intTypePromotion=1
ADSENSE

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học: Tiền đề và thách thức

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

16
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích tổng hợp dữ liệu liên quan chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Kết quả cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục đại học dựa trên các tiền đề và những thách thức xuất phát từ bối cảnh hiện nay. Kết quả phân tích cũng xác định chuyển đổi số trong giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên mới. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyển đổi số trong giáo dục đại học: Tiền đề và thách thức

  1. Chung Ngọc Quế Chi Trường Cao đẳng Kinh Tế Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích tổng hợp dữ liệu liên quan chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Kết quả cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục đại học dựa trên các tiền đề và những thách thức xuất phát từ bối cảnh hiện nay. Kết quả phân tích cũng xác định chuyển đổi số trong giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: chuyển đổi số, giáo dục đại học. I. Đặt vấn đề Trong kỷ nguyên 4.0, chuyển đổi số là mục tiêu được quan tâm hàng đầu với tất cả các quốc gia, các lĩnh vực. Tại Việt nam, thời gian qua, ngành giáo dục đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Thời gian tới, mục tiêu của ngành giáo dục là phấn đấu để Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo. Vậy, để đạt mục tiêu này, chuyển đổi số trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học có những tiền đề, thách thức gì? Tại sao xác định chuyển đổi số trong giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu hiện nay? Những nội dung nào cần thực hiện để hướng đến hoàn thành mục tiêu chung?Những nội dung này sẽ được tác giả trình bày trong bài viết . II. Nội dung nghiên cứu 1. Tổng quan chuyển đổi số trong giáo dục đại học 1.1. Chuyển đổi số Khó có một định nghĩa rõ ràng, cụ thể về chuyển đổi số, bởi quá trình áp dụng chuyển đổi số có sự khác biệt ở từng lĩnh vực. Nhưng, về nội hàm các định nghĩa về chuyển đổi số đều có điểm chung: Chuyển đổi số là quá trình chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình số bằng cách ứng dụng các công nghệ mới: điện toán đám mây (Cloud computing), dữ liệu lớn (Big data), Internet vạn vật (IOT),…, để thay đổi phương thức quản lý, điều hành, thay đổi quy trình, phương thức làm việc, thay đổi văn hóa tổ chức. 91
  2. 1.2. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học Trong thời kỳ công nghiệp 4.0, chuyển đổi số được nhận định là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng năng lực cạnh tranh tất cả các lĩnh vực. Đối với giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, chuyển đổi số mang lại cơ hội áp dụng công nghệ tạo ra những thay đổi nhanh chóng về mô hình, cách thức tổ chức và phương pháp dạy học: Lớp học truyền thống được thay thế bằng lớp học trực tuyến, lớp học ảo; Không gian học tập đa dạng hơn; Big data sẽ là nguồn dữ liệu vô tận để học tập trải nghiệm; Tài nguyên học tập số sẽ vô cùng phong phú; Chương trình dạy học được thiết kế đa dạng hơn, cụ thể hơn và đáp ứng tốt hơn. Hiểu đúng về chuyển đổi số, đánh giá đúng tiền đề, thách thức để xây dựng lộ trình thực hiện chuyển đổi số hợp lý nhằm nhanh chóng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng với “ các nhà trường” trong bối cảnh hiện nay. 2. Tiền đề chuyển đổi số trong giáo dục đại học 2.1. Tiền đề bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học: Cách mạng công nghiệp 4.0 đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật, là sự hội tụ của nhiều công nghệ và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh. Do đó, sự phát triển và phổ biến của CNTT tại Việt Nam là một lợi thế trong cuộc cách mạng số này. Cách mạng 4.0 làm nhiều công việc sẽ biến mất, những công việc mới được tạo ra, nhiều ngành nghề sẽ được chuyển đổi. Điều này làm cho việc đầu tư và quan tâm vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thiên tai, dịch bệnh quy mô lớn Covid- 19: Năm 2020 chứng kiến diễn biến