933
655
1000
577
năm
0
1995
2000
2005
2007
2008
GDP theo giá so sánh 1994
GDP theo giá thực tế
Hình 2.4: Tình hình tăng trưởng GDP của huyện Long Thành
giai đoạn 1995-2008
Có thể thấy rõ tình hình tăng trưởng GDP của huyện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.5: Tình hình tăng trưởng GDP huyện Long Thành giai đoạn 1995 – 2008
Giá trị thực hiện
Tốc độ tăng trưởng (%/năm)
1995
2001
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2001
2005
2006
2007
2008
2006
2007
2008
-
-
2000
2005
1. GDP theo
Tỉ đồng
577
933
1.037
1.698
1.942,2
2.266
2.644,4
10,1
12,7
14,39
16,7
16,65
giá (1994)
- Công nghiệp
Tỉ đồng
238
485
555
1.042
1.220,2
1.465,8
1.747,9
15,3
16,5
17,1
20,12
19,25
– xây dựng
- Nông – lâm
Tỉ đồng
187
220
230
273
284,3
298,3
306,0
3,3
4,4
4,3
4,93
2,6
nghiệp
- Dịch vụ
Tỉ đồng
152
227
253
383
437,7
502,8
590,4
8,4
11,0
14,2
14,89
17,41
2. GDP theo
Tỉ đồng
655
1.149
1.277
2.496
3.354,2
4.157,9
5.014,9
11,9
16,8
18,07
23,96
20,61
giá thực tế
- Công nghiệp
Tỉ đồng
258
595
682
1.522
2.106,8
2.640,0
3.221,1
18,2
20,7
21,58
25,31
21,8
– xây dựng
- Nông – lâm
Tỉ đồng
217
274
283
404
490,0
536,6
569,2
4,7
8,1
6,49
9,48
5,43
nghiệp
- Dịch vụ
Tỉ đồng
312
280
1.224,6
981,4
569
9,4
15,2
16,94
29,58
25,43
179 757,4 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nhờ quá trình CNH – HĐH với quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông
nghiệp sang sản xuất công nghiệp, cơ cấu kinh tế của huyện trong những năm qua
đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: cơ cấu kinh tế theo ngành của huyện vào
thời điểm 1995 là công nghiệp – nông lâm ngư nghiệp - dịch vụ (39,4% - 33,2% -
27,4%), đến 2005 cơ cấu kinh tế của huyện chuyển thành công nghiệp - dịch vụ -
nông lâm ngư nghiệp (61,0% - 22,8% - 16,2%), tiến bộ hơn so với cơ cấu kinh tế
của nhiều huyện khác trong tỉnh. Tính đến cuối năm 2008, cơ cấu kinh tế của huyện
đã thay đổi rất nhanh, cho thấy huyện đã chuyển mình trở thành một huyện công
nghiệp với tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên 88,7%, còn ngành nông
nghiệp chỉ chiếm 11,53%.
khu vực I
khu vực II
khu vực III
24.4
27.4
51.8
39.4
23.8
33.2
Năm 1995
Năm 2000
24.94
65.3
24.42
64.23
9.76
11.35
Năm 2009 (6 tháng đầu năm)
Năm 2005
Hình 2.5: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Long Thành giai đoạn 1995-2009
Đối với cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế cũng có sự chuyển biến rõ nét.
Sau năm 2005, tỉ trọng của kinh tế quốc doanh đã dần giảm xuống (năm 2006:
8,9%, năm 2008: 7,98%); kinh tế ngoài quốc doanh cũng có chiều hướng tương tự
(2005: 44,45%, năm 2008: 40,97%); ngược lại, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
tăng lên mạnh mẽ (năm 2005: 44,945%, năm 2008: 51,05%). Sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo thành phần như trên rất phù hợp với định hướng chung của nhà nước và
trở thành kết quả của những chính sách thay đổi trong thời gian vừa qua: mở cửa,
thu hút đầu tư từ bên ngoài, đồng thời kích thích người dân tham gia bỏ vốn đầu tư
vào sản xuất.
Tỉ lệ (%)
100%
4 4
.
4 9
4 6
5 1
80%
.
.
.
3
9 5
5 9
0 5
Vốn đầu tư nước ngoài
60%
Ngoài quốc doanh
40%
4 6
.
4 1
4 4
4 0
.
.
.
8
4 5
9 3
9 7
20%
Quốc doanh TW
8.48
Năm
0%
8.6 2006
8.9 2007
2008
7.98 2009 (6 tháng đầu)
Hình 2.6: Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế huyện Long Thành (2006-2009)
Có thể thấy rõ sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế của huyện qua bảng số liệu
sau đây:
Đơn vị
1995 2000 2005
2006
2007
2008
Chỉ tiêu
6 tháng đầu 2009
%
100
100
100
100
100
100
100
1. Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế
- Công nghiệp – xây dựng
%
39,4 51,8 61,0 62,81 63,49 64,23
65,30
- Nông – lâm nghiệp
%
33,2 23,8 16,2 14,61 12,91 11,35
9,76
- Dịch vụ
%
27,4 24,4 22,8 22,58 23,6 24,42
24,94
%
100
100
100
100
2. Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế
- Quốc doanh TW
%
8,6
8,9
8,48
7,98
- Kinh tế ngoài QD
46,45 44,8 41,93
40,97
44,95 46,3 49,59
51,05
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Bảng 2.6: Cơ cấu kinh tế huyện Long Thành thời kì 1995-2009
c. Thu nhập và mức sống dân cư
GDP bình quân đầu người (qui USD) của huyện tăng từ 340 USD năm 1995
lên 417 USD năm 2000 (gấp 1,23 lần so với năm 1995) và lên 750 USD năm 2005
gấp 1,8 lần so với năm 2000). Và nhờ quá trình CNH – HĐH nên đến năm 2008,
thu nhập bình quân của người dân trong huyện đã đạt 1.286,7 USD (gấp 1,73 lần so
với năm 2005), tương ứng với 21, 2 triệu, cao hơn mức trung bình chung của toàn
tỉnh (15,7 triệu) nên cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện hơn.
Có thể thấy tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người qua biểu đồ sau:
triệu đồng
25
21.231
20
18.132
15.184
15
13.384
10
5.967
3.736
5
0
năm
1995 2000 2005 2006 2007 2008
Hình 2.7: Thu nhập bình quân đầu người huyện Long Thành (1995-2008)
Có thể so sánh mức độ tăng GDP/người của huyện Long Thành bằng 2 mệnh
giá tiền Việt Nam (VNĐ) và USD như sau:
Bảng 2.7: Thu nhập bình quân đầu người huyện Long Thành
Giá trị thực hiện
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2001
2005
2006
2007
2008
1.000
- Tiền Việt Nam
3736
5967
6470
13.384
15.184
18.132
21.231
đồng
USD
- Quy USD
340
417
446
750
1.286,7
-
Tỉ
giá
1.000
11,0
14,3
14,5
15,9
16,5
VNĐ/USD
đồng
Thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Tỉ lệ hộ nghèo của huyện giảm mạnh từ 1,77% vào năm 2005, (vốn đã thấp
hơn so với mức bình quân chung toàn tỉnh) xuống còn 1,45% vào năm 2008; tỉ lệ hộ
sử dụng điện đạt trên 97,8% (2008) và tỉ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt trên
93%, đều cao hơn mức bình quân toàn tỉnh.
Trong năm 2008, huyện đã giải quyết việc làm cho 7.367 lao động trên địa
bàn, giúp ổn định đời sống người dân. Tính đến tháng 6 năm 2009, huyện cũng đã
giải quyết thêm cho 3.254 người lao động có việc làm ổn định.
2.3.2. Sự chuyển biến trong các ngành và lĩnh vực
Quá trình CNH – HĐH đã tác động trực tiếp đến các ngành nghề và các lĩnh
vực kinh tế trên địa bàn huyện với những thay đổi đáng khích lệ:
2.3.2.1. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Với vai trò được xác định là ngành trọng tâm trong quá trình chuyển đổi kinh
tế, ngành công nghiệp đã nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt từ các cấp lãnh đạo
và các nhà đầu tư nên cũng có những chuyển biến tích cực:
- Dưới sự cho phép của các cơ quan chức năng, nhiều hình thức tổ chức sản
xuất ở mức độ tập trung cao trong công nghiệp được hình thành và phát triển với
tốc độ ngày càng nhanh, đang dần khẳng định vai trò quan trọng của mình.
- Các sản phẩm của ngành công nghiệp ngày càng đa dạng, phục vụ tốt hơn
nhu cầu của con người và có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước.
- Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật và sơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp để
phục vụ sản xuất và tiêu dùng.
- Có cơ hội học hỏi kinh nghiệm từ bên ngoài.
Là huyện có tiềm năng và lợi thế về phát triển công nghiệp và TTCN cùng với
chủ trương đầu tư phát triển đúng hướng của các cấp, các ngành nên sản xuất công
nghiệp và TTCN của huyện trong những năm qua đã đạt được những kết quả chủ
yếu sau:
- Về sử dụng lao động: nhìn chung, từ năm 2000 đến 2005, số lao động hoạt
động trong ngành công nghiệp và TTCN đã tăng 2.251 lao động (tăng 3,6%/năm),
đến năm 2008, ngành CN – TTCN và xây dựng của huyện đã thu hút 58.428 người
(tăng 8.645 người - đạt tỉ lệ tăng 17,4%) chứng tỏ ngành công nghiệp – TTCN của
huyện đã thu hút được ngày càng nhiều lao động trong và ngoài huyện, một mặt
giúp phát triển kinh tế, một mặt tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp ổn định
xã hội.
Nhờ quá trình CNH – HĐH mà năng suất lao động trong ngành CN và TTCN
cũng tăng lên đáng kể: từ mức 34,9 triệu đồng/năm năm 2005 đã lên đến 55,13 triệu
đồng vào năm 2008, gấp 1,58 lần. Có được kết quả này là nhờ quá trình đổi mới
công nghệ và ứng dụng mạnh mẽ khoa học kĩ thuật trong CN và TTCN.
triệu đồng 60
55.13
47.2
50
39.6
40
34.9
30
20
10
0
năm
2005
2006
2007
2008
Hình 2.8: Năng suất lao động trong ngành công nghiệp huyện Long Thành
(2005-2008)
Có thể thấy rõ sự biến đổi trong ngành công nghiệp và TTCN của huyện trong
thời gian qua như sau:
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu trong ngành công nghiệp huyện Long Thành
Thực hiện
Tăng BQ (%/năm)
Chỉ tiêu
Đơn vị
2000
2005
2006
2007
2008
2008
2001- 2005
Người
6399
49.603
53.201
55.928
58.428
3,6
tỉ đồng
1798
4.056
4.824
6.142,6
7.518,3
17,8
19,25
tỉ đồng
99
188
210,3
236,5
267,3
13,7
17,2
tỉ đồng
242
701
822
976,8
1.171,5
23,7
9,45
tỉ đồng
1457
3167
3.791,7
4.929,2
6.079,5
16,8
22,7
1. Lao động sản xuất công nghiệp 2. Giá trị sản xuất (giá 94) - Quốc doanh (Trung ương, tỉnh, huyện) - Ngoài quốc doanh (CN địa phương) - Khu vực có vốn nước ngoài
thời kì 2000 – 2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
- Về giá trị sản xuất: tăng liên tục, trong đó tốc độ tăng của công nghiệp ngoài
quốc doanh là tăng nhanh nhất, kế đến là công nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai, và
cuối cùng là công nghiệpquốc doanh. Xu hướng này rất phù hợp với xu hướng phát
triển chung của tỉnh và của cả nước nhằm phát huy hết tiềm năng nội lực của huyện
cũng như khai thác triệt để sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài để phát triển
kinh tế - xã hội của huyện. Xu hướng này phản ánh rất rõ nét quá trình CNH – HĐH
ở Long Thành đang có những thay đổi đáng khích lệ:
tỉ lệ (%)
100%
80%
78.1
60%
80.8
81
Đầu tư nước ngoài CN địa phương
40%
Quốc doanh
20%
17.3
13.5
năm
15.6
3.6
4.6
5.5
0%
2000
2005
2008
Hình 2.9: Giá trị sản xuất ngành CN huyện Long Thành phân theo
thành phần kinh tế (2000-2008)
- Về các sản phẩm chủ lực: nhìn chung, các sản phẩm công nghiệp – TTCN
trên địa bàn huyện khá đa dạng với hàng chục loại sản phẩm, trong đó có 9 mặt
hàng chủ lực: phân lân (do TW quản lí), giấy, gạch xây dựng, ngói xây dựng, nước
đá, cửa sắt (khu vực ngoài quốc doanh) và gạch men, bột ngọt, chất tẩy rửa (khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài). Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của thị
trường và nhờ chính sách của tỉnh và nhà nước nên một số ngành công nghiệp như
chế biến, may mặc và ngành xây dựng cũng có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.
- Về kết quả đầu tư xây dựng các khu công nghiệp tập trung và các cụm công
nghiệp địa phương:
+ Các khu công nghiệp đã triển khai thực hiện được 1.177 ha so với qui hoạch
1.957 ha (đạt 60,14%), trong đó khu công nghiệp Gò Dầu đã thực hiện 100% là
184ha so với qui hoạch là 198 ha (giảm 14ha), khu công nghiệp Tam Phước và dốc
47 đã thực hiện 353ha/423ha (đạt 83,45%), khu công nghiệp Long Thành thực hiện
640ha/710ha (đạt 90,14%).
+ Các cụm công nghiệp đã triển khai thực hiện gần 300ha so với qui hoạch
955 ha (đạt gần 30%).
- Về thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước: hiện trong huyện có khoảng 1300
công ty, doanh nghiệp với vốn đầu tư trên 7.500 tỉ đồng, trong đó 178 doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 1.774 triệu USD.
Các cụm CN
Các khu CN
Hình 2.10: Sự phân bố các khu và cụm CN trên địa bàn huyện Long Thành
Tóm lại, ngành công nghiệp và TTCN của huyện trong những năm qua đã thu
hút một khối lượng lớn vốn đầu tư và giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao
động, các khu công nghiệp tập trung và các cụm công nghiệp đã và đang được hình
thành tạo tiền đề thuận lợi để huyện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tuy nhiên, tốc độ đầu tư phát triển công nghiệp mà đặc
biệt là đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện còn chậm và đang có xu hướng giảm
do các nguyên nhân là chuyển sang đầu tư vào các lĩnh vực khác là dịch vụ.
2.3.2.2. Ngành thương mại, dịch vụ
Ngành dịch vụ là ngành có vai trò nối giữa khâu sản xuất đến tiêu dùng và
phục vụ đời sống người dân. Do đó, khi có sự chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp
sang công nghiệp, ngành dịch vụ cũng có nhiều tác động:
- Tạo ra cơ hội để phát triển một ngành dịch vụ với mạng lưới rộng khắp, đa
dạng về loại hình để phục vụ mọi nhu cầu trong sản xuất và tiêu dùng của người dân.
- Được nhiều nhà đầu tư chú trọng vì theo xu thế chung, sau thời kì phát triển
công nghiệp, ngành dịch vụ sẽ là ngành có vị trí cao nhất trong nền kinh tế bởi
chính vai trò quan trọng của nó.
Cùng với phát triển khá nhanh của ngành công nghiệp, thương mại - dịch vụ
trên địa bàn huyện cũng phát triển với tốc độ tương ứng, giá trị sản xuất toàn ngành
đạt 946,926 tỉ đồng, tăng 21,82% (năm 2008).
a. Hoạt động thương mại
Thể hiện qua mức độ buôn bán hàng hóa trên địa bàn, cụ thể:
Tình hình buôn bán hàng hóa trên địa bàn huyện thể hiện cụ thể qua bảng số
liệu sau:
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
I. Doanh số bán ra 1. Bán lẻ 2. Bán buôn II. Cơ cấu 1. Bán lẻ 2. Bán buôn
triệu đồng triệu đồng triệu đồng % %
2000 2011 2011 0 100,0 0
2005 2599 2599 100,0 0
Thực hiện 2006 2673 2673 100,0 0
2008 3028 3028 100,0 0
2007 2710 2710 100,0 0 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Bảng 2.9: Doanh số bán hàng huyện Long Thành thời kì 2000-2008
Như vậy, họat động buôn bán của huyện chủ yếu là bán lẻ (100%), không có
bán buôn chứng tỏ sức sức trên thị trường khá lớn và đang có tiềm năng tăng mạnh.
Đặc biệt từ năm 2007 đến năm 2008, sức mua trên địa bàn huyện tăng nhanh (gấp
1,12 lần), chứng tỏ nền kinh tế phát triển, mức sống được nâng cao trong điều kiện
hội nhập quốc tế thì người dân quan tâm nhiều hơn đến mua sắm.
triệu đồng
3500
3028
3000
2710
2673
2599
2500
2211
2000
1500
1000
500
năm
0
2000
2005
2008
2006
2007 Hình 2.11: Doanh số bán hàng huyện Long Thành (2000-2008)
Mạng lưới chợ nông thôn được sắp xếp tương đối ổn định và từng bước phát
triển. Các hoạt động kinh doanh phục vụ khách du lịch của các doanh nghiệp và hộ
tư nhân dọc quốc lộ 51 cũng phát triển khá nhanh đã góp phần vào việc khai thác có
hiệu quả tiềm năng, lợi thế của ngành. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn đang triển
khai nhiều dự án về du lịch, vui chơi giải trí như Lâm trại Sơn Tiên, sân golf, câu
lạc bộ xanh… cũng góp phần làm cho doanh số bán hàng của huyện tăng lên.
Mặt khác, lượng hàng hóa trên thị trường trong huyện ngày càng đa dạng, dồi
dào, đáp ứng mạnh mẽ nhu cầu của người dân. Tuy trong những năm gần đây, hầu
hết giá cả hàng hóa tiêu dùng có biến động tăng làm ảnh hưởng đến đời sống nhân
dân, nhất là người nghèo và người có thu nhập thấp nhưng nhu cầu của người dân
vẫn rất cao, là một động lực để doanh số bán hàng tăng nhanh.
b. Dịch vụ vận tải
Theo kết quả điều tra nông thôn – nông nghiệp và thủy sản năm 2007, toàn
huyện có 1232 phương tiện vận tải thủy bộ, trong đó: ô tô chở khách có 219 cái, ô
tô vận tải có 474 cái, xe công nông 318 cái và tàu thuyền vận tải cơ giới 221 cái.
Hầu hết các phương tiện vận tải nêu trên có công suất vừa và nhỏ, thời gian sử dụng
tương đối lâu, đặc biệt có một số phương tiện tự chế (máy nổ, động cơ công nông
chuyển thành xe tải) không đảm bảo về tiêu chuẩn kĩ thuật và không được cấp phép
lưu hành vẫn lưu thông trên các tuyến đường chính, kể cả quốc lộ. Đây là tình trạng
chung của rất nhiều địa phương, cần sớm có biện pháp khắc phục.
Bảng 2.10: Kết quả hoạt động ngành giao thông vận tải huyện Long Thành
Thực hiện
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
1995
2000
2005
2006
2007
2008
I. Hàng hóa
1. Vận chuyển
1.000tấn
1871
2160
4737
5638
6472
7856
2. Luân chuyển
1.000tấn.km
10144
12173
28422
35.519
44.657
58.920
3. Cự li vận chuyển TB Km
5,6
6,0
6,3
6,7
6.8
5,4
II. Hành khách
1. Vận chuyển
1.000HK
853
2115
2437
2764
3215
599
2. Luân chuyển
1.000HK.km
15294
21780
63450
95.043
105.032
131.815
3. Cự li vận chuyển TB Km
26
26
42
39
38
41
thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Nhìn chung, từ 1995 đến 2005, khối lượng vận chuyển cũng như luân chuyển
cả người và hàng hóa trên huyện Long Thành đều tăng nhưng tốc độ tương đối
chậm. Từ sau 2006, tốc độ khối lượng và vận chuyển đều được nâng lên và có tốc
độ tăng nhanh. Song trên thực tế, sự phát triển của ngành giao thông vận tải của
huyện vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện và cần
được khắc phục trong tương lai.
c. Dịch vụ bưu chính viễn thông
Hoạt động dịch vụ bưu chính viễn thông của huyện trong những năm gần đây
phát triển khá mạnh với tổng doanh thu tăng từ 3,3 tỉ đồng năm 1995 lên 48,8 tỉ
đồng năm 2005 (tốc độ tăng thời kì 2001-2005 đạt 22,5%), cụ thể:
Bảng 2.11: Tình hình phát triển ngành bưu chính - viễn thông
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2005
2006
2007
2008
1. Số cơ sở
5
4
4
4
4
- Bưu cục
5
Cơ sở
10
15
15
16
16
- Bưu điện văn hóa xã
Cơ sở
7
3
8
9
10
10
- Trạm tiếp sóng TV
Cơ sở
2
2. Doang thu bưu điện
Tỉ đồng
3,3
17,8
48,8
53,5
69,3
80,1
chiếc
3. Tổng số điện thoại
1072
5720
26330
28845
39070
44.427
chiếc
- Điện thoại/100 dân
0,61
3,20
12,57
13,6
17,99
20
huyện Long Thành thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Có thể thấy, nhờ quá trình CNH – HĐH nên cả doanh thu lẫn chất lượng phục
vụ đời sống của người dân trong ngành bưu điện cũng được cải thiện:
100
80.1
80
60
48.8
44.427
40
17.8
26.33
20
20
3.3
5.72
12.57
1.072
0
3.2
0.61
năm
2000
2005
2008
1995 doanh thu (tỉ đồng)
số máy (ngàn cái)
máy trong 100 dân (cái)
Hình 2.12: Tình hình phát triển của ngành bưu điện huyện (1995-2008)
Các chỉ số trên đều cho thấy hoạt động dịch vụ bưu chính viễn thông của
huyện rất phát triển, đặc biệt về chỉ số điện thoại bình quân/100 dân đã tăng liên tục
và tăng rất nhanh, tương đương mức bình quân toàn tỉnh.
d. Dịch vụ tài chính tín dụng
Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế, dịch vụ tài chính tín dụng của
huyện cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ:
- Về thu – chi ngân sách: nhìn chung là tăng liên tục, phục vụ tốt cho xã hội,
cụ thể:
Bảng 2.12: Thu – chi ngân sách trên địa bàn huyện Long Thành
Chỉ tiêu
2000
2005
2006
2007
2008
1. Tổng thu ngân sách
29980 116380 232408 442798 630919
2. Tổng chi ngân sách
31230
79533 149928 150308 198149
- Chi xây dựng cơ bản
5561
45000
63816
95008
87382
Thời kì 2000-2008 (Đơn vị: triệu đồng)
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
- Về tín dụng ngân hàng: quá trình thực hiện CNH – HĐH đã góp phần thúc
đẩy hoạt động huy động vốn tín dụng và dịch vụ của các ngân hàng trên địa bàn
huyện phát triển khá nhanh.
