intTypePromotion=1
ADSENSE

Chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi Việt Nam tham gia TPP: Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

16
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phản ánh thực trạng chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời đưa ra một số đề xuất khuyến nghị nhằm kiểm soát gian lận chuyển giá tại Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam tham gia một cách sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời mở ra cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư khổng lồ từ các nước tham gia ký kết TPP. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi Việt Nam tham gia TPP: Thực trạng và giải pháp

  1. CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI KHI VIỆT NAM THAM GIA TPP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP FDI COMPANIES’TRANSFER PRICING WHEN VIETNAM JOINS THE TPP: PRACTICES AND SOLUTIONS TS. Tạ Quang Bình Trường Đại học Thương mại Tóm tắt Việc ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam tham gia một cách sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời mở ra cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư khổng lồ từ các nước tham gia ký kết TPP. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong thời gian qua dành cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những ưu đãi về thuế đã tạo cơ hội cho những công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hình thành nên các thủ thuật tính giá hàng hóa chuyển giao nội bộ theo hướng có lợi cho công ty mình. Hoạt động chuyển giá không còn mới tại Việt Nam nhưng luôn là vấn đề nóng thu hút sự quan tâm của dư luận và cơ quan quản lý. Bài viết phản ánh thực trạng chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời đưa ra một số đề xuất khuyến nghị nhằm kiểm soát gian lận chuyển giá tại Việt Nam. Từ khóa: chuyển giá, TPP, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam Abstract Signing of the Agreement on the Trans-Pacific partnership (TPP) has created favorable conditions for Vietnam to participate further in the world’s economy, in addition opening up opportunities to attract huge investments from the countries which signthe TPP. The preferential policies for investors recent years, particularly tax incentives have created opportunities for FDI companies forming the tricks of internal transfer pricing in favor of their firms. The research reflects real situation in the FDI companies’ transfer pricing in Vietnam, and also offers several recommendations to control transfer pricing. Key words: transfer pricing, the TPP, FDI companies 289
  2. Đặt vấn đề Sự hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu tất yếu của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc tham gia ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm 2015đã mở ra cơ hội tham gia vào thị trường quốc tế ở mức độ sâu hơn, rộng hơn cho Việt Nam. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất từ dòng vốn đầu tư của các nước thành viên tham gia TPP có trình độ phát triển cao, có thể mang lại những lợi ích lan tỏa đáng kể về công nghệ và kỹ năng quản lý, hay các lĩnh vực dịch vụ với giá trị gia tăng nổi bật. Mức tăng đầu tư sẽ giúp thúc đẩy sự hình thành vốn cố định và tạo cơ hội cho Việt Nam lợi thế cạnh tranh vượt trội về thu hút vốn đầu tư từ các nước khác, do các nước cạnh tranh với Việt Nam như Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Myanmar... đều chưa được tham gia TPP. Đối với Việt Nam, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong thời gian qua dành cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những ưu đãi về thuế đã thúc đẩy hay tạo cơ hội cho những công ty có vốn đầu tư nước ngoài(FDI) hình thành nên các thủ thuật tính giá các hàng hóa chuyển giao nội bộ theo hướng có lợi cho công ty mình. Những gian lận này ngày càng được đa dạng hóa và trở nên tinh vi hơn đồng thời cũng đang ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều giao dịch giữa các chủ thể liên kết. Báo cáo của Thanh tra Tổng cục Thuế vào cuối năm 2015 cho thấy nạn chuyển giá và trốn thuế đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng và bức thiết, vàhầu như không một doanh nghiệp FDI nào khi bị kiểm tra mà không vi phạm về khai lỗ, trốn thuế. Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, trong năm 2015, ngành thuế đã tập trung trong việc chống chuyển giá, mà trọng tâm là chống chuyển giá đối với doanh nghiệp FDI có giao dịch liên kết, liên tục khai lỗ nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh. Kết quả thanh tra, kiểm tra tại 2.210 doanh nghiệp ngành thuế đã truy thu, truy hoàn, phạt 988,1 tỉ đồng (tăng 32,3% so với năm 2014), giảm khấu trừ 136,95 tỉ đồng. Ngoài ra, thanh tra thuế đã buộc doanh nghiệp phải giảm lỗ lên tới hơn 4.192 tỉ đồng. Theo cơ quan này, số tiền truy thu chủ yếu tập trung ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI (chiếm 40% tổng số thu), với tỷ lệ số thu bình quân trên một doanh nghiệp của khu vực này là 1,73 tỉ đồng. Đây thật ra là một con số không đáng kể, tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ số lượng doanh nghiệp được cho là có vi phạm. Cụ thể, theo báo cáo của 63 cục thuế, hơn 100 chi cục thuế trên cả nước, kết quả thanh tra tại 870 doanh nghiệp FDI thì có tới 720 doanh nghiệp vi phạm.Có một số địa phương khi đi kiểm tra, tỷ lệ vi phạm lên đến 100% như Cục thuế Quảng Ngãi khi thanh tra 27 doanh nghiệp thì tất cả đều vi phạm; hoặc tại Bắc Giang thanh tra 14 doanh nghiệp thì cả 14 đều vi phạm. Tỷ lệ này diễn ra tương tự tại các Cục thuế của tỉnh Hòa Bình (16/16), Gia Lai (15/15), Bắc Kạn (6/6), Bạc Liêu (4/4), Bình Phước (4/4), Đắk Nông (7/7), Kon Tum (4/4), Phú Thọ (2/2), An Giang (7/7)… Tại Hà Nội khi thanh tra 332 doanh nghiệp thì phát hiện có 326 doanh nghiệp vi phạm, số tiền giảm lỗ hơn 1.500 tỉ đồng, truy thu, phạt, truy hoàn gần 498 tỉ đồng. Tương tự, TPHCM thanh tra 193 doanh nghiệp thì có tới 164 doanh nghiệp vi phạm, giảm lỗ hơn 870 tỉ đồng và truy thu, phạt gần 173 tỉ đồng. Trước đó, theo kết quả khảo sát và phân tích về hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam năm 2013, nhóm nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cũng cho thấy, khoảng 20% doanh nghiệp FDI thực hiện việc chuyển lợi nhuận nhằm giảm gánh nặng thuế. Kết quả này dựa trên cơ sở khảo sát thu thập ý kiến của 1.609 doanh nghiệp FDI đến từ 49 290
  3. quốc gia khác nhau, hoạt động trên địa bàn 13 tỉnh, thành của Việt Nam có mật độ doanh nghiệp FDI cao nhất. Cũng theo điều tra của VCCI, vào cuối năm 2015, xác suất các doanh nghiệp FDI coi Việt Nam là một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu thực hiện chuyển giá là 13-20%. Đồng thời, 37% doanh nghiệp mà nước xuất xứ có thuế suất thấp hơn Việt Nam đều có xu hướng thực hiện chuyển giá. Và khi Việt Nam tham gia TPP, số lượng doanh nghiệp FDI đổ vốn vào Việt Nam để tận dụng ưu đãi mức thuế thấp ngày một lớn thì nguy cơ Việt Nam trở thành “thiên đường chuyển giá và trốn thuế” ngày càng trở nên rõ nét. Làm thế nào để ngăn chặn tình trạng này, nhất là khi Việt Nam tham gia TPP và AEC là nhiệm vụ trọng tâm của rất nhiều cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là của các cơ quan quản lýthuế trong giai đoạn hiện nay. Bài viết phản ánh thực trạng chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời đưa ra một số đề xuất khuyến nghị nhằm kiểm soát gian lận chuyển giá tại Việt Nam. 1. Tổng quan nghiên cứu về chuyển giá Chuyển giá bắt đầu trở thành vấn đề nổi cộm những tháng cuối năm 2012 ở Việt Nam khi hàng loạt các doanh nghiệp FDI tên tuổi như Coca Cola, Pepsico, Adidas, Metro,...bị nghi ngờ chuyển giá do báo lỗ nhiều năm liên tiếp trong khi vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh. Cụm từ “chuyển giá doanh nghiệp” vì vậy thường được gắn riêng cho các doanh nghiệp FDI trong khi thực