chưa từng có trong lịch sử thế giới hiện đại. Nhiều hoạt động xã hội bị đình trệ trên phạm vi quốc gia và toàn cầu do đại dịch Covid 19. Khi giáo dục là nhu cầu đương nhiên được đáp ứng, chúng ta đối mặt câu hỏi ‘làm sao để được giáo dục’. Triển khai được hoạt động giáo dục không chỉ là vấn đề cá nhân, mà còn của nhà trường, cơ quan quản lý và sự vận hành xã hội. Khi giáo dục trực tiếp tại trường lớp là không thể, vấn đề chuyển đổi số trở thành giải pháp cứu cánh. Nhờ các công cụ truyền thông, kỹ thuật số và nền tảng học tập, nhiều trường đại học đã có thể cho sinh viên học tại nhà. Theo số liệu từ Hội nghị "Đào tạo trực tuyến giáo dục đại học trong đại dịch Covid 19", đến tháng 4/2020 có khoảng 110/240 cơ sở giáo dục đại học đã triển khai đào tạo trực tuyến với các cấp độ khác nhau,khoảng gần 80% học sinh Việt Nam đã học trực tuyến, xếp 17/200 quốc gia và vùng lãnh thổ kịp thời ứng dụng CNTT trong giáo dục để ứng phó đại dịch. 92
  3. Có thể nói, dịch Covid-19 đã "giúp" tất cả các thành phần trong xã hội Việt Nam vượt qua “ngưỡng của sự do dự” trong ứng dụng CNTT; tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục. 2.2. Tiền đề về chủ trương, chính sách Hình 1: Chủ trương, chính sách, đề án, chương trình nổi bật về chuyển đổi số Năm 2017,Thủ tướng ký ban hành quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 phê duyệtđề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”. Về pháp lý, Bộ GDĐT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện, hoàn thiện hành lang pháp lý (Quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng; Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học; Quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu toàn ngành, chuẩn dữ liệu kết nối;…)Với mục tiêu chung: “Tăng cường ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở trung ương và các địa phương; đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học và công tác quản lý tại các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.” [1] Giai đoạn 2018-2019 Năm 2018, ngành Giáo dục đưa vào sử dụng cơ sở dữ liệu toàn quốc về giáo dục với 53.000 trường học, 710 phòng GDĐT, gần 24 triệu học sinh và hơn 1.4 triệu giáo viên được gắn mã định danh. Thông tin của 393 trường đại học, cao đẳng với 2,5 triệu sinh viên, 120.000 giảng viên cũng được cập nhật trên hệ thống. 93
  4. Năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng, lấy ý kiến và trình Thủ tướng Chính phủ Dự thảo Đề án “Chuyển đổi số quốc gia” nhằm thực hiện chuyển đổi bứt phá để hướng tới một Việt Nam số (Digital Việt Nam). Chuyển đổi số Quốc gia trong các lĩnh vực ngành nghề trọng điểm trong đó có Giáo dục. Năm 2020, Thủ tướng ký ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030". Nhiệm vụ của ngành GDĐT trong Chương trình: “ Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình. Ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp học.” 2.3 Tiền đề về cơ sở vật chất Sự phát triển các công nghệ hiện đại trong cách mạng công nghiệp 4.0: Quá trình phát triển vũ bão của các công nghệ mới, sự phổ biến các kênh truyền thông số như Facebook, YouTube, website, email, truyền hình, apps…trở thành điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình chuyển đổi số tronggiáo dục đại học diễn ra nhanh hơn. Việt Nam là đất nước có tỉ lệ cao sở hữu và sử dụng công nghệ: Theo thống kê của Appota, lượng người sử dụng Internet đến 01/2020 đạt 68,17 triệu người, chiếm 70% dân số, trong đó có 65 triệu người dùng mạng xã hội và hơn 145,8 triệu người kết nối mạng dữ liệu di động tại Việt Nam[6]. Việt Nam đang nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới. Điều này là điểm sáng cho việc tiếp cận với công nghệ của giáo dục hơn. Nền kinh tế phát triển, người Việt đầu tư cho giáo dục nhiều hơn: Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam hiện đang ở mức xấp xỉ 2.800 USD, chỉ kém các quốc gia có thu nhập trung bình cao khoảng 990 USD/ người. Với mức chi tiêu trung bình cho giáo dục là 40% tổng thu nhập, người Việt Nam sẽ còn tiếp tục đầu tư vào các chương trình giáo dục nhiều hơn nữa trong tương lai. Giáo dục đào tạo phát triển và ứng dụng CNTT để đổi mới: Ngành đã triển khai số hóa, Hệ thống quản lý hành chính điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung từ Trung ương đến tất cả các Sở, Phòng GDĐT và các cơ sở giáo dục. Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều sử dụng phần mềm quản trị nhà trường. Về cơ sở học liệu, Giáo viên các ngành học, cấp học được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành với gần 5.000 bài giảng E- 94