Bảng 2.13: Kết quả hoạt động ngân hàng trên địa bàn huyện Long Thành
Chỉ tiêu
2006
2007
2008
6/2009
1. Tổng số vốn huy động từ ngân hàng
810
1597
309,1
555
2. Số dư nợ
1175
1439
134
230
Thời kì 2006-2009 (Đơn vị: tỉ đồng)
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Ngoài ra, hiện nay, hệ thống các ngân hàng tại địa bàn huyện cũng đang được
mở rộng. Sự có mặt ngày càng nhiều các hệ thống ngân hàng như Ngân hàng Đầu
tư và phát triển, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam, và mới đây là Ngân hàng Dầu khí, Ngân hàng Cổ phần
thương mại Sài Gòn – Hà Nội, Ngân hàng Quân đội…cho thấy đây là một thị
trường lớn và có sức phát triển mạnh mẽ, cần được đầu tư xứng tầm hơn.
2.3.2.3. Ngành nông – lâm nghiệp
Trong quá trình chuyển đổi sản xuất kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp,
bản thân ngành nông nghiệp cũng có được những tác động tích cực sau:
- Được công nghiệp hỗ trợ một cách đắc lực trong việc giải phóng sức lao
động của con người mà thay vào đó là sự làm việc của máy móc, con người chỉ có
vai trò điều khiển, sắp xếp.
- Năng suất cây trồng và vật nuôi được nâng cao nhờ có công nghiệp với
những hỗ trợ về giống, phân bón, thuốc trừ sâu và các sản phẩm khác.
- Hỗ trợ trong việc bảo quản và đa dạng hóa sản phẩm nhờ công nghiệp chế
biến, từ đó nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị
trường xuất khẩu; tăng giá trị và qua đó tăng thêm được thu nhập cho người nông dân.
- Các sản phẩm rất tiến bộ của ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao
cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ tương ứng (máy tính và hệ thống
thông tin trên Internet và các phần mềm tương ứng) đã giúp người nông dân tìm
kiếm và mở rộng thị trường ra bên ngoài (hướng đến xuất khẩu), tìm được các cách`
sản xuất mới, đồng thời mở rộng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên
canh phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và tự nâng cao trình độ sản xuất và
đời sống của mình.
- Quá trình chuyển đổi sản xuất cũng làm cho nông nghiệp giảm được sự lệ
thuộc quá nhiều vào tự nhiên - một đặc tính của ngành nông nghiệp từ bao đời nay
như xây dựng các công trình thủy lợi có thể giúp tưới hoặc tiêu nước, bón phân để
tăng độ phì cho đất, xây dựng các trang trại chăn nuôi…
Kết quả đạt được cụ thể như sau:
a. Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp
Nhờ tác động tích cực của các chính sách đổi mới nông nghiệp – nông thôn
trong thời kì CNH – HĐH và những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, kết quả sản xuất
nông nghiệp của huyện những năm qua cũng có những bước tăng trưởng khá cao,
cụ thể:
tỉ đồng
800
25.6
3 . 8
18.7
600
2 . 8
11.7
1 . 8
9.2
400
1 . 3
3 . 0 0 6
5 . 4 1 5
200
5 . 8 1 4
1 . 9 1 3
0
năm
1995
2000
2005
2008
Nông nghiệp
Thủy sản
Lâm nghiệp
Hình 2.13: Giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy sản huyện Long Thành
(1995-2008)
- Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng (giá cố định 94) từ 329,6 tỉ
đồng năm 1995 lên 432,0 tỉ đồng năm 2000, đạt mức tăng trung bình 5,6%, cao hơn
mức trung bình chung của tỉnh (4,7%). Đến năm 2008, giá trỉ sản xuất của ngành
này tăng lên 629,7 tỉ đồng, đạt mức tăng trưởng 2,6%, trong đó thủy sản và nông
nghiệp có mức tăng khá cao, còn lâm nghiệp có mức tăng tương đối chậm. Trong
xu hướng này, cần phải áp dụng những biện pháp để cho ngành lâm nghiệp có tốc
độ tăng nhanh hơn nhằm làm cho tỉ lệ che phủ rừng trong huyện được nâng lên cao hơn.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tốc độ của ngành trồng trọt thấp và có xu
hướng giảm trong những năm gần đây, ngược lại ngành chăn nuôi lại tăng khá
nhanh (năm 2005 ngành chăn nuôi chiếm khoảng 27,32% nhưng đến 2008 lên
32,13%), ngành dịch vụ trong nông nghiệp cũng có xu hướng tăng nhanh. Đây cũng
là một xu hướng tương đối hợp lí trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện
Trồng trọt
Chaên nuoâi
Dịch vụ
1.3
15.8
82.9
Năm 1995
4
.
7
4
.
9
32.1
27.3
67.8
63.2
Năm 2008
Năm 2005
Hình 2.14: Cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Long Thành qua các thời kì
(1995-2008)
Cụ thể có thể thấy được tình hình sản xuất của ngành nông – lâm – ngư
nghiệp của huyện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.14: Tình hình sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
1995
2000
2005
2006
2007
2008
I. Giá trị sản xuất
tỉ đồng
329,6
432,0
536,0 569,3 603,6
629,7
1. Nông nghiệp
tỉ đồng
319,1
418,5
514,5 545,5 576,9
600,3
- Trồng trọt
tỉ đồng
264,6
306,7
348,9 370,7 386,5
379,3
- Chăn nuôi
tỉ đồng
50,4
89,2
140,6 149,1 164,3
192,9
- Dịch vụ
tỉ đồng
22,6
25,1
25,6
26,1
28,2
4,1
2. Lâm nghiệp
tỉ đồng
1,8
2,8
3,1
3,4
3,8
1,3
3. Thủy sản
tỉ đồng
11,7
18,7
20,7
23,3
25,6
9,2
II. Cơ cấu
100
1. Nông – lâm – thủy sản
100
100
100
100
100
100
- Nông nghiệp
%
96,8
96,9
96,0
95,8
95,6
95,3
- Lâm nghiệp
%
0,4
0,5
0,6
0,5
0,6
0,4
- Thủy sản
%
2,7
3,5
3,6
3,9
4,1
2,8
2. Nông nghiệp
%
100
100
100
100
100
100
- Trồng trọt
%
73,3
67,8
68
67
63,2
82,9
- Chăn nuôi
%
21,3
27,3
27,3
28,5
32,1
15,8
- Dịch vụ
%
5,4
4,9
4,7
4,5
4.7
1,3
huyện Long Thành thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
- Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông – lâm – ngư nghiệp chuyển dịch chậm và
nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng cao. Riêng cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có
sự chuyển dịch mạnh mẽ: tỉ trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm mạnh, còn tỉ
trọng ngành chăn nuôi cũng như dịch vụ trong nông nghiệp lại tăng nhanh và rất
cao.
b. Về hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức lãnh thổ NN
Quá trình CNH – HĐH đã tác động sâu sắc đến các hình thức TCSX và
TCLTNN trên địa bàn huyện Long Thành. Trước đây, trên địa bàn huyện có các
hình thức TCSX (các xí nghiệp NN) là kinh tế hộ gia đình, các hợp tác xã NN, nông
trường quốc doanh nhưng hoạt động không mang tính chất hang hóa để phục vụ
theo nhu cầu của thị trường mà lại ảnh hưởng bởi sản xuất theo kế hoạch mà nhà
nước đưa ra (hợp tác xã và nông trường quốc doanh), còn kinh tế hộ gia đình thì chỉ
có qui mô nhỏ lẻ, mang tính chất tự cấp tự túc là chủ yếu nên hiệu quả sản xuất
trong nông nghiệp không cao. Trong thời kì CNH – HĐH đất nước, các hình thức
TCSX của NN ở huyện một mặt thay đổi mục đích và phương thức sản xuất trong
các hình thức cũ (hộ gia đình cũng chuyển sang sản xuất hàng hóa; các hợp tác xã
cũng chuyển sang việc tôn trọng sự tự nguyện hợp tác của các thành viên chứ không
phải theo một sự sắp xếp của nhà nước hay một tổ chức nào; nông trường quốc
doanh phần lớn chuyển sang các hình thức phù hợp hơn (trang trại), nếu có tồn tại
thì cũng ở vai trò quản lí là chủ yếu, phần lớn các nông trường trên địa bàn huyện
đã giao đất khoán cho các hộ gia đình hoặc tư nhân), một mặt xuất hiện các hình
thức TCSX tiến bộ hơn nhằm phát huy tối đa hiệu quả sản xuất trong NN như hình
thức trang trại (xí nghiệp NN), thể tổng hợp NN. Đây là những hình thức mới xuất
hiện ở Việt Nam nhưng lại phát triển rất nhanh và ngày càng hoàn thiện, phù hợp
với điều kiện và đặc điểm NN Việt Nam bởi sự tiến bộ của nó.
- Kinh tế hộ gia đình (còn gọi là nông hộ): là một hình thức đặc trưng của nền
sản xuất nhỏ, tồn tại khá phổ biến và lâu đời ở nước ta. Nguồn lao động trong kinh
tế hộ gia đình thường là các thành viên trong hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó về
huyết thống cũng như về kinh tế, cùng chung sống trong một mái nhà, cùng tiến
hành sản xuất và có chung một nguồn thu nhập. Hiện nay, kinh tế hộ gia đình vẫn
đóng vai trò chủ đạo trong NN của huyện bởi truyền thống canh tác lâu đời. Tuy
nhiên, sản phẩm làm ra của các hộ không phải dùng để phục vụ mục đích tự cấp, tự
túc như trước đây mà chuyển sang sản xuất hàng hóa hoặc nhận khoán từ các nông
trường. Nhờ kinh tế hộ gia đình phát triển và thay đổi theo chiều hướng tích cực mà
cuộc sống của người dân trong huyện được cải thiện đáng kể.
- Hợp tác xã: ra đời từ thời kỳ phong kiến, cùng với sự thay đổi về đường lối đổi
mới thì mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta cũng có sự thay đổi về hình thức sở
hữu và phương thức hoạt động.
Năm 1996 nhà nước đã ban hành luật hợp tác xã, quy định cụ thể hình thức
sở hữu và sản xuất của các hợp tác xã. Tuy hiện nay trên địa bàn huyện, số lượng
hợp tác xã đã giảm nhiều, còn lại không đáng kể nhưng hầu hết các hợp tác xã nông
nghiệp trên huyện đã đảm nhiệm những dịch vụ mang tính cộng đồng, trực tiếp
phục vụ sản xuất nông nghiệp. Chất lượng và giá cả dịch vụ do hợp tác xã nông
nghiệp cung ứng nói chung tốt và rẻ hơn so với dịch vụ tư nhân hoặc hộ tự làm.
- Trang trại: là hình thức tổ chức cao hơn hộ gia đình nó là kết quả tất yếu
của nền sản xuất hàng hoá, là hình thức tiến bộ của sản xuất nông nghiệp thế giới.
Tuy mới phát triển từ thập niên 90 của thế kỷ XX, song đã tạo ra những chuyển biến
mới trong nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện để nông nghiệp không chỉ của
huyện Long Thành chuyển biến nhanh sang sản xuất hàng hoá. Việc phát triển trang
trại không chỉ mang lại ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế (mang lại thu nhập lớn) mà
còn có ý nghĩa về mặt xã hội và môi trường sinh thái nông nghiệp. Kinh tế trang trại
đã giải quyết một vấn đề việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời
với việc sử dụng một cách có hiệu quả các tài nguyên đất, trồng rừng và bảo vệ
rừng đã góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trên địa bàn huyện Long Thành, theo số liệu của Phòng Thống kê, hiện nay có
129 trang trại hoạt động trên địa bàn huyện. Phần lớn các trang trại này là những
trang trại có qui mô nhỏ và trung bình, sản xuất đa dạng hóa nhiều loại sản phẩm
NN như chăn nuôi gia cầm (gà, vịt…), thủy sản (nuôi tôm, cá), gia súc (trâu, bò,
dê…) hay kết hợp vừa trồng cây vừa chăn nuôi và kết hợp với du lịch sinh thái
(trang trại Vườn Xoài).
Nông trường quốc doanh: là hình thức tổ chức nông nghiệp rất phổ biến ở
nước ta cũng như của các nước XHCN trên thế giới. Nông trường quốc doanh ra đời
và tồn tại hơn nửa thế kỉ qua, hiện tại đã có những thay đổi về hình thức và chức
năng. Các nông trường được trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, có hướng chuyên
môn hoá rõ, khả năng cơ giới hoá cao. Mỗi nông trường có bộ máy quản lí riêng để
điều hành sản xuất kinh doanh. Lao động làm việc trong nông trường được coi là
công nhân nông nghiệp, được hưởng lương do nhà nước chi trả. Hiện nay nhiều
nông trường đã giao đất đai, vườn cây, đồi rừng cho các hộ gia đình. Một số nông
trường tồn tại dưới sự quản lí của các cá nhân. Đặc biệt khi kinh tế trang trại tỏ ra
ưu thế thì nhiều nông trường quốc doanh với điều kiện đât đai và cơ sở kĩ thuật vốn
có đã nhanh chóng chuyển sang hình thức trang trại.
Trên địa bàn huyện Long Thành, hình thức nông trường còn lại không nhiều.
Nổi bật là Nông trường Cao su Long Thành và Lâm trường Long Thành. Hai nông
trường này cũng đang thay đổi cách quản lí để phù hợp hơn với kinh tế thị trường
và sản xuất hàng hóa, đồng thời nâng cao mức thu nhập cho người dân.
Thể tổng hợp nông nghiệp: là một hình thức khá mới mẻ và manh nha là các
vành đai xanh quanh các thành phố lớn (thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành). Các
thể tổng hợp nông nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ giữa các xí nghiệp nông nghiệp (chủ
yếu là kinh tế hộ gia đình và trang trại) với các xí nghiệp công nghiệp (chủ yếu là công
nghiệp chế biến). Việc hình thành các thể tổng hợp nông nghiệp mang lại ý nghĩa rất
lớn, nó cho phép tận dụng các điều kiện tự nhiên thuận lợi, phát huy vai trò của các đô
thị, thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm đồng thời giải quyết được vấn đề lương thực
thực phẩm, vấn đề việc làm, mang lại hiệu quả và năng suất xã hội.
Nhờ quá trình CNH – HĐH và quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất NN
sang sản xuất CN mà trên địa bàn huyện hình thức này đang ngày càng phát triển
mạnh và thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình.
Sự liên kết giữa các xí nghiệp nông nghiệp và xí nghiệp công nghiệp trên địa
bàn huyện có thể thấy rõ qua các mô hình:
+ Nhà máy Vedan sản xuất ra các sản phẩm bột ngọt, bột nêm… đóng trên địa
bàn đã giúp giải quyết việc làm cho người dân, đồng thời liên kết chặt chẽ với các
hộ gia đình trong việc tiêu thụ sản phẩm (cây khoai mì) và làm tăng ngân sách nhà
nước của huyện.
+ Trang trại bò sữa Long Thành có mối liên hệ mật thiết với các xí nghiệp sản
xuất sữa, bánh kẹo chế biến từ sữa… tạo nên đặc sản của Long Thành và thu hút
nhiều du khách đến tham quan, mua sắm.
c. Về kết quả sản xuất các sản phẩm chủ lực
Trong trồng trọt: sản xuất trồng trọt trong những năm qua đã được chú trọng
phát triển đồng thời theo cả 2 hướng (chiều rộng và chiều sâu) trên cơ sở kết hợp 3
mặt: đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đã
từng bước hình thành được các vùng chuyên canh tập trung như vùng chuyên canh
lúa, vùng chuyên canh cao su, vùng chuyên canh màu… phù hợp với lợi thế của
từng vùng.
- Về sản xuất cây hàng năm: Diện tích giao trồng cây hàng năm của huyện có
xu thế tăng từ 1995 đến 2000, nhưng sau đó đến năm 2005 lại giảm, đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay, diện tích các loại cây hàng năm giảm mạnh hơn, chỉ còn
13.896ha (giảm 3.318ha so với năm 2005). Nguyên nhân chính là do một phần
chuyển qua đất trồng cây ăn quả, đất công nghiệp và đất phi nông nghiệp khác.
+ Nhóm cây lương thực có hạt: có 2 cây trồng chủ lực là lúa và bắp, trong đó
diện tích lúa gieo trồng giảm mạnh, chủ yếu do giảm lúa 1vụ, hiệu quả thấp; diện
tích bắp có nhiều biến động nhưng cũng giảm trong những năm gần đây.
+ Nhóm cây có bột: diện tích giao động mạnh do tác động của thị trường; có 2
cây chính là khoai lang và khoai mì, trong đó cây khoai mì có xu hướng phát triển
ổn định và tăng nhẹ do có nhà máy chế biến đóng ngay trên địa bàn huyện, thị
trường tiêu thụ ổn định, còn cây khoai lang có xu hướng giảm rất nhanh cả về diện
tích lẫn sản lượng tuy năng suất có tăng nhẹ.
+ Nhóm cây thực phẩm, bao gồm đậu đỗ và rau các loại: diện tích đậu giảm
còn các loại rau thì tăng lên do ảnh hưởng của thị trường và hiệu quả kinh tế của
chúng.
+ Nhóm cây công nghiệp hàng năm: bao gồm các cây chính là đậu nành, đậu
phộng, mía và bông vải diện tích không ổn định, trong đó có cả cây bông vải dù đã
có chính sách hỗ trợ của nhà nước .
- Về sản xuất cây lâu năm: diện tích cây lâu năm tăng nhanh nhưng đang có xu
hướng dừng lại. Nguyên nhân là do sự phát triển của công nghiệp và các ngành phi
nông nghiệp khác đã dần lấy mất điện tích đất của nông nghiệp. Có 3 loại cây trồng
chính là: cao su, điều và cà phê. Đây là 3 loại cây công nghiệp phổ biến được trồng
tại huyện, có chất lượng tốt và năng suất cao, góp phần tạo công ăn việc làm và tạo
thu nhập ổn định cho người dân sinh sống trên địa bàn.
Bảng 2.15: diện tích – năng suất - sản lượng
Số
Cây trồng
1995
2000
2005
2006
2007
2008
TT
các cây trồng chính thời kì 1995-2008
Cây hàng
A
DT (ha)
21.319
22.289
17214
15390
14821
13896
năm
Hệ số lần trồng (lần)
1,39
1,54
1,41
Cây
lương
DT (ha)
14.460
15.404
11672
11069
10523
9198
I
thực
1
Lúa
DT (ha)
12.297
11.649
7807
7.251
6726
6256
NS (tấn/ha)
3,16
3,09
3,49
3,96
4,43
4,51
SL (tấn)
38.910
35.943
27234
28.706,7
29.808,4
28.184,0
DT (ha)
2
Bắp
2.163
3.755
3865
3.818
3.797
2.942
NS (tấn/ha)
3,80
3,44
4,16
4,79
5,23
5,3
SL (tấn)
8.219
12.913
16078
18.292
19.875
15.593
Nhóm cây
DT (ha)
3.255
4.724
3.992
3.642
3.590
4.147
II
có bột
3 Khoai mì
DT (ha)
3.069
4.544
3.943
3.597
3.549
4.110
NS (tấn/ha)
9,30
15,61
22,4
22,6
23,0
23,5
SL (tấn)
28.542
70.937
88.323
81.346
81.627
96.585
Khoai
37
DT (ha)
186
180
49
45
41
4
lang
6,61
NS (tấn/ha)
4,50
4,50
5,77
6,1
6,5
244,7
SL (tấn)
843
803
283
274,5
266,5
Cây thực
III
DT (ha)
1.787
1.508
570
590
600
560
phẩm
Đậu các
5
DT (ha)
1.277
1.173
219
249
228
165
loại
NS (tấn/ha)
0,78
0,66
0,78
0,78
0,8
0,82
SL (tấn)
996
780
171
195,2
181,8
135,4
Rau các
6
DT (ha)
510
335
351
341
372
395
loại
NS (tấn/ha)
6,27
6,44
0,87
0,89
0,92
0,96
SL (tấn)
3.198
2.156
3.055
3.039
3.431
3.771
Cây
IV
DT (ha)
1.817
653
203
79
81
64
CNHN
7 Đậu nành DT (ha)
375
220
5
4
4
23
NS (tấn/ha)
0,98
0,78
1,05
1,05
1,05
1,08
SL (tấn)
368
171
5
4,2
4,2
24,8
Đậu
8
DT (ha)
407
159
55
42
54
40
phộng
NS (tấn/ha)
0,78
0,81
0,86
0,87
0,89
0,92
SL (tấn)
317
128
48
36,5
48
36,7
DT (ha)
145
112
60
9 Mía
NS (tấn/ha)
44,00
45,00
55
SL (tấn)
6.380
5.040
3.300
890
162
68
10 Bông vải
DT (ha)
22
18
NS (tấn/ha)
1,00
1,05
1,17
1,3
1,3
SL (tấn)
890
170
79
28,6
23,4
Cây lâu
B
DT (ha)
17.746
19.241
18.439
19.131
19.072
19.334
năm
Cây
I
DT (ha)
16.679
17.842
16.414
17.023
16.924
17.081
CNLN
992
934
934
TDT (ha)
1.548
1.094
1.022
Cà phê
1
992
934
934
DTT (ha)
267
622
930
1,65
1,65
1,7
NS (tấn/ha)
1,50
1,61
1,65
SL (tấn)
401
1.001
1.535
1.636,8
1.541,1
1.588
11.939
12.096
2
Cao su
TDT (ha)
12.567
12.945
11.975
12.002
11.003
11.890
DTT (ha)
11.976
12.404
11.836
11.836
1,74
1,49
NS (tấn/ha)
1,03
1,23
1,32
1,52
SL (tấn)
12.335
15.221
15.624
18.067
19.145
17.716
3.906
3.906
TDT (ha)
2.564
3.803
3.282
3.894
3 Điều
3.510
3.524
DTT (ha)
5.709
3.539
3.013
3.125
1,09
1,2
NS (tấn/ha)
0,40
0,64
0,98
1,17
3.826
4.229
SL (tấn)
2.284
2.277
2.953
3.656
Cây ăn
II
DT (ha)
1.067
1.399
2025
2108
2148
2253
quả
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
- Nhóm cây ăn trái: Long Thành vốn là huyện có truyền thống trồng cây ăn trái
với những sản phẩm nổi tiếng như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ…
Trong những năm gần đây, cùng với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của
huyện, thị trường trấi cây phục vụ khách du lịch dọc quốc lộ 51 tăng nhanh là điều
kiện thuận lợi để diện tích cây ăn trái của huyện tăng mạnh. Trong những năm tới,
thị trường cây ăn trái của huyện sẽ có khả năng mở rộng. Vì vậy cây ăn trái sẽ là
cây mũi nhọn trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện, nhất là các xã
dọc sông Đồng Nai.