tế, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp trong nước. Hiểu theo nghĩa rộng, chuyển giá doanh nghiệp là việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách tối giản hóa nghĩa vụ đối với Ngân sách nhà nước. Theo thông lệ quốc tế, chuyển giá được hiểu là “việc thực hiện chính sách giá“pricing policy”, đối với hàng hóa, dịch vụ giữa các thành viên trong cùng nhóm (hoặc tập đoàn) qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước nhận đầu tư trên toàn cầu. Để làm được điều này, công ty đa quốc gia phải vận dụng những khác biệt trong chính sách, ưu đãi thuế, chênh lệch thuế suất giữa các quốc gia để xây dựng chính sách về giá giao dịch trong nội bộ nhóm (hoặc tập đoàn) (Witendorff, 2010) [15].Thực tế, nhóm lợi ích hoặc tập đoàn không nhất thiết phải có tính đa quốc gia mà có thể là nhóm công ty có nhiều công ty con hoạt động kinh doanh trong nước hoặc thậm chí được thực hiện bởi các công ty là các chủ thể kinh tế độc lập, song chủ sở hữu của chúng lại có mối quan hệ liên kết với nhau. Như vậy, cần hiểu hành vi chuyển giá theo một nghĩa rộng hơn, đó là hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng cách thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các đối tác liên kết (Hà Hương Lan, 2012) [12]. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuyển giá và kiểm soát hoạt động chuyển giá. Luật chống chuyển giá của Cơ quan thuế nội địa Mỹ (IRS) ban hành năm 1994 đưa ra những điều luật và hướng dẫn về giá chuyển giao. Đây chính là cơ sở để các cơ quan Nhà nước thiết lập các công cụ và rào cản nhằm ngăn chặn tình trạng chuyển giá. Báo cáo về việc xác định giá chuyển nhượng của các công ty đa quốc gia trong OECD (1995) [11] đề cập đến các nguyên tắc tính giá chuyển nhượng trong các nước thành viên OECD. Nghiên cứu của Hongren, Charles và Skikant (2006) đã phân tích thực tiễn hoạt động kiểm soát việc chuyển giá của IRS và của các cơ quan thuế vụ của Nhật Bản và Hàn Quốc. Richardson, 291
  4. Taylor và Lanis (2013) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển giá của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Otxtraylia và chỉ ra rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn, lợi nhuận nhiều, tỷ trọng tài sản vô hình lớn thường dễ tham gia vào hoạt động chuyển giá. Tại Việt Nam, nhiều công trình của các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu về chuyển giá. Nguyễn Thị Phương Hoa (2012) [9] [10] [11]xem xét quá trình chuyển giá ở các công ty đa quốc gia và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế chuyển giá. Các đề tài của Ngô Thế Chi (2012)[7], Nguyễn Văn Phụng (2011) [8] đã cập nhật quy định về định giá chuyển giao ở một số nước và các tổ chức quốc tế cũng như nêu được thực trạng công tác định giá chuyển giao ở các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát hiện và ngăn chặn hành vi chuyển giá. Bài viết này sẽ hệ thống hóa các hình thức chuyển giá cơ bản tại Việt Nam, chỉ ra một số trường hợp điển hình về chuyển giá tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thời gian qua, đồng thời đưa ra một số giải pháp khuyến nghị đối với các cơ quan Nhà nước trong việc phát hiện, ngăn chặn và kiểm soát các hành vi chuyển giá. 2. Các hình thức chuyển giá cơ bản của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong thời gian qua Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khu vực doanh nghiệp FDI hiện nay là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, với mức đóng góp trên 20% GDP, 45% sản lượng công nghiệp và 1/4 tổng đầu tư xã hội hàng năm. Về xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 của các DN FDI tại Việt Nam đạt gần 90 tỷ USD (chưa tính dầu thô), tăng gần 30% so với năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu của nhóm các DN FDI nói chung đạt 78 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động của các công ty này chưa tạo được sức lan tỏa, nhiều DN liên tiếp báo lỗ trong nhiều năm với số tiền lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong khi đó, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng trưởng và mở rộng đầu tư, đặc biệt, một số DN báo lỗ 3 năm liên tiếp với số lũy kế gần 300 tỷ đồng, và với việc báo lỗ đó, đa phần các công ty hoàn toàn không phải đóng thuế, thậm chí còn lợi dụng các kẽ hở trong luật dành cho doanh nghiệp FDI để đề nghị hoàn thuế. Việc thua lỗ của các công ty FDI, trong khi các DN trong nước cùng ngành nghề vẫn có lãi và nộp thuế đầy đủ đã thể hiện hoạt động chuyển giá rất rõ nét, đa dạng và trở thành thách thức lớn với các cơ quan Nhà nước Việt Nam. Thời gian vừa qua, hành vi chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất đa dạng và phức tạp, và đã dẫn tới nhiều hậu quả gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, gây thất thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước. Nguy hiểm hơn, tình trạng này kéo dài sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh, cạnh tranh không bình đẳng với doanh nghiệp trong nước, dần dần sẽ thôn tính các doanh nghiệp nội địa Việt Nam bằng cách thực hiện chiêu thức giảm giá bán sản phẩm trong giai đoạn đầu sản xuất kinh doanh nhằm chiếm lĩnh thị phần, gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Khi các doanh nghiệp Việt Nam không còn đứng vững trên thị trường nước nhà, các doanh nghiệp FDI thống lĩnh thị trường nội địa và trở nên độc quyềnhơn. Đã có rất nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã thực hiện hành vi chuyển giá, hoặc nghi ngờ chuyển giá, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cơ quan Nhà nước của Việt Nam hầu như chưa có 292
  5. bằng chứng xác thực, hoặc chưa có các luật, quy định hay điều khoản chặt chẽ để kiểm soát hoặc xử phạt nghiêm đối các hành vi này. Các hành vi chuyển giá xuất hiện tại Việt Nam trong những năm qua được cụ thể hoá như sau: - Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ: Điển hình của chuyển giao công nghệ là đối với lĩnh vực sản xuất thực phẩm, nước giải khát, lắp ráp ô tô, khi các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền. Chuyển giao công nghệ là loại chuyển giao tài sản vô hình mang tính đặc thù cao, rất khó định giá và khó tìm kiếm được loại tương tự để so sánh, do đó, hành vi chuyển giá này ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ. Một trong những nguyên nhân làm cho doanh nghiệp có sử dụng công nghệ của bên liên kết nước ngoài thua lỗ nặng nề trong những năm qua là do phải gánh chịu chi phí bản quyền cao hơn rất nhiều so với mức độ sử dụng, trong khi bên liên kết tại nước ngoài ngày càng phát triển lớn mạnh nhờ nguồn thu tiền bản quyền này. Trường hợp điển hình của chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ là Công ty Hualon Corporation với 100% vốn từ Malaysia, Đài Loan-British Virgin Island. Công ty này đã thổi giá chuyển giao công nghệ phần tài sản cố định là đống dây chuyền “phế thải” từ 400 nghìn USD lên 16 triệu USD, đồng thời đơn vị này cũng đã khai lỗ trong suốt 20 năm hoạt động - Chuyển giá thông qua góp vốn đầu tư: các Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt nam thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam bằng máy móc, thiết bị và công nghệ. Đa số doanh nghiệp Việt Nam, do hạn chế về nguồn lực tài chính nên tham gia góp vốn chủ yếu bằng giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, giá trị quyền sử dụng đất thường bị định giá rất thấp, trong khi các loại máy móc, thiết bị, công nghệ do Nhà đầu tư nước ngoài góp thường mang tính đặc thù, đã bị lạc hậu hoặc đã khấu hao hết nhưng do doanh nghiệp Việt Nam thường hạn chế về năng lực và trình độ thẩm định giá, do vậy, trong quá trình định giá, những máy móc, thiết bị và công nghệ này thường bị đẩy lên giá rất cao so với giá trị thực. Bằng chiêu thức này, các nhà đầu tư nước ngoài ngay từ khi góp vốn đã chuyển ngược lại cho mình một phần lớn lợi ích kinh tế thông qua việc trích khấu hao và phân chia lợi nhuận dẫn tới thất thu cho Ngân