  5. learning, hơn 2.000 bài giảng trên truyền hình, 200 thí nghiệm ảo, 35.000 câu hỏi trắc nghiệm, trên 7.500 luận án tiến sĩ… góp phần xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời. Các mối liên kết phát triển nguồn lực chuyển đổi số: để nhanh chóng hòa nhập vào định hướng chung phát triển chuyển đổi số, các trường đại học đã tạo các mối liên kết, ký kết các biên bản hợp tác với các trung tâm đào tạo bồi dưỡng về chuyển đổi số, các doanh nghiệp, giữa các trường đại học nhằm phát huy tối đa năng lực, khả năng của các bên trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tư vấn giải pháp số, chuyển đổi số; khai thác tiềm năng về cơ sở vật chất, con người, kinh nghiệm của các bên. 2.4 Tiền đề nhân lực Với dân số 96 triệu người, với nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh trong khu vực, dân số trẻ năng động và có khả năng tiếp cận công nghệ nhanh chóng, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc chuyển đổi số. Việt Nam rất ý thức trong việc xây dựng một đội ngũ nhân lực thực hiện chuyển đổi số trực tiếp và gián tiếp. Bộ GDĐT cũng làm việc với một số đại học trong nước và quốc tế tại Việt Nam để thúc đẩy việc phát triển nhân lực chuyển đổi số. Các trường đại học đã rà soát để mở các mã ngành mới đào tạo đội ngũ kỹ sư chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. 3.Thách thức chuyển đổi số trong giáo dục đại học 3.1. Về bối cảnh Những tiến bộ trong kỹ thuật số cũng mang đến những thách thức cho người dạyvà người học bởi thông tin đa chiều, khó kiểm chứng hoặc thông tin thiên lệch được cung cấp bởi không gian mạng. Việc tiếp xúc hàng ngày với dữ liệu số được điều khiển phần lớn bởi các thuật toán khó hiểu tạo ra rủi ro và đòi hỏi nhiều hơn tư duy phản biện, khả năng tham gia tích cực và thành thạo vào môi trường kỹ thuật số. Bên cạnh đó, Chuyển đổi số tại Việt Nam cũng gặp không ít những khó khăn từ đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội khác với các nước phát triển. 3.2. Về cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý chưa thật đầy đủ, phát sinh các vấn đề “nhảy cảm” về quyền riêng tư, chia sẻ dữ liệu; vấn đề bản quyền; quy định khai thác cơ sở dữ liệu, kho học liệu số; tính pháp lý của hồ sơ điện tử; bảo mật dữ liệu và an ninh mạng … 3.3. Về cơ sở vật chất Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT, đường truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo viên, học sinh - đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó khăn – còn thiếu,chưa đồng bộ, nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số. Đây là 95
  6. nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về cơ hội học tập, tiếp cận kiến thức giữa học sinh sinh viên ở các vùng miền, các nhà trường. Đồng thời “Hiện tượng” phát triển ồ ạt của quá trình chuyển đổi số , trong khi hạ tầng mạng chưa được trang bị đầy đủ, đồng bộ dễ dẫn đến tình trạng “quá tải’ Hiện nay vấn đề xây dựng học liệu còn phát triển tự phát, chưa đi vào nề nếp và thành hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học tập. Một trong những trở lực ngăn việc chuyển đổi số thành công là: thiếu chi phí và các nguồn lực, việc vận động các nguồn lực xã hội cũng gặp không ít khó khăn 3.4. Về nhân lực Mặc dù có số lượng lớn người sử dụng Internet và các mạng xã hội nhưng việc sử dụng công nghệ cho mục đích giáo dục chưa cao. Trình độ tin học của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các nhà trường còn hạn chế và không đồng đều; Tâm lý ngại tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, ngại đổi mới trong ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý và giảng dạy, điều đó làm cho CNTT dù đã được đưa vào quá trình quản lý, dạy học vẫn chưa phát huy hiệu quả. Đối với sinh viên, tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, do vậy phần nào ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động dạy- học. 4. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết trong kỷ nguyên mới 4.1. Nguyên nhân Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu, xu hướng thời đại: Những năm qua, việc chuyển đổi số đã và đang được các quốc gia trên thế giới đẩy mạnh triển khai mang lại những hiệu quả tích cực. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, ngành Giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Các nhà trướng phải khẩn trương thực hiện chuyển đổi số nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại. Bên cạnh đó, chuyển đổi sổ trong các trường đại học hướng đến mục tiêu đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động trong và ngoài nước. Các lợi ích chuyển đổi số mang lại : Chủ động trong công việc học tập: Điểm cộng của nền giáo dục công nghệ số là mang tới không gian học tập lý tưởng, phù hợp với mọi đối tượng. Nó loại bỏ những giới hạn về khoảng cách, tối ưu thời gian học và nâng cao nhận thức, tư duy của người học. Truy cập tài liệu học tập không giới hạn: Truy cập tài liệu học tập không giới hạn với kho học liệu trực tuyến khổng lồ, người dùng có thể truy cập vào các tài nguyên học tập một cách dễ dàng, ít tốn kém hơn, không bị giới hạn bất kể tình trạng kinh tế của họ. 96
  7. Nâng cao chất lượng giáo dục:Chuyển đối số ngành giáo dục đã tạo ra kỷ nguyên mới, thời đại mà người dạy và người học được trao quyền để sử dụng công nghệ. Các thành tựu công nghệ như Big data giúp lưu trữ mọi kiến thức lên không gian mạng, IoT (Internet vạn vật) giúp theo dõi hành vi của học sinh, quản lý, giám sát học sinh, hay Blockchain giúp xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của học sinh, cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu. Tiết kiệm chi phí học tập tối đa: Khả năng tiết kiệm được chi phí học tập là một lợi ích lớn, thiết thực mà áp dụng công nghệ số mang lại. Chuyển đổi số tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho người học. Thay vì đến các trường công, họ có thể tham gia vào các khóa học E-learning với chi phí rẻ hơn nhiều lần. Thậm chí người họccó thể tùy chọn khóa học phù hợp với bản thân và những môn mà bản thân họ thực sự quan tâm. Điều này giúp việc học tập hiệu quả, chất lượng hơn. 4.2. Những điều cần thực hiện Từ việc phân tích các thách thức, nguyên nhân trên, trong thời gian tới, để thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học, thiết nghĩ cần thực hiện những nội dung sau: Đối với ban ngành quản lý giáo dục Tăng cường phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm, thông suốt về tư tưởng, quán triệt quan điểm chuyển đổi số là xu thế tất yếu của ngành và quyết tâm hợp lực thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành giáo dục. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý về:sở hữu trí tuệ, bản quyền, an toàn thông tin mạng; kiểm định chất lượng, … Các cơ chế chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt các nguồn lực tài chính phục vụ hoạt động chuyển đổi số trong giáo dục. Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) toàn ngành GDĐT kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường, gia đình, giáo viên giảng viên, học sinh sinh viên; đồng bộ với các CSDL quốc gia, CSDL các ngành khác góp phần hình thành CSDL mở quốc gia; thực hiện số hóa triệt để, sử dụng văn bản điện tử, sổ sách điện tử; hoạt động chỉ đạo, điều hành,hội họp, tập huấn được thực hiện chủ yếu trên môi trường mạng. Phát triển một cách thống nhất, đồng bộ thúc đẩy phát triển học liệu số ở tất cả các cấp học, ngành học, môn học gắn với việc thẩm định nội dung, kết nối, chia sẻ học liệu giữa các địa phương, nhà trường; hình thành kho học liệu số, học liệu mở dùng chung toàn ngành, liên kết quốc tế, đáp ứng nhu cầu tự học, học tập suốt đời, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền; 97