Về chăn nuôi: Long Thành là một trong những huyện của tỉnh Đồng Nai có
tiềm năng chăn nuôi lớn, nhất là chăn nuôi bò, heo, gà và vịt đàn. Trong những năm
qua, chăn nuôi của huyện đã có những bước chuyển biến đáng kể cả về qui mô đàn
lẫn phương thức chăn nuôi. Kết quả đạt được cụ thể như sau:
- Đàn trâu: có xu hướng giảm mạnh do máy móc đang thay thế dần sức kéo,
nguồn thức ăn xanh cũng như điều kiện chăn thả bị thu hẹp. Trong những năm gần
đây, số lượng đàn trâu giảm với tốc độ chậm lại do nhu cầu về thịt trâu trên thị
trường đang có xu hướng tăng dần.
Bảng 2.16: Một số kết quả ngành chăn nuôi huyện Long Thành
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2005
2006
2007
2008
I. Số lượng đàn
1. Trâu
168
620
594
596
405
con
1619
2. Bò
9.619
10.972
17.914
16.844
11.737
con
8970
con
800
- Trong đó bò sữa
1.584
1.954
2.039
2.130
1.853
3. Heo
con
29141
43194
82.648
90.838
82.673
88.787
4. Gia cầm
340
1000con
1724
852.721
506.337
595.031
600.256
284
- Trong đó đàn gà
1000con
1622
802.724
438.523
534.500
571.682
II. Sản lượng sản
phẩm
174
1. Thịt trâu, bò hơi
tấn
168
143
152
156
80
3030
2. Thịt heo
tấn
6530
12.756
14.010
14.130
8.317
675
3. Thịt gia cầm
tấn
1152
1.006
976
1.709
1.007
4. Trứng gia cầm
1000quả
2089
6200
5.680
4.750
5.900
3.200
III. Giá trị sản xuất
tỉ đồng
50,4
89,2
140.592
149.147
164.266
192.911
Thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
- Đàn bò: trước năm 2006, tốc độ tăng rất cao, nhất là bò sữa (luôn dẫn đầu
trong tỉnh) nhưng từ 2006 trở lại đây, số lượng đàn bò giảm liên tục (kể cả bò sữa)
cho thấy sự bấp bênh về thị trường đối với mặt hàng này. Thế nhưng về số lượng
đàn, huyện vẫn dẫn đầu tỉnh, đặc biệt là về bò sữa. Tuy nhiên, chăn nuôi bò sữa đòi
hỏi kĩ thuật cao và vốn lớn, hiệu quả cũng không ổn định nên chủ trương của huyện
là tập trung phát triển bò thịt.
- Đàn heo: không ổn định dù trên huyện xuất hiện ngày càng nhiều các trang
trại nuôi heo có qui mô lớn (hàng ngàn con). Hiện toàn huyện có gần 60 trang trại
nuôi heo / 129 trang trại chăn nuôi trong toàn huyện. Tuy nhiên, do đặc tính thịt
lành, gắn liền với truyền thống chăn nuôi của bà con nông dân nên thịt heo vẫn là
một sản phẩm được thị trường ưa chuộng (trải qua đợt dịch Heo tai xanh lại có xu
hướng tăng nhanh).
- Đàn gia cầm: từ 1995-2002, tăng rất nhanh, chủ yếu là đàn gà nuôi công
nghiệp nhưng do ảnh hưởng từ dịch cúm gia cầm nên số lượng đã có phần giảm
xuống. Trong 2 năm trở lại đây, do nhu cầu của thị trường và dịch cúm đã được
kiểm soát nên số lượng đàn gia cầm cũng như trứng của chúng đã tăng trở lại.
Về lâu dài, Long Thành sẽ trở thành khu vực có tỉ lệ đô thị cao, các hoạt động
sinh thái sẽ phát triển mạnh. Vì vậy phải tiến hành qui hoạch chi tiết lại ngành chăn
nuôi để vừa đảm bảo phát huy lợi thế của huyện với vành đai thực phẩm, vừa đảm
bảo yêu cầu về cảnh quan và môi trường sinh thái.
Lâm nghiệp: đối với một huỵên có hơn 70% diện tích tự nhiên là đồi và trên
60% diện tích đất tự nhiên là đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị rửa trôi, xói
mòn trong mùa mưa, đồng thời có nhiều khu công nghiệp và đô thị đã, đang và sẽ
hình thành nên rừng có một vai trò đặc biệt quan trọng. Trong những năm qua,
huyện Long Thành đã chú trọng đầu tư cho công tác trồng và bảo vệ rừng, do đó đất
rừng của huyện tăng từ 3.156ha năm 1995 lên 4.724ha năm 2000. Từ sau 2000, diện
tích rừng của huyện có xu thế giảm, năm 2008 chỉ còn 3.206 ha (độ che phủ chỉ đạt
41,5%).
Nuôi trồng thủy sản: tập trung phát triển ở ven sông Đồng Nai thuộc các xã:
Long Hưng, An Hòa, Tam An, Tam Phước. Năm 2005, toàn huyện có 445ha mặt
nước nuôi trồng thủy sản, tăng 237ha so với năm 1995 và hiệu quả kinh tế của các
hộ nuôi trồng thủy sản khá cao. Gần đây, do ảnh hưởng về mặt môi trường nên một
số diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện đã bị thu hẹp và cần có những biện pháp
xử lí nghiêm minh của cơ quan quản lí nhà nước và pháp luật.
Bảng 2.17: Sản lượng và diện tích ngành nuôi trồng thủy sản
Chỉ tiêu
Đơn vị
2005
2006
2007
2008
Diện tích nuôi trồng
Ha
472
480
510
424
- Trong đó: tôm
Ha
275
276
297
234
Sản lượng nuôi trồng
tấn
605
680
780
825
- Trong đó: tôm
tấn
189
210
240
255
Huyện Long Thành thời kì 2005-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Có thể thấy được tình hình sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn huyện
Long Thành qua bản đồ sau:
Hình 2.15: Bản đồ hiện trạng phân bố các ngành sản xuất
huyện Long Thành (2008)
(Nguồn: Phòng Kinh tế huyện Long Thành)
2.3.2.4. Các lĩnh vực xã hội khác
Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công
nghiệp trên huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai đã không chỉ làm cho số lượng máy
móc, trang thiết bị và sản phẩm của chính ngành công nghiệp tăng lên mà còn góp
phần thúc đẩy các ngành khác, đặc biệt là nông nghiệp cũng được hỗ trợ đắc lực,
góp phần làm tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Kết quả là lượng
hàng hóa làm ra nhiều nhưng không mất nhiều công lao động. Đồng thời trong quá
trình này, nhiều ngành kinh tế mới được hình thành và nhiều sản phẩm mới được
làm ra để phục vụ nhu cầu của con người... Chính những yếu tố này đã tạo nên
những ảnh hưởng tích cực đến lĩnh vực xã hội:
- Mức sống của người dân đã được cải thiện một cách đáng kể:
+ Thu nhập của người dân đã được nâng lên (thể hiện qua thu nhập bình quân
đầu người năm 1995 là 340USD, đến năm 2008 là 1.286,7USD, gấp gần 4 lần).
+ Hàng hóa và dịch vụ phục vụ cuộc sống nhiều, đa dạng về chủng loại, chất
lượng ngày càng được cải thiện và phù hợp với nhu cầu của nhiều tầng lớp dân cư.
- Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong quá trình chuyển đổi sản xuất đòi
hỏi phải có một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao và luôn
đảm bảo về chất lượng và số lượng nên nhà nước đã có những chính sách thích hợp
làm cho trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, giáo dục, y tế cũng được đảm
bảo; đồng thời thu hút được một lực lượng lao động lớn nhập cư vào huyện (năm
2008, tốc độ tăng dân số của huyện là 3%, trong đó tăng dân số cơ học chiếm
1,9%).
- Quá trình chuyển đổi sản xuất góp phần xây dựng một xã hội ổn định nhờ
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân với những hàng hóa và dịch vụ được
đáp ứng một cách phù hợp và quan trọng là tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm
ổn định cho người lao động, giải quyết vấn đề thất nghiệp do gia tăng dân số đem
lại.
- Quá trình này cũng tạo ra sự chuyển dịch trong cơ cấu lao động phân theo
ngành kinh tế (giảm mạnh trong nông nghiệp, tăng trong công nghiệp và dịch vụ,
năm 2008, số người lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 27,6%, công nghiệp
chiếm 44,8% và dịch vụ 27,6% trong khi năm 1995 các chỉ số tương ứng là: 85,6%
- 6,6% và 7,8%). Có sự chuyển dịch như vậy là do sự phát triển của công nghiệp tạo
máy móc và những vật dụng cần thiết, giải phóng sức lao động trong nông nghiệp
và các ngành sản xuất, đồng thời chính công nghiệp cũng tạo ra một lượng lớn việc
làm và thúc đẩy dịch vụ phát triển...
- Đối với người dân ở nông thôn, quá trình này đã giúp họ giải phóng sức lao
động, hỗ trợ bảo quản, chế biến làm nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tìm kiếm
thị trường. Sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ đã đưa lối sống thành thị
về nông thôn (quá trình điện khí hóa với các sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ
có thể giúp người nông dân tận hưởng cuộc sống thành thị: không trực tiếp vận
chuyển và trao đổi nông sản, vẫn có thiết bị hiện đại phục vụ cuộc sống như tủ lạnh,
ô tô, máy giặt,...) làm cho người nông dân yêu hơn cuộc sống ở thôn quê, bám đất,
bám ruộng và không bỏ quê ra tỉnh.
- Nhờ có một lượng lớn người dân nhập cư đến để phục vụ cho quá trình
chuyển đổi sản xuất trên nên huyện có một nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc.
Bên cạnh đó, những người nhập cư cũng có những đóng góp tích cực cho sự phát
triển kinh tế của huyện bởi chủ yếu họ là những người trong độ tuổi lao động, có
sức khỏe và trình độ để làm việc và để cống hiến...
- Nhờ kinh tế phát triển, các hạng mục về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ
thuật sẽ được đầu tư tốt hơn để phục vụ sản xuất, qua đó con người cũng được
hưởng một phần lợi ích để phục vụ cho đời sống của chính mình.
- Cuộc sống được ổn định, con người cũng có cơ hội và khả năng quan tâm,
đáp ứng nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống. Do đó, các vấn đề khác của xã hội
như giáo dục, y tế… cũng được nâng cao.
- Đẩy nhanh quá trình đô thị hóa ở nông thôn nhờ kinh tế phát triển nhanh,
việc hình thành các khu và cụm công nghiệp tập trung đã thu hút dân cư từ nông
thôn đến nên quá trình đô thị hóa cũng phát triển.
Cụ thể, thành tựu trong các lĩnh vực như sau:
a. Giáo dục đào tạo
Quá trình CNH – HĐH diễn ra đã làm cho công tác giáo dục – đào tạo của
huyện trong những năm qua được chú trọng phát triển cả về mặt số lượng cũng như
chất lượng và đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.18: Tình hình giáo dục – Đào tạo huyện Long Thành
Thực hiện
TT
Chỉ tiêu
Đơn vị
1995
2000
2005
2008
I
Học sinh
41790
48510
48993
50.582
1
Nhà trẻ
H. sinh
102
87
124
2
Mẫu giáo
H. sinh
2625
3312
4592
8.048
3
Tiểu học
H. sinh
24866
24087
19557
19.704
4
THCS
H. sinh
11175
15773
17676
15.800
5
THPT
H. sinh
3022
5251
7044
7.010
II
Lớp học
1054
1302
1520
1.611
1
Mẫu giáo
Lớp
85
113
225
351
2
Tiểu học
Lớp
674
732
709
688
3
THCS
Lớp
232
353
441
413
4
THPT
Lớp
63
104
145
159
III
Giáo viên
G. viên
1084
1477
2013
2.408
1
Nhà trẻ
G. viên
11
10
17
2
Mẫu giáo
G. viên
64
67
143
484
3
Tiểu học
G. viên
598
734
820
808
4
THCS
G. viên
334
546
858
785
5
THPT
G. viên
77
120
175
331
47
63
71
79
IV
Số điểm trường
Trường
1
Mẫu giáo
Trường
15
19
19
26
2
Tiểu học
Trường
16
26
29
30
3
TH+THCS
Trường
9
0
4
THCS
Trường
4
14
17
17
5
THPT
Trường
2
3
5
5
6
GDTX
Trường
1
1
1
1
thời kì 1995-2008
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Long Thành
Công tác xây dựng, tu bổ cơ sở vật chất, thiết bị trường học được tăng cường,
về cơ bản đảm bảo nhu cầu dạy và học. Đến nay, đã có 36% trường lớp được kiên
cố hóa, 98% giáo viên được chuẩn hóa, 5 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó
trường tiểu học Tân Mai được tỉnh công nhận đạt chuẩn Xanh - Sạch - Đẹp; có trên
30% giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và soạn bài bằng máy vi
tính; 100% các trường THCS và THPT được trang bị phòng máy vi tính để giảng dạy.
Kết quả năm học 2008-2009, tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học
đạt 99,3% (giảm 0,7% so với năm học trước), xét tốt nghiệp THCS cho 3.192/3.367
học sinh đạt 94,8% (giảm 1,2%), tỉ lệ tốt nghiệp THPT đạt 73,93% (tăng 7,97% so
với học sinh tốt nghiệp lần 1 năm 2008).
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, THCS được duy trì và giữ vững ở 19/19
xã và thị trấn. Công nhận thêm 3 xã còn lại của huyện đạt chuẩn phổ cập THPT (đạt
100% số xã và thị trấn trong huyện)
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác giáo dục còn một số hạn chế như: một số
trường còn thiếu phòng thiết bị thí nghiệm thực hành, cơ sở vật chất và nhất là diện
tích đất còn thấp so với yêu cầu trường chuẩn quốc gia; kết quả vận động học sinh
bỏ học trở lại lớp đạt thấp, ở bậc tiểu học vận động được 8/18 học sinh đạt 44,44%,
bậc THCS 18/208 em (đạt 6,85%) mà nguyên nhân chủ yếu là do các em học kém
và thiếu sự quan tâm của gia đình.
b. Y tế
Nhằm góp phần nâng cao trí lực và thể lực cho toàn dân, phục vụ tốt hơn cho
quá trình thực hiện CNH – HĐH, trong những năm qua, ngành y tế đã tập trung mọi
nỗ lực thực hiện tốt các chương trình y tế như:
- Về thực hiện chương trình y tế quốc gia: ngành y tế đã tập trung chỉ đạo thực
hiện đồng bộ các chương trình gồm: tiêm chủng mở rộng đủ 6 loại vacin cho trẻ em
từ 1-6 tuổi, đạt 100%; tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ mang thai và phụ nữ từ 15-35
tuổi vượt so với kế hoạch đề ra; tổ chức tập huấn và thường xuyên kiểm tra vệ sinh
an toàn thực phẩm; triển khai tốt các biện pháp phòng chống sốt rét, bảo đảm không
có dịch xảy ra; duy trì thường xuyên phong trào kế hoạch hóa gia đình; làm tốt
phong trào y tế và vệ sinh học đường… Đồng thời, trong những tháng đầu năm
2009, huyện đã xây dựng kế hoạch phòng chống dịch cúm A (H1N1) ở người, giám
sát, theo dõi tình hình sức khỏe của những người có nguy cơ nhiễm bệnh; triển khai
các chiến dịch diệt lăng quăng, phòng chống sốt xuất huyết.
- Về công tác khám và điều trị bệnh: năm 2005 đã khám và điều trị bệnh cho
trên 410 ngàn người, thực hiện khám và cấp thuốc miễn phí cho các xã vùng sâu
vùng xa, khám và cấp thuốc từ thiện cho người cao tuổi và cho các cháu ở Cô nhi
viện Hoa Mai…
- Công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi luôn được quan
tâm, kết quả tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi này bị suy dinh dưỡng còn chiếm khoảng
14,13% (giảm 1% so với năm 2007); thực hiện tháng an toàn vệ sinh thực phẩm
trong tháng 6 năm 2009 đã tiến hành kiểm tra 23 bếp ăn tập thể trên địa bàn huyện
và 2.707 lượt cơ sở kinh doanh hàng thực phẩm, xử lí 82 cơ sở vi phạm; kiểm tra 63
cơ sở hành nghề y tế tư nhân và xử lí 1 trường hợp vi phạm.
Bên cạnh đó, ngành còn tích cực triển khai đưa bác sĩ về công tác tại các tuyến
y tế cơ sở. dến năm 2008 đã có 18/19 trạm y tế xã, thị trấn có bác sĩ thường trực.
c. Văn hóa, thông tin, thể thao
Các hoạt động văn hóa - thông tin - thể dục - thể thao trên địa bàn huyện ngày
càng phong phú, đa dạng và đã đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Duy trì tốt các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư và đến nay, toàn huyện đã có 90% khu phố, ấp được công nhận là khu
phố, ấp văn hóa (năm 2008), 11 xã được công nhận là làm tốt công tác phòng chống
ma túy và tệ nạn mãi dâm; 54 cơ quan, đơn vị được công nhận là cơ quan đạt tiêu
chuẩn văn hóa; trên 93% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.
- Toàn huyện có 1 thư viện và 13 phòng đọc sách ở các xã với trên 65 ngàn
sách các loại phục vụ độc giả. Ở mỗi xã đều có đội văn nghệ quần chúng. Phong
trào thể dục thể thao thu hút 25% số dân tham gia luyện tập. Số xã có đài truyền
thanh đạt 100%, bảo đảm được yêu cầu thông tin, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ
chính trị của địa phương. Năm 2005, huyện đã đầu tư và xây dựng một số hạng mục
sân vận động và nhà thi đấu huyện Long Thành và đến nay đã đưa vào sử dụng,
phục vụ người dân.
- Các phong trào thể dục - thể thao được duy trì thường xuyên, đặc biệt huyện
đã tích cực tham gia các hội thao do tỉnh tổ chức. Phong trào rèn luyện sức khỏe
trong học đường cũng được quan tâm.
d. Thực hiện chính sách xã hội
Trong những năm qua, huyện đã tập trung cho chương trình giải quyết việc
làm cho lao động (3-7 ngàn lao động được giải quyết việc làm hàng năm); xây dựng
quĩ đền ơn đáp nghĩa; xây dựng nhà tình thương, tổ chức dạy nghề cho hàng ngàn
lượt người; triển khai tốt chương trình xóa đói giảm nghèo… Có được sự thành
công này là do các Ban ngành của huyện đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ và vận
động được nhiều mạnh thường quân là các công ty đóng chân trên địa bàn giúp đỡ
về mặt kinh phí và giải quyết lao động.
2.3.2.5. An ninh quốc phòng
Công tác an ninh chính trị trên địa bàn huyện thường xuyên được tăng cường,
số các vụ án có chiều hướng giảm. Công tác tuyển quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu
100% ở cả 2 cấp. Phối hợp với các ngành tiến hành diễn tập đạt kết quả cao. Gần
đây, các đơn vị và doanh nghiệp đều duy trì tốt đội dân quân tự vệ và hàng năm
huyện đều tổ chức dạy và học quốc phòng cho hầu hết các cán bộ, công nhân viên
chức…(tháng 7 năm 2009)
2.3.2.6. Kết cấu hạ tầng
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thành một huyện sản xuất công nghiệp,
tiến tới hình thành khu đô thị công nghệ cao, Long Thành đã được đầu tư xứng tầm
và là một trong những huyện của tỉnh Đồng Nai có điều kiện thuận lợi nhất trong
việc phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó:
a. Mạng lưới giao thông
- Giao thông đường bộ: tổng chiều dài 633,3km. Trong đó: quốc lộ có 2 tuyến,
đường tỉnh có 2 tuyến, đường huyện có 28 tuyến và các đường nông thôn. Các chỉ
số trung bình quân đều tương đương mức bình quân của tỉnh nhưng lại thấp hơn
mức bình quân của cả nước. Trong tương lai, các tuyến đường mới được hình thành
sẽ là cơ sở cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện.
- Đường thủy: có 2 tuyến đường chính trong phạm vi của huyện là sông Đồng
Nai và sông La Buông, nhưng mức độ khai thác vận chuyển hiện nay chưa cao do
còn thiếu cảng cũng như các phương tiện bốc dỡ trên cảng. Hướng lâu dài, dự kiến
đầu tư xây dựng cảng mới ở xã Tam An và nâng cấp cảng Gò Dầu để nâng cao khả
năng vận tải của đường thủy.
b. Thủy lợi
Trên địa bàn huyện hiện có 16 công trình thủy lợi, gồm 1 trạm bơm điện, 7 đập
dâng, 2 đập ngăn mặn và 6 kênh tiêu với năng lực phục vụ: tưới 1,458ha, tiêu 60ha
và ngăn mặn 216ha. Vấn đề đặt ra với công tác phát triển thủy lợi của huyện hiện
nay là thiếu các công trình tạo nguồn và hệ thống kênh tưới, tiêu nước, đặc biệt là
các xã dọc sông Đồng Nai.
c. Hệ thống nước công nghiệp và sinh hoạt
Cấp nước công nghiệp: hiện nay huyện có 1 hệ thống cấp nước của khu công
nghiệp Vedan với 20 giếng khoan có tổng công suất 5-10 ngàn m3/ngày.