sách Nhà nước và thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, bên đối tác nước ngoài sẽ nắm giữ phần lớn số vốn chủ sở hữu, dẫn tới quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp, từ đó sẽ có cơ hội để dẫn tới các điều kiện thực hiện hành vi chuyển giá trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh sau. Các hành vi chuyển giá này dẫn tới thua lỗ kéo dài và tất yếu dẫn tới phía Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục quá trình hoạt động, đành phải bán lại phần vốn góp cho đối tác nước ngoài. Thực tế đã có nhiều công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thông qua chiêu thức này. Điển hình về chuyển giá thông qua góp vốn đầu tư phải kể đến trường hợp Công ty TNHH Kad Industrial SA Việt Nam. Hoạt động trong ngành may mặc, doanh nghiệp này liên tục khai báo thua lỗ trong nhiều năm. Năm 2012, toàn bộ máy móc thiết bị tạo tài sản cố định của Công ty đều đã qua sử dụng được nhập khẩu từ một nhà máy ở Mỹ và được tính vào giá trị vốn góp của công ty mẹ ở Hàn Quốc. Kết quả lỗ một phần là do chi phí khấu hao máy móc, thiết bị đưa vào giá thành cao, gấp 1,5 lần theo kế hoạch. Tuy nhiên, cơ quan thuế không đủ cơ sở để xử lý vì không thể xác định được giá các loại máy móc trên. 293
  6. - Chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ: cùng với việc đầu tư máy móc, thiết bị và chuyển giao công nghệ cho các bên liên kết tại Việt Nam và lợi thế nắm giữ phần lớn vốn tại các doanh nghiệp này, bên liên kết tại nước ngoài có quyền định đoạt giá chuyển giao khi thực hiện chuyển giao hoặc nhận chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ với bên liên kết Việt Nam để đạt được mục đích chuyển được nhiều nhất lợi nhuận trước thuế từ bên liên kết Việt Nam sang bên liên kết nước ngoài để được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước ngoài thấp hơn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam. Hành vi chuyển giá nêu tại điểm này thường xảy ra đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh: may mặc, da giày, lắp ráp phương tiện vận tải, điện tử, kinh doanh thương mại, chế biến lương thực, thực phẩm. Trường hợp Công ty Daiwa Seiko Việt Nam là một ví dụ điển hình nhất. Đây là một công ty con của Tập đoàn Daiwa Seiko Inc. Nhật Bản, chuyên sản xuất dụng cụ câu cá hàng đầu thế giới, được cấp phép đầu tư từ tháng 9/2005. Theo kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế Đà Nẵng trong giai đoạn 3 năm 2009-2012, công ty này có số lỗ lũy kế lên tới 319 tỷ đồng. Quan sát của cơ quan thuế cho thấy, các loại tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất đều được công ty DaiWa Việt Nam nhập từ chính các công ty trong cùng Tập đoàn Daiwa Seiko Inc Nhật Bản. Sản phẩm làm ra là cần câu cá thể thao cũng được công ty thành viên của tập đoàn Daiwa Seiko Inc Nhật Bản bao tiêu. Trong quá trình kiểm tra kỹ toàn hồ sơ tài liệu, cơ quan thuế đã phát hiện Công ty Daiwa Việt Nam đã từng xuất khẩu một lô hàng cho công ty TNHH Daiwa Đài Loan với giá thấp và sau đó, lô hàng này được bán cho một DN khác tại TP. Hồ Chí Minh với giá cao hơn rất nhiều lần. Trước chứng cứ này, Công ty Daiwa Việt Nam đã chấp nhận giảm lỗ gần 16 tỷ, và chịu phạt 233 triệu đồng. - Chuyển giá thông qua việc chi trả lãi vay vốn sản xuất, kinh doanh: hành vi chuyển giá này thường xảy ra đối với các ngành nghề kinh doanh có sử dụng vốn lớn như: sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải, điện tử, khai thác mỏ…Các bên liên kết tại nước ngoài thay việc đầu tư thêm vốn vào các bên liên kết tại Việt Nam bằng việc cho bên liên kết tại Việt Nam vay vốn với mức lãi suất tiền vay rất cao. Với chiêu thức này, bên liên kết tại nước ngoài chuyển được lợi nhuận trước thuế từ bên liên kết Việt Nam sang bên liên kết nước ngoài để được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước ngoài thấp hơn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam. Điển hình cho trường hợp này là Công ty TNHH một