  8. Ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số, khuyến khích và hỗ trợ áp dụng các mô hình giáo dục đào tạo mới dựa trên các nền tảng số. Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực của ngành trong thực hiện chuyển đổi số: Mở các lớp tập huấn bồi dưỡng kỹ năng sử dụng CNTT, kỹ năng an toàn thông tin, kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả các ứng dụng phục vụ công việc dạy - học đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số cho nhân lực toàn ngành; Phát triển các khóa học trực tuyến mở, hình thành mạng học tập mở, triển khai hệ thống học tập trực tuyến dùng chung toàn ngành phục vụ công tác bồi dưỡng giáo viên, hỗ trợ dạy học cho các vùng khó khăn, trao đổi chia sẻ các kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chuyển đổi số giữa các cơ sở giáo dục. Đối với các trường đại học Để việc chuyển đổi số không chỉ là theo “xu hướng, phong trào” mà còn phải mang lại hiệu quả cho nhà trường , quy trình chuyển đổi số tại các trường đại học nên quan tâm thực hiện các vấn đề Một là,rà soát mong muốn , xác định mục tiêu, lộ trình: Dưới sự thay đổinhanh chóngcủa công nghệ, trước khi cân nhắc việc áp dụng chuyển đổi số, nhà trường cần có một tâm thái bình tĩnh để tìm ra mục tiêu quan trọng nhất hướng đến dựa trên sự thấu hiểu điều kiện, môi trường, đặc điểm tổ chức hoạt động của nhà trường, “hình dung” lộ trình chuyển đổi số để lập kế hoạch chi tiết. Hai là,đánh giá mức độ sẵn sàng: Sau khi đã có một hình dung nhất định về lộ trình chuyển đổi số cũng như thứ tự ưu tiên, cần phải đánh giá lại mức độ sẵn sàng cho việc tái cấu trúc quy trình tổ chức vận hành. Đây là một bài toán không hề đơn giản bởi nó đòi hỏi phải thoả mãn 2 yếu tố: Yếu tố Con người: là yếu tố quan trọng hơn cả vì xét cho cùng công nghệ cũng chỉ là một loại công cụ và hiển nhiên, không có một công cụ thần thánh nào có thể thay thế tư duy con người, tất cả mọi sự thay đổi cũng phải xuất phát từ con người, do con người thực hiện; Yếu tố cơ sở vật chất: chuyển đổi số đòi hòi hạ tầng công nghệ mới, trang thiết bị mới cho cả người học, người trực tiếp giảng dạy, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Ba là, rà soát quy trình, cáchthức tổ chức, quản lý hoạt động của nhà trường để đưa ra các thay đổi cần thiết: Quy trình nào hay khâu nào đang chưa sẵn sàng và nên giải quyết như thế nào để tìm ra một hướng đi hợp lý. Bốn là, tìm ra một giải pháp phù hợp và tối ưu: Chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bối cảnh. Cách thức và quá trình chuyển đổi không có một 98
  9. công thức chung, đòi hỏi mỗi nhà trường cần phải đề ra chiến lược, giải pháp và lộ trình chuyển đổi riêng cho mình. Năm là, nuôi dưỡng tính cam kết , quyết tâm trong chuyển đổi số của ban lãnh đạo và toàn thể nhà trường : Khi công nghệ đã trở nên quá phổ biến, người ta thường dễ bỏ qua những giá trị căn bản nhất là con người. Để thực sự chuyển đổi số thành công, mỗi thành viên trong nhà trường cần phải được trang bị một nền tảng kỹ năng công nghệ đồng đều. Cần có sự quyết tâm, đồng thuận, hợp tác của tất cả các thành viên trong nhà trường thì việc triển khai chuyển đổi số mới đạt kết quả. Sáu là thiết lập và phát triển các mối liên kết, hợp tác giữa các trường đại học, liên kết các trung tâm nghiên cứu đào tạo số, các doanh nghiệp: các trường đại học phải cùng phát triển học liệu điện tử và học liệu, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo trực tuyến; Kết hợp các trung tâm nghiên cứu, đào tạo chuyển đổi số bồi dưỡng kỹ năng nguồn nhân lực; Tận dụng các mối liên kết, hợp tác doanh nghiệp cùng đồng hành với nhà trường trong quá trình chuyển đổi số. Đối với giảng viên Về tư tưởng, quan điểm Cần có tinh thần đổi mới, tiếp cận thực tế, thường xuyên cập nhật thông tin liên quan vấn đềchuyển đổi số đặc biệt trong hoạt động giáo dục. Cần có sự quyết tâm , mạnh dạn trong tiếp cận những công nghệ mới Ý thức được giảng viên là người kết nối, mắc xích quan trọng trong chuỗi hoạt động chuyển đổi số của nhà trường bởi giảng viên là những người trực tiếp thực hiện, kết nối các hoạt động giữa nhà trường và người học. Về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ Cần có trình độ chuyên môn vững đối với chuyên ngành giảng dạy, nghiên cứu hiểu biết các lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành giảng dạy. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn bằng các phương pháp hiện đại, tiên tiến. Liên tục cập nhật, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn. Có khả năng thích nghi và nhạy bén với công nghệ, làm chủ công nghệ và tạo ra sự tự do, sáng tạo trong công tác. Chủ động tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, chủ động bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ, kỹ năng mới để tổ chức hoạt động giảng dạy. Nâng cao năng lực sử dụng các phương tiện công nghệ: Người dạy phải có năng lực quản lý tài nguyên mạng, có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện công nghệ phục 99
  10. vụ quá trình dạy học, chuyển đổi từ các hình thức giảng dạy truyền thống sang các hình thức giảng dạy áp dụng công nghệ số hóa. Tận dụng sự hỗ trợ đồng hành của các nhân viên kỹ thuật và các chuyên gia công nghệ để đảm bảo việc giảng dạy diễn ra suôn sẻ, trôi chảy. Nâng cao trình độ ngoại ngữ: Để tiếp cận những tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến do sự phát triển của công nghệ 4.0 mang lại, con người không thể không thông thạo ngoại ngữ. Đây là điều cần thiết để giảng viên hội nhập với xu hướng kết nối toàn cầu, hội nhập với giáo dục đại học thế giới. Vì thế người giảng viên cần nâng cao trình độ ngoại ngữ bằng nhiều biện pháp khác nhau như học theo các chương trình đào tạo, tự học hay thông qua sách báo, phim ảnh,.... Về hoạt động giảng dạy Cần thành thạo trong các kỹ năng giảng dạy từ cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức và khuyến khích học viên thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện… Giảng viên phải là những chuyên gia trong lĩnh vực phụ trách, phải là những nhà nghiên cứu khoa học giỏi. Thay đổi phương pháp giảng dạy: Thay đổi quan trọng nhất là giảng viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và xóa mù thông tin. Vận dụng sáng tạo, đổi mới các phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra , đánh giá người học phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi giảng viên trong quá trình giảng dạy. Kết luận Chuyển đổi số hàm chứa những thách thức nhưng cũng là cơ hội. Chuyển đổi số là yếu tố quyết định đóng góp vào sự phát triển và nâng tầm giáo dục. Kinh nghiệm của các nước thực hiện thành công chuyển đổi số trong giáo dục cho thấy, trước hết phải hiểu rõ về chuyển đổi số, có sự chuẩn bị để tự tin nhập cuộc, chọn thời điểm chín muồi thực hiện chuyển đổi số. Hy vọng rằng với chủ trương đúng đắn và kịp thời của nhà nước, sự đồng thuận, hợp lực của toàn ngành giáo dục, khả năng thích ứng của các trường đại học, giáo dục của Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu chung trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo , góp phần đắc lực thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế, để tạo tiền đề thúc đẩy sự đất nước ngày một phát triển. 100
  11. Tài liệu tham khảo: [1]. Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” [2]. T.Hoài, (2020), “Chuyển đổi số trong giáo dục đại học - Bài 1: Thích ứng với nhu cầu nhân lực mới”, Tin tức Thông tấn xã Việt Nam, Truy cập tại: [3]. https://baotintuc.vn/giao-duc/chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc-bai-1-thich-ung- voi-nhu-cau-nhan-luc-moi-20201114073103805.htm [4]. TS. Tô Hồng Nam, (2020), “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo: Thực trạng và giải pháp”, (Số 2 tháng 04/2020), trang 35 [5]. ThS. Bùi Thị Nga, ThS. Lê Vũ Toàn, ThS. Lưu Đức Long, (2020), “ Giáo dục đại học: Cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số”, Tạp chí thông tin và truyền thông, (Số 5+6 tháng 06/2020), trang 26 [6]. Đỗ Thị Ngọc Quyên, (2021) , “Chuyển đổi số trong giáo dục: Thách thức và nguy cơ”, Tia Sáng, Truy cập tại : [7]. https://tiasang.com.vn/-giao-duc/Chuyen-doi-so-trong-giao-duc-Nhung-thach-thuc-va- nguy-co-26836 [8]. "Thống kê Internet Việt Nam 2020 Vnetwork JSC", (2020), truy cập tại: https://vnetwork.vn/news/thong-ke-internet-viet-nam-2020 101
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2