Cấp nước sinh hoạt: trên địa bàn huyện hiện có 2 giếng khoan công nghiệp (tại công ty bò sữa An Phước có lưu lượng 7-8m3/giờ và giếng khoan tại thị trấn Long Thành có lưu lượng 20m3/giờ) nhưng cả 2 giếng khoan này đều không được sử
dụng. Đa số nhân dân đều sử dụng nước giếng đào hay giếng khoan tay. Tỉ lệ hộ gia
đình sử dụng nước hợp vệ sinh năm 2003 là 87%, tăng 11% so với năm 2000 và cao
hơn mức bình quân chung toàn tỉnh (85%).
d. Cung cấp điện
Nguồn điện: nguồn cung cấp điện cho huyện Long Thành bao gồm từ lưới điện
quốc gia và tứ các máy phát điện dự phòng của một số doanh nghiệp.
Các trạm phân phối trung gian: trạm Long Bình cấp điện cho thành phố Biên
Hòa, huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch;trạm Gò Dầu cấp điện cho khu công
nghiệp Gò Dầu và 2 huyện Long Thành, Nhơn Trạch; trạm Vedan cấp điện cho khu
công nghiệp Vedan (từ tháng 6/2000 nhà máy Vedan đã không sử dụng nguồn lưới
điện này).
Các tuyến trung thế: tuyến 475 Phước Bình (220KV) cấp điện cho 10 xã;
tuyến 571 tổng kho thuộc trạm trung gian Long Bình cấp điện cho 9 xã.
Các tuyến hạ thế: đến nay toàn huyện có khoảng 180 km đường dây trung thế,
trên 200km đường dây hạ thế. Về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu sử dụng điện phục vụ
sinh hoạt, hướng tới tập trung đầu tư phục vụ cho nhu cầu sản xuất, đặc biệt là các
khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ và các vùng sản xuất tập trung.
Tình hình cung cấp điện: năm 2008 có 19/19 xã và thị trấn (đạt 100%) và
97,9%số hộ trong huyện được cấp điện, tăng rất nhanh so với thời kì trước (87% -
năm 2000).
e. Hạ tầng bưu chính viễn thông
Toàn huyện có 1 bưu điện trung tâm và 4 bưu cục và 16 điểm bưu điện văn
hóa xã, bình quân 100 người dân có 20 máy điện thoại, 19/19 xã, thị trấn có loa
truyền thanh.
f. Trường học
Năm học 2008-2009, toàn huyện có 26 trường mầm non, 30 trường tiểu học,
17 trường THCS và 5 trường THPT.
Về cơ sở vật chất trường lớp trên địa bàn huyện trong những năm qua đã được
tăng cường đáng kể thông qua đầu tư từ ngân sách và sự đóng góp của công tác xã
hội hóa giáo dục, đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu dạy và học của học sinh.
Tuy nhiên, so với nhu cầu phát triển thì vẫn còn những khó khăn và hạn chế như
một số phòng học còn là nhà tạm, hầu hết các trường đều thiếu các phòng chức
năng và thiết bị giảng dạy.
Về diện tích đất bình quân/1 học sinh thì mầm non là 26,4m2, tiểu học là 13,4m2, THCS là 9,2m2, THPT là 11,5m2. Như vậy, so với tiêu chuẩn xây dựng
Việt Nam thì chỉ có đất đối với học sinh mầm non là đạt tiêu chuẩn, còn lại chỉ đạt
½ tiêu chuẩn. Hầu hết các trường đều thiếu sân chơi, bãi tập và khuôn viên cây
xanh, rất khó khăn để học sinh có một môi trường theo chuẩn quốc gia để học tập
và rèn luyện. Sự phát triển kinh tế - xã hội trong tiến trình CNH – HĐH càng làm
cho diện tích đất bị thu hẹp nhưng huyện cũng đang có những cố gắng thiết thực
nhằm cải thiện tình hình trên.
g. Bệnh viện, trạm xá
Cơ sở vật chất ngành y tế đã được tăng cường một bước, gồm có 1 bệnh viện,
một phòng khám khu vực và 19 trạm y tế xã, thị trấn đã được xây dựng kiên cố
hoặc bán kiên cố, nhưng trang thiết bị của hầu hết các cơ sở còn thiếu và lạc hậu.
h. Công trình văn hóa, thể thao
Các công trình văn hóa: hiện trên địa bàn huyện đã có trung tâm văn hóa
huyện Long Thành và 9 trung tâm văn hóa xã, đáp ứng và phục vụ tốt hơn cho nhu
cầu vui chơi, giải trí lành mạnh của người dân.
Các công trình thể dục - thể thao: trên địa bàn huyện hiện có 9 công trình thể
dục thể thao, gồm: trung tâm thể dục - thể thao huyện Long Thành, sân golf Huy
Hoàng và 16 xã đã có sân bóng đá, trong đó có 8 cần mở rộng qui mô diện tích và
tất cả các sân cần phải đầu tư nâng cấp về mặt kĩ thuật.
i. Mạng lưới chợ và cây xăng
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và những ảnh hưởng của nó tới đời sống
xã hội đã làm cho mạng lưới chợ và cây xăng ở huyện tăng lên nhanh chóng, đáp
ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân cũng như doanh nghiệp:
Mạng lưới chợ: toàn huyện có 15 chợ với trên 2.050 sạp và hộ kinh doanh,
trong đó có 2 chợ loại 1 và 2 thuộc huyện quản lí và 12 chợ loại 3 do xã quản lí.
Trong số 15 chợ chỉ có 6 chợ được xây dựng kiên cố và đã ổn định, 1 chợ tiếp tục
đầu tư giai đoạn II, 2 chợ phải di dời, giải tỏa, 6 chợ phải đầu tư nâng cấp. Nhìn
chung, hầu hết chợ đều chưa đảm bảo về điều kiện vệ sinh cũng như phòng cháy
chữa cháy.
Mạng lưới cây xăng: toàn huyện hiện có 34 cây xăng, phân bố trên địa bàn 13
xã và thị trấn.
Như vậy, quá trình CNH – HĐH đất nước đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi
kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp tại huyện Long Thành
tỉnh Đồng Nai. Hai quá trình này tác động song song, cùng lúc và tạo ra những
chuyển biến tích cực cả về mặt kinh tế lẫn xã hội trên địa bàn huyện rất đáng
ghi nhận.
2.3.2. Những vấn đề tồn tại trong quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thời
kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Bên cạnh những tác động tích cực đến các ngành kinh tế, quá trình chuyển đổi
sản xuất cũng có những ảnh hưởng mang tính chất hạn chế ở các mặt sau:
* Về kinh tế:
- Dễ nhận thấy nhất đó là sự phát triển thiếu đồng bộ của các ngành kinh tế.
Nông nghiệp từ chỗ được đầu tư và quan tâm nhất nay trở thành một ngành nhận
được ít sự chú ý nhất. Điều đó tạo nên một cái nhìn không khách quan trong người
lao động, nhất là những người làm nông nghiệp: họ dễ rơi vào một tình trạng bi
quan (nhất là khi sản phẩm nông nghiệp hay ở thế bấp bênh, phụ thuộc vào tự nhiên
và cả thị trường), dẫn đến tình trạng bỏ ruộng, bỏ vườn đi tìm việc khác trên các
khu đô thị, ở đó có công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh (tạo nên sự đô thị hóa tự
phát), ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
- Cơ cấu sử dụng đất có nhiều thay đổi: đất dành cho nông nghiệp bị giảm sút
nghiêm trọng, ngược lại đất để ở, đất dành cho các công trình xây dựng và các nhà
máy lại tăng lên dẫn đến một thực trạng là người nông dân bị mất đất canh tác,
không có việc làm và dồn về các khu đô thị hoặc các khu công nghiệp tìm việc, gây
nên tình trạng mất ổn định và tạo ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp như vấn đề giải
quyết việc làm, nhà ở, văn hóa, giáo dục, y tế và tệ nạn xã hội...
- Sự tập trung các khu và cụm công nghiệp chủ yếu ở một số địa phương thích
hợp (thường ven quốc lộ 51) đã tạo ra một sự phát triển thiếu đồng bộ giữa các địa
phương trong huyện: các xã có các khu và cụm công nghiệp trên địa bàn thường có
tốc độ phát triển nhanh, được đầu tư về nhiều mặt; ngược lại các xã không có quốc
lộ 51 chạy qua, chủ yếu phát triển ngành nông nghiệp thì tốc độ phát triển lại chậm
và thường được xem là những xã vùng sâu vùng xa và xuất hiện nhiều hộ có hoàn
cảnh khó khăn. Đây cũng là một vấn đề nan giải mà quá trình chuyển đổi sản xuất
từ nông nghiệp sang công nghiệp mà huyện đang tìm cách để giải quyết.
- Do nhận được nhiều sự đầu tư về vốn và khoa học kĩ thuật từ bên ngoài cũng
như phải cạnh tranh khốc liệt với các vùng khác nên sự phát triển kinh tế cũng gặp
nhiều bấp bênh, lệ thuộc vào nhà đầu tư và thị trường, đồng thời đòi hỏi phải có một
cơ chế quản lí và giám sát chuyên nghiệp để kiểm định chất lượng các loại máy
móc, nếu không rất dễ gây ô nhiễm môi trường và biến các khu công nghiệp trở
thành bãi rác về công nghệ. Chính điều này làm cho sự phát triển của nền kinh tế
khó đạt được sự bền vững trong cả ngành nông nghiệp lẫn công nghiệp.
- Cơ chế quản lí đối với các ngành kinh tế còn hạn chế (trong nông nghiệp
chưa có chính sách thích hợp để khuyến khích người dân yên tâm sản xuất, chưa có
cơ chế quản lí đất nông nghiệp chặt chẽ dẫn đến đất bị bỏ hoang hoặc sử dụng sai
mục đích, chưa có chế độ kiểm định chất lượng các sản phẩm nông sản trước khi
đưa ra thị trường...; trong công nghiệp chưa có cơ chế quản lí chặt chẽ về mức độ
thân thiện với môi trường, các chính sách thu hút và quản lí vốn đầu tư chưa thực sự
làm các nhà đầu tư yên tâm, cơ chế quản lí chất lượng sản phẩm còn yếu kém...)
làm cho uy tín và chất lượng sản phẩm chưa đảm bảo nên giảm khả năng cạnh tranh
trên thị trường.
* Về xã hội: Trong quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất công nghiệp, huyện Long Thành vẫn có một số vấn đề xã hội chưa giải
quyết được và thậm chí đang ngày càng trở nên cấp thiết hơn đòi hỏi các nhà quản lí
và các tổ chức xã hội cần phải quan tâm xem xét và tìm ra biện pháp xử lí:
- Sự phát triển kinh tế đã làm cho mức sống của người dân ngày càng chênh
lệch.
- Tỉ lệ dân di cư vào huyện ngày càng đông đã tạo ra những vấn đề cần giải
quyết về việc làm, nhà ở, thu nhập.
- Tỉ lệ đất trong nông nghiệp giảm sút, bị bỏ hoang và chưa sử dụng đúng mục
đích ngày càng nhiều.
- Tệ nạn xã hội vẫn tồn tại và ngày càng trầm trọng, nguy hiểm hơn.
- Cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và
đời sống của người dân.
- Môi trường ngày càng ô nhiễm và khó có khả năng phục hồi.
2.3.2.1. Ô nhiễm môi trường
Theo điều tra của phòng Tài nguyên môi trường huyện Long Thành, tình hình
cấp thoát nước và môi trường của huyện như sau:
- Khu vực thị trấn Long Thành: trừ đoạn quốc lộ 51 nằm trong phạm vi thị trấn
đã có hệ thống thoát nước, các khu vực còn lại chưa có hệ thống thoát nước thải.
Hầu hết nước thải từ các hộ gia đình chưa được xử lí và để chảy trản trên mặt đất.
- Khu vực dân cư nông thôn: nhìn chung khu vực dân cư nông thôn chưa có hệ
thống thoát và xử lí nước thải; chuồng trại chăn nuôi của nhiều hộ xây dựng không
đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường; hầu hết nông dân sử dụng hố xí tự
thấm có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến nguồn nước ngầm tầng nông đang sử
dụng.
- Các khu công nghiệp tập trung: theo báo cáo của Ban quản lí các khu công
nghiệp tỉnh Đồng Nai, việc xử lí các loại chất thải của các khu công nghiệp được
thực hiện nghiêm túc theo đúng tiêu chuẩn của nhà nước qui định, cụ thể: Các chất
thải rắn không độc hại được thu gom và xử lí tập trung, các chất thải rắn độc hại
được quản lí và xử lí theo qui định nghiệm ngặt, nước thải của từng doanh nghiệp
được xử lí nội bộ đạt tiêu chuẩn qui định trước khi thải ra môi trường hay được đưa
vào hệ thống xử lí tập trung. Tuy nhiên, nước thải từ một số nhà máy vẫn chưa đạt
tiêu chuẩn qui định đã xả ra môi trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất
và sinh hoạt của người dân và nguy hại đến tài nguyên môi trường.
Chính thực tế trên đã làm cho môi trường của huyện bị ô nhiễm trầm trọng:
Trước khi thực hiện quá trình CNH – HĐH, ngành nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp của huyện cũng đã tạo ra các chất thải làm tổn hại đến môi trường (các loại
phân bón trong nông nghiệp, rác thải, khí thải, hóa chất từ các cơ sở sản xuất tiểu
thủ công nghiệp như nhuộm, sản xuất gạch ngói…) và chất thải sinh hoạt của người
dân. Từ khi thực hiện CNH – HĐH theo chủ trương của nhà nước và của tỉnh cùng
với những chính sách riêng của huyện, các ngành công nghiệp đã phát triển mạnh
hơn trước, kèm theo đó là những vấn đề về ô nhiễm môi trường:
+ Môi trường không khí: bị ô nhiễm trầm trọng hơn trước do khí thải của các
nhà máy (mà hầu hết là không có hệ thống xử lí mà thải trực tiếp vào bầu khí
quyển), cát bụi và các chất thải nhẹ theo đà phát triển của các ngành xây dựng, giao
thông vận tải cũng có hàm lượng ngày càng cao trong bầu khí quyển, các hóa chất
dạng hơi trong các ngành công nghiệp cũng như nông nghiệp (thuốc diệt cỏ, thuốc
trừ sâu, phẩm nhuộm…) cũng đã có mặt ngày càng nhiều hơn trong không khí. Tất
cả đều cho thấy môi trường không khí của huyện đã ô nhiễm hơn rất nhiều so với
giai đoạn trước khi thực hiện quá trình CNH – HĐH.
+ Môi trường đất: cũng chịu sự tác động mạnh mẽ bởi quá trình chuyển đổi từ
sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở 2 tác động: ở khía cạnh tích cực,
các sản phẩm của ngành công nghiệp đã giúp cho môi trường đất được cải tạo bằng
cách bón phân trong nông nghiệp, giúp nông nghiệp phát triển tốt hơn; nhưng mặt
khác, đa phần các chất này không được cây hấp thụ hết đã lưu lại trong đất cùng với
những chất phụ gia khác đã làm cho môi trường đất bị biến đổi về hóa tính theo
chiều hướng không tốt; thêm vào đó, các chất thải rắn (thậm chí là rất nguy hại đến
môi trường đất) cũng như các chất thải lỏng của các nhà máy xí nghiệp công nghiệp
hay chất thải sinh hoạt của người dân đều lấy đất làm bãi chứa nên thành phần của
đất cũng bị biến đổi một cách trầm trọng.
Ngoài những tác động trên, môi trường đất còn chịu một tác động nữa cũng
không kém phần nghiêm trọng từ việc phát triển của huyện thành một huyện sản
xuất công nghiệp: việc xây dựng các nhà máy và các công trình sản xuất cũng như
sinh hoạt trên đất đã làm cho đất không có điều kiện phát triển lên mà có nguy cơ
trở thành bê tông hóa và không thể đưa vào sản xuất nông nghiệp ví đất đã bị biến
đổi về lí tính và hóa tính một cách mạnh mẽ.
+ Môi trường nước: là môi trường dễ bị tác động và ảnh hưởng đến nhiều nhân
tố khác có liên quan đến nó. Từ khi tập trung cao độ cho sản xuất công nghiệp, môi
trường nước của huyện vốn đã bị ô nhiễm (do nước thải sinh hoạt của con người, do
chất thải từ nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thấm xuống đất vào nước) nay lại
càng ô nhiễm nghiêm trọng hơn bởi hầu hết các ngành sản xuất đều cần có nước
nhưng khi nước thải được thải ra môi trường thì lại ít được xử lí và đa phần lại thải
trực tiếp vào các đường dẫn nước chính như sông, suối hay thấm qua đất vào các
mạch nước ngầm. Hệ thống các sông suối trên địa bàn hiện nay đa phần bị ô nhiễm
nặng và khó có thể trở thành nguồn nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn
huyện như sông Thị vải, sông Đồng Nai…
+ Môi trường âm thanh: bị ô nhiễm do sự hoạt động của các nhà máy và các
phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho quá trình sản xuất của các nhà máy đó
cũng như là phục vụ đời sống cho một số lượng dân cư ngày càng đông hơn và có
nhu cầu ngày càng cao hơn về háng hóa và việc đi lại. Môi trường âm thanh bị ô
nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân trên địa bàn huyện.
- Hậu quả: có nhiều vấn đề xảy ra khi môi trường bị ô nhiễm
+ Sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng một cách sâu sắc, các căn bệnh ung
thư và các chủng vi rút lạ xuất hiện ngày càng nhiều, khả năng đề kháng của con
người cũng giảm sút trước những biến đổi về môi trường.
+ Hệ sinh thái trong môi trường tự nhiên bị thay đổi, thậm chí bị tàn phá khó
có thể phục hồi. Việc ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của các loại sinh vật, làm cho chúng mất đi môi trường sống và có thể
bị tuyệt chủng… dẫn đến mất cân bằng sinh thái trong môi trường tự nhiên, qua đó
có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người.
+ Chính sự ô nhiễm của các loại môi trường làm cho sự phát triển của huyện
khó đạt đến sự bền vững, rơi vào thế bấp bênh.
- Giải pháp: trong quá trình phát triển, khi đưa ra chững chính sách cần phải
tính toán đến những hệ lụy làm ảnh hưởng đến môi trường, thực hiện nghiêm túc
pháp lệnh về môi trường và phải thường xuyên theo dõi, xử lí các trường hợp vi
phạm làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường, tận dụng sức mạnh của nhân dân
trong quá trình phát hiện và xử lí các vi phạm về môi trường, lựa chọn và rèn luyện
các cán bộ về môi trường vừa có đức, vừa có tài để thực hiện tốt vai trò của mình.
2.3.2.2. Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng
được nhu cầu
- Thực trạng: Hiện nay, huyện Long Thành đã có hồ sơ qui hoạch tổng thể
kinh tế xã hội huyện đến năm 2020 và đạt ra mục tiêu đến 2010 phải hoàn thành
một số công trình thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật nhưng đến nay
vẫn chưa được hoàn thành theo chỉ tiêu. Những công trình cũ trong huyện chỉ một
phần còn phục vụ tốt, số còn lại đã xuống cấp, lạc hậu và không đủ đáp ứng nhu cầu
dẫn đến một số hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như hiện tượng
ngập úng vào mùa mưa ở các xã Phước Tân, Lộc An do hệ thống thoát nước không
thể đáp ứng được nhu cầu lớn sau các trận mưa to, kẹt xe thường xuyên ở khu vực
giao giữa quốc lộ 51 và quốc lộ 15 (cổng 11) do hiện tượng ngập nước sau mưa lớn
và do đường quá nhỏ)… Bên cạnh đó, sự thiếu đồng bộ của hệ thống cơ sở vật chất
kĩ thuật – cơ sở hạ tầng còn thể hiện ở chỗ nó chỉ tập trung tại một số khu vực như
dọc quốc lộ 51 hay khu vực trung tâm huyện dẫn đến sự quá tải tại khu vực này, còn
những khu vực khác thì lại rất thưa thớt. Tại các khu công nghiệp hay khu dân cư,
việc phát triển thiếu đồng bộ thể hiện ở việc xây dựng hệ thống điện, nước, cống
chưa kịp thời nên cũng dễ gây ra những ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển.
- Hệ quả: sự thiếu đồng bộ trong hệ thống cơ sở vật chất – cơ sở hạ tầng dẫn
đến những kết quả không mong muốn:
+ Sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương trên địa bàn huyện (vẫn
còn các xã được xếp vào diện vùng sâu, vùng xa như Suối Trầu, Cẩm Đường... bên
cạnh những khu vực rất phát triển với mức sống của người dân tương đối cao như
Tam Phước, thị trấn).
+ Kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội và làm cho sự phát triển không
tương xứng với tiềm năng của huyện.
+ Môi trường phải chịu những tác động tiêu cực do sự thiếu đồng bộ, không
kịp thời và lạc hậu của hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật – cơ sở hạ tầng.
+ Cuộc sống của người dân cũng bị những ảnh hưởng không tốt.
- Giải pháp: vấn đề thiếu đồng bộ trong hệ thống cơ sở hạ tầng – cơ sở vật
chất kĩ thuật là một vấn đề nan giải của hầu hết các địa phương nên việc giải quyết
nó còn khá nhiều khó khăn. Xin chú trọng vào một số giải pháp sau đây:
+ Trong quá trình qui hoạch cần tính toán kĩ càng, hợp lí và dự báo được
những xu thế có thể xảy ra để có một hồ sơ qui hoạch khoa học, hợp lí và cụ thể.
+ Khi thực hiện qui hoạch cần huy động vốn cũng như sự vào cuộc của các cơ
quan chức năng và người dân để thực hiện đúng kế hoạch và kịp thời, đồng bộ. Cần
linh họat trong khâu điều chỉnh để phù hợp với thực tế.
+ Đối với các công trình lạc hậu, xuống cấp hoặc không đủ khả năng đáp ứng
nhu cầu hiện tại cần phải có biện pháp nâng cấp, cải tạo hoặc làm mới cho phù hợp
với yêu cầu phát triển để vừa có thể đáp ứng nhu cầu phát triển, vừa tránh gây ô
nhiễm môi trường.
2.3.2.3. Mức sống ngày càng chênh lệch
- Thực trạng: Sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Long Thành từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp đã tạo ra cơ hội lớn cho những người nhận
ra nó. Song yếu tố quyết định sự thành công lại phụ thuộc vào số vốn mà họ có thể
bỏ ra để biến cơ hội thành thắng lợi. Như vậy, gần như chỉ những người co nhiều
tiền thì lại ngày cáng giàu hơn, ngược lại những người nghèo thì lại rơi vào thực
trạng là không thể cải thiện được cuộc sống của mình do mức chi phí cho các vấn
đế thiết yếu ngày càng tăng cao, vì vậy họ đã nghèo lại càng nghèo thêm. Chính qui
luật thị trường này làm cho mức sống của người dân trong cùng một huyện có sự
chênh lệch ngày càng lớn. Có một số lượng không nhỏ dân số trong huyện thu nhập
chỉ khoảng 300-400 ngàn/tháng, bên cạnh đó có những người thu nhập lên đến 20
triệu/tháng, thậm chí lên đến gần 100triệu/tháng.