thành viên Keangnam – Vina. Đây là DN 100% vốn của một MNCs của Hàn Quốc, thành lập từ năm 2007, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, bất động và kinh doanh dịch vụ khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại và căn hộ cho thuê tại Hà Nội. Từ năm 2007 đến năm 2011, DN liên tục báo lỗ hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Năm 2011, Công ty bắt đầu có doanh thu từ dự án Landmark Tower, đạt trên 5.200 tỷ đồng, nhưng lỗ hơn 140 tỷ đồng. Kết quả điều tra của cơ quan thuế cho thấy, tháng 5/2007, Công ty Keangnam - Vina ký hợp đồng vay vốn từ Ngân hàng Kookmin Bank, một đơn vị thành viên trong tập đoàn Keangnam Hàn Quốc. Cho đến nay, Công ty này đã vay tổng cộng 400 triệu USD từ ngân hàng này và tổng số lãi vay và chi phí tài chính của việc vay đã lên tới trên 2.000 tỷ đồng. Thêm vào đó, Keangnam - Vina đã trả lãi suất trung bình khoảng 12% mỗi năm cho khoản vay từ Kookmin Bank. Trong khi đó, lãi suất vay vốn bằng USD tại Việt Nam cùng 294
  7. thời gian đó chỉ từ 5 - 7% mỗi năm. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có quy định khống chế mức trần lãi suất tiền vay bằng ngoại tệ (nhất là với trường hợp DN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam vay đối tác nước ngoài). Quy định hiện hành cho phép các ngân hàng tự định ra lãi suất đối với khách hàng theo hình thức thỏa thuận, qua đó rất khó để đưa ra kết luận mà không đi kèm tranh cãi vì không có căn cứ pháp lý vững chắc. Một khoản tiền nữa lên tới 30 triệu USD, tương đương gần 500 tỷ đồng (năm 2008) cũng đã được Công ty Keangnam - Vina hạch toán vào chi phí tài chính với tên gọi là “phí cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, thu xếp vốn vay”… 3. Một số dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong thời gian qua Sau đây là một số dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp đang hoặc có thể đang thực hiện hành vi chuyển giá theo quan điểm của các cơ quan Thuế và các cơ quan quản lý Nhà nước: - Các doanh nghiệp có tình hình lãi và lỗ luân phiên hoặc tình hình lãi lỗ phát sinh không bình thường; - Các doanh nghiệp bị lỗ trong thời gian dài (trên 3năm) hoặc đột ngột thua lỗ sau khi hết thời gian ưu đãi thuế; - Các doanh nghiệp mà tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành và điều kiện kinh doanh; - Các doanh nghiệp mà tỷ suất lợi nhuận của chúng thấp hơn tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp khác trong cùng một tập đoàn; - Các doanh nghiệp có giao dịch với bên liên kết được ưu đãi thuế hoặc bên liên kết có trụ sở tại các thiên đường thuế (nơi đánh thuế rất thấp); - Doanh nghiệp không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ mẫu GCN-01/QLT khi kê khai quyết toán thuế TNDN theo qui định; - Các doanh nghiệp thường xuyên có nghiệp vụ chuyển giao từ các doanh nghiệp liên kết hoặc nghiệp vụ chuyển giao có giá trị lớn; - Khi có yêu cầu của cơ quan thuế thì DN không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng yêu cầu về thời hạn cung cấp các thông tin, dữ liệu và tài liệu để chứng minh cho việc kê khai, hạch toán giá thị trường đối với giao dịch liên kết. - DN không áp dụng hoặc cố tình áp dụng không đúng các quy định tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC; 4. Một số giải pháp đề xuất nhằm kiểm soát gian lận chuyển giá tại Việt Nam Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành một số quy định liên quan đến chống chuyển giá, tiêu biểu như Thông tư số 117/2005/TTBTC, Thông tư số 66/2010/TT-BTC, Thông tư số 28/2011/TT-BTC và Công văn số 818/VPCPQHQT ngày 12/7/2011... Thông tư 117/2005/TTBTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài Chính đã điều chỉnh phương pháp định giá chuyển giao nội bộ nhằm xác định lại giá giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết nhằm đưa giá giao dịch nội bộ về sát với giá thị trường. Theo đó, tất cả các bên tham gia giao dịch liên kết phải có nghĩa vụ kê khai, xác định thuế thu nhập doanh nghiệp theo giá thị trường dựa vào một trong năm phương pháp định giá chuyển giao nội bộ. Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 của Bộ Tài chính bao hàm nội dung hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có 295