- Hệ quả: Sự chênh lệch mức sống giữa những người dân cùng sinh sống trên
địa bàn huyện như vậy một mặt vừa tạo ra những nhu cầu khác nhau đòi hỏi các nhà
sản xuất cũng có được những thị trường khác nhau, song mặt khác lại tạo ra sự phân
biệt đối xử trong xã hội, nếu không được giải quyết ổ thỏa, dễ dẫn đến mất niềm tin
của nhân dân vào sự lãnh đạo của chính quyền. Đồng thời gián tiếp tạo ra những tệ
nạn xã hội khi những người nghèo muốn vươn lên nhanh chóng bằng con đường bất
chính.
- Giải pháp: trước thực trạng trên, các nhà lãnh đạo và các tổ chức xã hội cần
phải có cái nhìn và chiến lược đúng đắn hơn, tạo ra một sự công bằng xã hội để
người dân có cơ hội như nhau trên con đường lập thân lập nghiệp; tạo công ăn việc
làm ngày càng nhiều và thu nhập ổn định, hợp lí hơn để cuộc sống của người dân có
thể được cải thiện và có những tích lũy cho cá nhân và gia đình; xây dựng hành lang
pháp lí và nghiêm túc thực hiện nó để ngăn chặn những trường hợp lợi dụng khe hở
của pháp luật để làm lợi cho bản thân.
2.3.2.4. Di cư và những vấn đề về việc làm, nhà ở, thu nhập
- Thực trạng: tỉ lệ người nhập cư đến huyện Long Thành rất cao (thường xấp
xỉ 2% trong những năm gần đây), nguyên nhân là do sự phát triển của công nghiệp
và dịch vụ trong tiến trình CNH – HĐH đã tạo thêm được nhiều việc làm và thu hút
nhiều lao động nên có rất nhiều vấn đề nảy sinh:
+ Nhu cầu về việc làm tăng cao.
+ Nhà ở không đủ đáp ứng nhu cầu, nhất là khi họ đang trong độ tuổi lập gia
đình. Vì vậy ngoài việc thiếu nhà ở cho công nhân, việc giải quyết trường, lớp và
các dịch vụ y tế cũng là một vấn đề đáng quan tâm của huyện.
+ Thu nhập của những người nhập cư (đa phần dựa vào lao động chân tay từ
các tỉnh khác đến) thường bấp bênh, không ổn dịnh, nhất là trong xu thế chung của
thế giới và của nước ta là đòi hỏi lao động phải có tay nghề nên cũng góp phần làm
cho mức sống của người dân trong huyện thêm chênh lệch. Mặt khác, nó cũng gián
tiếp làm cho tình hình xã hội trong huyện càng thêm phức tạp.
% 3
2.7
2.74
2.5
2.07
1.9
2
1.5
1.31
1.2
1.5
1.12
1.1
1.11
0.9
0.93
1
0.5
0
năm
1995
2000
2005
2006
2007
2008
tăng tự nhiên
tăng cơ học
Hình 2.16: Tình hình gia tăng dân số huyện Long Thành (1995-2008)
- Hệ quả:
+ Lao động trong huyện bị cạnh tranh nên vấn đề giải quyết việc làm ngày
càng khó khăn hơn.
+ Các vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa chưa đủ đáp ứng nhu cầu lại càng trở nên
thiếu hụt hơn.
+ Gián tiếp tạo ra các tệ nạn xã hội.
- Giải pháp: Trước thực trạng di cư và những vấn đề xã hội do di cư đạt ra,
đòi hỏi cần phải có những biện pháp sau đây:
+ Kiểm soát và điều chỉnh mức độ dân di cư vào huyện theo nhu cầu, tránh ồ
ạt, tự phát bằng những chính sách hợp lí, cụ thể.
+ Dự báo được lượng người di cư đến và có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất,
cơ sở hạ tầng để đón họ.
+ Tạo thêm nhiều việc làm với thu nhập ổn định, lành mạnh để nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người dân.
2.3.2.5. Đất nông nghiệp bị thu hẹp diện tích và bị bỏ hoang
- Thực trạng: Nhìn vào số liệu thống kê của Phòng tài nguyên môi trường
huyện trong 2 năm 2005 và 2008, ta thấy diện tích đất nông nghiệp của huyện đang
giảm rõ rệt: từ 42.364,86 ha năm 2005 (chiếm 78,46%) xuống còn 42.096,68 ha
năm 2008 (chiếm 77,96%), giảm 268,1798 ha.
đất nông nghiệ p
đất khác
21.54%
22.04%
78.46%
77.96%
Năm 2005
Năm 2008
Hình 2.17: Cơ cấu sử dụng đất huyện Long Thành (2005-2008)
Đây chỉ là sự thống kê trên giấy tờ của người dân. Trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của huyện, những dự án qui hoạch được phê duyệt và có thể bị thay
đổi. Nắm bắt tình hình đó, một số chủ đất (gần khu vực xây dựng dự án) đã biến
những khu vườn cây ăn trái hay những khu vườn trồng cây công nghiệp lâu năm
thành những thửa đất nhỏ (dù chưa được phép của cơ quan quản lí để chuyển đổi
mục đích sử dụng) để bán cho người dân (chủ yếu từ nơi khác đến) với giá khá cao
với mục đích để ở hoặc kinh doanh. Trong thực tế, các thửa đất này vẫn là đất nông
nghiệp và những người mua đa phần cũng là những người đầu cơ thu lợi. Do đó đất
để trồng cây nhưng lại không được trồng cây trên địa bàn huyện khá nhiều, chủ yếu
là để trống, nhất là khu vực gần các dự án lớn. Trong địa bàn huyện, có rất nhiều
những khu vực như thế đất đã bị bỏ hoang gần chục năm nay mà không sử dụng
đúng mục đích và con số này ngày càng gia tăng. Không một thống kê chính thức
nào nói đến điều này, nhưng nếu đi dọc các con đường, vào các khu vực gần những
dự án lớn, rất dễ nhận ra điều đó.
- Hệ quả:
+ Hệ quả dễ thấy nhất là người nông dân bị mất ruộng đất, ảnh hưởng đến thu
nhập của người dân, đồng thời mất việc làm dẫn dến tình trạng thất nghiệp và phải
di cư đến những nơi khác.
+ Diện tích đất dành cho nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng.
+ Hiệu quả sử dụng đất không cao do bị bỏ hoang mà không được sử dụng
đúng mục đích.
+ Làm cho môi trường đất bị xói mòn và khó có khả năng cải tạo.
+ Gián tiếp làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng chênh lệch.
- Giải pháp: Đứng trước thực trạng trên, huyện cần làm một số việc sau:
+ Khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất (chuyển đất nông nghiệp sang cac mục
đích khác) , cần phải có những chính sách phù hợp, hỗ trợ cho người nông dân như
bồi thường hợp lí, đào tạo nghề cho người nông dân để họ có thể tham gia vào các
ngành kinh tế khác khi không còn đất để sản xuất nông nghiệp, tạo thêm nhiều việc
làm trong các ngành kinh tế, đặc biệt là trong dịch vụ và công nghiệp để giải quyết
khó khăn cho người nông dân.
+ Nghiêm túc thực hiện qui hoạch và không cho sử dụng đất trái mục đích.
+ Rà soát các khu đất bị bỏ hoang và sử dụng không đúng mục đích, khuyến
khích, vận động người dân sử dụng đúng mục đích, tránh hiện tượng bỏ đất hoang
làm xói mòn đất và ảnh hưởng đến môi trường.
+ Nghiêm cấm các hành vi mua bán, sang nhượng quyền sử dụng đất trái phép
và sử dụng đất không đúng mục đích.
2.3.2.6. Tệ nạn xã hội
- Thực trạng: trong những năm gần đây, theo báo cáo của các cơ quan chức
năng, tệ nạn xã hội trên địa bàn có xu hướng giảm về số lượng nhưng tính chất và
thủ thuật của tội phạm lại tinh vi và xảo quyệt hơn, biến đổi vô thường. Nguyên
nhân là do sự phức tạp của những luồng di dân, do vị trí của huyện nằm ở nơi giao
nhau giữa nhiều tuyến đường quan trọng nối các khu vực quan trọng trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam nên địa bàn hoạt động của tội phạm cũng rộng hơn,
phức tạp hơn và rất khó kiểm soát. Mặt khác còn do nhận thức của ngừơi dân cũng
còn hạn chế nên dễ bị tác động từ bên ngoài, nhất là giới trẻ nên rất dễ bị lợi dụng
và trở thành tội phạm lúc nào không biết.
- Hệ quả: Các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của huyện ở những mặt sau:
+ Làm giảm năng suất lao động xã hội, tổn hại đến nền kinh tế huyện nhà, kìm
hãm sự phát triển chung của cộng đồng.
+ Góp phần làm giảm sức khỏe, lây lan các bệnh hiểm nghèo, tăng chi phí
chữa trị…
+ Làm suy đồi đạo đức, lối sống, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân
tộc.
- Giải pháp:
+ Tăng cường sức mạnh của pháp luật trong những vấn đề đấu tranh chống tội
phạm và các tệ nạn xã hội.
+ Tuyên truyền cho người dân hiểu rõ tác hại của những tệ nạn xã hội và có ý
thức tự phòng chống, đồng thời phối kết hợp với các cơ quan chức năng để ngăn
chặn nó phát sinh và phát triển trong công đồng dân cư.
+ Cùng các tổ chức xã hội tạo ra những sân chơi lành mạnh để thu hút người
dân tham gia, nhất là giới trẻ trong huyện để tránh xa những cạm bẫy chất người.
* Tóm lại: Những vấn đề tồn tại nêu trên trong quá trình chuyển từ một huyện
sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành không phải là
những vấn đề riêng của huyện mà gần như là những vấn đề chung của những địa
phương đang trong quá trình thực hiện CNH – HĐH. Để thực sự trở thành một
huyện công nghiệp, huyện cần phải đối mặt và tìm biện pháp xử lí triệt để những
vấn đề nêu trên thì mới có điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội theo con đường
đã chọn một cách nhanh chóng và bền vững.
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Định hướng phát triển
3.1.1. Định hướng chung của cả nước
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2020 đã được
Đảng ta xác định đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp với các chỉ
tiêu chủ yếu có thể khái quát như sau:
- GDP bình quân đầu người đạt trên 2000 USD, trong đó tỉ trọng các ngành phi
nông nghiệp chiếm khoảng tên 90% tổng GDP.
- Công nghiệp đảm bảo trang bị ở mức cần thiết và có hiệu quả đối với nền
kinh tế, nghĩa là công nghiệp chế tác phải chiếm khoảng 35% GDP và chiếm trên
50% gia tăng công nghiệp.
- Dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó đã các dịch vụ dựa trên tri thức.
- Nông nghiệp (theo quan niệm rộng bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp và
ngư nghiệp) bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và cơ bản bảo đảm nhu cầu thực
phẩm của người dân; tỉ suất hàng hóa cao, vào khoảng 50-60%; tỉ trọng chăn nuôi
chiếm khoảng 40-50% giá trị gia tăng ngành nông nghiệp; hình thành nền nông
nghiệp sinh thái sạch; độ che phủ của rừng và cây lâu năm khoảng 50-60%; thực
hiện cơ bản về cơ giới hóa, điện khí hóa và áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học.
- Tỉ lệ tích lũy từ GDP luôn đảm bảo duy trì ở mức trên 30%; xuất khẩu tăng ở
mức gấp 1,5 lần trở lên so với tốc độ tăng GDP; khoa học kĩ thuật trở thành yếu tố
quyết định tăng năng suất lao động và năng suất lao động đóng góp trên 70% mức
gia tăng GDP; tỉ lệ cán bộ khoa học khoa học kĩ thuật và lao động được đào tạo trên
50% lao động xã hội; tỉ lệ dân số đô thị phải đạt 50-60% trở lên; mức ăn đạt trên
3.000kcal/người mỗi ngày và tuổi thọ trung bình đạt 70-72 tuổi; phổ cập trung học
phổ thông ở thành thị và phần lớn ở nông thôn.
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
trong đó tỉnh Đồng Nai được xác định là địa bàn công nghiệp then chốt, là đầu tầu
về khoa học công nghệ, là cửa ngõ thông thoáng và đầu mối giao lưu quốc tế, là địa
bàn bố trí lại dân cư một cách hài hòa… của vùng Đông Nam bộ và cả nước.
Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực trong vùng được Nghị quyết 53-
NQ/TW nêu ra có ý nghĩa quan trọng đến quá trình phát triển của tỉnh trong thời kì
tới bao gồm:
- Phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ hiện đại, các ngành công
nghiệp chủ lực, có lợi thế so sánh: công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm; điện,
điện tử, phần mềm tin học; cơ khí; hóa chất; phân bón; dệt, giày da, may mặc, nhựa;
sản xuất vật liệu xây dựng; gốm mĩ nghệ; chế biến gỗ; dược phẩm; thiết bị viễn
thông.
- Phát triển các dịch vụ có chất lượng cao như dịch vụ tài chính – ngân hàng,
viễn thông, vận tải, du lịch, đào tạo, y tế phát triển vùng mà hạt nhân là thành phố
Hồ Chí Minh trở thành trung tâm dịch vụ có tầm cỡ khu vực Đông Nam Á về tài
chính, thương mại, du lịch.
- Phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu với các
sản phẩm chủ yếu như cao su, hồ tiêu, điều, cây ăn trái và chăn nuôi đại gia súc.
- Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng: xây dựng các tuyến cao tốc Biên Hòa –
Vũng Tàu; thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành - Dầu Giây; Dầu Giây – Đà Lạt.
Xây dựng sân bay quốc tế Long Thành; di chuyển các cảng hàng hóa của thành phố
Hồ Chí Minh ra khỏi nội thành và xây dựng cảng mới hiện đại, đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế của vùng.
Hướng phát triển của vùng như trên sẽ có tác động trực tiếp đến phát triển kinh
tế - xã hội của huyện trong những năm tới gồm:
- Về phát triển kinh tế: khu vực dọc quốc lộ 51 sẽ tập trung phát triển công
nghiệp năng lượng, cơ khí, hóa chất, vật liệu xây dựng, vật liệu các ngành công
nghiệp khác; xây dựng trung tâm thương mại cấp liên khu vực tại thành phố Biên
Hòa và cấp khu vực tại Xuân Lộc và Long Thành.
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: tập trung phát triển các tuyến giao thông huyềt
mạch gồm quốc lộ 51 (cả đường bộ và đường sắt), đường cao tốc thành phố Hồ Chí
Minh – Long Thành - Dầu Giây, đường sắt thành phố Hồ Chí minh – Biên Hòa –
Vũng Tàu, cụm cảng sân bay quốc tế Long Thành, nâng cấp cảng Gò Dầu, xây
dựng đường ống dẫn khí Vũng Tàu – Biên Hòa – thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng
các hồ cung cấp nước Phước Thái và hồ Suối Cả.
- Về phát triển không gian đô thị: không gian đô thị sẽ mở rộng về tuyến hành
lang quốc lộ 51, bao gồm xây dựng đô thị Long Thành lâu dài có 150-200 ngàn dân
và đô thị Tam Phước 50-70 ngàn dân.
Từ những định hướng nêu trên cho thấy, đối với huyện Long Thành, hiện tại,
kinh tế - xã hội của huyện đang ở nhóm các huyện khá của tỉnh nhưng lại có một
tiềm năng phát triển rất lớn. Nếu được đầu tư đúng hướng sẽ mở ra triển vọng đến
2020, huyện Long Thành sẽ là một trong những huyện đứng đầu của tỉnh.
3.1.2. Định hướng chung của tỉnh Đồng Nai
Các chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai đến 2020 đều
cao hơn và đi trước một bước so với cả nước. Quan điểm và phương hướng phát
triển của tỉnh được xác định trong Hồ sơ qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 như sau:
- Đóng vai trò là một cực tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, Đồng Nai cần phát huy điều kiện xuất phát điểm phát triểnđã có, kết hợp nội
lực với các nguồn lực bên ngoài, chủ động nắm bắt thời cơ hội nhập để phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao hơn nữa vai trò động lực và đóng góp của tỉnh vào phát
triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và quá trình thực hiện
CNH – HĐH đất nước.
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, nâng cao năng suất lao động
(GDP/lao động), hiệu quả sử dụng đất (GDP công nghiệp, nông nghiệp/ha đất) và
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tạo ra GDP (GDP/ tổng vốn đầu tư phát triển). Đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế kết hợp với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, phát triển đô thị và nông thôn theo hướng CNH – HĐH.
- Chuyển đổi nhanh cơ cấu sản phẩm theo hướng gia tăng hàm lượng công
nghệ, lao động kĩ thuật và đi trước đón đầu để nâng cao sức cạnh tranh của công
nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng với thế
giới. Phát triển nhanh một số ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn có thế mạnh trở
thành ngành kinh tế chủ lực để thúc đẩy và tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao trong các giai đoạn sau 2010, đồng thời phát huy vai trò lan tỏa về công
nghiệp và dịch vụ của tỉnh với vai trò là một trong những đầu tàu lôi kéo phát triển
kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ môi trường và bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội, sử dụng hợp lí tài nguyên và môi trường.
- Phát triển kinh tế - xã hội phối hợp với quá trình phát triển chung của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, hợp tác chặt chẽ với các tỉnh, thành
trong vùng để phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, bảo vệ môi
trường, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ.
Mục tiêu tổng quát là phải phát triển nhanh, toàn diện và bền vững các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa – xã hội và bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh; xây
dựng Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn và hiện đại của khu
vực phía Nam; phấn đấu đến năm 2010 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện
đại, năm 2015 trở thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa - hiện đại hóa, năm 2020 thành
tỉnh CNH – HĐH.
Trong định hướng phát triển của tỉnh, có một số định hướng lớn ảnh hưởng
trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội huyện Long Thành như dự án hình thành các
khu công nghiệp, xây dựng mạng lưới giao thông vận tải, hình thành các vùng phân
bố chuyên canh cây con qui mô lớn như cao su, điều, bắp, khoai mì, thực phẩm,
chăn nuôi bò, heo, gia cầm…
3.1.3. Định hướng riêng của huyện
3.1.3.1. Định hướng chung
Trên cơ sở quán triệt phương hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng Đông Nam bộ và của tỉnh Đồng
Nai thời kì 2001-2020, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Long Thành lần
thứ IX, nhiệm kì 2005-2010 đã đưa ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội huyện từ
nay đến năm 2020 như sau:
- Khai thác và phát huy triệt để các yếu tố nội lực, đặc biệt là các lợi thế so
sánh về vị trí địa lí, đất đai, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng hiện có; đồng thời tiếp
tục tranh thủ các yếu tố ngoại lực, nhất là chính sách ưu tiên và kinh nghiệm thu hút
đầu tư của tỉnh trong thời gian qua, nhằm tiếp tục đưa kinh tế - xã hội huyện phát
triển với tốc độ cao, bảo đảm phát triển bền vững và đạt hiệu quả cao.
- Tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện theo hướng
CNH – HĐH, tạo cơ cấu kinh tế bền vững theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông
nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng hình thành và phát triển các khu, cụm công
nghiệp với các ngành mũi nhọn đang được tỉnh ưu tiên đầu tư, phát triển mạnh các
hoạt động dịch vụ phục vụ công nghiệp, du lịch và đô thị; phát triển nông nghiệp
theo chiều sâu, hình thành vành đai thực phẩm có chất lượng cao và tỉ trọng hàng
hóa lớn phục vụ các đô thị trong vùng.
- Nhanh chóng phát triển đồng bộ và đi trước một bước hệ thống cơ sở hạ tầng
hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao, phát triển toàn diện và tạo
sự liên kết chặt chẽ giữa huyện với các huyện, thị, thành phố trong tỉnh cũng như
toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội, xóa đói giảm
nghèo, bảo vệ và cải tạo môi trường, củng cố an ninh - quốc phòng, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân.
3.1.3.2. Định hướng trong từng ngành kinh tế và từng lĩnh vực xã hội
Đối với từng ngành kinh tế, định hướng phát triển như sau:
a. Ngành công nghiệp xây dựng
- Phấn đấu đạt tốc độ giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 17-18%/năm
thời kì 2006-2010, và tăng lên 19-20% giai đoạn 2010-2020.
- Quy hoạch các khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung, trong đó chú
trọng các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại chỗ; công nghiệp kĩ thuật cao,
ít gây ô nhiễm môi trường; đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến phục vụ
nông, lâm nghiệp và nhu cầu tiêu dùng tại địa phương.
- Hình thành khu đô thị công nghệ cao và sinh dưỡng công nghiệp tại khu vực
các xã Tam An, Tam Phước, An Phước qui mô khoảng 2000 ha.
- Phát triển các khu và cụm công nghiệp:
+ Khu công nghiệp: có 6 khu là Gò Dầu, Tam Phước, Long Thành, An Phước,
Lộc An – Bình Sơn và Long Đức.
+ Các cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: dốc 47, Lộc An, vật liệu xây
dựng An Phước, Tam Phước 1, Tam Phước 2, Bình Sơn, Long Phước 1, Long
Phước 2, Tam An, Bàu Cạn, Bình An và Tân Hiệp.
b. Ngành nông – lâm nghiệp
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp bình quân hàng
năm từ 4,4-5%/năm.
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi theo hướng giảm dần tỉ trọng
ngành trồng trọt, tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi; phấn đấu tỉ trọng các ngành
trổng trọt – chăn nuôi - dịch vụ trong nông nghiệp đến năm 2010 tương ứng là:
59,8% - 36% - 4,2%; năm 2015 là: 51% - 42% - 7% và năm 2020 là: 43% - 47% -
10%.
- Phấn đấu đến năm 2010: sản lượng lúa đạt 26.000 tấn, bắp 16.000 tấn, rau
thực phẩm 12.000 tấn, đậu các loại 1.800 tấn, cà phê 800 tấn, cao su 10.000 tấn,
điều 4.500 tấn, chôm chôm 5.000 tấn, sầu riêng 2.000 tấn.
- Phấn đấu đến năm 2020: sản lượng lúa đạt 30.000 tấn, bắp 15.000 tấn, rau
thực phẩm 20.000 tấn, đậu các loại 2.300 tấn, cà phê 800 tấn, cao su 13.500 tấn,
điều 5.700 tấn, chôm chôm 7.100 tấn, sầu riêng 5.200 tấn.
- Chăn nuôi: tập trung phát triển mạnh đàn bò (trong đó chú trọng đàn bò sữa),
đàn heo; khuyến khích phát triển theo mô hình trang trại với phương thức chăn nuôi
công nghiệp có qui mô lớn; qui hoạch các vùng chăn nuôi tập trung tại các xã
Phước Tân, Bàu Cạn, Tân Hiệp; ứng dụng kĩ thuật chăn nuôi tiên tiến; chăn nuôi
phải kiểm soát được dịch bệnh và xử lí tốt vấn đề ô nhiễm môi trường.
- Tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực đáp ứng nhu cầu trong huyện,
đồng thời tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa như cao su, điều, trái cây.
- Phấn đấu tỉ lệ che phủ rừng đạt từ 20-25%.
- Tổ chức khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng
thủy sản theo qui hoạch. Đồng thời phối hợp làm tốt công tác quản lí, bảo vệ nguồn
lợi thủy sản trên địa bàn huyện.
c. Ngành thương mai - dịch vụ - du lịch
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13-14%/năm giai đoạn 2006-
2010; lên 18-19% giai đoạn 2010-2015; và đến 2015-2020 đạt 20-21%.
- Chú trọng phát triển các loại hình thương mại phục vụ sản xuất nông nghiệp
và đời sống nông thôn; tiến tới hình thành các loại hình thương mại phục vụ đô thị
và các khu công nghiệp. Phát triển và nâng cao năng lực hoạt động của các loại hình
dịch vụ vận tải, kho bãi, nhà ở, giới thiệu việc làm, dịch vụ vệ sinh môi trường.
- Quy hoạch và sắp xếp các điểm giết mổ theo hướng mỗi xã thành lập 1 hoặc
2 hợp tác xã dịch vụ giết mổ gắn với các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
địa phương để thuận lợi cho việc quản lí, kiểm soát dịch bệnh và môi trường.
d. Phát triển kết cấu hạ tầng
Phát triển mạnh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện, gắn
với hệ thống kết cấu hạ tầng chung của tỉnh và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất và phục vụ đời sống, tăng tốc độ và tỉ trọng của
khu vực dịch vụ và kết cấu hạ tầng đối với phát triển của huyện. Mục tiêu cụ thể:
- Phát triển đồng bộ mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện, bao gồm: đường
bộ- đường sắt - đường thủy - đường háng không theo qui hoạch vùng và qui hoach
ngành được duyệt.
- Phát triển mạng lưới điện phục vụ lượng tiêu thụ điện bình quân
450Kwh/năm đối với dân cư đô thị và 200Kwh/năm đối với dân cư nông thôn.
Tổng điện năng tiêu thụ dân dụng năm 2010 toàn huyện là 23 triệu Kwh/năm, tương
ứng công suất 7,75MW. Tổng điện năng tiêu thụ điện công nghiệp (dự kiến) 626
triệu Kwh/năm, tương ứng công suất 156,5MW.
- Tổng nhu cầu cấp nước toàn huyện hiện nay là 108.520 m3/ngày và năm
2020 dự kiến là 223.520m3/ngày.
- Xây dựng hệ thống xử lí nước thải khu vực thị trấn, khu dân cư tập trung, các
khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tránh gây ô nhiễm môi trường và ngập úng
vào mùa mưa.
- Xây dựng bãi rác tập trung để xử lí rác thải đô thị và khu dân cư tập trung.
- Về thủy lợi: sửa chữa, nâng cấp, đầu tư mới các công trình theo qui hoạch
ngành được phê duyệt; kiên cố hóa kênh mương phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sửa
chữa và nâng cấp 3 công trình; đầu tư mới 11 công trình; kiên cố hóa kênh mương 9
công trình.
e. Phát triển đô thị và khu dân cư
- Đô thị Long Thành: nâng cấp thành đô thị loại IV với qui mô 35 ngàn dân
năm 2010 và 75 ngàn dân năm 2020.
- Khu đô thị Tam Phước với qui mô dự kiến 25-30 ngàn dân vào năm 2020.
- Khu đô thị Phước Thái: nâng cấp thành đô thị loại V với qui mô 10 ngàn dân
năm 2010 và lên 20-25 ngàn dân năm 2020.
- Khu đô thị Bình Sơn với qui mô 25-30 ngàn dân năm 2020.
- Khu đô thị công nghệ cao và khu sinh dưỡng công nghệ thuộc các xã Tam
Phước, Tam An, An Phước.
- Các làng đô thị: từng bước hình thành 4 làng đô thị có qui mô 5-10 ngàn dân
năm 2010 và lên 7-12 ngàn dân năm 2020.
f. Phát triển nguồn nhân lực
- Tăng cường phát triển chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ người lao động
có tay nghề cao. Chú trọng việc đào tạo và đào tạo lại lao động tại chỗ. Đa dạng hóa
các hình thức đào tạo liên thông giữa các trường và các trung tâm đào tạo kĩ thuật
phục vụ cho các khu công nghiệp, các ngành mũi nhọn có yêu cầu kĩ thuật cao.
- Khuyến khích thu hút lực lượng lao động có tay nghề từ bên ngoài về huyện,
phối hợp với các cơ sở đào tạo của tỉnh và trung ương để đào tạo đội ngũ cán bộ
quản lí và kĩ thuật cho huyện nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa.
- Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp.
g. Phát triển các lĩnh vực văn hóa – xã hội
- Phấn đấu nâng tỉ lệ huy động trẻ vào nhà trẻ đạt 17-20% vào năm 2010 và
50-60% năm 2020, trẻ học mẫu giáo ra lớp it1 nhất 85% (2010) và trên 95% (2020),
riêng trẻ 5 tuổi đạt ít nhất 95% (2010) và 100% (2020); củng cố và duy trì việc huy
động 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 và tuyển mới 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học
vào lớp 6; tuyển mới 70-80% học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10, số còn lại sẽ
vào học ở các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và các hình thức học tập
khác.
- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe, các chương
trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, bảo vệ và chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ em; thực hiện tốt chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình và
chương trình môi trường; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, nhất
là cấp cứu; bảo đảm trên 98% trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng đủ các loại vắc
xin; giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 15% (năm 2010) và
dưới 5% (năm 2020). quản lí và xử lí tốt chất thải y tế, tăng cường quản lí vệ sinh
an toàn thực phẩm.
- Phấn đấu đến năm 2010 có trên 90% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, trên
90% xóm ấp văn hóa, 100% cơ quan đơn vị có nếp sống văn hóa; trên 60% xã,
phường làm tốt công tác phòng chống mại dâm, ma túy.
- Bảo tồn và phát triển đa dạng về văn hóa các dân tộc, văn hóa truyền thống
nhằm góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân; củng cố và phát
triển các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao trong nhân dân; phát huy dân chủ,
nâng cao tính cộng đồng trong việc xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh trong cơ
quan và cộng đồng.
3.2. Giải pháp thực hiện
3.2.1. Xây dựng Hồ sơ qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện
Long Thành theo từng giai đoạn phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước
trong thời kì CNH – HĐH một cách khoa học, cụ thể ở các ngành và lĩnh vực cũng
như sự phân bố của chúng với các yêu cầu:
- Xem xét bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
xã hội của địa phương.
- Rà soát qui hoạch của tỉnh và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và tìm
ra những vấn đề liên quan đến sự phát triển của huyện.
- Tìm hiểu nội lực phát triển và khả năng cạnh tranh của huyện so với các địa
phương khác để vạch ra các phương án phát triển, phân tích và lựa chọn phương án
phù hợp nhất.
- Triển khai thực hiện qui hoạch một cách nghiêm túc, đúng tiến độ.
- Kịp thời báo cáo tiến trình thực hiện qui hoạch và điều chình qui hoạch cho
hợp lí.
Dưới đây là bản đồ qui hoạch các ngành kinh tế huyện Long Thành đến năm
2020 do các nhà qui hoạch xây dựng và được UBND huyện cũng như tỉnh đã kí
duyệt. trong quá trình thực hiện, qui hoạch này cũng được điều chỉnh cho phù hợp
hơn với thực trạng của huyện và với những thay đổi từ bên ngoài.
Hình 3.1: Bản đồ qui hoạch các ngành kinh tế huyện Long Thành đến năm 2020
(Nguồn: UBND huyện Long Thành)
3.2.2. Vốn đầu tư và giải pháp huy động vốn
Để đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng, cần phải có nguồn vốn đầu tư để thực hiện
qui hoạch đề ra.
3.2.2.1. Nguồn vốn đầu tư tích lũy từ nội bộ nền kinh tế huyện
Theo qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai, nguồn vốn đầu tư tích
lũy từ nội bộ nền kinh tế dự kiến đáp ứng khoảng 23-25% tổng nhu cầu đầu tư xã
hội, trong đó khả năng huy động vốn đầu tư trong dân chiếm khoảng 15-17%, còn
lại huy động từ nguồn ngân sách địa phương (6-10%). Để đạt được mục tiêu này,
cần triển khai đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
- Đối với nguồn vốn dân cư: trước hết là khuyến khích người dân tăng cường
tiết kiệm tiêu dùng để tái đầu tư cho sản xuất thông qua việc tuyên truyền, giáo dục
nâng cao ý thức tiết kiệm của người dân; vận dụng sáng tạo hướng dẫn của TW để
có chính sách lãi suất hợp lí và tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, tạo niềm tin để
người dân gửi tiền tiết kiệm vào các ngân hàng và tổ chức tín dụng, không cất giữ
tiền tại nhà hoặc đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất. Kế đến là có chính sách
khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt là
thành phần kinh tế tư nhân, mà trọng điểm là phát triển kinh tế trang trại, các doanh
nghiệp chế biến vừa và nhỏ, các cơ sở dịch vụ ở nông thôn và đô thị thông qua việc
hoàn thiện các chính sách đòn bẩy như chính sách đất đai, chính sách tín dụng và
chính sách thuế.
- Đối với nguồn vốn từ ngân sách địa phương: Tăng cường đầu tư phát triển từ
nguồn ngân sách nhà nước theo chiều sâu để gia tăng sản lượng các ngành và lĩnh
vực mà huyện có lợi thế cũng như các ngành và lĩnh vực ít hấp dẫn đầu tư đối với
khu vực tư nhân và đầu tư từ bên ngoài như giao thông, thủy lợi, điện, kết cấu hạ
tầng trong và ngoài hàng rào các khu công nghiệp. Đổi mới công tác quản lí và sử
dụng có hiệu quả cao nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sở giảm dần
tỉ trọng đầu tư trực tiếp, tăng dần tỉ trọng đầu tư gián tiếp qua kênh tín dụng, đầu tư
có trọng điểm theo thứ tự ưu tiên các dự án đầu tư.
3.2.2.2 Huy động nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài huyện
Nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài huyện bao gồm: đầu tư từ ngân sách TW, từ
các tỉnh bạn, và đầu tư nước ngoài dự kiến huy động đáp ứng khoảng 75-77% tổng
đầu tư, trong đó:
- Huy động từ ngân sách TW và liên kết đầu tư từ các tỉnh bạn giai đoạn 2006-
2010 chiếm khoảng 7-8% và giai đoạn 2010-2015 chiếm 6-7%, tương tự 2016-2020
chiếm 5-6%, trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách TW cho giai đoạn 2066-2010
có một ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm góp phần tạo môi trường thuận lợi chop
giai đoạn 2011- 2020 thu hút đầu tư từ tỉnh bạn, mà chủ yếu là từ thành phố Hồ Chí
Minh. Vì vậy, đề nghị TW quan tâm đầu tư hơn nữa cho vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, trước mắt là đầu tư cho phát triển hệ thống giao thông đường bộ; đồng
thời có cơ chế để cho phép địa phương chuyển một số diện tích cao su sang đất các
khu công nghiệp và đô thị như qui hoạch. Trên cơ sở đó, tỉnh có cơ chế tạo điều
kiện thuận lợi thu hút đầu tư từ các tỉnh bạn vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng
các khu công nghiệp và hạ tầng đô thị.
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài các giai đoạn dự báo chiếm khoảng 70%. Để
đạt được mục tiêu này, đòi hỏi ngoài việc tiếp tục cải tiến, đơn giản hóa các thủ tục
cấp phép đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng các khu công
nghiệp, cần tập trung đầu tư cho công tác đào tạo lực lượng lao động kĩ thuật và thu
hút lực lượng lao động lành nghề; mở rộng các hình thức gọi vốn đầu tư thông qua
các chính sách ưu đãi đặc biệt; phát triển hệ thống dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính
– tín dụng đầu tư và dịch vụ nhà ở cho lực lượng công nhân.
3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp, trước hết là tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi
mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
Bên cạnh việc khuyến khích thu hút lực lượng lao động có tay nghề từ bên
ngoài về huyện, sớm xây dựng trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề, phối hợp với
các cơ sở đào tạo của tỉnh và trung ương để đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí và kĩ
thuật cho huyện nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH.
Tăng cường hoạt động thông tin để nâng cao kiến thức, hiểu biết mọi mặt
(kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật,…) cho nhân dân.
3.2.4. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất
Ứng dụng các công nghệ hiện đại nhưng phù hợp với qui mô và trình độ quản
lí trong các chương trình đầu tư phát triển công nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm từ huyện xuống xã,
ấp. Hình thành mạng lưới người nông dân giỏi. Tăng cường đội ngũ cán bộ kĩ thuật
và đào tạo tại chỗ đội ngũ kĩ thuật cho mạng lưới khuyến nông, lâm.
Xây dựng các kế hoạch chuyển giao kĩ thuật kịp thời, phát động các tổ chức
hưởng ứng phong trào khuyến nông, khuyến lâm. Tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ
quan nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học cấp tỉnh và trung ương, đặc biệt
là các cơ quan đang đóng trên địa bàn huyện. Các lĩnh vực cần được quan tâm ứng
dụng tiến bộ kĩ thuật là cây ăn quả, lúa , mía, nuôi trồng thủy san, chăn nuôi heo,
gia cầm…
3.2.5. Tăng cường tìm kiếm và mở rộng thị trường
Nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, cải tiến mẫu mã để đủ sức
cạnh tranh của hàng hóa. Thực hiện đồng bộ các khâu tiếp thị, quảng cáo, thiết lập
mạng lưới phân phối. Tăng cường các hình thức liên kết liên doanh với các đối tác
có kinh nghiệm và truyền thống.
Tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng để tiếp cận chiến lược thị
trường, tránh tình trạng sản xuất ồ ạt trong khi chưa có nền tảng về thị trường. Theo
dõi giá cả để đề xuất kịp thời với tỉnh và trung ương những biến động về giá cả và
giúp nông dân ổn định sản xuất các nông sản chính.
Khuyến khích các hộ thành lập các doanh nghiệp tư nhân thu mua nông sản,
hình thành mạng lưới tiêu thụ lâu dài, nhằm tạo công ăn việc làm và mối quan hệ
lâu bền giữa sản xuất và thương mại.
Xây dựng các trung tâm thương mại ở trung tâm huyện và các trung tâm tiểu
vùng, giúp các xã xây dựng mới hoặc mở rộng chợ trên địa bàn.
Triển khai và thực hiện tốt liên kết 4 nhà, trong đó đặc biệt chú ý vai trò của
các doanh nghiệp nhà nước trong việc kí kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm; vai trò
của các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
sản xuất, nhất là khâu giống, khâu thức ăn, khâu chế biến và bảo quản sản phẩm sau
thu hoạch…
3.2.6. Vai trò của các cấp, các ngành và các cơ quan lãnh đạo
3.2.6.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển
khai qui hoạch tổng thể của huyện và các chính sách xã hội
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng hướng vào cụ thể hóa các chỉ tiêu qui
hoạch đã được phê duyệt thành các chủ trương, chính sách và các chương trình
hành động cho từng thời kì và cho từng năm thông suốt từ Đảng bộ huyện xuống
các tổ chức Đảng cơ sở nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính
quyền, cũng như các tổ chức chính trị - xã hội và huy động người dân tham gia tích
cực vào việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Đồng thời, luôn luôn giám sát,
kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, chủ trương, chính sách đã đề ra.
3.2.6.2. Tăng cường quản lí nhà nước về công tác triển khai qui hoạch và các
chủ trương, chính sách, qui định của nhà nước
- Tiến hành tổ chức triển khai xuống tất cả các ngành, các xã và phải xem các
chỉ tiêu qui hoạch là chỉ tiêu pháp lệnh có tính chất định hướng để các ngành, các xã
xây dựng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm các lĩnh vực của ngành và cấp
mình quản lí.
- Phân công rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các ngành trên địa bàn huyện
trong việc tổ chức, triển khai thực hiện qui hoạch và các chủ trương, chính sách, qui
định của nhà nước.
- Thường xuyên rà soát, bổ sung và kịp thời báo cáo các vấn đề nảy sinh trong
thực tế, đồng thời tham mưu cho các cấp Ủy Đảng và các cấp lãnh đạo những
phương án xử lí hợp tình hợp lí và linh hoạt hơn.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ về
công tác qui hoạch, kế hoạch, quản lí... Đồng thời đầu tư nâng cấp hệ thống thông
tin quản lí thông suốt từ huyện xuống xã, ấp.
3.2.6.3. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và sự tham gia của
người dân
Các tổ chức đoàn thể chính trị như : Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông
dân, Hội cựu chiến binh, Hội làm vườn,… với vai trò, chức năng và nhiệm vụ của
mình dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc huyện Long Thành sẽ tham gia tích
cực và phát huy đầy đủ qui chế dân chủ ở cơ sở để huy động các tầng lớp nhân dân
lao động trong huyện tham gia trong việc bàn bạc, quyết định những công việc cần
thực hiện trong qui hoạch và kế hoạch hàng năm của cấp mình quản lí. Đồng thời
tạo những điều kiện thuận lợi để mọi tầng lớp nhân dân có thể phát huy hết khả
năng làm việc và hoạt động của mình.
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Đối với các nhà quản lí
- Đối với trung ương: đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình trọng điểm
trên địa bàn để đáp ứng nhu cầu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và
của tỉnh, của huyện trong thời gian tới:
+ Xây dựng tuyến cầu đường quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh) – Nhơn Trạch;
đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu; thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành - Dầu
Giây; Dầu Giây – sân bay Liên Khương (Đà Lạt); Dầu Giây – Phan Thiết.
+ Xây dựng sân bay quốc tế Long Thành và đưa vào hoạt động giai đoạn I
trước 2010.
- Đề nghị trung ương cho phép tỉnh phát triển khu đô thị công nghệ cao (khu
công nghệ cao có kết hợp đô thị phục vụ cho khu công nghệ cao) 2.000 ha tại huyện
Long Thành. Xét về lợi ích lâu dài: để hạn chế ô nhiễm môi trường khu vực thành
phố Biên Hòa và ô nhiễm sông Đồng Nai cần mở rộng các khu công nghiệp; nâng
cao tỉ trọng khu vực dịch vụ, đặc biệt là các ngành dịch vụ chất lượng cao như tài
chính ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông, bảo hiểm, y tế, tư vấn…
- Kiến nghị Chính phủ có cơ chế chính sách thích hợp cho các tỉnh vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng để đảm bảo cho mục
tiêu phát triển kinh tế. Đặc biệt hỗ trợ cho vay vốn ODA để đầu tư các dự án trọng
điểm trong vùng (tập trung cho các dự án hạ tầng kĩ thuật, về xử lí chất thải).
- Đối với tỉnh Đồng Nai: đề nghị tỉnh sẽ tiếp tục tăng cường chính sách hỗ trợ
huyện về mọi mặt, trước hết là chính sách hỗ trợ vốn, chính sách đào tạo nguồn
nhân lực.
- Đề nghị Trung ương và tỉnh và các cơ quan có liên quan sớm xây dựng và
phê duyệt các qui hoạch trên địa bàn huyện.
3.3.2. Đối với các nhà qui hoạch
- Bám sát qui hoạch của tỉnh và trung ương và đưa ra qui hoạch hợp lí cho
huyện một cách khoa học và cụ thể.
- Thường xuyên theo dõi và điều chỉnh qui hoạch kịp thời phù hợp với tình
hình thực tế tại địa phương.
- Đề nghị xem xét đến vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên và phát
triển bền vững khi xây dựng qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện trong
thời gian trước mắt và lâu dài.
3.3.3. Đối với các tổ chức xã hội
- Trong phạm vi và khả năng của mình, các tổ chức xã hội cần phát huy tốt vai
trò tham mưu để các nhà lãnh đạo và qui hoạch có cái nhìn khách quan đối với tình
hình thực tế và đưa ra những chính sách phù hợp, hiệu quả nhất.
- Huy động sức mạnh của các thành viên, đoàn kết chống tiêu cực và các tệ
nạn xã hội; xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh tại địa phương.
KẾT LUẬN
CNH – HĐH là con đường phát triển mang tính tất yếu, khách quan và không
thể thay thế đối với các nước đang phát triển muốn nhanh chóng đi lên, đuổi kịp các
nước phát triển về kinh tế và những tiến bộ trong khoa học kĩ thuật và công nghệ.
Quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam được Đảng ta xác định là có những nét đặc
thù riêng cả về nội dung, hình thức, qui mô, cách thức thực hiện lẫn mục tiêu chiến
lược. Đó là: (1) là một quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó
diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có sự kết hợp
giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều
rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về
chất, … của các tác nhân tham gia quá trình. (2) Trong bối cảnh toàn cầu hóa và
cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực
hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà phải thực hiện đồng thời và đồng bộ
CNH và HĐH như một quá trình thống nhất. (3) Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có
thể được rút ngắn. (4) - Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có quan hệ chặt chẽ với
việc từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Long Thành - một huyện trực thuộc tỉnh Đồng Nai, cũng như hầu hết các địa
phương khác, đã, đang và vẫn sẽ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quá trình CNH – HĐH
đất nước với mục tiêu là trở thành một trung tâm công nghiệp và đô thị của Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước.