  8. quan hệ liên kết. Với Thông tư này, cơ quan quản lý thuế sẽ có những quan tâm mạnh mẽ hơn, đồng thời có những động thái tích cực hơn đối với vấn đề chuyển giá. Điều này cũng có nghĩa là sẽ gia tăng các hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với vấn đề chuyển giá, đặc biệt tập trung vào các doanh nghiệp FDI. Thông tư 28/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính nêu rõ phải so sánh giá đầu ra, đầu vào với các bên trung gian của thị trường hoặc là đơn vị độc lập. Công văn số 818/VPCPQHQT ngày 12/7/2011 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thành lập tổ công tác liên ngành với sự tham gia của Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước và Văn phòng Chính phủ để nghiên cứu vấn đề chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI. Để kiểm soát vấn đề chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường tốt hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp FDI tuân thủ pháp luật tại nước nhận đầu tư và nước xuất khẩu vốn, nhiều nước đã ban hành cơ chế cho phép cơ quan thuế và các công ty đa quốc gia, tập đoàn lớn áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp tính thuế. Đây là những giải pháp mà các cơ quan Nhà nước cũng như cơ quan thuế ở Việt Nam có thể xem xét lựa chọn để tìm ra những giải pháp hiệu quả và phù hợp: Một là,về phương diện pháp lý, cần phân biệt giữa “chuyển giá hợp pháp” là áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường và “chuyển giá phi pháp” là áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc phi thị trường. Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý theo hướng quy định rõ các hình thức bị coi là chuyển giá phi pháp, các tiêu thức định tính và định lượng để xác định hoạt động chuyển giá; hình thành hệ thống thông tin đầy đủ, xây dựng hệ thống định mức, các chỉ tiêu giám sát để tạo thuận lợi cho các công ty FDI tại Việt Nam áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường phù hợp. Hai là,bổ sung thẩm quyền cho cơ quan quản lý thuế được áp dụng những cơ chế xác định trước về thuế, theo đó, cơ quan quản lý thuế phối hợp với các cơ quan chức năng như hải quan, cơ quan thuế nước ngoài để nắm được yếu tố chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, hoặc đối chiếu số liệu giữa các bên mua bán với số liệu từ cơ quan hải quan trong việc nhập khẩu hàng hóa. Thêm vào đó, cần đẩy mạnh thanh tra các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, kinh doanh bất động sản, khai thác khoáng sản, dược phẩm, điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông để vừa chống thất thu thuế, vừa góp phần bình ổn giá cả thị trường và kìm chế nhập siêu. Đối với trường hợp có nghi vấn chuyển giá, cơ quan thuế có quyền yêu cầu bóc tách giá kê khai trên từng hạng mục để tính thuế nguyên liệu đầu vào, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp xuất trình hồ sơ xuất xứ, bảng quy trình sản xuất…, dựa trên cơ sở đó so sánh với giá thị trường.. Ba là, để tăng cường dữ liệu về hoạt động chống chuyển giá, cơ quan thuế cần tích cực phối hợp với các thương vụ nước ngoài, đặc biệt là với các quốc gia Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần, bởi các quốc gia này có thể cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến công ty mẹ đầu tư vào Việt Nam để phát hiện các dấu hiệu chuyển giá. Thêm vào đó, xây dựng cơ chế cung cấp, chia sẻ thông tin liên quan tới giá cả các sản phẩm tiêu thụ trên thị trường thế giới và từng nước làm căn cứ để quản lý và xử lý hoạt động chuyển giá. 296