Dựa vào các tiêu chí được xác định (theo GS. Đỗ Quốc Sam), huyện Long
Thành (tính đến tháng 6 năm 2009) đã đạt được các tiêu chí về mặt kinh tế và môi
trường, còn những tiêu chí về mặt xã hội vẫn chưa thể đạt được. Trong thời gian tới
(năm 2015) huyện phải nỗ lực hết sức mới có thể đạt được những tiêu chí này, khó
nhất vẫn là thu nhập bình quân đầu người và tỉ lệ đô thị hóa. Như vậy, về cơ bản,
huyện Long Thành đã thực hiện thành công quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp trong thời kì CNH – HĐH dựa trên cơ sở là
có những lợi thế từ vị trí địa lí mang tính chiến lược; tài nguyên thiên nhiên đa
dạng, thích hợp vừa phát triển nông nghiệp, vừa phát triển công nghiệp và dịch vụ
với tốc độ nhanh; các nhân tố kinh tế - xã hội (đặc biệt là chính sách ưu tiên của nhà
nước dành cho huyện, tỉnh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) cùng với bối cảnh
quốc tế hết sức thuận lợi: toàn cầu hóa, khu vực hóa và tăng cường giao lưu hợp tác
quốc tế.
Với những nỗ lực của mình, huyện Long Thành đã gặt hái được những thành
quả to lớn trong quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
công nghiệp:
- Về kinh tế: giá trỉ sản xuất tăng cao; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
ngành, theo thành phần và theo lãnh thổ với xu hướng tích cực và phù hợp với quá
trình CNH – HĐH; tăng sức cạnh tranh của hàng hóa; mở rộng thị trường; hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện; nâng cao tay nghề cho
người lao động; thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế và khu vực; đồng thời
tác động sâu sắc đến sự phát triển trong nội bộ tất cả các ngành kinh tế (nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ).
- Về xã hội: đời sống của người dân được cải thiện (mức sống được nâng cao,
giải phóng sức lao động, hệ thống giáo dục, y tế được đảm bảo…); tạo ra công ăn
việc làm đem đến thu nhập ổn định cho người lao động; góp phần hoàn thiện hệ
thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động phân theo ngành kinh tế theo hướng hợp lí; thu hút lao động từ nơi khác đến;
quá trình đô thị hóa tăng nhanh.
Tuy có nhiều thành tựu đáng ghi nhận nhưng quá trình chuyển đổi kinh tế này
cũng tạo ra những vấn đề tồn tại và khó tìm được hướng giải quyết thỏa đáng: sự
bấp bênh của nền kinh tế do phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ bên ngoài (thị trường,
vốn đầu tư, khoa học kĩ thuật); ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng và khó có
khả năng phục hồi; cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển; mức sống của người dân ngày càng chênh lệch; số lượng
người di cư ngày càng đông tạo ra những vấn đề về nhà ở, việc làm, thu nhập; đất
nông nghiệp bị thu hẹp về diện tích và bị bỏ hoang; và những tệ nạn xã hội vẫn
chưa được khắc phục...
Làm thế nào để phát huy hết các lợi thế so sánh của huyện và khắc phục những
khó khăn do quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
công nghiệp thời kì CNH – HĐH là một bài toán nan giải đòi hỏi tất cả các nhà
quản lí, nhà kinh tế và các chuyên gia qui hoạch quan tâm và tìm cách giải quyết tối
ưu nhất.
Phát triển kinh tế bền vững, hướng tới xây dựng một cuộc sống dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mới là mục đích cuối cùng của quá
trình CNH – HĐH đất nước.
Trên con đường phát triển của mình, huyện Long Thành cần phải kiên định
mục tiêu, nắm vững chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, vận dụng một
cách sáng tạo, khoa học thì sẽ đạt được hiệu quả và trở thành huyện công nghiệp
trong tương lai không xa. Đồng thời sẽ khẳng định được vai trò quan trọng của
mình đối với sự phát triển chung của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và
của cả nước.
Những bài học kinh nghiệm có thể rút ra từ quá trình thực hiện chuyển đổi
kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành
tỉnh Đồng Nai là:
1. Trong quá trình chuyển đổi, công nghiệp được chú trọng để phát triển, dịch
vụ được đầu tư nhưng tuyệt đối không được xem nhẹ ngành nông nghiệp – ngành
đã gắn bó máu thịt với người nông dân và cần có những chính sách hỗ trợ hợp lí cho
họ.
2. Xây dựng qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội cần chú ý đến sự phát triển bền
vững, tận dụng tối đa những lợi thế so sánh mà địa phương có được trong thời điểm
hiện tại để phát triển kinh tế, đồng thời tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài.
3. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách của
nhà nước trong các nhà máy xí nghiệp, các khu và cụm công nghiệp tập trung nhằm
ngăn chặn kịp thời tình trạng ô nhiễm môi trường.
4. Thực hiện các biện pháp và chính sách quản lí người nhập cư để tránh áp
lực về việc làm, nhà ở và ngăn chặn tệ nạn xã hội.
5. Phát triển các khu và cụm công nghiệp phải đi đôi với việc hình thành các
khu đô thị được chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng, đáp ứng đầy đủ
nhu cầu của người dân.
6. Thực hiện nghiêm túc qui trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất và quản lí
chặt chẽ diện tích đất nông nghiệp để hạn chế việc sử dụng sai mục đích và làm
giàu bất chính của một số cá nhân hám lợi.
7. Công khai qui hoạch sử dụng đất và qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội cho
người dân, thực hiện đúng chủ trương dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của
Đảng và nhà nước.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm từ thực tế quá trình chuyển đổi kinh tế
huyện Long Thành. Hi vọng những bài học này sẽ giúp ích được cho những huyện
đi sau phát huy được lợi thế của mình và tránh được những bất cập đáng tiếc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, Thông báo nội bộ bản tin sinh hoạt chi bộ
tháng 12 năm 2008, Hà Nội.
2. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (2002), Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị
quốc gia.
3. CIEM – Trung tâm thông tin, tư liệu (2005), Nhận thức mới về công nghiệp hóa
- hiện đại hóa nông thôn, Hà Nội.
4. CIEM – Trung tâm thông tin – Tư liệu (2005), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Việt Nam, Hà Nội
5. CIEM – Trung tâm thông tin – Tư liệu (2006), Phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam, Hà Nội
6. CIEM – Trung tâm thông tin – Tư liệu (2006), Những chủ trương và biện pháp
mới giai đoạn 2006 – 2010 về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
và nông thôn, Hà Nội
7. Cục thống kê Đồng Nai - Ủy ban nhân dân huyện Long Thành (1992), Niên
giám thống kê huyện Long Thành 1986 – 1991, Long Thành, Đồng Nai.
8. Cục thống kê Đồng Nai (2009), Niên giám thống kê 2008, Đồng Nai.
9. Vũ Năng Dũng (2004), Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước
đi, cơ chế chính sách trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
10. Vũ Tiến Dương (2003), Xác định nội dung và phương thức CNH – HĐH trong
thương mại ở nước ta thời kì tới 2010, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
11. Nguyễn Duy Hồng (2008), Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận văn thạc sĩ khoa học Địa lý học,
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
12. Đặng Hữu (2005), Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó
đến sự phát triển và lựa chọn chiến lược CNH – HĐH ở Việt Nam, Đại học
kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
13. Huyện Ủy Long Thành, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU,
Nghị quyết số 02-NQ/HU về mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ năm 2006,
Long Thành.
14. Huyện Ủy Long Thành, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU,
Nghị quyết số 07-NQ/HU về mục tiêu, nhiệm vụ năm 2007, Long Thành.
15. Huyện Ủy Long Thành, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/HU
của Ban chấp hành Đảng bộ huyện năm 2008, Long Thành.
16. Huyện Ủy Long Thành, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 11-
NQ/TU, Nghị quyết số 09-NQ/HU 6 tháng đầu năm và phương hướng,
nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2009, Long Thành.
17. Huyện Ủy Long Thành, Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 63-
NQ/TU ngày 26/2/2004 của BCH Đảng bộ tỉnh (khóa VII) về công tác
thanh niên và xây dựng tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong thời kì
cong nghiệp hóa - hiện đại hóa từ nay đến năm 2010, Long Thành.
18. Huyện Ủy Long Thành (2002), Long Thành 25 năm xây dựng và phát triển
(1975 – 2000), Long Thành, Đồng Nai.
19. Nguyễn Văn Lịch (2005), Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp
CNH – HĐH ở Việt Nam, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
20. Lê Đào Luận (2001), Dự báo đặc điểm phân bố dân cư trong quá trình đô thị
hóa để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kì 2000-2020, Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường.
21. Nguyễn Thành Nghị (2005), Nghiên cứu và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu
quả quản lí và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình CNH – HĐH đất
nước, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
22. Đặng Văn Phan (2008), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, Thành phố Hồ
Chí Minh.
23. Phòng Thống kê huyện Long Thành (2000), Số liệu kinh tế xã hội 5 năm (1996-
2000) huyện Long Thành, Long Thành.
24. Phòng Thống kê huyện Long Thành, Tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm
2006-2008 trên địa bàn huyện Long Thành, Long Thành.
25. Đỗ Quốc Sam (2000), Một số vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa sau 20 năm
đổi mới, Hà Nội.
26. Đỗ Quốc Sam (2005), Thế nào là một nước công nghiệp?, Hà Nội.
27. Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp – lí luận thực tiễn và
triển vọng áp dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp.
28. Nguyễn Xuân Thu (2001), Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân
bố lực lượng sản xuất theo các vùng đô thị ở Việt Nam, Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường.
29. Nguyễn Xuân Thu (2006), Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH – HĐH,
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
30. Trường Đại học Thăng Long (2007), Giáo trình Kinh tế chính trị (Chương IX:
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế trong thời kì quá độ lên
CNXH), ĐH Thăng Long, Hà Nội.
31. Đào Thế Tuấn, Đào Thế Anh và Nguyễn Vũ Quang (2004), Cơ sở khoa học của
vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
CNH– HĐH ở Việt Nam trong tương lai, Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn.
32. Nguyễn Minh Tuệ (1995), Một số vấn đề địa lí công nghiệp, Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
33. Ủy Ban nhân dân huyện Long Thành, Báo cáo Qui hoạch tổng thể kinh tế - xã
hội huyện Long thành đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (2006), Long
Thành.
34. Ủy Ban nhân dân huyện Long Thành (2008), Báo cáo thuyết minh tổng hợp
Điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất
2006-2010 huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai, Long Thành.
35. Ủy Ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2008), Hồ sơ qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, Đồng Nai.
36. Viện kinh tế Việt Nam (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá
trình CNH – HĐH, Hà Nội.
p1
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 73/2008/QĐ-TTg
----- o0o -----
Ngày 04 Tháng 06 năm 2008
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2020
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tại tờ trình số 8926/TTr-UBND
ngày 21 tháng 12 năm 2006 và công văn số 8576/UBND-TH ngày 23 tháng 10 năm
2007, ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại công văn số 9398/BKH-TĐ&GSĐT
ngày 21 tháng 12 năm 2007 và công văn số 2577/BKH-TĐ&GSĐT ngày 10 tháng 4
năm 2008 về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai đến năm
2020,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai đến
năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
- Đồng Nai là một cực tăng trưởng kinh tế của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam,
cần phát huy điều kiện xuất phát điểm phát triển đã có, kết hợp nội lực với các
nguồn lực bên ngoài, chủ động nắm bắt thời cơ hội nhập để phát triển kinh tế - xã
hội, nâng cao hơn nữa vai trò động lực và đóng góp của Tỉnh vào phát triển kinh tế -
xã hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử
dụng đất và hiệu quả vốn đầu tư để tăng GDP. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
kết hợp với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển đô thị và nông thôn
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Chuyển đổi nhanh cơ cấu sản phẩm theo hướng gia tăng hàm lượng công nghệ, lao
động kỹ thuật, đón trước công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh
của công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Phát triển nhanh một số ngành công
p2
nghiệp, dịch vụ mũi nhọn có thể trở thành ngành kinh tế chủ lực để thúc đẩy và tiếp
tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong các giai đoạn sau 2010, đồng thời
phát huy vai trò lan tỏa về công nghiệp và dịch vụ của Tỉnh với vai trò là một trong
những đầu tàu lôi kéo phát triển kinh tế của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ
môi trường và bảo đảm vững chắc quốc phòng (cid:31) an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
bảo đảm công bằng và dân chủ xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường.
- Phát triển kinh tế - xã hội phối hợp với quá trình phát triển chung của vùng Kinh tế
trọng điểm phía Nam và cả nước, hợp tác chặt chẽ với các tỉnh, thành trong vùng để
phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, bảo vệ môi trường, phát triển
nguồn nhân lực và nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển nhanh, toàn diện và bền vững các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo
đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; xây dựng Đồng Nai trở thành Trung tâm công
nghiệp, dịch vụ lớn và hiện đại của khu vực phía Nam; phấn đấu đến năm 2010 trở
thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, năm 2015 trở thành tỉnh cơ bản công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, năm 2020 thành tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Mục tiêu về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong từng giai đoạn 5 năm cao gấp hơn 1,3 - 1,4 lần
mức bình quân chung của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tốc độ tăng trưởng
bình quân năm trong các giai đoạn:
+ Giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt 14% - 14,5%;
+ Giai đoạn 2011 - 2015 đạt 14,5% - 15%;
+ Giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,5% - 14%.
- GDP bình quân đầu người (tính theo giá hiện hành) vào năm 2010 đạt 1.590 USD,
năm 2015 đạt 3.270 USD và đến năm 2020 đạt 6.480 USD;
- Cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ - nông nghiệp, cụ thể:
+ Năm 2010: công nghiệp 57% - dịch vụ 34% - nông nghiệp 9%;
+ Năm 2015: công nghiệp 55% - dịch vụ 40% - nông nghiệp 5%;
p3
+ Năm 2020: công nghiệp 51% - dịch vụ 46% - nông nghiệp 3%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 20% - 22% giai đoạn đến năm 2010 và tăng
18% - 20% giai đoạn 2011 - 2020;
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm so với GDP giai đoạn từ nay đến
năm 2010 chiếm 24% - 25%, giai đoạn 2011 - 2020 chiếm 25% - 27%;
- Tổng vốn đầu tư phát triển giai đoạn từ nay đến năm 2010 đạt khoảng 101.000 tỷ
đồng, giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 210.000 tỷ đồng và giai đoạn 2016 - 2020
đạt khoảng 386.000 tỷ đồng.
b) Mục tiêu về văn hóa, xã hội
- Quy mô dân số: năm 2010 khoảng 2,5 triệu người, năm 2015 khoảng 2,7 triệu
người và năm 2020 khoảng 2,8 - 2,9 triệu người;
- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: năm 2010 xuống còn 1,15%; năm 2015 xuống còn
1,1% và năm 2020 xuống còn 1%;
- Hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông đến năm 2010;
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: năm 2010 dưới 15%, năm 2015 dưới
10% và năm 2020 dưới 5%;
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010 từ 9,8% năm 2005 xuống
dưới 4% vào năm 2010 và xóa nghèo trong giai đoạn 2011 - 2015;
- Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 đạt 53% - 55%, năm 2015 đạt trên 60%
và đến năm 2020 đạt trên 70%;
- Giảm tỷ lệ lao động không có việc làm ở khu vực đô thị xuống dưới 2,8% vào năm
2010 và dưới 2% trong giai đoạn 2015 - 2020;
- Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt trên 96% vào năm 2010 và giai
đoạn 2011 - 2020 trên 98%;
- Nâng tuổi thọ trung bình của dân số năm 2010 lên 76 tuổi, năm 2015 lên 77 tuổi và
năm 2020 lên 78 tuổi;
- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt trên 98% vào năm 2010 và đến năm 2020 đạt 100%.
c) Mục tiêu về môi trường
- Đến năm 2010 nâng tỷ lệ che phủ của cây xanh đạt 50%, trong đó độ che phủ của
rừng đạt 30%. Đến năm 2015 tỷ lệ che phủ cây xanh đạt 51%, năm 2020 đạt 52%;
- Đến năm 2010 thu gom và xử lý theo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường các loại rác
thải đô thị, rác thải công nghiệp không độc hại đạt 70 - 80% và 100% đến năm 2015.
p4
Rác thải y tế đạt 100% và chất thải rắn độc hại trên 60% vào năm 2010, 80% vào
năm 2015 và 100% vào năm 2020;
- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch đạt trên 95% vào năm 2010, năm 2015 đạt trên 99% và
đến năm 2020 đạt 100%.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ LĨNH VỰC
1. Công nghiệp
a) Phát triển công nghiệp theo hướng mở rộng quy mô đi kèm với chuyển đổi nhanh
cơ cấu sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh bền vững cho công nghiệp trong quá trình
hội nhập;
b) Ưu tiên thu hút đầu tư các ngành công nghiệp mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh:
- Nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng (cát, đá, gạch, ngói(cid:31));
- Nhóm sản phẩm gốm, sứ, gạch men (gốm mỹ nghệ, sứ dân dụng và công nghiệp,
gạch men);
- Nhân hạt điều và các loại khác;
- Thức ăn chăn nuôi;
- Bột ngọt;
- Vải sợi các loại;
- Quần áo may sẵn và sản phẩm phụ kiện;
- Giầy dép và sản phẩm phụ kiện;
- Hóa dược và nông dược (cho người và động, thực vật);
- Nhựa và các sản phẩm từ nhựa;
- Máy móc thiết bị nông nghiệp;
- Ô tô, xe máy và sản xuất linh kiện, phụ tùng;
- Dây và cáp điện các loại;
- Máy móc thiết bị điện công nghiệp;
- Sản xuất linh kiện điện tử và máy móc thiết bị điện tử, tin học, viễn thông;
- Sản phẩm chế biến từ gỗ.
c) Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ với phát triển dịch vụ, đô thị, phát triển
nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho người lao động nhất là nhà
ở cho công nhân và bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong các khu
công nghiệp và hình thành một số khu, cụm công nghiệp chuyên ngành.
p5
- Đến năm 2010 xây dựng và phát triển 34 khu công nghiệp với tổng diện tích
khoảng 12.779 ha, trong đó có Khu đô thị công nghệ cao Long Thành với diện tích
2.000 ha. Xây dựng và phát triển 47 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng
2.136 ha;
- Đến năm 2015 xây dựng và phát triển 40 đến 42 khu công nghiệp (tổng diện tích
13.000 - 14.000 ha); củng cố và mở rộng các cụm công nghiệp đã có (mở rộng diện
tích lên 2.500 - 3.000 ha), chỉ xây dựng thêm cụm công nghiệp mới khi cần đảm bảo
hiệu quả đầu tư và đã có nhu cầu đầu tư, đồng thời phát triển dần các cụm công
nghiệp thành khu công nghiệp;
- Đến năm 2020 xây dựng và phát triển 45 đến 47 khu công nghiệp (tổng diện tích
15.000 - 16.000 ha); chuyển dần các cụm công nghiệp có đủ điều kiện thành các khu
công nghiệp.
d) Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 18,4%; 17,5% và 16,5% trong các
giai đoạn 2006 - 2010, 2011 - 2015 và 2016 - 2020. Sản phẩm công nghiệp công
nghệ cao và tiên tiến chiếm trên 75% và trên 85% giá trị sản xuất đến 2015 và 2020.
2. Nông, lâm nghiệp, thủy sản
- Phát huy điều kiện đất đai, sinh thái kết hợp với nâng cấp hệ thống thủy lợi, gắn
nông nghiệp với công nghiệp chế biến và đổi mới mô hình sản xuất để đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp hàng hóa. Tập trung phát triển các nông sản hàng hóa chủ lực
như rau quả chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, cây công nghiệp, sản phẩm chăn
nuôi.
- Xây dựng và phát triển các mô hình kinh doanh sản xuất nông nghiệp, các khu
công nghiệp công nghệ cao và các mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã chăn nuôi,
trồng trọt có mức độ chuyên môn hóa và thâm canh cao.
- Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân 5,2%; 4,6% và 4% trong các giai
đoạn 2006 - 2010, 2011 - 2015 và 2016 - 2020.
3. Thương mại - dịch vụ
Phát triển lĩnh vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung
của nền kinh tế để thúc đẩy phát triển toàn diện và cân đối các ngành, lĩnh vực kinh
tế và xã hội. Nâng GDP dịch vụ bình quân đầu người của tỉnh lên 500 USD/người
vào năm 2010, 1200 USD/người vào năm 2015 và 2.800 USD/người vào năm 2020.
p6
- Dịch vụ vận tải - kho bãi: Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh
vận tải hàng hóa và hành khách, tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển hàng năm lên
75 - 80 triệu tấn vào năm 2015 và 130 - 140 triệu tấn vào năm 2020. Xây dựng tổng
kho trung chuyển Miền Đông cho cả vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin: Phát triển mạng dịch vụ điện thoại đến
năm 2015 có 80 - 90 máy/100 dân và đến năm 2020 có 110 - 120 máy/100 dân. Phát
triển mạng dịch vụ Internet đến năm 2015 có 25 - 30 thuê bao Internet/100 dân và
đến năm 2020 có 35 - 40 thuê bao Internet/100 dân.
- Dịch vụ tài chính - tín dụng: Đẩy mạnh phát triển dịch vụ tài chính - tín dụng với
tốc độ tăng trưởng đạt bình quân 22%/năm - 23%/năm trong thời kỳ từ nay đến năm
2015 và 19%/năm - 20%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Tập trung phát triển hệ
thống ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng đa dạng hóa các hình thức huy động
vốn, mở rộng các dịch vụ kinh doanh và tiện ích ngân hàng đáp ứng nhu cầu của
khách hàng.
- Du lịch: Phát triển du lịch theo hướng kết hợp du lịch nhân văn với du lịch sinh
thái và du lịch thể thao - giải trí, xây dựng các khu du lịch trọng điểm: Khu du lịch
văn hóa Bửu Long; Khu du lịch nghỉ dưỡng cù lao Hiệp Hòa; Khu du lịch Thác Mai;
Khu du lịch Vườn quốc gia Cát Tiên; Khu du lịch di tích lịch sử chiến khu Đ.
- Thương mại: Phát triển hệ thống bán lẻ ở các đô thị trong tỉnh, xây dựng Trung
tâm thương mại có quy mô cấp vùng tại thành phố Biên Hòa và các trung tâm
thương mại ở các đô thị Long Khánh, Nhơn Trạch và Long Thành. Xây dựng mạng
lưới chợ đầu mối giao dịch hàng hóa và sản phẩm nông sản, chợ xã phục vụ nhu cầu
tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm cho nông thôn. Tăng cường hợp tác và xúc tiến
thương mại để tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng và quảng bá
thương hiệu hàng hóa, sản phẩm của địa phương.
4. Khoa học - công nghệ
- Đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ quản lý trong các ngành kinh tế.
- Đẩy mạnh phát triển mạng lưới các cơ sở, trung tâm về tư vấn và chuyển giao công
nghệ. Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất ở các ngành các cấp.
- Xây dựng khu đô thị công nghệ cao ở Long Thành làm cơ sở để hình thành và phát
triển các ngành công nghiệp công nghệ cao.
p7
5. Giáo dục - đào tạo
Ưu tiên huy động các nguồn lực hiện có và thu hút đầu tư cho phát triển giáo dục -
đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo kết hợp với tăng cường xây dựng hệ
thống trường lớp, đầu tư hoàn chỉnh trang thiết bị dạy học nhất là thiết bị công nghệ
thông tin trong nhà trường và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên công lập để đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao về giáo dục - đào tạo; từng bước nâng tầm giáo dục và
đào tạo ở Tỉnh tiếp cận với trình độ quốc tế và vươn lên ngang hàng khu vực vào
giai đoạn 2010 - 2015.
- Giáo dục mầm non: khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây
dựng, kiên cố hóa trường mầm non, xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
đạt tỷ lệ 25% đến năm 2010. Huy động trẻ em trong độ tuổi đi nhà trẻ đến lớp đạt
trên 20%, 35% và 50% vào năm 2010, 2015 và 2020; trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo
đến lớp đạt 100% vào giai đoạn 2016 - 2020.
- Giáo dục phổ thông: giữ vững kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập
giáo dục trung học cơ sở, đồng thời tiến đến đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục
trung học cơ sở đúng độ tuổi và phổ cập bậc trung học vào năm 2010. Huy động các
em trong độ tuổi đi học phổ thông đến trường đạt 100% vào năm 2015. Đến năm
2010, kiên cố hóa 100% cơ sở trường, lớp, xây dựng trường đạt tiêu chuẩn quốc gia
đạt 50% số trường tiểu học, 40% số trường trung học cơ sở và 80% số trường trung
học phổ thông.
- Giáo dục chuyên nghiệp: đẩy mạnh phát triển giáo dục chuyên nghiệp, nâng tỷ lệ
lao động có trình độ cao đẳng và đại học đạt trên 15% vào năm 2015 và trên 18%
vào năm 2020. Nâng trường Cao đẳng sư phạm thành trường Đại học Cộng đồng,
trường Trung học Y tế, Trung học Kỹ thuật công nghiệp, Trung học Văn hóa nghệ
thuật, Trung học Kinh tế, Trung học dân lập Bưu chính tin học và viễn thông lên
trường Cao đẳng; đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường Sư phạm thực hành
tại thành phố Biên Hòa, trường Trung học chuyên nghiệp tại Nhơn Trạch; mở thêm
các trường đào tạo kỹ thuật và công nghệ thông tin để phục vụ nhu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
6. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Từng bước hiện đại hóa mạng lưới y tế, mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ
y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Đầu tư xây dựng các bệnh viện và cơ sở khám
p8
chữa bệnh. Thực hiện xã hội hóa các dịch vụ y tế, kết hợp giữa y tế công và y tế
ngoài công lập nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về bảo vệ, chăm sóc và nâng
cao sức khỏe của nhân dân. Phấn đấu tăng số giường bệnh/1 vạn dân đạt 22
giường/1 vạn dân, 28 giường/1 vạn dân và 32 giường/1 vạn dân vào năm 2010, 2015
và 2020; số bác sĩ/1 vạn dân đạt 7 bác sĩ/1 vạn dân, 7,5 bác sĩ/1 vạn dân và 8 bác
sĩ/1 vạn dân vào năm 2010, 2015 và 2020.
- Phát triển mạng lưới khám chữa bệnh: nâng cấp 5 bệnh viện đa khoa hiện có đạt
tiêu chuẩn bệnh viện hạng II vào giai đoạn 2010 (cid:31) 2015. Xây dựng mới bệnh viện
đa khoa trung tâm tỉnh đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng I với 700 giường bệnh. Xây
dựng thêm 2 bệnh viện huyện ở 2 huyện mới được thành lập, đồng thời nâng cấp các
bệnh viện trung tâm y tế huyện để bảo đảm mỗi huyện có một bệnh viện loại III đến
năm 2010; tiếp tục nâng cấp dần các bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng
II trong giai đoạn sau năm 2010. Xây dựng 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế vào
năm 2010. Phát triển phòng khám đa khoa khu vực theo cụm xã trong giai đoạn
2011 - 2015.
- Y tế dự phòng: tăng cường các hoạt động y tế dự phòng, khống chế kịp thời không
để các dịch bệnh xảy ra trên địa bàn. Bảo đảm 98% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm
chủng đầy đủ 6 loại vacxin phòng bệnh, trên 80% chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh
sản khi có thai được tiêm phòng uốn ván.
- Giảm tỷ lệ sinh; từng bước nâng cao chất lượng dân số.
7. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, gia đình
- Phát triển lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, gia đình nhằm nâng cao đời
sống tinh thần, rèn luyện sức khỏe, xây dựng nếp sống văn minh cho nhân dân.
- Phấn đấu đến năm 2010 có trên 96% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa;
trên 95% ấp, khu phố đạt danh hiệu ấp, khu phố văn hóa.
- Đến năm 2015 có trên 98% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; trên 97%
ấp, khu phố đạt danh hiệu ấp, khu phố văn hóa.
8. Thực hiện chính sách lao động và xã hội
- Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, bảo đảm phát triển bền vững, hài hòa
giữa phát triển kinh tế nhanh với tạo chuyển biến cơ bản trong giải quyết các vấn đề
xã hội. Tích cực thực hiện các chính sách lao động, giải quyết việc làm và xã hội, cải
thiện nhanh và nâng cao một bước đời sống nhân dân lao động. Nâng tỷ lệ lao động
p9
qua đào tạo nghề đạt từ 53% - 55% vào năm 2010, trên 60% vào năm 2015 và trên
70% vào năm 2020. Giảm tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh
từ 9,8% năm 2005 xuống dưới 4% vào năm 2010 và xóa nghèo trong giai đoạn 2011
- 2015.
- Tăng cường thực hiện quyền bình đẳng về giới, bảo vệ quyền lợi trẻ em, tăng
cường chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tăng cường thực hiện các chương
trình phòng, chống tệ nạn xã hội.
9. Quản lý tài nguyên và môi trường
- Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên bảo đảm hài hòa giữa phát triển
kinh tế và xã hội, trước mắt và lâu dài.
- Tăng cường kiểm soát, phòng, chống ô nhiễm môi trường, mở rộng mạng lưới
quan trắc môi trường nhất là ở các khu vực có khu công nghiệp và đô thị để dự báo
và xử lý kịp thời ô nhiễm môi trường. Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống thoát
nước và xử lý nước thải ở các khu công nghiệp, đô thị, khu dân cư tập trung trong
tỉnh, xây dựng các khu xử lý rác thải sinh hoạt và công nghiệp.
10. An ninh - quốc phòng
- Tiếp tục củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, phát triển kinh tế - xã
hội đi đôi với xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc. Xây dựng lực
lượng vũ trang tỉnh vững mạnh, sẵn sàng đối phó thắng lợi với các tình huống xảy
ra.
- Đẩy mạnh phong trào quần chúng tham gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội, củng cố
thế trận an ninh nhân dân, tăng cường xây dựng lực lượng công an nhân dân nhất là
tuyến xã. Phối hợp các lực lượng thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia về
phòng, chống tội phạm và bài trừ các tệ nạn xã hội.
11. Xây dựng kết cấu hạ tầng
a) Giao thông
- Đường bộ:
+ Quốc lộ 1: đoạn trong phạm vi thành phố Biên Hòa quy hoạch thành đường đô thị;
mở mới đoạn tuyến vòng tránh thị xã Long Khánh 4 - 6 làn xe cơ giới. Quốc lộ 1
tránh thành phố Biên Hòa xây dựng đạt tiêu chuẩn cấp III từ nay đến năm 2010 và
nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp I - II vào giai đoạn sau năm 2015;
+ Quốc lộ 20: nâng cấp đoạn từ ngã tư Dầu Giây đi tỉnh Lâm Đồng;
p10
+ Quốc lộ 51: đoạn từ thành phố Biên Hòa đến ranh giới tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
nâng cấp hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn cấp II từ nay đến 2010;
+ Quốc lộ 56: đoạn từ ngã ba Tân Phong đến giáp ranh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
nâng cấp toàn tuyến đạt tiêu chuẩn cấp III từ nay đến 2010 và đạt tiêu chuẩn cấp I -
II vào giai đoạn sau năm 2010;
+ Tập trung xây dựng mới cầu Đồng Nai trước năm 2010 để đảm bảo an toàn giao
thông;
+ Quốc lộ 1K: đoạn từ Km0 đến giáp ranh tỉnh Bình Dương, nâng cấp đạt tiêu chuẩn
đường đô thị, từ nay đến năm 2010 xây dựng thêm cầu Hóa An mới;
+ Đường vành đai thành phố Biên Hòa: giai đoạn sau năm 2010 xây dựng đường
vành đai nối thành phố Biên Hòa - thị xã Thủ Dầu Một - thành phố Hồ Chí Minh-
Bến Lức với quy mô 4 - 6 làn xe;
+ Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu: xây dựng trong giai đoạn từ nay đến năm
2010 với quy mô giai đoạn đầu 4 - 6 làn xe, giai đoạn tiếp theo 12 làn xe;
+ Đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây: xây dựng trước
2010;
+ Đường cao tốc Dầu Giây - Đà Lạt: xây dựng sau năm 2010, kết nối với đường cao
tốc Long Thành - Dầu Giây;
+ Tập trung xây dựng cầu đường từ Quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh) sang Nhơn
Trạch trước năm 2010;
+ Tiếp tục xây mới bổ sung và nâng cấp, nhựa hóa 100% các tuyến đường tỉnh đạt
tiêu chuẩn cấp III từ nay đến 2015. Giai đoạn từ nay đến 2010, ưu tiên nâng cấp các
tuyến đường tỉnh quan trọng 762, 765, 767, 768 đạt tiêu chuẩn cấp III - IV;
+ Đẩy nhanh tốc độ nhựa hóa, bê tông hóa toàn bộ mạng lưới đường huyện, đường
xã và ấp theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Từ nay đến năm 2020
xây dựng các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp IV, các đường xã đạt
tiêu chuẩn cấp V hoặc tối thiểu đường nông thôn loại A. Giai đoạn đến năm 2010,
kiên cố hóa 40% - 60% đường xã.
- Đường sắt:
+ Đường sắt quốc gia trên địa bàn: quy hoạch chuyển tuyến đường sắt quốc gia
không còn đi vào trung tâm thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2010 - 2015, từ ga
p11
Trảng Bom chuyển tuyến xuống khu vực ga Biên Hòa mới (tại phường Bình Tân).
Từ ga Biên Hòa mới xây dựng tuyến đường sắt Biên Hòa đi Bà Rịa - Vũng Tàu;
+ Đường sắt đô thị: thành phố Biên Hòa xây dựng 3 tuyến đường sắt đô thị (ngã ba
chợ Sặt - bến xe ngã tư Vũng Tàu kết nối với tuyến metro Bến Thành - Thủ Đức -
Quận 9; tuyến đường sắt đô thị trên cao Biên Hòa - cầu Hang - Dĩ An; tuyến đường
sắt đô thị vành đai sông Cái). Thành phố Nhơn Trạch xây dựng tuyến đường sắt
nhanh trên cao từ Thủ Thiêm đi theo hành lang đường cao tốc thành phố Hồ Chí
Minh - Long Thành - Dầu Giây, đường Quận 9 - Nhơn Trạch và đường 25B ra sân
bay Long Thành (xây dựng sau khi có sân bay Long Thành).
- Cảng:
+ Khu cảng trên sông Thị Vải: cảng tổng hợp Gò Dầu A công suất 1 - 1,3 triệu
tấn/năm, tiếp nhận tàu 5.000 - 10.000 DWT; cảng Gò Dầu B công suất 1,5 - 4,2 triệu
tấn/năm, tiếp nhận tàu 15.000 - 20.000 DWT; cảng tổng hợp và container Phước An
công suất 6 - 10 triệu tấn/năm; cảng chuyên dụng Phước Thái công suất 1,13 triệu
tấn/năm hàng khô và 1,42 triệu tấn/năm hàng lỏng, tiếp nhận tàu 10.000 - 20.000
DWT;
+ Khu cảng trên sông Nhà Bè - Lòng Tàu: cảng tổng hợp Phú Hữu 1 công suất 2 - 3
triệu tấn/năm, tiếp nhận tàu 20.000 DWT; cảng nhà máy đóng tàu 76 phục vụ đóng
và sửa chữa tàu đến 50.000 DWT; cảng xăng dầu Phước Khánh tiếp nhận tàu 25.000
DWT; cảng dầu nhờn Trâm Anh tiếp nhận tàu 2.000 - 5.000 DWT; cảng xăng dầu
Comeco tiếp nhận tàu 25.000 DWT; cảng gỗ mảnh Phú Đông; cảng gỗ dăm Viko
Wochimex; cảng Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch công suất 1,16 triệu tấn/năm, tiếp
nhận tàu 20.000 DWT và cảng Sunsteel hàng xi măng, xỉ bột;
+ Khu cảng trên sông Đồng Nai: mở rộng quy mô cảng Đồng Nai công suất 1 triệu
tấn/năm, tiếp nhận tàu 5.000 DWT; cảng tổng hợp Phú Hữu 2 có khả năng tiếp nhận
tàu 30.000 DWT vào giai đoạn sau năm 2010; củng cố cảng Công ty Vật tư xăng
dầu tiếp nhận tàu 1.000 - 2.500 DWT và cảng SCTGAS-VN tiếp nhận tàu 1.000
DWT;
- Hàng không: xây dựng sân bay quốc tế Long Thành quy mô thiết kế 100 triệu hành
khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa, cấp sân bay đạt tiêu chuẩn 4F, diện tích chiếm
đất khoảng 5.000 ha (giai đoạn 1 đến năm 2015 với năng lực thiết kế 20 triệu hành
khách/năm; giai đoạn 2 với năng lực thiết kế 80 triệu hành khách/năm);
p12
b) Cấp nước sạch:
- Từ nay đến năm 2010: nâng công suất nhà máy nước Nhơn Trạch I lên 25.000 m3/ngày; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhà máy nước Nhơn Trạch công suất 100.000 m3/ngày bảo đảm nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các Khu công nghiệp
và đô thị lớn trong Tỉnh; xây dựng và nâng cấp các nhà máy nước và trạm nước ở
các thị trấn, thị xã để cấp nước tại chỗ;
- Giai đoạn 2011 - 2020: xây dựng thêm 2 -3 nhà máy nước có công suất 100.000 - 200.000 m3/ngày, bố trí 1 - 2 nhà máy ở khu vực phía Đông của tỉnh để có thể sử
dụng nguồn nước của sông La Ngà; nâng công suất các nhà máy nước Thiện Tân, Nhơn Trạch lên 200.000 - 300.000 m3/ngày; xây dựng thêm và nâng cấp một số nhà
máy, trạm nước ở các thị xã, thị trấn, khu đô thị mới để bổ sung cấp nước cho khu
vực đô thị và khu vực nông thôn đồng bằng trong Tỉnh.
c) Thủy lợi:
- Để đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, từ nay đến năm 2020; dự kiến xây
dựng thêm 55 hồ chứa, xây mới 49 đập dâng, 26 trạm bơm và bổ sung một số công
trình kênh, đê bảo đảm tổng diện tích tưới đạt khoảng 49.140 ha, tiêu và ngăn lũ 24.430 ha và cấp nước đạt 176.800 m3/ngày;
- Giai đoạn đến năm 2010: ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình hồ chứa: Cầu
Dầu, Cầu Mới (giai đoạn II), Gia Măng, Gia Đức, Lộc An, Thoại Hương, Suối Tre,
Suối Sâu và Phú An; các trạm bơm: Cao Cang, Đắc Lua, Tà Lài, Phú Tân, Lý Lịch,
ấp 8 - Nam Cát Tiên; nạo vét các công trình tiêu thoát lũ: Săn Máu, Suối Sâu, Suối
Trầu, Phước Thái, kênh tiêu Long Khánh, khu vực cống Lò Rèn và 27 điểm chứa
nước phòng cháy rừng.
12. Phát triển đô thị
- Thành phố Biên Hòa: là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật,
đầu mối giao lưu của Tỉnh; đồng thời, là trung tâm công nghiệp và đầu mối giao lưu
quan trọng của Vùng thành phố Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và vùng Kinh tế
trọng điểm phía Nam. Quy mô dân số đến năm 2010 là 645.000 người, năm 2020 là
830.000 người. Quy mô đất xây dựng đô thị năm 2010 khoảng 8.132 ha và năm
2020 khoảng 9.966 ha;
- Thành phố Nhơn Trạch: từng bước xây dựng đô thị Nhơn Trạch là trung tâm công
nghiệp, dịch vụ, đô thị loại II. Quy mô dân số đến năm 2010 khoảng 265.000 người,
p13
năm 2020 khoảng 600.000 người. Quy mô đất xây dựng đô thị năm 2010 khoảng
10.000 ha, năm 2020 khoảng 22.700 ha.
- Đô thị Long Thành: xây dựng đô thị Long Thành đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị
phục vụ cho phát triển kinh tế của Tỉnh trong giai đoạn sau năm 2010. Chức năng là
đô thị dịch vụ và công nghiệp, trung tâm dịch vụ vận chuyển hàng không, đô thị
khoa học công nghệ của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, đến năm 2020 là đô thị
cấp III có quy mô dân số nội thị 180.000 - 200.000 người.
- Thị xã Long Khánh: là trung tâm đầu mối giao lưu thương mại hàng hóa nông sản
thực phẩm, công nghiệp chế biến của vùng phía Đông; đến năm 2020 đô thị Long
Khánh phát triển thành đô thị loại III, quy mô dân số khoảng 80.000 - 100.000
người.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Huy động vốn đầu tư thực hiện quy hoạch
Tập trung huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển để thực hiện quy hoạch; xây
dựng các chính sách thu hút đầu tư; kêu gọi đầu tư dưới nhiều hình thức: đầu tư trực
tiếp, gián tiếp, liên doanh, đầu tư các dự án xây dựng hạ tầng theo các phương thức
như: BOT, BTO, BT, vận động vay vốn ODA. Đồng thời tăng cường các biện pháp
nâng cao hiệu quả đầu tư.
2. Tiếp tục củng cố, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp và nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội
Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cấp cơ sở phải hiểu biết
pháp luật và cập nhật các kiến thức liên quan đến hội nhập. Đồng thời không ngừng
đổi mới cơ chế, chính sách quản lý để phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong
phát triển các ngành, lĩnh vực ở Tỉnh.
3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại
Tích cực thực hiện các chương trình, hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại
trong và ngoài nước để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
4. Phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường các hoạt động đào tạo nghề và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và
lực lượng lao động, quản lý. Xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút
nhân tài trong tất cả lĩnh vực, ngành nghề. Khuyến khích, hỗ trợ thanh niên khởi
nghiệp và tham gia các hoạt động xã hội.
p14
5. Đẩy mạnh phát triển các loại thị trường
Tăng cường phát huy cơ chế thị trường kết hợp với cơ chế, chính sách quản lý của
Nhà nước để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát triển thị trường
lao động.
6. Xây dựng chương trình hành động thực hiện quy hoạch
- Xây dựng các chương trình phát triển cụ thể của từng lĩnh vực trong mỗi giai đoạn.
- Phân công các cấp các ngành trong tỉnh, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành
Trung ương để tổ chức triển khai và kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch. Xây
dựng chương trình, dự án đầu tư thực hiện quy hoạch theo từng giai đoạn.
7. Thông tin tuyên truyền về quy hoạch
Sau khi quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thông báo rộng rãi đến tất cả
các ngành, các địa phương và nhân dân trong tỉnh biết để phối hợp tổ chức thực
hiện.
8. Định kỳ tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Tỉnh nhằm bảo
đảm tính đồng bộ, thông thoáng và phù hợp với quy định chung của pháp luật.
Điều 2. Quy hoạch này là định hướng, cơ sở cho việc lập, trình duyệt và triển khai
thực hiện các quy hoạch chuyên ngành, các dự án đầu tư trên địa bàn của Tỉnh theo
quy định.
Điều 3. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ và phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh trong Quy hoạch, chủ trì, phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan chỉ đạo việc lập, trình duyệt và triển khai thực hiện theo quy
định:
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thị xã, quy hoạch phát triển hệ
thống đô thị và các điểm dân cư, quy hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực để bảo đảm sự phát triển tổng thể,
đồng bộ.
- Nghiên cứu xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành một số cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của
Tỉnh và pháp luật của Nhà nước trong từng giai đoạn nhằm thu hút, huy động các
nguồn lực để thực hiện Quy hoạch.
- Lập các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; các chương trình phát triển trọng
điểm, các dự án cụ thể để đầu tư tập trung hoặc từng bước bố trí ưu tiên hợp lý.
p15
- Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc điều chỉnh, bổ sung Quy
hoạch kịp thời, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và cả nước
trong từng giai đoạn Quy hoạch.
Điều 4. Các Bộ, ngành liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai nghiên cứu lập các quy
hoạch nói trên; nghiên cứu xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành một số cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh trong từng giai đoạn nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực,
khuyến khích, thu hút đầu tư để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng
phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh nêu trong báo cáo Quy hoạch. Đẩy nhanh việc
đầu tư, thực hiện các công trình, dự án có quy mô, tính chất vùng và quan trọng đối
với sự phát triển của Tỉnh đã được quyết định đầu tư. Nghiên cứu xem xét, điều
chỉnh, bổ sung vào các quy hoạch phát triển ngành, kế hoạch đầu tư các công trình,
dự án liên quan dự kiến sẽ được đầu tư nêu trong báo cáo Quy hoạch.
Điều 5. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chịu trách nhiệm thi hành
Quyết định này./
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)