  9. Bốn là, tăng cường hoạt động tuyên truyền phổ biến về thuế, hướng dẫn các công ty FDI xác định giá thị trường đối với các giao dịch liên kết nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế, đồng thời thành lập bộ phận chuyên trách thu thập thông tin, theo dõi, giám sát hoạt động chuyển giá phi pháp để có chế tài xử lý phù hợp và kịp thời. Năm là, bổ sung thêm hệ thống thông tin dữ liệu về người nộp thuế, đồng thời phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng cơ sở dữ liệu chung, cho phép DN có thể truy cập và thu thập thông tin, phục vụ cho việc xây dựng hồ sơ xác định giá chuyển nhượng, cung cấp cho cơ quan thuế khi có yêu cầu. Đây là các thông tin bổ trợ quan trọng để phục vụ cho việc phân tích rủi ro, thanh tra giá chuyển nhượng. Sáu là, về lâu dài, ngành thuế cần tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo những cán bộ quản lý am hiểu luật pháp quốc tế, giỏi ngoại ngữ, tin học và các phần mềm thuế và kế toán làm công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại tất cả các cấp; đồng thời, mở các lớp đào tạo chuyên sâu, trang bị kiến thức về kinh tế ngành, tổ chức các hội nghị, hội thảo để các cục thuế trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Thêm vào đó, có thể tổ chức khảo sát, học tập kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng tại các quốc gia đã gặt hái được nhiều thành công trong quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Trên đây là một số khuyến nghị giải pháp nhằm phòng chống gian lận chuyển giá trong các công ty FDI tại Việt Nam. Nhóm tác giả hy vọng các cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ Tài Chính và các cơ quan quản lý thuế sẽ sớm có những giải pháp phối hợp đồng bộ phù hợp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, chống chuyển giá và thất thu thuế cho Ngân sách Nhà nước, đem lại môi trường bình đẳng đối với tất cả các nhà đầu tư, cả trong nước và ngoài nước. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bộ Tài Chính (2001) Thông tư 13/2001/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [2] Bộ Tài Chính (2010) Thông tư 66/2010/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết [3] Bộ Tài Chính (2010) Thông tư 205/2010/TT-BTC Hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ- CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu [4] Bộ Tài Chính (2013) Thông tư 205/2013/TT-BTC Hướng dẫn việc áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế [5] Phan Thị Thành Dương (2011) Pháp luật về kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh [6] Phạm Tiến Đạt (2011) Giải pháp chống chuyển giá trong doanh nghiệp FDI, Tạp chí tài chính 5/2011, trang 23-24. [7] Ngô Thế Chi (2012) Giải pháp hạn chế các thủ thuật chuyển giá trong điều kiện hiện nay của các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ. 297
  10. [8] Nguyễn Văn Phụng (2011) Gian lận giá và chuyển giá- những vấn đề đặt ra với các nhà quản lý, Tạp chí Tài chính điện tử số 96, địa chỉ http://www.taichinhdientu.vn/, truy cập lúc 1 PM, 21/1/2014. [9] Nguyễn Thị Phương Hoa (2011) Giáo trình kiểm soát quản lý, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội [10] Nguyễn Thị Phương Hoa (2011) Tăng cường kiểm soát Nhà Nước đối với hoạt động chuyển giá trong Doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ [11] Nguyễn Thị Phương Hoa (2011) Kinh nghiệm Hoa Kỳ về kiểm soát nhà nước đối với tính giá chuyển giao trong các công ty xuyên quốc gia, Tạp chí Kinh tế và Phát triển 03/2011, trang 92-94, Hà Nội [12] Hà Hương Lan (2013) “Chống chuyển giá: Bài học từ Trung Quốc” Tạp chí Tài chính điện tử số 96, địa chỉ: http://www.taichinhdientu.vn/, truy cập lúc: 9:20 AM, 31/9/2015 [13]. OECD (1995), Transfer Pricing Guidelines (Fn. 1), Phụ lục: Guidelines for Conducting Advance Pricing Arrangements Under the Mutual Agreement Procedure (“MAP APA”). [14]. The OECD Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administrations (Corrected 3 July 2008). [15]Wittendorff, Jens (2010), Transfer Pricing and the Arm’s Length Principle in International Tax Law. 298
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2